Hội Thề - Chương Một

 

“Mấy trăm năm thấp thoáng mộng bình yên”

(Hoàng Cầm – Bên kia sông Đuống)

 

Ba ăn đêm

 

Trời đất xám xịt, cùng một màu, dồn nén và bất trắc. Hai người cưỡi ngựa phi nước đại trên con đường mòn giữa bãi ngô. Ngô uốn lượn bí ẩn như cái bẫy đang chờ sập xuống. Con đường quá hẹp mà đôi ngựa chiến lại phi nhanh. Gió lùa dưới chân ngựa, thân cây ngô rạt xuống rồi đứng lên làm thành từng đợt sóng. Người đi trước to, cao, giáp trụ cùng mình, lưng đeo đoản kiếm, đôi chân cứng đơ như hai cái chày giã gạo kẹp vào hông ngựa, thúc nó phi nước đại. Con ngựa cố hết sức phi nhanh, mồ hôi nhoang nhoáng dưới ánh sao đêm. Cái oai vệ của người đi trước trùm bóng lên người đi sau, anh này nhỏ thó, dáng nhẫn nhịn, con ngựa cũng nhỏ, chắc là ngựa một tùy tùng.

Phải nói là đôi ngựa rất đẹp, rất tương xứng với hai kỵ sĩ. Đến mép sông, người đi trước nhảy xuống, nói như quát, giọng miền sơn cước tỉnh Thanh cay nghiệt nhói vào tai:

“ Răng im ắng như ri?”

“ Thưa tướng quân, dân chỗ ni chạy giặc hết cả rồi.”

“ Sang sông! Chúa công đang nóng ruột chờ ta.”

Người được gọi là tướng quân nhảy lên yên, quất một roi, con ngựa băng xuống nước. Tay tuỳ tùng cũng làm y như thế, theo sau. Mấy năm nay y chỉ nhăm nhăm bắt chước mọi cử chỉ của ông tướng, kể cả cách kéo ống quần lên đi đái như thế nào. Nước ngang bụng đôi ngựa, rồi ngang yên. Một lúc sau chỉ nhìn thấy đôi bờm ngựa và lưng của hai kị sĩ. Lửa hoả châu của đại quân Minh thỉnh thoảng hừng lên ở chân trời Xương Giang phía sau, giáp trụ trên lưng vị tướng quân sáng lên như giát bạc.

Dòng Nhị Hà mải miết chảy trong đêm hồn nhiên và lặng lẽ, cần mẫn như không hề biết nó đang chảy qua vùng chiến địa. Phía hữu ngạn là thành Đông Đô, cư dân sầm uất kéo ra tận bờ sông. Mái nhà lầu nhô lên lạnh lẽo, hoang vắng. Vẻ im lìm đáng sợ bao phủ dòng sông và kinh thành.

Hoả châu theo tiếng trống cầm canh vọt lên từ thành nội, lời kêu cứu tuyệt vọng của đội quân Vương Thông bị vây hãm gửi đến quân chi viện không biết mất hút đi đâu phía chân trời. Đội quân đồn trú chỉ còn mỗi cách phóng hoả châu, niềm hy vọng sống sót ở đằng xa, bay nghiêng nghiêng trên mảng trời phía Băc, nổ bùng rồi ngoằn ngoèo như con giun lửa, tắt ngấm cô hồn rơi xuống.

Chân đê phía Bồ Đề, dãy hàng rào ngoại vi có hai lớp tre đực đan mắt cáo. Một tháp canh giữa tre dựng tua tủa, lính gác đội nón chóp đổi phiên thì thầm, binh khí va chạm lách cách. Tiếp đến là bãi chông. Tre nhú lên mặt đất nhọn hoắt nham hiểm. Tiếp nữa là dãy hàng rào. Rồi một cái hào rộng, đen ngòm, lạ sao vẫn có tiếng ếch nhái ộp oạp. Mùi phù sa lẫn bèo thối nồng nặc. Lại một bãi chông, một dãy hàng rào thấp hơn. Vượt lên khỏi hàng rào cuối cùng là một đài chỉ huy dựng tạm bằng tre và gỗ, mái lợp lá cọ, có tầng dưới và hai lầu phía trên. Cả nhà dưới và hai lầu đều sáng đèn. Đĩa đèn dầu lạc bám lưng cột tre cháy to, nổ lép bép. Một chú lính cầm trên tay vò dầu có quai xách, đi lại như cái bóng, đổ dầu vào đĩa, hết đĩa này đến đĩa khác.

Bình Định Vương Lê Lợi ngồi trước án thư. Ông khoác áo bông mỏng. Nom ông giống ông lang bốc thuốc xứ Thanh hay một hào trưởng cục mịch hơn là vua, vẻ vương giả chỉ thỉnh thoảng lộ ra trong cái cau mày. Thân hình to cao của ông đang xù ra chống lại cái rét chớm Bắc Hà ông chưa quen. Ông lấy ngón tay út móng dài giở một trang sách. Ông đang đọc binh pháp Tôn Tử. Thật mệt! Và ông ngáp, đứng lên vuôn vai. Rồi lại ngồi xuống. Trông ông bất yên, buồn ngủ nhưng không ngủ được. Một chú lính bước lên cầu thang gỗ, tay bê khay trà. Anh ta bước vào phía sau lưng Lê Lợi.

“ Chúa công dùng trà đêm ạ?” Gã thị vệ hỏi.

“ Trà, suốt ngày trà xót cả ruột! Lấy cái chi cho ta ăn. Bụng sôi ầm ầm đây!” Lê Lợi nói rồi ngồi xuống.

Tuy vậy người thị vệ vẫn đặt bộ đồ trà lên bàn, dạ, định lui ra.

“ Này, ông Trãi về thì bảo lên gặp ta ngay!”

“ Dạ chúa công, ông ấy chưa về ạ. Chỉ có bà Lộ ở dưới lầu.”

“ Bảo bà ấy có gì ăn thì mang lên. Một cái bánh chưng hay chè lam cũng được.”

Người thị vệ xuống một lúc, Thị Lộ bước lên lầu. Bà khoảng ba mươi tuổi, cao ráo, nhan sắc đậm đà. Đôi mắt nồng nàn, sáng sủa của người có học. Nhưng trong chiếc áo tứ thân bó chặt vai và bộ ngực nở nang, bà lại có dáng một phụ nữ quen việc đồng áng, tươi mát, mạnh bạo, hơi thô nhưng quyến rũ nhờ tuổi thanh xuân thôn nữ. Đứng gần, bà thơm nức mùi rơm mới hay mùi gì tương tự như thế. Bà vui vẻ, như luôn vui vẻ và tự tin khi đứng trước ông vua mới lên ngôi, không quần thần, không triều nghi, ngay cả tiếng xưng tâu “chúa công” vẫn còn dùng như trước đó. Bà khẽ ngiêng người duyên dáng:

“ Chúa công cho gọi? Thiếp đã có bánh chưng rán mời chúa công đây.”

Bình Định Vương liếc xéo bà, ông ngửi thấy mùi rơm mới nôn nao, lòng nhói lên một chút ghen tức. Sao nước cứ chảy mãi về chỗ trũng. Trãi thật tốt phúc.

“ Ngươi ngồi xuống cùng ăn với ta. Ta hay đói, tính ấy xấu phải không? Nhiều người trách ta cho đàn bà vào quân ngũ, họ thị phi là ta quá nể ông Trãi. Nhưng họ biết đâu chỉ là vì ta hay đói và háu ăn. Có đàn bà thì đàn ông không bị đói. Ông Trãi thật tốt phúc.”

