SỐ LƯỢT TRUY CẬP

TẶNG HỌC SINH

318ngày kể từ khi
NGÀY BẮT ĐẦU THI TỐT NGHIỆP THPT NĂM 2013

TRUYỀN HÌNH ONLINE

MỌI GÓP Ý XIN GỞI VỀ

1513ngày kể từ khi
WEBSITE BẮT ĐẦU XÂY DỰNG

DỰ BÁO THỜI TIÉT

KHÁCH VIẾNG THĂM TỪ 29/5/2012

Chủ sở hữu trang web

  • Qui Tu

Thuyết trình về Hoàng Sa và Trường Sa - Nguyễn Hữu Thống


    Nhân kỳ Hội Nghị Diễn Ðàn Khu Vực của Hiệp Hộ.i Các Quốc Gia Ðông Nam Á (ASEAN) họp tại Brunei năm l995, Luật Sư Nguyễn Hữu Thống nhân danh Hội Luật Gia Việt Nam tại California đã gởi văn thư cho các nguyên thủ quốc gia trong tổ chức ASEAN, đề nghị đưa vụ tranh chấp Trường Sa ra Tòa Án Quốc Tế, đồng thời đổi tên Biển Nam Hoa (South China Sea) thành Biển Ðông Nam Á (Southeast Asia Sea).

    Và sau đây là bài thuyết trình của tác giả về vụ Trường Sa và Hoàng Sa.

    Trường Sa, Hoàng Sa là một vấn đề rối mù. Rối mù về địa lý, về pháp lý và nhất là do chiến thuật hỏa mù của Trung Quốc. Do đó, chúng ta cần đơn gỉản vấn đề. Trình bày đơn gỉản một vấn đề phức tạp là một việc chẳng dễ chút nàọ Nhưng đó là việc mà chúng ta phải làm.

    Bài này chia làm 2 phần: Ðịa lý và Pháp lý.

I. ÐỊA LÝ.

    Dưới triều vua Minh Mạng, nho sĩ Lý Văn Phức được cử đi sứ Trung Hoa bằng đường biển. Thuận buồm xuôi gió Tây Nam, thuyền chở phái đoàn sứ giả từ Huế hướng về Phúc Kiến qua ngả Hoàng SA. Chứng kiến những cảnh đắm thuyền vì mắc cạn hay vì bảo tố, Lý văn Phức có lời cảm khái:

    Vạn Lý Trường Sa dường tuyệt hiểm

    Thất Châu sóng cuộn hận anh đào

    Sứ giả Lý Văn Phức đã lầm lẫn giữa Hoàng Sa và Trường Sa. Ðể có một ý niệm tổng quát, chúng ta có thể hình dung Hoàng Sa gồm 13 đảo tí hon tọa lạc tại các vĩ tuyến 17-15 Bắc, phía đông khu Trị, Thiên, Nam, Ngãi; Trường Sa tại các vĩ tuyến 12-7 Bắc, dọc từ Cam Ranh về Cà Mau; và ngang từ thềm lục địa Việt Nam qua thềm lục địa Phi Luật Tân. Trường Sa chiếm một miền biển rộng tới 180 ngàn dậm vuông (350 hải lý mỗi bề). Hàng trăm đảo, cồn, đá bãi nhỏ síu nằm rải rác trên biển cả, không dân cư, không nước ngọt, không cây cối, dưới trời nắng gắt với gió lốc và bão lớn.

    Thực tế mà xét, trong số 500 đảo cồn, đá, bãi chỉ có khỏang 30 cao địa có địa danhvà 20 đơn vị đá chìm và bãi ngầm. Số đơn vị này là đối tượng tranh chấp của 7 quốc gia: Trung Quốc và Ðài Loan; Việt Nam, Phi Luật Tân, Mã Lai, Brunei và Nam Dương.

Từ 1974 Trung Quốc đã chiếm đóng tòan thể khu hải phận Hòang Sa gồm 13 đảo thuộc hai nhóm:

Có 7 đảo về phía Ðông Bắc, Nhóm An Vĩnh/Tuyên Ðức (Amphitrite, tên một tàu Pháp bị đắm), như Ðảo Phú Lâm (Woody Island) do Bộ Chỉ Huy Trung Quốc trú đóng. Ðảo hình bầu dục, diện tích 1.3 km2. Nếu là hình chữ nhật, bề dài sẽ là 1300m và bề ngang 1000m (bằng một công viên nhỏ). Phú Lâm là đảo lớn nhất tại Hoàng Sa và Trường Sa. So với Phú Quốc (diện tích 568 Km2), Phú Lâm bằng 1/400 Phú Quốc.

6 đảo về phiá Tây Nam thuộc nhóm Lưỡi Liềm (Crescent, tiếng Pháp là Croissant), gồm có các Ðảo Hoàng Sa (Pattel Island) nơi Bộ Chỉ Huy Việt Nam Cộng Hòa trú đóng trước kia. Hoàng Sa đo được 0.56km2 bằng 1/2 Phú Lâm và bằng 1/1000 Phú Quốc. Nếu có hình chữ nhật Hoàng Sa sẽ có chiều dài 800m và chiều ngang 700m (bằng một khuôn viên trường tiểu học). Ðảo Trí Tôn tọa lạc gần bờ biển Quãng Ngãi, cách Cù Lao Ré 123 dậm.

Vùng biển Trường Sa rộng gấp 10 lần Hoàng Sa, nhưng chỉ có 9 tiểu đảọ Việt Nam hiện chiếm 3 đảo: Ðảo Trường Sa (Spratley Island), nơi Bộ Chỉ Huy Việt Nam trú đóng, Ðảo Nam Yết (Namyit Island) và Ðảo Sinh Tôn (Sincowe Island).

Phi Luật Tân chiếm 5 đảo là: Ðảo Bình/Nguyên (Flat Island), Ðảo Vĩnh Viễn (Nanshan Island), Ðảo Bến Lộc (West York Island), Ðảo Loạ.i Tá (Loaita Island) và Ðảo Thị Tứ (Thitu Island).
Ðài Loan chiếm Ðảo Ba Bình/Thái Bình (Itu Aba Island), Ðảo Trường Sa diện tích 0.13km2 (400mx350m), nhỏ bằng 1/10 Phú Lâm, và bằng 1/4000 Phú Quốc. Cuối năm l999, Ðài Loan đã rút quân khỏi đảo Thài Bình, hòn đảo lớn nhất tại Trường Sa. Ngòai ra Việt Nam còn chíêm 3 cồn là An Bang (Amboyna Cay), Song Tử Tây (SouthWest Cay) và Sơn Ca (Sand Cay), cộng với 7 đá nổi, 9 đá chìm và bãi ngầm.

