Lịch sử Cà Mau

l TRANG CHỦDIỄN ĐÀN l ĐĂNG NHẬP l SỞ GIÁO DỤC l DIỄN ĐÀN CÀ MAU l

 

 

Lời nói đầu

Phần Lịch sử

Phần Địa lý 

 

 

 

LỊCH SỬ ĐỊA PHƯƠNG TỈNH CÀ MAU

 

 

      I- MỤC ĐÍCH YÊU CẦU DẠY VÀ HỌC LỊCH SỬ ĐỊA PHƯƠNG CÀ MAU:

 

Trước tiên chúng ta cần tìm hiểu khái niệm “Lịch sử địa phương”. Theo PGS – TS Nguyễn Cảnh Minh và Đỗ Hồng Thái thì: muốn hiểu đúng khái niệm “Lịch sử địa phương” trước hết ta cần hiểu thuật ngữ “địa phương” trong Tiếng Việt. “Địa phương là những vùng, khu vực trong quan hệ với những vùng và khu vực khác trong nước”. Như vậy địa phương là những vùng đất nhất định nằm trong quốc gia có những sắc thái đặc thù riêng để phân biệt với những vùng đất khác, là bộ phận cấu thành của đất nước. địa phương hiểu theo nghĩa cụ thể, là những đơn vị chính của một quốc gia, đó là những tỉnh, thành phố, huyện, xã, thôn, bản, làng, buôn, ấp .v.v... Với nghĩa khái quát, trừu tượng, địa phương được hiểu là những vùng đất, khu vực nhất định được hình thành trong lịch sử, có ranh giới tự nhiên (không giống địa giới hành chính) để phân biệt với các vùng đất khác. Ví dụ: Miền Bắc, Miền Nam, Miền Trung, Việt Bắc, Tây Bắc, Tây Nguyên, Đồng bằng Bắc bộ, Đồng bằng Sông Cửu Long .v.v... Nhưng cũng có ý kiến quan niệm theo cách đơn giản là: tất cả những gì không phải của “Trung ương” hay “Quốc gia” đều được coi là địa phương. Như vậy thủ đô của một quốc gia hay từng khu vực của thủ đô được xem là địa phương. Từ nhận thức như vậy, ta có thể hiểu được lịch sử địa phương cũng chính là lịch sử của các làng, xã, huyện, tỉnh hay khu vực, vùng, miền.

 

Lịch sử địa phương còn bao hàm ý nghĩa lịch sử của các đơn vị sản xuất chiến đấu, các trường học, cơ quan, xí nghiệp .v.v... Xét về yếu tố địa lý, các đơn vị đó đều gắn với một địa phương nhất định, song nội dung của nó mang tính kỹ thuật, chuyên môn, do vậy có thể xếp nó vào dạng lịch sử chuyên ngành.

 

Như vậy bản thân lịch sử địa phương rất đa dạng, phong phú cả về nội dung và thể loại. Giữa lịch sử địa phương và lịch sử dân tộc có mối quan hệ đặc biệt.

 

Đây là mối quan hệ biện chứng không thể tách rời, nằm trong cặp phạm trù “Cái chung và cái riêng”. Tri thức lịch sử địa phương là biểu hiện cụ thể, sinh động, đa dạng của tri thức lịch sử dân tộc. Lịch sử địa phương là bộ phận cấu thành lịch sử dân tộc. Nói vậy không có nghĩa một công trình nghiên cứu lịch sử dân tộc là kết quả của phép tính cộng  các cuốn lịch sử địa phương.

 

Lịch sử dân tộc được hình thành trên nền tảng khối lượng tri thức lịch sử địa phương đã được khái quát và tổng hợp ở mức độ cao.

 

Trong nghiên cứu lịch sử, chúng ta thấy rằng, bất cứ một sự kiện, hiện tượng nào xảy ra đều mang tính chất địa phương, bởi nó gần với một vị trí không gian cụ thể ở một hoặc một số địa phương nhất định. Tuy nhiên những sự kiện, hiện tượng đó có tính chất, quy mô, mức độ ảnh hưởng khác nhau. Có những sự kiện, hiện tượng chỉ có tác dụng, ảnh hưởng ở một phạm vi nhỏ hẹp của địa phương, nhưng có những sự kiện, hiện tượng xảy ra có mức độ ảnh hưởng vượt khỏi không gian địa phương, mang ý nghĩa rộng đối với quốc gia, thậm  chí đối với cả thế giới. Chính vì vậy có những sự kiện lịch sử địa phương gắn liền với lịch sử dân tộc hoặc rộng hơn là lịch sử thế giới. Không chỉ riêng các nhà sử học chuyên nghiên cứu sâu về lịch sử, mỗi con người (ở mức độ khác nhau) đều có nhu cầu tìm hiểu về cuộc sống và những hoạt động của chính mình ở những khoảng thời gian và những vị trí không gian khác nhau. Tri thức lịch sử sẽ làm giàu thêm tri thức của cuộc sống con người. Chính vì lẽ đó, sự am tường về lịch sử dân tộc còn bao hàm cả sự hiểu biết cần thiết về lịch sử địa phương, hiểu biết về lịch sử của chính miền quê, xứ sở, nơi chôn nhau cắt rốn của mình, hiểu rõ mối quan hệ của lịch sử ở địa phương với lịch sử của dân tộc và rộng lớn là lịch sử thế giới.

 

-Dạy và học lịch sử địa phương Cà Mau có ý nghĩa quan trọng trong việc góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục ở trường phổ thông trong tỉnh. Thông qua việc học lịch sử địa phương, hoạt động của nhà trường có điều kiện để gắn liền với xã hội, lý luận đi đôi với thực hành.

 

Việc học lịch sử địa phương tỉnh nhà còn bồi dưỡng cho các em học sinh những kỹ năng cần thiết trong việc vận dụng tri thức lý thuyết vào thực tiễn đang đòi hỏi ở địa phương. Từ hoạt động thực tiễn đó, các em thấy được sự phát triển đa dạng sinh động, phức tạp và thú vị của lịch sử địa phương và lịch sử dân tộc, thấy được nét độc đáo, đặc thù của lịch sử địa phương tỉnh nhà, song vẫn tuân theo qui luật phát triển chung của lịch sử dân tộc và lịch sử nhân loại.

 

Hoạt động học tập nghiên cứu lịch sử địa phương tỉnh nhà sẽ như nhịp cầu nối tình cảm của nhà trường với nhân dân địa phương trong tỉnh, cũng là biện pháp để khai thác sức sáng tạo tiềm tàng của nhân dân địa phương. Nguồn tài liệu lịch sử địa phương, với những loại hình đa dạng phong phú, sinh động là cơ sở cho việc tạo những biểu tượng lịch sử và hiểu sâu sắc các khái niệm, các sự kiện, hiện tượng ở bài học lịch sử. Tri thức lịch sử địa phương tỉnh Cà Mau chúng ta sẽ có ý nghĩa giáo dục sâu sắc lòng tự hào chân chính về những truyền thống tốt đẹp của địa phương, tình yêu quê hương, xứ sở, ý thức bảo vệ giữ gìn di sản văn hoá, di tích lịch sử .v.v...

Lịch sử địa phương Cà Mau nếu được chúng ta tổ chức giảng dạy tốt ở các trường phổ thông trong tỉnh là một trong những nguồn quan trọng làm phong phú tri thức của học sinh về quê hương mình, giáo dục cho các em lòng yêu quê hương, hình thành những khái niệm về nghĩa vụ đối với quê hương, tạo cho học sinh nhận thức được mối liên hệ giữa lịch sử địa phương và lịch sử dân tộc.

 

Giảng dạy lịch sử địa phương tỉnh Cà Mau sẽ góp phần không nhỏ vào việc giáo dục tư tưởng, chính trị, lao động, đạo đức, thẩm mỹ cho học sinh của tỉnh nhà. Nó có vị trí quan trọng trong việc hình thành cho thế hệ trẻ tỉnh ta lòng yêu nước xã hội chủ nghĩa. Học sinh tự hào về đất nước, dân tộc Việc Nam, bắt đầu từ lòng tự hào về những chiến công của cha anh mình đã làm nên ở ngay trong làng xóm thân yêu khi đấu tranh chống kẻ thù xâm lược. Học sinh cũng tự hào với những thành tựu kinh tế, văn hoá, xã hội của địa phương Cà Mau chúng ta từ trước đến nay, đặc biệt trong thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội. Học sinh không những tự hào về truyền thống anh hùng, bất khuất trong đấu tranh Cách mạng mà cũng tự hào về chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong xây dựng, sản xuất, tự hào về những nghề thủ công truyền thống, về sự tài giỏi khéo léo của những nghệ nhân ở địa phương tỉnh ta đã tạo nên những sản phẩm nổi tiếng. Giới thiệu cho học sinh những nghề truyền thống, gây cho các em có ý thức bảo vệ và phát triển nghề truyền thống thủ công địa phương cũng là một trong những nội dung hướng nghiệp của bộ môn lịch sử.

 

     

      II- NỘI  DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY VÀ HỌC LỊCH SỬ  ĐỊA PHƯƠNG:

 

1-Một số yêu cầu về nội dung và phương pháp:

 

Một trong những nguyên tắc cơ bản của việc dạy học lịch sử địa phương ở trường phổ thông là thể hiện mối quan hệ giữa lịch sử địa phương với lịch sử dân tộc, “Cái riêng không tồn tại ngoài mối liên hệ với cái chung”. Đúng như vậy, việc giảng dạy lịch sử địa phương Cà Mau trong chương trình lịch sử dân tộc làm cho học sinh hiểu rõ hơn những khái niệm lịch sử chung và riêng, nhận thức những hình thái kinh tế – xã hội, các giai đoạn phát triển của lịch sử. Tài liệu lịch sử địa phương Cà Mau này sẽ giúp học sinh hiểu và giải thích được những nét riêng biệt, đặc thù trong các hiện tượng lịch sử. Điều này rất quan trọng để phát triển tư duy lịch sử của học sinh.

 

Dạy học lịch sử địa phương Cà Mau là chúng ta phải làm sao làm cho học sinh thấy rõ ý nghĩa lịch sử tiến bộ của chế độ xã hội chủ nghĩa đang được xây dựng ở khắp mọi nơi trên đất nước ta, bước đầu đem lại những thành quả to lớn, cụ thể trong việc nâng cao đời sống tinh thần và vật chất của nhân dân lao động ở địa phương mình.

 

Dạy học lịch sử địa phương Cà Mau nếu được tổ chức, chỉ đạo tốt sẽ góp phần giáo dục lòng tự hào về quê hương tỉnh nhà của học sinh. Cho nên những thành tựu trong chiến đấu và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở địa phương Cà Mau chúng ta phải làm cho học sinh thấy rõ nó cũng có ảnh hưởng đến sự thắng lợi của cách mạng cả nước. Sự hy sinh anh dũng của con em địa phương chúng ta trong sự nghiệp giữ nước đã góp phần giáo dục truyền thống tốt đẹp của cha ông cho thế hệ trẻ tỉnh nhà hiện tại và mai sau.

 

Lịch sử địa phương giáo dục học sinh lòng yêu lao động, kính trọng nhân dân lao động qua nhiều thế hệ, qua giảng dạy phải làm cho học sinh xác định nghĩa vụ bảo vệ, giữ gìn và phát triển truyền thống tốt đẹp đó của địa phương mình.

 

Việc giảng dạy lịch sử địa phương Cà Mau phải làm sao cho học sinh nắm vững hơn khái niệm khoa học hiện đại của hệ thống “Tự nhiên – con người – xã hội”, thấy được vai trò của con người tác động thiên nhiên phục vụ nhiều nhất cho con người.... Phải chỉ ra cho học sinh hiểu rõ rằng, chỉ trong chế độ xã hội chủ nghĩa, dưới sự lãnh đạo của Đảng, khi nhân dân thực sự “Làm chủ thiên nhiên – làm chủ con người – làm chủ xã hội”, thì việc cải tạo và chinh phục thiên nhiên mới góp phần tích cực vào việc phát triển lịch sử, đem lại no ấm,  hạnh phúc cho con người.

 

Dạy học lịch sử địa phương của tỉnh nhà chính là việc cụ thể hoá một cách sinh động, chi tiết những tri thức lịch sử dân tộc. Do đó những sự kiện, hiện tượng lịch sử không thể tách rời vị trí không gian cụ thể, nhưng những vị trí không gian đó có sự “thay đổi” theo cơ cấu đơn vị hành chính địa phương (chủ yếu do tỉnh ta thời gian qua đã có nhiều thay đổi do việc nhập, tách tỉnh, huyện, xã.v.v...) Chính vì vậy khi trình bày những sự kiện, hiện tượng lịch sử, cần chú ý xác định rõ vị trí không gian, địa danh lịch sử  ở thời điểm sự kiện xảy ra và ở vị trí không gian hiện tại để học sinh dễ theo dõi, hình dung, tái tạo lịch sử một cách chính xác. Như vậy sẽ có những sự kiện, hiện tượng lịch sử gắn với các đơn vị hành chính, nhưng cũng có sự kiện, hiện tượng không hẳn như vậy. Chẳng hạn, một cuộc khởi nghĩa, một trận đánh, thường liên quan tới nhiều địa phương (xét theo khung giới hành chính) khác nhau. Để giúp học sinh nắm vững vấn đề này không thể thiếu đồ dùng trực quan (có thể là bản đồ, sơ đồ, sa bàn .v.v...).

 

Khi dạy học lịch sử địa phương tỉnh nhà, giáo viên sẽ có ý kiến nhận xét, đánh giá về vai trò của cá nhân, quần chúng trong lịch sử, về sự đóng góp của địa phương tỉnh ta với toàn quốc, về mối quan hệ giữa các địa phương trong quá trình phát triển của lịch sử.v.v... Thực tế của việc dạy học cho thấy không ít giáo viên dù đã nắm vững quan điểm cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử, nhưng khi vận dụng vào các trường hợp cụ thể thường lúng túng. Việc đánh giá vai trò của cá nhân và quần chúng không thể áp đặt chủ quan, càng không thể vận dụng một cách máy móc, giáo điều quan điểm  Mácxit – Lêninnít. Lịch sử địa phương của tỉnh nhà chúng ta thường rất cụ thể và đòi hỏi khách quan, vì vậy khi nêu tên các nhân vật lịch sử ở địa phương trong tỉnh không đòi hỏi ở họ sự tiêu biểu toàn diện mà có thể là về một lĩnh vực hoạt động nào đó. Có những nhân vật có tác dụng tích cực ở một thời kỳ lịch sử này, sau lại giảm đi ở một thời kỳ khác và ngược lại (nhất là trong thời bình cũng không ít cán bộ do nhiều nguyên nhân đã bị thoái hoá biến chất...). Lại có những nhân vật có những đóng góp, cống hiến to lớn trong một thời kỳ, nhưng sau đó lại mang tác dụng tiêu cực, thậm chí có quan điểm sai lầm, phản động, hoặc không lành mạnh đối với địa phương.v.v... Đây là vấn đề hết sức phức tạp, đòi hỏi người giáo viên phải thận trọng, tỉ mỉ, khi cần thiết cần trao đổi ý kiến với các nhà khoa học, các cấp lãnh đạo địa phương để có nhận xét thỏa đáng. Vì thế, chúng ta không thể dùng ý chí chủ quan để phủ nhận sạch trơn những công lao của các nhân vật lịch sử, cần đánh giá đúng những cống hiến về từng mặt ở từng thời điểm lịch sử cụ thể. Việc nêu tên những người đã khuất đã khó, song việc lựa chọn để nêu tên những người còn sống ở địa phương càng khó hơn. Cần phải lắng nghe ý kiến rộng rãi của các tổ chức quần chúng nhân dân, mặt khác phải có quan điểm khoa học khi xem xét sự cống hiến, vai trò của họ đối với địa phương, so với người đương thời, đặc biệt là những người đi trước.

 

Theo chương trình lịch sử bậc phổ thông trung học thì nội dung ngoài phần lịch sử thế giới, chủ yếu là phần lịch sử Việt nam. Riêng phần lịch sử Việt nam nội dung chủ yếu là lịch sử dân tộc từ thời kỳ nguyên thuỷ tới nay; trong đó chương trình lịch sử cách mạng Việt Nam bao gồm những vấn đề quan trọng như :

-Phong trào cách mạng Việt Nam trong những năm trước thành lập Đảng (1925-1930).

-Đảng cộng sản Việt Nam ra đời (3.2.1930).

-Phong trào cách mạng (1930- 1931) và cuộc đấu tranh hồi phục lực lượng cách mạng.

-Cuộc vận động dân chủ (1936-1939).

-Cuộc vận động cách mạng Tháng Tám (1939-1945) và Cách mạng Tháng Tám thành công (19.8.1945).

-Cuộc đấu tranh bảo vệ và xây dựng chính quyền dân chủ nhân dân (1945-1946).

-Những năm đầu kháng chiến toàn quốc (1946-1950).

-Bước phát triển mới của cuộc kháng chiến và kháng chiến thắng lợi (1951-1954).

-Tình hình Việt Nam sau Hiệp định Giơ-ne-vơ 1954 và nhiệm vụ cách mạng trong thời kỳ mới (1954-1975).

-Cách mạng XHCN ở Miền Bắc và Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân  ở Miền nam (1954-1965).

-Nhân dân hai miền Nam-Bắc trực tiếp đương đầu với Đế quốc Mỹ xâm lược (1965-1973).

-Cuộc đấu tranh giành toàn vẹn lãnh thổ, thống nhất đất nước, đi đến thắng lợi hoàn toàn (1973-1975).

-Công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN (1975-1991).

 

Trong khi đó thì lịch sử cách mạng địa phương Cà Mau không thể tách rời với lịch sử của dân tộc, ngược lại khi giảng dạy lịch sử dân tộc giai đoạn này thì giáo viên không thể bỏ qua sự liên hệ với thực tiễn lịch sử của địa phương Cà Mau.

 

Chính vì vậy với chương trình lịch sử địa phương Cà Mau đòi hỏi phải dạy cho học sinh những nội dung chuyên về sự nghiệp cách mạng vĩ đại của Đảng bộ và nhân dân Cà Mau trong đấu tranh giải phóng dân tộc, trong hai cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp và Đế quốc Mỹ, trong xây dựng CNXH; về lòng biết ơn đối với công lao to lớn của Đảng, của Bác Hồ trong tổ chức lãnh đạo sự nghiệp cách mạng vẻ vang của dân tộc; về sự tin tưởng vào con đường đi lên CNXH mà Đảng và Bác Hồ đã chọn; bồi dưỡng lòng yêu quê hương đất nước, yêu đồng bào, yêu dân tộc Việt Nam  anh hùng, trong đó có nhân dân Cà Mau thân yêu. Khi giáo viên trình bày nội dung những sự kiện của lịch sử cách mạng dân tộc qua quá trình lịch sử bậc trung học (cấp THCS, THPT), nhất thiết phải làm sống lại quá khứ hào hùng của lịch sử cách mạng địa phương Cà Mau vào những thời kỳ này.

 

-Như vậy ngoài những bài lịch sử địa phương Cà Mau theo phân phối chương trình của Bộ giáo dục và Đào tạo vừa mới ban hành được áp dụng thực hiện từ năm 2000-2001 như : ở lớp 6 tiết 33 (Tham quan hoặc giới thiệu một di tích lịch sử gần nhất ở địa phương); ở lớp 7 tiết 33; ở lớp 8 tiết 65, 66; ở lớp 9 tiết 64, 65, 66; ở lớp 11 tiết 33. Chúng ta tái hiện lịch sử cách mạng nói chung có thể minh hoạ bằng thực tiễn của địa phương Cà Mau. Thật vậy, trong suốt quá trình lịch sử dân tộc bậc trung học với mỗi sự kiện, hiện tượng đều có liên quan mật thiết với địa phương. Chính vì vậy và cũng thông qua đó chúng ta tổ chức dạy và học lịch sử đạt yêu cầu tạo hình ảnh một sự vật cụ thể, vừa tạo biểu tượng về không gian, thời gian, hoàn cảnh diễn ra sự kiện lịch sử và những nhân chứng lịch sử, vừa liên hệ thực tế với nội dung đó bằng những vấn đề thuộc về lịch sử cách mạng địa phương Cà Mau.

 

Trong nhà trường dạy cho học sinh học lịch sử là để các em hình dung rõ ràng các giải thích đúng, có cơ sở khoa học về lịch sử, biến cố lịch sử. Như chúng ta biết là các sự kiện, hiện tượng lịch sử không phải xuất hiện một cách ngẫu nhiên là mà nó có nguyên nhân và tuân theo những qui luật nhất định. Do đó, khi dạy lịch sử người giáo viên phải có nhiệm vụ giúp cho học sinh nắm được bản chất các sự kiện lịch sử rút ra từ các bài học lịch sử. Để thực hiện được những yêu cầu này ngoài những phương pháp đặc trưng bộ môn thì việc gắn với những sự kiện lịch sử địa phương Cà Mau là hết sức quan trọng. Điều quan trọng là giáo viên không áp đặt những kết luận có sẵn trong sách giáo khoa mà cần tổ chức bài học thành những vấn đề học tập, tìm hiểu sự kiện lịch sử có liên quan ở địa phương tỉnh nhà. Từ đó giúp học sinh độc lập suy nghĩ, mạnh dạn trình bày ý kiến riêng của mình, có thể học sinh đánh giá, nêu ra nhiều ý kiến khác nhau xuất phát từ sự hiểu biết những sự kiện đó ở địa phương khác nhau trong tỉnh. Chính việc tổ chức cho học sinh tìm hiểu, thảo luận với các tư liệu lịch sử địa phương của mình sẽ giúp cho chúng ta giáo dục tốt hơn về truyền thống cách mạng địa phương cho học sinh và cũng nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy bộ môn, thực hiện tốt việc đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng tích cực lấy học sinh làm  trung tâm. Lịch sử là những sự kiện đã đi qua nhưng không biến mất mà vẫn còn để lại dấu vết của nó qua ký ức của nhân loại, của các nhân chứng lịch sử, qua những thành tựu văn hoá vật chất, qua các hiện tượng lịch sử, qua các bia, đền, tượng đài, các công trình văn hóa, qua sách báo, qua tranh ảnh, qua các ngành nghề truyền thống địa phương... Chỉ có trên cơ sở những chứng cứ vật chất nói trên mới có sự nhận thức và trình bày đúng đắn về lịch sử. để thực hiện tốt yêu cầu trên và tổ chức dạy lịch sử địa phương cho học sinh, không có hình thức nào hữu hiệu bằng việc chúng ta tổ chức cho :

-Các nhân chứng lịch sử, các nhân vật lịch sử đến kể lại cho học sinh các vấn đề có liên quan đến các sự kiện lịch sử cách mạng địa phương.

-Tổ chức cho học sinh đi học tập ở hiện trường, ở các bảo tàng lịch sử địa phương, ở các nhà truyền thống cách mạng địa phương (xã, huyện, tỉnh).

-Tổ chức cho học sinh đi tham quan các di tích lịch sử địa phương.

-Tổ chức sưu tầm các sử liệu, tranh ảnh, hiện vật có liên quan đến lịch sử địa phương.

-Tổ chức cho học sinh đi viếng các nghĩa trang liệt sĩ, các nhà tưởng niệm, các bia ghi công, các tượng đài, các anh hùng liệt sĩ ở địa phương (xã, huyện, tỉnh).

-Tổ chức học sinh đi viếng các nhân vật gắn liền với lịch sử địa phương, các anh hùng, các Bà mẹ Việt Nam anh hùng còn sống.

Vì vậy trong phạm vi đề tài này, chúng tôi đề xuất một vài hoạt động ngoại khoá trong việc dạy và học lịch sử địa phương sẽ được trình bày ở nội dung tiếp theo.

 

2-Tổ chức thông qua hoạt động tham  quan học tập:

 

Trong công cuộc đổi mới kinh tế - xã hội của đất nước nói chung và của giáo dục - đào tạo nói riêng thì hình thức giáo dục ngoài nhà trường là một nhu cầu hoạt động xã hội, hoạt động ngoại khoá, tham quan học tập, đặc biệt là hoạt động tham quan học tập lịch sử cách mạng địa phương. Thực tế đã qua, các hoạt động trên đã và đang được khơi dậy mạnh mẽ trong các nhà trường. Tuy nhiên yêu cầu về chất lượng, nội dung hiệu quả giáo dục, phương pháp quản lý, tổ chức là những vấn đề được quan tâm và đặt ra ở các nhà trường phổ thông. Vì vậy cần phải được quản lý, tổ chức, điều hành hoạt động này theo chương trình cụ thể, có kế hoạch, phương pháp tổ chức và nội dung cụ thể bao gồm :

1-Tham quan các di tích lịch sử, lịch sử văn hoá, di tích văn hóa, văn hoá cổ, di tích lịch sử cách mạng ở địa phương trong hai thời kỳ kháng chiến trên địa bàn trường (xã, huyện, tỉnh).

2-Thăm và đặt hoa, dâng hương đài tưởng niệm lịch sử các nghĩa trang liệt sĩ hoặc các anh hùng liệt sĩ mà trường mang tên, địa phương mang tên tại địa phương (xã, huyện, thị, tỉnh).

3-Tham quan bảo tàng cách mạng Cà Mau, các nhà truyền thống cách mạng địa phương.

4-Tham quan các khu căn cứ cách mạng trong hai thời kỳ kháng chiến trong tỉnh.

5-Thăm  giao lưu với các đơn vị quân đội ở địa phương, đặc biệt là các đơn vị anh hùng trong thời kỳ kháng chiến.

6-Thăm các cá nhân anh hùng, các Bà mẹ Việt Nam anh hùng, các nhân chứng lịch sử, các gia đình anh hùng liệt sĩ ở địa phương.

7-Tham quan Hòn khoai, đài tưởng niệm các liệt sĩ, mộ các liệt sĩ khởi nghĩa Hòn khoai.

8-Tổ chức cho học sinh gặp gỡ giao lưu, trao đổi về truyền thống cách mạng địa phương, nghe phát biểu giáo huấn về yêu cầu nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội địa phương của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các ngành quân sự, công an, văn hoá thông tin, các tổ chức đoàn thể các cấp ở địa phương (xã, huyện, tỉnh).

9- Tổ chức cho học sinh tham quan các cơ sở sản xuất ngành nghề thủ công truyền thống, tham gia các hoạt động, các cuộc vận động, các phong traò ở địa phương như : phong trào đền ơn đáp nghĩa, cuộc vận động xây dựng nhà tình nghĩa, chăm sóc, thăm nom các gia đình liệt sỹ, thương binh, những Bà mẹ Việt nam  anh hùng.

10-Tổ chức cho học sinh gặp gỡ, giao lưu, trao đổi, nghe kể chuyện chiến đấu, chuyện lịch sử, chuyện sản xuất với các anh hùng lao động, anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, các nhân chứng lịch sử, các nhà nghiên cứu, các nhà khoa học, nhà văn, nhà báo, các nghệ nhân và những người tiêu biểu khác trong phong trào xây dựng, sản xuất và bảo vệ tổ quốc ở địa phương.

 

3-Tổ chức học tập thông qua các cuộc thảo luận, hái hoa học tập.

 

Trong quá trình tổ chức học tập lịch sử địa phương cho học sinh, căn cứ vào mục đích và yêu cầu của từng nội dung mà chúng ta có những hình thức dạy học khác nhau. Trong cuộc sống và hoạt động bản thân của học sinh cũng thường đặt ra những câu hỏi vì sao ? Tại sao ? Nguyên nhân nào ? Do đâu ? Làm thế nào ? Quan hệ ra sao ? Như thế nào ? ở đâu ? Do ai ?...

Căn cứ vào những vốn hiểu biết đã được trang bị, các em sẽ tìm kiếm những câu trả lời thích hợp. Chúng ta biết rằng quá trình nhận thức của con người luôn đi từ chưa biết đến biết, từ biết ít đến biết nhiều, từ cảm tính đến lý tính, từ kinh nghiệm đến lý luận. Đó chính là những nấc thang giúp cho học sinh đi sâu vào bản chất của sự vật, hiện tượng. Mặt khác vì học sinh luôn luôn phải đáp ứng những vấn đề của cuộc sống, của hiện thực khách quan mà các học sinh này chưa sáng tỏ trên cơ sở của mối liên hệ với những vấn đề đã biết, đã nắm vững. Đối với việc tổ chức học tập lịch sử địa phương cho học sinh thì với việc tổ chức hình thức thảo luận, trao đổi đàm thoại, hái hoa học tập sẽ giúp học sinh nắm vững kiến thức một cách thiết thực, gắn bó với cuộc sống hiện tại và tương lai của học sinh. Qua đó học sinh sẽ hình thành và phát triển tư duy độc lập sáng tạo. Biết diễn đạt được tư tưởng, biết khái quát, lập luận trên cơ sở những hiểu biết của mình về lịch sử cách mạng địa phương. Từ đó chúng ta có thể đánh giá được kết quả lĩnh hội về lĩnh vực giáo dục này mà có những điều chỉnh và bổ sung. Vì vậy hình thức tổ chức hoạt động thảo luận, trao đổi, đàm thọai, hái hoa học tập trong học sinh là một trong những hình thức cần thiết và quan trọng trong việc dạy lịch sử địa phương cho học sinh.

Để thực hiện tốt hoạt động nêu trên nhằm đạt hiệu quả cao trong giáo dục, khi tổ chức chúng ta cần lưu ý:

a-Đối với các buổi thảo luận, dạ hội lịch sử:

-Vấn đề được đưa ra thảo luận cần liên hệ gắn bó với những ngày lễ kỷ niệm lớn của địa phương, của cả nước, gắn với các chủ điểm giáo dục hàng tháng, liên hệ đến nội dung của bài học lịch sử hoặc các bộ môn khoa học xã hội khác.

-Đề tài phải nằm trong nội dung lịch sử của địa phương, là một chủ đề riêng hoặc chủ đề tổng hợp, có thể có nhiều tài liệu để học sinh tham khảo hoặc đi thực tế điều tra khảo sát.

Thí dụ: nhân ngày 13/12 hàng năm là ngày truyền thống của tỉnh Cà Mau thì nên chọn ngay đề tài về cuộc khởi nghĩa Hòn Khoai 13/12/1940 hoặc chọn đề tài nói về nhà giáo- nhà báo- nhà văn- nhà thơ Phan Ngọc Hiển, người tổ chức thắng lợi khởi nghĩa Hòn Khoai.

Nhân kỷ niệm ngày thành lập Đảng 03/2 có thể chọn đề tài sự thành lập Chi bộ Đảng đầu tiên ở Cà Mau hoặc đề tài về các chiến sĩ cộng sản kiên trung ở Cà Mau.

Nhân kỷ niệm ngày Miền Nam  hoàn toàn giải phóng (30/4/1975) nên chọn đề tài về cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mùa xuân năm 1975 tại Cà Mau.