Lê Lợi nhìn bà đại học sĩ giống như khi ông muốn xé một con gà luộc bốc hơi nghi ngút vừa mới được mụ Lý quẳng vào rá. Mụ Lý là người nấu bếp theo ông từ thời Lam Sơn tụ nghĩa. Nghe nói mụ sinh cùng tháng cùng năm với ông, cùng là bạn “lưng trâu”, cùng chơi trò vợ chồng với ông, nhưng gia cảnh mỗi người lại mỗi khác. Khi nghĩa quân lập trại, dựng cờ mụ đi theo liền. Ông biết mụ không muốn xa ông, thích ông dù biết không thể lấy ông được. Được cái mụ nấu ăn ngon, chỉ mụ mới biết ông thích món gì, mặn nhạt ra sao. Chỉ mụ mới biết cách luộc một con gà sao cho căng da, thịt mềm nhưng không bấy. Có một lần trong cái lều bếp dã chiến, mụ giả vờ đổ vật vào ông khi ông đói cồn cào, chạy vô bếp kiếm một miếng cơm cháy. Trong một khắc ông không là minh chủ, mụ quýnh lên còn ông thì làm vội làm vàng, sợ mấy thằng thị vệ nhìn thấy, nhanh như con gà trống. Mãi đến bây giờ ông vẫn không hiểu sao mình lại làm chuyện đó, vì ông cảm động với cái tài làm bếp và luộc gà của mụ, hay đơn giản chỉ là một cơn ngẫu hứng đàn ông? Sau đó ông quên ngay nhưng ông biết mụ không quên. Ông biết không người đàn bà nào có thể quên được ông khi được ngủ với ông một lần. Lính một ngày bằng dân cày một tháng. Ông là chúa công nhưng cũng là lính mà! Ông rất hối, hối lắm vì đã đánh mất cái tình bạn thơ ngây, nhất là sau khi mụ Lý bị giặc bắt rồi giết cùng mẹ của Tư Tề[i].

Thị Lộ bày đĩa bánh chưng rán lên án thư. Bình Định Vương vồ lấy đôi đũa trên tay bà, gắp bánh. Nhưng ông vụng về, miếng bánh rơi xuống sàn gỗ. Ông cáu tiết vất đôi đũa, lấy tay nhón bánh ăn ngấu nghiến.

“ Bẩm, chúa công có gì bất an, sao người không ngủ?”

“ Ta không chợp mắt được. Ngươi thử đoán coi vì sao ta không ngủ?”

Bà Lộ cũng thừa khôn ngoan để tránh cái nhìn “xé gà” của chúa công.

“ Thiếp không dám lạm bàn. Nhưng dù có chuyện gì đi nữa thì chúa công cũng nên gìn giữ tấm thân vàng ngọc.”

“ Ngươi vẫn chưa trả lời câu hỏi của ta!”

Thị Lộ chấp hai tay:

“ Bẩm, nếu thiếp không quá ngu ngốc thì cũng đoán được là chúa công đang lo lắng về cánh quân Mộc Thạnh?”[ii]

Lê Lợi rùng mình. Trên đời, ông sợ nhất những người đoán được ý nghĩ của ông.

“ Đúng! Thì ra ngươi không chỉ giỏi thi thư bếp núc.”

“ Thiếp cạn nghĩ, mong chúa công xá tội”

“ Ngươi chia sẻ việc quân với ta, tội lỗi cái nỗi gì! Ta đang mong ông Trãi nhà ngươi còn hơn vợ mong chồng cơ đấy! ”

Thị vệ lại vào.

“ Bẩm chúa công, có ông thiếu uý[iii] xin bái yết!”

Nhà vua và cả Thị Lộ nữa, biết ông thiếu úy là ai.

“ Bảo lên gặp ta!”

Chờ người thị vệ quay xuống cầu thang, Lê Lợi nói với Thị Lộ:

“ Ơn cái bánh chưng của nhà ngươi.”

Giọng ông lạnh hẳn đi, cái nhìn háo hức tắt ngấm:

“ Nhà ngươi lui được rồi!”

Lần nữa, Thị Lộ hiểu được thâm ý chúa công. Bà biết chúa công không muốn người sẽ vào bắt gặp bà đang ở đây. Trãi của bà có lần nói: “Nếu không đủ tinh ý nhìn ra cạm bẫy thì chớ sống gần nhà vua”.

Nhưng không kịp nữa. Bước chân sầm sập trên cầu thang. Ông tướng vừa cưỡi ngựa mặc giáp trụ hồi nãy trên bãi ngô bước lên, chiếc roi ngựa còn rung phần phật. Ông ta liếc xéo Thị Lộ, khó chịu ra mặt. Người thiếp của Nguyễn Trãi chào lí nhí rồi lặng lẽ lui ra.

 

***

 

Ông tướng ấy là thiếu úy Phạm Vấn. Một người đàn ông đẹp, vẻ đẹp của một võ tướng can trường từng qua trăm trận. Ông cũng bộc lộ ra bên ngoài cái thoả mãn của một công thần công tướng, được chúa công tin cậy, yêu dấu. Không chỉ thế, ông ta còn là anh vợ nhà vua. Đôi mắt xếch, trán thấp, không tương xứng mấy với bộ mặt và thân hình cao lớn, làm ông có vẻ một võ quan nhiều mưu trí lắt léo và một tâm hồn hẹp hòi, lắm tham vọng hơn là một tráng sĩ coi cái chết tựa lông hồng. Nhưng bù lại là cái tính cương quyết và liều lĩnh thường biểu lộ ra từng cử chỉ của đôi cánh tay lực điền. Vị chúa tể đất Lam Sơn biết tất cả những điều đó nhưng chính ngài cũng rất cần những điều đó nơi ông.

“ Bẩm chúa công...”

Vấn chưa dứt xong câu, Lê Lợi đã khoát tay:

“ Chúa công với chả chúa công. Đã nhiều lần ta bảo ông là anh vợ ta, khi chỉ có ta và ngươi, ta miễn cách xưng hô ấy. Ông về giữa đêm hôm khuya khoắt thật không phụ lòng ta. Hãy cởi giáp, ăn nốt miếng bánh chưng nóng này rồi nói ta nghe bọn chó Thôi Tụ đang cụm nhau lại ở Xương Giang ra sao?”

Phạm Vấn là người khôn ngoan. Ông biết thế nào là lễ ở nơi màn trướng. Tuy vốn là anh vợ chúa công, được ông tin dùng lại hay bỗ bã với mình như bạn rượu, nhưng vị tướng quân không vì thế mà nhờn. Ông không cởi giáp, không ngồi ăn bánh mà vẫn đứng, chấp hai tay cung kính:

“Dạ bẩm...”

Lê Lợi thoáng một cái chau mày nhưng ông nén lại được, tận trong lòng ông vẫn thích khi được quần thần tâu bẩm và cóm róm. Ông đứng phắt dậy, bước hai bước tới chỗ Vấn, tự tay cởi bộ giáp nặng của vị thiếu úy quẳng xuống sàn gỗ rồi lấy chiếc áo bông đang mặc khoác lên người ông ta, kéo lại bàn.

“ Ăn cho ấm bụng cái đã.”

Vấn cảm động, lấy đũa gắp miếng bánh còn nóng nhai ngấu nghiến. Nếp dẻo muốn kéo cả răng ông rơi ra ngoài. Thứ nếp cái hoa vàng đất Bắc hơn đứt nếp rồng xứ Mường quê ông.

“ Đúng như chúa công dự đoán, bọn Thôi Tụ, Hoàng Phúc nhất quyết trụ lại Xương Giang...”

“ Ông nói sao? Chúng quyết trụ lại đó hay buộc phải dừng lại đó? Thôi Tụ võ biền nhưng Hoàng Phúc là đứa gian hiểm, không thể coi thường.”

Vấn lấy bàn tay phải với những ngón búp măng không ra vẻ tay võ tướng lau một vòng quanh mồm, nói sảng khoái:

“ Thưa chúa công! Mất vía ở Chi Lăng, Cần Trạm, Phố Cát[iv], tướng chết ngả rạ như gà toi thì hai tên bại tướng gan mật mô mà suy mưu tính kế. Còn cách chi hơn là cụm lại Xương Giang?”

Như mọi lần, bao giờ Lê Lợi cũng biết cách gợi cho các tướng nói trước, nói hết ý của họ.