Phi Luật Tân chiếm thêm 3 cồn, 2 đá nổi và 8 đá chìm.

Tại Trường Sa, Trung Quốc chỉ chiếm 2 đá nổi là Ðá Chữ Thập (Fiery Cross Reef) và Ðá Ga Ven (Gaven Reef), và 6 đá chìm.

Trong số 28 cao địa, Việt Nam chiếm 13 cao địa (cao hơn mặt nước), Phi chiếm 10 và Trung Quốc chíêm 2 (đá nổi).

Trong số 53 đơn vị có địa danh, Việt Nam chiếm 22, Phi chiếm 18, và Trung Quốc chiếm 8. Ðây là những hòn đảo tí hon. So với chiều dài bờ biển Việt Nam, mật độ dân cư và sinh hoạt ngư nghiệp tại đất liền, các đảo này quá nhỏ bé, chỉ được gọi là tiểu đảo (islet).

Câu hỏi đặt ra là: Tại sao từ 1974 khi Trung Quốc chiếm cả Hoàng Sa và nhất là từ 1988 khi Trung Quốc xâm lấn Trường Sa, họ lại không thừa thắng xông lên để chiếm thêm một số hải đảo của Việt Nam hay Phi Luật Tân, mà phải lấy một hòn đá (Ðá Chữ Thập) làm địa điểm chỉ huy.
Thực ra, những hòn đảo tí hon này không phải là đối tượ.ng tranh chấp của Trung Quốc. Bắc Kinh còn muốn lưu lại chút nhân tình, không dám cạn tàu ráo máng. Họ chỉ muốn thương thảo với các quốc gia duyên hải, đề nghị phương thức khai thác chung dầu khí. Không phải khai thác chung tạI các hải đảo ngòai khơi (biển quá sâu, không đủ kỹ thuật thăm dò, quá tốn kém mà chưa biết có bao nhiêu dầu), mà là khai thác chung tại thềm lục địạ Do đó, họ chủ trương đàm phán song phương thay vì đa phương. Ðiều mằ họ lo ngại nhất là các quốc gia Ðông Nam Á (như Việt Nam hay Phi Luật Tân) đưa nội vụ ra Tòa Án Trọng Tài hay Tòa Án Quốc Tế.

II. PHÁP LÝ

Ðịa cầu gồm 3 phần đất và 7 phần nước. Nếu có luậ.t quốc tế cho các lãnh thổ thì cũng phải có luật quốc tế cho vùng lãnh hảị Năm 1982, 119 quốc gia ký Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (Law of the Sea Convention, Los Convention), tới tháng 11- 1993 đã có 60 quốc gia phê chuẩn Công Ước trong đó có Việt Nam. Và một năm sau, tháng 11-1994, Công Ước có hiệu lực chấp hành. Tới nay đã có hơn 70 quốc gia phê chuẩn trong số 170 quốc gia kết ước và gia nhập.
Luật Biển 1982 định nghĩa về nội hải, đường căn bản, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa như sau:

1. Nội Hải, Biển Lịch Sử và Ðường Căn Bản (internal waters, historic waters and baselines).
Toà Án Quốc Tế dịnh nghĩa “biển lịch sử” là nội hải căn cứ vào những chứng liệu có giá trị về mặt lịch sử. Muốn trở thành biển lịch sử phải hội đủ 3 điều kiện sau đây:

a) Quốc gia duyên hải đang hành sử chủ quyền.

b) Sự hành sử chủ quyền có tính cách liên tục và trường kỳ.

c) các quốc gia (tiếp cận và đối diện) thừa nhận sự hành sử chủ quyền của quốc gia duyên hảị Ðiều 8 Luật Biển 1982 nhấn mạnh rằng biển lịch sử chỉ là nội hải, nghĩa là nằm tại đãt liền, bên trong bờ biển hay Ðường Căn Bản. Như vậy Biển lịch sử không thể là Biển Nam Hải cách bờ biển Hoa Lục tới 2000 cây số.

2. Tại Lãnh Hải 12 hải lý (territorial sea), các tàu ngoại quốc được quyền "ờthông quá vô tư", và phải tôn trọng trật tự và an ninh của quốc gia duyên hải.

3. Tại Vùng Ðặc Quyền Kinh Tế 200 hải lý đánh cá (Exclusive Economic Zone, 200-mile-fishery zone), các quốc gia duyên hải có nghĩa vụ bảo tòan và nếu cần, chia sẻ phần tôm cá không khai thác hết cho các quốc gia kế cận không có bờ biển (như Lào).

4. Cũng như Vùng Ðặc Quyền Kinh Tế (đánh cá), Thềm Lục Ðịa (Continental Shelf) dài 200 hải lý là vùng biển nối tiếp Lãnh Hải và Ðường Căn Bản. Ngòai ra Thềm Lục Ðịa Ðịa Lý (hay Nền Lục Ðịa: Continental Margin) có thể kéo dài tới 350 hải lý, nếu về mặt địa hình, đáy biển là sự nối tiếp tự nhiên của thềm lục địa từ đất liền ra ngòai biển (trường hợp bờ biển Việt Nam) (Ðiều 76 Luật Biển 1982). Khác với vùng đặc quyền kinh tế (đánh cá), thềm lục đị.a thuộc chủ quyền tuyệt đối của quốc gia duyên hải trong việc khai thác dầu khí. Quyền cùa quốc gia duyên hải cũng không tùy thuộc vào điều kiện chiếm cứ (occupation) hay công bố minh thị. Do đó việc Trung Quốc chiếm đóng một số đảo và đơn vị tại Hoàng Sa và Trương Sa không thể có tác dụng tước đọat chủ quyền của Việt Nam và Phi Luật Tân tại Thềm Lục Ðịa của 2 quốc gia này.

