746ngày kể từ khi
Giỗ tổ Hùng Vương

Số lượt truy cập

TUYỂN SINH LỚP MỘT NĂM HỌC 2009 - 2010

Cty SÁCH - THIẾT BỊ VL

Giới thiệu phần mềm mới

TRANG CHỦ‎ > ‎

Học tập đạo đức HỒ CHÍ MINH



Tóm tắt tiểu sử của Chủ Tịch Hồ Chí Minh

Chủ tịch Hồ Chí Minh sinh ngày 19/5/1890 trong một gia đình trí thức yêu nước, nguồn gốc nông dân ở làng Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, nơi có truyền thống đấu tranh kiên cường chống ách thống trị nặng nề của thực dân phong kiến. Hoàn cảnh xã hội và giáo dục gia đình đã ảnh hưởn sâu sắc đến Hồ Chủ tịch ngay từ thời niên thiếu. Với tinh thần yêu nước nồng nàn, với sự sáng suốt về chính trị, Người đã bắt đầu suy nghĩ về những nguyên nhân thành bại của các phong trào yêu nước hồi bấy giờ và quyết tâm đi tìm con đường đúng đắn để cứu dân, cứu nước.
Chủ tịch Hồ Chí Minh sinh ngày 19/5/1890 trong một gia đình trí thức yêu nước, nguồn gốc nông dân ở làng Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, nơi có truyền thống đấu tranh kiên cường chống ách thống trị nặng nề của thực dân phong kiến. Hoàn cảnh xã hội và giáo dục gia đình đã ảnh hưởn sâu sắc đến Hồ Chủ tịch ngay từ thời niên thiếu.
Với tinh thần yêu nước nồng nàn, với sự sáng suốt về chính trị, Người đã bắt đầu suy nghĩ về những nguyên nhân thành bại của các phong trào yêu nước hồi bấy giờ và quyết tâm đi tìm con đường đúng đắn để cứu dân, cứu nước.
Tháng 6/1911, Người ra nước ngoài, đi đến nước Pháp và nhiều nước châu Âu, châu Á, châu Phi, châu Mỹ. Người hòa mình với những côngnhân và những người dân thuộc địa, vừa lao động để sống, vừa học tập, nghiên cứu các học thuyết cách mạng. Năm 1917, thắng lợi vang dội của cách mạng tháng Mười Nga đã đưa Hồ Chủ tịch đến với chủ nghĩa Mác - Lênin. Ra sức nghiên cứu chủ nghĩa Mác-Lênin, Người đã nhận rõ đường lối duy nhất đúng đắn để giải phóng dân tộc và giải phóng xã hội.
Cùng năm ấy, Người thành lập Hội những người Việt Nam yêu nước để tập hợp Việt Kiều ở Pháp. Năm 1919, Người gia nhập Đảng Xã hội pháp và hoạt động trong phong trào công nhân Pháp. Đầu năm đó, Người gửi đến Hội nghị Véc-xây (Pháp) "Bản yêusách của nhân dân Việt Nam", đòi Chính phủ Pháp phải thừa nhận các quyền tự do và bình đẳng của dân tộc Việt Nam.
Tháng 12/1920, trong Đại hội lần thứ 18 của Đảng Xã hội Pháp, Người bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế cộng sản và tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp. Sự kiện trên đây đánh dấu bước ngoặt trong đời hoạt động cách mạng của Người, bước ngoa chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa cộng sản.
Năm 1921, Người tham gia thành lập Hội liên hiệp các dân tộc thuộc địa và năm 1922 xuất bản báo "Người cùng khổ" ở Pháp. Tháng 6/1923, Người từ Pháp đi Liên Xô, nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới, tiếp tục nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin và tham gia công tác của Quốc tế cộng sản. Cùng năm đó, Người được bầu vào Đoàn Chủ tịch Quốc tế nông dân. Năm 1924, người dự Đại hội lần thứ 5 của Quốc tế cộng sản và được cử làm Ủy viên Bộ phương Đông, phụ trách Cục phương Nam, hướng dẫn và xây dựng phong trào cách mạng và phong trào Cộng sản ở các nước Đông - Nam châu Á. Năm 1925, Người thành lập Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức ở Á Đông.
Tháng 6/1925, Người tổ chức Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội, mà hạt nhân là Cộng sản Đoàn, đồng thời ra báo Thanh niên và mở lớp huấn luyện đào tạo hàng trăm cán bộ đưa về nước hoạt động.

Ngày 3/2/1930, Người triệu tập hội nghị hợp nhất tại Cửu Long (Hương Cảng) để thống nhất các nhóm cộng sản trong nước thành Đảng Cộng sản Việt Nam.
Trong thời gian từ 1930 đến 1940, Người ở nước ngoài tham gia công tác của Quốc tế Cộng sản, đồng thời theo dõi sát phong trào cách mạng trong nước và có những chị thị quý báu cho Ban chấp hành Trung ương Đảng ta.
Năm 1941, sau 30 năm hoạt động ở nước ngoài Người về nước triệu tâp hội nghị n thứ tám của Ban chấp hành Trung ương Đảng, quyết định đường lối đánh Pháp, đuổi Nhật, thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất lấy tên là Việt Nam độc lập đồng minh (Việt Minh), gấp rút xây dựng lực lượng, đẩy mạnh phong trào đấu tranh cách mạng của quần chúng, chuẩn bị tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước.
Ngày 22/12/1944, Người chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân, tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam ngày nay và xây dựng căn cứ địa cách mạng.
Tháng 8/1945, trong không khí sôi sục cách mạng của thời kỳ tiền khởi nghĩa, Người cùng Trung ương triệu tập đại hội quốc dân ở Tân Trào. Đại hội đã cử Người làm chủ tịch Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa. Người đã phát lệnh tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước. Ngày 2/9/1945, Người đọc bản Tuyên ngôn độc lập trước nhân dân cả nước và nhân dân toàn thế giới thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Nhà nước Công nông đầu tiên ở Đông Nam châu Á.
Trong những ngày đầu cách mạng, nước ta có nhiều khó khăn chồng chất và bị bao vây bốn phía. Nạn đói do phát xít Nhật - Pháp gây ra đã giết hại hơn hai triệu người Việt Nam. Tháng 9/1945 câu kết với các đế quốc Mỹ, Anh và bọn phản động Quốc dân Đảng Trung Quốc, thực dân Pháp trở lại xâm lược nước ta một lần nữa, âm mưu xóa bỏ mọi thành quả của Cách mạng tháng Tám.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Ban chấp hành Trung ương Đảng lãnh đạo toàn dân ra vừa đánh trả bọn thực dân Pháp xâm lược ở miền Nam, vừa đối phó với bọn phản động Tưởng Giới Thạch ở miền Bắc.
Hiệp định sơ bộ ngày 6/3/1946 được ký kết giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Pháp. Quân Tưởng Giới Thạch rút khỏi miền Bắc Việt Nam. Quân đội Pháp mở rộng đánh chiếm miền Nam, kéo ra miền Bắc và lấn dần từng bước ở miền Bắc, âm mưu tieến tới xóa bỏ Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trước tình hình ấy, tháng 12/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi toàn quốc kháng chiến và cùng Ban chấp hành Trung ương Đảng lãnh đạo cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện và lâu dài chống thực dân Pháp đến thắng lợi lịch sử Điện Biên Phủ (1954).
Tháng 7/1954, Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết. Miền Bắc Việt Nam được giải phóng. Nhưng một nửa nước ở miền Nam bị đế quốc Mỹ biến thành thuộc địa kiểu mới của chúng. Người cùng với Trung ương Đảng lãnh đạo nhân dân cả nước đồng thời thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam.
Tháng 9/1960, đại hội lần thứ ba của Đảng đã họp, thông qua nghị quyết về hai nhiệm vụ chiến lược và bầu đồng chí Hồ Chí Minh làm Chủ tịch Ban chấp hành Trung ương Đảng. Dưới sự lãnh đạo của Người và của Ban chấp hành Trung ương đảng, nhân dân ta vừa đẩy mạnh sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, vừa tiến hành cuộc kháng chiếng chống Mỹ, cứu nước để bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà và đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội.
Ngày 2/9/1969, Người từ trần, hưởng thọ 79 tuổi.
Cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một cuộc đời trong sáng cao đẹp của mộtngười cộng sản vĩ đại, một anh hùng dân tộc kiệt xuất, một chiến sĩ quốc tế lỗi lạc, đã đấu tranh không mệt mỏi và hiến dâng cả đời mình vì Tổ quốc, vì nhân dân, vì lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, vì độc lập, tự do của các dân tộc, vì hòa bình và công lý trên thế giới.
Cuộc họp lần thứ 24, năm 1987 tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa của liên hợp quốc UNESCO ra nghị quyết về kỷ niệm 100 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh "Anh hùng giải phóng dân tộc Việt Nam và là một nhà văn hóa lớn" (HỒ CHÍ MINH VIETNAMESE HERO OF NATIONAL LIBERATION AND GREAT MAN OF CULTURE) vào năm 1990

Tác giả: http://doantncshcm.dongnai.gov.vn

Trên những chặng đường Bác cháu cùng đi

Tuần Việt Nam giới thiệu với độc giả một số câu chuyện do tướng cận vệ Phan Văn Xoàn - một người đã sống gần gũi bên Bác Hồ suốt mười năm - kể lại. Những năm tháng ấy cùng biết bao kỷ niệm về sự liêm khiết, giản dị và cả sự vĩ đại của lãnh tụ đã được tướng Phan Văn Xoàn ghi lại thật chân thực trong cuốn Hồi ký Một cuộc đời, một chân lý (NXB Công an Nhân dân)

Những cuộc "vi hành" lặng lẽ

Bác Hồ là một con người hành động. Bác luôn chống bệnh hình thức, lý thuyết suông. Bác luôn quan tâm sâu sắc đến những việc cụ thể và rất thực tế. Muốn giải quyết được những việc cụ thể thì phải mắt thấy, tai nghe. Nên mặc dù đã ở vào độ tuổi thất thập cổ lai hy, nhưng những chuyến đi công tác xuống địa phương của Bác cứ diễn ra liên tục. Cách làm việc của Bác là chuẩn bị thật kỹ trước khi đi, nhưng không được báo trước cho chính quyền địa phương nơi Bác đến.

Nguồn: wordpress.com

Lý do của Bác cũng thật đơn giản : "Bác muốn đi để thấy cảnh thật, người thật, việc thật, chứ đâu muốn đi để thấy cảnh được đón tiếp". Khi đến nơi, làm việc xong thì hoặc Bác về ngay, hoặc thời gian cho phép, Bác sẽ đến thăm các đơn vị sản xuất. Bác không chấp nhận cảnh mở lễ đón rước rồi tiệc tùng, chiêu đãi tốn kém. Bác bảo : "Đi công tác thì cốt xong việc, không nên làm phiền các địa phương".

Để tránh rình rang, tốn kém và cũng dễ "bị lộ", Bác qui định đoàn đi công tác với Bác chỉ bảy người và đi hai xe ô-tô. Chúng tôi thường khởi hành từ lúc sáng sớm, có ngày làm việc với hai tỉnh, chẳng hạn như từ Hà Nội đi làm việc với tỉnh Phúc Yên xong, thấy còn sớm, Bác bảo cho sang Vĩnh Phú, tranh thủ làm cho xong việc.

Thường khi, những lần "vi hành" như thế, Bác không ăn cơm ở nhà khách của tỉnh. Bác bảo : "Đất nước mình còn nghèo, nhân dân còn khổ, chỉ 7 người mà đến bắt người ta giết bò mổ lợn thì phí phạm lắm!"

Thế là Bác bảo hãy chọn một ngọn đồi vắng, một ngôi chùa xa nào đó, mở cơm nắm và thức ăn khô ra, Bác cháu cùng ăm đạm bạc với nhau. Ăn xong, Bác chọn một gốc cây to, trải tấm nylon, cuộn áo bông làm gối và ngủ ngon lành, nhưng chỉ độ 30 phút thôi là Bác dậy, Bác cháu tiếp tục lên đường.

Nhìn Bác kham khổ mà thương đứt ruột, nhưng Bác là thế, không muốn phiền ai, kể cả vào nhà dân, Bác cũng ngại làm phiền, bởi hơn ai hết, Bác hiểu mình, Bác là Hồ Chí Minh thì không dễ để mọi người khỏi ồn ào, tốn kém, trong khi đất nước, nhân dân vẫn còn quá khổ, quá nghèo.

Nhìn Bác cứ mãi như thế, anh em chúng tôi ai cũng áy náy trong lòng. Một lần, gần như đã không còn chịu đựng được nỗi ray rứt trong lòng, anh Vũ Kỳ âm thầm chuẩn bị. Cũng như bao lần khác, Bác cháu cùng lên một ngọn đồi dỡ cơm nắm ra ăn. Xong, anh Vũ Kỳ đem chiếc giường xếp mở ra cùng chăn chiếu bông mời Bác lên nằm nghỉ. Bác nhìn sự tinh tươm và khen : "Chú Kỳ thật chu đáo, buổi trưa mà được như thế thì còn gì bằng! Nhưng chỉ có mỗi một bộ thôi à?"

Anh Kỳ đáp : "Dạ, thưa Bác, xe chật, chúng cháu chỉ mang theo được một bộ, mời Bác nghỉ lưng cho khỏe!" Bác cười : "Tốt, nhưng ai chu đáo, biết lo xa thì người đó đáng được hưởng. Thôi, chú Kỳ lên đó ngủ đi. Bác nằm nylon cũng quen rồi!" Nói rồi Bác trải nylon dưới gốc cây nằm, năn nỉ thế nào Bác cũng không nghe và bảo : "Chừng nào lo được cho tất cả mọi người từ Nam đến Bắc thì Bác có chỗ mình trong đó!" Bác nói xong và cương quyết bắt anh Vũ Kỳ phải lên nằm giường, anh Kỳ không sao từ chối được, cuối cùng phải lên giường nằm, nhưng không phải để ngủ mà... khóc. Thương Bác quá, anh không dám khóc to, sợ rồi lại bị Bác trách...

Cho đến bây giờ, tôi vẫn không sao quên được cảnh rừng thông Phúc Yên, những ngọn đồi ở Ba Vì và bao nơi khác nữa ở vùng đồng bằng, trung du, thượng du miền Bắc... những nơi Bác cháu đã từng đi qua, nghỉ ngơi trên đường công tác.

Bác Hồ đi công tác ở chiến khu Việt Bắc - Ảnh: wru.edu.vn

Bác Hồ của chúng ta lúc nào cũng giữ được phong thái ung dung, nhanh nhẹn. Đi đường, Bác vẫn thể hiện được sức dẻo dai, bền bỉ, bất cứ lúc nào, dù cực nhọc, Bác vẫn tỏ thái độ lạc quan, ta luôn thấy ở Bác một tâm hồn trẻ trung, đầy ý chí.

Rất nhiều lần, trên đường đi gặp phải những đoạn xe không qua được, phải bỏ xe lại mà lội suối, vượt đèo rất khó khăn. Khi ấy, sức trẻ chúng tôi còn thấy gian nan, huống chi một người già đã 70 tuổi như Bác. Vô cùng lo ngại cho sức khỏe của Người, chúng tôi nhiều lần đề nghị với Bác thôi, không đi nữa. Và mỗi lần như vậy, chúng tôi đều bị Bác phê bình. Thế là Bác cháu lại vượt qua.

Một lần, Bác cùng chúng tôi vượt qua một đoạn dốc thật cao, mọi người mồ hôi vã ra như tắm. Đang đi, Bác hỏi tôi : "Chú có biết đường lên dốc kia đi có được không?" Tôi suy nghĩ, nếu nói là đi được thì Bác sẽ tiếp tục đi. Sợ ảnh hưởng đến sức khỏe của Bác, tôi nói : "Thưa Bác, cháu thấy đường khó đi, cây rậm rạp, cỏ nhiều, chắc đi không được ạ!" Nhưng tôi lại không ngờ, Bác bảo : "Chú trèo lên đó xem thế nào rồi chạy xuống đây báo cáo lại cho Bác!"

Tôi vâng lời, chạy lên lưng chừng dốc đứng trông lên rồi quay lưng lại định xuống gặp Bác để nói rằng không thể đi qua được. Nhưng khi tôi vừa quay lưng lại đã thấy Bác đứng phía sau, tôi giống như đứa trẻ bị bắt quả tang là nói dối, Bác cười bảo : "Chú phải rút kinh nghiệm, nếu chưa điều tra nghiên cứu thì chưa được phát ngôn." Chuyện tuy nhỏ và có lẽ Bác cũng hiểu được ý tốt của tôi, nhưng tôi đã được Bác dạy cho một bài học không nhỏ.