Nhân ngày kỷ niệm thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam  22/12 có thể chọn đề tài về truyền thống đấu tranh vẻ vang của lực lượng vũ trang Cà Mau hoặc các chiến thắng vang dội của lực lượng vũ trang Cà Mau trong thời kỳ chống Mỹ ( Đầm Dơi, Cái Nước, Chà Là).

b-Đối với các buổi thi theo hệ thống câu hỏi:

Người chủ trì cũng phải xác định mục đích, yêu cầu nhiệm vụ của cuộc thi phần thảo luận nêu trên. Tuy nhiên về hình thức và tính chất thì có khác hơn so với buổi thảo luận, ở đây giáo viên nêu sẵn một hệ thống câu hỏi có chủ đích và trình tự nêu ra để học sinh thi đua trả lời  theo các hình thức chia tổ, đội hoặc nhóm để thi với  nhau, có thể trong đội hoặc đội bạn bổ sung cho câu trả lời hoàn chỉnh hoặc các câu hỏi độc lập xung quanh một chủ đề giáo dục cho trước để học sinh hái hoa hoặc bốc thăm ngẫu nhiên và trả lời theo yêu cầu câu hỏi đặt ra. Cũng có thể có câu hỏi dưới dạng học sinh tự nêu vấn đề có liên quan với chủ đề để tự trình bày hoặc cho đội bạn trả lời. Do đó, trong hình thức trên vấn đề thiết lập mối quan hệ giáo dục và lĩnh hội không phải chủ yếu giữa giáo viên và học sinh mà còn có mối quan hệ giữa học sinh với học sinh. Đương nhiên trong bất kỳ hình thức giáo dục nào thì giáo viên vẫn giữ vai trò chủ đạo.

4-Tổ chức học tập thông qua hình thức kể chuyện.

Kể chuyện lịch sử là hình thức giáo dục, trong đó người trình bày dùng lời nói để truyền đạt các nội dung theo chủ đề nhất định. Qua đó học sinh tiếp thu một cách có ý thức. Đây là phương pháp giáo dục cổ truyền được sử dụng phổ biến trong các nhà trường phổ thông hiện nay. Riêng với việc học tập lịch sử địa phương thì phương pháp này giữ vai trò hết sức quan trọng, bởi vì qua phương pháp này học sinh có thể lĩnh hội tri thức được giáo dục có hệ thống theo yêu cầu của nội dung cơ bản cần giáo dục. Mặt khác còn được báo cáo viên mở rộng có giới hạn những tri thức cần thiết khác. Rõ ràng là trong thời gian nhất định, chỉ dựa vào chủ yếu là lời nói của giáo viên hoặc báo cáo viên, học sinh có thể lĩnh hội được một khối lượng kiến thức theo yêu cầu. Đồng thời với hình thức và phương pháp này giáo viên hoặc báo cáo viên sẽ chủ động về mặt thời gian, chủ động trình bày nội dung cần giáo dục một cách có hệ thống theo một lôgic chặt chẽ hướng vào những yêu cầu thiết thực nhất trong giáo dục truyền thống cách mạng địa phương cho học sinh.

Khác với các bộ môn khoa học xã hội khác trong nhà trường phổ thông, đối với bộ môn lịch sử địa phương thì hiệu quả thực sự của việc giáo dục là ở chỗ trên cơ sở học sinh hiểu và nắm  chắc được các kiến thức cơ bản và thiết thực, học sinh biết vận dụng vào việc nhìn nhận và giải quyết vấn đề trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn. Cho nên việc lựa chọn nội dung để kể chuyện là một yêu cầu hết sức cần thiết. Do đó, đề tài thuyết trình bao giờ cũng phải có trọng tâm, trọng điểm, phải nêu được bản chất sự vật, hiện tượng và mối quan hệ của chúng với nhau hoặc với các sự vật, hiện tượng khác, tránh lan man, quá chi tiết để giúp học sinh tư duy năng động và sáng tạo.

Về hình thức có thể tổ chức cho học sinh nghe kể chuyện về lịch sử địa phương thông qua các buổi sinh hoạt truyền thống, sinh hoạt chủ điểm, sinh hoạt kỷ niệm các ngày lễ lớn, sinh hoạt dưới cờ ... Tùy theo điều kiện và cơ sở vật chất của nhà trường hoặc nơi tổ chức kể chuyện lịch sử cho học sinh mà có thể bố trí số lượng cho học sinh.

Thí dụ: Nhân ngày truyền thống tỉnh Cà Mau có thể chọn đề tài Nhà giáo Phan Ngọc Hiển và khởi nghĩa Hòn khoai 13/12/1940. Địa điểm có thể là dưới sân cờ, ở trong hội trường, ở trong lớp học hoặc ở thực địa nơi có liên quan đến sự kiện trên. Kiến thức cơ bản cần đạt là nội dung và trong đề tài này khi thuyết trình báo cáo viên phải bám sát vào nội dung đó để giúp học sinh hiểu và nắm vững. Trên cơ sở đó báo cáo viên sẽ giúp học sinh có thể xác định được con đường thực hiện lý tưởng cách mạng của nhà giáo cộng sản Phan Ngọc Hiển và những đồng đội của Ông đã chấp nhận hy sinh cho độc lập dân tộc, cho quê hương đất nước. Đồng thời qua đó giúp học sinh hiểu đúng đắn con đường mà Đảng ta, cả dân tộc ta trong đó có những con người ưu tú của quê hương đã chọn là đấu tranh cách mạng giải phóng đất nước, thà hy sinh tất cả chứ không chịu làm nô lệ, làm kẻ mất nước ... Bằng vào ngần ấy sự kiện làm cho các em tự hào với những người con của quê hương, với khởi nghĩa Hòn khoai, với những cống hiến của địa phương cho cách mạng cả nước dưới sự lãnh đạo của Đảng.

 

 

     III-CHƯƠNG TRÌNH LỊCH SỬ ĐỊA PHƯƠNG CÀ MAU:

 

Gồm có 5 chương và 21 bài cụ thể như sau:

 

Chương I: Cà Mau vùng đất con người.

 

Bài 1: Quá trình hình thành tỉnh Cà Mau.

Bài 2: Cà Mau-thiên nhiên của con người.

 

Chương II: Cà Mau trong thời kỳ 1930-1945:

 

Bài 3: Sự hình thành chi bộ đầu tiên Cà Mau.

Bài 4: Đại hội thành lập Quận ủy Cà Mau tiến tới thành lập Tỉnh ủy Cà Mau.

Bài 5: Khởi nghĩa Hòn khoai 13/12/1940.

Bài 6: Cách mạng tháng 8  ở Cà Mau.

 

Chương III: Cà Mau trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp.

 

Bài 7: Tình hình Cà Mau sau Cách mạng tháng tám.

Bài 8: Mặt trận Tân Hưng ở Cà Mau.

Bài 9: Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân Cà Mau.

Bài 10: Cà Mau khu tập kết 200 ngày đêm.

 

Chương IV: Cà Mau trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ.

 

Bài 11: Phong trào đấu tranh chính trị của nhân dân Cà Mau sau Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954.

Bài 12: Phong trào đồng khởi ở Cà Mau với sự kiện Làng rừng.

Bài 13: Nhân dân Cà Mau đấu tranh chống Mỹ- Ngụy (1960-1968).

Bài 14: Chiến Thắng Đầm Dơi- Cái Nước- Chà Là.

Bài 15: Nhân dân Cà Mau những ngày thương nhớ Bác.

Bài 16: Nhân dân Cà Mau kiên cường chống “Bình định”, bảo vệ quê hương.

Bài 17: Nhân dân Cà Mau đấu tranh chống Mỹ –Ngụy (1969-1973).

Bài 18: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy muà xuân năm 1975 ở Cà Mau.

 

Chương V: Cà Mau thời kỳ sau giải phóng đến nay.

 

Bài 19: Cà Mau những năm đầu giải phóng.

Bài 20: Những thành tựu của tỉnh Minh Hải (Cà Mau-BạcLiêu) sau 22 năm giải phóng (1975-1996).

Bài 21: Tỉnh Cà Mau sau 4 năm tái lập (1997-2000).

 

 

CHƯƠNG I

CÀ MAU VÙNG ĐẤT CON NGƯỜI

_________

 

 

Bài 1

QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH TỈNH CÀ MAU

 

I- QUÁ TRÌNH KHẨN HOANG ĐẤT CÀ MAU.

 Cà Mau là một tỉnh được khai khẩn muộn màng nhất so với các tỉnh trong nước. Sách Gia định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức có chép:

“Thời Gia Long, những giồng đất cao ráo ở ven sông Ông Đốc, sông Gành hào, sông Bảy háp và một vài phụ lưu mới có người khai khẩn, lập thành xóm, ấp.  Tuy vậy, đến thời Tự Đức, Cà Mau vẫn là vùng rừng Đước, Vẹt, Tràm không mấy ai đến lập nghiệp vì thiếu nước ngọt và ruộng quá nhiều phèn”.

Đến đầu thế kỷ XVII, vùng đất Cà Mau dân cư vẫn thưa thớt, đất đai còn hoang vu.

Trước khi Nhà Nguyễn cai quản, vùng đất Cà Mau đã từng thuộc vào Phù Nam, Chân Lạp.

Cuối thế kỷ XVII, Mạc Cửu dẫn một số người Trung Hoa chống lại Triều đình Mãn Thanh, phục Minh đến Chân Lạp và vùng Hà Tiên lập nên 7 xã trong đó có 2 xã cực nam là Rạch Giá và Cà Mau.

Trước nay có bị giặc xâm lược, ông đã cáo phong và dâng nạp phần đất hai xã để được Nhà Nguyễn che chở vào năm 1714.

Mạc Thiên Tứ, con của Mạc Cửu đã vâng lệnh Triều đình Chúa Nguyễn lập ra Đạo Long Xuyên (ở vùng đất Cà Mau ngày nay), tổ chức mang tính chất quân sự.

Đến năm Gia Long thứ 7 (1808), Đạo Long Xuyên được đổi ra Huyện Long Xuyên thuộc Trấn Hà Tiên (lúc đó đất Nam bộ là 3 Dinh : Dinh Trấn Biên, Dinh Phiên Trấn, Dinh Long Hồ và một Trấn Hà Tiên). Năm Minh Mạng thứ 6 (1825), Nhà Nguyễn đã đặt một quan Tri Huyện để cai trị.

Là vùng đất mới được hình thành vài trăm năm nhưng cũng để lại một số địa danh lịch sử gắn liền với Triều đại Nhà Nguyễn như: nền Công chúa, Ao Kho, Lán tượng, Rạch Long ẩn, Xóm Long ẩn, Cạnh đền...

Cùng với bước đi của lịch sử, Nam bộ được chia thành 6 tỉnh (Lục tỉnh Nam kỳ: Gia Định, Biên Hoà, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên).

Tỉnh Hà Tiên có 3 Phủ, 7 Huyện. Cà Mau thuộc Huyện Long Xuyên, Phủ An Biên (Hà Tiên), Tỉnh Hà Tiên.

Cùng với người Khơ me, người Hoa, người Việt (Kinh) đã khai khẩn vùng cực nam  của Tổ quốc. Họ đã đổ biết bao mồ hôi, công sức và có khi cả máu của mình để tồn tại trước một vùng đất giàu tiềm năng, song cũng không mấy thuận lợi “Dưới sông Sấu lội, trên rừng Cọp  um” hay một vùng nước đen “ Tuk – Kh mâu”.

 

II- SỰ THÀNH LẬP TỈNH CÀ MAU QUA CÁC THỜI KỲ LỊCH SỬ:

1-Trước năm 1976:

Để ổn định về hình thức trong việc khai thác thuộc địa lần thứ nhất, Pháp chia Nam kỳ ra 20 tỉnh. Ngày 18/02/1882, một phần đất Bạc Liêu thuộc tỉnh Sóc Trăng, một phần đất Cà Mau thuộc Rạch Giá được hợp lại thành tỉnh Bạc Liêu.

Ngày 09/03/1956, theo sắc lệnh 143/VN, Chính quyền Sài Gòn lấy quận Cà Mau, quận Quảng Xuyên và 4 xã của quận Giá Rai: Định Thành, Hoà Thành, Tân Thành, Phong Thạnh Tây lập thành tỉnh Cà Mau.

Ngày 22/10/1956, Chính quyền Sài Gòn ra sắc lệnh 143/VN ?? đổi tên tỉnh Cà Mau thành tỉnh An Xuyên.

Về phía chính quyền cách mạng thì lập thành 2 tỉnh Cà Mau và Bạc Liêu dựa theo sự phân định địa giới hành chính của địch để thuận tiện cho lãnh đạo phong trào cách mạng ở mỗi nơi.

2-Từ 1976 – 1996:

Sau ngày Miền Nam hoàn toàn giải phóng, tháng 02/1976, Chính phủ lâm thời Cộng hoà Miền Nam Việt Nam ra Nghị định hợp nhất một số tỉnh ở Miền Nam. Hai tỉnh Cà Mau (An Xuyên) và Bạc Liêu thành tỉnh Minh Hải. Tỉnh Minh Hải có 2 thị xã: thị xã Cà Mau và thị xã Minh Hải và có 7 huyện: Vĩnh Lợi, Hồng Dân, Giá Rai, Châu Thành, Thới Bình, Trần Văn Thời, Ngọc Hiển.

Minh Hải là tỉnh rộng nhất đồng bằng Sông Cửu Long và rộng thứ nhì ở Nam Bộ.

Ngày 11/7/1977, Hội đồng chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ra quyết định số 181-CP giải thể huyện Châu Thành. Các xã của huyện này được nhập vào các huyện Giá Rai, Trần Văn Thời và Thới Bình.

Ngày 29/12/1978, Hội đồng chính phủ ra quyết định số 326-CP lập thêm 6 huyện mới: Phước Long, Cà Mau, U Minh, Phú Tân, Cái Nước, Năm Căn. Số huyện trong tỉnh tăng lên 12 huyện.

Ngày 30/8/1983, Hội đồng Bộ trưởng ra quyết định số 94/HĐBT giải thể huyện Cà Mau, các xã của huyện này được sáp nhập vào thị xã Cà Mau và các huyện Giá Rai, Thới Bình, Cái Nước. Tỉnh còn lại 2 thị xã và 11 huyện.

Ngày 17/5/1984, Hội động Bộ trưởng ra nghị định số 75-HĐBT đã đổi tên thị xã Minh Hải là thị xã Bạc Liêu. Hợp nhất huyện Hồng Dân và huyện Phước Long lấy tên là huyện Hồng Dân. Hợp nhất huyện Cái Nước và huyện Phú Tân thành huyện Cái Nước.

Ngày 17-18/12/1984 với hai quyết định của Hội đồng Bộ trưởng đổi tên huyện Năm Căn (cũ) thành huyện Ngọc Hiển (mới). Đổi tên huyện Ngọc Hiển (cũ) thành huyện Đầm Dơi (mới). Chuyển tỉnh lỵ tỉnh Minh Hải từ thị xã Bạc Liêu về thị xã Cà Mau.

Như vậy tỉnh Minh Hải có 2 thị xã Cà Mau và Bạc Liêu và 9 huyện: Vĩnh Lợi, Hồng Dân, Giá Rai, Thới Bình, U Minh, Cái Nước, Trần Văn Thời, Đầm Dơi, Ngọc Hiển.

3-Thời kỳ từ cuối năm 1996 đến nay:

Ngày 06/11/1996, Quốc hội khóa IX, trong kỳ họp thứ X đã phê chuẩn việc tách tỉnh Minh Hải ra làm 2 tỉnh là Cà Mau và Bạc Liêu và thực hiện từ ngày 01/01/1997.

Tỉnh Bạc Liêu hiện nay có diện tích 2.484,96 km2  với dân số 772.078 người, gồm 1 thị xã (Bạc Liêu) và 3 huyện (Vĩnh Lợi, Giá Rai, Hồng Dân).

Tỉnh Cà Mau hiện nay có diện tích 5.211 km2 với dân số 1.133.747 người, gồm 1 Thành Phố (Cà Mau) và 6 huyện (Thới Bình, U Minh, Trần Văn Thời, Cái Nước, Đầm Dơi, Ngọc Hiển).

Cà Mau là vùng đất mới cả về địa chất và lịch sử, nhưng là vùng đất đầy tiềm năng, con người Cà Mau được hội nhập khi xưa đi mở đất và nói như Ông Võ Văn Kiệt (Cố vấn BCH Trung ương Đảng) phát biểu tại Đại hội lần thứ III, tỉnh Đảng bộ Minh Hải tháng 07/1983: “Là một tỉnh có rất nhiều bè bạn. Mảnh đất hào hiệp và phóng khoáng này đã tiếp hàng vạn người phiêu bạt đi tìm cuộc sống trước đây. Trong 2 cuộc kháng chiến hàng vạn người khắp nước đã về đây chiến đấu và ngã xuống tại đây, để lại đây biết bao là kỷ niệm”.

Cà Mau là vùng đặc biệt về lịch sử như Ông Võ Văn Kiệt đã nhận xét. Cà Mau là vùng đất có cả biển Đông và biển Tây. Tiềm năng của rừng của đất rất lớn. Rừng ngập mặn có giá trị trên thế giới về hệ sinh thái đứng sau rừng Amazon. Biển Cà Mau cũng đầy hứa hẹn của hải sản và đầu khí trong tương lai.

Câu hỏi:

1-Vùng đất Cà Mau được khai khẩn như thế nào?

2-Tỉnh Cà Mau được thành lập như thế nào?

3-Khái quát giai đoạn lớn của tỉnh Cà Mau?

4-Thực hành cho học sinh sưu tầm các tư liệu, mẩu chuyện ở địa phương liên quan đến quá trình khai khẩn đất Cà Mau.

5-Thực hành cho học sinh tìm hiểu nguồn gốc một địa danh gắn với quá trình phát triển tỉnh Cà Mau.

 

 

Bài 2:

CÀ MAU – THIÊN NHIÊN VÀ CON NGƯỜI

 

I-VÀI  NÉT VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN CỦA TỈNH CÀ MAU:

Cà Mau là tỉnh cực Nam của Tổ quốc, là phần mũi của bán đảo Cà Mau. Có ranh giới chung với 2 tỉnh Kiên Giang và Bạc Liêu; giáp biển Đông và vịnh Thái Lan.

+Bắc giáp tỉnh Kiên Giang.

+Nam giáp biển Đông.

+Đông giáp tỉnh Bạc Liêu và biển Đông.

+Tây giáp với vịnh Thái Lan.

Về hành chính tỉnh có một Thành Phố (Cà Mau) và 6 huyện: Thới Bình, U Minh, Cái Nước, Trần Văn Thời, Ngọc Hiển, Đầm Dơi. Gồm 82 xã, phường, thị trấn. (tính đến thời điểm cuối năm 2000).

Cà Mau có khí hậu cận xích đạo, nắng nóng và mưa nhiều, độ ẩm cao, nhiệt độ ít thay đổi. Nhiệt độ trung bình là 26oc, biển từ ba phía nên khí hậu ôn hoà, ít khi xảy ra bão lụt. Cà Mau có hai mùa: mùa khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10. Có số giờ nắng cao: Năm 1968 là 2.498 giờ. Năm 1970 là 2.116 giờ. Lượng mưa năm cao nhất là 2.945 mm, năm 1979 và năm thấp nhất là 1.446 mm năm 1942.

Cà Mau được hình thành của quá trình bồi tụ phù sa sông Cửu Long tạo nên. Hai dòng hải lưu và biển Đông và vịnh Thái Lan đón nhận phù sa của sông Cửu Long bồi đắp dần theo năm tháng tạo nên vùng đất cực kỳ màu mỡ. Đồng thời cũng tạo một bãi bồi là nơi quan trọng để tôm cá và các sinh vật biển sinh sản và phát triển, tạo ra ngư trường lý tưởng ở biển Cà Mau.

Đồng bằng Cà Mau màu mỡ và bằng phẳng, độ dốc không lớn, độ cao từ 0,5 đến 3m so với mực nước biển, đưa nông nghiệp của tỉnh Cà Mau đạt gần một triệu tấn lương thực trong những năm qua. Cà Mau không phải chỉ độc canh của cây lúa mà các loại cây hoa màu, cây lương thực cũng rất phát triển, rau, đậu bí, dừa, đay (bố). Trong thời gian qua đã xuất hiện một số trái cây đặc sản của Cà Mau như dâu Cái Tàu, dưa hấu Cái Keo.

Ngành chăn nuôi thuộc vào hệ rừng ngập nước gồm có rừng đước (rừng mọc ở bãi bồi nước mặn và nước lợ) ở các huyện Cái Nước, Ngọc Hiển, Đầm Dơi là chủ yếu. Rừng tràm (rừng mọc ở nước ngọt và nước lợ) chủ yếu là các huyện U Minh, Thới Bình, Trần Văn Thời. Rừng đước và rừng tràm nối tiếp nhau bao quanh lấy mũi Cà Mau từ Đông sang Tây. Ngoài ra còn những “lõm” rừng tràm mọc rãi rác. Rừng sát của mũi Cà Mau đứng thứ nhì trên thế giới về tầm quan trọng và diện tích, chỉ đứng sau rừng sát bên bờ sông Amazon của châu Mỹ La Tinh.

Năm 1930, diện tích rừng ở Cà Mau – Bạc Liêu (mà chủ yếu ở Cà Mau) chiếm khoảng 300.000 ha. Qua chiến tranh tàn phá bởi chất độc hoá học, bom  đạn của kẻ thù, nạn cháy rừng và sự tác động của con người, ngày nay chúng ta còn lại gần 200.000 ha trong đó có một số diện tích là trồng mới.

Cà Mau có mật độ kênh rạch, sông ngòi như mạng nhện, mật độ cao nhất trong cả nước. Có những con sông lớn, sâu dẫn phù sa đến mọi nơi, sông chảy ra vịnh Thái Lan như sông “Trèm Trẹm” Trẹm, rạch Cái Tàu, sông Ông Đốc, sông Bảy Háp... Sông chảy ra biển Đông như sông Bờ Kè, sông Gành Hào... Hệ thống kênh đào như kênh Cà Mau-Bạc Liêu, Cà Mau-Phụng Hiệp, kênh đào Mương Điều, kênh 16.

Thuận lợi về giao thông đường thủy, lại là sự khó khăn về giao thông đường bộ. Vì đất thấp, sông ngòi nhiều. Hiện nay tỉnh Đảng bộ cùng Chính quyền và nhân dân đã hoàn thành xóa cầu khỉ và đang bê tông hoá đường nông thôn, đưa điện về đến được các xã và tận mũi đất.

Cà Mau được thiên nhiên ưu đãi về tôm cá và thủy hải sản, là tỉnh có diện tích nuôi trồng thủy hải sản lớn nhất cả nước.

Thiên nhiên ưu đãi, nơi đất lành chim đậu, Cà Mau có nhiều sân chim, vườn chim. Ngay tại trung tâm Thành Phố Cà Mau cũng có vườn chim tại Lâm Viên 19/5.

Khai thác, bảo vệ và phát triển tài nguyên thiên nhiên đang được Chính quyền và Đảng bộ các cấp cũng như mỗi người dân Cà Mau rất quan tâm.

Ngoài tiềm năng đã nêu còn một tiềm năng to lớn là nguồn dầu khí ngoài biển khơi của Cà Mau mà tương lai gần nay mai sẽ là khu công nghiệp lớn, khu công nghiệp Khí, Điện, Đạm Khánh An được xây dựng sẽ góp phần làm giàu thêm cho Cà Mau và Tổ Quốc.

 

II- DÂN CƯ VÀ CON NGƯỜI CÀ MAU:

-Đất Cà Mau là nơi hội tụ của dòng người  mở đất. Họ đến đây từ nhiều miền quê khác nhau, nhiều hoàn cảnh khác nhau, kể cả hoàn cảnh của đất nước như người Hoa.

Có 3 dân tộc đến sớm và chủ yếu ở Cà Mau là dân tộc Kinh (người Việt), người Khơme và người Hoa. Trong đó người Kinh (Việt) chiếm 92,2%, người Khơme chiếm 4,1% và người Hoa chiếm 3,3%. Ngoài ra một số dân tộc khác mới tới sau này như người Chăm, Thái, Nùng, Mường... từ vài ba thập kỷ trở lại đây.

Người Hoa cũng rời bỏ quê hương Tổ quốc vì họ không chấp nhận chế độ phong kiến nhà Mãn Thanh.

Người Khơme do cuộc chiến tranh, ngoại xâm và nội chiến đã đẩy một bộ phận người Khơme xuống đất Cà Mau.

 

III-TIỀM NĂNG CHÍNH CỦA CÀ MAU :

Cà Mau có 3 tiềm năng chính là Nông – Lâm – Ngư, đây là một tỉnh có được thiên nhiên ưu đãi. Ngoài ra còn phải kể đến thế mạnh của ngành du lịch sinh thái, ngành dầu khí trong tương lai.

1-Về nông nghiệp :

-Là tỉnh đất đai màu mỡ, được hình thành từ phù sa châu thổ, rất thích nghi với điều kiện trồng các loại cây: lúa, hoa màu, cây công nghiệp, mưa thuận gió hòa, rất ít gió bão.

Về cây lúa phần lớn trồng một vụ, nay đã có nhiều vùng thuộc thành phố Cà Mau, Thới Bình, Trần Văn Thời trồng lúa hai vụ, tổng sản lượng lúa đạt gần triệu tấn/ năm.

Sau cây lúa là cây lương thực màu như ngô, khoai, đậu, bí...

Cây dừa có mặt khắp tỉnh Cà Mau, song tập trung nhiều ở Cái Nước, Trần Văn Thời.

Cà Mau cũng có những vườn cây ăn trái nổi tiếng từ xưa tới nay như dưa hấu Cái Keo, dâu Cái Tàu.

Cùng với trồng trọt là chăn nuôi, người nông dân Cà Mau đã kết hợp thả vịt với trồng lúa, đặc biệt phát triển mạnh ở huyện Cái Nước và Trần Văn Thời. Sau đàn vịt là đàn heo cũng được nhân dân phát triển mạnh.

2- Về ngư nghiệp :

Là tỉnh có diện tích nuôi trồng thủy sản lớn nhất cả nước. Thủy sản đa dạng về chủng loại. Bờ biển dài 253 km từ Đông sang vịnh Thái Lan. Thềm lục địa bằng phẳng, có nhiều cửa sông lớn là ngư trường lý tưởng của ngành hải sản. Hiện nay ta đang xây dựng cảng Hòn Khoai tạo điều kiện cho đánh bắt xa bờ phát triển.

Trong quá trình chuyển đổi kinh tế hiện nay sẽ tạo điều kiện cho ngành thủy sản phát triển.

Đến năm 2000, hải sản đạt 190.000 tấn, bình quân tăng 9,5% hàng năm.

Ngày 06/07/2000, Chính phủ đã chấp thuận chuyển đổi qui hoạch sản xuất nông nghiệp, lâm-ngư nghiệp theo hướng phát triển mạnh thủy sản, với quan điểm phải đảm bảo hiệu quả kinh tế, xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái, phát triển Nông – Lâm – Ngư bền vững.

3-Về lâm nghiệp :

Diện tích rừng của Cà Mau có khoảng 130.000 ha, chia thành hai loại: Rừng ngập mặn dọc theo ven biển bãi bồi giáp từ Bạc Liêu bao quanh mũi đất giáp với Kiên Giang chủ yếu là đước, vẹt, già. Rừng tràm nằm sâu trong đất liền chủ yếu nối từ U Minh thượng của tỉnh Kiên Giang đến huyện U Minh – Thới Bình và Trần Văn Thời của tỉnh Cà Mau.

Rừng ngập nước ở Cà Mau được xếp thứ hai sau rừng ngập nước ở Braxin trên thế giới. Điều đó cho thấy rừng Cà Mau giá trị như thế nào về mặt khoa học. Mặt khác rừng ngập nước Cà Mau còn là lá phổi cho khu vực bán đảo Cà Mau. Đồng thời rừng ngập nước ở Cà Mau còn được ví như một hồ nước mênh mông để phát triển thủy sản.

4-Về công nghiệp – xây dựng và dịch vụ du lịch :

Cùng với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế chúng ta dự kiến đến 2005, công nghiệp – xây dựng – dịch vụ chiếm tỷ trọng là 55%. Trong đó công nghiệp và xây dựng chiếm 36%, dịch vụ 19%.

Trong công nghiệp, tỉnh Cà Mau đã được Chính phủ phê duyệt xây dựng cụm  công nghiệp Khí, Điện, Đạm – Khánh An. Đây là một khả năng mở ra rất lớn cho kinh tế tỉnh nhà. Từ cụm công nghiệp đó sẽ mở ra cho các ngành công nghiệp mới.

Trong công nghiệp chế biến cũng mở ra một khả năng chế biến thủy hải sản, phục vụ cho xuất khẩu. Sau khi chuyển đổi cơ cấu kinh tế, đòi hỏi chúng ta phải xây thêm các nhà máy chế biến mới, nâng cấp nhà máy cũ để có thể chế biến được 250.000 tấn thủy sản trong tương lai. Cũng là xứng với danh là tỉnh xuất khẩu thủy hải sản đứng đầu cả nước.

Ta tiếp tục đẩy mạnh xây dựng các cơ sở hạ tầng cơ sở như : đường giao thông, các cảng và sân bay. Trong đó có hai đường quốc lộ : 1A và 63. Đặc biệt là tu sửa, nâng cấp thành phố Cà Mau để xứng đáng là trung tâm của tỉnh lỵ

Trong dịch vụ ta chú trọng đến dịch vụ khai thác như thông tin, thương mại đặc biệt chú ý đến nông thôn. Đồng thời cũng xây dựng khu du lịch sinh thái rừng tràm, rừng ngập mặn. Trong đó đầu tư khu du lịch Đất Mũi – Khai Long – Hòn Khoai.

Cà Mau là một tỉnh Nông – Lâm – Ngư đang chuyển dịch sang Ngư - Nông – Lâm và đặc biệt phát triển công nghiệp với sự trợ giúp của Trung ương, đồng thời cũng mở  ra rất lớn về du lịch - dịch vụ.

 

Câu hỏi:

1-Em hãy nêu những nét chính về tự nhiên của Cà Mau?

2-Cộng đồng cư dân  Cà Mau đã hình thành như thế nào?

3-Tiềm năng của tỉnh Cà Mau như thế nào? Nêu khái quát?

4-Thực hành, ngoại khóa : Giáo viên tổ chức cho học sinh đi tham quan, học tập ngoài trời, sưu tầm các tư liệu có liên quan đến thiên nhiên và con người ở Cà Mau hoặc ở địa phương nơi học sinh cư trú.