5. Hải Ðảo và Quần Ðảo: Cũng như đãt liền, hải đảo được quyền có lãnh hải 12 hải lý, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa 200 hải lý. Ðảo được định nghĩa là giải đãt thiên nhiên bao bọc bởi nước và cao hơn mực nước thủy triềụ Tuy nhiên theo án lệ, các đảo không có dân cư ngụ và không tự túc về kinh tế, không được hưởng quy chế vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa 200 hải lý. Theo án lệ cố định, Tòa Án Quốc Tế La Haye đã không đếm xỉa đến những tiểu đảo trong việc phân ranh thềm lục địa giữa các quốc gia tiếp cận hay đối diện. Án lệ North Sea Continental Shelf cases l969; án lệ Thềm Lục Ðịa Anh Pháp (l977), án lệ Guinea k/ Guinea Bissau (l985). Lý do là vì các đảo này không có thường dân cư ngụ và chỉ là bãi đậu chim. (Có lẽ tòa nghĩ rằng chim không cần đến 200 hải lý để bói cá, mà cũng không biết khai thác dầu khí). Ðối với tất cả các đảo tí hon và đá nổi tại Hòang Sa và Trường Sa, chúng ta nghĩ rằng Tòa Án sẽ không công nhận đó là "đảo", vì 3 lý do:

- không có thường dân cư ngụ.

- không thể tự túc về kinh tế.

- quá nhỏ bé và quá rải rác.

Nếu có hình chữ nhật, Hoàng Sa dài chừng 800m và Trường Sa 400m. Ðó là những hòn đảo tí hon nằm rải rác trong một vùng biển Ðông Nam Á rộng hơn 180 ngàn dậm vuông. Tổng số diện tích các đảo cồn đá bãi Trường Sa là 4 dậm vuông.

Trong án lệ Lybia/Malta (l985) Tòa án không đồng hóa đảo Malta với lục địa dầu rằng Malta có 350 ngàn dân cư ngụ trên một diện tích 122 dậm vuông.

Theo định nghĩa, quần đảo bao gồm các hải đảo nằm san sát bên nhau và có diện tích ít nhất bằng 1/9 vùng biển nơi tọa lạc.

Như vậy:

1) Hoàng Sa Trường Sa không phải là "quần đảo" theo luật.

2) Các đảo tí hon (trên 20 hòn) tại Hòang Sa Trường Sa không phải là "đảo" và không được hưởng quy chế 200 hải lý để đánh cá và khai thác dầu khí.

Trước khi có các quân đội đến chiếm đóng (của Việt Nam, Trung Quốc, và Phi Luật Tân), các đảo này chỉ là những bãi chim đậu hoạt động kinh tế nếu có, chỉ là khai thác phân chim.

Ngày nay có thêm một số binh sĩ trú phòng Trung Quốc ngụy trang dưới hình thức ngư dân để làm lạc hướng dư luận quốc tế.

ÐẤU LÝ VÀ ÐẤU PHÁP:

Trong thập niên l960, cuộc Cách Mạng Văn Hoá đã phá nát Trung Hoa về văn hóa, kinh tế, nhân sự và tinh thần. Qua thập niên l970, Trung Hoa bắt đầu phục hồị Ðược gia nhập Liên Hiệp Quốc thay Ðài Loan năm l971, Trung Hoa nghiễm nhiên trở thành một ngũ cường, hội viên thường trực của Hội Ðồng Bảo An có quyền phủ quyết. Sau khi thiết lậ.p bang giao với Hoa Kỳ năm l979, Trung Hoa hội nhập vào Cộng Ðồng quốc tế. Từ đấy chính sách "mèo đen, mèo trắng" của Ðặng Tiểu Bình được thực thi để thay thế xã hội chủ nghĩa bằng chủ nghĩa tư bản.Năm l982, phái đòan Trung Hoa đến Montego Bay tham dự Ðại Hộ.i Liên Hiệp Quốc kỳ 3 về Luật Biển. Vì Anh Mỹ không ký Công Ước, 3 ngũ cường còn lại Nga-Pháp-Hoa đóng vai chủ chốt trong Ðại Hộị Tự ái quốc gia được thỏa mãn, Trung Hoa hoan hỉ ký Công Ước. Ký xong, Bắc Kinh mớI thấy lo! Ký Công Ước thì phải theo Công Ước. Những điều khỏan trong Công Ước đã rõ rệt. Các quốc gia duyên hải chỉ được hưởng quy chế 200 hải lý về đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa.

Từ quần đảo Hoàng Sa Trường Sa về hoa lục phải qua vùng biển sâu tới 2 hay 3, 4 ngàn mét. Vì đáy biển không phải là sự tiếp nối tự nhiên của lục địa từ đãt liền chạy ra biển, Trung Hoa không có hy vọng nới rộng thềm lục địa từ 200 tới 350 hải lý như trường hợp Việt Nam. Hơn nữa, toàn thể các đảo Trường Sa cách bờ biển Trung Hoa từ 500 đến 1100 hải lý, nên không nằm trong thềm lục địa của Trung Hoạ Các đảo Hoàng Sa cũng cách lục đýa Trung Hoa hơn 200 hải lý. Hoàng Sa và Trường Sa có triển vọng có dầu khí do các chất hữu cơ tích lũy từ các nguồn nước phù sa sông Hồng Hà và sông Cửu Long (con sông dài nhất Ðông Nam Á) từ cao nguyên Tây Tạng đổ ra biển từ cả triệ.u năm nay.

Trong khi đó, tại bờ biển Việt Nam, thềm lục địa địa lý hay nền lục địa chạy thoai thoải từ dãy Trường Sơn ra Hòang Sa về phía đông Trị, Thiên, Nam, Ngãị Ðộ sâu nhất quanh đảo Hoàng Sa là 500m. Về mặt địa hình, Hoàng Sa là một hành lang của Trường Sơn chạy từ cù lao Ré ra biển, hay là những bình nguyên của thềm lục địa Việt Nam trên mặt biển. Từ 1925, các nhà địa chất học quốc tế như Tiến Sĩ Khoa Học Ạ Krempf, Giám Ðốc Viện Hải Học Ðông Dương, sau 2 năm nghiên cứu và đo đạc đã lập phúc trình và kết luận: "VỀ MẶT ÐIA CHẤT, NHỮNG ÐẢO HOÀNG SA LÀ MÔT THÀNH PHẦN CỦA VIỆT NAM" (Géologiquement les Paracels font partie du Vietnam). Tại Trường Sa cũng vậỵ Về mặt địa hình đáy biển, Trường Sa là sự tiếp nối tự nhiên của thềm lục địa Việt Nam. Tại bãi Tứ Chính nơi khai thác dầu khí, biển sâu không tới 400m, trong khi trong vùng quanh đảo Trường Sa và cồn An Bang (do Việt Nam chiếm cứ) độ sâu chỉ tớI 200m. Bãi Tứ Chính cách bờ biển Việt Nam chừng 160 hải lý và cách lục địa Trung Hoa lối 900 hải lý. Trường Sa cách bờ biển Trung Hoa bằng rãnh biển sâu tới 3,4 ngàn mét, chỗ sâu nhất đo được 4683m.