"Món quà sinh nhật" bất ngờ

Ngày 19 tháng 5 là ngày sinh nhật Bác. Theo lệ thường năm, đồng bào, cán bộ chiến sỹ cả nước thi đua sản xuất, học tập, chiến đấu, nói chung là đề ra các chỉ tiêu để quyết tâm lập thành tích như một món quà dâng tặng Bác, làm Bác rất vui. Vào ngày đó, Bác luôn bận rộn tiếp nhiều lượt khách đến thăm, đặc biệt là các cháu thiếu nhi học giỏi... Tuy nhiên, về sau, có những năm, nhiều nơi tổ chức ngày sinh nhật Bác rầm rộ, nặng hình thức, tốn kém nhiều làm Bác buồn lòng, nên vào ngày sinh nhật, Bác thường hay lên lịch đi công tác để tránh sự chúc tụng, gây nhiều tốn kém

Nguồn: timnhanh.com

Tôi còn nhớ một lần, vào trung tuần tháng 5 năm 1963, Bác gọi chúng tôi đến và dặn : "Các cháu chuẩn bị cho Bác đến một nơi yên tĩnh xa Hà Nội, Bác cháu ta đến đó làm việc ít ngày!" Chúng tôi lấy làm băn khoăn, vì đã sắp đến sinh nhật Bác, nhưng Người đã bảo thế, chúng tôi phải thi hành.

Chúng tôi chọn một nơi cách xa Hà Nội chừng 40 cây số, ở đây khí hậu trong lành, phong cảnh thiên nhiên mát mẻ, tươi đẹp, Bác rất hài lòng. Vừa đến nơi, Bác bắt tay vào làm việc, điềm nhiên như bao ngày bình thường khác, trong khi đó, chúng tôi, những người đi theo Bác thì luôn nghĩ đến ngày sinh nhật của Bác đã cận kề...

Chỉ còn một ngày nữa là đến ngày 19 tháng 5, Bác vẫn lặng lẽ và miệt mài với công việc. Chúng tôi bèn bàn tính với nhau tổ chức lễ mừng thọ Bác, có nhiều ý kiến hay làm ai cũng nghe rạo rực và nao nức trong lòng. Cuối cùng, chúng tôi nhất trí với nhau ngày mai sẽ cùng các đồng chí Công an vũ trang tập hợp đội ngũ đâu đó chỉnh tề, mang hoa và những sản phẩm cây nhà lá vườn mà chúng tôi sản xuất, tăng gia được đến chúc thọ Bác.

Sáng hôm sau ngày 19 tháng 5, lúc 5h30 sáng, tôi được anh em phân công khi Bác dậy tập thể dục và đi bách bộ thì đi theo Bác và làm cách nào đó để hướng Bác đi về phía đội ngũ tập hợp chỉnh tề, trang nghiêm đang đứng đón. Y như kế hoạch đã định, khi Bác vừa ra khỏi nhà, tôi liền đến chào Bác và nói : "Thưa Bác, đêm qua Bác ngủ tốt không ạ?" Bác vui vẻ trả lời : "Đêm qua Bác ngủ ngon, vì khí hậu ở đây mát mẻ!"

Bác Hồ đi bên cảnh vệ Phan Văn Xoàn - Nguồn: ngoisao.net
Bác tập thể dục rồi đi bách bộ, tôi theo sau, hai bác cháu vừa đi vừa trò chuyện, Bác hỏi tôi tình hình anh em lên đây ăn ngủ thế nào. Thấy Bác vui vẻ, tôi đinh ninh nghĩ rằng kế hoạch chúc mừng sinh nhật của anh em tôi tổ chức vậy là thành công tốt đẹp.

Chợt đang đi, Bác nhìn thấy anh em chúng tôi và lực lượng Công an vũ trang thẳng hàng đi tới, Bác dừng lại và hỏi tôi : "Các chú làm gì mà xếp hàng ra thế?" Tôi mừng ra mặt, vội thưa : "Thưa Bác, chúng cháu cùng các đồng chí bên Công an vũ trang đến chúc mừng sinh nhật Bác đấy ạ!"

Tôi nhìn thấy nét mặt Bác hơi nghiêm, trong bụng thấy lo nhưng chưa biết nói sao thì Bác đã lên tiếng : "Thế thì chú bảo anh em giải tán ngay!" Nguy rồi, tôi nghĩ thoáng qua trong đầu như vậy, nhưng vẫn chần chừ, lúng túng, không biết phải giải thích ra sao với Bác, Bác lại nói tiếp : "Bác đã tránh ở Hà Nội, lên đây lại gặp chuyện này, thật là phiền phức!"

Nghe Bác nói, lòng tôi chùng xuống một nỗi ân hận. Tôi muốn nói với Bác một lời xin lỗi, nhưng cứ lúng ta lúng túng không biết phải nói sao. Tôi bàng hoàng và không ngờ rằng cái kế hoạch mà chúng tôi tạo ra không đem lại kết quả đã đành, mà còn khiến Bác phật lòng, trong buổi sáng tinh mơ, giữa không khí trong lành tinh khiết như thế này, mà chúng tôi lại làm Bác không vui.

Nhưng rồi như đoán được tâm trạng của tôi, Bác nhìn tôi bằng ánh mắt độ lượng và giọng Người trở nên ấm áp : "Các chú đừng có hình thức, hãy đến cả đây với Bác!" Nghe Bác nói thế, tôi như được mở lòng và không còn gì vui mừng, sung sướng hơn, tôi vội vàng chạy đến báo cho anh em biết. Thế là tất cả không còn hàng ngũ gì nữa, mọi người chạy ào về phía Bác và quây quần bên Bác như một đàn cháu nhỏ.

Bác nhìn chúng tôi với ánh mắt thân thương, độ lượng, Người nói : "Vì miền Nam, chúng ta cố gắng mỗi người làm việc bằng hai. Các chú đừng bắt Bác trở thành biệt lệ!" Tất cả chúng tôi vô cùng xúc động. Tôi nhìn thấy nhiều anh em miệng nở nụ cười mà nước mắt chảy long lanh.

Phan Văn Xoàn (Một cuộc đời, một chân lý - NXB Công an Nhân dân)


Chú ngã có đau không ?
 
    Vào đầu năm 1954, tiết trời đã sang xuân, nhưng ở Việt Bắc vẫn còn rét. Gió bấc thổi mạnh, mưa phùn lâm râm gây nên cái lạnh buốt. Bác vẫn làm việc rất khuya. Bác khoác chiếc áo bông đã cũ. Tiếng máy chữ lách tách, lách tách đều đều...

4.jpg

Trời lạnh, nhưng được đứng gác bên Bác, các chiến sĩ thấy lòng mình như được sưởi ấm lên. Có lần vừa đi, vừa nghĩ, một chiến sĩ bị thụt chân xuống một cái hố tránh máy bay. Anh đang tìm cách để lên khỏi hố, chợt nghe có tiếng bước chân đi về phía mình.
- Chú nào ngã đấy?
Chưa kịp trả lời Bác, thì chiến sĩ đã thấy hai tay Bác luồn vào hai nách. Chiến sĩ cố trấn tĩnh lại để nói một lời thì giật mình khi thấy Bác không khoác áo bông. Vừa kéo, Bác vừa hỏi:
- Chú ngã có đau không?
Bác nắn chân, nắn tay chiến sĩ rồi nói:
- Chú ngã thế đau lắm. Chú cứ ngồi xuống đây bóp chân cho đỡ đau. Ngồi xuống! Ngồi xuống!
- Thưa Bác, cháu không việc gì ạ- Anh chiến sĩ cố gắng bước đi để Bác yên lòng.
Bác cười hiền hậu và căn dặn: “Bất cứ làm việc gì chú cũng phải cẩn thận”.
Sự quan tâm của Bác với các chiến sĩ mới ấm áp biết bao...

Tấm lòng của Bác
Mùa hè năm 1967, trời Hà Nội rất nóng. Thấy trời oi bức quá, Bác nói với thư ký Vũ Kỳ:
- Nắng nóng thế này, các chú bộ đội trực phòng không trên nóc hội trường Ba Đình thì chịu sao được ? Các chú ấy có đủ nước uống  không? Chú thử lên tìm hiểu xem thế nào, về cho Bác biết.
Bác Vũ Kỳ lên, được biết trên đó có một tổ súng máy 14 ly, 5 ụ cát sơ sài, nếu địch bắn vào thì rất nguy hiểm.
Trời nắng chói, đứng một lúc mà hoa cả mắt. Bác Vũ Kỳ hỏi:
- Các chiến sĩ có nước ngọt* uống không?
- Nước chè thường còn chưa có, lấy đâu ra nước ngọt ạ !
Bác Vũ Kỳ về nói lại với Bác. Bác gọi điện ngay cho cán bộ phụ trách:
- Sao các chú không lo đủ nước uống cho các chiến sĩ trực phòng không? Nghe nói ụ súng trên nóc hội trường Ba Đình rất sơ sài, chú phải lo sửa ngay để đảm bảo an toàn cho chiến sĩ trong chiến đấu!
Sau đó Bác bảo thư ký Vũ Kỳ đi lấy sổ tiết kiệm của Bác, xem tiền tiết kiệm của Bác còn bao nhiêu.
Tại sao Bác có tiền tiết kiệm? Đó là do các báo trả nhuận bút cho Bác. Bác viết báo nhiều, có năm hàng trăm bài. Các báo gửi đến bao nhiêu, văn phòng đều gửi vào sổ tiết kiệm của Bác.
- Thưa Bác, còn lại tất cả hơn 25.000 đồng (lúc bấy giờ, đó là một món tiền rất lớn, tương đương với khoảng 60 lạng vàng) –Bác Vũ Kỳ xem sổ và báo cáo.
Bác bảo:
- Chú chuyển ngay số tiền đó cho Bộ Tổng tham mưu và nói: đó là quà của Bác tặng để mua nước ngọt cho anh em chiến sĩ trực phòng không uống. Không phải chỉ cho những chiến sĩ ở Ba Đình, mà cho tất cả các chiến sĩ đang trực chiến trên mâm pháo ở khắp miền Bắc. Nếu số tiền đó không đủ thì yêu cầu địa phương nào có bộ đội phòng không trực chiến góp sức vào cùng lo!

Để Bác quạt
Năm ấy, Bác Hồ đến thăm trại điều dưỡng thương binh ở Hà Nội.
Tin Bác đến nhanh chóng lan ra khắp trại. Anh chị em thương binh ai cũng muốn len vào gần Bác, quên cả nạng phải dùng để đi.
Đang lúc Bác thăm hỏi sức khỏe thương binh bỗng một thương binh bị hỏng mắt nhờ một y tá dẫn đến xin đứng bên Bác. Các chiến sĩ đi với Bác định bước lại đỡ người thương binh ấy, nhưng Bác đã đi tới, giơ hai tay ra đón. Người thương binh ôm chầm lấy Bác nghẹn ngào gọi “Bác ơi!”... Bác lặng đi giây lát rồi mới tiếp tục câu chuyện thăm hỏi. Bác đến từng giường anh chị em đau nặng hỏi thăm bệnh tật đã đỡ chưa, mỗi bữa ăn được bao nhiêu bát cơm.
Hôm ấy, trời nóng bức, Bác lấy chiếc quạt giấy vẫn dùng, quạt cho các thương binh. Có người định làm thay, Bác nói:
- Để Bác quạt.
Sau này, khi cơ quan định lắp máy điều hòa nhiệt độ nơi Bác ở, Bác bảo đem tới cho các thương binh.

PV (st)

(*): Công việc của các chú bộ đội trực phòng không rất gian khổ. Dưới thời tiết nắng nóng, các chiến sĩ cần phải có nước chanh pha đường uống, nếu không dễ bị cảm nắng, bị ngất.


Tuyên ngôn độc lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa

Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập trên lễ đài sáng 2-9-1945 tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội - Ảnh tư liệu
Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy.

........................................

Hỡi đồng bào cả nước,

"Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền  ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc".

Lời bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do.

Bản tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cách mạng Pháp năm 1791 cũng nói: "người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi".

Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được.

Thế mà hơn tám mươi năm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta. hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa.

Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào.

Chúng thi hành những luật pháp dã man. Chúng lập ba chế độ khác nhau ở trung, nam, bắc để ngăn cản việc thống nhất nước nhà của ta, để ngăn cản dân tộc ta đoàn kết.

Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học. Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta. Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu.

Chúng ràng buộc dư luận, thi hành chính sách ngu dân.

Chúng dùng thuốc phiện, rượu cồn để làm cho nòi giống ta suy nhược.

Về kinh tế, chúng bóc lột dân ta đến tận xương tủy, khiến cho dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều.

Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu.

Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, làm cho dân ta, nhất là dân cày và dân buôn, trở nên bần cùng.

Chúng không cho các nhà tư sản ta ngóc đầu lên. Chúng bóc lột công nhân ta một cách vô cùng tàn nhẫn.

Mùa thu năm 1940, phát-xít Nhật đến xâm lăng Đông - dương để mở thêm căn cứ đánh đồng minh, thì bọn thực dân Pháp quỳ gối đầu hàng, mở cửa nước ta rước Nhật. Từ đó dân ta chịu hai tầng xiềng xích: Pháp và Nhật. Từ đó dân ta càng cực khổ, nghèo nàn. kết quả là cuối năm ngoái sang đầu năm nay, từ Quảng trị đến Bắc kỳ hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói.

Ngày 9 tháng 3 năm nay, Nhật tước khí giới của quân đội Pháp. Bọn thực dân Pháp hoặc bỏ chạy hoặc đầu hàng. Thế là chẳng những chúng không "bảo hộ" được ta, trái lại, trong 5 năm, chúng dã man bán nước ta hai lần cho Nhật.

Trước ngày mồng 9 tháng 3, biết bao lần Việt minh đã kêu gọi người Pháp liên minh để chống Nhật. Bọn thực dân Pháp đã không đáp ứng, lại thẳng tay khủng bố Việt minh hơn nữa.

Thậm chí đến khi thua chạy, chúng còn nhẫn tâm giết nốt số đông tù chính trị ở Yên bái và Cao bằng.

Tuy vậy, đối với nước Pháp, đồng bào ta vẫn giữ một thái độ khoan hồng và nhân đạo. Sau cuộc biến động ngày mồng 9 tháng 3, Việt minh đã giúp cho nhiều người Pháp chạy qua biên thùy, lại cứu cho nhiều người Pháp ra khỏi nhà giam Nhật, và bảo vệ tính mạng và tài sản cho họ.

Sự thật là từ mùa thu năm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của Nhật, chứ không phải thuộc địa của Pháp nữa. Khi Nhật hàng Đồng minh thì nhân dân cả nước ta đã nổi dậy giành chính quyền lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Sự thật là dân ta đã lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp.

Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần một trăm năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ dân chủ cộng hòa.

Bởi thế cho nên, chúng tôi, lâm thời chính phủ của nước Việt Nam mới, đại biểu cho toàn dân Việt Nam, tuyên bố thoát ly hẳn quan hệ thực dân với Pháp, xóa bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã ký về nước Việt Nam, xóa bỏ tất cả mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam.

Toàn dân Việt Nam, trên dưới một lòng, kiên quyết chống lại âm mưu của bọn thực dân Pháp.

Chúng tôi tin rằng các nước đồng minh đã công nhận những nguyên tắc dân tộc bình đẳng ở các hội nghị Tê-hê-răng và Cựu-kim-sơn, quyết không thể không công nhận quyền độc lập của dân Việt Nam.

Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn tám mươi năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe đồng minh chống phát-xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! dân tộc đó phải được độc lập!

Vì những lẽ trên, chúng tôi, Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng:

Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy.

Tuyên ngôn độc lập, đọc tại lễ Quốc khánh 2-9-1945 tại Quảng trường Ba Đình

Hồ Chí Minh toàn tập


Những bài học về tấm gương đạo đức của Bác
11:09' 11/05/2007 (GMT+7)

(VietNamNet) - Tiến sĩ Trần Viết Hoàn, nguyên Giám đốc Khu di tích Phủ Chủ tịch - chiến sĩ cảnh vệ bảo vệ Bác - đã viết loạt bài về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. VietNamNet xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc. 

Bài 1: Tấm gương cần kiệm của Bác

Bác Hồ thường căn dặn mọi người phải thực hành tiết kiệm, tiết kiệm sức lao động, tiết kiệm thì giờ, tiền bạc; phải tiết kiệm từ cái to đến cái nhỏ, không xa xỉ, hoang phí, không bừa bãi, phô trương hình thức.

BACHO2.jpg
Bác Hồ đang làm việc. (Ảnh TL)

Bác đã sống cả cuộc đời thanh bạch từ ăn, ở đến phương tiện sử dụng phục vụ công việc hàng ngày.  
    