“ Lòng ta vẫn còn ngờ. Ông nên nhớ là chúng còn bảy vạn tàn quân. Hay là ta thân lên đó một chuyến?”

“ Dạ cần chi oai hùm dương vuốt. Chính mắt thần đã nhìn thấy, tai thần đã nghe thấy. Thần đã không bỏ sót một ụ đất, một gốc cây, đã gặp hết các tướng hùm hổ vây địch cả mặt Bắc lẫn mặt Nam. Binh sĩ thì viết lên bàn tay một chữ chiến! Xin chúa công nhanh tay cho trước khi địch đào xong hào đắp xong luỹ...”

Cái hào hứng, phấn chấn của vị võ tướng lây sang Lê Lợi.  Nhưng ông lại phải nén mình xuống. Chó chết thật, đang đánh giặc, phụ tử chi binh mà trong đám anh hùng quanh ông đã lộ ra ít nhiều thói xu nịnh. Làm vua chưa được bao lâu ông đã biết điều này: Ông chưa sổ mũi thì họ đã ho. Có lần ông trách Nguyễn Trãi: “ Ngươi xui ta lên ngôi quá sớm!”.   

“ Đánh, quân ta thế như Ngưu Đẩu, nuốt được cả đất trời, ai chẳng muốn đánh. Nhưng các ngươi quen nhìn trước mặt mà không thấy sau lưng. Tâm trí ta vẫn ngay ngáy lo bọn Mộc Thạnh trên ải Lê Hoa. Các ngươi có nóng ruột mấy cũng phải cùng ta chờ bọn Trãi và Thái Phúc về cái đã.”

“ Bẩm chúa công, nếu chỉ cần ba tấc lưỡi của ông Trãi với một hàng tướng bạc nhược như Thái Phúc mà lui được Mộc Thạnh thì các võ tướng theo chúa công từ Lũng Nhai chắc là phải tháo gươm cởi giáp về xua gà cho gấy hết.”

Lê Lợi cười lớn, cái cười gượng, cố ý dàn hòa. Ông vỗ vai viên võ tướng:

“ Đừng nóng ông anh vợ! Ông không biết rằng chuyến đi này Trãi có thành công thì cũng là nhờ sau lưng đã có chiến công của đại quân và tướng lĩnh các ông hay sao?”

“ Chúng thần theo chúa công là để đánh giặc, nguyện da ngựa bọc thây vì non sông Đại Việt chứ không phải cầu cái thân nhàn êm ấm trong vòng tay thê thiếp như ai. Nay giặc đang nằm trên thớt, quân ta lại như hổ đói rình mồi, vậy mà không hiểu sao chúa công chỉ nghe lời Nguyễn Trãi án binh bất động?”

“ Ấy đừng nói thế, ông thiếu uý! Thử hỏi từ ngày uống máu ăn thề ở Lũng Nhai đến nay có mưu cao chước lạ nào của ông và các tướng mà ta không nghe chứ đâu ta chỉ nghe mỗi Nguyễn Trãi?” 

Vấn giậm chân, uất ức:

“ Người làm tướng như Vấn này cũng lấy làm xấu hổ với quân sĩ đất Lam Sơn!”

Lê Lợi nghiêm mặt. Ông thường bỗ bã, bờm xơm như một nông phu nhưng trong nháy mắt đã có được ngay vẻ mặt lạnh như tiền. Đó là cái uy vương giả tiềm ẩn như bộ vuốt con báo gấm vươn ra thu vào khó lường của ông.

“ Ông Vấn! Nói như ngươi thì chính ta cũng mang tiếng nhát gan với ba vạn quân phên giậu theo ta từ Thanh Nghệ ra đây hay sao? Xương Giang này là trận cuối cùng, dốc quân đánh một trận thì phải chắc thắng. Không chắc thắng thì chờ. Cơ đồ Đại Việt quyết định ở đây. Non sông Đại Việt còn mất cũng ở đây. Hãy đặt ông vào địa vị ta, nếu Mộc Thạnh đổ từ Vân Nam xuống như nước lũ sông Nhị Hà mà bọn Xảo, Chích không giữ nổi, liệu ông có dám xuống tay với lũ Thôi Tụ, Hoàng Phúc không? Con chim sẻ rình bắt chuồn chuồn há có dám quên gã thợ săn dương cung phía dưới? Người làm tướng như ông ắt phải hiểu điều đó mới phải!”

Như biết rõ tính nết của chủ tướng, Phạm Vấn quỳ xuống trước mặt Bình Định Vương, chấp tay hối lỗi.

“ Vấn này lỡ lời, xin chúa công bớt giận...”

“ Hãy bình thân, ông anh vợ! Ta biết ông cũng chỉ vì nóng lòng cứu dân Đại Việt mà thôi. Hẵng ở đây với ta, nghỉ ngơi, chờ Nguyễn Trãi về rồi cùng tính!”

***

 Chiếc thuyền không to nhưng cũng không quá nhỏ, hạ kín mui. Nóc thuyền mấy gã trai bạn cởi trần, chống sào vào cuối xương đòn gánh chạy sầm sập. Nước sông Nhị chảy xuôi nhưng trời không gió, con thuyền chỉ nhờ các mũi sào trai bạn trôi phăng phăng. Họ xếp hàng hai, bặm môi, trợn mắt, trời se lạnh mà người nào cũng mồ hôi ướt đầm lưng. Mồ hôi chảy từ trán xuống mắt, từ cổ xuống lưng rồi từ lưng làm ướt đẫm cạp quần. Không ai nói với ai một lời. Đám trai bạn nhìn lên hai bên bờ sông tối om, những dãy núi phía xa chỉ hiện ra nhờ đường răng cưa vẽ lên bầu trời ảm đạm.

Trong khoang giữa con thuyền được che rèm và màn cửa kín mít, hai người đàn ông ngồi xếp bằng lên chiếu đánh cờ. Mấy cây nến sáp ong to bằng cổ tay đã cháy gần hết. Thái Phúc to béo, dáng võ tướng, râu ria che kín mồm. Nguyễn Trãi mảnh mai hơn, áo dài, không đóng khăn mà để đầu trần búi tó. Hai người đang vui. Họ muốn tự thưởng cho mình vài ván cờ vào lúc nửa đêm khi con thuyền đang trôi nhanh về bản doanh bên bờ sông Nhị. Bước chân trai bạn phầm phập10 trên mui sát đỉnh đầu cũng không làm hai người bận trí. Cờ đang nghiêng một bên. Trãi vừa mất oan cho ông tướng Ngô một con mã.

“ Ha ha! – Thái Phúc vỗ đùi cười khoái trá – Mất con ngựa này thì huynh lâm vào thế khó rồi.”

Từ cái khoang chật đầu mũi một người đàn bà chui ra. Chị còn xuân sắc,bộ ngực thây lẩy căng trong cái yếm lụa nâu sồng đã nhạt màu. Đôi mắt long lanh trên khuôn mặt trái xoan phảng phất hoảng loạn. Người đàn bà nói:

“ Để em bóc bánh chưng mời hai ông.”

Thái Phúc ngẩng nhìn người đàn bà. Cái khoái trá trẻ con khi vừa “ăn” được con mã của đối thủ nhường chỗ cho một tình cảm dịu dàng và háo hức. Ván c cũng như chiến tranh nhanh chóng nhường chỗ cho một cuộc sống khác ngay trong khoang thuyền chật hẹp. Trãi cảm thấy rất rõ điều đó. Ông tự tay xóa lũ quân cờ tự dưng thành vô nghĩa đối với ông, xoãi chân cho đỡ mỏi, dựa lưng vào vách thuyền.

“ Đệ thua – ông nói – cũng khuya rồi, đêm nay thuyền về đến Bồ Đề, đệ muốn ngủ sớm để chốc nữa còn phải yết kiến nhà vua”.

Thái Phúc nhìn Trãi, tỏ vẻ biết ơn. Y nói với người đàn bà:

“ Nàng vô khoang trước đi. Ta còn muốn tiếp đại huynh đây một chung rượu nữa”.