(Kèm bản đồ vị trí tỉnh Cà Mau)

 

Bài đọc thêm

 

ĐỖ THỪA LUÔNG, ĐỖ THỪA TỰ VỚI CUỘC KHỞI NGHĨA MÙA XUÂN NĂM 1871

 

 

Trong thời thuộc Pháp, trước khi phong trào Cần Vương ra đời, nơi xứ U Minh xa xôi hẻo lánh, đã có người đứng lên chống Pháp. Đó là anh em Đỗ Thừa Luông, Đỗ Thừa Tự, hai nông dân ở Rạch Cái Tàu (nay thuộc huyện U Minh tỉnh Cà Mau). Theo Huỳnh Minh, tác giả của “Bạc Liêu xưa và nay” thì hai Ông là con của cử nhân Đỗ Văn Nhân, gốc ở Lai Vung – Sa Đéc (nay là tỉnh Đồng Tháp), xuống định cư ở Rạch Cái Tàu từ nhiều năm. Hai ông là người giỏi võ, không chịu nổi trước cảnh áp bức dân lành của thực dân Pháp và tay sai, nên đêm 30 tết năm Tân mùi (1871) đã tụ họp bạn bè, người thân và những nông dân quanh vùng Cái Tàu, cắt máu ăn thề đồng tâm khởi nghĩa.

Buổi lễ đầu tiên chỉ có khỏang 30 người, được tổ chức tại nhà ông Đỗ Thừa Luông. Buổi lễ tuy đơn sơ nhưng rất trang nghiêm. Sau khi tuyên bố lý do lập Nghĩa Đoàn và đọc lời khai hội, tất cả mọi người đều phủ phục trước bàn thờ Tổ quốc hô vang câu “Bình tây sát tả, Việt Nam muôn năm”. Kế đó, mọi người tuần tự cắt máu nguyện thề “Tận trung báo quốc, tận nghĩa vì dân”. Sau cùng, mọi người đều thống nhất gọi tổ chức của họ là Nghĩa Đoàn và Đỗ Thừa Luông được bầu làm Trưởng Đoàn, Đỗ Thừa Tự làm phó trưởng Đoàn, nhiều người khác phụ trách các chi nhánh ở các nơi.

Trong Nghĩa Đoàn có nhiều người Minh Hương tham gia và đông đảo nhân dân vùng Cái Tàu ủng hộ, nhất là tầng lớp thanh niên. Vì vậy, chưa đầy một tháng, đội quân đã lên đến khoảng 200 người. Lúc đầu nghĩa quân được vũ trang bằng dao, mác, mã tấu, song hồng... hết sức thô sơ. Để có thêm vũ khí trang bị cho nghĩa quân, ngay trong mùa xuân năm đó (1871), Đỗ Thừa Luông và Đỗ Thừa Tự đã tổ chức dùng hỏa công diệt gọn hai toán quân tuần tiễu của Pháp, thu được nhiều súng ống.

Hai ông đã sử dụng chiến thuật du kích khéo léo và lợi dụng địa thế hiểm trở của rừng U Minh nên đã tạo được nhiều kết quả to lớn, có lần chiếm cả đại bác và tiêu diệt được nhiều tàu địch.

Đến năm Nhâm Thân (1872) Nghĩa Đoàn đã chiếm cứ một vùng đất khá rộng lớn, từ rạch Cái Tàu đến An Biên ( Rạch Giá), gần như cả vùng U Minh ở đâu cũng có bóng dáng của Nghĩa Quân. Cũng trong năm này người Minh Hương đã đề nghị với Đỗ Thừa Luông nên tạo mối quan hệ với Thiên Địa Hội để làm vây cánh. Đỗ Thừa Luông cho đây là kế sách hay, nên cho người về Bạc Liêu liên hệ với Thiên Địa Hội, từ đó trong Nghĩa Đoàn, người Minh Hương ngày càng đông.

Theo những câu chuyện truyền khẩu thì không những hai ông Luông và Tự đều giỏi võ mà còn có sức mạnh phi thường. Có lần nghĩa quân tấn công chiếm được khẩu đại bác của địch ở ven rừng U Minh, trên đường đi chuyển về căn cứ, khẩu pháo bị lún sình không kéo lên được, lúc đó đội quân tiếp viện của Pháp đang kéo đến, Đỗ Thừa Luông cử Tự đem quân chặn đường tiếp viện của địch, còn ông đích thân lội xuống nước trổ thần lực kéo khẩu đại bác ra khỏi nơi sình lầy 200m và đem về căn cứ an toàn.

Tiếc rằng, lòng yêu nước và võ công hai ông có thừa nhưng mưu lược lại hạn chế. Biết được yếu điểm này, quân Pháp đã tổ chức cho tình báo trà trộn vào Nghĩa Đoàn và nắm được tình hình của nghĩa quân. Ngày 08/ 7 năm Nhâm Thân (1872), quân Pháp mở cuộc hành quân lớn và đã bao vây được Bộ chỉ huy của Đỗ Thừa Luông, nghĩa quân chống trả mãnh liệt nhưng chỉ mới được hơn hai ngày đã không còn đạn dược. Quân địch càng lúc càng áp sát, loa phóng thanh của địch liên tục vang lên những lời khuyến dụ.

Đỗ Thừa Luông nhận thấy tình hình nguy cấp, muốn lui quân để bảo toàn lực lượng nhưng không có lối thoát. Đến tối hôm đó, hai ông tập trung số nghĩa quân còn sống sót, mang theo dao găm và mã tấu lặng lẽ thoát vòng vây của địch. Một tiếng súng nổ xé tan bầu không khí im lìm, mở màn một cuộc chiến không cân sức, Đỗ Thừa Luông thét lớn một tiếng thảm khốc, tên lính Pháp đang đứng gác ngã xuống vì chiếc dao găm được phóng ra từ tay Đỗ Thừa Luông.

Súng nổ vang trời, tiếng thét la dậy đất hòa với tiếng kêu thê thảm của những người bị thương. Nghĩa quân hăng say chiến đấu, hai thanh mã tấu của Đỗ Thừa Luông, Đỗ Thừa Tự như hai con dao long đang vũ lộng giữa quân thù, dao đến đâu đầu rơi đến đó.  Hai ông bị thương khắp mình, máu tuôn xối xả nhưng vẫn cố gắng vung dao cố chọc thủng vòng vây để đưa nghĩa quân ra ngoài. Nhưng sức người có hạn, mã tấu, dao găm không thể chống lại súng thép đạn đồng, nên cuối cùng hai ông đã vĩnh viễn ra đi mang theo hoài bão lớn lao của mình.

Mờ sáng hôm sau, khắp bãi chiến trường, mùi máu tanh nồng nặc, xác chết ngổn ngang, thây chẳng toàn thây, xác quân thù xen lẫn xác nghĩa quân. Đỗ Thừa Luông đứng sừng sững lưng tựa vào thân cây tràm tay nắm chặt lấy nhánh tràm như chưa muốn rời xa quê hương, mắt vẫn mở to trông về phía trước như đang trực diện với quân thù. Đỗ Thừa Tự khắp mình nhuộm máu đang ngồi tựa lưng vào chân anh, tay phải cầm chặt chuôi dao đang cắm ngập xuống đất, mắt nhìn về phía tả như đang lo cho toán nghĩa quân. Những tên lính Pháp và lũ tay sai còn sống đang lặng lẽ kéo lê từng cái xác của đồng bọn, thỉnh thoảng lén nhìn thi thể của hai ông Luông, Tự như không thể tin rằng đó là hai người chết.

Hoài bão đánh đuổi quân thù ra khỏi bờ cõi tuy không thành công, nhưng tinh thần và khí tiết của hai ông Đỗ Thừa Luông, Đỗ Thừa Tự đã làm chấn động đến người Pháp. Trong “Niên giám tổng quát về Đông Dương” của Pháp có đoạn viết: “... Làng Tân Thạnh nằm trên hai bờ sông Cái Tàu, có 600 cư dân, tất cả làm nghề đốn củi và đánh cá. Tinh thần dân chúng ở làng này rất sôi động và có ý chí chống đối chính quyền từ lâu. Năm 1872, chính làng này là nơi anh em Đỗ Thừa ẩn náu, họ là những người làm điên đảo toàn xứ sở này:

“Xóm Cái Tàu có nhiều nhà quốc sự

Đỗ Thừa Luông, Đỗ Thừa Tự với chú Lào Bang”

(Theo Trần Phước Thuận, báo Cà Mau, Xuân 1999).

 

 

CHƯƠNG II

CÀ MAU TRONG THỜI KỲ 1930 – 1943

 

 

Bài 3:

SỰ THÀNH LẬP CHI BỘ ĐẦU TIÊN Ở CÀ MAU

 

1-Phong trào đấu tranh của nhân dân Cà Mau trước khi có Đảng:

Cùng với tiếng súng chống Pháp của nhân dân cả nước, nhân dân Cà Mau ngay từ năm 1861 đã nhận chìm xuồng tại các cửa sông Bồ Đề – Rạch Tàu ngăn quân xâm lược.

Năm 1873 nhân dân vùng mũi đất đã cùng anh em Đỗ Thừa Luông, Đỗ Thừa Tự chống Pháp ở vùng sông Cái Tàu. Đồng thời nhân dân cũng ủng hộ và tham gia nghĩa quân Nguyễn Trung trực, Nguyễn Hữu Huân để đấu tranh bảo vệ quê hương đất nước.

Cũng trong thời gian này nhân dân Cà Mau đã nổi dậy giết chết tên thực dân Pháp EsCaMye và tri huyện Phan Tử Long. Đây là những tên cướp nước và bán nước đầu tiên bị trừng trị nơi mảnh đất cuối cùng của Tổ quốc.

Năm 1924, nhân dân Cà Mau dưới sự lãnh đạo của Trần Văn Nghĩa và Trần Văn Thời đã chống lại sự cướp đất của PaTisti, tên PaTisti bị thương, tên Hương quản phải quỳ gối xin lỗi bà con, người nông dân đã bảo vệ được ruộng vườn của mình.

Tháng 05/1927 cuộc đấu tranh của nhân dân Ninh Thạnh Lợi dưới sự lãnh đạo của Trần Kim Trúc (Hương chủ Chọt) chống lại bọn thực dân và bọn cường hào để bảo vệ đất đai.

Tiêu biểu hơn cả là anh em Mười Chức đấu tranh chống lại bọn địa chủ cướp đất của gia đình mình vào tháng 02/1928. Cuộc đấu tranh của nông dân Đồng Nọc Nạng có tiếng vang lớn trong cả nước. Ngày 17/08/1928, Toà đại hình Cần Thơ phải xử và kết tội bọn địa chủ sang đoạt đất đai của nông dân.

Những cuộc đấu tranh của nhân dân Cà Mau ngay từ ngày đầu Pháp xâm lược và những tiếp đó trong cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, nó thể hiện tính tất yếu lòng yêu nước nói chung của nhân dân Việt Nam, đồng thời nó mang tính chất riêng của quê hương Cà Mau. Đồng thời cũng góp phần vào trang sử chống giặc ngoại xâm và phong kiến của dân tộc.

2-Sự ra đời của Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội ở Cà Mau:

Phong trào đấu tranh của nhân dân lên cao cũng chính là mảnh đất tốt cho phong trào cách mạng phát triển về sau.

Sau khi được thành lập, Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội được thành lập và phát triển trong cả nước.

Cuối năm 1927, ông Đào Hưng Long được kỳ bộ Nam kỳ Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội cử về hoạt động, tuyên truyền chủ nghĩa Mác – Lênin cho những thanh niên có ý thức cách mạng lúc bấy giờ, qua đó tuyển chọn những người ưu tú kết nạp vào Hội.

Tháng 01/1929, Chi hội Việt Nam  thanh niên cách mạng đồng chí Hội thị trấn Cà Mau được thành lập gồm các ông : Lâm Thành Mậu, Nguyễn Văn Chánh (Tư Rạch), Trần Hải Thoại (Năm Thoại), Tân Văn Hai (Hai Tân) và một số người khác do Đào Hưng Long làm Bí thư.

Chi đội mở một cửa hiệu bán sách báo lấy tên là Hồng Anh Thư Quán, một quán bán cơm và cà phê “Đồng Tâm” vừa làm cơ sở để giáo dục, vận động nhân dân yêu nước và là nơi trao đổi hội họp của Chi hội .

Hoạt động của Chi hội ngày càng gây được ảnh hưởng rộng rãi trong dân   nghèo  ở thị trấn và nhân dân vùng lân cận các xã xunh quanh.

Nhiều cuộc đấu tranh của nhân dân chống cướp đất, đòi giảm thuế thân, đòi được vào rừng đốn cây để sửa chữa nhà cửa. . .đã liên tiếp nổ ra và được đông đảo nhân dân hưởng ứng. Bọn thực dân Pháp đã thấy sự hoạt động của cách mạng nên chúng tăng cường giám sát và đe dọa đóng cửa hiệu sách “Hồng Anh Thư Quán” và quán cơm “Đồng Tâm”.

Tháng 09/1929, sau vụ ám sát trên đường BaChie tại Sài Gòn, thực dân Phát điên cuồng truy lùng các chiến sĩ cách mạng.

Bị truy lùng ráo riết, các thành viên của Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội ở Chi hội Cà Mau phải tạm lánh khỏi địa phương, cũng từ đó Chi hội ngưng hoạt động, kết thúc vai trò lịch sử của mình một cách vẻ vang. Hầu hết các hội viên của Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội sau này trở thành Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam.

3-Sự ra đời của Chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên ở tỉnh Cà Mau:

-Cùng với sự phát triển của cách mạng Việt Nam, cuối năm 1929 và đầu năm 1930 đã lần lượt ra đời các tổ chức Cộng sản : Đông dương Cộng sản Đảng (17/06/1929), An Nam Cộng sản Đảng (10/1929), Đông dương Cộng sản Liên Đoàn (01/1930).

Sự ra đời của các tổ chức cách mạng ở Việt Nam như làn gió mới thổi bùng lên phong trào công nhân và nhân dân yêu nước.

Ngày 03/02/1930, Hội nghị hợp nhất của Đảng đã họp tại (Hương Cảng), Cửu Long, Trung Quốc, dưới sự chủ tọa của Nguyễn Ái Quốc đánh dấu sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam , là sự kiện lịch sử trọng đại trong lịch sử của nước ta.

Tháng 01/1930, đặc ủy Hậu Giang do ông Ung Văn Khiêm Bí thư đã trực tiếp xuống Cà Mau kết nạp 04 Đội viên ưu tú của Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội: Lâm Thành Mậu, Nguyễn Văn Chánh, Tân Văn Hai và Phạm Ngọc Cừ vào An nam Cộng sản Đảng và thành lập Chi bộ Cà Mau do ông Lâm Thành Mậu làm Bí thư.

Đây là Chi bộ đầu tiên ở tỉnh Bạc Liêu và cũng là tỉnh Cà Mau. Sau ngày 30/02/1930, Chi bộ Đảng Cộng sản đã đổi tên thành Chi bộ Đảng cộng sản Việt Nam và tổ chức lễ chào mừng Đảng ra đời bằng các hình thức treo cờ, băng khẩu hiệu và rải truyền đơn ở nhiều nơi công cộng. Lần đầu tiên lá cờ đỏ búa liềm đã xuất hiện tại Cà Mau cùng với các khẩu hiệu “Đảng Cộng sản việt Nam muôn năm”, “Đả đảo đế quốc Pháp”, “Đông dương độc lập muôn năm”... đã giành được cảm  tình của đông đảo nhân dân lao động và nhất là tầng lớp thanh niên.

Cũng trong thời gian này Chi bộ của An Nam Cộng sản Đảng ra đời ở xã Phong Thạnh, huyện Giá Rai (nay thuộc tỉnh Bạc Liêu) gồm các ông : Nguyễn Văn Uông, Châu Văn Lục, Trần Văn Tiển do ông Nguyễn Văn Uông làm Bí thư. Tại Tân Thành, phong trào tự phát đấu tranh cuả nhân dân lên rất cao, ông Lâm Thành Mậu, Bí thư Chi bộ thị trấn Cà Mau đã đến đây tìm hiểu và gây dựng cơ sở. Từ đầu năm 1929, những thanh niên ở đây đứng đầu là Tăng Hồng Phúc, vận động nhân dân bài trừ những hủ tục trong: ma chay, cưới xin, tang lễ, chống bất công, buộc địa chủ phải cho nông dân vay lúa trong lúc thiếu kém... Phong trào không những được nhân dân ủng hộ hăng hái mà còn tranh thủ được một số thành phần tốt trong Ban hội tề. Sau một thời gian tuyên truyền vận động về chủ nghĩa Mác – Lênin và Điều lệ của Đảng Cộng sản Việt Nam, ông Lâm Thành Mậu đã giới thiệu với cấp trên những thanh niên ưu tú để kết nạp vào Đảng.

Khoảng tháng 10/1930, Bà Hồng Liên được cấp trên phái về Tân Thành hoạt động và đã kết nạp được Tăng Hồng Phúc, Phan Khắc Nhượng, Huỳnh Đề Thám, Hồng Lạc Bông vào Đảng và cũng lập được Chi bộ Đảng xã Tân Thành do Ông Tăng Hồng Phúc làm Bí thư.

Sau khi Chi bộ Tân Thành được thành lập dưới sự lãnh đạo của Chi bộ đã đẩy nhanh tuyên truyền vận động, tập hợp đông đảo quần chúng vào các tổ chức Nông Hội đỏ, Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, Hội đá banh, Hội âm nhạc...

Cùng với sự phát triển của cách mạng Việt Nam ở Cà Mau, sự ra đời của Đảng Cộng sản ngay từ những ngày đầu từ Chi bộ của An Nam Cộng sản Đảng. Trong năm 1930 tại vùng đất Cà Mau – Bạc Liêu đã thành lập được ba Chi bộ cộng sản, các đảng viên luôn gắn chặt với quần chúng, được quần chúng tín nhiệm, hết lòng với sự nghiệp của Đảng.

Mặc dù vậy nhưng vẫn còn hạn chế là  cả ba Chi bộ đều thiếu sự lãnh đạo thống nhất, sự liên hệ với đặc ủy Hậu giang lại quá xa do đó công tác phát triển Đảng còn hạn chế, chưa theo kịp phong trào cách mạng lúc bấy giờ.

 

Câu hỏi:

1-Phong trào đấu tranh của nhân dân tỉnh Cà Mau diễn ra như thế nào trước khi có Đảng ?

2-Nêu sự hoạt động của Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội ở Cà Mau ?

3-Trình bày sự ra đời của 03 Chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên ở tỉnh Cà Mau và Bạc Liêu ?

4-Thực hành cho học sinh sưu tầm các tư liệu lịch sử ở địa phương có liên quan đến giai đọan lịch sử này ở Cà Mau.

 

 

Bài đọc thêm.

LÁ CỜ ĐẢNG ĐẦU TIÊN XUẤT HIỆN TẠI CÀ MAU

 

Cách đây 70 năm nơi tận cùng cực nam của Tổ quốc đã diễn ra sự kiện khá độc đáo. Đó  là lá cờ đỏ búa liềm xuất hiện tại Cà Mau đã gây ấn tượng sâu sắc đối với người Đất Mũi kiên cường trong những ngày Đảng cộng sản Việt Nam ra đời.

Để chào mừng ngày thành lập Đảng, sáng ngày 03/2/1930 tại Thị trấn Cà Mau (nay là Thành phố Cà Mau) đã chứng kiến sự kiện lá cờ Đảng phất phới trên sợi dây thép căng ngang sông Cà Mau, tại bến đò Kinh mười sáu ngày xưa (nay là bến vỏ). Đây là sự kiện diễn ra đầu tiên của Chi bộ Cà Mau mới ra đời chưa tròn một tháng (so với lúc treo cờ) mà gây ấn tượng sâu sắc đối với nhân dân khu vực Cà Mau.

Chi bộ thị trấn Cà Mau được thành lập vào tháng 01năm 1930 (thuộc tổ chức An Nam Cộng sản Đảng, sau này được thống nhất là Đảng Cộng sản Việt Nam). Chi bộ lúc bấy giờ chỉ có 04 đồng chí: Lâm Thành Mậu, Nguyễn Văn Chánh, Tân Văn Hai và Phạm Ngọc Cừ, do ông Lâm Thành Mậu làm Bí thư. Trong những ngày chào mừng thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Chi bộ đã tổ chức nhiều hoạt động trên phạm vi thị trấn Cà Mau, nơi mà bọn Thực dân Pháp và bọn tay sai đã xây dựng bộ máy cai trị khá khắc nghiệt và nghiêm ngặt đối với nhân dân Cà Mau lúc bấy giờ. Với tinh thần cách mạng tiến công và trách nhiệm của người Đảng viên cộng sản, các đồng chí trong chi bộ tổ chức các hoạt động tuyên truyền bí mật để chống kẻ thù; đồng thời tìm mọi cách để nêu cao vai trò cuả Đảng Cộng sản Việt Nam. Cho nên các đồng chí trong chi bộ đi rãi truyền đơn những nơi công cộng như: ở bến xe, nơi nhóm chợ, chỗ đông người, hoặc nơi nhiều người đi qua lại ... Đặc biệt là chi bộ đã khắc phục những khó khăn, tìm những nơi kín đáo để che tai, mắt kẻ thù, viết từng khẩu hiệu “Đảng Cộng sản Việt Nam muôn năm !”, “Đả đảo đế quốc Pháp” dán lên góc tường và những nơi đông người qua lại, nhằm tạo sự chú ý của quần chúng. Đây là sự cố gắng lớn của Chi bộ, chỉ có thời gian ngắn, trước một đêm ngày 03 tháng 02 năm 1930, mà chi bộ phải tập trung nhiều công việc khá vất vả; lại trong lúc kẻ thù đang theo dõi mà các đồng chí Đảng viên của chi bộ đã làm cho chính quyền thực dân Pháp và tay sai ở tại quận Cà Mau lúc bấy giờ hoảng hốt, lo sợ, láo nháo như cuộc báo động “hỗn loạn” chưa từng có giữa ban ngày ở khu vực cà Mau. Cho nên suốt cả buổi, bọn chúng lúng túng tìm mọi cách để lấy lá cờ xuống mà trong lòng hồi hộp (sợ lọt vào ý đồ của Cộng sản). Dù chúng có ngăn chặn, không cho đồng bào ta đến gần nơi treo cờ, nhưng bà con vẫn tìm mọi cách, lấy cớ qua đò sang sông để được tận mắt nhìn rõ lá cờ đỏ búa liềm lượn theo gió trên sông Cà Mau. Và cũng chính lá cờ đỏ búa liềm mà người dân lao động Cà Mau đang mong muốn tự bao giờ, nay đã thành sự thật.

Cuộc hốt hoảng của kẻ thù chưa hết. Lại ngày 01 tháng 05 năm 1930, nhân kỷ niệm ngày lao động Quốc tế ; các anh thanh niên yêu nước ở ven thị trấn Cà Mau (nay là thành phố Cà Mau) lại bỏ tiền ra mua nước sơn vải đỏ và giấu bọn tề để vẽ lá cờ Đảng búa liềm treo trên cây dương ở Đình Tân Hưng (nay thuộc xã Lý Văm Lâm, Thành phố Cà Mau). Đặc biệt lá cờ này, do 03 anh thanh niên yêu nước đã dũng cảm đề thẳng tên lót của mình vào lá cờ: “NGỌC - ĐỨC – THẾ” nghĩa là: NGỌC là Nguyễn Ngọc Hương, THẾ là Lương Thế Trân, ĐỨC là Nguyễn Đức Cao. Để biểu hiện ý trí của mình, sẵn sàng đi theo con đường của Đảng, đánh bọn xâm lược cướp nước. Đồng thời, lá cờ còn nổi lên dòng chữ: “Diệt trừ Pháp tặc” có nghĩa là: Biểu hiện quyết tâm đánh Tây (thực dân Pháp) để giải phóng dân tộc, giành độc lập – tự do. Như sau này Bác Hồ ta đã nói: “Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chiụ làm nô lệ”. ý chí của người thanh niên yêu nước, ở mũi Cà Mau đã ghi lời thề vào cờ Đảng, sẳn sàng đem máu của mình tô thắm cho ngọn cờ quang vinh của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Trong ngày 01 tháng 05 năm 1930, không chỉ có lá cờ đỏ búa liềm xuất hiện vào buổi sáng mặt trời đỏ rực, mà còn các khẩu hiệu, truyền đơn được rãi các nơi, nhất là những nơi bọn tề và dinh quận, làm cho bọn chúng náo động và hoang mang trong hàng ngũ bộ máy của bọn thực dân Pháp ở Cà Mau. Bà con ở ven thị trấn rất vui mừng, bàn tán xôn xao, khâm phục những ai sáng kiến và dũng cảm treo cờ Đảng ngay trong khu vực quản lý nghiêm ngặt của địch.

Việc xuất hiện cờ Đảng vào ngày 03 tháng 02 năm 1930 và ngày 01 tháng 05 năm 1930 ở khu vực Cà Mau là sự kiện đầu tiên trong lịch sử tỉnh nhà đã đánh dấu bước trưởng thành nhảy vọt của phong trào cách mạng nhân dân Cà Mau, từ đấu tranh tự phát, chuyển sang đấu tranh tự giác khá sâu sắc. Và sự kiện treo cờ Đảng, còn biểu hiện tấm lòng người dân Đất Mũi đối với Đảng; đồng thời khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam có mặt sớm ở mảnh đất tận cùng cực Nam của Tổ quốc.

(Theo Hữu Thành – Bài được đăng trên Báo Cà Mau tháng 01 năm 2000).

 

 

Bài 4:

ĐẠI HỘI THÀNH LẬP QUẬN ỦY CÀ MAU TIẾN TỚI THÀNH LẬP TỈNH ỦY CÀ MAU

 

1-Đặc điểm tình hình Cà Mau trước Đại hội Quận ủy:

Sau sự kiện 01/05/1931, thực dân Pháp ra sức đàn áp cách mạng, phong trào ở Cà Mau tạm thời lắng xuống. Khác với các địa phương khác trong cả nước, năm 1932 phong trào đã dần dần được phục hồi.

Tháng 06/1932 một cơ sở cách mạng được thành lập tại Năm Căn để liên lạc, bảo vệ các cán bộ bị địch khủng bố chạy về đây lánh tạm. Ngày 01/05/1935 Cà Mau đón nhận một số chiến sĩ vượt Côn Đảo trở về như: Tống Văn Trân, Tạ Uyên, Phạm Hồng Thám, Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Văn Trọng. Trong số cán bộ trên ông Phạm Hồng Thám được bố trí ở lại hoạt động tại vùng Năm Căn và đến tháng 10/1935 lập được Chi bộ Tân Ân, trong đó có Thầy giáo Phan Ngọc Hiển và một số Đảng viên khác nữa do ông Nguyễn Văn Hoành Lâm làm Bí thư. Từ 1931 đến 1935 ở cà Mau đã có 14 Chi bộ được thành lập trong toàn tỉnh. Đây là hạt nhân quan trọng để Đảng bộ phát triển phong trào cách mạng dân chủ sau này.

Do thắng lợi trong tuyển cử tháng 04 năm 1936, tháng 06 năm ấy, Chính Phủ Mặt trận bình dân Pháp được thành lập, ban hành một số chính sách có tính chất dân chủ, tiến bộ ảnh hưởng tích cực đến cách mạng nước ta.

Thực hiện chủ trương của Đảng ta “đấu tranh chống chế độ phản động thuộc địa”, “chống phát xít, chống chiến tranh”. Được sự chỉ đạo của liên Tỉnh ủy Hậu Giang, Chi bộ Cà Mau đã bàn bạc và đưa ra kế hoạch đưa một bộ phận của Đảng ra hoạt động công khai gồm các ông: Lâm Thành Mậu, Văn Trang Thành, Tào Văn Ty, Phan Ngọc Hiển, Hồng Hoa do ông Lâm Thành Mậu làm Bí thư. Một Chi bộ bí mật khác do ông Phạm Hồng Thám làm Bí thư.

Phong trào dân chủ do Đảng lãnh đạo đã thu được nhiều thắng lợi. Trong thời gian này Đảng cùng lãnh đạo nhân dân chống bọn phát xít Hồ Hữu Tường, Đào Hương Long đến Bạc Liêu. Đồng thời vạch rõ âm mưu thủ đoạn của bọn này trước nhân dân.

2- Đại hội Quận ủy Cà Mau lần thứ nhất:

Trước sự phát triển của phong trào cách mạng ở Cà Mau cùng với sự ra đời của nhiều Chi bộ ở Cà Mau. Theo đề nghị của ông Phạm  Hồng Thám, được Liên Tỉnh ủy Hậu giang đồng ý, Hội nghị đại hội Đảng ủy Quận Cà Mau lần đầu tiên được triệu tập.

Hội nghị diễn ra trong hai ngày, 5 và 6/ 7/ 1937 tại nhà ông Lâm Thành Mậu (Thị  trấn Cà Mau).

Dự Đại hội có 20 đại biểu  đại diện cho 12 Chi bộ, Chi bộ công khai không có đại biểu, ông Lâm Thành Mậu dự với tư cách cá nhân. Ông Phạm Văn Bảy đại diện cho liên Tỉnh ủy Hậu giang về dự.

Đại hội đã nhất trí thông qua như sau:

+Tiếp tục phát triển rộng rãi các tổ chức quần chúng hợp pháp và nửa hợp pháp, nhất là nơi chưa có cơ sở hoặc cơ sở  còn yếu, chú trọng các đồn điền lớn, xí nghiệp như nhà máy, trại cưa và lò than... ở nông thôn đấu tranh chống địa chủ, chống cướp ruộng đất của nông dân... ở những xí nghiệp có công nhân vận động anh chị em vào các nghiệp đoàn, Hội hữu ái và đấu tranh đòi tăng lương.

+ Củng cố phát triển Đảng, chú ý những xã chưa có cơ sở Đảng, nhà máy, đồn điền chưa có đảng viên. Qua phong trào đấu tranh mà cũng cố Chi bộ, phát triển đảng viên mới và xây dựng Chi bộ ở những nơi chưa có, chú trọng công tác giáo  dục nhằm làm cho đảng viên nắm rõ sách lược của Đảng, nắm được công tác vận động quần chúng và tuyên truyền phát triển đảng. Quận ủy phân công cho các quận ủy viên phụ trách một số xã để đưa phong trào lên mạnh mẽ, đều khắp. Quận ủy cũng chỉ định bộ phận hoạt động công khai do đồng chí Phan Ngọc Hiển phụ trách.

Đại hội đã bầu ra Ban chấp hành quận ủy gồm các ông: Phạm Hồng Thám, Trần Văn Đại, Nguyễn Tấn Khương, Huỳnh Tấn Anh, Võ Hoàng, Nguyễn Văn Gai, Nguyễn Văn Hoành, do ông Phạm Hồng Thám làm Bí thư, ông Trần Văn Đại làm phó Bí thư, ông  Nguyễn Tấn Khương làm ủy viên Thường vụ.