Sinh thời, để tiết kiệm thời gian, Bác dạy: “Ai mang vàng vứt đi là người điên rồ. Ai mang thời giờ vứt đi là người ngu dại”, “Từ Chủ tịch Chính phủ cho đến người chạy giấy, người quét dọn trong một cơ quan nhỏ, đều là những người ăn lương của dân, làm việc cho dân... làm việc phải đến đúng giờ, chớ đến trễ về sớm... Phải nhớ rằng: Dân đã lấy tiền mồ hôi nước mắt để trả lương cho ta trong những giờ đó. Ai lười biếng tức là lừa gạt dân”. 

Nhà ở của Bác chỉ là một ngôi nhà sàn gỗ lợp ngói, trên gác có hai phòng mỗi phòng hơn 10 m2, vậy mà Bác đề nghị để đồng chí Phạm Văn Đồng sử dụng một phòng, để khỏi lãng phí. Một tổng biên tập nước ngoài được Bác tiếp tại nơi đó đã kể lại: “Chúng tôi được dẫn vào tầng dưới ngôi nhà sàn của Bác Hồ. Chúng tôi đợi Người ở đấy. Tôi còn kịp lướt nhìn mọi thứ được xếp đặt trong phòng khách của Người. Gọi là phòng khách của vị nguyên thủ quốc gia mà thật vô cùng giản dị, có lẽ không khác những gian nhà của nông dân Việt Nam mà tôi có dịp tới. Trong gian phòng này có lẽ chỉ có bộ bàn ghế mây được coi là nổi bật”.

Bữa ăn của Bác như bữa ăn của mọi nhà: bát canh, quả cà, con cá kho, hoặc lát thịt kho. Bác luôn nghĩ đến người nghèo “lúc chúng ta nâng bát cơm ăn, nghĩ đến kẻ đói khổ, chúng ta không khỏi động lòng. Vậy tôi đề nghị với đồng bào cả nước và tôi xin thực hành trước, cứ 10 ngày nhịn ăn 1 bữa, mỗi tháng nhịn 3 bữa. Đem gạo đó (mỗi bữa 1 bơ) để cứu dân nghèo”. Một hôm, Bác đi họp ở đâu về, sợ Bác đói, nhà bếp vẫn để dành cơm cho Bác, nhưng Bác kiên quyết từ chối không ăn, mặc dầu Bác chưa ăn cơm. Vì hôm đó đúng bữa nhịn của Bác để góp vào hũ gạo tiết kiệm.

Khi ăn, không bao giờ Bác để rơi cơm. Đồng chí Phạm Văn Đồng có lần kể: Ăn cơm với Cụ hàng trăm lần, lần nào cũng thấy Cụ tém vén không để rơi một hạt cơm. Bởi vì Cụ trọng và tiết kiệm công sức của người làm ra lúa gạo. Chuyện nhỏ, đức lớn hài hoà ở một con người.

Khi dùng các món ăn bao giờ Bác cũng dùng hết, không để thừa lãng phí. Hồi 1957, Bác về thăm quê, lần ăn cơm với lãnh đạo tỉnh, khi đưa thêm các món ăn, Bác gạt đi: Dùng hết lấy thêm, đừng để người khác ăn thừa của mình.

15 năm cuối ở Hà Nội, lúc dân đói, kinh tế còn khó khăn, Bác đã thực hiện: Chiều thứ 7 hàng tuần ăn cháo để tiết kiệm thêm một chút gạo cho người nghèo. Dân, cán bộ ăn cơm độn ngô, khoai, sắn bao nhiêu phần trăm, thì Bác cũng thực hiện bấy nhiêu phần trăm giống như cán bộ, như dân. Khi đi công tác, Bác mang cơm nắm với muối vừng.

Một đồng chí ở Hội Luật gia Việt Nam kể lại: Đến hội nghị Tư pháp toàn quốc năm 1950, Bác không cho hội nghị làm cơm thết Bác. Buổi trưa, Bác bày ra bãi cỏ nắm cơm, lọ cà, lọ thịt kho và cho gọi tôi cùng ăn. Tôi gắp miếng thịt nhai không đứt, phải dúi xuống cỏ. Bác mang cơm nắm, vì rằng: Bác dặn đồng chí phục vụ đi công tác nắm cơm ở nhà đi. Trên đường tính toán đến giờ ăn dừng lại chỗ nào đó giữa đường, Bác cháu ăn với nhau. Đến nơi nói với địa phương Bác ăn cơm rồi, Bác thích thế, đỡ phiền bữa cơm, mất thì giờ của mọi người. Bác nói: Người ta dọn ra một bữa cơm sang, có khi Bác chẳng ăn đâu, nhưng rồi để lại cái tiếng đấy. Bác Hồ đến thăm cũng làm một bữa cơm sang, cũng điều người này, người khác từ giao tế sang, chuẩn bị cả buổi. Thế là tự Bác bao che cho cái chuyện xôi thịt. Như thế nắm cơm theo ăn cho tiện, ăn no rồi đến làm việc.

Bác còn chỉ thị cho những người phục vụ: Vá khăn mặt cho Bác, vá áo lót cho Bác, vá chiếu nằm cho Bác. Có lần, khi tất rách chưa kịp vá, anh em đưa đôi mới để Bác dùng. Bác cầm đôi tất xoay chỗ rách vào bên trong người Bác, rồi cười: Đấy có trông thấy rách nữa đâu... Những việc này thật quá bình thường. Nhưng trên đời này không ai làm được những điều bình thường ấy. Bác làm những điều bình thường ấy có làm cho Bác nhỏ bé đi đâu.

Mùa đông, Bác Hồ có một cái áo bông của đồng bào biếu. Bác dùng nhiều năm, mền bông xẹp xuống không ấm nữa. Nhưng không ai dám nghĩ đến việc xin Bác bỏ mền bông đi, chỉ nghĩ đến việc thay vỏ ngoài. Vì dùng mãi vỏ áo đã đứt chỉ ở khuỷu tay và ở cổ. Bác bảo mạng nó lại. Nó rách ở vai thì Bác bảo vá vai, đến khi nó rách lần 2, đồng chí phục vụ xin cho thay vỏ ngoài, Bác bảo: Này chú ạ, Chủ tịch Đảng, Chủ tịch nước mặc áo vá vai thế này là cái phúc của dân đấy, đừng bỏ cái phúc đó đi.

Bác mặc bộ quần áo ka ki đã sờn cổ, sờn tay, xin được thay bộ khác, Bác bảo: Nếu thi sang thì thua, thi tiết kiệm thì thắng. Bác mặc như thế phù hợp với hoàn cảnh của nước của dân không phải thay. Xưởng may X biếu Bác bộ quần áo ka ki mới, Bác nhận, nhưng rồi Bác lại gửi lại xưởng may để làm phần thưởng thi đua.

Nhớ lại lần Bác sang thăm In-đô-nê-xi-a, đồng chí bảo vệ được cùng đi với Bác, và đồng chí đã sắm bộ com lê mới. Sang bên đó, đồng chí mặc nó, thấy vậy, Bác nói với đồng chí rằng: Không phải Bác không muốn các chú ăn sang, mặc đẹp, nhưng lương của các chú có hạn, cái sang, cái đẹp dễ biến thành nô lệ của nó.

Ô tô phục vụ Bác là chiếc Pô bê đa (Thắng lợi) của Liên Xô trước đây. Đã nhiều lần Trung ương xin thay ô tô khác, nhưng Bác bảo ô tô là phương tiện phục vụ cho công việc, chứ không phải là sự phân biệt cấp bậc, chức tước, ô tô phục vụ Bác còn dùng được, không phải thay. Và một lần chiếc ô tô phục vụ Bác bị lão hoá ở vòng tay lái, toả mùi cao su khó chịu nhưng chưa kịp sửa, thì đúng lúc Bác có việc phải đi, đồng chí bảo vệ lấy chút nước hoa vẩy vào trong xe để át mùi cao su. Khi Bác lên ô tô phát hiện có mùi nước hoa, Bác tỏ ý không vui. Bác bảo: Không phải Bác không thích nước hoa, nhưng nhân dân mình còn nghèo khổ. Vị Chủ tịch của những người nghèo khổ dùng nước hoa sao đành.

Bác tiết kiệm đến cái nhỏ như tờ giấy: “Giấy bút, vật liệu đều tốn tiền của Chính phủ, tức là của dân; ta cần phải tiết kiệm. Nếu một miếng giấy nhỏ đủ viết, thì chớ dùng một tờ to. Một cái phong bì có thể dùng hai ba lần”. Và Bác đã làm để mọi người bắt chước là hàng ngày các văn bản Bác đều viết ở mặt sau của bản tin Thông tấn xã Việt Nam; còn phong bì Bác đều dùng lại phong bì của các nơi gửi tới đến 2, 3 lần.

Làm được những việc nhỏ thì sẽ thành cái to như Bác đã chỉ rõ “nơi nào cũng tiết kiệm một chút, thì trong một năm đỡ được hàng vạn tấn giấy, tức là hàng triệu đồng bạc. Nhờ tiết kiệm...mà lợi cho dân rất nhiều”. Qua những việc làm đó mà một chính khách nước ngoài được gặp Bác từ năm 1951 đã nói: Tôi hiếm khi được gặp một người sống thanh đạm đến thế và khinh thường mọi xa hoa đến thế.

Bác đã dạy: “Người ta ai cũng muốn ăn ngon, mặc đẹp, nhưng phải đúng thời, đúng hoàn cảnh. Trong lúc nhân dân còn khó khăn, một người nào đó muốn sống hưởng ăn ngon, mặc đẹp thì không có đạo đức”. Và Bác thường xuyên nhắc nhở phải coi đạo đức là cái gốc của người cách mạng, của con người, phải thực hành cần, kiệm, liêm, chính. Người chỉ rõ: “Một dân tộc biết cần, kiệm, liêm, chính là một dân tộc giàu về vật chất, mạnh về tinh thần, một dân tộc văn minh tiến bộ”.

Ôn lại những điều cụ thể trên đây về cuộc sống tiết kiệm của Bác, như đồng chí Phạm Văn Đồng đã nói: Chớ có hiểu lầm rằng, Bác Hồ sống khắc khổ theo kiểu nhà tu hành, thanh tao theo kiểu nhà hiền triết ẩn dật. Bác Hồ sống tiết kiệm, thanh bạch trong đời sống và cuộc đấu tranh gian khổ, ác liệt của quần chúng nhân dân. Đời sống vật chất càng giản dị thì càng phù hợp với đời sống tâm hồn phong phú, với những tình cảm, những giá trị tinh thần cao đẹp nhất. Đó là cuộc sống thật sự văn minh mà Bác Hồ đã nêu gương sáng.

Và cũng chính vì thế, lịch sử biến thiên, nhưng Bác Hồ vẫn sống mãi. Tuy Bác đã đi xa, nhưng con cháu Bác vẫn hàng ngày tìm về cái đẹp cuộc đời Bác nêu gương để chau chuốt cái đẹp cho đời. “Học tập, làm theo tấm gương đạo đức Bác Hồ” chính là học tập và làm theo những mẫu mực cao đẹp đó của Người. 

  • TS. Trần Viết Hoàn


Tư cách công dân và năng lực hội nhập

(VietNamNet) -  Có thể khái quát nội hàm đạo đức Hồ Chí Minh mà chúng ta cần học tập là “tư cách công dân” và “năng lực hội nhập”.

Cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một sự nghiệp lớn. Bước vào thế kỷ XXI, tờ báo Times lựa chọn Hồ Chí Minh là một trong 25 chính khách cũng là một trong số 100 gương mặt trên mọi phương diện  “đã làm thay đổi diện mạo của  hành tinh trong thế kỷ XX”.

Nhưng một sự nghiệp lớn chưa hẳn đã là một tấm gương lớn. Phải là một nhân cách lớn mới làm nên một tấm gương sáng. Và quan trọng hơn hết, nhân cách ấy phải gần gũi với con người, thiết thực với đời sống và luôn hướng tới sự phát triển thì một con người khi còn sống đã là một tấm gương, khi đã chết trở thành một di sản. Hồ Chí Minh là một con người có một nhân cách lớn. Khi sống con người ấy là một ngọn cờ, một niềm tin. Khi đã chết về thể xác thì trở thành một di sản tinh thần.

HochiMinh.jpg

Đồng chí Nguyễn Ái Quốc

Giáo sư Trần Văn Giàu đã từng dạy các trò học sử rằng Cụ Hồ là một tính cách lớn không phải chỉ để “kính nhi viễn chi” (đứng xa mà bái phục). Cụ Hồ chính là một cái mẫu gần gũi để mọi người có thể tìm thấy ở đó những bài học thiết thực. Học Cụ Hồ không chỉ đọc trong sách vở, trước tác mà Cụ để lại. Học Cụ Hồ còn là học một lối sống thể hiện ra tư tưởng hay một tư tưởng thể hiện qua lối sống.

Cụ Hồ viết không ít nhưng Cụ Hồ làm rất nhiều. Nghiên cứu về Cụ Hồ không chỉ sưu tầm, tái bản các trước tác mà còn nên nhặt nhạnh những câu chuyện lưu lại trong ký ức của dân chúng, những người cùng thời. Cụ Hồ trước hết là người phương Đông, giống như Khổng Tử không để lại nhiều chữ nghĩa nhưng tập đại thành những điều đã nói và làm (như học trò của Khổng Tử đã soạn “Luận ngữ” cho thày) thể hiện trong đời sống sẽ tìm ra những tư tưởng lớn bao trùm thời đại, có sức lan toả về không gian và thời gian…

Ai nghiên cứu kỹ về Hồ Chí Minh không thể không đặt ra những câu hỏi vì sao những nhà ái quốc lớn bậc nhất của dân tộc Việt Nam ta ở đầu thế kỷ XX là Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh đều đặt kỳ vọng vào Nguyến Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc ngay từ khi sự nghiệp cách mạng còn trong thời trứng nước? Vì sao, ngay sau khi Nguyễn Ái Quốc thể hiện sự lựa chọn chính trị tại Đại hội Tours (12-1920), viên mật thám chuyên theo dõi hoạt động của đại biểu da vàng này đã đưa ra lời tiên đoán chính xác “phải chăng người thanh niên da vàng mảnh khảnh kia sẽ là người cắm cây thập ác trên nấm mồ quyền lợi của chúng ta ở các thuộc địa”? 

Vì sao mà một nhà báo của nước Nga xô viết rất xa xôi, Ôxip Manđenstam, chỉ sau một lần gặp tình cờ Nguyễn Ái Quốc vào cuối năm 1923 đã tiên đoán trong một bài báo của mình là ”toát ra từ con người ấy một nền văn hoá của tương lai”? Vì sao mà những con người từng xa lạ với chủ nghĩa cộng sản như những Huỳnh Thúc Kháng, Bùi Bằng Đoàn, Nguyễn Văn Tố… lại sẵn sàng trở thành người cộng sự nhiệt thành và cống hiến trọn vẹn cuộc đời của mình với Chủ tịch Hồ Chí Minh trong công cuộc kháng chiến và kiến quốc? v.v…

Tôi đã có may mắn gặp hầu hết những người Mỹ trong đơn vị tình báo OSS đã từng cộng tác với Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thời kỳ chống phát xít Nhật trước và trong Cách mạng tháng Tám 1945. Dù đã có khoảng cách cả nửa thế kỷ cùng với hố sâu của một cuộc chiến tranh khốc liệt nhưng tình cảm đồng minh thân hữu và sự khâm phục đối với Hồ Chí Minh dường như vẫn nguyên vẹn như hồi ở chiến khu…

Tất cả cho thấy sức thuyết phục từ Hồ Chí Minh là từ một nhân cách lớn thể hiện trên cả hai phương diện: mục đích sống và lối sống. Theo tôi, đó chính là đạo đức.

Mục đích cao cả và lối sống gương mẫu là hai nhân tố nổi bật trong đạo đức Hồ Chí Minh. Nhưng học tập đạo đức không chỉ là “bắt chước” và làm theo một cách rập khuôn, mà quan trọng hơn hết phải tìm ra những nội dung đáp ứng được với nhu cầu phát triển của đời sống.

Hồ Chí Minh sống trong và làm nên một thời đại chuyển đổi to lớn của xã hội Việt Nam và lịch sử dân tộc. Đó là thời kỳ gắn cùng với sự nghiệp giải phóng đất nước khỏi ách đô hộ của ngoại xâm, điều mà nhiều thế hệ trước, ở nhiều thế kỷ trước ông cha ta đã làm, thì quan trọng hơn hết là sự chấm dứt chế độ quân chủ xác lập nền Dân chủ - Cộng hoà và thực hiện sự hội nhập của Việt Nam với đời sống của toàn nhân loại.