Bị ràng buộc bởi Luật Biển với vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa 200 hải lý, Trung Hoa tung ra chiến dịch hỏa mù gây bất ổn, tranh chấp lung tung, tuần tiễu, phóng hỏa tiễn, lấn chiếm bừa bãi tại thềm lục địa gần bờ biển để gây tiếng vang. Mục đích để phá rối an ninh trật tự, làm cản trở giao thông trên mặt biển, tạo áp lực quốc tế, hù dọa và khuyến dụ các quốc gia Ðông Nam Á hãy gác vấn đề tranh chấp chủ quyền hải đảo để cùng nhau KHAI THÁC CHUNG DÂÙ KHÍ TẠI THỀM LỤC ĐỊA.

Chiến dịch Hỏa Mù của Bắc Kinh nhằm 3 đối tượng:

A. BIỂN LỊCH SỬ hay LƯỠI RỒNG TRUNG QUỐC.

Năm 1982, sau khi ký Công Ước về Luật Biển, Bắc Kinh tập hợp "400 học giả Trung Quốc, ngày đêm nghiên cứu, thảo luận trong suốt 10 năm và đã đi đến kết luận rằng Biển Nam Hải là Biển Lých Sử của Trung Hoa từ hơn hai ngàn năm nay". Rồi họ hội nghị với "l00 nhà trí thức Ðài Loan để nhất trí xác nhận sự kiện lịch sử này"

Trong khi đó hàng chục giáo sư Mỹ gốc Hoa tại các đại học Hoa Kỳ từ trên 10 năm nay đã dòng dã trên các tạp chí địa lý, lịch sử, hải học Hoa Kỳ để yểm trợ lập trường "Nam Hải là Biển Lịch Sử của Trung Quốc". Lưỡi Rồng Trung Quốc nằm sát bờ biển Quãng Ngãi 40 hải lý, cách đảo Natuna (Nam Dương) 30 hải lý và cách Palawan (Phi Luật Tân) 25 hải lý. Nó chiếm trọn 3 tuí dầu khí Tứ Chính (Vanguard) của Việt Nam, Cỏ Rong (Reed Bank) của Phi Luật Tân và Natuna của Nam Dương.

Các học giả Trung Quốc đã nêu lên nhiều tài liệu lịch sử để chứng minh rằng Nam Hải là biển lịch sử của Trung Hoa. Họ viện dẫn rằng dưới triều Hán Vũ Ðế 100 ngàn hải quân Trung Hoa đi tuần thăm các đảo thuộc Nam Hảị Sự khám phá này được tiếp tục dưới đời nhà Tống, nhà Nguyên, nhà Minh và nhà Thanh.

Năm 1946 Trung Hoa quốc gia đặt tên Lưỡi Rồng Trung Quốc là Ðặc Khu Hành Chánh Hải Nam. Và năm l947 đổi tên Hoàng Sa là Tây Sa và Trường Sa là Nam Sa.

Năm l974 Trung Quốc đẩy lui các lực lượng hải quân của Việt Nam Cộng Hòa và chiếm nốt các đảo Hoàng Sa tại Nhóm Lưỡi Liềm về phía Tây Nam.

Và năm l988 lần đầu tiên Trung Quốc đem quân xâm lấn Trường Sa, và chiếm đóng 2 đá nổi và 6 đá chìm.

Những tài liệu lịch sử này không đáng tin cậy.

1) Chính sách bế quan tỏa cảng.

Suốt chiều dài lịch sử, Trung Hoa không bao giờ chủ trương chinh phục đại dương. Chủ thuyết bế quan tỏa cảng được áp dụng từ đời nhà Tần (thế kỷ thứ 3 trước Công Nguyên). Vạn Lý Trường Thành không những là một kiến trúc mà còn là một nhân sinh quan. Miền bờ biển được coi là nơi hoang vu man rợ. Ðảo Hải Nam trước kia là chốn lưu đày các tù nhân bị biệt xứ. Trong giả thuyết "Cổ Tẩu sát nhân" của Mạnh Tử (thế kỷ thứ 4 trước công nguyên), vua Thuấn vào ngục thất cưú cha là Cổ Tẩu (phạm tội cố sát) rồi cõng cha chạy trốn về ở vùng bờ biểnõõ để mai danh ẩn tích cho đến trọn đờị Sau khi chôn sống 460 nho sĩ tại Hàm Dương, Tần Thủy Hoàng lưu đày tất cả các nho sĩ khác tại miền bờ biển. Trung Hoa là một đại lục bao la, cả miền Tây và miền Bắc đãt rộng mênh mông còn chưa khai phá. Vậy mà từ đời Tần Thủy Hoàng, Trung Hoa đã tự cô lập từ trong đãt liền đến ngoài đại dương. Cho đến thế kỷ 20, chính sách bế quan tỏa cảng vẫn được thi hành.

Với tâm lý tự cô lập, không thể có 100 ngàn quân Trung Hoa đời Tây Hán đi khai phá các đảo san hô bỏ hoang tí hon tại Nam Hải (Rãt có thể đó là 10 vạn thủy quân của Tào Mạnh Ðức mượn lệnh Hán Ðế để xâm chiếm Ðông Ngô và đã bị Chu Công Cẩn đánh tan trong trận Xích Bích).
Các chuyến hải hành đời nhà Tống, nhà Nguyên, nhà Minh, và nhà Thanh kể trên rất có thể chỉ là những cuộc nam chinh nhằm thôn tính Chiêm Thành và Việt Nam. Lịch sử đã ghi rõ việc Lê Ðại Hành phá tan thủy binh của Lưu Trung nhà Tống, quân Trần Hưng Ðạo bắn chết Toa Ðô và bắt sống Ô Mã Nhi nhà Nguyên; Lê Lợi đánh bại hải quân tiếp viện cho Vương Thông nhà Minh, và Quang Trung chặn đường tiến quân của đề đốc Hứa Thế Hanh nhà Thanh. Việc các thủy binh dời Minh Thánh Tổ đi thăm viếng các quốc gia Á Phi nếu có, cũng không có tác dụng hành sử chủ quyền trên hàng ngàn hải đảo tại Thái Bình Dương và Ấn Ðộ Dương. Từ thế kỷ l5, các nhà thám hiểm Bồ Ðào Nha như Vasco de Gama và Magellan đã đi xuyên 3 đại dương từ Ðại Tây Dương, vượt Ấn Ðộ Dương qua Thái Bình Dương (khám phá Phi Luật Tân và Guam), nhưng Bồ Ðào Nha cũng không đòi chủ quyền tại hàng ngàn hải đảo trong 3 đại dương này.