Người đàn bà ngoan ngoãn vào khoang. Dáng chị nhẫn nhục, cái nhẫn thường thấy ở kỹ nữ. Trãi khoát tay:

“ Đệ xin kiếu, đang muốn say đây. Huynh cứ tự nhiên”                      

Thái Phúc chấp tay:

“Huynh cho phép thì đệ vào!”

Trãi cười ranh ma:

“ Ta miễn lễ!”

Ông tiếp tục cái nhìn ranh mãnh khi ông hàng tướng bò vào khoang. Bước chân trai bạn vẫn sầm sập trên mui. Phía trong khoang đã có tiếng cười rúc rích. Cách đây ba hôm, sau buổi cho Thái Phúc trình diện với Mộc Thạnh trước cửa ải Lê Hoa, ông ta xin rời thuyền cùng cánh trai bạn kiêm vệ sĩ vào mấy bản làng người Thổ ven sông tìm thêm rượu và lương thực. Bọn họ mang theo người đàn bà này trở về. Ông tướng Ngô chấp tay vái Trãi:

“Đại huynh cảm thông cho cái yếu lòng của người làm tướng.”

Thì ra ông ta bắt gặp người đàn bà đang trú thân trong bản. Chị ta vốn đã từng là cây “ả đào đệ nhất” ở chốn kinh kỳ Đông Quan. Năm ngoái đây, khi Vương Thông thay quân, một số rút về qua ngả Lê Hoa, chị bị một tay ma đầu cưỡng bức đi theo, tư trang không mang theo chút gì ngoài cây đàn cò. May sao, khi đội quân chinh phạt hồi hương đến biên giới thì chị trốn thoát, được một gia đình người Thổ nuôi giấu trong bản. Tháng ngày lần lữa trôi qua, không có đường về. Nghe mấy người lính nói thuyền của họ sẽ xuôi vào ngày mai, chị xin ông hàng tướng đi theo. Ông ta nói tiếng Đại Việt sõi đến nỗi chị tưởng là một ông tướng Lam Sơn. Chỉ một đoạn đường ngắn mà nên tình nghĩa.

Hai hôm nay Trãi nhường cái khoang mũi ấm cúng luôn có nến thắp sáng của mình cho “đôi tri kỷ”. Những lúc thả thuyền trôi theo dòng nước về xuôi, giữa hai bờ sông không còn quân giặc, sau bữa cơm ồn ào, xô bồ nhưng ngon miệng chưa từng thấy, Trãi với ông hàng tướng cùng đám trai bạn lại nghe người kỹ nữ phiêu bạt gẩy đàn cò, ca mấy bài hát cổ. Đôi tình nhân chỉ rời nhau khi Thái Phúc buông chị ra để đàm đạo hay đánh với Trãi một vài ván cờ. Trãi nhận thấy từ khi có người đàn bà, ván nào ông ta cũng thua, trừ hôm nay. Không phải ông ta nhường nước mà đàn bà làm ông tướng giặc mười mấy năm chinh chiến trên đất Đại Việt nhãng trí. Đã có lần Thái Phúc tâm sự: “ Đệ với Vương Thông có nhiều chỗ khác nhau. Vương Thông là kẻ háo sắc, đã có lần chính mắt đệ thấy y phi ngựa lui quân mà vẫn quờ tay hốt được một cô thôn nữ Đại Việt núp bên vệ đường rồi đặt lên yên ngựa mang vào thành. Thằng kẻ cướp! Y làm nhục đàn ông trung nguyên. Thú thật với huynh, mười năm đánh nhau hết Thanh Hoa đến Nghệ An, đệ không hề biết mùi đàn bà!” Trãi nói: “Tôi nghe dân tình nói quân sĩ của huynh mỗi lần ra ngoài thành đều có chuyện cưỡng hiếp đàn. Tôi không tin là huynh vô can!” Thái Phúc đấm ngực thề: “Kẻ làm tướng có thể cướp một thành, diệt một nước nhưng không được o ép liễu yếu đào tơ. Huynh có tin hay không thì tùy, nhưng bản thân đệ xin thề là chưa một lần phạm cái tội hèn mạt ấy!”        

Vậy mà chỉ trong một buổi sáng ông ta đã có người đàn bà của mình. Chị ta có vẻ thương yêu ông ta, vì ơn cứu gúp trong cơn hoạn nạn, có thể ông ta hứa hẹn đưa chị về Đông Quan đoàn tụ với gia đình hay những lời hứa liều mạng khác. Nhưng cuộc tình chớp nhoáng ấy tràn trề hạnh phúc, ôi, niềm hạnh phúc hiếm hoi và quý giá biết bao đối với một bại tướng, một hàng tướng như Thái Phúc! Y cảm thấy mình có lỗi trước Nguyến Trãi. Vì quân lệnh? Hay vì đã dám đưa chị ta về thuyền mà chưa được phép của Trãi? Tự trong lòng, Trãi thấy ông ta chẳng có lỗi gì. Chuyến đi mạo hiểm của hai người đã thành công như mong ước. Trãi mỉm cười chua chát. Thế nào rồi cũng có kẻ dèm pha, xúc xiểm. Trước đây họ đố kỵ với ông vì ông luôn có bên mình một người tài sắc như Thị Lộ, nay sẽ thêm chuyện người kỹ nữ của Thái Phúc. Ông thừa biết những kẻ đó. Họ dũng mãnh trên trận tiền, có thể cầm giáo xông vào doanh trại chém đầu tướng giặc, lúc lên cơn có thể sai lính bắt vào lều những cô thôn nữ ngây thơ để chiếm đoạt trinh tiết của họ. Khi có lệnh chúa công phải giữ nghiêm quân kỷ, họ có thể tự tay chém đầu những kẻ phạm tội cướp hay hiếp, những cái tội chính họ đã từng phạm không ít lần nhưng được bộ hạ giấu nhẹm cho mà thôi. Họ không đủ lòng bao dung để nhìn người khác hạnh phúc, không đủ lòng nhân để rung động trước một “yểu điệu thục nữ”, không đủ liêm sỉ để tự răn mình. Vì họ chưa từng đọc Kinh Thi chăng? Lê Sát từng nói: “ Xưa nay sơn hà đổ nát là do bọn nho sĩ chỉ biết đọc sách mà không dám cầm cung kiếm”. Nhưng nhà vua không có cái nghĩ ấy. Có lần người nói với Trãi: “ Ta ít học, chỉ giỏi đánh nhau. Nhưng giá ta được đọc kỹ binh pháp và Bình Ngô sách của nhà ngươi sớm hơn thì đã bớt được bao nhiêu nhân mạng anh hùng liệt sĩ. Đó là nỗi ân hận của Lợi này!”. Trãi tin nhà vua thật lòng. Sau này thế nào thì không biết nhưng trước đến nay Người vẫn ưu ái cánh nho sĩ Thăng Long. Nhờ lượng cả bao dung ấy mà anh em Trãi, cũng như bọn Trú hay Xảo có cơ hội xả thân vì đại nghĩa. Có lẽ vì cái chữ Nhân ấy mà nhà vua không giấu ai những thèm muốn riêng tư. Nhiều lần trong câu chuyện bù khú trà dư tửu hậu giữa đám phụ tử chi binh, Người vẫn bỗ bã nửa thật nửa đùa nói rằng, cái khổ nạn nhất của người làm vua là ngứa mà không được gãi! Trãi tin rằng nếu có kẻ dèm pha chuyện của Thái Phúc, chắc Người sẽ bỏ qua cho ông ta cái tội mê gái và cho mình tội sao lãng điều lệnh quân ngũ.        

Con thuyền được mấy tay chân sào đẩy phăng phăng về xuôi bắt đầu chòng chành. Trăng bắt đầu lên và Nguyến Trãi thấy tốt nhất là lên mui ngắm trăng thay vì ngồi nghe tiếng chuột rúc trong cái khoang mũi chật chội phía trước mũi thuyền.       