Cũng có thể nói rằng thế kỷ XX là thế kỷ của cuộc hội nhập lớn kéo dài từ công cuộc Duy Tân đến đổi mới gắn liền mục tiêu dành độc lập, để hội nhập với toàn thế giới. Động lực cho thế kỷ XX để Việt Nam thực hiện được bước chuyển đổi đó chính là nền Dân chủ. Và Hồ Chí Minh chính là nhân vật bao trùm nhất của thế kỷ XX. Tại toà nhà Newzeyland ở giữa Thủ đô London của nước Anh là địa điểm của một khách sạn mà Nguyễn Ái Quốc đã từng làm việc từ thời Đại chiến thứ nhất, người ta trang trọng đặt một tấm biển lưu niệm trong đó định danh “Hồ Chí Minh, người đã tạo lập ra nước Việt Nam hiện đại”.

Đạo đức của Hồ Chí Minh biểu hiện trong cuộc đời và di sản cũng chính là những giá trị đáp ứng được bước chuyển đổi từ những giá trị truyền thống đến những giá trị hiện đại để dân tộc Việt Nam hội nhập với thế giới và thời đại. Vì thế có thể khái quát nội hàm đạo đức Hồ Chí Minh mà chúng ta cần học tập là “tư cách công dân”và “năng lực hội nhập”.

  • Dương Trung Quốc 

Học Bác về thái độ trước cái xấu

Không chỉ kiên quyết trước cái xấu, Bác Hồ còn căn dặn “không được bắt luật pháp dành quyền ưu tiên cho mình”.

1. “Diệt sâu mới cứu được cây”

Một buổi chiều giữa tháng 6 ba năm trước, tại Hội trường Ba Đình, bộ trưởng Bộ Công an đã phải lúng túng trước những câu hỏi của Quốc hội về lý do tại sao không điều tra vụ Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Nguyễn Văn Lâm quên va ly chứa nhiều phong bì tiền ở sân bay, tại sao “tha” một số quan chức Tổng Công ty Dầu khí vì lý do tuổi tác trong vụ cảng Thị Vải,... Chủ tịch Quốc hội (khi đó là ông Nguyễn Văn An) nói thẳng: “Bộ Công an thì có quyền đề nghị viện kiểm sát và các cơ quan hữu quan (không xử lý quan chức dầu khí vì tuổi cao - PV) nhưng quyền ấy phải theo pháp luật. Nếu quyền mà không đúng pháp luật thì sẽ mất lòng tin. Không phải có quyền thì ta muốn làm gì cũng được. Cho nên nếu theo luật hình sự... “tuổi cao, về hưu, có sự cống hiến cho ngành” đấy là yếu tố giảm nhẹ chứ không (là yếu tố - PV) loại trừ”.

Hơn 60 năm trước, Bác Hồ đã dự liệu về những chuyện như thế. Trong thư gửi những người dự Hội nghị Tư pháp toàn quốc (tháng 2-1948), Bác căn dặn: “Các bạn là những người phụ trách thi hành pháp luật. Lẽ tất nhiên các bạn cần phải nêu cao cái gương phụng công, thủ pháp, chí công vô tư cho nhân dân noi theo”.

Hai năm sau (1950), đại tá Trần Dụ Châu - Cục trưởng Cục Quân nhu bị phát hiện lợi dụng chức quyền tham ô ăn chơi, bị kết án tử hình. Trước ngày thi hành án, Trần Dụ Châu gửi đơn lên Bác xin được khoan hồng. Phút cuối, ông Trần Đăng Ninh đến gặp Bác Hồ xin ý kiến, Bác chỉ cho xem một cây xoan héo lá, úa ngọn và hỏi lý do tại sao cây sắp chết. Ông Ninh trả lời: “Dạ, vì thân cây bị sâu đục một lỗ rất to, chảy hết nhựa!”. “Thế theo chú muốn cứu cây thì phải làm gì?”. “Dạ, phải bắt và giết hết những con sâu ấy đi ạ”. Bác gật đầu: “Chú nói đúng đấy, với loài sâu mọt đục khoét nhân dân cũng vậy. Nếu phải giết đi một con mà cứu được cả rừng cây thì việc đó là cần thiết, hơn nữa là nhân đạo”.

Sau một đêm trắng, Hồ Chủ tịch ký bác đơn của Trần Dụ Châu và bản án được thi hành.

2. Tôn trọng lợi ích của dân

Dư luận TP Hải Phòng những ngày này đang hết sức nóng bỏng vì phiên tòa phúc thẩm vụ “ăn” đất ở Quán Nam sắp diễn ra. Nóng bỏng vì có đến ngót 1.000 lô đất công được chia chác trái phép cho ít nhất 420 cán bộ các ngành của TP, bất chấp nhiều đối tượng chính sách xã hội đang thiếu chỗ ở, bất chấp việc nhiều cán bộ được đất đã có nhà cao cửa rộng. Trước đó, vụ chia chác đất công ở Đồ Sơn (cũng ở Hải Phòng) đã gây phẫn nộ trong dư luận. Cả nước quan tâm chỉ vì sự chia chác đặc quyền, đặc lợi này diễn ra công khai, bằng giấy trắng mực đen và văn bản nghị quyết... Trong những vụ này, quyền lợi chính đáng của người dân đã bị một số cán bộ công quyền bỏ qua.

Tháng 9-1949, trong ngày khai giảng lớp lý luận dài hạn khóa II, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tới thăm trường Đảng và ghi vào cuốn Sổ vàng nhà trường - Ảnh tư liệu

Còn nhớ khi điều hành nhà nước cách mạng non trẻ, Bác đã rất quan tâm giáo dục cán bộ về chuyện này. Cuối năm 1954, Chính phủ có chủ trương thu hồi tiền của cách mạng phát hành trước đây để đổi lại cho nhân dân tiền Đông Dương ngân hàng. Tháng 2-1955, luật sư Nguyễn Thành Vĩnh từ miền Nam ra gặp Bác báo cáo kết quả, trong đó có chuyện (so với số tiền đã phát hành thì) thu về còn thiếu khoảng 600 ngàn đồng. Bác nghiêm giọng: “Vậy là chú đã “quỵt” của bà con Nam bộ 600 ngàn đồng. Chú đã phạm đến quyền lợi của nhân dân”. Luật sư vội giải thích: Đồng bào Nam bộ không chịu đổi lại vì trên giấy bạc Việt Nam có in ảnh Bác. Bà con giữ lại để biểu thị quyết tâm theo Bác đến cùng”.

Nghe vậy, Bác rất xúc động nhưng vẫn dặn dò: “Mỗi việc làm của các chú, bất cứ việc gì đều phải quan tâm đến quyền lợi chính đáng của nhân dân chứ không được hứa suông. Bất luận việc gì đã hứa với dân là phải tìm cách làm cho được, không làm được phải xin lỗi dân. Chính quyền ta của dân, vì dân thì phải như vậy”.

3. Không bắt luật pháp phải ưu tiên

Ba năm trước, người đứng đầu cơ quan chống tham nhũng của Chính phủ là ông Quách Lê Thanh cũng đã hết sức lúng túng khi phải trả lời tại sao không giao nộp và báo cơ quan điều tra khi cấp dưới (vụ phó Vụ II Thanh tra Chính phủ Lương Cao Khải) ba lần đến nhà đưa hàng trăm triệu đồng tiền hối lộ. Tổng Thanh tra Quách Lê Thanh trả lời đã báo cáo Đảng nhưng đại biểu Quốc hội tỏ thái độ không đồng ý. Chủ tịch Quốc hội đã “phải nói thêm” là “Đảng lãnh đạo, nên có yêu cầu báo cáo trong nội bộ Đảng. Nhưng báo cáo với Đảng không có nghĩa là không báo cáo với Chính phủ, với Quốc hội. Thủ trưởng cơ quan hành chính phải làm đúng theo luật pháp, tuân thủ các quy định của nhà nước”.

Còn với Bác, tuân thủ luật pháp là đức tính nổi bật ngay từ ngày đầu quản lý đất nước. Trong cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội đầu tiên năm 1946, tại Hà Nội nơi Bác ứng cử có 118 chủ tịch UBND và đại biểu các giới, làng xã ra một bản đề nghị: “Yêu cầu cụ Hồ Chí Minh không phải ra ứng cử trong cuộc Tổng tuyển cử sắp tới. Chúng tôi suy tôn và ủng hộ vĩnh viễn cụ Hồ Chí Minh là Chủ tịch của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa”. Nhiều nơi trong cả nước cũng đề nghị Bác không cần ra ứng cử và đồng thanh nhất trí cử Bác vào Quốc hội. Thế nhưng Bác đã viết một bức thư ngắn: “Tôi là một công dân của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, nên tôi không thể vượt qua khỏi thể lệ Tổng tuyển cử đã định. Tôi ra ứng cử ở Hà Nội nên cũng không thể ra ứng cử ở nơi nào nữa...”.

Trong đời sống, sự tôn trọng kỷ cương được Bác thực hành hàng ngày. Có lần Bác đến một ngôi chùa cổ, vị sư trụ trì ra đón và khẩn khoản xin Bác đừng cởi dép khi vào trong chùa. Bác không đồng ý và lặng lẽ làm đúng quy định như khách thập phương đến lễ chùa. Trên đường về thành phố, xe Bác đến một ngã tư thì vừa lúc đèn tín hiệu đỏ bật sáng. Sợ phố đông, xe dừng lâu, đồng chí bảo vệ định chạy lại đề nghị công an giao thông bật đèn xanh để Bác đi. Bác hiểu ý ngăn lại: “Các chú không được làm như thế, phải tôn trọng và gương mẫu chấp hành luật lệ giao thông. Không được bắt luật pháp dành quyền ưu tiên riêng cho mình”.

***

Tháng 7-1969, Bộ Chính trị họp ra nghị quyết về việc tổ chức bốn ngày lễ lớn của năm sau: ngày thành lập Đảng, ngày Quốc khánh, ngày sinh Lênin và ngày sinh của Bác. Báo Nhân Dân đăng nghị quyết này, Bác đọc liền cho mời mọi người đến: “Bác không đồng ý đưa ngày 19-5 là ngày kỷ niệm lớn trong năm sau. Hiện nay, các cháu học sinh đã sắp bước vào năm học mới, giấy mực, tiền bạc dùng để tuyên truyền về ngày sinh của Bác thì các chú nên dành để in sách giáo khoa và mua dụng cụ học tập cho các cháu, khỏi lãng phí”. Và tại kỳ họp 6 Quốc hội khóa II, khi chuẩn bị sinh nhật Bác, các đại biểu nhất trí đề nghị Quốc hội trao tặng Bác Huân chương Sao Vàng. Bác rất cảm động nhưng nhất quyết từ chối vì tự xét mình chưa có công huân xứng đáng.

Hiện nay toàn Đảng đang thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. GS-TS Hoàng Chí Bảo, thường trực Hội đồng lý luận Trung ương, tâm sự với người viết: “Cuộc vận động lần này phải gắn với những điều cuộc sống hôm nay đang đòi hỏi. Chúng ta phải nhìn thẳng vào sự thật là một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên đang thoái hóa, biến chất, thậm chí phạm tội. Chuyện tham nhũng nhà đất, trù úm dân chúng, lợi dụng chức quyền mưu lợi cá nhân... là rất xa lạ với đạo đức Hồ Chí Minh. Cho nên muốn gây dựng được niềm tin trong dân chúng thì trước hết phải kiên quyết xử lý những hành vi tiêu cực, hư hỏng thoái hóa ngay từ trong Đảng”.

Theo GS Bảo, cách hành động thiết thực là yêu cầu cán bộ, đảng viên “lời nói đi đôi với việc làm” như tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

PHAN LỢI - Báo Pháp Luật TP.HCM


“Cán bộ “gầy” nhân dân “béo” mới là vinh hạnh...”

Bác Hồ tặng quà cho ông Trần Văn Nỏ - Ảnh: Tư liệu
TT - Năm mươi năm trước, ngày 23-9-1958, Bác Hồ lên thăm tỉnh Lào Cai. Khi đó, tôi là cán bộ bảo vệ chính trị của Ty Công an được cấp trên giao nhiệm vụ cùng đồng chí Phạm Quế phối hợp với các đồng chí tiếp cận của bộ bảo vệ tuyệt đối an toàn cho chuyến đi.

Đúng 10g30, đoàn tàu hỏa đặc biệt mang số hiệu 424 do tài xế Nguyễn Văn Thêm lái đưa Bác tới ga Làng Giàng. Từ đây Bác Hồ lên ôtô sang sông để thăm công nhân mỏ apatit Cam Đường (thường gọi là apatit Lào Cai). Thấy giữa sông một chiếc canô đang chạy rẽ sóng với tốc độ rất cao, Bác quay lại đồng chí Hoàng Trường Minh, bí thư tỉnh ủy, hỏi: “Các chú biểu dương lực lượng đón Bác đấy à?”. Đồng chí Hoàng Trường Minh thật thà thưa: “Thưa Bác, đó là chiếc canô kiểm tra trên sông trước lúc đoàn qua đấy ạ!”.

Lúc đó, đồng chí cảnh vệ bảo vệ Bác đứng cạnh tôi, nói nhỏ: Năm trước, Bác lên thăm tỉnh Cao Bằng, tỉnh ủy cho kết hoa thật đẹp lên chiếc xe mui trần để Bác đi. Khi đồng chí bí thư tỉnh ủy mời Bác lên xe kết hoa, Bác nhất định không đi và nói với đồng chí bí thư: “Chú nào ra lệnh kết hoa lên xe thì chú đó đi”. Lời phê bình nhẹ nhàng mà nghiêm khắc về bệnh phô trương hình thức đã để lại cho Cao Bằng một bài học thấm thía.

Địa chỉ và người được Bác đến thăm và tặng quà đầu tiên trong chuyến lên thăm Lào Cai là ông Trần Văn Nỏ. Ông Nỏ là một nông dân người Tày ở xã Cam Đường. Năm 1924, khi còn là một cậu bé, trên đường lên nương, mệt và khát nước, cậu chặt một ống nứa đun nước uống. Bỗng dưng ba hòn đá kê bếp bốc cháy phừng phừng, tỏa ra ngọn lửa xanh lè. Đá cháy và lửa xanh là điều chưa từng thấy làm Nỏ hoảng sợ, nghi là hòn đá ma, sợ ma báo thù vì gia đình Nỏ có làm nghề thầy cúng. Nỏ liền báo với lý trưởng, lý trưởng báo quan Tây... Từ đó, thực dân Pháp đã thăm dò và khai thác apatit ở Lào Cai. Cách mạng rồi kháng chiến chín năm, mỏ không hoạt động. Đến ngày 29-9-1955 ta bắt đầu khôi phục và mở rộng diện khai thác. Ông Nỏ được coi là người đầu tiên phát hiện mỏ apatit và được ghi vào lịch sử của mỏ.

Sáng hôm sau, Bác nói chuyện với cán bộ các cơ quan dân chính đảng, đại diện các dân tộc tại sân tỉnh ủy.

Buổi chiều, Bác xuống thăm công trường xây dựng Nhà máy thủy điện Lào Cai.

Buổi chiều đó nắng nóng, khi Bác nói chuyện với công nhân, đồng chí bí thư Đảng ủy công trường che ô cho Bác. Người gạt đi và nói mọi người cũng như Bác, mượn cho Bác cái mũ là được.

Sau buổi mittinh ở sân nhà tỉnh ủy, Bác gọi đồng chí Hoàng Trường Minh (bí thư kiêm chủ tịch tỉnh Lào Cai lúc đó) và một số cán bộ chủ chốt của tỉnh về đời sống và phong tục của đồng bào các dân tộc. Trong khi đồng chí Hoàng Trường Minh loay hoay tìm chỗ ngồi cho Bác thì Bác đã tháo dép ngồi ngay xuống thềm nhà mát mẻ, sạch sẽ. Thế là tất cả đều ngồi xuống thềm quây quần quanh Bác.

Riêng một đồng chí mặc comlê đi giày tây bóng loáng cứ loay hoay mãi. Bác hỏi: “Chú ngồi xuống. Chú béo đấy. Chú làm công tác gì?”. Đồng chí Hoàng Trường Minh thưa: “Thưa Bác, đây là chú Tiến, trưởng Ty Thương nghiệp”. Bác nói ngay: “Làm thương nghiệp lúc này là phải xắn quần lên, mang muối, vải và dầu hỏa lên vùng cao cho đồng bào miền núi và thu mua lương thực, thực phẩm cung cấp cho bộ đội và nhân dân... Cán bộ mà “gầy”, nhân dân mà “béo” đó là điều vinh hạnh cho Đảng ta...”.