Quận ủy Cà Mau được thành lập là sự kiện quan trọng có ý nghĩa lớn đối với phong trào cách mạng quận Cà Mau nói riêng và của tỉnh Bạc Liêu lúc bấy giờ nói chung. Vì từ trước đến nay các Chi bộ vẫn trực tiếp dưới sự lãnh đạo của liên tỉnh ủy Hậu Giang.

3-Hội nghị Ban chấp hành Tỉnh ủy lần thứ nhất:

Cùng với cả nước trong những năm cuối 1937 đầu 1938, phong trào Mặt trận Bình dân ở Cà Mau lên cao. Đặc biệt, ngày 01/5/1930, Đảng bộ Quận ủy Cà Mau đã tổ chức mít tinh công khai để tuyên truyền chủ trương của Mặt trận với 200 đại biểu của các tổ chức quần chúng ở Thị trấn và các xã về dự nghe ông Nguyễn Công Trung và Phan Ngọc Hiển diễn thuyết. Kẻ địch bao vây phá hoại cuộc mít tinh, bắt diễn giả nhưng được quần chúng bảo vệ đến cùng. Hay như cuộc đấu tranh của 500 hộ nông dân Khánh Bình đã chống lại địa chủ Nguyễn Cao Hoài cướp đất của họ.Và cuộc đấu tranh của hơn 1000 nông dân các xã vùng lên kéo đến Dinh Quận trưởng Cà Mau đòi cứu đói, bãi bỏ thuế thân... làm cho địch lúng túng.

Đến tháng 10/1938, nhiều cơ sở Đảng được thành lập ở các địa phương. Quận ủy Cà Mau có tới 15 Chi bộ gồm 80 đảng viên, Giá Rai có 03 Chi bộ, 13 đảng viên, Vĩnh Châu có 02 Chi bộ, 13 đảng viên.

Để thống nhất lãnh đạo kịp thời trong toàn tỉnh, được Xứ ủy đồng ý, Liên tỉnh ủy Hậu Giang cho phép ngày 25/10/1938 đại biểu của 03 quận: Cà Mau, Vĩnh Châu, Giá Rai được triệu tập về Lung Lá Nhà Thể thuộc xã Tân Hưng hội nghị (nay là ấp Lung Lá Nhà Thể, xã Lương Thế Trân, huyện Cái Nước).

Về dự hội nghị có 02 đại biểu của Xứ ủy Nam kỳ và 01 đại biểu đại diện cho Liên tỉnh ủy Hậu Giang.

Hội nghị điểm lại phong trào của quần chúng trong những năm qua, đánh giá lại tình hình phát triển cơ sở quần chúng và cơ sở Đảng, thảo luận Chỉ thị, Nghị quyết của cấp trên.

Hội nghị đặc biệt nhấn mạnh công tác phát triển đảng, nhất là ở Quận Vĩnh Lợi và Thị xã Bạc Liêu để đáp ứng kịp thời lãnh đạo phong trào quần chúng đang phát triển... Hội nghị cũng bầu ra Ban chấp hành lâm thời của Tỉnh đảng bộ Bạc Liêu gồm  07 ủy viên chính thức và 02 ủy viên dự khuyết. Bà Bùi Thị Trường làm Bí thư, Ông Trần Văn Đại làm phó Bí thư.

Tình hình thế giới và trong nước có ảnh hưởng không tốt cho phong trào cách mạng dân chủ ở nước ta. Việc củng cố, phát triển cơ sở Đảng tăng cường lãnh đạo phong trào cách mạng quần chúng là cần thiết.

Nhiệm vụ kiện toàn tổ chức lúc bấy giờ là cấp thiết. Được Liên tỉnh ủy Hậu Giang cho phép, Tỉnh ủy lâm thời đã triệu tập Đại hội đại biểu Tỉnh đảng bộ.

Đai hội đã họp trong ngày 2 – 3/2/1939 tại Thị trấn Cà Mau.

Đại biểu về dự gồm có 03 đại biểu của Tỉnh ủy lâm thời, 20 đại biểu của Chi bộ, 01 đại biểu của Xứ ủy và 01 đại biểu của Liên Tỉnh ủy.

Đại hội đã đánh giá thành tích vận động quần chúng của Đảng bộ là rất lớn... Qua đó lãnh đạo nhân dân giành thắng lợi. Do đó uy tín của Đảng được nâng cao.

Đại hội cũng rút ra một số kinh nghiệm trong công tác vận động quần chúng, phê phán một số biểu hiện hẹp hòi, thành kiến và lệch lạc trong vận động quần chúng; nặng về tầng lớp trên, nhẹ về quần chúng lao động.

Đại hội đã bầu ra Ban chấp hành Tỉnh uỷ chính thức gồm 09 người do ông Trần Văn Đại làm Bí thư, Ông Lê Hữu Ngọc làm phó Bí thư và 02 uỷ viên dự khuyết.

4-Ý nghĩa lịch sử:

Đại hội đại biểu Tỉnh đảng bộ  thành lập Tỉnh ủy năm 1939 là một sự kiện lịch sử quan trọng, là sự lớn mạnh của Đảng trong hơn tám năm kể từ khi có Chi bộ đầu tiên của tỉnh ra đời.

Từ đây các Đảng bộ quận ủy, chi bộ được sự lãnh đạo trực tiếp, thống nhất, kịp thời của Ban chấp hành Tỉnh ủy.

Phong trào cách mạng của nhân dân tỉnh nhà dưới sự lãnh đạo của Đảng mà trực tiếp là Tỉnh ủy đã có bước chuyển biến mới.

Câu hỏi:

1-Chi bộ Đảng cộng sản đầu tiên ra đời ở Cà mau như thế nào ?

2-Trình bày Đại hội Quận ủy Cà Mau lần thứ nhất vào năm 1937 ?

3-Đại hội đại biểu Tỉnh đảng bộ lần thứ nhất diễn ra như thế nào ? ý  nghĩa của Đại hội ?

 

 

Bài 5

KHỞI NGHĨA HÒN KHOAI 13/12/1940

 

I-ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH.

 

Vào đầu năm 1940, chiến tranh thế giới thứ hai diễn biến phức tạp. ở Châu á, Nhật ào ạt tung quân xuống Hoa Nam  giáp sát biên giới Việt Nam.

Thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng, Đảng bộ tỉnh đã nhanh chóng phục hồi hệ thống tổ chức lãnh đạo. Tháng 5/1940, Tỉnh ủy triệu tập Hội nghị đại biểu Tỉnh đảng bộ tại Tắc Ông Do, xã Tân Hưng Tây. Ông Tạ Uyên, đại diện Xứ ủy đến dự và truyền chỉ thị, chủ trương chuẩn bị khởi nghĩa của Xứ ủy. Hội nghị đã thảo luận và đề ra kế hoạch chuẩn bị khởi nghĩa của Tỉnh. Hõi nghị đã bầu ra một Ban chấp hành mới do ông Trần Văn Thời làm Bí thư. Nghị quyết của Tỉnh ủy đã đến từng Chi bộ để thảo luận, lực lượng cách mạng phát triển nhanh chóng, một số xã đã lập được đội du kích vũ trang như xã Phong Lạc, Khánh Bình, Tân Hưng Tây... Cùng với việc chuẩn bị khởi nghĩa ở đất liền, Thường vụ Tỉnh ủy đã cử ông Phan Ngọc Hiển và hai quần chúng cốt cán ra đảo Hòn Khoai để gây dựng cơ sở.

Khi Nhật vào Đông Dương, tiếng súng khởi nghĩa Bắc Sơn đã nổ ra. Tiếng súng Bắc Sơn đã thúc đẩy Xứ ủy và nhân dân Nam Kỳ chuẩn bị nhanh công cuộc khởi nghĩa vũ trang. Trước tình hình phong trào quần chúng sôi sục và địch đang điên cuồng đánh phá. Qua nhiều cuộc thảo luận, Xứ ủy Nam kỳ quyết định sẽ tiến hành khởi nghĩa vào lúc 0 giờ ngày 23/11/1940. Trước hết là ở Sài gòn và cử Ông Phan Đăng Lưu  ra Miền Bắc xin chỉ thị của Trung ương.

Đề nghị của Xứ ủy Nam kỳ được Hội nghị Trung ương VII nghiên cứu, phân tích kỹ và đi đến kết luận: cả điều kiện khách quan và  chủ quan chưa chín muồi để khởi nghĩa thắng lợi. Từ đó Trung ương chỉ thị hoãn cuộc khởi nghĩa. Thế nhưng mãi đến ngày 22/11/1940 lệnh ngừng khởi nghĩa mới về đến Saì Gòn. Trong khi đó lệnh khởi nghĩa của Xứ uỷ đã truyền đến các Đảng bộ không thu hồi kịp.

Lệnh khởi nghĩa của Xứ uỷ được chuyển đến tỉnh Bạc Liêu (nay là tỉnh Cà Mau- Bạc Liêu) đêm  23/11, chậm so với giờ quy định thống nhất chung. Do nhận được chỉ thị chậm và không hiểu rõ nội dung điều căn dặn của Xứ ủy, một mặt Thường vụ Tỉnh ủy cử liên lạc xin chỉ thị của Xứ ủy về ngày giờ khởi nghĩa  và đón nhận vũ khí. Mặt khác triệu tập Hội nghị Tỉnh ủy mở rộng ngày 26/11/1940 tại Lung Lá Nhà Thể để thực hiện Nghị quyết của Xứ ủy.

Hội nghị nhất trí thông qua phân định 3 khu vực khởi nghĩa trong tỉnh:

-Khu vục I : Vùng Năm Căn gồm Thị trấn và một số xã chung quanh và Hòn Khoai do ông Quách Văn Phẩm, Thường vụ Tỉnh ủy phụ trách. Ông Phan Ngọc Hiển trực tiếp lãnh đạo khởi nghĩa Hòn Khoai.

-Khu vục II : Thị trấn Cà Mau và một số xã chung quanh do ông Trần Văn Thời, Bí thư Tỉnh ủy trực tiếp phụ trách.

-Khu vục III: Thị xã Bạc Liêu và các huyện Giá Rai, Vĩnh Lợi, Vĩnh Châu do ông Trần Phán, Thường vụ Tỉnh ủy phụ trách.

Hội nghị nhất trí chọn Hòn Khoai làm điểm mở đầu cho cuộc khởi nghĩa trong tỉnh. Vì ở đây có khả năng giành thắng lơi trọn vẹn, vừa tạo được khí thế ban đầu vừa có thêm vũ khí trang bị cho khởi nghĩa ở đất liền.

 

II- DIỄN BIẾN KHỞI NGHĨA HÒN KHOAI.

Để kịp thời cùng với các tỉnh trong cuộc khởi nghĩa 05/12/1940, Tỉnh ủy đã triệu tập Hội nghị đại biểu của các chi bộ Năm Căn tại Lung Lá Nhà Thể để định ngày, giờ khởi nghĩa.

Hội nghị nhất trí nửa đêm 13/12/1940, Hòn Khoai sẽ nổi dậy và sau khi giành thắng lợi, thu vũ khí, lực lượng khởi nghĩa Hòn Khoai về đất liền cùng với du kích Tân Hưng và quần chúng các xã lân cận đánh chiếm Năm Căn vào đêm 14/12, sau đó kéo về chi viện cho Thị trấn Cà Mau.

Ngày 12/12, Thường vụ Tỉnh ủy nhận được lệnh của Liên Tỉnh ủy đình khởi nghĩa đối với các tỉnh thuộc Liên Tỉnh ủy Hậu Giang.

Tỉnh ủy đã kịp thời chỉ thị cho các khu vực ngưng khởi nghĩa, phân tán lực lượng không được bạo động.

Riêng Chi bộ ngoài đảo không có cách nào chuyển lệnh ngưng khởi nghĩa đến được. Trong khi đó, cũng đúng ngày 12/12, ông Phan Ngọc Hiển nhận được Nghị quyết của Tỉnh ủy do ông Bông Văn Dĩa, đảng viên của Chi bộ Tân Ân chuyển tới. Chi bộ Hòn Khoai cùng với ông Bông Văn Dĩa bàn kế hoạch thực hiện và quyết định giờ khởi nghĩa từ 20 đến 23 giờ đêm ngày 13/12. Lực lượng khởi nghĩa sẽ bắt sống tên Sếp đảo Ô-li-vi-ê, thu vũ khí về đất liền để kịp cùng với lưc lượng xung quanh phối hợp chiếm Năm Căn.

Đúng như kế hoạch, 23 giờ 15 phút ngày 13/12/1940 cuộc nổi dậy ở Hòn Khoai nổ ra và giành được thắng lợi nhanh chóng trọn vẹn, trong trận chiến đấu đầu tiên này vẫn giữ được bí mật.

Lực lượng khởi nghĩa về đến đất liền trong khí thế của đoàn quân chiến thắng, cờ đỏ sao vàng, khẩu hiệu “Mặt trận dân tộc phản đế muôn năm”.

Do có lệnh đình khởi nghĩa ở đất liền, lực lượng khởi nghĩa Hòn Khoai đã chờ suốt đêm 14/12 vẫn không thấy hiệu lệnh tấn công và cũng không liên lạc được với chỉ huy khu vực I.

Để phát huy thắng lợi, 9 giờ sáng ngày 15/12, Phan Ngọc Hiển đã hạ lệnh cho các đồng chí của ông tấn công vào nhà Quận Kiểm Lâm, tên Đốc Đông khiếp sợ giao nộp toàn bộ vũ khí cho quân khởi nghĩa.

Trưa hôm đó, bọn Thực dân ở Cà Mau đưa hai tàu chở đầy lính tập, mã tà tiến vào Rạch Gốc. Trước lực lương đông đảo của địch, các chiến sĩ khởi nghĩa đã rút vào rừng bảo toàn lực lượng.

Lực lượng tại xã chờ theo dõi tình hình và hướng dẫn đồng bào sơ tán chống khủng bố của địch.

Biết lực lượng của ta yếu, địch càng ra sức truy quét quyết liệt. Địch bám theo ráo riết sau 04 ngày đêm, đến ngày 22/12 chúng đã bắt được các chiến sĩ khởi nghĩa Hòn Khoai tại bãi Khai Long.

 

III- KẾT QUẢ VÀ Ý NGHĨA.

 

Cuộc khởi nghĩa Hòn Khoai nổ ra trong bối cảnh lịch sử cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ vừa chấm dứt, địch đang điên cuồng chống phá. Bọn Thực dân cho đây là sự thách thức đối với chúng, vì vậy chúng đã tàn sát một cách man rợ.

-Ngày 12/07/1941, chúng xử bắn 08 chiến sĩ khởi nghĩa Hòn Khoai: Phan Ngọc Hiển, Đỗ Văn Sến, Nguyễn Văn Đức, Nguyễn Văn Cự, Đỗ Văn Biên, Nguyễn Văn Cẩn, Ngô Kinh Luân, Nguyễn Văn Bỉnh và 02 cán bộ của Đảng ta là Quách Văn Phẩm (Thường vụ Tỉnh ủy) và Lê Văn Khuyên và 10 đồng chí khác bị chết trong ngục tù Côn Đảo, hàng chục chiến sĩ khác bị giam cầm.

-Tinh thần Cách mạng của các chiến sĩ khởi nghĩa Hòn Khoai sống mãi trong lòng nhân dân Cà Mau, biểu hiện tình cảm yêu nước nồng nàn, ý chí quật cường bất khuất, quyết hy sinh vì độc lập tự do của nhân dân. Máu của khởi nghĩa Hòn Khoai, của cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ đã tô thắm lá cờ đỏ sao vàng bất diệt của dân tộc ta, cổ vũ nhân dân ta tiến lên trên con đường giải phóng dân tộc, đồng thời để lại bài học quý giá cho cách mạng Tháng Tám  giành thắng lợi huy hoàng.

-Khởi nghĩa Hòn Khoai với tầm vóc và ý nghĩa lịch sử của nó đã được Đại hội đại biểu Tỉnh đảng bộ Minh hải lần thứ VI quyết định lấy ngày Khởi nghĩa Hòn Khoai 13/12 làm ngày truyền thống Cách mạng vẻ vang của Đảng bộ và nhân dân Cà Mau. Hòn Khoai ngày nay đã trở thành di tích lịch sử cách mạng của cả nước; là biểu tượng tự hào về truyền thống cách mạng vẻ vang của Đảng bộ và nhân dân tỉnh Cà Mau.

 

Câu hỏi:

1-Nêu ngắn gọn tình hình cách mạng trước khởi nghĩa Hòn Khoai ?

2-Trình bày diễn biến cuộc khởi nghĩa ?

3-ý nghĩa cuả cuộc khởi nghĩa Hòn Khoai ?

4-Thực hành các tổ chức hoạt động ngoại khóa xung quanh chủ đề ngày truyền thống tỉnh Cà Mau 13/12.

 

 

Bài học thêm:

 

CUỘC HÀNH QUYẾT “MƯỜI CHIẾN SĨ HÒN KHOAI” TẠI CÀ MAU

 

 

Ngày 23/12/1940, hầu hết các chiến sĩ tham gia khởi nghĩa Hòn Khoai bị địch bắt tại rẫy Khai Long, sau một tuần lễ chạy trong rừng đước Tân Ân. Chỉ có các đồng chí Bông Văn Dĩa, Nguyễn Thi Quýt, chị Năm Kỳ là không rơi vào tay giặc.

Đưa các chiến sĩ ta về Cà Mau, bọn mật thám thay nhau tra tấn hết sức dã man. Nhưng không một đồng chí nào khai báo điều gì. Chúng tra tấn đồng chí Phan Ngọc Hiển nặng nhất, nhưng đồng chí vẫn dũng cảm, giữ vững khí tiết của người Đảng viên cộng sản.

Ngày 12/7/1941, sau 06 tháng giam cầm và tra tấn, Thực dân Pháp đem 08 chiến sĩ Hoàn Khoai là: Phan Ngọc Hiển, Đỗ Văn Sến, Nguyễn Văn Đức, Nguyễn Văn Cự, Đỗ Văn Biên, Nguyễn Văn Cẩn, Ngô Kinh Luân, Nguyễn Văn Bỉnh và 02 đồng chí là Lê Văn Khuyên (đảng viên chi bộ Thị trấn Cà Mau), Quách Văn Phẩm  (Thường vụ Tỉnh ủy, phụ trách khởi nghĩa khu vực Năm Căn) ra hành quyết tại một khoảnh đất gần Sân vận động Cà Mau. Nhiều  đồng chí bị lưu đày, giam giữ.

Trước khi hy sinh đồng chí Phan Ngọc Hiển giật vải băng bịt mặt và kêu gọi đồng bào Bạc Liêu hãy tiếp tục đấu tranh, đánh đuổi đế quốc Pháp giành lại độc lập tự do.

Và anh hô to :

-Đả đảo đế quốc Pháp !

-Đông dương độc lập muôn năm !

-Đảng cộng sản -Đông dương muôn năm !

Tất cả các chiến sĩ đều đồng thanh hô vang theo đồng chí Phan Ngọc Hiển. Mười tiếng súng nổ cắt đứt lời tâm huyết sau cùng.

Về sự kiện này, Nhà báo Minh Hải, Nguyễn Mai thuật lại như sau: “Mười người cộng sản mỉm cười, chào nhau bằng một cái gật đầu. Phan Ngọc Hiển không bị bịt mắt, anh đứng thẳng lên, thay mặt 09 anh chị em cộng sản xin nói chuyện với đồng bào nửa tiếng đồng hồ. Bọn Pháp chỉ chấp nhận 10 phút. Đồng chí Phan Ngọc Hiển dõng dạc nói; “Người Cộng sản coi cái chết rất bình thường. Chúng tôi sẵn sàng chết để đấu tranh cho đồng bào được ấm no. Nhất định nhưng người kết tiếp chúng tôi sẽ tiêu diệt Thực dân Pháp ! Nhất định nước Việt Nam  sẽ hoàn toàn độc lập !...”.

Tên sĩ quan Pháp rút gươm ra khỏi vỏ, vung lên. Một loạt súng trường...”

Năm đó, Phan Ngọc Hiển mới tròn 30 tuổi. Hàng ngàn người có mặt hôm đó không ai cầm được nước mắt.

Nguyễn Mai viết tiếp: “Mưa đổ xuống Cà Mau trắng phố. Đoàn xe chở thi thể 10 người cộng sản lò dò trên các con đường nước ngập chạy ra phía ngoại ô. Đồng bào đội nón, che dù, mặc áo mưa, hoặc dầm mình đứng đón dài từ trường Pháp – Việt lên tới nhà giảng Tin Lành.

*Người ta thì thầm bàn tán:

-Giáo Hiển giết chết Tây, lấy đảo Hòn Khoai rồi không biết tại sao bị bắt tại Rạch Gốc ? Chỗ đó với Cái Nhúc, Rạch Rập Cộng sản nhiều dữ lắm. Mới đâu đây, nghe nói ở Rạch Rập, với lại trên Miễn Hội có treo cờ đỏ búa liềm...

-Người cộng sản là gan- một thằng lính cai nói – Hồi ở khám, kêu đi bắn, họ còn hát bài ca Cộng sản !... (Nguyễn Mai, tác phẩm Rừng do Văn nghệ giải phóng Tây Nam bộ xuất bản năm 1975, trang 55, 57).

Cuộc khởi nghĩa Hòn Khoai thắng lợi, nhưng nó nằm trong bối cảnh chung của Khởi nghĩa Nam Kỳ, cuối cùng bị tổn thất, vì chưa có đủ điều kiện khách quan và chủ quan chín muồi cho một cuộc khỏi nghĩa. Nhưng dù sao nó cũng để lại cho chúng ta nhiều bài học kinh nghiệm. Nhưng với thực tế đó nó khẳng định khả năng cách mạng to lớn của quần chúng lao động bị áp bức; chứng minh lòng yêu nước nồng nàn, ý chí anh hùng bất khuất của cán bộ Đảng Cộng sản và nhân dân Bạc Liêu trước kia cũng như hiện nay.

Nhân dịp kỷ niệm lần thứ 43 ngày Nam Kỳ khởi nghĩa và khởi nghĩa Hòn Khoai (23/11/1940 – 23/11/1983) tổ chức tại Thị xã Cà Mau, đồng chí Đoàn Thanh Vị, ủy viên dự khuyết Ban chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Minh Hải nói: “Gần nửa thế kỷ trôi qua, trên mảnh đất đau thương và bất khuất này, thời gian không làm xoá mờ được hình ảnh của 10 liệt sĩ Hòn Khoai. Bởi bóng cờ khởi nghĩa vẫn luôn luôn vẫy gọi ! Bởi ngọn đèn hải đảo mãi chiếu sáng ở lòng người! Bởi lời anh Phan Ngọc Hiển vẫn còn văng vẳng bên tai của mỗi chúng ta. Và bởi vì tình người Minh Hải không bao giờ quên tập thể nhưng người Cộng sản nêu cao khí phách anh hùng, hy sinh trọn đời mình cho dân tộc, cho Tổ quốc”.

Cuối cùng đồng chí Đoàn Thanh Vị kêu gọi: “Biết ơn và noi gương 10 liệt sĩ Hòn Khoai, hàng năm chúng ta lấy ngày 13/12 làm ngày Hội truyền thống của toàn tỉnh, tạo ra trong đời sống tinh thần và tình cảm  của con người Minh Hải: “Uống nước nhớ nguồn”. Ngày 13/12 được xem là ngày lịch sử vẻ vang nhất của Đảng bộ và nhân dân tỉnh nhà. Ngay từ hôm nay, mỗi người chúng ta phải suy nghĩ mình cần phải làm gì cho ngày Hội truyền thống đó ?”.

(Trần Thanh Phương – Minh Hải địa chí – NXB Mũi Cà Mau năm 1985, trang 86, 88).

 

 

Bài đọc thêm.

 

PHÁT HUY TRUYỀN THỐNG, TẬP TRUNG MỌI NỖ LỰC ĐƯA SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI CỦA TỈNH NHÀ TIẾP TỤC TIẾN LÊN

 

 

(Lời phát biểu của ông Nguyễn Văn Đáng - Bí thư Tỉnh ủy Minh Hải tại buổi Mít tinh kỷ niệm 50 năm ngày Khởi nghĩa Hòn Khoai)

Đại Hội lần thứ VI Đảng bộ tỉnh Minh Hải đã quyết định lấy ngày Khởi nghĩa Hòn Khoai 13/12/1940 làm ngày truyền thống cách mạng của nhân dân Minh Hải. Nhân các ngày lễ lớn năm 1990, Tỉnh ủy chủ trương tổ chức kỷ niệm trọng thể 50 năm ngày Khởi nghĩa Hòn Khoai để phát huy truyền thống, đẩy mạnh công cuộc đổi mới, tiến lên đúng hướng và nhanh chóng hơn nữa nhằm làm cho dân giàu, nước mạnh.

Hôm nay đông đảo đồng bào, cán bộ, chiến sĩ trong tỉnh trở về đây tổ chức ngày Hội truyền thống trên quê hương Ngọc Hiển, nơi có vinh dự mà nên lịch sử khởi nghĩa Hòn Khoai. Đây là biểu tượng của lòng tự hào về quá khứ oanh liệt và cũng là biểu tượng của niềm tin vững chắc vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội vinh quang mà Đảng và Bác Hồ kính yêu đã chọn.

Trong buổi lễ kỷ niệm truyền thống vẽ vang này, thay mặt Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân, ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, tôi nhiệt liệt chào mừng đồng bào, cán bộ, chiến sĩ, các cháu thanh thiếu niên và học sinh. Đặc biệt, tôi ân cần thăm hỏi và biết ơn sâu sắc các chiến sĩ 40, các chiến sĩ khởi nghĩa Hòn Khoai và đồng bào Rạch gốc – Tân ân, suốt 50 mươi năm qua vẫn sống, lao động và chiến đấu dưới ngọn cờ vẽ vang của Đảng.

Trong giờ phút trang trọng này, Đảng bộ và nhân dân Minh Hải xin nghiêng mình tưởng niệm đồng bào, đồng chí trong cuộc Khởi nghĩa Nam kỳ và các chiến sĩ Hòn Khoai anh hùng đã lấy máu mình viết nên trang sử bất diệt.

Nhân ngày Hội truyền thống, chúng ta cùng nhau ôn lại những chặn đường đầy gian khổ hy sinh hơn nửa thế kỷ qua mà mở đầu là cuộc khởi nghĩa Hòn Khoai được đánh dấu như một mốc lịch sử cách mạng của tỉnh ta, từ năm 40 đến nay và cả mai sau.

Hòn Khoai nằm ở biển Đông, cách mũi Cà Mau khoảng 20 cây số, là đảo có vị trí chiến lược quân sự, bị Thực dân Pháp chiếm đóng từ những năm đầu thế kỷ này. Nơi đây 50 năm về trước đã diễn ra cuộc bạo động cách mạng trong thời điểm Nam Kỳ khởi nghĩa năm 1940 của Tỉnh ủy Bạc Liêu và Chi bộ nơi đây. Ngay sau đó những người cộng sản và quần chúng nhân dân đã bắt đầu vào cuộc chiến đấu sinh tử với quân thù. Đúng 11 giờ 15 phút đêm 13/12/1040 tại Tháp hải đăng, nghĩa quân xông lên giết chết tên thực dân Pháp Ô-Li-Vi-Ê chúa đảo, thu gom vũ khí về xóm Rạch Gốc, chiếc nôi của cuộc khởi nghĩa. Lần đầu tiên nhìn thấy lá cờ đỏ búa liềm, đồng bào Tân Ân vô cùng sung sướng, tưởng chừng như từ đây được “đổi đời”, thoát khỏi cảnh đọa đày, nô lệ.

Sau khi giành thắng lợi ở Hòn Khoai, các chiến sĩ về đất liền tiếp tục chiến đấu, tấn công một số vị trí ở Tân Ân và chặn đánh bọn Pháp chi viện. Nhưng vì cuộc khởi nghĩa ở các khu vực khác trong tỉnh gặp khó khăn, tương quan lực lượng giữa ta và địch lúc ấy quá chênh lệch. Liên lạc giữa các khu vực, các đơn vị không đảm bảo nên các chiến sĩ khởi nghĩa Hòn Khoai sa vào thế bị bao vây và bị địch bắt, tra tấn cực kỳ dã man. Thực dân Pháp đã xử bắn 10 chiến sĩ Hòn Khoai tại sân banh chợ Cà Mau vào sáng ngày 12/07/1941. Đó là ngày đau thương, uất hận mà cho đến hôm nay, chúng ta như vẫn còn nhớ mãi hình ảnh và khí phách anh hùng của đồng bào, đồng chí đã anh dũng hy sinh , tiêu biểu là đồng chí Phan Ngọc Hiển và các chiến sĩ khởi nghĩa Hòn Khoai.

Sau cuộc khởi nghĩa, nhiều đồng chí, đồng bào ta bị địch bắt, tra tấn vô cùng dã man, nhiều người bị lưu đày, đổi các nhà tù. Đồng chí Trần Văn Thời, Bí thư Tỉnh ủy Bạc Liêu bị giam giữ và hy sinh tại Côn Đảo. Nhưng các đồng chí bị địch đưa ra pháp trường vẫn hiên ngang mắng vào mặt kẻ thù, giữ vững khí phách kiên cường của người Cộng sản.

Sau Nam kỳ khởi nghĩa, thực dân Pháp khủng bố rất tàn bạo, phát xít. Chúng ra sức sát hại đồng bào, đồng chí, dìm cuộc khởi nghĩa trong biển máu. Chúng tưởng chừng như dập tắt được ngọn lửa cách mạng. Nhưng chúng đã lầm, càng khủng bố thì lòng căm thù địch và tinh thần yêu nước của nhân dân ta càng sôi sục. Lớp này ngã, lớp sau đứng dậy tiếp tục chiến đấu, lòng tin sắt đá của nhân dân đối với Đảng, của Đảng đối với dân không gì lay chuyển nổi. Các cơ sở Đảng đã gây dựng đi gây dựng lại nhiều lần nhưng ngọn cờ của Đảng không bao giờ mất. Cách mạng tiếp tục phát triển, tinh thần yêu nước của nhân dân tiếp tục dâng cao, để khi thời cơ đến, vùng lên tổng khởi nghĩa tháng tám, giành chính quyền về tay nhân dân, mở đầu ở kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc và tiếp tục đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ đến thắng lợi, hoàn thành thống nhất Tổ quốc, tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Nhắc đến đây, tôi bồi hồi nhớ anh út Điệp và các đồng chí bộ đội “Giáo phái” đã theo bước chân Phan Ngọc Hiển, một lần nữa làm nên lịch sử Hòn Khoai vào cuối năm 1959. Hồi đó, Tỉnh ủy hạ quyết tâm tiêu diệt cứ điểm này để mở đầu cao trào Đồng Khởi. Các chiến sĩ ta vào trận đánh với lời thề quyết tử như năm 1940, Chi bộ Hòn Khoai đã tuyên thề dưới Đảng kỳ. Ngọn cờ búa liềm năm ấy vẫn mãi vẫy gọi chúng ta.