2. Danh xưng Nam Hải

Vả lại theo các học giả Trung Hoa, Nam Hải là tên biển của Hoa Nam, cách Quảng Ðông 50 dậm về phía nam. Các nhà hàng hải Tây Phương muốn cho tiện nên gọi đó là Biển Nam Hoa (South China Sea) (ngọai nhân xưng Nam Trung Quốc Hải). Theo cuốn Tự Ðiển Tối Tân Thực Dụng Hán Anh do các học giả Trung Hoa biên sọan tại Hồng Kông năm 1971 thì ỏõNam Hải là vùng biển kéo dài từ Eo Biển Ðài Loan đến Quảng Ðông. (The Southern Sea Stretching from the Taiwan Straits to Kwantung.)

Theo từ điển Từ Hải xuất bản năm 1948, thì Nam Hải thuộc chủ quyền lãnh hải chung cho 5 nước là Trung Hoa, Mã Lai, Việt Nam, Phi Luật Tân và Ðài Loan.

DO ÐÓ NAM HẢI KHÔNG BAO GIỜ CÓ NGHĨA LÀ BIỂN CỦA NƯỚC TRUNG HOA VỀ PHÍA NAM. (Cũng như Ấn Ðộ Dương không phải là đại dương của Ấn Ðộ).

Sau khi ký Los Convention năm 1982, Trung Quốc đã vẽ lại bản đồ, đòi chủ quyền lãnh hải toàn thể vùng biển Ðông Nam Á. Họ xem biển Ðông Nam Á (hay Nam Hải) là một thứ ỏõnội hải ỏõ của họ theo kiểu Ðế Quốc La Mã ngày xưa coi Ðịa Trung Hải là Mare Nostrum (biển của chúng tôi).

3. Luật pháp và án lệ.

Chiếu án lệ của Tòa Án Quốc Tế La Haye, biển lịch sử phải hội đủ 3 đièu kiện:

a) Phải có sự hành sử chủ quyền.

b) Một cách liên tục và trường kỳ.

c) Và được sự thừa nhận của các quốc gia trên thế giới, nhất là các nước tiếp cận và đối diện. Dầu sao theo Tòa Án Quốc Tế, biển lịch sử chỉ là nội hải.

Ðiều 8 Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (l982) đã kết thúc mọi cuộc tranh luận khi quy định: Nội hải của một quốc gia nằm bên trong đất liền hay về phía trong đường căn bản của lãnh hải (The International Court of Justice has defined "historic waters" as "internal waters" "Waters on the landward side of the baseline of the territorial sea from part of the internal water of the State" Art.8 Los Convention (l982).

Kết luận: Nam Hải không thể là Biển Lịch Sử của Trung Hoa vì nó là ngoại hải và cách bờ biển Trung Hoa tới hai ngàn cây số.

Và công trình 10 năm nghiên cứu của 400 học giả Trung Quốc rút cuộc chỉ là công dã tràng xe cát biển Ðông, nhọc nhằn mà chẳng nên công cán gì!

B. VỀ HẢI ÐẢO

Như đã trình bằy ở trên, Trung Hoa đem "biển lịch sử" hay "lưỡi rồng" ra để hù doạ và tạo hỏa mù. Từ l982 họ đã ý thức tính cách phi lý của thuyết nội hảị Khi đó họ mới chỉ kiểm soát được Hoàng Sạ Năm l988 họ dùng võ lực tấn công hải quân Việt Nam và chiếm đóng hai cao địa là Ðá Chữ Thập và Ðá Gaven. Năm l992 họ tiến chiếm thêm sáu đá chìm. Sau khi giành giật chủ quyền tại bãi Tứ Chính thuộc thềm lục địa Việt Nam, Trung Hoa đã chiếm thêm một số đá chìm như Mischief (Vành Khăn) thuộc thềm lục địa Phi Luật Tân cách Palawan từ 60 đến 130 hảI lý. Sự lấn chíếm chỉ để hù dọa gây hỏa mù chứ không có tác dụng pháp lý.

Lý do là Tòa Án sẽ không cấp cho các đảo tại Hoàng Sa Trường Sa vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa 200 hải lý.

Vì biết rõ điểu đó nên từ l988, sau khi đánh bại hải quân Việt Nam tại Trường Sa Trung Hoa đã không thừa thắng xông lên để chiếm thêm một số đảo, cồn, đá, bãi của Việt Nam và của Phi Luật Tân.

Sở dĩ Bắc Kinh không dám cạn tàu ráo máng, vì còn hy vọng thương thảo về giải pháp "khai thác chung" như kiểu Ðại Hàn-Nhật Bản.

Ta hãy thử cứu xét các lý lẽ do Bắc Kinh nêu ra để đòi chủ quyền về các đảo.

Theo một số học giả người Mỹ gốc Hoa, Trung Hoa có chủ quyền tại Hoàng Sa và Trường Sa vì hai lý do: Thủ đắc chủ quyền do khám phá và thủ đắc do chiếm cứ.

1) Thủ đắc do khám phá (discovery)

Từ trên 2000 năm nay, dưới đời Tây Hán, 100 ngàn hải quân Trung Hoa tuần hành tại Nam Hải đã khám phá các hải đảo Trường Sa và Hòang Sa và do đó đã thủ đắc chủ quyền.

Lý luận như vậy là hồ đồ.

a) Trước hết không có tài liệu khách quan nào kiểm chứng được có sự tuần thám của 100 ngàn hải quân Trung Hoa tại các hải đảo trên biển Nam Hảị Ðây chỉ là chuyện hoang đường hay thần thoại.

b) Vả lại kẻ khám phá không phải đương nhiên là kẻ sở hữụ Hoa Kỳ đã khám phá mặt trăng, treo cờ, lấy đá, chạy xe thử nghiệm và chiếm cứ tượng trưng nhiều lần, nhưng không phải vì các hành động này mà Hoa Kỳ có thể tuyên bố "mặt trăng thuộc chủ quyền không gian của Hoa Kỳ".

c) Các nhà thám hiểm hằng hải quốc tế từ thế kỷ 15 như Vasco de Gama đã khám phá Mũi Hảo Vọng tại Phi Châu và các hoang đảo tại Ấn Ðộ Dương; Magellan đã đi xuyên ba đại dương từ Ðại Tây Dương vượt Ấn Ðộ Dương qua Thái Bình Dương khám phá quần đảo Phi Luật Tân và hảI đảo Guam. Văy mà Bồ Ðào Nha cũng không đòi chủ quyền các hải đảo và quần đảo tại Ấn Ðộ Dương và Thái Bình Dương.

d) Cũng trong tinh thần đó, khám phá ra Bắc Cực, Nam Cực, rồi cắm cờ, dựng bia kỷ niệm tại đó không có hiệu lực ban bố chủ quyền cho ngườI chinh phục.