Hai ngày 23 và 24-9-1958 là hai ngày hạnh phúc nhất của đời tôi khi được ở bên Bác, bảo vệ Bác và nghe những lời dặn dò thân thiết mà sâu sắc của Người. Đó là những lời nói giản dị, bình thường mà có ý nghĩa khai sáng, nghiêm giới suốt cả cuộc đời, khiến tôi không bao giờ sai lầm và làm được một số điều có ích cho sự nghiệp chung, có ý nghĩa trong cuộc đời tôi và gia đình tôi.

NGUYỄN SĨ ĐẠI


Bác Hồ và “quê hương nghĩa trọng tình cao”

TT - Mỗi lần nói những lời trìu mến, thành kính về Bác Hồ kính yêu; mỗi dịp kỷ niệm ngày sinh của Người, chúng ta, bạn bè ta, nhất là các nhà khoa học, thường nêu câu hỏi: Những gì đã tạo dựng, hun đúc nên thiên tài Hồ Chí Minh - anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa kiệt xuất của nhân loại? Quê hương, gia thế của Hồ Chí Minh có vai trò thế nào trong việc hình thành nhân cách, trí tuệ, bản lĩnh của Người?

Trong di chúc, Bác dặn trồng nhiều cây ở những nơi lưu niệm Người, không nên dựng bia đá, tượng đồng - Ảnh tư liệu

Quê Bác nằm ở hạ lưu sông Lam của xứ Nghệ, nơi hội tụ của các trung tâm văn hóa vùng Bắc Trung bộ, nơi phát tích nhiều nền văn hóa cổ, một vùng văn hóa dân tộc học đặc sắc. Bác sinh ra trong một gia đình nhà Nho nghèo yêu nước, ở một vùng quê giàu truyền thống văn hiến và cách mạng.

Vùng quê ấy, trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước, thường xuyên đương đầu với muôn vàn giặc giã, thiên tai, trong khổ đau vẫn gan góc, trong mất mát vẫn kiên cường. Truyền thống yêu nước của gia đình, quê hương đã ảnh hưởng to lớn và sâu sắc đến tuổi ấu thơ của Bác, đến việc hình thành nhân cách, tư tưởng của Người.

Người yêu quý, giữ gìn, nhập tâm nhiều làn điệu hát ví, hát dặm, hát phường vải của quê nhà. Người ưa lẩy Kiều và đã vận dụng nghệ thuật dân gian này đến độ sáng tạo, tinh tế. Người sử dụng rộng rãi, linh hoạt các thể loại văn học truyền thống, các hình thức sinh hoạt văn hóa dân dã như tập Kiều, lẩy Kiều, tập cổ, thơ lục bát, thơ tự vịnh, thơ cổ điển, thơ mừng tuổi, thơ chúc tết. Trong thơ văn, Người hay dùng tục ngữ, ca dao, dân ca, lối nói ví von, so sánh sinh động, dễ hiểu của nhân dân lao động.

Trên con đường hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt chân lên hầu khắp các châu lục, nhiều quốc gia, nhiều nền văn hóa, thông thuộc nhiều thứ tiếng nước ngoài. Vậy mà một đêm ở Thái Lan xa xôi, Người thốt lên: “Xa nhà chốc mấy mươi niên / đêm qua nghe tiếng mẹ hiền ru con”.

Người vẫn giữ cho mình giọng Nghệ nằng nặng, trầm ấm, vang vọng của quê nhà. Sau hàng chục năm xa quê, ngày trở lại, Người xúc động nói: “Quê hương nghĩa trọng tình cao / Năm mươi năm ấy biết bao nhiêu tình”. Người không quên lối đi nhỏ vào nhà ngày xưa, cây bưởi trước nhà, cây mít, hàng cau phía sau, chiếc võng tuổi thơ, chiếc rương gỗ nhỏ - của hồi môn ít ỏi của mẹ, khung cửi của mẹ, chiếc phản gỗ và mấy pho sách của cha, những câu chuyện kể của bà...

Người nhớ và ghi sâu công đức người thầy khai tâm của mình, những kỷ niệm với người bạn câu cá, nhà ông thợ rèn, những buổi trưa thả diều, chăn trâu, đánh trận giả...

Người nhớ và nhắc giúp ca sĩ quê nhà hai câu cuối của một bài hát dân ca, về cách phát âm, cách luyến láy một số từ giọng Nghệ khi hát xướng. Trong bữa ăn thường nhật, Người ưa món tương, nhút, quả cà giòn tan, mằn mặn của quê xa.

Quê hương Người có rất nhiều truyền thống quý báu, mang đặc trưng văn hóa xứ Nghệ khó lẫn. Tuy nhiên, con người và vùng đất ấy cũng có những hạn chế khó tránh khỏi. Để khắc phục những hạn chế ấy, Người thường xuyên nhắc nhở cán bộ, nhân dân tỉnh nhà rằng: phải biết phát huy lòng yêu nước, tinh thần bất khuất trước địch họa, thiên tai, cần cù trong lao động, thủy chung trong nghĩa tình, giản dị, mộc mạc, ngay thẳng trong điều ăn lẽ ở.

Đồng thời cũng phải biết khắc phục tâm lý nông dân sản xuất nhỏ, manh mún, hẹp hòi; tiết kiệm quá thành hà tiện; ít giao tiếp nên dễ kém năng động; chỉ ham cái lợi nhỏ trước mắt mà không lo cái lợi to lớn, lâu dài; kiên định không đúng cách dễ trở thành bảo thủ, quan liêu, duy ý chí.

Hồ Chí Minh là tấm gương thanh cao về nếp sống giản dị, cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư, dĩ công vi thượng. Nếp sống đó không chỉ có ở Người khi hoạt động cách mạng bí mật, gian khổ, hiểm nguy mà giữ nguyên vẹn khi Người đã là chủ tịch nước yêu kính của dân tộc.

NGUYỄN THẾ KỶ (tiến sĩ, vụ trưởng 
Vụ Báo chí  - xuất bản Ban Tuyên giáo trung ương)

Lãnh đạo Đảng, Nhà nước viếng Lăng Bác

Nhân kỷ niệm 119 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19-5-1890 - 19-5-2009), sáng 17-5 đoàn đại biểu lãnh đạo Đảng, Nhà nước do Tổng bí thư Nông Đức Mạnh dẫn đầu đã vào lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Dự lễ viếng có nguyên Tổng bí thư Đỗ Mười, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết, nguyên Chủ tịch nước Trần Đức Lương, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng, nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An, các ủy viên Bộ Chính trị và Ban Bí thư Trung ương Đảng, đại diện Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc VN.  Vòng hoa của đoàn mang dòng chữ “Đời đời nhớ ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại“.

Các vị lãnh đạo Đảng, Nhà nước viếng lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh - Ảnh: TTXVN

Cũng vào sáng 17-5, tại TP Vinh, Tỉnh ủy, HĐND, UBND, Ủy ban MTTQ tỉnh Nghệ An tổ chức lễ kỷ niệm 119 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, 40 năm thực hiện bức thư cuối cùng của Bác Hồ gửi Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Nghệ An. Tới dự có ông Trương Tấn Sang - ủy viên Bộ Chính trị, thường trực Ban Bí thư.

Phát biểu tại lễ kỷ niệm, ông Trương Tấn Sang đề nghị tỉnh Nghệ An tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện thắng lợi các nội dung: tiếp tục thực hiện dân chủ với nhân dân tốt hơn, phát huy kết quả đã đạt được, khắc phục những hạn chế, yếu kém, tổ chức để nhân dân thực hiện có hiệu quả quy chế dân chủ ở cơ sở, tạo động lực thúc đẩy Nghệ An phát triển nhanh và bền vững.

Tỉnh Nghệ An cần có quy hoạch, kế hoạch cụ thể phát triển kinh tế, phát huy cao nhất các thế mạnh của địa phương như Bác Hồ đã chỉ ra. Không ngừng chăm lo đời sống của nhân dân, tăng cường đoàn kết nhất trí, quyết tâm thực hiện những lời căn dặn và mong muốn của Bác “phấn đấu làm cho Nghệ An mau trở thành một trong những tỉnh khá nhất miền Bắc”.

TTXVN


Những ngày 7-5 trong cuộc đời của Bác

Mỗi ngày trong 365 ngày của một năm và suốt dọc thời gian của "79 mùa Xuân" được chép lại theo trình tự thời gian có thể mang lại một mối liên tưởng và cảm nhận nào đó về một con người từ một niềm khao khát bình dị là lòng yêu nước đến việc hình thành một lý tưởng và sự phấn đấu để biến niềm khát khao và lý tưởng ấy thành sự thật.

...............................................

Vào thời điểm này, tôi đang đang làm một công việc nghề nghiệp là đọc lại tất cả những gì Chủ tịch Hồ Chí Minh viết và những tài liệu liên quan đến nhân vật lịch sử này để mong có thêm một cách tiếp cận mới.

Có một tờ báo chấp nhận hàng ngày sẽ đăng một mục ghi chép lại "ngày này năm ấy" Chủ tịch Hồ Chí Minh làm gì, nói gì, viết gì. Đó cũng là một cách ôn lại những hiểu biết về hành trạng và phần nào tư tưởng của một con người đã để lại một dấu ấn đậm nét trong lịch sử thế kỷ XX vừa đi qua và đương nhiên nó đã và sẽ tiếp tục ảnh hưởng một cách sâu sắc vào đời sống phát triển lâu dài của đất nước.

Mỗi ngày trong 365 ngày của một năm và suốt dọc thời gian của "79 mùa Xuân" được chép lại theo trình tự thời gian có thể mang lại một mối liên tưởng và cảm nhận nào đó về một con người từ một niềm khao khát bình dị là lòng yêu nước đến việc hình thành một lý tưởng và sự phấn đấu để biến niềm khát khao và lý tưởng ấy thành sự thật.

17g40 ngày 7-5-1954, lá cờ chiến thắng đã tung bay trên nóc hầm tướng De Castries. Hình ảnh này mãi mãi là niềm tự hào của dân tộc VN

Thử chép ra đây những gì liên quan đến ngày 7.5, thời điểm mà có một năm trong 79 mùa Xuân ấy chính là ngày "Chiến thắng Điện Biên Phủ" lịch sử và những ngày 7.5 khác trước và sau sự kiện ấy.

Cách ngày mà chúng ta chiến thắng đạo quân xâm lược của thực dân Pháp và can thiệp Mỹ 33 năm, tức là ngày 7.5.1921, Nguyễn Ái Quốc lúc đó mới gia nhập Đảng Cộng sản Pháp chưa đầy 1 năm, đã viết trên tờ báo "La Vie Ouvrière" (Đời sống công nhân) bài "Quyền những người lính chiến" để lên án cuộc chiến tranh đế quốc và vạch rõ bản chất của cái mà chính quyền thực dân gọi là "quyền của những người lính chiến chỉ là quyền tự do giết hại đồng loại để bảo vệ những két bạc kếch sù của giai cấp tư sản đã được tạo ra bằng mồ hôi của giai cấp công nhân và chứa đầy máu của binh lính Pháp và binh lính bản xứ. Đó cũng là quyền tự do tàn sát nhân dân các nước thuộc địa để mang lại lợi nhuận cao nhất cho bọn tư bản".

Chính từ sự phân tích ấy mà nhà cách mạng Việt Nam ấy đã thực hiện được cái điều mà viên mật thám Pháp chứng kiến sự kiện Nguyễn Ái Quốc tham gia Đại hội Tour (12-1920) đã tiên đoán "phải chăng người đại biểu thanh niên da vàng mảnh khảnh kia sẽ trở thành người cắm cây thập ác trên nấm mồ quyền lợi của chúng ta ở các thuộc địa".

Cái dự cảm ấy đã trở thành hiện thực với cuộc Cách mạng Tháng Tám 1945, sự ra đời của nước Việt Nam độc lập và sự xuất hiện của Nguyễn Ái Quốc trong cương vị và danh xưng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Những cái hiện thực ấy còn phải trải qua một chặng đường gian khổ bởi một cuộc chiến tranh trường kỳ, đầy gian khổ hy sinh chống lại sự ngoan cố chưa muốn từ bỏ các quyền lợi thuộc địa của chủ nghĩa thực dân...

Trước Chiến thắng Điện Biên Phủ 5 năm, ngày 7.5.1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục họp Hội nghị Trung ương mở rộng để chuẩn bị cho những bước phát triển mới của cuộc kháng chiến sau khi đã vượt qua những ngày đầu khi đạo quân chính quy của Pháp vừa thắng trận ở Châu Âu mở cuộc chiến tranh tổng lực mong bóp chết nhà nước và quân đội Việt Nam độc lập còn non trẻ. Đó cũng là thời điểm các lực lượng kháng chiến chuẩn bị cho những chiến dịch phản công diễn ra chỉ một năm sau đó giải phóng toàn bộ biên giới phía Bắc.

Chính trong buổi tối hôm đó, dưới tán lá rừng của Chiến khu Việt Bắc, Chính phủ tổ chức một sự kiện có ý nghĩa. Nhật ký của Bộ trưởng Lê Văn Hiến ghi lại : "Đêm nay làm lễ chúc thọ anh Tôn Đức Thắng, Hồ Chủ tịch nhân dịp này tặng cho anh Thắng một tên mới: "Tôn Tất Thắng". Chúng mình mỗi người hoặc nói chuyện vui hoặc ngâm thơ, hoặc hát để chúc mừng anh Thắng. Buổi lễ đơn sơ nhưng vui và cảm động". Đặt tên cho người đồng chí Nam Bộ của mình là "Tất Thắng", Bác Hồ gửi gắm vào đó cái niềm tin tạo nên sức mạnh cho cuộc kháng chiến trường kỳ đi đến cái ngày 7.5.1954.

Ngay sau khi nhận được tin chiến thắng từ mặt trận gửi về, Bác viết một bức thư tới những chiến sĩ ngoài mặt trận khen ngợi nhưng xác định rõ: "Quân ta đã giải phóng Điện Biên Phủ. Thắng lợi tuy to lớn nhưng mới bắt đầu. Chúng ta không nên vì thắng mà kiêu, không nên chủ quan khinh địch... Bất kỳ đấu tranh về quân sự hay ngoại giao sau này đều phải tranh đấu trường kỳ gian khổ mới đi đến thắng lợi hoàn toàn".

Cũng từ đó, vào dịp kỷ niệm Chiến thắng Điện Biên Phủ mỗi năm lại là một dịp Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở cả ý nghĩ to lớn và trách nhiệm nặng nề để có thể đi đến thắng lợi hoàn toàn.

Ngày 7.5.1958, Bác viết bài "Điện Biên Phủ" đăng trên báo "Nhân Dân" trong đó khẳng định : "Ba chữ "Điện Biên Phủ" đã làm cho tiếng tăm dân tộc Việt Nam ta lừng lẫy khắp năm châu... Lần đầu tiên trong lịch sử thế giới, một đế quốc hùng mạnh đã bị nhân dân một nước thuộc địa đánh cho tan tành tả tơi, và phải cút về nước".

Ngày 7.5.1959, Bác cùng Đại tướng Võ Nguyên Giáp thăm Sơn La và gặp gỡ đồng bào Thuận Châu động viên: "Đồng bào Khu Tự trị đã từng cùng bộ đội ta đánh thắng trận Điện Biên Phủ, đuổi hết giặc Tây, giải phóng đất nước. Ngày nay đồng bào, bộ đội và cán bộ lại càng phải cùng nhau đoàn kết phấn đấu để giành lấy một thắng lợi to lớn hơn nữa là tiêu diệt cho hết giặc đói, giặc dốt, làm cho mọi người đều đựơc no ấm, đều biết chữ, làm cho mọi người đều được hưởng hạnh phúc, yên vui".

Sang thăm đồng bào ở Châu Yên, vị Chủ tịch Nước nhắc nhở : "Bác đi qua nhiều nơi thấy rừng bị phá nhiều... Đồng bào có nên giữ gìn rừng không? Phải gìn giữ cho tốt 5 năm, 10 năm nữa rừng là vàng, là bạc, là máy móc... Cán bộ từ trên xuống dưới, từ Bác đến cán bộ xã là đầy tớ của nhân dân. Cán bộ không phải là vua, là quan lại như ngày trước mà đè đầu cưỡi cổ nhân dân. Tức là cán bộ phải chăm lo cho đời sông nhân dân".

Ngày 7.5.1963. Bác viết bài báo "Kỷ niệm thắng lợi Điện Biên Phủ" (ký bút danh T.L) đăng trên báo "Nhân Dân" nhấn mạnh ý nghĩa của chiến thắng lịch sử này: "Nhân dân ta có thể tự hào là người đầu tiên đã đập tan lực lượng hùng mạnh và uy tín giả tạo của bọn thực dân và do đó mà thúc đẩy các dân tộc thuộc địa anh em vùng lên giành tự do độc lập". Bài viết cũng cảnh báo rằng đế quốc Mỹ đang đi theo vết xe cũ và sẽ chịu thất bại nhục nhã như thực dân Pháp..