Giờ đây nhắc lại sự kiện diễn ra hơn nữa thế kỷ qua, mỗi người chúng ta càng suy nghĩ sâu sắc hơn về tầm vóc, giá trị, ý nghĩa của cuộc khởi nghĩa Nam kỳ, Khởi nghĩa Hòn Khoai và những tấm gương hy sinh bất khuất của đồng bào, đồng chí. Càng tự hào về quá khứ vẻ vang chúng ta càng nâng cao nhiệt tình cách mạng, ra sức phấn đấu hoàn thành ước mơ mà các bậc tiền bối đã để lại. Nếu như ai đó trong chúng ta thay lòng đổi dạ, xoay lưng với quá khứ, làm những điều xấu xa thì người ấy có tội với lịch sử, dân tộc và những người đã ngã xuống.

 Mười lăm năm qua kể từ khi giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước Đảng bộ và nhân dân tỉnh nhà tiếp tục đi theo con đường của Bác Hồ và Đảng ta đã vạch ra, tiếp tục giương cao ngọn cờ khởi nghĩa Nam kỳ, khởi nghĩa Hòn Khoai. Đảng bộ và nhân dân Minh Hải đã cùng với cả nước hoàn thành hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ thắng lợi giành nhiều thành tựu có ý nghĩa quan trọng trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc. Đặc biệt từ sau Đại hội Đảng toàn Quốc lần thứ VI và đại hội Đảng bộ Tỉnh lần thứ VII đến nay, công cuộc đổi mới do Đảng ta đề xướng và lãnh đạo được triển khai toàn diện. Bốn năm qua, cùng với cả nước, chúng ta đã đạt được những kết quả bước đầu rất quan trọng trên các lĩnh vực phát triển kinh tế – xã hội, an ninh – quốc phòng, xây dựng Đảng, chính quyền và công tác quần chúng. Đời sống nhân dân từng bước được cải thiện về vật chất lẫn tinh thần, việc thực hiện các chính sách xã hội có những chuyển biến tích cực, bước đầu tạo nên bầu không khí dân chủ trong nội bộ và trong xã hội... Những kết quả đó chứng tỏ đường lối đổi mới của Đảng là đúng đắn, phù hợp với qui luật khách quan, được quần chúng nhân dân đồng tình ủng hộ. Thay mặt Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân và ủy ban Mặt trận Tổ quốc Tỉnh, tôi nhiệt liệt hoan nghênh và biểu dương những đóng góp qúy báu của Đảng bộ và quân dân Tỉnh nhà.

Những kết quả đạt được trong công cuộc đổi mới có ý nghĩa hết sức quan trọng, song chỉ là bước đầu. Chúng ta còn phải tiếp tục vượt qua những khó khăn, thử thách khắc phục những thiếu sót, khuyết điểm còn tồn tại. Kinh tế tỉnh nhà phát triển chưa vững chắc, chưa toàn diện, sự nghiệp văn hoá, y tế, giáo dục chưa đáp ứng tốt yêu cầu của quần chúng, đời sống của một bộ phận nhân dân còn khó khăn, trật tự an toàn xã hội còn diễn biến phức tạp. Cuộc khủng hoảng ở các nước xã hội chủ nghĩa lại có tác động tiêu cực nhiều mặt đến nước ta, các thế lực Đế quốc và phản động đang triệt để thực hiện âm mưu “diễn biến hoà bình” nhằm xoá bỏ chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Chúng ta kỷ niệm ngày truyền thống của tỉnh, không chỉ để nhớ lại những đồng chí, đồng bào, nhớ lại đồng chí Phan Ngọc Hiển cùng các chiến sĩ khởi nghĩa Hòn Khoai đã ngã xuống mà điều quan trọng hơn là mỗi người chúng ta cần học tập ở cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ, khởi nghĩa Hòn Khoai những bài học vô giá và cố gắng sống sao cho xứng đáng với người đi trước.

Bài học về ý trí cách mạng, lòng tin vào lý tưởng, lòng tin vào dân của cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ, khởi nghĩa Hòn Khoai có ý nghĩa to lớn đối với tình hình đất nước hiện nay. Tiếc rằng trong thời gian qua, bên cạnh đại bộ phận cán bộ, Đảng viên trong tỉnh đã phát huy được tinh thần cách mạng tiến công, giữ vững phẩm chất đạo đức, gắn bó và chăm lo lợi ích của nhân dân, còn một bộ phận không ít cán bộ, Đảng viên không giữ được phẩm chất, sa sút ý trí chiến đấu, thiếu tinh thần trách nhiệm, xa rời quần chúng, chỉ biết lo cho riêng mình, quan liêu, tham nhũng, thậm chí có người còn hoài nghi công cuộc đổi mới, hoài nghi con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Tất cả những khuyết điểm ấy phải chăng là có tội với dân với nước, là “vong ân, bội nghĩa” đối với những người đã ngã xuống cho hôm nay và hoàn toàn xa lạ với bản chất của người cán bộ, Đảng viên Cộng sản. Vì vậy hơn lúc nào hết, sự nghiệp cách mạng hiện nay đang đòi hỏi một đội ngũ cán bộ, Đảng viên vững vàng về ý chí, có niềm tin vững chắc vào lý tưởng, có mối quan hệ gắn bó máu thịt với nhân dân, phải làm trong sạch đội ngũ, loại bỏ những phần tử không còn xứng đáng thì mới có thể chiến thắng mọi khó khăn, vững bước tiến lên phía trước.

Chúng ta trân trọng kỷ niệm 50 năm Nam kỳ khởi nghĩa, khởi nghĩa Hòn Khoai. Ngoài việc tưởng niệm và biết ơn sâu sắc công lao, xương máu của các chiến sĩ 40, của đồng chí đồng bào qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ đã hy sinh vì độc lập tự do của Tổ Quốc, vì hạnh phúc của nhân dân, chúng ta cũng ôn lại và học tập những bài học quí báu, về khí phách kiên cường của những người đi trước nhằm liên hệ vơi tình hình và nhiệm vụ cách mạng hiện nay. Từ đó tiếp thêm nghị lực, niềm tin và sức mạnh để hoàn thành mọi nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng mới.

Trước mắt chúng ta là những thuận lợi, đồng thời cũng còn rất nhiều khó khăn, phức tạp, tiếp tục đưa sự nghiệp đổi mới giành lấy thắng lợi to lớn hơn nữa...

 

 

Bài 6:

 

CÁCH MẠNG THÁNG TÁM Ở CÀ MAU

 

 1-Tình hình Cà Mau trước cách mạng Tháng Tám năm 1945 :

Sau khởi nghĩa Nam Kỳ nói chung và khởi nghĩa Hòn Khoai nói riêng địch đã tiến hành khủng bố trắng. Một số lãnh đạo Đảng của tỉnh bị địch bắt, một số phải chuyển địa bàn hoạt động do sự phân công của cấp trên, một số phải tạm lánh chuyển vùng hoạt động. Các Quận ủy hầu hết bị đổ bể.

Trước tình hình đó, đại diện Tỉnh ủy Hậu Giang đã tìm gặp một số cán bộ còn lại ở địa phương lập Ban cán sự Đảng do Ông Trần Văn Sớm làm trưởng ban để bám sát lãnh đạo quần chúng.

Trong lúc Đảng ở Cà Mau gặp nhiều khó khăn thì tình hình thế giới thay đổi, chiến tranh thế giới nổ ra. Đảng ta đã chuyển hướng chỉ đạo chiến lược: “Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập tự do cho toàn thể dân tộc thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi giai cấp vận năm năm cũng không đòi lại được”. Đảng chủ trương lập Mặt trận Việt nam độc lập đồng minh.

Ngày 09/03/1945, Nhật đảo chính Pháp đề độc chiếm Đông Dương, diển biến mới vô cùng quan trọng. Đảng ta ra chỉ thị “Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”. Để kịp thời lãnh đạo cách mạng thống nhất, ngày 05/05 tại Tân Bằng, Ban vận động tái lập Đảng bộ Nam Kỳ, triệu tập Hội nghị đại biểu các chi bộ khu vực Cà Mau để thành lập cơ quan lãnh đạo lâm thời của Tỉnh Đảng bộ gồm 05 người do Ông Trần Văn Đại làm Bí thư.

Sau khi có chủ trương khởi nghĩa, Tỉnh ủy càng đẩy mạnh công tác tổ chức Đảng và tổ chức quần chúng, xây dựng lực lượng vũ trang tự vệ. Phong trào cách mạng phát triển sôi nổi vượt bậc ở nông thôn và thị trấn Cà Mau.

2-Diễn biến cách mạng Tháng Tám  ở Cà Mau:

Trong không khí cả nước chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền, thì tình hình thế giới chuyển biến mau lẹ. Hồng Quân Liên Xô cùng với Đồng Minh tấn công Phát xít Nhật. Được tin Nhật đầu hàng Đồng Minh không điều kiện. Chính quyền Nhật ở Đông Dương và bọn tay sai hoang mang rệu rã.

Hoà nhịp cùng chung với Bạc Liêu và cả nước, Tỉnh ủy Lâm thời Cà Mau do Ông Thái Ngọc Sanh làm Bí thư đã tổ chức cuộc Mít tinh lớn ở thị trấn Cà Mau để chào mừng Mặt trận Việt Minh ra đời và cũng là biểu dương lực lượng quần chúng tại sân vận động Cà Mau.

Sau đó chuyển thành cuộc biểu tình vũ trang thị uy keó đến Dinh đốc phủ Kế, Quận trưởng Cà Mau, đòi giao chính quyền cho nhân dân, nhưng Ông Kế xin ta cho hoãn lại vài hôm.

Quyết không trì hoãn việc giành chính quyền, ngày 25/08, Tỉnh ủy huy động lực lượng quần chúng gây áp lực với chính quyền bù nhìn.

Trước thái độ cương quyết của ta, đốc Phủ Kế phải bàn giao chính quyền cho ủy ban dân tộc giải phóng quận Cà Mau.

Cũng đúng vào lúc đó, Ông Tào Văn Tỵ, ủy viên quân sự của ủy ban giải phóng dân tộc tỉnh khu vực Bạc Liêu cũng đưa một trung đội Cộng hoà Vệ binh đến chi viện.

Ngay sau thắng lợi đó, nhân dân khắp vùng nông thôn trong tỉnh, dưới sự lãnh đạo của các Chi bộ Đảng đã nhất tề đứng lên đập tan bộ máy chính quyền của tay sai xã, ấp thành lập chính quyền nhân dân và các đoàn thể quần chúng cách mạng.

3-ý nghĩa lịch sử:

Qua mười lăm năm chiến đấu hy sinh gian khổ với tinh thần kiên cường, anh dũng dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, nhân dân Bạc Liêu (Cà Mau – Bạc Liêu ngày nay) đã đập tan bộ máy thống trị của đế quốc Pháp, phát xít Nhật và phong kiến tay sai ở địa phương, giành lại quyền làm chủ vận mệnh của mình.

Cùng với chiến thắng này, Đảng bộ và nhân dân Cà Mau đã cùng toàn Đảng, toàn dân làm nên thắng lợi huy hoàng trong cách mạng Tháng Tám năm 1945.

Thắng lợi cách mạng Tháng Tám ở Cà Mau là kết quả của quá trình vận động cách mạng liên tục cuả Đảng từ Chi bộ đầu tiên ra đời (1930) đến khi giành được chính quyền.

Trong 15 năm kể từ khi thành lập đến năm 1945 Đảng đã vận dụng đường lối, chủ trương của Đảng vào tình hình cụ thể ở địa phương một cách linh hoạt và sáng tạo.

Đảng đã phát huy sức mạnh của nhân dân, tổ chức giáo dục và hướng dẫn họ trong công cuộc cách mạng dân tộc dân chủ của Đảng ở Cà Mau, cũng chính vì thế mà địch khủng bố, đánh phá ác liệt nhất, Đảng vẫn được nhân dân đùm bọc bảo vệ.

Đảng vận dụng tốt hai  hình thức đấu tranh: Đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang. Đồng thời không ngừng mở rộng công tác binh vận. Nắm vững thời cơ, phát động nhân dân tổng khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi.

Câu hỏi:

1-Nêu tóm tắt tình hình phát triển lực lượng cách mạng từ năm 1941 đến tháng 05/1945 ở Cà Mau ?

2-Diễn biến của cách mạng Tháng 08/1945 ở Cà Mau như thế nào ?

3-Trình bày ý nghĩa lịch sử của cách mạng tháng 08/1945 ở Cà Mau?

 

 

 

CHƯƠNG III

NHÂN DÂN CÀ MAU TRONG THỜI KỲ

KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP

 

 

Bài 7

 

TÌNH HÌNH CÀ MAU SAU CÁCH MẠNG THÁNG TÁM

 

1- Những khó khăn sau cách mạng Tháng tám ở Cà Mau.

Trong hoàn cảnh chung của cả nước, sau khi giành được chính quyền, Cà Mau đứng trước muôn vàn khó khăn. cách mạng tiếp quản một nền kinh tế – tài chính dường như trống rỗng. Công nghiệp không có gì ngoài vài nhà máy xay xát nhỏ; ngân khố không còn đồng nào ngoài một số giấy 500 đồng Ngân hàng Đông Dương đã không còn giá trị; hàng hoá khan hiếm; đời sống của đại đa số nhân dân thiếu thốn mọi bề. Nặng nề hơn là chính sách ngu dân của đế quốc Pháp để lại với hơn 90 % dân số mù chữ. Các tệ nạn xã hội như rượu chè, cờ bạc, mê tín dị đoan, trộm cướp... là vấn đề cần giải quyết.

Từ khi Thực dân Pháp đánh chiếm Saì Gòn, bọn phản động ở Cà Mau, sau một thời gian giấu mình, lại ngóc đầu dậy, móc nối nhau, ngấm ngầm chống phá cách mạng. Chúng tuyên truyền xuyên tạc, kích động thù hằn dân tộc và tôn giáo.

Trong khi đó chính quyền cách mạng ở địa phương còn non yếu, các tổ chức đoàn thể và Mặt trận Việt Minh mới thành lập trước khởi nghĩa chưa bao lâu, hệ thống tổ chức còn lỏng lẻo, lực lượng nòng cốt còn mỏng, thiếu cán bộ lãnh đạo... lại đứng trước tình hình và nhiệm vụ mới là lãnh đạo kháng chiến.

Những địa chủ, cường hào lợi dụng sơ hở của tổ chức, đã lọt vào cơ quan chính quyền cấp xã, ấp gây không ít khó khăn trong việc giảm tô, giảm tức theo chủ trương của cách mạng.

2-Nhân dân Cà Mau thi đua khắc phục khó khăn.

Tháng 10 năm 1945, Tỉnh ủy thống nhất của Đảng bộ Cà Mau được thành lập trên cơ sở thống nhất trên 3 nhóm cộng sản và một số đảng viên từ Côn Đảo trở về để kịp thời lãnh đạo quần chúng cách mạng tiếp tục cuộc đấu tranh.

Ủy ban nhân dân tỉnh, cơ quan chính quyền các cấp được củng cố, bọn cường hào lần lượt bị gạt ra khỏi chính quyền.

Thực hiện chủ trương của Trung ương, Chính quyền cách mạng ở địa phương đã bãi bỏ thuế thân và các thứ thuế vô lý trước đây, xoá bỏ nợ nần cũ, thực hiện giảm tô 25 % của Bộ canh nông. Nông dân khắp nơi trong tỉnh rất phấn khởi và hăng hái tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm để nuôi quân đánh giặc và giúp đồng bào ở Miền Bắc chống đói.

Mặt trận Việt Minh và các đoàn thể quần chúng đã góp phần quan trọng trong việc động viên nhân dân thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Chính quyền, tham gia tích cực phong trào chống nạn mù chữ, xây dựng đời sống mới và quyên góp tiền của , học tập quân sự chuẩn bị cho cuộc kháng chiến.

Hưởng ứng “Tuần lễ vàng” do Chủ Tịch Hồ Chí Minh đề xướng, các tầng lớp nhân dân trong tỉnh kẻ ít người nhiều, đóng góp vàng bạc, đá quý, cả tư trang và kỷ vật cho Tổ quốc. Chỉ trong đợt đầu đã góp gần chục ký vàng vào quỹ để mua vũ khí. Phong trào quyên góp tiền của ủng hộ kháng chiến và trực tiếp tham gia lực lượng vũ trang chuẩn bị kháng chiến rất sôi nổi, thể hiện tinh thần kiên quyết bảo vệ nền độc lập dân tộc của nhân dân Cà Mau.

Ngày 06/01/1946, nhân dân nô nức đi bỏ phiếu cử đại biểu của mình vào cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước độc lập.

Công tác giáo dục, y tế xã hội đã tạo được bộ mặt mới. Trường cũ được sửa sang, trường mới được dựng nên, nhiều địa phương đã khai giảng năm học ngay sau ngày tổng khởi nghĩa, số học sinh đến trường ngày mỗi đông hơn. Phong trào chống mù chữ dấy lên sôi nổi ở cả thành thị và nông thôn trong tỉnh. Bệnh viện, trạm xá, thuốc men tuy còn thiếu nhưng tinh thần phục vụ của y Bác sĩ đã gây được thiện cảm trong nhân dân. Nhiều lực lượng tham gia đào tạo y tá để chuẩn bị phục vụ chiến đấu.

Việc vận động xây dựng đời sống văn hoá mới, chủ yếu là xây dựng tình đoàn kết yêu thương, giúp đỡ lẫn nhau trong nhân dân, bài trừ các tệ nạn xã hội  như rượu chè, cờ bạc... đã được các đoàn thể đi sâu động viên, giáo dục và đông đảo nhân dân hưởng ứng nhiệt liệt.

Chỉ sau một thời gian ngắn, bằng nhiệt tình và quyết tâm cách mạng của nhân dân, những khó khăn cơ bản được đẩy lùi, quân dân Cà Mau sẵn sàng bước vào cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp.

3-Thực dân Pháp tái chiếm Cà Mau:

Ngày 29/01/1946 quân Pháp chiếm thị xã Sóc Trăng, sau đó tiến theo quốc lộ 4 (nay là quốc lộ 1A) đánh vào thị xã Bạc Liêu.

Hôm sau ngày 30/01/1946, địch chiếm thị trấn Vĩnh Lợi và Giá Rai, ngày 31/01/1946 chiếm thị trấn Cà Mau và kiểm soát quốc lộ số 4.

Chiếm xong thị xã và các thị trấn, địch mở rộng đánh chiếm các vùng xung quanh. Hàng ngày, chúng đưa quân đi càn quét, đốt phá làng mạc, cướp bóc, hãm hiếp phụ nữ, chúng kích động người Khmer chống lại người Việt, đạo Cao đài, Hoà hảo chống lại Việt Minh,... gây nên những vụ xô xát đẫm máu. Trước tình hình đó một số người hoang mang, dao động, thậm chí có cán bộ, Đảng viên bỏ cả quần chúng, cơ sở, địa bàn hoạt động trốn đi nơi khác, gây thêm khó khăn cho cách mạng.

Câu hỏi:

1-Em hãy trình bày những khó khăn sau cách mạng Tháng Tám ở Cà Mau?

2-Nhân dân Cà Mau đã làm gì để khắc phục khó khăn, góp phần để củng cố chính quyền cách mạng? Hảy kể lại một mẩu chuyện mà em được nghe hoặc đọc được về những tấm gương trong phong trào “Tuần lể vàng”, “Hũ gạo tiết kiệm” hay phong trào bình dân học vụ ở Cà Mau đã gây cho em xúc động mạnh mẽ nhất.

 

 

Bài 8

 

MẶT TRẬN TÂN HƯNG Ở CÀ MAU

 

1-Đặc điểm tình hình:

Với dã tâm quay trở lại xâm lược nước ta, ngay sau khi Nhật đầu hàng đồng minh thực dân Pháp đã âm mưu quay trở lại xâm lược Đông Dương và được sự giúp đỡ của Đế Quốc Anh dưới danh nghĩa quân đồng minh và giải giáp quân đội Nhật. Thực dân Pháp đã quay trở lại xâm lược nước ta. Thị trấn Cà Mau là nơi Pháp chiếm sau cùng ở Miền Tây Nam Bộ.

Nhân dân Cà Mau rất đổi sung sướng tự hào được sống trong những ngày cách mạng Tháng Tám thắng lợi và phấn khởi, được sống trong hoà bình độc lập tự do thật sự do cách mạng Tháng Tám mang lại, nên rất thiết tha với chế độ mới, hiểu sâu hơn về Đảng và Bác Hồ nên sẳn sàng nghe theo tiếng gọi của Đảng, của cả Nam Bộ “nóp với giáo mang lên vai” xông vào chiến đấu mới, với lòng tin tất thắng.

Chiếm thị trtấn Cà Mau, bước đầu Pháp chỉ lẩn quẩn chung quanh các đường phố vì từ thị trấn và tuyến lộ Đông Dương trở vô 4km dân đã triệt để thực hiện chủ trương “Tiêu Thổ kháng chiến” chỉ còn vườn không nhà trống nên địch coi đây là vùng du kích Việt Minh.

2-Diễn biến sự kiện:

Sau khi rút khỏi thị trấn Cà Mau, các cơ quan chính quyền cách mạng tạm lui vào vùng nông thôn tiếp tục lãnh đạo kháng chiến. Lực lượng Cộng Hoà vệ binh quận Cà Mau cùng với du kích xã Tân Hưng (Thạnh Phú) đóng quân theo tuyến lộ Cà Mau – Nàng Âm và sông Rạch Rập đến Đình Tân Hưng, đào đắp công sự, lập chướng ngại vật xây dựng trận địa phòng ngự chống địch lấn chiếm, bảo vệ vùng căn cứ.

Ngày 18/02/1946, Pháp đưa một đại đội lính Pháp hành quân theo trục lộ Cà Mau – Năm Căn để thăm dò lực lượng ta. Khi đến cống Nàng Âm, toán đi đầu lọt vào vòng phục kích của một phân đội cộng hòa vệ binh, chỉ phút đầu nổ súng 2 tên thực dân chết tại chỗ, cả bọn tháo chạy lôi xác đồng bọn một khoảng rồi ném vô đám sậy dấu thây, rút quân về Cà Mau. Ngày hôm sau chúng tập trung quân đội đông hơn chia thành hai mũi đánh vào, quyết đẩy ta ra, nhưng các lực lượng tại đây chia nhiều bộ phận lợi dụng địa hình chặn đánh địch suốt ngày, diệt và làm bị thương một số tên.

Ngày 01/03/1946, chúng lại tiếp tục đưa quân lấn chiếm, với quyết tâm giữ vững trận địa, lực lượng ta phục kích theo tuyến kinh Rạch Rập, nổ súng quyết liệt và anh dũng xung phong, địch hoang mang cuốn chạy bỏ lại trận địa 11 xác chết, ta thu một số lựu đạn và nhiều đạn dược.

Bị thất bại liên tục bọn địch co về cụm lại thị trấn chờ viện binh. Nhân cơ hội đó Quận ủy Cà Mau chủ trương huy động nhân dân từ vùng trong ra đào thêm công sự, rào đấp đường xá, hàn cản trên các đoạn sông, tổ chức tiếp tế. Chính quyết tâm đó nên “Mặt trận Tân Hưng” được hình thành.

Mặt trận Tân Hưng chính diện từ sông Ông Đốc (Voi Vàm) qua Rạch Rập, lộ xe đến Gành Hào, chiều sâu từ sát thị trấn, với khu vực chính là Đình Tân Hưng, bố trí theo hướng từ Tân Hưng đến Cái Rắn.

Sau hơn 3 tháng bị Mặt trận Tân Hưng ngăn chặn không phát triển ra được, bọn cầm đầu cay cú, coi đây là một thách thức lớn của “Việt Minh” đối với quân đội viễn chinh nhà nghề của Pháp. Ngày 02/05/1946 chúng huy động toàn bộ lực lượng có trong Tỉnh kể cả phi cơ, tàu chiến để tấn công Mặt trận Tân Hưng.

Xét thấy Mặt trận Tân Hưng đã hoàn thành nhiệm vụ ngăn chặn địch cho phía sau có thời gian chuẩn bị, mặt khác ta còn phải tiếp tục kháng chiến lâu dài nên Bộ chỉ huy Khu 9 quyết định giải thể Mặt trận Tân Hưng triển khai lực lượng về phía địa phương phát triển chiến tranh Du Kích.

3-Ý nghĩa lịch sử:

-Mặt trận Tân Hưng đã huy động sức mạnh của quân dân ngăn chặn cuộc tiến công của quân Pháp xuống phía Nam trong suốt thời gian 3 tháng trời, góp phần ổn định và chuẩn bị hậu phương kháng chiến.

-Mặt trận Tân Hưng nói lên sức mạnh của toàn dân đánh giặc, bước đầu vận dụng đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng ta.

-Mặt trận Tân Hưng là một sự kiện lịch sử nổi bật của chiến tranh giải phóng Cà Mau trong những ngày đầu kháng chiến.

-Mặt trận Tân Hưng chứng minh sự lãnh đạo kỳ quyết và vận dụng sáng tạo đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng.

-Mặt trận Tân Hưng là một sự kiện lịch sử nổi bật đáng ghi nhớ và niềm tự hào của Đảng bộ Cà Mau trong những ngày đầu kháng Pháp.

Câu hỏi:

1-Hãy trình bày diễn biến dẫn đến sự hình thành và kết quả của Mặt trận Tân Hưng?

2-Ý nghĩa lịch sử của Mặt trận Tân Hưng?

3-Hãy sưu tầm những sự kiện lịch sử có liên quan đến Mặt trận Tân Hưng ?

 

 

Bài 9:

 

CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP CỦA NHÂN DÂN CÀ MAU

 

 

1-Nhân dân Cà Mau xây dựng và củng cố hậu phương, phát triển lực lượng kháng chiến:

Chấp hành chỉ thị của Xứ ủy Nam Bộ, từ tháng 11/1945, nhân dân ở thị xã, thị trấn cùng lực lượng dân quân du kích hăng hái tham gia công tác “Phá hoại” và chuẩn bị “Vườn không nhà trống”, sơ tán về nông thôn, chỉ còn lực lượng vũ trang ở lại chiến đấu.

Sau khi Mặt trận Phước Long bị vỡ, cơ quan Bộ tư lệnh Quân khu 9 rút về Tân Hưng Đông (Xứ ủy và Tỉnh ủy đặt cơ quan tại đây). Từ ngày 03/02/1946, quân Pháp ở thị trấn Cà Mau liên tiếp tấn công vào Mặt trận Tân Hưng.

Sau hơn 3 tháng ngăn chặn địch Mặt trận Tân Hưng rút, quân Pháp nhanh chóng đánh chiếm rộng ra và xây dựng một hệ thống đồn bót dày theo các tuyến sông rạch, lập lại bộ máy tề nguỵ cũ để đàn áp khủng bố những người yêu nước hòng lung lạc tinh thần của nhân dân ta đối với kháng chiến.

Ngày 01/10/1947, được sự hướng dẫn của ủy ban kháng chiến Nam bộ, Ủy ban nhân dân và Ủy ban kháng chiến tỉnh thống nhất thành Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh để chỉ đạo hai mặt công tác kháng chiến và kiến quốc.

Tháng 9/1949, phần lớn đất đai thuộc tỉnh Cà Mau được chọn làm căn cứ chính của Nam Bộ. Tháng 10/1949, Xứ ủy, Ủy ban kháng chiến hành chánh Nam bộ chuyển bộ máy và cơ quan lãnh đạo từ Đồng Tháp Mười về căn cứ U Minh.

Suốt thời gian kháng chiến chống Pháp, Cà Mau là khu căn cứ cung cấp nguồn sống cho cả Miền Tây Nam Bộ và liên tiếp giành được nhiều thắng lợi to lớn trên chiến trường.

2-Nhân dân Cà Mau cùng cả nước phát triển chiến tranh toàn dân, toàn diện, đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp:

Đáp lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Hồ Chủ Tịch, cùng với cả nước, quân dân Cà Mau đã đẩy mạnh chiến tranh du kích, phát triển lực lượng chủ lực của Tỉnh, ngoài các công binh xưởng của quân khu ở Cái Tàu, công binh xưởng của tỉnh được tăng cường và mở rộng.

Ngày 18/5/1947, quân ta đánh chìm tàu “Lơ - Toa - Năng” tại kênh sáng Mương Điều , tiêu diệt hơn một đại đội Pháp và 2 tàu khác ở Vàm đình và Ao Kho. Đồng thời dân quân du kích liên tục bao vây, bức rút hàng loạt đồn bót buộc địch co về thị trấn, thị xã và ven Quốc lộ 4. Vùng giải phóng mở rộng, chiếm đại bộ phận vùng nông thôn trong tỉnh.

Đầu năm 1948, Hội đồng nhân dân ở cả 4 Quận cà Mau, Vĩnh Lợi, Giá Rai, Ngọc Hiển và 34 xã đã được nhân dân bầu ra. Chính quyền cách mạnh giải quyết ruộng đất cho nhân dân, thực hiện chính sách giảm tô, đẩy mạnh sản xuất. Các đoàn thể quần chúng được kiện toàn và hoạt động sôi nổi, Liên hiệp công đoàn được tổ chức ở cả vùng giải phóng lẫn thị xã, thị trấn.

Các hoạt động văn hoá xã hội được đẩy mạnh ngoài các trường tiểu học của tỉnh, huyện  còn có thường thiếu sinh quân của khu 9 và trường Trung học kháng chiến Nam bộ.

Lực lượng dân quân tự vệ và dân quân du kích được xây dựng đều khắp, quốc vệ đội và lực lượng công an xung phong được củng cố và không ngừng phát triển.

Trong những năm 1951 – 1952, lực lượng vũ trang của ta đã thắng trên 40 trận lớn nhỏ, diệt hàng ngàn tên địch, thu nhiều vũ khí.

Phong trào đấu tranh chính trị diễn ra sôi nổi nhất là trong thanh niên, học sinh. Công tác binh vận có kết quả, lôi kéo được hàng trăm binh lính trong quân đội Pháp đào ngũ hoặc làm nội ứng trong việc đánh đồn bót.

Đầu năm 1953, địch tăng cường lực lượng, mở hàng trăm cuộc cán quét đánh phá vào vùng căn cứ của ta, đồng thời xây dựng Cà Mau thành khu quân sự lớn, làm bàn đạp đánh vào căn cú U Minh và Ngọc Hiển. Địch tăng cường hoạt động gián điệp, tiến hành chiến tranh tâm lý hòng lung lạc ý chí kháng chiến của nhân dân ta.

Hưởng ứng chiến cuộc Đông Xuân và chiến địch Điện Biên Phủ, từ cuối 1953 đến giữa 1954, tỉnh cà Mau đã liên tiếp tấn công địch từ mọi phía, trên mọi lĩnh vực, tiêu diệt một lực lớn của địch, bức rút, bức hàng nhiều đồn bót và tháp canh, vùng giải phóng không ngừng được mở rộng, nhân dân được sống tự do.