2) Thủ đắc do chiếm cứ (occupation)

Theo công pháp quốc tế, muốn thủ đắc chủ quyển các đất vô chủ (terra nullius), sự chiếm cứ phải có những đặc tính sau đây:

a) Chiếm cứ thực sự

Tại Trường Sa trong số 28 cao địa, Trung Hoa chỉ chiếm 2 đá nổi, trong khi Việt Nam chiếm 13 cao địa và Phi Luật Tân chiếm 10 cao địạ Và trong số 53 đơn vị có địa danh, Trung Hoa chỉ chiếm 8, so với 22 của Việt Nam và 18 của Phi Luật Tân.

b) Chiếm cứ công khai

Sự chiếm cứ phải công khai, không thể ngấm ngầm như trường hợp Trung Hoa lấn chíêm và xây công sự tại đá chìm Mischief, (Vành Khăn) trên thềm lục địa Phi Luật Tân.

c) Chiếm cứ hòa bình

Không có sự chối cãi rằng năm 1974 Trung Hoa đã dùng võ lực chiếm đóng các hải đảo thuộc nhóm Lưỡi Liềm Hoàng Sa của Việt Nam.

Sự chiếm cứ không có tính cách hòa bình mà do xâm lăng võ trang. Sự chiếm cứ bằng bạo hành không được luật pháp bảo vệ. Củng như thời Ðệ Nhị Thế Chiến, Nhật Bản đã chiếm cứ Hoàng Sa và Trường Sa bằng võ lực nên không có tư cách chủ quyền hợp pháp.

d) Chiếm cứ liên tục và trường kỳ

Không có sự phủ nhận rằng ít nhất từ 1816 dưới đời Gia Long, Việt Nam đã chiếm cứ công khai, liên tục, hòa bình các hải đảo Hòang Sa và Trường Sạ Bia chủ quyền do người Pháp dựng năm 1938 có ghi rõ:

République Francaise

Empire de Annam

Archipel des Paracels

1816 -Ile de Pattle- l938 (đảo Hoàng Sa)

Các căn cứ quân sự của người Pháp được thiết lập từ đầu thập niên l930, Ðài Khí Tượng Hoàng Sa mang số 48860 thuộc Tổ Chức Khí Tượng Thế Giới bắt đàu từ 1938. Trước đó từ 1928 Công Ty Phosphate Bắc Kỳ đã khởi sự khai thác phân chim. Ngoài ra còn có hải đăng, Miễu Bà, nhà thờ thiên chúa, cầu tàu và các nhà cửa công sự xây cất vớI sự đồn trú của Ðội Phòng Vệ Ðông Dương và của quân lực Việt Nam Cộng Hoà. Sự chiếm cứ này có tính trường kỳ và liên tục cho đến l974 khi hải quân Trung Quốc xâm lăng.

Lịch sử Trung Hoa không mang lại bằng chứng nào cho biềt họ đã liên tục chiếm cứ Hòang Sa, Trường Sa từ thời Hán Vũ Ðế hay ít nhất từ thời Mãn Thanh.

Sau Ðệ Nhị Thế Chiến, khi quân đội Nhật Bản rút lui, năm 1946, Trung Hoa mới chiếm cứ một phần Hòang Sa (nhóm An Vĩnh về phía đông bắc). TạI Trường Sa Trung Hoa thú nhận rằng lần đầu tiên năm l988 họ. chiếm cứ một số đá bằng quân sự. Sự chiếm cứ này vô hiệu vì không có tính cách hòa bình. Vả lại tới l974 và l988 các đảo Hoàng Sa -Trường Sa đã do Việt Nam chiếm đóng, nên không thễ coi đó là đất vô chủ (terra nullius).

e) Hơn nữa sự chiếm cứ phải được sự thừa nhận của các quốc gia liên hệ.

1) Năm l951 tại Hội Nghị Hòa Bình Cựu Kim Sơn 51 quốc gia đòng minh ký Hiệp Ước Hòa Bình Nhật Bản trong đó Nhật Bản Từ bỏ chủ quyền về các hải đảo Hoàng Sa Trường Sa, nhưng không nói để trả cho nước nào. Ðại biểu Liên Sô yêu cầu Hội Nghị biểu quyết trả cho Trung Hoa. Nhưng hội nghị đã bác bõ thỉnh cầu này với 46 phiếu chống. Sau đó phái đoàn Việt Nam lên diễn đàn minh thị công bố chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa - Trường Sa, và không gặp sự phản kháng nào.

2) Sự thừa nhận chủ quyền hải đảo chỉ có nghĩa nếu xuất phát từ các quốc gia liên hệ (nghĩa là các quốc gia duyên hải đối diện hay tiếp cận). Như vậy không thể nói rằng vì môt thuyền trưởng ngườI Ðức hay một uỷ ban người Anh nào đó đã thừa nhận, nên các hải đảo tranh chấp là của Trung Hoạ Vì các đảo này tọa lạc tại Biển Ðông Nam Á, nên chỉ các quốc gia Ðông Nam Á mới có thẩm quyền thừa nhận. Mà cho đến nay tất cả các quốc gia Ðông Nam Á không một nước nào thừa nhận chủ quyền của Trung Hoa tại Hòang Sa Trường Sa.

3) Tuy nhiên Bắc Kinh còn viện dẫn văn thư ngày 14-9-1958 của Thủ Tướng Phạm Văn Ðồng gởi Thủ Tướng Chu Ân Lai để chủ trương rằng Việt Nam đã thừa nhận chủ quyền của Trung Hoa tại Hoàng Sa và Trường Sa.