Ngày 7.5.1964, kỷ niệm 10 năm Chiến thắng "chấn động địa cầu", Bác viết vào Sổ cảm tưởng của Bảo tàng Điện Biên Phủ: "Chiến thắng Điện Biên Phủ là thắng lợi vĩ đại của nhân dân ta mà cũng là thắng lợi chung của các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới".

Còn trong bài báo "Nhân ngày kỷ niệm chiến thắng Điện Biên Phủ" (với bút danh Chiến Sĩ) đăng trên báo "Nhân Dân", Bác viết: "Điện Biên Phủ như là một cái mốc chói lọi bằng vàng của lịch sử. Nó ghi rõ nơi chủ nghĩa thực dân xuống dốc và tan rã, đồng thời phong trào giải phóng dân tộc khắp thế giới đang lên cao đến thắng lợi hoàn toàn...

Với tinh thần quyết chiến quyết thắng của Điện Biên Phủ, từ nay về sau nhân dân miền Nam chắc sẽ thắng lợi hơn nữa. Muốn tránh một thất bại như ở Điện Biên Phủ và muốn khỏi mất thể diện, thì đế quốc Mỹ chỉ có một cách là chấm dứt ngay cuộc chiến tranh xâm lược".

Cũng vào ngày hôm ấy, nhân trả lời phỏng vấn của Truyền hình Pháp (RTF), Chủ tịch Hồ Chí Minh tự nói về mình: "Trước đây tôi hoạt động cách mạng, bây giờ tôi vẫn hoạt động cách mạng và tôi sẽ tiếp tục làm như vậy. Nguyện vọng của tôi cũng như nguyện vọng của nhân dân Việt Nam là xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, tăng cường đoàn kết phe xã hội chủ nghĩa và giữ gìn hoà bình lâu dài trên thế giới"... và ngày 7.5.1967, Bác gửi thư "khen đồng bào, bộ đội và cán bộ Thủ đô Hà Nội" liên tiếp bắn rơi máy bay Mỹ và căn dặn : "chớ vì thắng lợi mà chủ quan thoả mãn. Hãy luôn luôn nâng cao cảnh giác, chiến đấu giỏi, sản xuất giỏi, làm tốt công tác phòng không nhân dân, lập nhiều thành tích to lớn hơn nữa để xứng đáng là Thủ đô Anh hùng".

Bức thư này làm chúng ta nhớ lại lá thư Bác gửi cho các chiến sĩ mặt trận Điện Biên Phủ năm xưa để rồi Hà Nội cùng cả nước làm nên một "Điện Biên Phủ trên không tháng Chạp 1972", rồi cả nước làm nên một "Mùa Xuân đại thắng 1975"... Lá thư 55 năm trước Bác nhắc nhở : "Thăng lợi tuy to lớn nhưng mới chỉ là bước đầu" và mọi cái "đều phải tranh đấu trường kỳ gian khổ mới đi đến thắng lợi hoàn toàn".

DƯƠNG TRUNG QUỐC - Lao Động


Kể chuyện tài ngoại giao của Bác Hồ

Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp đoàn nghị sĩ Quốc hội Anh sang thăm VN (4-5-1957)  - Ảnh tư liệu
Nhân dịp kỷ niệm 60 năm Ngày thành lập Ngành Ngoại giao, Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Dy Niên và nguyên Đại sứ Việt Nam tại năm nước Bắc Âu Phạm Ngạc kể những mẩu chuyện chung quanh tài ngoại giao của Bác Hồ.

1. Bác Hồ với Thủ tướng Ấn Độ Nehru

Tại cuộc đối thoại với các đoàn viên thanh niên ngành ngoại giao chiều ngày 25-8 vừa qua tại Hà Nội, một bạn trẻ đề nghị Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Dy Niên kể về những kỷ niệm khi ông làm phiên dịch cho Bác Hồ. Ông Nguyễn Dy Niên, năm nay 70 tuổi, 51 năm làm việc trong ngành ngoại giao, đã kể cho các đoàn viên thanh niên nghe câu chuyện còn ít người biết dưới đây.

Năm 1958 Bác Hồ sang thăm Ấn Độ. Trước đó, tôi được cử sang Ấn Độ học tiếng Hindhi, chuẩn bị cho chuyến thăm này của Bác Hồ và vinh dự được làm phiên dịch cho Bác trong thời gian Người ở thăm Ấn Độ.

Ấn tượng sâu sắc và vinh dự to lớn đối với tôi là lần đầu tiên được đọc bài diễn văn của Bác đã dịch sẵn sang tiếng Hindhi. Trong cuộc mít-tinh có hàng vạn người dự tại Red Fort (Thành Đỏ) ở thủ đô Delhi, các bạn Ấn Độ làm sẵn một cái ghế cho Bác Hồ ngồi trên bục danh dự. Chiếc ghế trông như một cái ngai vàng, rất lớn. Trong khi đó, Thủ tướng Ấn Độ ngày ấy là J. Nehru thì chỉ ngồi một chiếc ghế bình thường như mọi người khác. Khi Thủ tướng Nehru mời Bác Hồ ngồi vào chiếc ghế đó, Bác dứt khoát từ chối. Thấy vậy, Thủ tướng Nehru nói: Ngài là khách danh dự của chúng tôi, việc Ngài ngồi lên chiếc ghế này chính là niềm vinh dự của chúng tôi mà...

Chứng kiến điều này, hàng vạn người dự mít tinh phía dưới quảng trường đứng cả lên xem. Hai vị lãnh tụ của hai nước cứ nhường nhau, cuối cùng chẳng ai ngồi lên chiếc ghế lớn ấy. Thủ tướng Nehru đành gọi người cho chuyển chiếc ghế đi, thay bằng một chiếc ghế khác giản dị hơn. Thấy vậy, hàng vạn người dân Ấn Độ dưới quảng trường rất cảm kích vỗ tay vang dội và hô rất to: "Hồ Chí Minh muôn năm!" Hồ Chí Minh muôn năm!". Chuyện này được người Ấn Độ sau đó kể lại rất nhiều, trở thành một huyền thoại của họ về Bác Hồ.

Trong chuyến thăm này, trong một bữa tiệc do Thủ tướng Nehru chiêu đãi Bác Hồ có món thịt gà địa phương rất nổi tiếng. Người Ấn Độ khi ăn cơm không dùng thìa, dĩa mà dùng năm ngón tay để bốc thức ăn. Cả Bộ trưởng Ngoại giao Ấn Độ cũng muốn dùng tay bốc thức ăn. Nhưng tại bữa tiệc quốc tế người ta phải dùng dao, thìa, dĩa cho lịch sự. Khi món thịt gà được đưa ra, các quan khách Ấn Độ có vẻ không quen dùng dao, dĩa. Bác Hồ rất tinh ý, Người nói với Thủ tướng Nehru: Thịt gà phải ăn bằng tay thì mới ngon chứ còn ăn bằng thìa dĩa thì khác nào nói chuyện với người yêu lại phải qua ông phiên dịch. Nghe Bác Hồ nói vậy, cả bàn tiệc cười ầm cả lên làm cho không khí bữa tiệc hôm đó rất vui vẻ và thân mật.

2. Những bài học của Bác

Nhân tham gia hiệu đính bản dịch tiếng Anh cuốn sách Tư tưởng Ngoại giao Hồ Chí Minh , tôi nhớ lại những kỷ niệm và bài học Bác dạy về công tác đối ngoại.

Bác luôn kịp thời uốn nắn tác phong đối ngoại của cán bộ. Khi qua Bắc Kinh trong thời gian Trung Quốc có khó khăn về kinh tế những bữa ăn vẫn rất nhiều món, một cán bộ Việt Nam đi theo thích thú gắp ăn thử tất cả các món. Bác nhắc nhở: Chú thích nhất món nào thì ăn món đó, để lại các món khác, tiết kiệm cho bạn.

Bác có biệt tài tiếp khách và gây ấn tượng sâu sắc với khách quốc tế, đồng thời cũng rất cảnh giác. Một lần tiếp đoàn thể thao nước ngoài, khi giới thiệu tới Phó đoàn, Bác nói ngay: Tôi biết ông này. Phó đoàn (sĩ quan tình báo) sau đó thú nhận, khi Bác sang thăm nước ông ta, ông đóng vai sĩ quan cận vệ, không ngờ sang Việt Nam mặc thường phục Bác vẫn nhận ra.

Ngày nay ta nêu cao và thực hiện rất hiệu quả chính sách ngoại giao rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa, sẵn sàng là bạn và đối tác tin cậy với tất cả các nước. Thực tế đường lối đối ngoại này đã được Bác khởi xướng và đặt nền móng ngay từ khi Người bắt đầu hoạt động cách mạng.

Sau khi đi đến hầu hết các châu lục và sào huyệt của chủ nghĩa thực dân để tìm hiểu tình hình, Người đã giương cao ngọn cờ đoàn kết các dân tộc thuộc địa, tranh thủ sự ủng hộ của các lực lượng tiến bộ trên thế giới, đòi quyền lợi tại Hội Quốc Liên (sau Thế chiến I), tại Hiến chương Đại Tây Dương và sau này là Liên Hợp Quốc (sau Thế chiến 2), cộng tác chặt chẽ với đồng minh chống Nhật. Người đã chủ động giúp đỡ và cộng tác với các sĩ quan tình báo của Mỹ, bố trí hai sĩ quan Mỹ cùng ở sát bên mình trong an toàn khu để theo dõi tình hình thế giới và liên lạc với đồng minh. Việc đó đã chinh phục tình cảm của Trung úy Patti và cộng sự cho mãi đến sau này.

Theo website Bộ Ngoại giao


Bác Hồ với sự nghiệp giải phóng phụ nữ

“Phụ nữ làm chủ nhiệm đâu có đánh chén. Chủ nhiệm nữ thật thà, phải đưa nhiều phụ nữ tham gia làm chủ nhiệm”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đại biểu nữ tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III, tháng 9-1960 - Ảnh tư liệu

Trong một lần trả lời phỏng vấn Đài phát thanh BBC (Anh) nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình đã nói: Chủ tịch Hồ Chí Minh là người khởi xướng con đường giải phóng phụ nữ tại Việt Nam. Người đã thức tỉnh phụ nữ tham gia giải phóng dân tộc, nhân loại và từ đó giải phóng chính mình. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn cảm thông sâu sắc với nỗi thống khổ của người phụ nữ Việt Nam dưới ách thống trị của thực dân Pháp và bọn phong kiến tay sai.

Người xác định rõ, bất bình đẳng nam nữ không đơn thuần là bị ảnh hưởng bởi các tư tưởng lạc hậu mà chủ yếu là do chế độ kinh tế xã hội. Hồ Chí Minh là lãnh tụ Việt Nam đầu tiên kêu gọi "Thực hiện nam nữ bình quyền", coi sự nghiệp giải phóng phụ nữ là mọt mục tiêu của cách mạng.

Đồng chí Vũ Kỳ nhớ lại: "Một lần, tới dự Hội nghị, nhìn dọc Hội trường Bác hỏi: này các chú, phụ nữ đâu không thấy ngồi hàng đầu? Bác hỏi tiếp: Các cô có đấy không? Có ạ. Vậy mời lên đây ngồi. Ngay việc ngồi cũng không bình đẳng. Phụ nữ muốn bình đẳng không phải bảo Đảng, Chính phủ hay nam giới mời ngồi mà phải tự đấu tranh để giành lấy.

Đó là lời dặn mà cũng là mong muốn của Bác. Bác thường nhấc: Lực lượng phụ nữ không nhỏ, có khi còn đông hơn nam giới. Ở Việt Nam nói riêng và Châu Á, Châu Phi nói chung, sự bất bình đẳng giữa nam và nữ rất rõ rệt. Do ý thức hệ phong kiến đã đè nặng lên tư tưởng phụ nữ từ bao đời nay. Vì thế, mọi đường lối, chính sách của Đảng, Chính phủ bao giờ cũng phải chú ý đến phụ nữ…

Bác còn trực tiếp đào tạo nhiều người trờ thành cán bộ cách mạng. Hãy đọc lại hồi ký của bà Nông Thị Trưng viết về Bác: “Về Pắc Bó đã nửa đêm, anh Đại Lâm, người giữ trạm đầu nguồn đưa chúng tôi đến gặp ông Ké. Đến nơi, anh Đại Lâm thổi sáo, từ trên thác có thang tre thả xuống. Bên bờ suối có một cái lán, trong lán, một ông cụ đang ngồi đọc sách. Tôi chắp tay: Cháu chào cụ ạ.

Ông cụ nhìn lên hai mắt rất sáng, ân cần bảo: Cháu đến rồi à, cháu ngồi xuống đây nói chuyện. Cụ bảo hai lần tôi mới dám ngồi. Cụ tỉ mỉ hỏi gia cảnh, rồi khuyên: “Từ nay cháu đã có gia đình lớn là cách mạng, đừng nên luyến tiếc gia đình nhỏ nữa. Cháu có cặm cụi làm ăn cũng không đủ nộp sưu thuế. Mình lấy lại được nước rồi sẽ khác”. Bác đặt cho tôi tên Trưng cũng là vì muốn tôi noi theo gương của bà Trưng khi xưa.

Từ đấy, tôi ở lại lán anh Đại Lâm, mỗi ngày vào lán của Bác một giờ học tập Bác dạy cho tôi từ chuyện thế giới, chuyện cộng sản đến cả những cách ứng xử hàng ngày: Đừng làm việc gì khiến dân mất lòng tin. Mượn 1 cái kim, 1 con dao, một buổi là phải đem trả. Trong ba lô nếu có màn, phải để ở ngoài cửa, chủ nhà có bằng lòng mới đem vào. Cháu là nữ, trước bàn thờ có cái giường để các cụ ngồi ăn cỗ, cháu không được ngồi... Tám tháng được Bác chỉ dạy, tôi học được nhiều hơn mấy chục năm học lý luận tập trung sau này”.

Khi bàn về việc bầu Chủ nhiệm HTX nông nghiệp, Bác đề nghị bầu nhiều phụ nữ vào cương vị này bởi: "Phụ nữ làm chủ nhiệm đâu có đánh chén. Chủ nhiệm nữ thật thà, phải đưa nhiều phụ nữ tham gia làm chủ nhiệm”.

Trong Di chúc, Bác viết: "Trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước, phụ nữ vô cùng đảm đang, đã đóng góp rất nhiều trong chiến đấu và sản xuất. Đảng, Chính phủ cần có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ để ngày càng thêm nhiều phụ nữ phụ trách nhiều công việc kể cả lãnh đạo. Phụ nữ phải phấn đấu vươn lên, đây là thực sự là một cuộc cách mạng".

GS, TS NGUYỄN LÂN DŨNG
Theo Nhịp cầu đầu tư


Bốn chữ "thật" trong Di chúc Bác Hồ

Nhân dịp kỷ niệm 40 năm thực hiện bản Di chúc lịch sử của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tôi có vài suy nghĩ khi đọc lại Di chúc của Người (đoạn văn Bác dặn mỗi đảng viên và cán bộ…). Theo đó, Bác muốn dặn chúng ta nhiều điều, nhưng vốn ở Người nói và viết rất ngắn gọn, dễ nhớ, dễ hiểu, mà văn phong đã được cân nhắc từng câu, từng chữ trong nhiều đêm ngày.

Đại hội đại biểu Đoàn Thanh niên cứu quốc lần II nhiệt liệt chào mừng Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm (2-11-1956) - Ảnh tư liệu

Khi nói về Đảng, Bác viết hai vấn đề quan trọng nhất là: Đoàn kết và đạo đức cách mạng. Ba cụm từ “Đoàn kết chặt chẽ”, “Đoàn kết nhất trí”, “Đoàn kết thống nhất” là rất cụ thể, dễ nhớ để thực hiện. Không cần ví dụ, chắc chúng ta đều thấy rõ sức mạnh của khối đại đoàn kết.

Sau đó Bác nói đến đạo đức cách mạng: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.

Người đã nhìn thấy điều này và dặn dò: Phải làm tốt công tác chỉnh đốn Đảng, phê phán mạnh mẽ chủ nghĩa cá nhân, vì chính nó là mẹ đẻ thói hư, tật xấu như lười biếng, quan liêu, tham ô, lãng phí, kèn cựa địa vị, chia rẽ… là kẻ thù của đạo đức cách mạng. Trong mỗi con người có thiện, có ác. Chăm chỉ, tiết kiệm, đoàn kết, trung thành, làm việc có ích cho dân… là điều thiện, là đạo đức cách mạng. Lười biếng, lãng phí, tham ô, mua danh, bán chức, làm hại xã hội… là điều ác, là chủ nghĩa cá nhân, là kẻ thù ta phải tiêu diệt. Nghĩa là phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự làm điều thiện, bỏ điều ác.