Trại Bồ Đề im lìm trong đêm vắng. Từ dưới sông Nhị nhìn lên, dãy hàng rào phòng thủ quanh bản doanh nghĩa quân Lam Sơn ken dày thân tre làm bức trường thành. Đèn le lói đâu đó. Quân lính đi từng toán hiện lên nền trời mùa đông những cái bóng chập chờn, vội vã. Chiếc thuyền của Nguyến Trãi và Thái Phúc ghé vào bến sông cách doanh trại không xa. Hai người bước lên bờ, theo sau là ba bốn tuỳ tùng, gươm giáo lách cách, họ nhanh chóng đi về phía bản doanh nghĩa quân rồi mất hút trong bóng tối tưởng có thể xắt thành miếng thành tảng bên bờ sông phía Bắc...

Căn buồng Nguyễn Trãi nằm ở lầu hai, ngăn cách thư phòng bằng một tấm cửa liếp. Phía trên là nơi ăn ở của Bình Định Vương. Khách lên lầu gặp chúa công phải qua thư phòng, luôn có thị vệ. Trãi lên bờ bước vào, chạm mặt Phạm Vấn từ cầu thang đi xuống:

“Ông Trãi! Chúa công đang đợi ông!”

Cuộc đi đường trường còn để lại dấu ấn mệt mỏi trong dáng đi và khuôn mặt Trãi. Lại đói và căng thẳng nữa. Nhưng ông vẫn cố tỏ vẻ kính trọng và đủ lễ trước ông thiếu úy lắm uy quyền:

“Xin bái tạ thiếu uý. Tôi sẽ lên hầu chúa công ngay đây.”

Phạm Vấn chộp lấy cánh tay Nguyễn Trãi như diều hâu cắp gà con làm ông đau nhói:

“ Tôi cùng lên với huynh được không? Mà quên, còn để huynh tẩy trần và hàn huyên với mỹ nhân đã chứ?”

“ Xin đa tạ. Nhưng tôi phải bái yết ngay chúa công.”

“ Nghe giọng nói tôi chắc huynh đã lập công lớn rồi. Không phải mình chúa công mà toàn thể quân sĩ cũng đang nóng lòng chờ huynh đó.”

Tiếng Lê Lợi phía trên vọng xuống, oang oang, rõ là ông chưa hề chợp mắt.

“ Ông Trãi về đó hả? Lên ngay gặp ta. Cả ông thiếu uý nữa.”

Sau khi yên vị trước án thư của Lê Lợi, Nguyễn Trãi nói:

“ Đúng như cao kiến của chúa công, viên tướng già ranh khôn chủ trương giữ thế. Các ông Xảo, ông Khả tuân thủ lệnh trên, cũng không khinh xuất, kìm chế giặc mà không động thủ. Thần đóng giả một viên thuộc lại, dẫn Thái Phúc mang binh kỳ, bằng sắc và ấn tín của Liễu Thăng cùng thư chúa công, đối diện Mộc Thạnh dưới chân thành. Nghe tin sét đánh, lại được tận mắt nhìn thấy hàng tướng cùng hiện vật thất trận, y đã đang đêm lén rút khỏi Lê Hoa. Quân ta ào lên truy kích, diệt hàng vạn tên ở Lãnh Câu, Đan Xá. Mộc Thạnh chỉ một mình một ngựa về được Vân Nam...”

Lê Lợi nhìn Phạm Vấn, rồi Nguyễn Trãi. Ông không nói gì. Nhưng khuôn mặt chữ điền của ông căng thẳng. Vấn và Trãi nhìn nhau ngạc nhiên. Họ không hiểu vì sao vị chúa công của họ lại bình thản được trước một cái tin báo tiệp lẫy lừng như thế. Cho hay thật khó đoán định thần sắc lòng dạ của vua.

Bỗng Lê Lợi vuôn vai rồi buông một tràng cười sảng khoái, lay động cả màn trướng. Ông bước tới cửa sổ, vén màn nhìn xuống sông Nhị Hà. Dòng sông chảy hun hút phía dưới như tấm lụa đen. Bờ sông bên kia, thành Đông Quan im lìm. Những ngọn đèn trên tháp canh quân Minh le lói.

“ Ông Trãi! Chuyến đi của ông chỉ có hai người mà đã phá tan được thế ỉ dốc của quân giặc. Đến bây giờ ta mới thật sự tin bọn chó lợn Thôi Tụ Hoàng Phúc đang lâm vào thế cá nằm trên thớt. Sao các ông lại nhìn ta như thế? Các ông không hiểu được ta đang sung sướng như thế nào chăng?”

Không đợi Vấn và Trãi kịp mở miệng, Bình Định Vương hào hứng bước tới án thư, cầm lên một tờ giấy chi chít chữ:

“ Ông Trãi, hồi nãy ông bảo đưa thư của ta cho giặc già Mộc Thạnh. Thư của ta nhưng là do ông thủ bút. Nhân tiện có ông thiếu uý anh vợ ta ở đây, ta cũng muốn cho tướng sĩ Lam Sơn biết rằng, từ mệnh ta trong quân thứ chính là ông Trãi. Những lá thư gửi tướng giặc ấy có sức mạnh đuổi giặc công thành không thua kém đạo quân nào. Tướng sĩ ta mà được nghe cũng thêm phần hào sảng, sướng lắm. Người danh sĩ đất Đông Quan, ông hãy đọc lên cho ta và ông thiếu uý đây nghe bức thư lui được năm vạn quân Mộc Thạnh!”

Để giải thích kỹ hơn nữa ý mình, nhà vua tiếp:

“ Ta khao cái tin này bằng cuộc bình văn ông Trãi vậy”

Lê Lợi trao tờ thư lưu cho Nguyễn Trãi. Ông cúi mình nhận. Lưng ông vãi mồ hôi. Là người từng sống nhiều năm với chúa công và tướng lĩnh Lam Sơn, ông biết họ không thuộc dòng thi thư, niềm vui của họ là tuốt kiếm ra. Dưới mắt họ những kẻ ham đọc sách chỉ là một lũ thầy cúng thầy mo hay vẽ chuyện lung lạc chúa công và tướng sĩ. Phạm Vấn đã nhiều lần lén nhổ nước bọt khi ông đọc thơ. Lê Sát từng nói khi biết chúa công giao một cánh quân lớn cho Trần Nguyên Hãn: “ Đưa lính cho cục phân chó ấy thì nó nướng sạch!”. Sát nhiều lần mắng mỏ mấy ông đồ coi sổ sách quân lương: “Ngữ các ông không bằng cục phân!”. Trãi biết nhà vua tường tất cả những chuyện đó nhưng không hiểu sao lại bảo ông bình văn trước mặt Phạm Vấn.

“ Xin lĩnh ý chúa công! Xin mạn phép ông thiếu uý.”

Rồi ông hắng giọng đọc:

“ Kính nghĩ Kiềm Quốc Công đại nhân, trên chín lần yếu dấu tin cậy, dưới muôn dân thấp thỏm ngóng trông, văn sư võ bị không phải người hiền tài có thể sánh kịp. Nay lại vâng mệnh sang lần nữa, đóng quân ngoài cõi, có thể thấy sự tiến hay lùi của đại nhân vững chắc như gò núi.

Nay chúng tôi nhờ ơn của đại nhân như trời đất cha mẹ nên mới thổ lộ tình thực, mong đại nhân thương cho. Đại nhân đem lòng người quân tử nhân đức tất sẽ làm được việc nhân nghĩa, để cho người đời nay đều tiến lên cõi thái hòa, há lại chịu lấy đất chỗ An-nam bé như nốt ruồi mà làm cho thiên hạ nhọc ư?”

Không chờ Nguyễn Trãi đọc tiếp Phạm Vấn chắp hai tay:

“ Xin đại huynh nhận cho Vấn này một vái. Coi thằng giặc già Mộc Thạnh đã hai lần mang quân sang giày xéo, cướp bóc Đại Việt ta như trời đất cha mẹ thì kẻ bỉ nhân võ biền này xin bái phục.”