Ngày 4-9-l958 Chính Phủ Trung Hoa ra tuyên cao mở rộng vùng lãnh hải từ 3 hải lý thành 12 hải lý và áp dụng cho tất cả các lảnh thổ và hải đảo của Trung Hoa kể cả Tây Sa (Hòang Sa) và Nam Sa (Trường Sa). Trong văn thư ngày 14-9-l958 gởi cho Chu Ân Lai, Phạm Văn Ðồng cam kết tôn trọng tuyên cáo nói trên.

Ðọc kỹ văn thư của Phạm Văn Ðồng ta chỉ thấy nói tôn trọng hải phận (lãnh hải) 12 hải lý của Trung Quốc chứ không đề cập đến chủ quyền các hải đảo Trường Sa và Hòang Sa. Văn thư viết: "Chính Phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa tán thành bản tuyên bố của Chính Phủ Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, quyết định về hải phận (lãnh hải) của Trung Quốc (...) và sẽ ra chỉ thị triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc".

Căn cứ vào tầm bắn đại pháo, Trung Hoa mở rộng lãnh hải (territorial sea) từ 3 hải lý thành 12 hải lý. Ðiều 3 Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (l982) cũng quy định tương tự như vậy. Vả lại trong thời gian này (l958), các hải đảo Trường Sa - Hoàng Sa vì nằm tại các vĩ tuyến từ 17 đến 7 Bắc (Quảng Trị-Cà Mâu) nên thuộc lãnh hải và lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa. Vấn đề lãnh thổ và lãnh hải thuộc thẩm quyền của quốc dân do quốc hội đại diện, chứ không thuộc hành pháp là cơ quan thừa hành hay chấp hành luật pháp của quốc hội. Và các Quốc Hội Việt Nam (Nam và Bắc) trong những năm 1956, 1964, l977, l982, l988 và l992 đã nhiều lần công bố chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa. Một văn thư có tính cách nghi thức ngoại giao thông thường như văn thư ngày 14-9-l958 của Chính Phủ Hà Nội không có hiệu lực thừa nhận chủ quyền lãnh thổ hay lãnh hải của các đảo thuộc quyền kiểm soát của Chính Phủ Saigon hồi đó.

C. THỀM LUC ÐIA

Vấn đề thực sự tại Trường Sa Hoàng Sa là vấn đề thềm lục địạ Dầu khí tại thềm lục địa quan trọng hơn các đảo cồn đá bãi tí hon ngòai biển khơi.

1. Về Trường Sạ Tại Trường Sa ba bãi dầu khí đang khai thác là Bãi Tứ Chính (Vanguard) tại thềm lục địa Việt Nam, bãi Cỏ Rong (Reed Bank) tại thềm lục địa Phi Luật Tân và bãi Natuna phía bắc đảo Natuna thuộc thềm lục địa Nam Dương. Năm l947 Trung Hoa chủ xướng thuyết Lưỡi Rồng đòi lấn chiếm hầu hết các bờ biển Việt, Phi, Nam Dương.. Công Ước LHQ về Luật Biển công nhận cho các quốc gia duyên hải 200 hải lý thềm lục địa độc quyền khai thác dầu khí. Thềm lục địa có thể kéo đài tới 350 hải lý, nếu về mặt địa hình, đáy biển là sự tiếp nối tự nhiên của lục địa từ đãt liền ra ngoàibiển. Tứ Chính, Cỏ Rong, Natuna cách bờ biển Trung Hoa từ 500 đến 1000 hải lý hiển nhiên không thuộc chủ quyền của Trung Hoa.

Do đó từ 1983, sau khi ký Los Convention 1982, Bắc Kinh nêu lên thuyết LưỡI Rồng trong chiến dịch hỏa mù, rồi nguỵ tạo tài liệu lịch sử đòi chủ quyền tòa vùng Nam Hải.

Năm l992 Bắc Kinh tự tiện ký khế ước với Công Ty Creston để khai thác dầu khí tại phía đông Tứ Chính. Mục tiêu của họ là gây hỗn lọan, bất ổn tại vùng duyên hải, rồi đưa ra đề nghị hòa đàm song phương, tạm gác vấn đề chủ quyền để cùng khai thác chung như Ðại Hàn, Nhật Bản.

Tuy nhiên Ðại Hàn Nhật Bản là hai quốc gia duyên hải đối diện nhau và có thềm lục địa chung tại nhiều khu vực.

Như trong vùng eo biển Ðại Hàn các hải đảo của hai quốc gia chỉ cách nhau từ 50 đến 100 hải lý. Khai thác chung trong trường hợp này là hợp tình hợp lý.

Tại khu Trường Sa trái lại, không có thềm lục địa chung giữa Trung Hoa Việt Nam và Phi Luật Tân. Do đó vấn đề khai thác chung không đặt rạ Hơn nữa tại nhiều khu vực có tới 3, 4 hay 5, 6 quốc gia cùng đòi chủ quyền hải đảọ Do đó cần có một hội nghị điều giải đa phương hay một tòa án trọng tài hay tòa án quốc tế để gỉai quyết dứt khóat vụ tranh chấp.

2. Về Hòang Sạ- Chiếu Công Ước về Luật Biển, Hòang Sa thuộc thềm lục địaViệt Nam vì tọa lạc trong phạm vi 200 hải lý từ đường căn bản hay bờ biển. Khoảng cách từ cù lao Ré (Quãng Ngãi) ra đảo tri tôn chỉ có 123 hải lý. Về mặt địa lý theo các chuyên viên địa chất, các đảo Hòang Sa là sự tiếp nối tự nhiên của dẫy Trường Sơn từ đất liền chạy ra biển. Có thể nói Hoàng Sa là những bình nguyên của lục địa Việt Nam trên mặt biển. Chiếu Luật Biển 1982 quyền của các quốc gia duyên hải tại thềm lục địa không tùy thuộc vào sự chiếm cứ. Do đó sự chiếm đóng võ trang của quân đội Trung Hoa không có tác dụng truất phế chủ quyền của Việt Nam tại Hòang Sạa.

3. Các tiêu chuẩn.

Tại Hòang Sa có vấn đề phân ranh thềm lục địa giữa Việt Nam và Trung Hoạ Ủy Ban Phân Ranh Thềm Lục Ðịa thuộc Liên Hiệp Quốc và Toà Án Quốc Tế sẽ giải quyết theo các điều khỏan của Công Ước về Luật Biển l982, cũng như các tiêu chuẩn trong luật tục lệ quốc tế ghi chú trong các phán quyết của Toà Án.