3-Một số đặc điểm của cuộc kháng chiến chống Pháp ở Cà mau.

Cà Mau có địa hình phức tạp, nguồn nhân lực, vật lực dồi dào tạo nên vị trí chiến lược quan trọng trên chiến trường Nam Bộ. Pháp luôn ở trong tình trạng thiếu quân, căng kéo lực lượng và rơi vào thế bị động, lúng túng đến thất bại.

Cuộc kháng chiến ở Cà mau kéo dài suốt 9 năm kể từ năm 1946 đến ngày 20/ 7/ 1954. Nhưng đến đầu 1948 vùng giải phóng đã chiếm gần hết toàn bộ đất đai của tỉnh và trở thành căn cứ địa vững chắc của chiến trường Nam Bộ. Nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ vùng giải phóng trở thành trung tâm và thường xuyên cho đến ngày thắng lợi.

Xuất phát từ tình hình trên nên việc quán triệt đường lối cách mạng dân tộc, dân chủ và đường lối kháng chiến của Đảng, lấy công tác động viên, giáo dục , tổ chức quần chúng là công tác cơ bản nhất, xây dựng lực lượng chính trị hùng hậu của toàn dân trên nền tảng công – nông liên minh vững chắc để kháng chiến lâu dài đến thắng lợi.

Thực hiện phương châm kháng chiến “Toàn dân, toàn diện, trường kỳ, tự lực cánh sinh”, dân quân Cà Mau vừa chiến đấu, vừa tích cực củng cố hậu phương, xây dựng và phát triển lực lượng về mọi mặt để kháng chiến lâu dài, càng đánh càng mạnh.

Vừa tích cực củng cố, bảo vệ vùng giải phóng, vừa xây dựng ở vùng tạm chiếm, tích cực đánh địch trong thị trấn, thị xã, vừa phát triển lực lượng vũ trang chiến đấu, vừa phát triển lực lượng cách mạng quần chúng để kết hợp đấu tranh vũ trang với chính trị, thành thị với nông thôn.

Một mặt vừa ra sức củng cố và phát triển cơ sở Đảng, mặt khác ra sức xây dựng và củng cố chính quyền các cấp, các đoàn thể trong Mặt trận, để không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo chiến tranh, lãnh đạo công cuộc xây dựng vùng giải phóng phát triển về mọi mặt.

Lực lượng kháng chiến là toàn dân không phân biệt dân tộc, tôn giáo, tuổi tác, thành phần xã hội, đều góp phần làm nên thắng lợi của cuộc kháng chiến.

Kết hợp đánh địch trên bộ, dưới sông với những hình thức độc đáo đầy sáng tạo. Việc hàn cảng để chặn tàu Pháp là phương thức đánh giặc hết sức mới và thu được hiệu quả cao.

Câu hỏi:

1-Nêu một số thắng lợi tiêu biểu về mặt trận quân sự của nhân dân Cà Mau trong kháng chiến chống Pháp. Hãy kể một trận đánh hay một sự kiện gì đó diễn ra tại quê em trong 9 năm kháng chiến chống Pháp mà em biết.

2-Nêu đặc điểm nổi bật trong cuộc kháng chiến chống Pháp của quân dân Cà Mau và nói rõ đặc điểm đó có vai trò như thế nào đối với sự thắng lợi của cuộc kháng chiến.

 

 

Bài 10

 

CÀ MAU – KHU TẬP KẾT 200 NGÀY ĐÊM

(28 /8 /1954 – 13 /3 /1955)

 

1-Đặc điểm tình hình.

Kháng chiến chống Thực dận Pháp kết thúc thắng lợi, nhưng theo tinh thần Hiệp định Giơ - ne- vơ, Miền Bắc hoàn toàn giải phóng, Miền Nam từ vĩ tuyến 17 trở vào tạm thời do quân đội Pháp và ngụy quyền quản lý để tiến tới 2 năm sau tổng tuyển cử thống nhất đất nước. Do đó, lực lương kháng chiến của ta ở Miền Nam phải tập kết ra Bắc.

Lệnh ngừng bắn đối với Nam Bộ bắt đầu từ 7 giờ sáng ngày 11/ 8/ 1954 Cà Mau được chọn làm khu vực tập kết tạm thời 200 ngày.

Ngày 27/ 7/ 1954, quân đội Liên Hiệp Pháp cùng các cơ quan hành chính, cai trị rút khỏi Thị trấn Cà Mau, tắc Vân để ta tiếp quản.

Quân đội, chính quyền ta ở Miền Tây và một phần của Nam Bộ tập kết về đây để chuyển quân ra Bắc. Gia đình bộ đội và cán bộ, đồng bào yêu nước và hâm mộ kháng chiến ở các vùng bị tạm chiếm, ở các thành phố, thị xã cũng kéo về đây đông đảo, gặp gỡ chia tay với các chiến sĩ trước khi lên đường ra Bắc, vui như ngày hội.

Cửa sông Ông Đốc là một trong những bến tập kết lớn đưa các cán bộ, chiến sĩ và con em Cà Mau cũng như Nam Bộ xuống tàu tập kết ra Bắc. Có thể nói, từ cuối 1954 đến 1955, cửa sông Ông Đốc là điểm nối giữa Cà Mau với Miền Bắc, với Bác Hồ.

2- Một số hoạt động của chính quyền cách mạng trong 200 ngày đêm ở Cà Mau:

Ngày 25/ 7/ 1954, Ủy ban quân chính Cà Mau thành lập, do đồng chí Nguyễn Kỳ Hoàng làm chủ tịch. Ủy ban có nhiệm vụ tiếp nhận và quản lý khu vực tập kết cho đến khi bàn giao lại cho đối phương theo quy định. Để phát huy thắng lợi, biểu thị khí thế cách mạng, ngày 26/ 8/ 1954 gần 2 vạn đồng bào từ các huyện Ngọc Hiển, Trần Văn Thời và các xã quanh Cà Mau trương băng, cờ, đội ngũ chỉnh tề tuần hành tràn ngập các đường phố tiến về sân vận động dự mít tinh. Lá đại kỳ nền đỏ sao vàng năm cách tung bay kiêu hãnh trong nắng sớm mùa thu và những tấm băng lớn mang dòng chữ đỏ thắm:

“Hoan hô hoà bình lập lại ở Đông Dương.

Đảng lao động Việt Nam muôn năm !

Hồ Chủ Tịch muôn năm !

Nước Việt Nam độc lập, thống nhất, dân chủ hoà bình muôn năm !”

Tình hình mới tuy có những thuận lợi cơ bản, khí thế phong trào cách mạng dâng lên mạnh mẽ khắp nông thôn, đô thị, niềm phấn khởi, tự hào tràn ngập trong cán bộ, đảng viên, lực lượng vũ trang, đến từng người dân yêu nước. Nhưng bước đầu cũng nảy sinh những khó khăn, phức tạp do địch âm mưu phá hoại Hiệp định... Vì vậy Đảng bộ đã phát động sâu rộng trong nội bộ đến quần chúng nhận thức tinh thần, nội dung các điều khoản của Hiệp định, nhiệm vụ, phương châm, sách lược mới của Đảng. Tiếp tục củng cố vững chắc vùng giải phóng về mọi mặt, xây dựng căn cứ làm chỗ dựa cho cuộc đấu tranh sắp tới. Đồng thời khẩn trương xây dựng chế độ mới của ta ở những nơi vừa tiếp quản để củng cố lòng tin, làm cơ sở chính trị, tư tưởng sau này. Sắp xếp tổ chức, chuyển hướng chiến lược hoạt động cho phù hợp tình hình, điều kiện, khả năng của cách mạng trong giai đoạn mới.

Chính quyền ta tổ chức tiếp tục tạm cấp, tạm giao 12.000 ha ruộng đất cho 3.600 hộ nông dân và cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu cho từng gia đình để làm cơ sở pháp lý đấu tranh với địch. Đặc biệt chính quyền còn dành ra hàng ngàn hecta đất cấp cho nhân dân lao động ở thị trấn Cà Mau, Tắc Vân và ra lệnh xuất trên 10.000 tấn gạo, lúa trong kho, hàng vạn đồng bạc Đông Dương để cứu trợ gia đình nhân dân lao động nghèo đói. Rất nhiều nhà cửa của nhân dân ở nông thôn bị chiến tranh tàn phá và xóm lao động đô thị đổ nát do chính sách bần cùng hóa của địch đã được chính quyền, đoàn thể và bộ đội vận động đóng góp cây lá tu sửa, cất lại mới cho nhân dân, đã giải quyết cho hàng trăm người lao động sống ở vĩa hè, gầm cầu có nơi nương tựa.

Chính quyền địa phương được trên đưa nhiều cán bộ chuyên môn đến trực tiếp đào tạo và chăm bồi đội ngũ giáo viên, y tế, hộ sinh, văn công, văn nghệ phục vụ tận xóm ấp, phố phường. Chỉ trong thời gian ngắn xây dựng trên 48 trường học, 24 nhà bảo sanh, trạm y tế, tổ chức trên 200 lớp học bình dân học vụ, đã xóa nạn mù chữ cho 75% số người không biết đọc, không biết viết. Sở y tế Nam Bộ còn tăng cường bác sỹ, y sĩ trực tiếp đến các trạm y tế để khám bệnh và điều trị trên 10.000 người, trị được nhiều căn bệnh hiểm nghèo. Riêng tại thị trấn Cà Mau hàng trăm người từ vùng Pháp chiếm đóng ở các tỉnh cũng tìm đến để điều trị và ở lại nhiều ngày, được chứng kiến tận mắt cuộc sống trong không khí hòa bình, tự do. Phong trào vệ sinh tẩy uế được bộ đội làm nồng cốt đã thu hút các tầng lớp nhân dân thị trấn tham gia: nạo vét mương rãnh, dọn dẹp rác rưởi, tẩy uế nơi công cộng, làm thêm kinh rãnh, tu sửa hệ thống điện nước cho các xóm lao động. Văn nghệ, thể dục thể thao phát triển rầm rộ, sôi nôi, nhiều sân vận động được dựng lên bộ đội thanh niên tổ chức giao hữu ở các sân được đông nghịch người xem cổ vũ. Các đội văn công, văn nghệ, chiếu phim lưu động, nhiều đội lân, đội múa của thiếu nhi mang lời ca tiếng hát kháng chiến đến tận xóm ấp ngày đêm nối tiếp nhau không ngớt. Chính quyền tổ chức Mít tinh mừng công, báo công trao tặng bằng khen, giấy khen tuyên dương công trạng của Chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa cho các gia đình, tập thể, cá nhân có công với cách mạng, thương binh liệt sĩ, ... Đồng thời có chính sách chăm lo đối với gia đình có người đi tập kết nên người đi, kẻ ở lại đều hứa hẹn hoàn thành nhiệm vụ. Đảng bộ và chính quyền địa phương tổ chức nhiều nơi đón tiếp nồng hậu thân nhân của cán bộ, bộ đội đang có mặt trong các khu vực tập kết như đón người thân của mình. Hàng ngàn người mặc dù đang sống trong lòng địch kiểm soát ở các thành phố, thị xã cũng đến đưa tiễn người đi tập kết. Có những người đứng đầu các Đảng phái, Tôn giáo, trí thức, tư sản cũng đến nhìn tận mắt chế độ ưu việt của cách mạng, khi đến họ rất thiết tha với cuộc sống và khi về họ mang theo sự luyến tiếc. Các bến xe, bến tàu ở Cà Mau tấp nập hành khách đi lại, Cà Mau lúc nào cũng như ngày hội và trật tự an toàn không cần phải giới nghiêm. Cuộc sống của Cà mau thật tự do, việc giao lưu hàng hóa ở nông thôn, thành thị dể dàng thu hút người từ nơi khác đến lập nghiệp, nền thương mại cần phát triển, tiểu thủ công nghiệp vươn lên, dân số thị trấn Cà Mau tăng lên rất nhanh. Thương nhân các tỉnh thành về đây mua bán, do đó Cà Mau trở thành trung tâm chính trị, kinh tế của tỉnh lúc bấy giờ.

Các chuyến tàu chuyển quân tập kết ra Miền Bắc nhổ neo rời bến, hàng ngàn cánh tay vẫy chào tạm biệt đầy lưu luyến, kẻ ở người đi mang theo trong lòng ý trí quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ vinh quang và tràn đầy hứa hẹn: Ngày mai Nam – Bắc sum họp. Ngay sau đó nhân dân Cà Mau lại bước đầu cuộc chiến đấu mới, với niềm tin tưởng sắt đá vào thắng lợi cuối cùng.

3-Ý nghĩa thắng lợi:

-Chính quyền cách mạng ra sức thực hiện hoàn thiện các chủ trương chính sách của Đảng, nhân dân Cà Mau sống những ngày hòa bình, độc lập, tự do, hạnh phúc. Thành tựu xây dựng cuộc sống mới chưa nhiều nhưng ý nghĩa chính trị, của bức tranh hiện thực Cà Mau rất lớn. Nhân dân trong tỉnh và nhân dân các nơi về đây khẳng định con đường ấm no và hạnh phúc mà Đảng hướng dẫn cho mình đi tới là đúng.

-Thật kỳ diệu biết bao, từ  một thị trấn đầy rẫy công sự, kho tàng, căn cứ quân sự, trống rỗng về mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, bại hoại về xã hội do thực dân để lại, sau 200 ngày với thời gian thật là ngắn ngủi do chính quyền cách mạng quản lý, bộ mặt thị trấn Cà Mau hoàn toàn thay đổi, tạo ra một bức tranh toàn cảnh sinh động tiêu biểu cho chế độ mới do Đảng ta mang lại.

-Uy tín và ảnh hưởng của cách mạng ngày càng sâu rộng, tạo ra ý nghĩa chính trị vô cùng to lớn, vừa có tác dụng củng cố niềm tin vào sự nghiệp vẽ vang trong cuộc đấu tranh mới, vừa làm cơ sở hiện thực phong phú để đập tan những luận điệu tuyên truyền xuyên tạc bỉ ổi sau này của Mỹ Nguỵ.

-Trong những năm 1930, Cà Mau là một trong những cái nôi của cách mạng, trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Cà Mau là vùng căn cứ địa Nam Bộ, khi hòa bình lập lại, Cà Mau là địa điểm tập kết của lực lượng kháng chiến Nam Bộ được Đảng và Chính phủ chăm lo mọi mặt, đó là niềm vinh dự tự hào vô cùng to lớn của Đảng bộ và nhân dân Cà Mau.

Câu hỏi:

1-Vì sau có sự kiện khu tập kết 200 ngày đêm ở Cà Mau?

2-Hãy nêu một số hoạt động của chính quyền cách mạng trong 200 ngày đêm tập kết ở Cà Mau?

3-Ý nghĩa thắng lợi của khu tập kết Cà Mau như thế nào?

 

 

Bài đọc thêm:

 

ÔNG BA DUẨN “ĐI TẬP KẾT”

 

Báo Nhân dân, số ra ngày 07/04/1982, kể lại câu chuyện cảm động như sau:

Vào một ngày nắng chang chang cuối một mùa khô, miệt sông Ông Đốc, nườm nượp hàng vạn đồng bào khắp cả một vùng căn cứ, không ít người từ lục tỉnh nữa đổ về, đứng chật đôi bờ dòng sông tiển đưa chuyến tàu chót tập kết ra Bắc. Trên boong con tàu KilixKi trắng xóa, người ta trông thấy đồng chí Lê Duẩn đi cùng với đồng chí Lê Đức Thọ. Dư luận bàn tán: Ông Ba Duẩn với Ông Sáu Thọ đến chuyến chót này mới đi sao?

Điều không ai có thể ngờ tới được là đồng chí Lê Duẩn bước chân lên tàu KilixKi chỉ để đánh lạc hướng quân thù. Một trong những người trực tiếp tổ chức cho đồng chí Lê Duẩn ở lại là đồng chí Võ Văn Kiệt. Đồng thời đồng chí Võ Văn Kiệt kể lại rằng: Tôi là Bí thư Tỉnh ủy Bạc Liêu, lúc bấy giờ được trao nhiệm vụ bí mật đưa anh Ba (Tên gọi thân mật của đồng chí Lê Duẩn) trở về địa phương. Ngay đêm đó, tôi mời anh về nghỉ ở nhà một bà con tin cẩn. Sáng ra, tôi thấy cả nhà có vẻ càng xúc động mừng rỡ khác thường, tôi chưa hiểu ra thế nào, sà xuống ngồi  nhổ lông vịt với thím chủ nhà, nghe ngóng.

-Ông Duẩn ở lại đây hở cậu ? – Thím chủ nhà không nén được phấn chấn giọng thầm thì, hỏi thẳng tôi.

-Ông Duẩn nào ? – Tôi tảng lờ không biết coi như chuyện tầm phào.

-Ông Ba Duẩn chớ ông nào ? – Tôi chông rõ ràng mà.

-Tầm bậy ! Thím nói tầm bậy !...

-Cậu nói tôi tầm bậy, tôi lấy hình ra cho coi ngay.

-Làm sao mà thím lại có hình ?

-Hình Báo mình đăng hồi nọ, tôi cất trên trang thờ Bà.

Tôi chỉ cần biết dặn gia đình hết sức giữ bí mật.

Sau ngày Miền Nam hoàn toàn giải phóng, chúng tôi có dịp đến một số nơi mà trước đây đồng chí Lê Duẩn cùng Đảng bộ Miền Nam, Đảng bộ Bạc Liêu lãnh đạo cuộc đấu tranh chống Mỹ – Diệm. Đó là vùng Lạc – Mỹ Tân, Địa danh mà lúc bấy giờ đồng chí Lê Duẩn thường ở (Phong Lạc, Phú Mỹ, Tân Hưng Tây). Bà con ở đây kể nhiều chuyện cảm động về “Anh Ba”, “Bác Ba”, về đồng chí Lê Duẩn trong những ngày nước sôi lửa bỏng nhưng rất hào hùng ở Bạc Liêu. Đó là Ông Phạm Văn Đỏ ở ấp Tân Quảng, xã Tân Hưng Tây đã cùng vợ và các con, nuôi và che chở đồng chí Lê Duẩn nhiều ngày trong gia đình mình. Chén cơm, tách nước cho “Bác Ba” trong những ngày gian khổ đang còn là một câu chuyện cảm động không bao giờ quên trong gia đình người nông dân nghèo nhưng rất giàu lòng yêu nước ấy.

Sau ngày Miền Nam hoàn toàn giải phóng không bao lâu, đồng chí Lê Duẩn trở lại thăm vùng đất cực Nam của Tổ quốc. Một vùng đất như đồng chí đã nói “Tôi có cái may đã hoạt động ở Minh Hải trong thời kỳ chống Pháp và những năm đầu đấu tranh chống Mỹ và tay sai. Tôi đã sống nhiều nơi trong vùng U Minh, Thới Bình, Năm Căn và ở đâu cũng được đồng bào tận tình che chở, giúp đỡ. Những năm tháng ấy đã để lại cho tôi nhiều kỷ niệm sâu sắc”.

(Theo Minh Hải địa chí).

 

 

 

CHƯƠNG IV

NHÂN DÂN CÀ MAU TRONG THỜI KỲ KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ

 

 

Bài 11:

 

PHONG TRÀO ĐẤU TRANH CHÍNH TRỊ CỦA NHÂN DÂN CÀ MAU SAU HIỆP ĐỊNH GIƠNEVƠ 1954

 

1-Mỹ – Diệm âm mưu phá hoại hiệp định Giơnevơ:

Sau khi hiệp định Giơnevơ được ký kết, đế quốc Mỹ nhảy vào Miền Nam phá hoại hiệp định âm mưu chia cắt lâu dài đất nước ta. ở Miền Nam chúng dựng lên chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm, nhằm biến Miền Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của chúng.

Ở Cà Mau, với bộ máy nguỵ quân nguỵ quyền và một số Cố vấn Mỹ điều khiển cùng với viện trợ kinh tế và quân sự Mỹ, chúng quyết tâm tiêu diệt phong trào cách mạng ở đây. Năm 1955, ngay sau khi ta bàn giao toàn bộ khu tập kết, chúng củng cố lại bộ máy chính quyền tay sai từ tỉnh đến xã, ấp, ráo riết bắt lính và dựng các tổ chức phản động như “Lực lượng bảo vệ hương thôn”, “Thanh niên Cộng hòa”, “Phong trào cách mạng quốc gia”... Tăng cường mua chuộc bắt bớ và tra tấn dã man đối với những người kháng chiến cũ. Chúng lập ra tổ chức “Ngũ gia liên bảo” cùng với bọn tề điệp, Công an mật vụ để kềm kẹp đồng bào ta, liên tiếp mở những chiến dịch “Tố cộng, diệt cộng”, kết hợp với càn quét khủng bố, bắt giết những người kháng chiến; tổ chức phân loại gia đình gây tâm lý hoang mang; gây chia rẽ lương giáo, giữa người Việt, Khmer, Hoa.

Từ năm 1957 đến 1959, địch tăng cường lực lượng chủ lực, lực lượng bảo an, mật vụ, công an, mở nhiều cuộc càn quét, bắn phá vào căn cứ cách mạng, thành lập “Khu trù mật”, “Khu dinh điền” để gom dân nhằm thực hiện âm mưu “Tát nước bắt cá”, tách cán bộ khỏi dân để tiêu diệt. Đặc biệt, chúng cho xây dựng đặc khu Bình Hưng, sử dụng đám tàn quân Tưởng do Nguyễn Lạc Hóa cầm đầu, biến vùng đất này thành “Địa ngục trần gian”.

Ngày 06/05/1959, Ngô Đình Diệm ban hành “Luật 10/59” làm quốc sách chống cộng, với phương châm “Thà giết oan hơn thả lầm”, chúng lê máy chém khắp nơi và dưới hình thức tế cờ, một hình thức hành quyết dã man những cán bộ kháng chiến và những ai chúng tình nghi có quan hệ với cách mạng để uy hiếp tinh thấn của nhân dân ta trong tỉnh. Không khí khủng bố, giết chóc bao trùm lên khắp xóm làng.

2-Phong trào đấu tranh của nhân dân Cà Mau dòi Mỹ – Diệm thi hành hiệp định Giơnevơ, đập tan âm mưu bình định Miền Nam (1954 – 1959):

Từ năm 1955 đến 1957, phương hướng đấu tranh của nhân dân Cà Mau là chống âm mưu, thủ đọan lừa mị, mua chuộc, khủng bố của địch, giữ vững thành quả cách mạng, giữ gìn lực lượng cách mạng.

Nhiều cuộc đấu tranh diễn ra ở thành thị và chung quanh đồn bót địch. Chị em tiểu thương chống đuổi chợ, đòi giảm thuế; học sinh và giáo chức vạch mặt bọn mật vụ đội lốt giáo viên, loại chúng ra khỏi trường; Công nhân ở các nhà máy đòi tăng lương cải thiện đời sống, trước hết là cải thiện bữa ăn.

Ở nông thôn, bà con phát triển hình thức “Dân canh chống cướp”, một cuộc đấu tranh mang tính sáng tạo độc đáo, có tác dụng giải thoát cho cán bộ bị địch vây hoặc cứu thóat cho thanh niên bị địch bắt, làm cho địch hoảng sợ. Đây thực sự là cuộc tập dượt của quần chúng, đặt nền móng cho khởi nghĩa đồng loạt sau này.

Từ nội dung đòi dân sinh, dân chủ, cuộc đấu tranh đã được nâng lên “Đòi Nguỵ quyền phải thực hiện hiệp định đình chiến, tổng tuyển cử thống nhất nước nhà; “Chống bầu cử Quốc hội giả hiệu” của Mỹ – Diệm.

Đầu năm 1957, Diệm ra chỉ dụ về cải cách điền địa nhằm khôi phục giai cấp địa chủ làm chỗ dựa cho Nguỵ quyền. Thế lực của địa chủ vừa mới được khôi phục đã bị nông dân đánh sụp ở nhiều nơi.

Để hỗ trợ và kết hợp với đấu tranh chính trị cũng như tích cực chuẩn bị cho việc giành chính quyền về tay nhân dân, lực lượng vũ trang của các huyện được thành lập và trang bị vũ khí khá tốt. Căn cứ địa cách mạng được củng cố và phát triền vững chắc, hình thành nên một thế trận độc đáo: “Làng rừng” là nơi xuất phát của bộ đội và cán bộ ta đi hoạt động, đồng thời là nơi xây dựng lực lượng của Bạc Liêu – Cà Mau, nó tồn tại cho đến ngày nổ ra “Đồng khởi” ở Miền Nam.

Câu hỏi:

1-Âm mưu phá hoại hiệp định Giơnevơ của Mỹ – Diệm được thể hiện như thế nào?

2-Điểm lại một số hình thức chủ yếu trong cuộc đấu tranh chính trị chống Mỹ – Diệm của nhân dân Cà Mau mà em biết?

3-Hãy sưu tầm những mẫu chuyện, những tư liệu lịch sử về tội ác của Mỹ – Nguỵ trong những năm 1955 – 1960 ở Cà Mau.

 

 

Bài 12:

 

PHONG TRÀO ĐỒNG KHỞI Ở CÀ MAU VỚI SỰ KIỆN LÀNG RỪNG

 

 

I- ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH.

1-Âm mưu thủ đoạn của địch:

Sau khi ta tuyển quân tập kết ra Bắc, địch bắt đầu đưa quân trở lại thành lập bộ máy cai trị của chúng từ tỉnh đến cơ sở. Đặc biệt là tiến hành lập hệ thống quân sự, đóng các đồn bót và chi khu để ngăn chặn phong trào cách mạng trong tỉnh và tiến hành lập bộ máy hành chính từ tỉnh đến xã, ấp để cai trị; đồng thời lập các tổ chức phản động chống lại cách mạng như “Thanh niên cộng hoà”, “Thanh niên bảo vệ hương thôn”... Và lập các khu “Trù mật” để gom những gia đình có liên quan đến cách mạng vào khu tập trung để chúng dễ bề quản lý và đàn áp. Đặc biệt chúng thực hiện Luật 10/59 đưa cộng sản ra ngoài vòng pháp luật, có nghĩa là tự do bắn giết những người mà chúng cho là có quan hệ với cộng sản và còn tiến hành đi lùng sục tìm bắt những gia đình kháng chiến cũ.

2-Đối với ta:

Để chống lại âm mưu thủ đoạn của địch, ta chủ trương phân tán và tinh gọn lực lượng để tránh sự tổn thất. Vì thế các tổ chức đoàn thể của cách mạng được thay đổi “biến tướng” thành các tổ chức dưới dạng hợp pháp như Hội phụ nữ thành Hội nữ công,  Hội nông dân thành tổ chức vạn vần đổi công hoặc Hội phụ huynh học sinh...  Đồng thời còn chọn một số đảng viên nòng cốt, có tư tưởng vững vàng mà chúng không thể biết để đưa vào bộ máy của địch hoạt động nhằm từng bước xây dựng cơ sở của ta để chờ thời cơ nổi dậy. Đặc biệt là tổ chức xây dựng hàng chục làng rừng trong tỉnh để tạo thế và lực mới cho đồng khởi.

 

II- DIỄN BIẾN SỰ KIỆN LÀNG RỪNG VÀ DẪN ĐẾN ĐỒNG KHỞI.

1- Sự kiện làng rừng:

Làng rừng là một hình thức tổ chức bất hợp pháp với địch; đã xuất phát từ kế hoạch gom dân, đàn áp của định, quần chúng sống không chịu nổi chế độ cai trị (kềm kẹp) của địch mà bỏ làng kéo  vào rừng thành lập làng mới trong rừng để  tổ chức chống lại địch.

Làng rừng, ban đầu bà con vào từng tốp và lẻ tẻ dần dần số lượng người trong rừng ngày càng đông theo tuyến của các xã ven rừng (tràm, đước, rừng chồi...).

Cuối năm 1958 các làng rừng ở xã Khánh An và Khánh Bình Đông, Khánh Bình Tây được hình thành. Và sau đó các “Làng rừng” ở Tân Tiến, Tân Thuận, Cái Cám, Sào Lưới, Tân Hưng Tây, Phú Mỹ, Mũi Ông Lục, Biển Bạch, Trí Phải... đã đưa số làng rừng trong tỉnh lên đến 12 “Làng rừng”.

Làng rừng được tổ chức rất chặt chẽ, có lực lượng canh gác nhiều chặng để kiểm soát những người lạ mặt vào. Đồng thời còn tổ chức các đoàn thể (Thanh niên, Phụ nữ, nông hội);  có chi bộ Đảng để lãnh đạo các hoạt động quần chúng trong “Làng rừng". Có những “Làng rừng” bà con cất trường học, trạm y tế; sinh hoạt lao động theo tổ chức của đoàn thể quản lý nhằm đảm bảo lao động sản xuất phục vụ đời sống của “Làng rừng”.

Tổ chức trong “Làng rừng” hoạt động từ thấp đến cao. Vừa hoạt động trong “Làng rừng” vừa tổ chức quan hệ với bên ngoài để nắm tin tức và móc nối những cơ sở của ta. Cho nên “Làng rừng” nào  đều cũng có mối quan hệ mật thiết bên ngoài (theo đường dây cốt cán), từ đó xây dựng dần lực lượng cách mạng tại chỗ. Như “Làng rừng” ở Khánh Bình Đông, Khánh Bình Tây đã thành lập đội võ trang tuyên truyền ra hoạt động bên ngoài. Nhiều “Làng rừng” khác trong tỉnh vào giữa năm 1959 đều bung ra hoạt động móc nối lại cơ sở đi vận động tuyên truyền, tìm diệt những tên gây tội ác để tạo sự nổi dậy của quần chúng, tiến lên Đồng khởi trong tỉnh. Thực hiện tinh thần Nghị quyết 15 của ban chấp hành Trung ương Đảng, Tỉnh ủy đã ra lời kêu gọi nhân dân trong tỉnh đứng lên. Lời kêu gọi có đoạn ghi: “... Hỡi đồng bào, bấy lâu nay ngậm đắng nuốt hờn, đã đến lúc chúng ta phải vùng dậy. Chúng ta không thể sống dưới cảnh khủng bố, đàn áp, bị bắt, bị giết lúc nào không hay, sống nay chết mai...: Lời kêu gọi còn nhấn mạnh: “tất cả hãy đứng lên, sắm sửa vũ khí đứng lên và lấy vũ khí địch mà đánh lại địch; Hãy trừ khử bọn ác ôn giành lại xóm làng”. Qua lời hiệu triệu của Tỉnh ủy đã tạo thành ngọn cờ phát động quần chúng trong tỉnh. Vì thế sự nổi dậy đồng khởi  của nhân dân Cà Mau nổ ra dần từ giữa năm 1959 đến đầu năm 1960, đã phá vỡ hầu hết bộ máy chính quyền của Nguỵ ở nông thôn. Các xã, ấp trong tỉnh được giải phóng cơ bản, khí thế cách mạng của quần chúng nổi dậy mạnh mẽ, nhiều nơi tổ chức mít tinh, biểu tình để biểu dương lực lượng rầm rộ khắp nông thôn. Bọn tề bỏ chạy ra các đồn bót và chi khu theo tuyến giao thông chính của chúng, vùng nông thôn được giải phóng.