Lê Lợi hiểu ngay ông thiếu úy nhiều công trạng này muốn nói gì. Ông không ngờ sự sảng khoái tuỳ hứng của ông không những không làm dịu đi mà còn làm nặng nề thêm mối hiềm khích giữa kẻ danh sĩ Đông Quan và người anh em từng chia ngọt sẻ bùi với ông từ ngày dựng cờ khởi nghĩa. Ông ôn tồn vỗ vai Phạm Vấn:

“ Ta đấy, chính là lời lẽ của ta đấy, ngươi đừng nghĩ oan cho ông Trãi.”

Rồi nghiêm giọng:

“ Cái chuyện coi Mộc Thạnh ân đức như cha mẹ cũng chính ta. Nếu chê lời văn hèn thì chê ngay ta hèn, đừng làm buồn kẻ chấp bút.

Rồi nhà vua khoát tay:

“ Thằng giặc già ra ngoài cõi rồi, chuyện ấy không nói nữa. Nay bảy vạn quân giặc đang cụm lại trên đồng Xương Giang. Ông thiếu uý, ông cho người gọi bọn Hãn, Sát, Thụ và các thiếu uý về ngay đêm nay. Ta muốn xuống lệnh đánh! Hai ông nghĩ sao?”

Cả hai chấp tay. Phạm Vấn nói:

“ Bẩm chúa công, ý người cũng là ý của toàn quân sĩ.”

Lê Lợi quay sang Nguyễn Trãi:

“ Còn khanh?”

“ Bẩm chúa công, nước sôi rồi, đã đến lúc mở vung, người thật sáng suốt.”

Lê Lợi nhíu mày rồi với Phạm Vấn:

“ Không, ta đổi ý rồi. Không phải gọi họ về đây nữa. Ta sẽ lên Xương Giang với ngươi ngay đêm nay.”

Rồi ông quay sang Nguyễn Trãi:

“ Ta đến với tướng sĩ. Thành bại chuyến này đã rõ. Nếu không diệt được bọn chó lợn ở Xương Giang thì xin trời chu đất diệt Lợi này. Ngươi cứ tiếp tục thừa mệnh ta viết thư chiêu dụ bọn Thôi Tụ, Hoàng Phúc. Ta cũng giao Vương Thông và thành Đông Quan cho Tư Tề với nhà ngươi lo liệu. Ngươi hãy thay lời ta phân tích phải trái cho chúng hiểu. Hãy chờ thư ta dưới cánh chim câu. Hẹn ngày cùng đại quân tái ngộ.”

Trở lại bỗ bã như người anh cả, Bình Định Vương móc trong túi ra một củ sâm Cao Ly:

“Thôi, vui quá hóa vô duyên. Nhà ngươi hãy xuống lầu tẩy trần kẻo bà Lộ lại trách ta vô ý. Có củ sâm Lê Sát lấy được của giặc biếu ta, ta góa rồi, ngứa mà không được gãi, chẳng cần làm gì. Ngươi cầm lấy!”

Trãi cúi gập mình:

“ Xin đa tạ chúa công!”

Lê Lợi luôn làm ông cảm động và đây là lần nữa ông cảm động.

 

***

 

Trại Bồ Đề thức giấc trong đêm. Quân sĩ tập hợp đội ngũ. Những lồng chim đưa thư được cột bên lưng ngựa. Cỗ xe hai ngựa đã sẵn sàng đưa thủ lĩnh Lam Sơn lên chiến trường Xương Giang. Phạm Vấn lên ngựa dẫn đầu. Lê Lợi lên xe. Đoàn người hộ vệ trước sau lặng lẽ cùng chúa công rời doanh lữ lên hướng Bắc, chuẩn bị cho trận quyết chiến chiến lược cuối cùng của mười năm kháng chiến.  

Trong căn buồng hẹp ở lầu một, Nguyễn Trãi chong đèn ngồi bên án thư. Thị Lộ pha trà, đốt trầm trong lư hương, nàng đi lại nhẹ nhàng như cái bóng. Trãi không thể không nhìn nàng. Chúa công vẫn nói ông có diễm phúc. Ông không chối điều đó. Ông đăm đắm nhìn nàng.

Thị Lộ làm xong mọi việc, đặt ấm trà với hai cái chén chũm cau lên mặt án thư, vòng qua góc bàn, đến phía sau lưng Nguyễn Trãi. Từ phía sau nàng vòng hai tay ôm lấy đầu chồng kéo vào sát ngực mình, lại thả ra rồi lấy hai bàn tay đặt lên vai ông nắn nhẹ.

“ Sao chàng không chợp mắt?”

“ Ta ngủ trong thuyền suốt ngày hôm qua rồi. Chúa công vừa ra ngoài, giao việc lớn lại cho ta, làm sao ngủ được?”

Nàng vẫn tiếp tục nắn vai chồng.

“ Chàng có biết mấy ngày chàng đi vắng, thiếp nằm mơ gì không? Thiếp mơ thấy giặc tan, chúa công cấp cho vợ chồng mình một thửa đất...Chàng với thiếp suốt ngày cuốc đất trồng dâu và chàng thường đi ngủ sớm chứ không phải đêm nào cũng chong đèn viết thư dụ hàng...”

Trãi buông bút, âu yếm nắm hai bàn tay vợ.

“ Nàng mơ quá sớm đấy. Nàng quên Vương Thông còn ở Đông Quan, bảy vạn quân Thôi Tụ, Hoàng Phúc đang đóng cách chỗ chúa công vài chục dặm?”

“ Quân ta đang đại thắng. Còn chàng với thiếp thì sao lại không có được một miếng đất. Gần chục năm cùng chàng theo chúa công sống trong quân ngũ, thiếp chỉ mơ có thế.”

Trãi cười.

“ Mơ thế cũng hơi nhiều. Có mấy khi người ta thực hiện được giấc mơ đâu. Nhớ ngày vĩnh biệt thân phụ trên ải Nam Quan, ta cũng có nhiều giấc mơ lắm. Duy chỉ có giấc mơ sạch bóng quân thù trên bờ cõi là xem ra sắp thành sự thật.”

“ Đó là giấc mơ lớn nhất của chàng?”

“ Đúng thế! Ta đã tìm được minh chủ. Nước Đại Việt có được chúa công là phúc lớn cho mọi nhà. Nàng nhớ điều này: chỉ có những giấc mơ mà thiên hạ cùng mơ mới biến được thành sự thật.

Trãi cười lớn:

Còn như miếng đất trồng dâu của nàng thì xem ra khó. Bởi vì chỉ có nàng mơ cho chính nàng thôi!”

“ Cho cả chàng nữa chứ! Và bây giờ thì thiếp chỉ mong chàng đi ngủ. Thiếp làm thân góa bua đã quá nửa tuần trăng rồi. ”

“ Nàng buông tha cho ta. Ta đang thảo bút bức thư thứ tư gửi Thôi Tụ, Hoàng Phúc. Lũ này chết đến đít rồi mà vẫn cao ngạo không biết thân. À quên hỏi nàng, trong mấy ngày ta đi vắng, vợ chồng cháu Thống có qua lại gì không?”

Một nét buồn thoáng trên mặt người thiếp trẻ. Thị Lộ buông vai Trãi ra:

“ Chỉ thấy con vợ sang, hình như có điều gì muốn nói. Nhưng nó kín như hũ, hỏi gì cũng bảo phải chờ chú Trãi. Nó có tin thiếp đâu. Chẳng ai tin thiếp cả.”

“ Nàng đừng nghĩ thế. Đó là do ta thường dặn dò. Thống là con đường duy nhất để chúa công thư từ qua lại với Vương Thông. Ta cũng mừng, nó thật không hổ với dòng họ Nguyễn.”

Thị Lộ định lui. Nhưng Trãi nắm tay nàng kéo lại:

“ Nàng nán lại với ta một chút. Để ta đọc nàng nghe đoạn tâm đắc nhất trong lá thư vừa thảo gửi bọn Thôi Tụ, Hoàng Phúc. Đánh giặc là thế không đừng. Nhưng bớt được tổn thất sinh linh là điều chúa công ta hằng mong mỏi.”