Tựu chung có 10 tiêu chuẩn hướng dẫn tòa án trong việc phân định ranh giới hải phận. Ðó là:

1) Vị trí của các đảo đối với bờ biển tiếp cận. Tại vùng Hòang Sa, từ đảo Tri Tôn thuộc Nhóm Lưỡi Liềm tới lục địa Việt Nam khỏang cách đo được 135 hải lý, trong khi đảo Hoàng Sa cách lục địa Trung Hoa lối 235 hải lý.

2) Diện tích các hải đảo so sánh với chiều dài bờ biển tiếp cận. Như đã trình bày, đảo Hòang Sa quá nhỏ bé (0.56km2) chỉ bằng một phần ngàn đảo Phú Quốc (568km2) trong khi bờ biển Việt Nam dài gấp 10 lần bờ đảo Hải Nam phía tiếp giáp Hòang Sa.

3) Về mặt địa hình đáy biển, các đảo, cồn, đá, bãi Hòang Sa là sự tiếp nối tự nhiên từ thềm lục địa Việt Nam (dãy Trường Sơn ) chạy ra biển. Nếu nước biển rút xuống khỏang 700m, giải Hòang Sa sẽ biến thành một hành lang chạy thoai thoải từ bờ biển Việt Nam ra khơI. Theo Công Ước LHQ về Luật Biển, NỀN LUC ÐIA bao gồm thềm lục địa cộng với đường dốc xuống biển và những bình nguyên, cao địa, chóp biển, bãi cao và sườn đá dưới biển. Nền lục địa có thể dài hơn 200 hải lý, tối đa 350 hải lý. Theo sự nhận xét của các chuyên gia tạI Trung Tâm Hải Học Ðông Tây (Hawaii), Việt Nam có nhiều triển vọng được ủy Ban Ðịnh Ranh Thềm Lục Ðịa Liên Hiệp Quốc quyết định cho nới rộng thềm lục địa tại Hòang Sa và Trường Sa qua mức 200 hải lý cho tới 350 hải lý.

4) Về mặt địa chất, các thủy tra thạch kết tụ các chất hữu cơ do nước phù sa sông Hồng Hà và sông Cửu Long chạy từ cao nguyên Tây Tạng xuống đáy biển Hòang Sa Trường Sa từ cả triệu năm naỵ Không có con sông lớn nào từ lục địa Trung Hoa hay đảo Hải Nam chảy ra Nam Hải cho phép Trung Hoa quyền khai thác các túi dầu khí tại miền này.

5) Về sinh thực học và khí hậu tại Hòang Sa và Trường Sa, các đảo san hô cũng như cây cỏ và sinh vật tiêu biểu cho vùng nhiệt đới (Việt Nam ), chứ không thấy ở vùng ôn đới (Trung Hoa).

6) Biển Ðông với Hòang Sa Trường Sa có ảnh hưởng kinh tế, chính trị và an ninh quốc phòng mật thiết với Việt Nam nhiều hơn Trung Hoa, vì Trung Hoa còn có biển Hòang Hải và Ðông Trung Quốc Hải chạy thông qua Thái Bình Dương.

7) Về mật độ dân số, các hải đảo Hòang Sa và Trường Sa không có thường dân cư ngụ, không có nước ngọt và không thể tự túc về kinh tế. Trong khi đó số dân cư ngụ tại miền bờ biển Việt Nam đông gấp vài chục lần số dân sinh sống tại đảo Hải Nam.

8) Về Khu Ðặc Quyền Kinh Tế (để đánh cá), bờ biển Trung Hoa dài gấp 3 lần bờ biển Việt Nam.
Do đó, Biển Ðông (với Hoàng Sa và Trường Sa) là khu vực đánh cá căn bản của Việt Nam.

9) Tại thềm lục địa Việt Nam những vùng có dầu khí nằm trong vịnh Bắc Phần và khu vực bãi Tứ Chính ở ngòai khơi Nam Phần.. Ðây là những nơi kết tầng các thủy tra thạch chứa đựng các chất hữu cơ từ sông Hồng Hà và sông Mê Kông chảy ra biển từ hàng triệu năm naỵ Do đó dầu khí nếu có là do các chất hữu cơ từ lục địa Việt Nam chứ không phải từ Hoa Lục.

10) Các tài liệu sách báo, họa đồ, các chứng tích lịch sử v.v. phảI có tính xác thực. Dầu sao các tài liệu này không có giá trị bằng các yếu tố khách quan khoa học như địa lý, địa hình, địa chất, sinh thực học, khí hậu, dân số v.v. Nhất là nó không thể đi ngược lại các điều khỏan của Công Ước về Luật Biển và các nguyên tắc thành văn của Luật Tục Lệ Quốc Tế do các tòa án quốc tế áp dụng từ nhiều thập kỷ nay.

Vấn đề căn bản đặt ra cho Hoàng Sa Trường Sa là các đảo, cồn, đá, bãi quá nhỏ bé, quá rải rác, không có dân cư sinh sống và không tự túc về kinh tế, nên không được coi là đảo theo nghĩa luật đị.nh. Nếu không phải là đảo theo nghĩa pháp lý thì không được hưởng quy chế 200 hải lý để đánh cá và khai thác dầu khí.

VIỆT NAM PHẢI LÀM GÌ ?

1) Trước hết Việt Nam phải nhờ các luật gia và chuyên gia quốc tế vẽ ranh thềm lục địa địa lý hay Nền Lục Ðịa để yêu cầu Ủy Ban Phân Ranh Thềm Lục Ðịa Liên Hiệp Quốc chấp thuận cho nới rộng thềm lục đáy qua mức 200 hải lý tới mức 350 hải lý.

2) Muốn vậy, trước hết Việt Nam phải tuân hành Luật Biển bằng cách vẽ lại và thu hẹp Ðường Căn Bản cho hợp pháp.

3) Phát triển tối đa kỹ nghệ đánh cá ngòai khơi trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý để sử dụng đúng mức, điều hành và bảo tồn nguồn lợi ngư nghiệp thiên nhiên tại Biển Ðông, kể cả việc khai thác chung ngành ngư nghiệp quốc tế.

4) Vận động với các quốc gia trong khối ASEAN đổi danh xưng Biển Nam Hoa thành Biển Ðông Nam Á.

5) Ðưa vụ tranh chấp Thềm Lục Ðịa và các Hải Ðảo Hoàng Sa Trường Sa ra Tòa Án Quốc Tế, nếu cuộc điều giải bất thành.


Comments