 

III-Ý NGHĨA.

-Các “Làng rừng” được xây dựng và phát triển đã tạo cho hậu cứ của ta ngày được vững chắc, đã mở ra được thế và lực mới, có ý nghĩa cho phong trào đồng khởi của tỉnh nhà.

-Thắng lợi Đồng khởi của tỉnh (1959- 1960) đã đánh dấu sự vận dụng linh hoạt đường lối chủ trương của Đảng vào tình hình cụ thể của địa phương, tạo ra bước nhảy vọt của phong trào cách mạng quần chúng ở nông thôn.

-Thắng lợi Đồng khởi còn có ý nghĩa sâu sắc về sức mạnh nổi dậy của quần chúng dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ đã kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh chính trị với đấu tranh võ trang và từng bước phá vỡ bộ máy chính quyền cơ sở của địch ở trong tỉnh.

-Thắng lợi Đồng khởi còn cổ vũ phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân tỉnh nhà ngày được phát triển mạnh mẽ, tạo tiền đề cho thắng lợi nối tiếp của Đảng bộ và quân dân tỉnh Cà Mau trong thời kỳ chống mỹ, cứu nước.

Câu hỏi.

1-Nêu vài ý tình hình trước Đồng khởi của tỉnh Cà mau ?

2-Trình bày những nét chính về “Làng rừng” trong tỉnh ?

3-Nêu ý nghĩa Đồng khởi của tỉnh Cà Mau ?

 

 

Bài đọc thêm:

 

LÀNG RỪNG CÀ MAU

 

“Làng rừng Cà Mau là một nét đặc trưng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân vùng Đất Mũi - điểm tận cùng Tổ quốc. Đúng như lời đồng chí Lê Duẩn đã nói: “Khi địch lê máy chém khắp Miền Nam đưa sự tàn bạo Phát xít đến cùng cực, ở Minh Hải có hàng vạn Thanh niên vào rừng U Minh. Một không khí cách mạng bùng lên. Chính từ thực tế đó, Minh Hải giúp cho Trung ương thấy cần phải và có thể phát động quần chúng nổi dậy và đấu tranh”.

Ý nghĩa thực tiễn và giá trị lịch sử của “Làng rừng” rất to lớn. Vì vậy, ngày 08/01/1993, một cuộc hội thảo khoa học về “Làng rừng Cà Mau” đã được Tỉnh ủy Minh Hải tổ chức. Nhiều vấn đề được đặt ra, thu hút sự chú ý của nhiều nhà khoa học. Góp phần vào việc nghiên cứu sự kiện này, chúng tôi trình bày một vài ý kiến nhỏ.

Trước hết, cần đặt các vấn đề tìm hiểu “Vì sao “Làng rừng” lại ra đời ở tỉnh Cà Mau trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước ?”, “Nội dung Làng rừng là gì ?”, “Tác dụng và ý nghĩa của nó ra sao ?”...

Ở Miền Nam, sau Hiệp định Giơnevơ được ký kết, ta chuyển quân tập kết ra Bắc, đồng thời tích cực chuẩn bị lực lượng lại tiếp tục đấu tranh buộc địch phải thi hành đúng Hiệp định đã ký, bảo vệ thành quả cách mạng. Trong khi đó, Ngô Đình Diệm theo lệnh Đế quốc Mỹ, ra sức xây dựng hệ thống chính quyền phản động từ Trung ương đến cơ sở. Chúng tiến hành phân chia nhân dân thành các loại “Gia đình Cộng sản, thân cộng, có cảm tình với Cộng sản”, “gia đình quốc gia, thân quốc gia”, để từ đó có đối sách riêng biệt. Chúng tập trung bình định, đánh phá cách mạng ở mức cao, ngày càng thể hiện rõ dã tâm tàn bạo, phát xít đến cùng. Với “Luật 10/59”, chúng lê máy chém khắp Miền Nam; đi đến đâu chúng cũng gây nên cảnh máu đổ đầu rơi đến đó.

Trong giai đoạn bình định khốc liệt của địch vào những năm sau 1955, lực lượng ở Cà Mau bị tổn thất lớn; quần chúng trong cảnh đàn áp, khủng bố dã man của kẻ thù. Trước tình hình đó, Tỉnh ủy Cà Mau chủ trương phải có hình thức đấu tranh mới thích hợp với hoàn cảnh địa phương. Đó là “xây dựng cân cứ địa ở rừng U Minh để tạo chỗ dừng chân cho các cơ quan lãnh đạo và bộ đội tập trung; đồng thời để có nơi giữ gìn cán bộ, đảng viên bị lộ, bị địch truy lùng, khủng bố, ẩn tránh”. Chủ trương mới của Tỉnh ủy như một luồng gió mới thổi vào tinh thần sôi sục cách mạng của nhân dân bị địch bức ép, kềm kẹp.  

Vào đầu năm 1958, đông đảo quần chúng đã quyết định bỏ làng quê cũ vào rừng lập làng mới để đi theo Đảng làm cách mạng đến cùng. “ Làng rừng” được hình thành từ đó. Tên “ Làng rừng” do nhân dân tự đặt hàm chỉ những cụm dân cư có cùng ý chí chống giặc Mỹ xâm lược và tay sai, được xây dựng trong rừng căn cứ. Nhân dân quy tựu thành làng xóm ở nhiều nơi thuộc rừng U Minh, rừng đước và rừng chồi . Số “Làng rừng” ngày một đông, tiêu biểu là các làng Nguyễn Phích, Khánh Lâm, Khánh An, Khánh Bình Tây, Phú Mỹ, Năm Căn, Viên An, Vồ Dơi...

 “Làng rừng” mang đầy đủ những yếu tố, thể hiện tính nhân sinh, văn hóa, xã hội, giao lưu, cuộc sống và cách sinh hoạt của cộng đồng người có tổ chức. “ Làng rừng” ngày càng phát triển phong phú, đa dạng thì tinh thần đoàn kết đùm bọc giúp đỡ lẫn nhau của quần chúng nhân dân ngày càng nổi rõ hơn bao giờ hết.

Trong “Làng rừng”, dưới sự lãnh đạo của Đảng, ban quản lý, ban quản trị làng được thành lập, đảm nhận chức năng của chính quyền cơ sở. Các tổ chức toàn thể quần chúng, như thanh niên, phụ nữ, nông dân.., cũng tham gia điều hành mọi hoạt động của “Làng rừng”. Những sản phẩm do lao động của nhân dân tự làm ra, hoặc có được từ mọi nguồn thu nhập đều được ban quản lý “Làng rừng” phân phối một cách công bằng, hợp lý không để ai phải chịu nghèo đói. Mặc dù cán bộ , Đảng viên và nhân dân ta lúc bấy giờ chưa hiểu đầy đủ việc xây dựng chủ nghiã xã hội ở Miền Bắc, song với lòng tin tưởng và ước vọng đều gọi “Làng rừng” là “ Làng xã hội chủ nghiã”. Điều này cũng thể hiện nhận thức về việc gắn độc lập dân tộc với chủ nghiã xã hội.

Đến cuối 1959, lực lượng cách mạng phát triển mạnh mẽ, các cuộc đấu tranh của quần chúng nhân dân nổi lên rầm rộ nhiều nơi trong tỉnh, bọn ác ôn tề ngụy bị trừng trị, chính quyền địch tan rã từng mảng, vùng tự do ngày càng được mở rộng. Vùng nào được giải phóng thì nhân dân các “Làng rừng” lại lần lượt trở về với ruộng vườn của mình, tiếp tục bám đất giữ làng, tăng gia sản xuất, chuẩn bị kháng chiến. Vì vậy, Nghị quyết 15 của Trung ương Đảng thì “Làng rừng” không còn tồn tại như trước đó, chỉ còn lại các công binh xưởng, cơ sở quân y, dân y... được duy trì ở vùng căn cứ vững chắc trong rừng. Tuy nhiên, tinh thần, tổ chức thời chiến của “Làng Rừng” vẫn được thể hiện trong cuộc sống của nhân dân giải phóng ở vùng Cà Mau.

...Từ thực tiễn “Làng Rừng Cà Mau” những năm 1958- 1960, Tỉnh uỷ, các nhà nghiên cứu đã rút ra mấy vấn đề chủ yếu sau đây:

-“Làng rừng” là biểu tượng tinh thần bất khuất của nhân dân Cà Mau trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, thể hiện truyền thống chung của dân tộc.

-“Làng rừng” phù hợp với bối cảnh và điều kiện của tỉnh Cà Mau lúc bấy giờ. Trước hết, nó làm ổn định tinh thần, tư tưởng của lực lượng đấu tranh bất hợp pháp lúc bấy giờ, tiếp tục đưa phong trào cách mạng từ thế giữ gìn lực lượng, bảo vệ cơ sở cách mạng sang thế tấn công.

-“Làng rừng” đã giử gìn, bảo vệ, xây dựng cơ sở vật chất cho cuộc kháng chiến, như các công binh xưởng ngày càng phát triển.

-“Làng rừng” còn là biểu tượng cho truyền thống đoàn kết nhất trí, tinh thần tương trợ giúp đỡ lẫn nhau của quân dân ta trong sinh hoạt cũng như đấu tranh chống kẻ thù xâm lược. Sinh sống ở “Làng rừng” mọi người đều nghĩ đến cái chung, đều quan tâm cho lợi ích tập thể hơn là chỉ cho bản thân mình.

-“Làng rừng” là hình thái tiến công phù hợp với điều kiện đấu tranh của quân và dân tỉnh Cà Mau. Nhìn bề ngoài, “Làng rừng”tưởng chừng như là một hình thức tổ chức để đánh địch, bảo vệ lực lượng phòng ngự, nhưng thực chất nó thể hiện tư tưởng tiến công. Bởi vì, “Làng rừng” là căn cứ, là điểm tựa và là bàn đạp cho lực lượng ta tỏa ra hoạt động vũ trang tuyên truyền đánh địch.

-“Làng rừng” là biểu tượng cho sự nhạy cảm về chính trị, sự thông tin về nghệ thuật lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ Cà Mau. Trước những khó khăn tưởng chừng như không vượt qua, Đảng bộ sáng suốt lợi dụng thế của rừng để xây dựng căn cứ, tập hợp lực lượng, chấn chỉnh đội ngũ, từng bước tiến công địch giành thế chủ động về ta.

Việc hình thành “Làng rừng” có 3 yếu tố: yếu tố thứ nhất là Cà Mau được thiên nhiên ưu đãi có rừng U Minh, có rừng thì mới có “Làng rừng”. Yếu tố thứ hai là do địch khủng bố hết sức dã man, dân không thể sống được nên dân tìm đến Đảng, đi theo Đảng. Yếu tố thứ ba là sự lãnh đạo của Đảng kịp thời mở cửa đón rước những nạn nhân của chế độ Mỹ – Diệm đưa họ vào rừng để cứu sống họ và tổ chức họ chiến đấu.

Như vậy, việc nhân dân tạm rời làng cũ, vào rừng xây dựng làng mới, thoát khỏi bộ máy chính quyền phát-xít Mỹ-Ngụy không phải là việc “chạy trốn giặc”mà là tiếp tục cuộc đấu tranh mạnh mẽ chống bọn xâm  lược và tay sai phù hợp tình hình khó khăn lúc bấy giờ. Vì vậy, nhân dân “Làng rừng” không mất mối liên hệ với đồng bào đang đấu tranh trong lòng địch. “Làng rừng” không phải là một “ốc đảo” kiểu Lương Sơn Bạc trong Thủy Hử, mà giữ vững và phát triển mối liên hệ với các cuộc đấu tranh của những người còn sống hợp pháp ở vùng địch, vùng tranh chấp và tạm chiếm; là bức trường thành bảo vệ “Làng rừng” nhân dân vùng địch tạm chiếm luôn hướng về “ Làng rừng” với niềm tin tưởng mãnh liệt. Nhiều người tuy chưa có điều kiện vào “Làng rừng”, nhưng tìm cách gởi chồng con mình vào “Làng rừng” tham gia hoạt động cách mạng và không cộng tác với kẻ thù. “Làng rừng” lại là căn cứ hoạt động cách mạng trong vùng. Mối quan hệ này là đảm bảo cho cách mạng Cà Mau được giữ vững và phát triển cùng với cách mạng Miền Nam và cả nước. Tuy có nhiều khó khăn về vận chuyển vũ khí, chi viện sức người, sức của, song lực lượng cách mạng Cà Mau đã trưởng thành nhanh chóng, tạo nên những thắng lợi vẻ vang, như chiến thắng Đầm Dơi – Cái Nước – Chà Là; cuộc tấn công nổi dậy xuân Mậu Thân 1968  tại thị xã Cà Mau và cuộc tổng tấn công và nổi dậy mùa xuân 1975 để giải phóng quê hương, giải phóng Miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Sự kiện “Làng rừng Cà Mau” cần được tiếp tục nghiên cứu sâu sắc, để hiểu rõ một hình thức tổ chức căn cứ địa, thể hiện tính chất một cộng đồng truyền thống làng xã đặc thù địa phương vào thời chiến. “Làng rừng Cà Mau” làm phong phú truyền thống, nghệ thuật đánh giặc giữ nước, giữ làng, giữ nhà của nhân dân Việt Nam nói chung và nhân dân Cà Mau nói riêng. Việc nghiên cứu “Làng rừng Cà Mau” có tác dụng giáo dục truyền thống dân tộc và truyền thống cách mạng địa phương cho nhân dân ta, đặc biệt là cho thế hệ trẻ Cà Mau.

(theo Thạc sĩ Thái Văn Long – Trích trong “Một số vấn đề lịch sử” khoa Sử Trường ĐHSP Hà Nội – NXBĐQG HN – năm 1999)

 

 

Bài 13:

 

NHÂN DÂN CÀ MAU ĐẤU TRANH CHỐNG MỸ NGỤY

(1960 – 1968)

 

 

I -ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH:

1 – Những âm mưu của địch:

Sau thắng lợi đồng khởi của nhân dân Miền Nam, địch tìm mọi cách để trả đũa, cho nên chúng dùng nhiều hình thức chiến lược chiến tranh để chống lại phong trào cách mạng của nhân dân Miền Nam.

Ở tỉnh Cà mau, chúng tiếp tục thực hiện những âm mưu thâm độc của chúng là tăng cường củng cố, xây dựng bộ máy cai trị, nhất là đóng thêm đồn bót, mở nhiều chiến dịch, chiến thuật để đánh vào vùng giải phóng ở khu vực Cà Mau. Vì thế chúng tăng cường hỏa lực không quân, hải quân và bộ binh đánh sâu vào vùng căn cứ (U Minh và rừng đước); rải chất độc hóa học phát quang theo các tuyến sông lớn: Gành Hào, Bảy Háp, Sông Ông Đốc, Cái Tàu và rừng tràm, rừng đước...

Năm 1961, địch đã đưa xuống Cà Mau trên 4.000 quân với 6 tên cố vấn Mỹ. Năm 1964 – 1965 chúng tiếp tục đưa 7.000 quân cộng với số quân tại chỗ của tỉnh lên đến cả chục ngàn tên tập trung đánh vào vùng giải phóng và 2 cánh rừng (tràm, đước) để thực hiện chương trình xây dựng “ấp chiến lược” và “bình định” nông thôn ở khu vực Cà Mau.

Từ năm 1961 - 1968, địch thực hiện hàng chục ngàn lượt máy bay ném bom và pháo 250 ly từ Hạm đội 7 của Mỹ ngoài biển bắn vào. Đặc biệt là cho cả B52 rải bom xuống vùng giải phóng làm thiệt hại không nhỏ về người và tài sản của nhân dân trong tỉnh.

2 –Về tình hình ta:

Tỉnh ủy chủ trương phát huy thắng lợi của Đồng khởi, khắc phục mọi khó khăn để đánh địch. Đặc biệt là phát động phong trào chiến tranh nhân dân, xây dựng ấp, xã chiến đấu để đánh giặc. Đồng thời tăng cường xây dựng và củng cố  vùng giải phóng, nông thôn giải phóng để tạo nguồn lực cho tiền tuyến; và tổ chức xây dựng hệ thống chính trị, nhất là Chi bộ và các đoàn thể ngày càng mạnh v.v..

Từ năm 1961 – 1968, vùng giải phóng của ta được mở rộng, địch rút về tập trung củng cố các chi khu và các tuyến quân sự quan trọng, nhất là chung quanh thị xã, thị trấn. Các phong trào thi đua sản xuất, phong trào văn hóa, giáo dục, y tế phát triển khá mạnh, tạo được sự đổi  mới của vùng nông thôn giải phóng.

II – NHỮNG SỰ KIỆN TIÊU BIỂU:

-Năm 1961, Mặt trận dân tộc giải phóng tỉnh Cà Mau ra mắt trước 30.000 quần chúng nhân dân trong tỉnh tại Phú Mỹ, huyện Cái Nước. Đây là sự kiện có ý nghĩa rất lớn về đời sống chính trị của nhân dân tỉnh nhà. Sau năm 1961 Mặt trận các cấp, huyện, xã cũng được thành lập để tập hợp quần chúng dưới ngọn cờ Mặt trận dân tộc giải phóng chống lại kẻ thù.

-Ngày 20/7/1961, đồng chí Bông Văn Dĩa được Khu ủy và Tỉnh ủy cử ra Bắc bằng con đường biển để liên hệ với Trung ương chở vũ khí về Nam. Tháng 3 năm 1962 đồng chí chở chuyến tàu vũ khí đầu tiên về Nam cập bến an toàn ở Rạch Gốc, xã Tân Ân, huyện Ngọc Hiển. đồng chí được Nhà nước tuyên dương Anh hùng lực lượng võ trang nhân dân Việt Nam.

-Năm 1962, trên 5.000 lực lượng đội quân tóc dài kéo ra đấu tranh trực diện tại quận lỵ Đầm Dơi. Tuy địch đàn áp dã man, dùng súng bắn vào đoàn đấu tranh, nhưng các mẹ, các chị vẫn tiếp tục tràn vào dinh quận đòi chúng phải chấp nhận không cướp bóc và bắn phá vào xóm, ấp... Nếu tính 2 năm (1962 – 1963 đã có 50.000 lượt người tham gia đấu tranh chính trị).

-Cuối năm 1962, đồng chí Nguyễn Việt Khái, đội trưởng du kích dũng cảm với 8 phát súng cạc – bin đã hạ hai máy bay địch và bắn bị thương hai chiếc khác. Từ đó, về sau địch không dám sử dụng chiến thuật “Phượng hoàng bay” trên chiến trường Cà Mau.

-Tháng 3/1963, ta đánh bại chiến dịch “Sống tình thương” của địch, đi càn vào khu căn cứ của ta ở rừng đước, đã bị quân và dân Cà Mau tiêu diệt gần 600 tên, bắn rơi hai máy bay Mỹ.

-Từ 1959 đến 1963 đã có trên 4.000 binh lính ngụy đào ngũ quay súng trở về với nhân dân. Có những đồn địch đứng lên khởi nghĩa mang súng ra nộp cho lực lượng cách mạng như đồn Kinh Hái Ngó, Tân Đức, Bà Đặng, v.v..

-Tháng 10/1966, quân dân huyện Đầm Dơi bao vây chi khu Tân Duyệt bằng phương pháp đào chiến hào bao vây đánh lấn suốt 100 ngày đêm, địch ở chi khu hoảng sợ bỏ chạy về Giá Ngự (ở Tân Duyệt chỉ còn đồn nhỏ). Đồng chí Dương Thị Cẩm Vân là người có mặt suốt ở trận địa, được chọn là nữ kiện tướng chiến hào. Tháng 8 năm 2000 đồng chí được Nhà Nước ta truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng võ trang.

-Nếu tính hai năm(1966 – 1967), quân dân trong tỉnh đã diệt 9.850 tên, trong đó có nhiều tên Mỹ, thu trên 300 khẩu súng, bắn rơi 21 máy bay và bị thương 93 chiếc; nhiều đồn bót bị san bằng như Hòa Trung, Cái Keo, Trại Trú...

-Chấp hành theo kế hoạch của toàn miền, đêm 30 rạng 31 tháng12 năm 1967, tức là đêm giao thừa Tết Mậu Thân, quân và dân Cà Mau đã tấn công vào sào huyệt của địch ở thị xã Cà Mau làm cho địch thiệt hại nặng, như khu vực: căn cứ hải quân, bót thầy Giào, tiểu khu và bắn pháo vào Tòa Hành Chính địch và khu vực Tắc Vân... lực lượng ta lúc đó cũng gặp nhiều khó khăn (vì lần đầu tiên đánh vào thị xã).

-Sau Đồng khởi đến năm 1968, phong trào xây dựng vùng giải phóng của tỉnh phát triển mạnh cả về chính trị, quân sự, binh vận và xây làng chiến đấu, thi đua sản xuất; đẩy mạnh các mặt công tác của vùng giải phóng, tạo ra sức mạnh tại chỗ để đánh địch bảo vệ quê hương.

III –Ý NGHĨA:

-Đảng bộ Cà Mau đã phát huy được sức mạnh của quần chúng tại chỗ để thực hiện chiến tranh nhân dân, góp phần đánh bại chiến lược chiến tranh của Mỹ ngụy.

-Thắng lợi của nhân dân trong tỉnh đã làm cho địch phải co cụm lại, vùng giải phóng của ta ngày được mở rộng, tạo được hậu phương vững chắc đóng góp sức người, sức của cho phía trước.

-Phát huy thắng lợi Đồng khởi, Đảng bộ và quân dân tỉnh Cà Mau nêu cao tinh thần trách nhiệm vừa đánh địch vừa bảo vệ vùng căn cứ cách mạng không chỉ cho tỉnh, mà còn cho Khu Tây Nam bộ để tạo nguồn lực cho kháng chiến.

Câu hỏi:

1 - Địch thực hiện âm mưu gì ở tỉnh Cà Mau trong những năm 1960-1968?

2 – Trình bày những sự kiện tiêu biểu của tỉnh nhà trong cuộc đấu tranh chống Mỹ – ngụy giai đoạn 1960-1968 ?

3 – Nêu những ý nghĩa thắng lợi của Đảng bộ và quân dân tỉnh Cà Mau trong giai đoạn này ?

(Bản đồ : Diễn biến khởi nghĩa vũ trang 1959 – 1960)

 

 

Bài:14

 

CHIẾN THẮNG ĐẦM DƠI – CÁI  NƯỚC – CHÀ LÀ

 

1 -Đặc điểm tình hình.

Vào năm 1963, tình hình chiến trường của tỉnh lúc bấy giờ địch tăng cường bắn phá bằng hỏa lực không quân và bộ binh đi càn quét nhằm thực hiện chương trình lập “ấp chiến lược” để gom dân làm “ hàng rào thịt”cho chúng. Địch đi càn đến đâu thì gom dân đến đó để đưa vào khu ấp chiến lược nhằm tách dân ra khỏi Đảng. Đây là âm mưu rất nguy hiểm làm trở ngại cho phát triển phong trào cách mạng trong tỉnh; đồng thời chúng xây dựng phòng tuyến quân sự nhằm ngăn chặn sự di chuyển vũ khí của ta từ rừng đước lên rừng U Minh phục vụ cho chiến trường miền Tây.

Để phá âm mưu của địch và mở rộng vùng nông thôn giải phóng, quân dân Cà Mau kết hợp lực lượng quân khu đánh vào cứ điểm quân sự quan trọng của địch ở chi khu Cái Nước, Đầm Dơi và cứ điểm Chà Là.

2 - Đánh vào chi khu Cái Nước:

Chi khu Cái Nước địch kiên cố lâu đời, đóng cách thành phố Cà Mau 32 km về phía Tây Nam . Chi khu gồm có dinh quận (2 đồn tứ giác), 2 đồn tam giác và 4 tháp canh bảo vệ bên ngoài.

Thực hiện theo kế hoạch, đúng 0 giờ 30 phút đêm rạng sáng ngày 10/9/1963, lực lượng ta tấn công vào chi khu Cái Nước suốt 2 tiếng đồng hồ. Đến 2 giờ 45 phút ta làm chủ hoàn toàn chi khu Cái Nước, diệt tại chỗ 92 tên, bắt sống 84 tên (có tên quận trưởng và quận phó), thu toàn bộ quân trang quân dụng (trong đó có 4 súng cối 81 và 60; 1 đại liên 30 ly; 1 trung liên..., 18 máy VTĐ, hơn 2 tấn đạn). Lực lượng võ trang ta cùng với 800 dân công tiến ra san bằng đồn bót, hỗ trợ cho quần chúng nổi dậy phá ấp chiến lược tại thị trấn Cái Nước.

3 -Đánh vào chi khu Đầm Dơi:

Ba giờ sáng ngày 10/9/1963, lực lượng của ta triển khai 3 mũi tấn công vào chi khu Đầm Dơi. Đúng 4 giờ 10 phút ta tấn công vào chi khu, địch đối phó lại quyết liệt, chiến sự diễn ra gây gắt, nhưng với sự quyết tâm và mưu trí của các chiến sĩ ta anh dũng, hơn một tiếng đồng hồ ta đã chiếm  cơ bản chi khu, tiêu diệt gần 200 tên ( trong đó có tên quận trưởng), ta bắt sống tên quận phó và thu nhiều quân trang, quân dụng.

Đúng 2 giờ chiều cùng ngày, địch cho máy bay đổ quân cứu viện quận Đầm  Dơi, đã bị lực lượng ta đánh tiếp, làm  chúng thiệt hại nặng. Nếu tính cả 2 trận ta  tiêu diệt 325 tên.

4 -Đánh vào cứ diểm Chà Là:

Tiếp tục tấn công địch để phá vỡ hệ thống phòng thủ phía Tây Nam Cà Mau của chúng. Đúng 12 giờ đêm  23/11/1963, ta tấn công vào cứ điểm Chà Là, là cứ điểm án ngữ quan trọng của địch trên tuyến sông Bảy Háp. Mở trận đầu ta bắt sống được 30 tên và làm thiệt hại nặng cứ điểm, số còn lại sống sót ngoan cố chống trả lại làm trận địa giằng co tới sáng. Biết địch thế nào cũng kêu cứu viện, cho nên lực lượng của ta bố trí sẵn; chuẩn bị đánh can viện của chúng. Đúng như dự đoán của ta, 8 giờ sáng ngày 24/11/1963, địch kêu viện cho 8 chiếc máy bay B26 tới ném bom ác liệt để dọn bãi cho đổ quân. Đúng 9 giờ 30 phút, địch cho 20 chiếc máy bay chở quân đổ xuống và với 10 chiếc máy bay võ trang hộ tống đã bị lực lược ta đánh trả quyết liệt. Để cứu vây cho đồng bọn, chúng tăng cường hỏa lực đưa thêm máy bay chiến đấu làm số máy bay ở tại trận địa gần 40 chiếc oanh tạc tạo trận địa gay gắt và ác liệt.

Đúng 5 giờ chiều cùng ngày, địch lại tiếp tục cho 19 máy bay C47 và 2 Đacota chở tiểu đoàn dù của quân tổng dự bị Ngụy xuống nhảy dù (bọc) đã bị lực lượng ta đánh thiệt hại nặng.

Trong 2 ngày chiến đấu dũng cảm của các lực lượng ta đã tiêu diệt và làm bị thương tất cả gần 600 quân, thu hàng trăm súng, bắn rơi 19 máy bay các loại, thu 500 chiếc dù nhảy của địch. Đây là trận chiến đấu ngoan cường của lực lượng ta đã bẻ gãy chiến thuật nhảy dù (bọc) theo kiểu “cổ điển” của Mỹ, Ngụy trên chiến trường Cà Mau.

5 – Nguyên nhân thắng lợi:

-Chiến thắng Cái Nước, Đầm Dơi và cứ điểm Chà Là chính là do sự quyết tâm của Đảng bộ và quân, dân Cà Mau kết hợp chặt chẽ với lực lượng quân khu đánh bất ngờ vào các dinh quận và cứ điểm  của địch đã giành thắng lợi.

-Chiến thắng Cái Nước, Đầm Dơi và cứ điểm Chà Là chính là do sự chiến đấu ngoan cường của lực lượng võ trang ta biết linh hoạt, sáng tạo trong nghệ thuật quân sự, lấy ít đánh nhiều và kết hợp 3 thứ quân (chủ lực, địa phương quân, dân quân khu du kích).

-Chiến thắng Cái Nước, Đầm Dơi và cứ điểm Chà Là là chiến thắng bắt nguồn từ sự sáng tạo trong vận dụng 3 mũi tiến công nhằm tạo ra thế và lực mới đánh địch và thắng lợi.

6 – Ý nghĩa:

-Thắng lợi chi khu Cái Nước, Đầm Dơi và cứ điểm Chà Là đã đánh dấu bước trưởng thành vượt bậc trong đấu tranh cách mạng của Đảng bộ và quân dân Cà Mau sau Đồng khởi.

-Chiến thắng đó đã chứng minh lực lượng võ trang của ta đã phát triển mạnh; lần đầu tiên đánh cùng một lúc 2 chi khu, đã mở màn cho lực lượng võ trang đánh vào các chi khu của địch; đồng thời đã cỗ vũ mạnh mẽ cho  phong trào phá “ấp chiến lược” của địch trên chiến trường Cà Mau

-Thắng lợi nêu trên làm cho ngụy quân, ngụy quyền trong tỉnh hoang man, lo sợ trước sự tấn công mãnh liệt của quân, dân ta; và làm thất bại tuyến phòng thủ kiên cố của địch ở phía Nam Cà Mau; mở ra được vùng giải phóng liên hoàn xã liên xã, huyện liên huyện; bảo vệ được khu căn cứ cách mạng và tạo được nguồn lực cho kháng chiến để đánh thắng địch.

Câu hỏi:

1-Nêu đặc điểm tình hình ?

2-Trình bày thắng lợi của chi khu Cái Nước, Đầm Dơi và cứ điểm Chà Là ?

3-Nêu nguyên nhân và ý nghĩa thắng lợi ?

 

 

Bài đọc thêm:

 

ĐÁNH GIÁ THẮNG LỢI CỦA “CHIẾN THẮNG

ĐẦM DƠI – CÁI  NƯỚC – CHÀ LÀ”

 

 

Vinh dự được chọn làm địa bàn điểm của chiến dịch, dưới sự lãnh đạo và chỉ huy của Khu ủy, quân khu Miền Tây, bộ chỉ huy chiên dịch, trên cơ sở phong trào nhân dân du kích đấu tranh phát triển rộng mạnh, sự kết hợp “3 mũi giáp công” chặt chẽ, Tỉnh ủy Cà Mau lãnh đạo đoàn kết gắn bó cùng với quân khu đánh lớn. Tiểu đoàn U Minh của tỉnh ta góp phần đáng kể trong chiến dịch, có bước trưởng thành mới. Các lực lượng võ trang trong tỉnh nhờ đó mà được rèn luyện đánh phá các chiến thuật “tân kỳ” của Mỹ Ngụy như: “Giang đoàn” (tàu chiến đấu trên sông), “Trực thăng vận”, “Thiết xa vận “, “Bủa lưới phóng lao”, “Phượng hoàng vồ mồi”.