Xét cho cùng, có “cần” mới có “kiệm”, mới có “liêm”, mới có “chính”; có “liêm chính” mới có chí công vô tư.

Bác dặn muốn giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, thì mỗi cán bộ, đảng viên phải trong sáng, phải làm điều thiện, bỏ điều ác, phải thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, phải đảng viên đi trước, làng nước theo sau, sẽ đoàn kết được trong Đảng, trong dân.

Cuối cùng Bác dặn: Phải là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân. Đây là điều cốt yếu bao trùm, vì tham ô, lãng phí, kèn cựa địa vị, quan liêu… không thể gọi là công bộc, là đầy tớ của dân được.

Bác dạy: Một dân tộc, một Đảng và mỗi con người ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định ngày hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ ta không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân (Hồ Chí Minh toàn tập T2, trang 557-558).

Những điều cốt yếu này chính là những bài học lớn, sáng chói trong tư tưởng Hồ Chí Minh.

TRẦN VE - Báo Quân đội nhân dân


 Lời kêu gọi thi đua ái quốc


Đại hội đại biểu Đoàn Thanh niên cứu quốc lần II nhiệt liệt chào mừng Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm (2-11-1956) - Ảnh tư liệu

Mục đích thi đua ái quốc là:

Diệt giặc đói,
Diệt giặc dốt,
Diệt giặc ngoại xâm.

Cách làm là: dựa vào:

Lực lượng của dân,
Tinh thần của dân, để gây:
Hạnh phúc cho dân.

Vì vậy bổn phận của người dân Việt Nam, bất kỳ sĩ, nông, công, thương, binh; bất kỳ làm việc gì, đều cần phải thi đua nhau:

Làm cho mau,
Làm cho tốt,
Làm cho nhiều.

Mỗi người dân Việt Nam, bất kỳ già, trẻ, trai, gái; bất kỳ giàu, nghèo, lớn, nhỏ, đều cần phải trở nên một chiến sĩ tranh đấu trên mặt trận: Quân sự, Kinh tế, Chính trị, Văn hóa. Thực hiện khẩu hiệu:

Toàn dân kháng chiến,
Toàn diện kháng chiến.

Trong cuộc Thi đua ái quốc, chúng ta:

Vừa kháng chiến,
Vừa kiến quốc.

Kết quả đầu tiên của Thi đua ái quốc sẽ là:

Toàn dân đủ ăn đủ mặc,
Toàn dân biết đọc, biết viết,

Toàn bộ đội đầy đủ lương thực, khí giới,
để diệt ngoại xâm,

Toàn quốc sẽ thống nhất độc lập hoàn toàn.

Thế là chúng ta thực hiện:

Dân tộc độc lập,
Dân quyền tự do,
Dân sinh hạnh phúc,

Ba chủ nghĩa mà nhà đại cách mạng Tôn Văn đã nêu ra.

Để đi đến kết quả tốt đẹp đó, tôi xin

Các cụ phụ lão thi đua đốc thúc con cháu hăng hái tham gia mọi công việc,
Các cháu nhi đồng thi đua học hành và giúp việc người lớn,
Đồng bào phú hào thi đua mở mang doanh nghiệp,
Đồng bào công nông thi đua sản xuất,
Đồng bào trí thức và chuyên môn thi đua sáng tác và phát minh,
Nhân viên Chính phủ thi đua tận tụy làm việc, phụng sự nhân dân,
Bộ đội và dân quân thi đua giết cho nhiều giặc, đoạt cho nhiều súng.

Nói tóm lại, ai cũng thi đua, ai cũng tham gia kháng chiến và kiến quốc. Phong trào sôi nổi.

Thi đua ái quốc sẽ ăn sâu, lan rộng khắp mọi mặt và mọi tầng lớp nhân dân, và sẽ giúp ta dẹp tan mọi nỗi khó khăn và mọi âm mưu của địch để đi đến thắng lợi cuối cùng.

Với tinh thần quật cường và lực lượng vô tận của dân tộc ta, với lòng yêu nước và chí kiên quyết của nhân dân và quân đội ta, chúng ta có thể thắng lợi, chúng ta nhất định thắng lợi.

Hỡi toàn thể đồng bào,
Hỡi toàn thể chiến sĩ,
Tiến lên!

HỒ CHÍ MINH
Viết ngày 11-6-1948.

Báo Cứu quốc, chi nhánh số 6, số 968, ngày 24-6-1948.

Hồ Chí Minh toàn tập


Văn nghệ muốn tự do thì phải tham gia cách mạng

Dân tộc bị áp bức, thì văn nghệ cũng mất tự do. Văn nghệ muốn tự do thì phải tham gia cách mạng.

...........................................

Tôi thay mặt Trung ương Đảng và Chính phủ thân ái chào mừng Đại hội và khen ngợi các đồng chí đã có những cố gắng và những thành tích trong mấy năm qua.

Nhân dịp này, tôi cũng gửi lời thân ái hỏi thăm những anh em văn nghệ yêu nước ở miền Nam đang cùng đồng bào dũng cảm hy sinh, đấu tranh chống Mỹ - Diệm.

Trong thư của Trung ương Đảng gửi Đại hội và những lời phát biểu của các đại biểu đã nói khá đủ những điều cần phải nói. Hôm nay, tôi chỉ kể vài kinh nghiệm cũ và nêu vài ý kiến chung.

Dưới chế độ thực dân Pháp, dù chúng khủng bố tàn nhẫn và nuôi nấng thứ văn chương nịnh tây, nhưng ở nước ta vẫn có văn chương cách mạng.

Văn chương cách mạng như những thơ ca của các cụ Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu và những người yêu nước khác, thì bị gọi là "cấm vật". Nếu không giữ được bí mật, thì người viết cũng như người xem đều bị bắt bớ tù đày. Tuy vậy, vì quần chúng sẵn lòng ghét Tây và yêu nước, cho nên những thơ ca ấy đã được truyền tụng trong dân gian và đã có tác dụng cổ động tinh thần cách mạng.

Nghề múa hát thì chỉ là một thứ tiêu khiển cho bọn "ngồi mát ăn bát vàng". Chúng còn khinh rẻ và gọi những nghệ sĩ múa hát là "xướng ca vô loài".

Hồi đó chỉ có chiếu bóng câm, bọn thực dân Pháp dùng chiếu bóng để bôi nhọ dân tộc ta. Ví dụ: Trong hội chợ ở Mácxây ngoài những tranh vẽ lũ công khanh Việt Nam đang lúc nhúc lạy quỳ trước vua bù nhìn cùng chó ngao, toàn quyền, khâm sứ; ngoài những công nhân trần trụi kéo xe thuê, còn có chiếu bóng: trong phim có những bà già ăn trầu răng đen, những nông dân gầy gò rách rưới, những người đóng khố đang trèo dừa... Chúng gọi đó là "hình ảnh An Nam".

Rõ ràng là dân tộc bị áp bức, thì văn nghệ cũng mất tự do. Văn nghệ muốn tự do thì phải tham gia cách mạng.

Từ ngày Cách mạng Tháng Tám thành công, nhân dân ta được giải phóng, thì những người văn nghệ cũng có điều kiện thuận lợi để phát triển tài năng của mình, góp phần vào công cuộc kháng chiến và xây dựng Tổ quốc.

17 năm qua, nước ta có những cuộc biến đổi long trời chuyển đất: Cách mạng thành công, kháng chiến thắng lợi, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh chống Mỹ - Diệm ở miền Nam, khắp nơi sôi nổi thi đua yêu nước. Ở Việt Nam chúng ta có những sự tích vô cùng oanh liệt, những chiến sĩ cực kỳ anh hùng. Ở các nước anh em trong đại gia đình xã hội chủ nghĩa cũng vậy.

Quần chúng đang chờ đợi những tác phẩm văn nghệ xứng đáng với thời đại vẻ vang của chúng ta, những tác phẩm ca tụng chân thật những người mới, việc mới chẳng những để làm gương mẫu cho chúng ta ngày nay, mà còn để giáo dục con cháu ta đời sau.

Trong thời kỳ quá độ, bên những thành tích tốt đẹp là chính, vẫn còn sót lại những cái xấu xa của xã hội cũ như: tham ô, lãng phí, lười biếng, quan liêu, đánh con, đập vợ, v.v.. Đối với những thói xấu đó, văn nghệ cũng cần phải phê bình rất nghiêm khắc, nhằm làm cho xã hội ta ngày càng lành mạnh tốt đẹp hơn.

Nói tóm lại: phải có khen cũng phải có chê. Nhưng khen hay là chê đều phải đúng mức. Khen quá lời thì người được khen cũng hổ ngươi. Mà chê quá đáng thì người bị chê cũng khó tiếp thụ.

Quần chúng mong muốn những tác phẩm có nội dung chân thật và phong phú, có hình thức trong sáng và vui tươi. Khi chưa xem thì muốn xem, xem rồi thì có bổ ích. Quần chúng còn mong các đồng chí văn nghệ chú ý giùm hai điều nữa: một là chớ mượn chữ Hán quá nhiều, thậm chí có khi "chữ Tạc vạc ra chữ Tộ". Hai là khi viết phải cẩn thận hơn, tránh viết những câu kỳ khôi như "no cơm áo", "cười thênh thênh", v.v..

Để làm trọn nhiệm vụ cao quý của mình, văn nghệ sĩ cần phải rèn luyện đạo đức cách mạng, nâng cao tinh thần phục vụ nhân dân, giữ gìn thái độ khiêm tốn; phải thật sự hòa mình với quần chúng, cố gắng học tập chính trị, trau dồi nghề nghiệp; phải hết lòng giúp đỡ thanh niên, làm cho văn nghệ nước nhà ngày càng thêm trẻ thêm xuân.

Tôi xin kết thúc câu chuyện bằng lời thân ái chúc các đồng chí đoàn kết chặt chẽ, phấn khởi và tiến bộ nhiều!

Chúc mọi người đồng lòng chung sức xây dựng văn nghệ của ta ngày càng phong phú về tư tưởng và nghệ thuật, góp phần xứng đáng với cả dân tộc đang anh dũng xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh.

Bài nói chuyện tại đại hội văn nghệ toàn quốc lần thứ III
Nói ngày 1-12-1962, báo Nhân dân, số 3173, ngày 2-12-1962.
Hồ Chí Minh toàn tập

Từ “XUÂN” trong thơ Bác Hồ

Chúng ta đều biết từ XUÂN có nghĩa gốc (nghĩa đen) là mùa xuân. Nhưng từ nghĩa gốc đó, từ XUÂN còn được dùng với nghĩa rộng và nghĩa bóng. Hãy đọc thơ văn Bác Hồ để thấy Bác đã sáng tạo, biến hóa tài tình trong cách dùng từ XUÂN.

Trong thơ chúc Tết, từ XUÂN được Bác dùng để chỉ thời gian một năm:

Xuân này kháng chiến đã năm xuân
Nhiều xuân kháng chiến càng gần thành công

          (Thơ chúc Tết Tân Mão - 1951)

Thơ cổ thường dùng thu, đông để chỉ một năm (Ba thu dọn lại một ngày dài ghê - Truyện Kiều). ở đây, Bác lại dùng XUÂN, 5 xuân tức là 5 năm. Thật là mới mẻ, sáng tạo và phù hợp với không khí một bài thơ xuân.

Bác còn dùng XUÂN để chỉ tuổi - tuổi của Nước và của Đảng:

Mừng Nhà nước ta mười lăm xuân xanh!
Đảng chúng ta ba mươi tuổi trẻ!

(Thơ mừng năm mới- Xuân năm 1960)

Từ XUÂN được kết hợp với xanh thành xuân xanh để chỉ tuổi trẻ. Câu trên “mười lăm xuân xanh”, câu dưới “ba mươi tuổi trẻ” làm cho ý thơ khoẻ khoắn, phơi phới niềm tin, cảm hứng thơ xuân in rõ dấu ấn thời đại.

Trong thơ nói về tuổi già, từ XUÂN được Bác dùng như một tính từ đối lập với già là trẻ:

Sáu mươi tuổi hãy còn xuân chán,
So với ông Bành vẫn thiếu niên

(Sáu mươi tuổi - năm 1950)

Người viết câu thơ ấy phải trẻ trung và yêu đời biết bao! “Không gì vui bằng mắt Bác Hồ cười- Quên tuổi già tươi mãi tuổi đôi mươi” (Tố Hữu). Ngay cả khi sắp từ giã cuộc sống thì sự trẻ trung và yêu đời ấy vẫn thấm trong Di chúc, trong một từ XUÂN kỳ diệu: “Khi người ta đã “ngoài 70 xuân...” ( “ngoài 70 tuổi” gợi ý già nhưng “ngoài 70 xuân” thì lại đầy sức trẻ).

Từ XUÂN còn được Bác dùng để nói lên niềm vui và sự chiến thắng. Trong bài thơ cuối cùng trước lúc Bác đi xa, niềm vui ấy vẫn bừng sáng lên một sắc xuân chiến thắng:

Mừng thấy miền Nam luôn thắng lớn
Một năm là cả bốn mùa xuân

(Không đề - Khương Hữu Dụng dịch)

Trong nguyên văn: Một năm cả bốn mùa đều là xuân, có nghĩa là cả bốn mùa đều tràn đầy niềm vui và chiến thắng.

Những từ XUÂN nói trên Bác dùng thật tài tình, biến hoá. Nhưng sáng tạo nhất, hàm chứa nhiều ý nghĩa phong phú nhất, phải nói đến từ XUÂN trong câu thơ về Tết trồng cây Bác viết vào mùa xuân 1965:

Mùa Xuân là Tết trồng cây,
Làm cho đất nước càng ngày càng Xuân.

XUÂN ở đây là tính từ, bao hàm nhiều nghĩa: Xanh tươi, trẻ, đẹp, trù phú, đầy sức sống, đầy sức phát triển... để nói lên đất nước trong mùa xuân vĩnh viễn mở ra một tương lai bát ngát bởi lòng người viết cũng tràn đầy sức XUÂN.

Xuân Nguyên


Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh 

(Công bố năm 1969)

VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

---000---

"Bác bắt nhịp bài ca Kết đoàn..." - Ảnh tư liệu

Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới.

........................................

Cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta dù phải kinh qua gian khổ, hy sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi hoàn toàn.

Đó là một điều chắc chắn.

Tôi có ý định đến ngày đó, tôi sẽ đi khắp hai miền Nam Bắc, để chúc mừng đồng bào, cán bộ, và chiến sĩ anh hùng; thăm hỏi các cụ phụ lão, các cháu thanh niên và nhi đồng yêu quý của chúng ta.

Kế theo đó, tôi sẽ thay mặt nhân dân ta đi thăm và cảm ơn các nước anh em trong phe xã hội chủ nghĩa, và các nước bầu bạn khắp năm châu đã tận tình ủng hộ và giúp đỡ cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta.

***

Ông Đỗ Phủ là người làm thơ rất nổi tiếng ở Trung Quốc đời nhà Đường, có câu rằng: “Nhân sinh thất thập cổ lai hy”, nghĩa là: “Người thọ 70, xưa nay hiếm”.

Năm nay, tôi vừa 79 tuổi, đã là hạng người “xưa nay hiếm” nhưng tinh thần, đầu óc vẫn rất sáng suốt, tuy sức khỏe có kém so với vài năm trước đây. Khi người ta đã ngoài 70 xuân, thì tuổi tác càng cao, sức khỏe càng thấp. Điều đó cũng không có gì lạ.

Nhưng ai mà đoán biết tôi còn phục vụ cách mạng, phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân được bao lâu nữa?

Vì vậy, tôi để sẵn mấy lời này, phòng khi tôi sẽ đi gặp cụ Các Mác, cụ Lênin và các vị cách mạng đàn anh khác, thì đồng bào cả nước, đồng chí trong Đảng và bầu bạn khắp nơi đều khỏi cảm thấy đột ngột.

Trước hết nói về Đảng – Nhờ đoàn kết chặt chẽ, một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, cho nên từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta hăng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình.

Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển đoàn kết và thống nhất của Đảng. Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau.

Đảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ trung thành của nhân dân.

Đoàn viên và thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ. Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người kế thừa xây dựng chu nghĩa xã hội vừa “hồng”, vừa “chuyên”.

Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết.

Nhân dân lao động ta ở miền xuôi cũng như ở miền núi, đã bao đời chịu đựng gian khổ, bị chế độ phong kiến và thực dân áp bức bóc lột, lại kinh qua nhiều năm chiến tranh.

Tuy vậy, nhân dân ta rất anh hùng, dũng cảm, hăng hái, cần cù. Từ ngày có Đảng, nhân dân ta luôn đi theo Đảng, rất trung thành với Đảng.

Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân.

Cuộc kháng chiến chống Mỹ có thể còn kéo dài. Đồng bào ta có thể phải hy sinh nhiều của, nhiều người. Dù sao, chúng ta phải quyết tâm đánh giặc Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn.

Còn non, còn nước, còn người

Thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay!

Dù khó khăn gian khổ đến mấy, nhân dân ta nhất định sẽ hoàn toàn thắng lợi. Đế quốc Mỹ nhất định phải cút khỏi nước ta. Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất. Đồng bào Nam Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà. Nước ta sẽ có vinh dự lớn là một nước nhỏ mà đã anh dũng đánh thắng 2 đế quốc to – là Pháp và Mỹ; và đã góp phần xứng đáng vào phong trào giải phóng dân tộc.

Về phong trào Cộng sản thế giới – Là một người suốt đời phục vụ cách mạng, tôi càng tự hào với sự lớn mạnh của phong trào Cộng sản và công nhân quốc tế bao nhiêu, thì tôi càng đau lòng bấy nhiêu vì sự bất hòa hiện nay giữa các đảng anh em!

Tôi mong rằng Đảng ta sẽ ra sức hoạt động, góp phần đắc lực vào việc khôi phục lại khối đoàn kết giữa các đảng anh em trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản, có lý, có tình.

Tôi tin chắc rằng các đảng anh em và các nước anh em nhất định sẽ phải đoàn kết lại.

* * *

Về việc riêng – Suốt đời tôi hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Nay dù phải từ biệt thế giới này, tôi không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc là tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa.

Sau khi tôi đã qua đời, chớ nên tổ chức điếu phúng linh đình, để khỏi lãng phí thì giờ và tiền bạc của nhân dân.

* * *

Cuối cùng, tôi để lại muôn vàn tình thân yêu cho toàn dân, toàn Đảng, cho toàn thể bộ đội, cho các cháu thanh niên và nhi đồng.

Tôi cũng gửi lời chào thân ái đến các đồng chí, các bầu bạn, và các cháu thanh niên nhi đông quốc tế.

Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới.

Hà Nội, ngày 10 tháng 5 năm 1969

HỒ CHÍ MINH

.....................................................

Bản cảo Di chúc cuối cùng của Bác:

VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA
Độc lập, Tự do, Hạnh phúc

(Tuyệt đối bí mật)

Năm nay tôi vừa 78 tuổi, vào lớp những người "trung thọ". Tinh thần vẫn sáng suốt tuy sức khoẻ có kém so với vài năm trước đây. Người ta đến khi tuổi tác càng cao thì sức khoẻ càng thấp. Đó là một điều bình thường.

Nhưng không ai đoán biết được tôi sẽ sống và phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng mấy tháng, mấy năm nữa?

Vì vậy, tôi viết sẵn và để lại mấy lời này, phòng khi tôi sẽ đi gặp cụ Các Mác, cụ Lênin và các vị cách mạng đàn anh khác, thì đồng bào cả nước và đồng chí trong Đảng khỏi cảm thấy đột ngột.

Về việc riêng

Suốt đời tôi hết lòng, hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ Cách mạng, phục vụ nhân dân. Nay dù phải từ biệt thế giới này, tôi không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa.

Sau khi tôi qua đời, chớ nên tổ chức điếu phúng linh đình, để khỏi lãng phí thời giờ và tiền bạc của nhân dân.

Tôi yêu cầu thi hài tôi được đốt đi, tức là "hỏa táng". Tôi mong rằng cách "hỏa táng" sau này sẽ được phổ biến. Vì như thế đối với người sống đã tốt về mặt vệ sinh, lại không tốn đất ruộng. Khi ta có nhiều điện, thì "điện táng" càng tốt hơn.

Tro thì chia làm 3 phần, bỏ vào 3 cái hộp sành. Một hộp cho miền Bắc. Một hộp cho miền Trung. Một hộp cho miền Nam.

Đồng bào mỗi miền nên chọn một quả đồi mà chôn hộp tro đó. Trên mả, không nên có bia đá tượng đồng, mà nên xây một một ngôi nhà giản đơn, rộng rãi, chắc chắn, mát mẻ, để những người đến thăm viếng có chỗ để nghỉ ngơi.

Nên có kế hoạch trồng cây trên và chung quanh đồi. Ai đến thăm thì trồng một vài cây làm kỷ niệm. Lâu ngày cây nhiều thành rừng sẽ tốt cho phong cảnh và lợi cho nông nghiệp. Việc săn sóc nên giao phó cho các cụ phụ lão.

điểm này không đi sâu vào chi tiết.

Ngay sau khi cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta đã hoàn toàn thắng lợi, công việc toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta phải ra sức làm là mau chúng hàn gắn vết thương nghiêm trọng do đế quốc Mỹ gây ra và trong cuộc chiến tranh xâm lược dã man. Đó là một công việc cực kỳ to lớn, phức tạp và khó khăn. Chúng ta phải có kế hoạch sẵn sàng, rõ ràng chu đáo, để tránh khỏi bị động, thiếu sót và sai lầm. Theo ý tôi, việc cần phải làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng, làm  cho mỗi đảng viên, mỗi đoàn viên, mỗi chi bộ đều ra sức làm tròn nhiệm vụ đảng giao phó cho mình, toàn tâm toàn ý phục vụ nhân dân. Làm được việc như vậy, thì dù công việc lớn mấy, khó khăn đến mấy chúng ta cũng nhất định thắng lợi.

Đầu tiên là công việc đối với con người.

Đối với những người đã dũng cảm hy sinh một phần xương máu của mình (cán bộ, binh sĩ, dân quân, du kích, thanh niên xung phong...), Đảng, Chính phủ và đồng bào phải tìm cách làm cho họ có nơi ăn chốn ở yên ổn, đồng thời phải mở những lớp dạy nghề thích hợp với mỗi người để họ có thể dần dần "tự lực cánh sinh".

Đối với các liệt sĩ, mỗi địa phương (thành phố, làng xã) cần xây dựng vườn hoa và bia kỷ niệm ghi sự hy sinh anh dũng của các liệt sĩ, để đời đời giáo dục tinh thần yêu nước cho nhân dân ta.

Đối với cha mẹ, vợ con (của thương binh và liệt sĩ) mà thiếu sức lao động và túng thiếu, thì chính quyền địa phương  (nếu ở nông thôn thì chính quyền xã cùng hợp tác xã nông nghiệp) phải giúp đỡ họ có công việc làm ăn thích hợp, quyết không để họ đói rét.

Những chiến sĩ trẻ tuổi trong lực lượng vũ trang nhân dân và thanh niên xung phong đều đã được rằng luyện trong chiến đấu và đều tỏ ra dũng cảm. Đảng và Chính phủ cần chọn ra một số ưu tú nhất, cho các cháu ấy đi học thêm các ngành, các nghề, để đào tạo thành những cán bộ và công nhân có kỹ thuật giỏi, tư tưởng tốt, lập trường cách mạng vững chắc. Đó là đội quân chủ lực trong công cuộc xây dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, phụ nữ đảm đang ta đã góp phần xứng đáng trong chiến đấu và trong sản xuất. Đảng và Chính phủ cần phải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ để ngày thêm nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc kể cả công việc lãnh đạo. Bản thân phụ nữ phải cố gắng vươn lên. Đó là cuộc cách mạng đưa đến quyền bình đẳng thật sự cho phụ nữ.

Đối với những nạn nhân của chế độ xã hội cũ, như trộm cắp, gái điếm, cờ bạc buôn lậu,v.v.. thì nhà nước phải dùng vừa giáo dục, vừa dùng pháp luật để cải tạo họ, giúp họ trở nên những người lao động lương thiện.

Trong bao năm kháng chiến chống thực dân Pháp, tiếp đến chống đế quốc Mỹ, đồng vào ta nhất là đồng bào nhân dân đã luôn luôn hết sức trung thành với Đảng và Chính phủ ta ra sức góp của góp người, vui lòng chịu đựng mọi khó khăn gian khổ. Nay ta đã hoàn toàn thắng lợi, tôi có ý định miễn thuế nông nghiệp 1 năm cho các hợp tác xã nông nghiệp để cho đồng bào hỉ hả, mát dạ, mát lòng, thêm niềm phấn khởi, đẩy mạnh sản xuất.

Ở đây nói về kế hoạch xây dựng lại thành phố và làng mạc đẹp đẽ, đàng hoàng hơn trước chiến tranh. Khôi phục và mở rộng các ngành kinh tế. Phát triển công tác vệ sinh, y tế. Sửa đổi chế độ giáo dục cho hợp với hoàn cảnh mới của nhân dân, như phát triển các trường nửa ngày học tập nửa ngày lao động. Củng cố quốc phòng. Chuẩn bị mọi việc để thống nhất Tổ quốc...

Công việc trên đây là rất to lớn, nặng nề, và phức tạp, mà cũng là rất vẻ vang. Đây là một cuộc chiến đấu chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt hơn. Để giành lấy thắng lợi trong công cuộc chiến đấu khổng lồ này cần phải động viên toàn dân, tổ chức và giáo dục toàn dân, dựa vào lực lượng vĩ đại của toàn dân.

10-5-69

Cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta dù phải kinh qua gian khổ hy sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi hoàn toàn.

Đó là một điều chắc chắn.

Tôi có ý định đến ngày nào đó, tôi sẽ đi khắp miền Nam Bắc, để chúc mừng đồng bào, cán bộ và chiến sĩ anh hùng, thăm hỏi các cụ phụ lão, các cháu thanh niên và nhi đồng yêu quý của chúng ta.

Kế theo đó, tôi thay mặt nhân dân ta đi thăm và cảm ơn các nước anh em trong phe xã hội chủ nghĩa, và các nước bầu bạn khắp năm châu đã tận tình ủng hộ và giúp đỡ cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta.

Ông Đỗ Phủ là người làm thơ rất nổi tiếng ở Trung Quốc, đời nhà Đường, có câu rằng "nhân sinh thất thập cổ lai hy" nghĩa là "người thọ 70, xưa nay hiếm".

Năm nay, tôi 79 tuổi, đã là hạng người "xưa nay hiếm" nhưng tinh thần, đầu óc vẫn rất sáng suốt, tuy sức khỏe có kém so với vài năm trước đây. Khi người ta đã ngoại 70 xuân, thì tuổi tác càng cao, sức khỏe càng thấp. Điều đó cũng không có gì lạ.

Nhưng ai mà đoán biết tôi còn phục vụ cách mạng, phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân được bao lâu nữa?

Vì vậy tôi để sẵn mấy lời này, phòng khi tôi sẽ đi gặp cụ Các Mác, cụ Lê Nin và các vị cách mạng đàn anh khác, thì đồng bào cả nước, đồng chí trong Đảng và bầu bạn khắp nơi đều khỏi cảm thấy đột ngột...

HỒ CHÍ MINH

(Theo Học tập đạo đức cách mạng Hồ Chí Minh - NXB Thông Tấn, 2004)


Tuyên ngôn độc lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa

Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập trên lễ đài sáng 2-9-1945 tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội - Ảnh tư liệu
Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy.

........................................

Hỡi đồng bào cả nước,

"Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền  ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc".

Lời bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do.

Bản tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cách mạng Pháp năm 1791 cũng nói: "người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi".

Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được.

Thế mà hơn tám mươi năm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta. hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa.

Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào.

Chúng thi hành những luật pháp dã man. Chúng lập ba chế độ khác nhau ở trung, nam, bắc để ngăn cản việc thống nhất nước nhà của ta, để ngăn cản dân tộc ta đoàn kết.

Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học. Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta. Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu.

Chúng ràng buộc dư luận, thi hành chính sách ngu dân.

Chúng dùng thuốc phiện, rượu cồn để làm cho nòi giống ta suy nhược.

Về kinh tế, chúng bóc lột dân ta đến tận xương tủy, khiến cho dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều.

Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu.

Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, làm cho dân ta, nhất là dân cày và dân buôn, trở nên bần cùng.

Chúng không cho các nhà tư sản ta ngóc đầu lên. Chúng bóc lột công nhân ta một cách vô cùng tàn nhẫn.

Mùa thu năm 1940, phát-xít Nhật đến xâm lăng Đông - dương để mở thêm căn cứ đánh đồng minh, thì bọn thực dân Pháp quỳ gối đầu hàng, mở cửa nước ta rước Nhật. Từ đó dân ta chịu hai tầng xiềng xích: Pháp và Nhật. Từ đó dân ta càng cực khổ, nghèo nàn. kết quả là cuối năm ngoái sang đầu năm nay, từ Quảng trị đến Bắc kỳ hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói.

Ngày 9 tháng 3 năm nay, Nhật tước khí giới của quân đội Pháp. Bọn thực dân Pháp hoặc bỏ chạy hoặc đầu hàng. Thế là chẳng những chúng không "bảo hộ" được ta, trái lại, trong 5 năm, chúng dã man bán nước ta hai lần cho Nhật.

Trước ngày mồng 9 tháng 3, biết bao lần Việt minh đã kêu gọi người Pháp liên minh để chống Nhật. Bọn thực dân Pháp đã không đáp ứng, lại thẳng tay khủng bố Việt minh hơn nữa.

Thậm chí đến khi thua chạy, chúng còn nhẫn tâm giết nốt số đông tù chính trị ở Yên bái và Cao bằng.

Tuy vậy, đối với nước Pháp, đồng bào ta vẫn giữ một thái độ khoan hồng và nhân đạo. Sau cuộc biến động ngày mồng 9 tháng 3, Việt minh đã giúp cho nhiều người Pháp chạy qua biên thùy, lại cứu cho nhiều người Pháp ra khỏi nhà giam Nhật, và bảo vệ tính mạng và tài sản cho họ.

Sự thật là từ mùa thu năm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của Nhật, chứ không phải thuộc địa của Pháp nữa. Khi Nhật hàng Đồng minh thì nhân dân cả nước ta đã nổi dậy giành chính quyền lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Sự thật là dân ta đã lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp.

Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần một trăm năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ dân chủ cộng hòa.

Bởi thế cho nên, chúng tôi, lâm thời chính phủ của nước Việt Nam mới, đại biểu cho toàn dân Việt Nam, tuyên bố thoát ly hẳn quan hệ thực dân với Pháp, xóa bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã ký về nước Việt Nam, xóa bỏ tất cả mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam.

Toàn dân Việt Nam, trên dưới một lòng, kiên quyết chống lại âm mưu của bọn thực dân Pháp.

Chúng tôi tin rằng các nước đồng minh đã công nhận những nguyên tắc dân tộc bình đẳng ở các hội nghị Tê-hê-răng và Cựu-kim-sơn, quyết không thể không công nhận quyền độc lập của dân Việt Nam.

Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn tám mươi năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe đồng minh chống phát-xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! dân tộc đó phải được độc lập!

Vì những lẽ trên, chúng tôi, Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng:

Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy.

Tuyên ngôn độc lập, đọc tại lễ Quốc khánh 2-9-1945 tại Quảng trường Ba Đình

Hồ Chí Minh toàn tập


Trẻ con

Trẻ em như búp trên cành,
Biết ǎn ngủ, biết học hành là ngoan.

Chẳng may vận nước gian nan,
Trẻ em cũng bị bận thân cực lòng.
Học hành, giáo dục đã không,
Nhà nghèo lại phải làm công, cày bừa.
Sức còn yếu, tuổi còn thơ,
Mà đã khó nhọc cũng như người già!
Có khi lìa mẹ, lìa cha,
Đi ǎn ở với người ta bên ngoài.
Vì ai mà đến thế này?
Vì giặc Nhật với giặc Tây bạo tàn!
Khiến ta nước mất, nhà tan,
Trẻ em cũng phải cơ hàn xót xa.

Vậy nên con trẻ nước ta
Phải đoàn kết lại để mà đấu tranh!
Kẻ lớn cứu quốc đã đành,
Trẻ em cũng phải ra dành một vai.

Bao giờ đánh đuổi Nhật, Tây,
Trẻ em ta sẽ là bầy con cưng.

HỒ CHÍ MINH
Báo Việt Nam độc lập, số 106, ngày 21-9-1941

Hồ Chí Minh toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia 2002


Č
ċ
ď
HCM.swf
(50k)
Nguyễn Ngọc Giêng,
06:47 13-07-2009
ċ
ď
HoChiMinhdepnhattenNguoi-CaoMinh[NCT54633836156683183750].mp3
(5919k)
Nguyễn Ngọc Giêng,
20:36 11-12-2009
ċ
ď
HồChíMinhĐẹpNhấtTênNgười-HồngVy-Nghe-tải-xemlyrics-ZingMp3.mp3
(2071k)
Nguyễn Ngọc Giêng,
18:56 11-12-2009
Comments