Thị Lộ mỉm cười sung sướng. Thực ra nàng chỉ mong có thế. Cũng chỉ thế thôi mà đã có bao nhiêu người ganh ghét rồi. Nàng nán lại, ngồi đối ẩm với chồng, trên mặt nàng ngời lên niềm hạnh phúc nhỏ nhoi mà nàng vẫn ao ước nhưng mấy khi có được. Nguyễn Trãi nói:

“ Ta đọc nàng nghe nhé?”

Rồi ông hắng giọng:

“ Nhưng không may các đại nhân cho lời nóí ấy của tôi không đáng nghe, đem quân đi sâu vào cõi nước tôi, quân lính giữ bờ cõi của chúng tôi không làm thế nào được, ví như loài chim cùng thì phải mổ lại, loài thú cùng thì phải đánh lại. Trong khi vội vàng thì còn thì giờ đâu mà nghĩ đến lễ nghĩa chứ? Đó là lỗi của tôi, cố nhiên không thể chối cãi được, nhưng cũng vì các ông khu xử chưa chắc đều là phải cả...”

Thị Lộ đăm chiêu. Nàng nói:

“ Chàng bình cho thiếp nghe để lấy ở thiếp một lời chúc tụng hay chàng cho phép thiếp lạm bàn?”

“ Đây là lời của chúa công nên phải cẩn trọng. Từ trước tới nay có bao giờ ta dám coi thường chữ nghĩa của nàng đâu?”

“ Vậy thì thiếp xin nói: lời lẽ trong thư gửi tướng giặc đang cơn quẫn bách như vậy có mềm mỏng quá chăng? Phải chăng đã là người sinh ra ở đất Đông Quan như chàng thì bao giờ cũng thanh lịch, mềm mỏng, kể cả với tướng giặc? Quân ta đang ở thế chẻ tre, róc mía, chàng để chúa công hạ mình đến nhường ấy, thiếp e các ông Sát, ông Vấn có chỗ bắt bẻ được chàng...”

Nguyễn Trãi nhận chén trà trên tay người thiếp yêu. Nhưng ông đặt xuống, không uống. Chừng như ông hiểu được, ông đồng tình với những lời Thị Lộ vừa nói. Nàng vốn thẳng thắn, chân tình, lại sắc sảo. Nàng không được dự bàn việc quân, thỉnh thoảng chúa công đói bụng hay thèm trà, hay muốn nói đôi câu chuyện gẫu mới vời đến nàng. Không ai trong quân ngũ biết được nàng là một kho báu đối với Trãi mà chỉ muốn ghen ghét nàng. Ông lấy cái bút lông đang giắt mang tai, đặt luôn xuống bàn.

“ Ôi, những điều nàng nói không phải ta không nghĩ tới.”

Ông thở dài.

“ Nàng vừa nói tới những giấc mộng. Kể từ ngày rời thành Đông Quan vào Lam Sơn theo chúa công, lúc nào ta cũng chỉ nghĩ tới ngày về. Về với kinh đô Đại Việt, với Thăng Long thành, với giang sơn tổ tiên để lại mà con cháu không biết gìn giữ. Nhưng không phải ai cũng có giấc mơ giống ta. Người ta mơ ngôi báu, mơ cấp đất phong hầu. Cái lẽ thường tình chăng? Ngay như nàng, cô bán chiếu gon ngày xưa của Trãi này cũng còn mơ được một miếng đất trồng dâu. Vì thế mà có hiềm khích, ghen ghét. Ngay trong ruột con tằm đang nhả tơ đã manh nha con nhộng béo tròn béo trịch của giàu sang phú quý. Vụ trẫm mình xuống vực Nầm trên sông Đỗ Gia vẫn luôn làm ta không trọn giấc...”

“ Theo chàng thì bà Ngọc Trần liều thân vì đại quân hay vì ngôi báu của đứa con ba tuổi? Sao thiếp thấy thương cho bà ấy quá.”

Trãi ngắt lời nàng:

“ Bây giờ không phải lúc nói chuyện ấy. Ta và nàng đang ngồi bên nhau trên đất Thăng Long. Đại quân đang sửa soạn một trận sạch tan kình ngạc. Ta muốn lầy óc nát gan cho trận này. Hồi nãy nàng phân vân về lời lẽ của chúa công với tướng giặc. Ta nói để nàng hiểu ý của chúa công và ta. Quân giặc tuy đang trong rọ, trên thớt, đại quân ta như lũ phá đê rỗng. Nhưng khiêm nhường một chút mà bớt được thương vong cho binh sĩ hai bên thì chỉ dày thêm công đức cho đạo làm tướng mà thôi.”

Nguyễn Trãi đứng dậy. Cái vẻ mệt mỏi, ẻo lả thư sinh biến mất. Trông ông mạnh mẽ sao. Hai tay chống lên cạnh bàn, ông nhìn Thị Lộ, đôi mắt sáng quắc:

“ Kẻ đang thắng mà khiêm nhường mới thật đáng sợ. Nàng hiểu ý chúa công và ta không?”

“ Chàng ngồi xuống đi, em bóp vai cho”.

Trãi ngoan ngoãn ngồi vào ghế và sung sướng vì tiếng em dịu ngọt của vợ. Ông không thể nào cưỡng nổi cái nhìn mời mọc của người luôn đưa lại cho ông sự yên tĩnh tâm hồn, sự thảnh thơi đầu óc. Bao gi trong ông cũng có cái giằng xé giữa nghỉ ngơi và suy nghĩ, viết lách. Chỉ cần một chút chạm nhẹ của đôi bàn tay nàng là ông trở về một trạng thái khác.

Thị Lộ lại nắn vai cho ông. Mấy ngón tay nàng lướt qua lần vải mỏng, nàng không muốn hững hờ vì biết chỉ có nàng, bàn tay của nàng mới đưa người đàn ông nàng yêu quý trở lại với cuộc sống thực, với những suy nghĩ bình thường của một ông Trãi nàng đã chọn để gửi gấm thân phận. Xa rời nàng, ông là một người khác, như ông không là của nàng, không liên quan gì với nàng nữa.

Nàng bóp vai cho ông, nghĩ ngợi miên man. Ông luôn hỏi nàng câu vừa hỏi: “ Nàng có hiểu ý ta không?” Đó là những lúc ông muốn có một người ngang tầm, tâm đắc để khẳng định mình. Nàng hiểu ông nhưng ông thì không hiểu nàng. Ông luôn quên nàng là vợ ông nơi quân thứ. Nàng chỉ muốn là vợ ông chứ không phải là một mưu sĩ. Nhưng khốn nạn thay, nàng lại ở bên cạnh ông ngay giữa tiền quân, trong đại bản doanh nghĩa quân, vây giữa bốn bề gươm giáo, chết chóc, trên đầu vợ chồng nàng là nhà vua, ngay trong khi hai người ân ái, nhà vua cũng ở lầu trên, ngăn cách với phòng vợ chồng nàng chỉ là một lớp ván mỏng gắn kết sơ sài. Đã bao lần nàng tự hỏi: hay là mình đòi hỏi chồng quá quắt trong hoàn cảnh chinh chiến, ông ấy còn gánh vác trách nhiệm Thái Sơn của nghĩa quân, giặc Minh còn dày xéo đất Đại Việt, nàng được thế này cũng đã quá sung sướng, lễ giáo và quân pháp ưu ái cho riêng nàng đã gây ra ghen tỵ hiềm mà chồng nàng phải chịu đựng trong ấm ức. Nàng điểm lại rất nhanh trong ký ức nhiều năm qua, từ ngày nàng gặp chàng văn nhân mảnh khảnh trong một buổi chợ ở Nghi Tàm. Chàng văn nhân ấy đã hút hồn nàng, lúc đó chỉ là cô thôn nữ tài sắc có hoàn cảnh gia thế éo le đang tủi phận như con chim công phải sống giữa đàn gà, tuổi xuân khô héo dần mà không tìm đâu ra một người đàn ông tử tế và tương xứng để gửi phận. Chàng văn nhân ấy đã đi gần tới cái đích cuộc đời do chính chàng đặt ra. Chàng đã là người sánh vai cùng tướng lĩnh công đầu đất Lam Sơn đứng dưới vua, trên muôn vạn người, chàng đã không như nàng mơ tưởng, ước ao trong buổi chiều hôm ấy bên Hồ Tây. Chàng không còn là của nàng nữa. Chàng là của vua, của ba quân, tình yêu nàng đã chết trong lòng chàng, còn nàng, một cái bóng thui thủi sống trong nước mắt, trước cái nhìn khinh khi, ghen tỵ của bọn người vô học trong cái triều đình không ngai, trong sự ban ơn nhiều khi quá lộ liễu của minh chủ. Mấy hôm nay nàng không ngủ được, như nàng chinh phụ trong thơ biên tái, lòng gửi tận ải Lê Hoa. Nàng nằm mơ toàn ác mộng khi thấy chồng bị thả trôi sông, trói chung cùng lão hàng tướng Thái Phúc. Nàng luôn có những cơn ác mộng như thế mỗi lần chồng mình vào nơi trận mạc. Sau bảy đêm thao thức, nàng tưởng vỡ tim khi thấy chồng bước lên lầu trong đêm, vậy mà không một câu hỏi han, không một cử chỉ âu yếm, ông ấy đã lại lôi nàng vào trận cuồng phong của chiến chinh, trong khi nàng sửa soạn rượu tẩy trần và chỉ mong được chồng kéo lên giường.     

Nàng lỏng tay, rã rời. Buông vai chồng, nàng không nói không rằng, bước vào buồng trong.



 

 

[i] . Công tử Tư Tề là con trai trưởng của Lê Lợi và bà hoàng hậu Ngọc Lữ. Bà Ngọc Lữ cùng một cô con gái với người hầu bị giặc Minh giết trong một lần chúng tiến đánh căn cứ nghĩa quân.Trịnh Thị Ngọc Lữ sinh năm 1382 tại trang Bái Đê, huyện Lôi Dương, Thanh Hóa. Từ nhỏ Ngọc Lữ đã có trí thông minh khác thường và có sắc đẹp nổi tiếng cả vùng khi bước vào tuổi thanh xuân. Trịnh Thị Ngọc Lữ là trợ thủ đắc lực cho Lê Lợi trong việc chuẩn bị khởi nghĩa. Bà đã sinh cho Lê Lợi hai người con một trai tên là Lê Tư Tề và một gái tên là Lê Tần Tố Nữ. Năm 1418, khi Lê Lợi phất cờ khởi nghĩa, Tư Tề khoảng 15 - 16 tuổi còn Tố Nữ vừa 9 tuổi. Sau hội thề ở Lũng Nhai mùa xuân năm 1418, lúc đó Trịnh Thị Ngọc Lữ ở vào tuổi 36. Ngọc Lữ được phân công giữ trọng trách hậu cần, tổ chức đời sống bảo vệ và sơ tán gia quyến tướng sĩ. Bà bị lọt vào tay giặc đêm 16-4-1418 và đã tuẫn tiết vào đêm 9-5 năm Mậu Tuất (1418) để không cho giặc lợi dụng mình làm bẫy bắt Lê Lợi. Do chính sự triều Lê sau khi Lê Lợi mất có nhiều bi kịch.,Lê Nguyên Long (Thái Tông) thấy Tư Tề hơn mình về mọi mặt, sợ ảnh hưởng đến ngai vàng đã dựng án để năm 1438 cách tuột Tư Tề xuống làm thứ dân. Có lẽ vì lẽ đó nên bà Ngọc Lữ không được thờ ở Thái miếu và ít được các sử gia thời trước nhắc tới (Theo Thái Gia Thư – Tinh hoa Việt) 

[ii]. Kiềm Quốc Công Mộc Thạnh là lão tướng của nhà Minh, từng sang chinh phạt nước ta làm phó tổng chỉ huy thứ hai cho Trương Phụ tước Tây Bình hầu. Mùa đông năm 1427 lại được cầm một cánh quân lớn gồm 5 vạn quân và một vạn ngựa cùng với các phó tướng Từ Hạnh, Đàm Trung từ Vân Nam tiến đánh ải Lê Hoa làm thế ỷ dốc cho đại quân qua đường Lạng Giang, Pha Lũy. Khi Liễu Thăng bị giết Vua sai người của ta ( có tài liệu nói là Nguyễn Trãi và Thái Phúc ) mang ấn kiếm bắt được cho Mộc Thạnh coi để dụ hàng. Y hoảng sợ bỏ chạy, lại còn bi Trịnh Khả và Phạm Văn Xảo truy kích diệt hơn một vạn tên.

[iii]. Thiếu úy là chức quan võ to nhất của nghĩa quân, thường cầm một đạo quân lớn.

[iv] . Đại Việt Sử Ký Toàn Thư: “Ngày 18, nhà Minh sai Tổng binh Chinh lỗ tướng quân Thái tử thái phó An Viễn hầu Liễu Thăng,Tham tướng Bảo Định bá Lương Minh, Đô đốc Thôi Tụ, Binh bộ thượng thư Lý Khánh, Công bộ thượng thư Hoàng Phúc, thổ quan Hữu bố chính sứ Nguyễn Đức Huân đem hơn 10 vạn quân và 2 vạn ngựa đánh vào cửa Pha Lũy. Vua họp các tướng bàn rằng: "Giặc vốn khinh ta, cho là ngưới nước ta nhút nhát, sợ oai giặc đã lâu, nay nghe tin đại quân sang, hẳn là ta rất hoảng sợ. Huống chi lấy mạnh nạt yếu, lấy nhiều lần ít đó là lẽ thường. Giặc không thể tính được hình thế được thua của người của mình, không thể hiểu được cơ vi qua lại của thời của vận. Vả lại, quân đi cứu nguy cấp phải lấy mau chóng làm quý, giặc nhất định phải hành quân gấp vội. Binh pháp có nói: Hành quân 500 dặm mà chỉ vội hám lợi thì sẽ què thượng tướng. Nay Liễu Thăng đến, đường sá xa xôi, quân lính tất mỏi mệt. Ta đem quân nhàn khỏe, đợi đánh quân mỏi mệt, nhất định sẽ thắng". Bèn sai bọn Lê Sát, Lê Nhân Chú, Lê Lãnh, Lê Liệt, Lê Thụ đem 1 vạn quân tinh nhuệ, 5 thớt voi, bí mật mai phục trước ở ải Chi Lăng để đợi giặc. Trước đó, Lê Lựu giữ cửa Pha Lũy, thấy giặc đến, lui giữ cửa ải . Giặc tiến đánh, Lưu lại bỏ cửa ải. Lưu lui về đóng ở Chi Lăng. Giặc lại tiến quân đánh phá uy hiếp Chi Lăng. Bọn Sát và Nhân Chú mật sai Lựu ra đánh rồi giả cách thua chạy. Giặc quả nhiên rất mừng. Ngày 20, Liễu Thăng đốc suất đại quân đuổi theo. Đến chỗ có mai phục, bọn Sát và Nhân Chú tung hết quân mai phục, bốn mặr đều nổi dậy xung vào đánh giặc. Quân giặc thua to. Chém được Liễu Thăng ở núi Mã Yên và hơn 1 vạn thủ cấp quân giặc. Ngày 25, vua lại sai Lê Lý và Lê Văn An đem 3 vạn quân tiếp đến ải núi Mã Yên. Bọn Sát và Nhân Chú chỉ huy các quân tung hết binh sĩ ra đánh giặc, chém Bảo Định bá Lương Minh tại trận. Ngày 28, Lý Khánh cũng chết. Thôi tụ và Hoàng Phúc dẫn quân miễn cưỡng tiến lên. Nhân Chú lại đánh bại bọn chúng, chém được hơn 2 vạn thủ cấp, bắt được lừa ngựa, trâu bò, quân tư khí giới nhiều không kể xiết.”

Comments