1/-Vừa đánh địch vừa xây dựng lực lượng, Tỉnh ủy lãnh đạo quân dân tỉnh nhà càng đánh càng mạnh, liên tục tấn công địch, củng cố vùng giải phóng và căn cứ địa cách mạng.

2/-Lần dầu tiên ta tiêu diệt 2 chi khu trong một đêm (09/09/1963), tiêu diệt gọn trường huấn luyện sĩ quan chỉ huy biệt kích Mỹ trong vận động. Bắt sống tù binh Mỹ được thực hiện trước tiên ở nơi đây. Việc tiêu diệt cả “Giang đoàn” trên sông cũng được thưc hiện sớm từ vùng đất Mũi Cà Mau. Sự kiện diệt đồn, chủ động dụ quân can viện đến tiêu diệt là điều rất mới lúc ấy cũng diễn ra ở nơi đây. Việc tiến lên đánh lớn bắt đầu từ đất Cà Mau của quân khu miền Tây rất rõ ràng. Sau trận Đầm Dơi, Cái Nước, Chà Là, quân khu mở trận đánh ở Vĩnh Thuận, tiêu diệt chi khu, thu đại bác, diệt 1.200 quân chủ lực (trong đó có một tiểu đoàn dù 500 tên). Đã chứng minh rõ xu thế tiến lên đánh lớn, càng đánh, càng mạnh, càng thắng to của quân giải phóng miền Tây Nam bộ.

3/-Tỉnh thực hiện tốt chỉ thị của Trung ương Cục về phá “Quốc sách ấp chiến lược” của Mỹ ngụy. Trước khi mở đợt, trong tỉnh có 64 ấp chiến lược, qua chiến dịch, ta đã phá lỏng, phá rã hầu hết “Ấp chiến lược”. Tỉnh ủy đã nhận định: “Quốc sách ấp chiến lược” ở Cà Mau đã bị phá sản trên căn bản.

4/-Chiến lược tiến công của quân khu mà Tỉnh Cà Mau phối hợp thực hiện bằng cuộc sống đồng loạt tiến công và nổi dậy phá “Quốc sách ấp chiến lược”, với những trận chiến thắng công đồn, diệt viện ở Đầm Dơi, Cái Nước , Chà Là, Lộc Ninh, Trí phải là những đòn chí mạng vào chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, cùng chiến thắng ấp Bắc, phong trào phá “Ấp chiến lược” ở Mỹ Tho và những chiến thắng trên các chiến trường của toàn miền Nam, phải chăng đó là một trong những nguyên nhân tạo ra làn sóng biểu tình ngày càng tăng ở Huế, Sài Gòn... dẫn tới đế quốc Mỹ phải thay ngựa giữa dòng, lật đổ Diệm – Nhu và chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ bị phá sản.

(Trích phát biểu của ông Đặng Thành Học, ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Minh Hải tại hội thảo khoa học “chiến thắng chi khu Đầm Dơi, Cái Nước, Chà Là”).

 

 

Bài đọc thêm:

 

CHIẾN THẮNG ĐẦM DƠI – CÁI NƯỚC – CHÀ LÀ (1963) LÀ THẮNG LỢI CÓ Ý NGHĨA CHIẾN LƯỢC TRÊN CHẶNG ĐƯỜNG KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỦA CÀ MAU VÀ TÂY SÔNG HẬU

 

 

Đất mũi Cà Mau đã từng là căn cứ địa chính cách mạng của miền Tây Nam bộ và là nơi đứng chân của Trung ương Cục miền Nam trong kháng chiến chống Pháp.

Cà Mau cũng từng là căn cứ mật của Xứ ủy Nam Kỳ và là liên tỉnh Miền Tây trong những ngày đầu kháng chiến chống Mỹ.

Kế thừa và phát huy truyền thống ấy, Cà Mau có Làng rừng (1958-1960), có Đồng khởi oanh liệt (1960-1961) và hàng loạt chiến công tiếp đó.

Dưới ánh sáng Nghị quyết Hội nghị Trung ương Cục (tháng 6/1963), sự tin tưởng đặc biệt vào lực lượng cách mạng ở Cà Mau, Khu ủy và Quân khu miền Tây quyết định chọn Cà Mau làm địa bàn điểm để triển khai chiến dịch phá quốc sách ấp chiến lược mà Mỹ nguỵ đang ráo riết thục hiện.

Thực tiễn diễn biến phong phú và sinh động của chiến trận ở Đầm Dơi, Cái Nước (vào tháng 09/1963, trước khi Ngô Đình Diệm sụp đổ) và ở Chà Là (vào cuối tháng 11/1963, sau khi Ngô Đình Diệm sụp đổ) là phản ánh tình hình phức  tạp, sự đa dạng cùng xu thế vận động của chiến trường Tây Nam Bộ và bộc lộ thực chất tương quan lực lượng giữa ta và địch trên chiến trường.

Chiến trận ở Đầm Dơi, Cái nước, Chà Là (từ tháng 9 đến tháng 11/1963) diễn ra thật sự là một chiến dịch giáng cho địch những đòn choáng váng. Cùng với diễn biến và kết quả của chiến dịch này, vùng giải phóng ở Nam Cà Mau mở rộng liên hoàn và vùng giải phóng ở Bắc Cà mau mở rộng liên hoàn.Đồng thời hàng loạt ấp chiến lược ở các xã khác bị phá bung.

Chiến thắng vang dội ở Đầm Dơi, Cái nước, Chà Là trả lời kịp những câu hỏi bức bách đặt ra trong tiến trình cách mạng của sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Chiến thắng vang dội ấy không chỉ củng cố niềm tin cho quân dân Cà Mau, mà còn đem lại niềm tin và cổ vũ lớn lao đối với quân dân cả nước, đồng thời thu hút sự chú ý và ủng hộ của bạn bè năm châu.

Ở Minh Hải đã từng có Làng rừng, là sự chuẩn bị trực tiếp cho Đồng khởi, là một trong những tín hiệu cấp báo cho sự chuyển mình của cách mạng Miền Nam từ đấu tranh chính trị cho đến khởi nghĩa từng phần rồi phát triển thành chiến tranh cách mạng là một xu thế không thế đảo ngược. Tiếp theo đó ở Minh Hải có chiến thắng Đầm Dơi, Cái nước, Chà Là, khẳng định bước trưởng thành của cách mạng Miền Nam, là một trong những tín hiệu quan trọng khẳng định sự phá sản của Quốc sách ấp chiến lược cũng như sự phá sản của Chiến lược chiến tranh đặc biệt mà Mỹ ngụy đã triển khai một cách mù quáng, điên cuồng.

(Trích phát biểu của TS Nguyễn Tấn Thiết, Viện KHXH Thành phố Hồ Chí Minh tại Hội thảo khoa học “Chiến thắng Đầm Dơi, Cái nước, Chà Là”.

 

Bài 15

 

NHÂN DÂN CÀ MAU

NHỮNG NGÀY THƯƠNG NHỚ BÁC

 

1-Được tin Bác mất:

Trong lúc Đảng bộ và quân dân Cà Mau đang thực hiện kế hoạch chống âm mưu “Bình định” của  Mỹ Ngụy trên chiến trường. Được thông báo của Bộ Chính Trị trên Đài tiếng nói Việt Nam: Chủ Tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, lãnh tụ thiên tài kính yêu của Đảng ta, dân tộc ta đã từ trần hồi 9 giờ 45 phút ngày 03 tháng 9 năm 1969 (sau này Bộ chính trị mới tuyên bố ngày Bác mất là ngày 2/9/1969). Được thông báo, Đảng bộ và quân dân Cà Mau cũng như nhân dân cả nước không cầm nổi nước mắt.

Khi nghe tin Bác mất, nhân dân cả vùng giải phóng, vùng ven, thậm chí trong vùng địch kềm kẹp bà con cũng mở “lén” ra-đi-ô để theo dõi tin về Bác. Những ngày được tin Bác mất, bà con ai nấy đều xôn xao biểu hiện lòng nuối tiếc của mình. Trong lúc đó trời lại mưa dầm dề suốt mấy ngày.

Đúng là: “Đời tuôn nước mắt, trời tuôn mưa” (Tố Hữu)

Thực hiện quy định của Bộ Chính Trị, cả nước để tang. Tại tỉnh Cà Mau các cơ quan, trường học và nhân dân đã tổ chức lễ truy điệu – nhận tang để tưởng nhớ Bác. Những buổi lễ truy điệu, mọi người không ai cầm được nước mắt. Khi đọc hai dòng chữ trắng trên băng đen: “Vô cùng thương tiếc Chủ Tịch Hồ Minh”;  “Đời đời nhớ ơn Chủ Tịch Hồ Chí Minh vĩ đại”.

2-Nhân dân lập Đền thờ tưởng nhớ Bác:

Để tưởng nhớ công ơn trời biển của Chủ Tịch Hồ Chí Minh, nhân dân trong tỉnh đã sáng kiến cùng nhau góp công, góp sức dựng lên những Đền thờ, Phủ thờ bằng vật liệu cây gỗ địa phương rất trang nghiêm để hương khói, thờ cúng Bác.

Sau khi Bác mất 7 – 8 ngày bà con ở Biện Trượng – xã Viên an (nay là xã đất mới) vận động với nhau lập đền thờ Bác đầu tiên trong tỉnh. Từ đó các đền thờ, Phủ thờ Bác được dựng nhiều nơi trong tỉnh như:

-Đền thờ ấp Hàm rồng – xã Hàm Rồng, huyện Ngọc Hiển.

-Đền thờ Cái Xép – xã Viên An, huyện Ngọc Hiển.

-Đền thờ Óng Bọng – xã Viên An, huyện Ngọc Hiển.

-Đền thờ Rau Dừa – xã Hưng Mỹ, huyện Cái Nước.

-Đền thờ Bàu Hầm – xã Quách Văn Phẩm B, huyện Đầm Dơi.

-Đền thờ Nhà Hội – xã Tam Giang, huyện Ngọc Hiển

-Đền thờ Đầm Chim – xã Nguyễn Huân, huyện Đầm Dơi.

-Đền thờ Kinh Cạn – xã Tân Ân, huyện Ngọc Hiển.

-Đền thờ  Kinh Sâu – xã Tân Ân, huyện Ngọc Hiển.

-Đền thờ Kinh bảy – xã Trí phải, huyện Thới Bình.

-Đền thờ Xóm Lung xã - thị trấn Cái Nước .

-Nhà sàn Bác Hồ ở Công viên  văn hóa – Thành phố Cà Mau.

Đó là những nơi để đốt hương khói và thờ cúng Bác; dù tên gọi khác nhau (Đền thờ, Phủ thờ, Ngôi đền...) hoặc xây dựng có nhiều dạng khác nhau, nhưng đều tập trung theo dáng dấp Đền thờ của Nam bộ. Mỗi Đền thờ đều có thành lập tổ quản lý và phân công người chăm sóc, bảo quản và thường xuyên đốt nhang khói cho Bác. Mỗi lần kỷ niệm  các ngày lễ lịch sử của dân tộc, nhất là ngày sinh nhật Bác. Đặc biệt có nơi lực lượng võ trang (du kích xã, huyện). Khi xuất quân ra trận đến đốt hương và hứa với Bác: Chúng con ra trận quyết lập chiến công để kính dâng Bác... và nhiều đền thờ trở thành nơi hội tựu sinh hoạt của tuổi trẻ, nhất là Đội thiếu niên tiền phong.

Trong 14 Đền Thờ trong tỉnh đều có nhà hội, nhà khói (để nấu nướng khi cúng giỗ Bác, có hành lang và cầu bắc ra sông rạch mặt tiền, mặt hậu, bên hông... để xuồng ghe dễ ghé khi bộ đội, cơ quan và nhân dân đến hành lễ.

Do nếp sinh hoạt quen thuộc của bà con Nam bộ vùng đất Mũi, khi các đơn vị du kích xuất trận, đến bàn thờ Bác, đốt nhang, khi thắng trận trở về lại đến đốt nhang báo tin vui cho Bác. Ở những ngôi đền, tự nhiên thành trụ sở của một số cơ quan, đơn vị võ trang chiến đấu, nơi hoạch định kế hoạch tác chiến và tổng kết kinh nghiệm”.

3-Biến đau thương thành hành động cách mạng:

Thực hiện Di chúc thiêng liêng của Người, Đảng bộ và quân dân Cà Mau đã biến đau thương thành hành động cách mạng, quyết tâm bẽ gẫy những âm mưu thủ đoạn của địch, góp phần cùng cả nước đánh bại chiến lược “Chiến tranh Việt Nam hóa” của Mỹ, ngụy.

Với tinh thần đó, các lực lượng võ trang trong tỉnh đã phát huy truyền thống cách mạng, quyết tâm đánh địch trên khắp 3 vùng trong tỉnh (nông thôn, đô thị và vùng tranh chấp giữa ta và địch); và thực hiện 3 mũi tấn công (quân sự, chính trị,  binh vận).

Cuối tháng 9/1969, địch thực hiện âm mưu bình định U Minh, lần thứ nhất chúng tập trung mọi hỏa lực mở nhiều trận càn đã bị lực lượng ta đánh trả quyết liệt, làm cho địch thiệt hại nặng và không thực hiện được kế hoạch của chúng.

Đầu tháng 10/1969, ta đánh vào sân bay thị xã Cà Mau, phá hủy 2 kho đạn (10 tấn vũ khí) trong lức đó ở nông thôn, ta tiếp tục đánh ngăn chặn đi càn quét của chúng. Ngày 9/10/1969 xã Khánh Bình Đông (huyện Trần văn Thời) kết hợp với lực lượng tỉnh, huyện ta đã tiêu diệt nhiều tên địch làm thất bại cuộc càn của chúng. Du kích Khánh Bình Đông dùng súng K2 với 3 phát đạn bắn rơi 1 chiến máy bay H.U.IA và hư hỏng một chiếc khác. Trong lúc đó các đội du kích trong tỉnh cũng tăng cường xuống các bãi lửa (hầm chông, gài trái, hàn cản) để bao vây và ngăn chặn đi càn của địch. Những đội du kích xuất quân đi đánh đồn, phá ấp chiến lược, đánh tàu... Đặc biệt vào ngày 23/10/1969 ta đánh vào cụm tàu trên Sông Đốc và Chi khu Rạch Ráng, diệt 100 tên, trong đó có 67 tên Mỹ, phá hủy 02 khẩu pháo 105 ly và 04 chiếc tàu tại chỗ. Nếu tính những tháng cuối năm 1969 và những tháng đầu năm 1970 quân dân tỉnh Cà Mau đã bắn chìm và hư  250 chiếc tàu lớn nhỏ, trong đó có 08 tiểu pháo hạm  dài 150 m, diệt 2.900 tên địch, trong đó có cả trăm tên Mỹ. Có những trận ta diệt hàng chục chiếc và có những ngày ta đánh năm, sáu trận như ở Tam giang, Kinh mười bảy...

Các phong trào cách mạng trong tỉnh cũng được phát triển như phong trào sản xuất đóng góp nuôi quân, phong trào đấu tranh chính trị và binh vận được lấn sát ra các vùng ven (vùng tranh chấp) và đô thị; phong trào tòng quân có hàng trăm thanh niên sẵn sàng bảo vệ quê hương, thực hiện lời dạy của Bác Hồ : “Đâu cần Thanh niên có, đâu khó có Thanh niên”.

4-Ý nghĩa lịch sử:

-Tấm lòng người dân Cà Mau đối với Bác Hồ kính yêu, đã phản ánh tình nghĩa sâu nặng, thiêng liêng của người dân Đất Mũi ở tận cùng cực nam của Tổ quốc đối với Bác Đúng là “nơi xa xôi mà không xa ở Bác”. Cho nên những Đền thờ được mọc lên chính là những tấm lòng muôn vàn thương yêu của người dân Cà Mau thương nhớ Bác.

-Tấm lòng của người dân Cà Mau đối Bác Hồ còn có ý nghĩa biểu hiện tinh thần yêu thương Bác- cũng chính là yêu thương đất nước. Vì thế người dân Cà Mau thương nhớ Bác bao nhiêu thì sẵn sàng chiến đấu bảo vệ quê hương đất nước bấy nhiêu.

-Tấm lòng của người dân Cà Mau đối Bác Hồ chính là phát huy tinh thần yêu nước của dân tộc nói chung, của người dân Cà Mau nói riêng. Đã vượt qua những khó khăn ác liệt, lập nên những thành tích xuất sắc, nêu cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng trên mảnh đất quê hương Cà Mau kiên cường.

 

Câu hỏi:

1-Em hãy kể các Đền thờ Bác ở Cà Mau ?

2-Nêu tinh thần quyết tâm của Đảng bộ và quân dân Cà Mau biến đau thương thành hành động cách mạng ?

3-Nêu ý nghĩa lịch sử “Tấm lòng của người dân cà mau với Bác Hồ ?

 

 

ĐỀN THỜ CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH Ở CÀ MAU

 

*Nhà thờ - Đền thờ – Phủ thờ – Miếu thờ... tên gọi những toà nhà được dựng lên bằng những vật liệu khác nhau, nhưng tất cả đều rất tôn nghiêm, rộng lớn như đình chùa Nam Bộ – do nhân dân góp công sức tạo lập và cùng nhau hương khói thờ cúng Bác.

 

1.

9/1969 

*Ngôi đền dựng bằng gỗ đước ở hậu Nà Chim – gần ngã ba kinh đào – ấp Biện Trượng – xã đất mới (Viên an). Do một bộ phận tỉnh đội và Tổ Đảng cùng bà con địa phương hợp sức thi công giữa tháng 9/1969 (sau Bác mất 7,8 ngày) đã dựng xong một ngôi đền: Chái bắc dần, lợp lá, rộng hơn 40 m2. Thợ chánh: Ông Ba Long, ông Hai Khá. Hương khói: vợ chồng ông Ba Thu.

 

2.

9/1969 

*Ngôi Đền ở Ngọn Ngã Quát (Đồng ông Nghệ), ấp Hàm Rồng (nay là xã Hàm Rồng) đều cất chữ đinh, lót sàn gỗ, đầu song day xuống sông. Hương khói là chú Năm Tấn, chú Hai Minh. Đến tháng 2/1974 bị bom, cả xóm dời vào ngọn Cái Trăn –Dời Đền Bác theo dựng tại ngọn ngã tư kinh Ba.

 

3.

9/1969 

*Ngôi Đền ở Tắt Năm Căn (Rạch Lô Ráng – Tắt ông Kiểng), xã Năm Căn. Đội thiếu niên tiền phong giữ Đền gồm; Thu Hà, Liêm, Tý, Phú... Bọn giặc ở Năm Căn mấy lần tràn đến, không vào được nơi thờ cúng Bác Hồ. Tuổi các em từ 11, 12 vào đội du kích tí hon. Đền gần nhà Bác Tám Đường, nhà Tư An. Hương khói thờ Bác có Tư Đốc, Tư An, Ba Dữ...

 

4.

11/1969  

*Ngôi Đền dựng bằng gỗ đước ở Máng Chim, ấp Cái Xép, xã Viên An. Do hơn 100 nóc gia nơi đây đề xuất ý kiến, rồi cùng Tổ đảng và lực lượng du kích địa phương xây dựng. Thợ chánh là ông Tám Dĩ, ông Tư Nữa, ông Ba Bóng. Cột vuông, to, chái bắc dần, rộng hơn 60 m2, có nhà họp, có hành lang, sân lót gỗ đủ cho vài ba trăm người ngồi, có cầu thang phía trước, phía trong. Vài tháng sau Bác mất là đền dựng xong. Xã ủy chỉ đạo: ông Bảy Cẩn, chỉ huy công trình: ông Năm Đoàn, Người hương khói: Bà Phạm Thị Tắt. Tháng 2/1970 bọn giặc ở Gò công vào phá Đền, bà con nơi đây lạI dời Đền ra ngã sáu Cái Mú, dựng lại đàng hoàng, tiếp tục thờ cúng Bác và quyết liệt đánh giặc để bảo vệ đền thờ.

 

5.

11/1969  

* Ngôi Đền dựng bằng gỗ đước ở Ong Bọng, ấp Khai Long ( Cái xép ), xã Viên An. Tháng 10, 11/1969 xã họp dân nói về công ơn Bác Hồ. Ngư dân là Ba Cẩm, Hai Đeo, bà Bảy Bái... đề nghị cất Đền thờ Bác Hồ. Đước 5,6 tấc hoành, đẽo vuông, lợp lá chằm. Ảnh Bác chưng ở giữa Đền (ảnh Bác in từ thời kháng Pháp, ông Hai Ngàn giữ lại). Sau phòng điện ảnh Tây Nam bộ tặng ảnh mới của Bác, in từ Hà nội. Chỉ đạo xây dựng Đền: ông Diệp Ngọc Lấy (út Mới). Thợ chánh:  Hai Đước, Hai Suôl, Sáu Điền. Hương khói: Nguyễn Thi Bái (Bảy Bái) năm nay 89 tuổi, hiện ở ấp Vịnh Nước Sôi, xã Viên An.

 

6.

11/1969  

*Ngôi Đền thờ Bác ở ấp Rau Dừa (Đầu Sấu), xã Hưng Mỹ. Do ông Hai Sảnh, ông Mai Xuân Bình và bà Nguyễn Thị Bảy đề xuất và phát động xây cất. Ông Nguyễn Văn Cung là chủ đất xây nền Đền thờ và là người chăm lo hương khói, thờ phụng Bác ở đây. Ngôi Đền khánh thành vào đầu tháng 11/1969.

 

7.

12/1969  

*Ngôi Đền thờ Bác trên đất Bàu Hầm, tọa lạc giữa một cù lao, giữa các con kinh Bàu Hầm- Tám Lẫm – Rạch Nhum – Rạch Cái Keo, thuộc xã Quách Phẩm B. Trực tiếp chỉ đạo thực hiện là Nguyễn Tấn Kịch, Hồ Công Thạch, Sáu Thọ. Ông Tư Đựng, ông Mười Một cùng hàng chục thợ mộc do ông Năm Bính và Tám Khả chi huy. Có 400 lượt người tham gia  xây cất Đền thờ Bác – Hương khói: ông Năm, một lão nông chăm nom.

 

8.

12/1969

*Đền thờ Bác ở Nhà Hội ấp Kinh 17 xã Tân Ân – Do Ông Năm Thới cùng bà con ấp Kinh 17 quyết lập bàn tờ Bác - Ông Lê Văn Thạnh nhận lo hương khói thờ Bác. Năm 1972, du kích ấp diệt gọn đội bảo anh biệt kích càn vào khu đền, ta bắn rơi một trực thăng gần kinh Cây Cóc rạch Nhà Hội. Trước đó ta bắn cháy tàu sắt, diệt 29 tên giặc bảo vệ xóm làng. Kế đến nghe đài báo tin Bác Hồ mất, cuối năm 1969-Quân dân Tam Giang-Nhà Hội lập đền thờ Bác Hồ...

 

9.

02/1970

*Ngôi đền trên bờ sông Đầm Chim xã Tân Tiến (Nay là xã Nguyễn Quân). Do bà con xóm kinh Rẫy, ấp Hồng Phước xây cất-Chỉ đạo xây dựng đền gốm các Ông: Năm Lập, Năm Tần, Nguyễn Văn Ký-Hơn 100 lực lượng-Thợ chánh là ông Trương Văn Sa; Trang trí Ông Tân, Ông Thế (Cán bộ thông tin) Ông Mười Bài-cán bộ đoàn 962 tặng cho bà con bức ảnh Bác Hồ mang từ Bắc vào. Ảnh lộng khung màu đỏ trang trọng.

 

10.

02/1970

*Đền thờ Bác ở Kinh Cạn xã Tân Ân thợ mộc chánh Hồng Quang Tiến, Phan Văn Trình, ông già Hai Ninh, ông Mậu với nhiều thợ phụ. Chị Út Vạn (Nguyễn Thị Lếnh) và ông Hai Phóc lo đốt nhang đền thờ Bác. Đền rộng lớn, có sân gỗ, bắc cầu đước đi ba phía dài cả cây số cho bà con đến cúng Bác, dự lễ. Ông Lữ Văn Vạn vận động sĩ quan, binh sĩ gửi bình bông, nhang đèn, hoa quả cúng Bác...

 

11.

03/1970

*Đền thờ Bác ở Kinh Sâu xã Tân Ân do các ông Châu Văn Nới, Châu Văn Đính, Nguyễn Văn Dưỡng, Lưu Văn Thường, Huỳnh Văn Cấm do ông Đính làm Hội Trưởng, ông Dưỡng làm Hội phó hội đền thờ Bác Hồ. Khởi công dỡ gỗ tháng 2/1970, khánh rthành 19/05/1970. Hương khói là ông, bà bảy Cóc (Dưỡng) đền cất rộng, cột vuông, sơn xanh, đỏ, có chân đèn thau, lư hương, bộ lư - Tham gia: các má, các chị vận động tiếp tế, nấu nướng cúng giỗ Bác Hồ như má Nguyễn Thị Thắm, bà Thợ Ba, bà Sáu Quí, chị Bảy Tiết, chị Châu...

 

12.

03/1973

*Ngôi đền dựng bằng gỗ tràm tại Kinh Bảy, ấp Sáu xã Trí Phải, huyện Thới Bình do Huyện Đoàn Thới Bình đề xuất Huyện ủy chấp thuận. Với khẩu hiệu Tuổi xuân quyết báo đền ơn Bác, vận động sâu rộng một phong trào Thanh niên và nhân dân tham gia lập phủ thờ Bác Hồ. Ban chỉ huy công trình gồm Huỳnh Đảm, Trần Trọng Sơn... Ông Nguyễn Ngọc Báu vẽ thiết kế, phủ thờ ba căn, một chái, lợp thiếc, vách ván. Giữa có bệ xây gạch tam cấp, bậc trên cùng có ảnh Bác trang nghiêm. Đến tháng 8/1974 xong 2/3 mặt nền, tiến hành xây cất vượt qua nhiều khó khăn gian khổ với tinh thần yêu kính Bác và quyết báo đền ơn Bác. Qua chiến dịch Hồ Chí Minh, ngày 30/05/1975 kháng thành với khối lượng người dự đông đảo, không khí thiêng liêng xúc động.

 

13.

09/1974

*Ngôi Đền thờ Bác ở xóm Lung Xả, ấp Cái Nước (Thị trấn Cái Nước) do ông Nguyễn Văn Vĩnh xây cất và hương khói. Ông cùng gia đình, thân tộc hợp sức xây dựng, khánh thành ngày 2/9/1974. Ông Vĩnh làm một con heo hơn 100kg, có 300 người đến dự.

14

01/1975 *Phủ thờ Bác Hồ ở xã Tân Hưng Đông (huyện lỵ Cái Nước) do nữ anh hùng Quân đội nhân dân Phạm Thị Bay cùng Đảng bộ và quân dân toàn xã, thị trấn được phát động qua đại hội Đảng bộ kéo dài, hẹn kết thúc khi chiến thắng và xây phủ thờ Bác, Ngày 05/01/1975 khẩn trương thi công xây phủ thờ. Đến 84 ngày thì công trình hoàn chỉnh- khánh thành 16 giờ ngày 25/04/1975. Hơn 17 ngàn người dự trong niềm phấn khởi, tự hào.

 

15.

05/1999

*Nhà sàn Bác Hồ ở Công viên Văn Hóa Thành phố Cà Mau – trong khu tưởng niệm Bác Hồ – Nhà sàn của Bác được ngành Nông ngiệp phát triển nông thôn, Sở văn hoá thông tin phối hợp với Bộ đội quân khu 9 và các Nhà nghiên cứu lịch sử nghệ thuật xây dựng. Dáng nhà, phòng trưng bày, các mô hình, hiện vật đúng theo nguyên bản như nhà sàn của Bác ở Hà Nội. Nhà sàn Bác Hồ ở Công viên văn hoá Cà Mau, nơi có phong cảnh thiên nhiên đẹp, đón nhiều khách tham quan...

 

SƯU TẦM VÀ LẬP BẢNG: HỮU THÀNH - NGUYỄN BÁ - TRƯỜNG SƠN – HỒNG VỆ -  THANH MINH

 

 

 

TẤM LÒNG CÀ MAU VỚI BÁC HỒ

 

Lê Thanh Toàn

 

Bằng công tác sưu tầm, biên soạn nhanh chóng và nghiêm túc, chúng tôi mong muốn cuốn sách “TẤM LÒNG CÀ MAU ĐỐI VỚI BÁC HỒ” đến tay bạn đọc, nhân ngày sinh lần thứ 110 của Bác. Công việc nghiệp vụ này có một số khó khăn, trong đó việc thông báo cho các tác giả có bài cùng chủ đề trong và ngoài tỉnh chưa đều khắp: Ban sưu tầm cũng chưa  có dịp đến hết những nơi còn tư liệu quý mà chúng ta chưa nắm bắt.

Tuy vậy, lần xuất bản này, chúng tôi đã nhận được sự cộng tác của 61 tác giả từng hoạt động trong các ngành văn, thơ, nhạc, hoạ, ảnh nghệ thuật, với 04 tác giả đã mất (NGUYỄN BÍNH, NGUYỄN MAI… NGUYỄN PHONG TRIỀU, DIỆP MINH TUYỀN) là 65 thành viên đóng góp cho cuốn sách hơn 80 tác phẩm, gồm nhiều thể loại... mang tình yêu lãnh tụ sâu xa, thắm thiết; lối diễn đạt chân thành, sinh động, gây cảm xúc cho người đọc, người xem.

Cuốn sách là một biểu hiện trong muôn ngàn cách mà chiến sĩ, cán bộ và đồng bào Cà Mau từng biểu hiện TẤM LÒNG YÊU KÍNH của mình đối với Bác. Sức dựng và phong cách biểu hiện của tác phẩm được tập hợp sử dụng lần này, theo chúng tôi, phù hợp với tính chủ đề thiêng liêng, khả dĩ đánh dấu được sự TRUNG THÀNH, LÒNG HIẾU THẢO và ý chí QUYẾT CHIẾN - QUYẾT THẮNG để báo đền ƠN BÁC. Đây là một sự kiện mang tính văn học sử: cuốn sách thu nhận quá trình hình thành tình yêu quê hương đất nước của những lưu dân định cư ở cuối trời Tổ quốc, hoà nhập cùng tình yêu lãnh tụ, yêu qúy Đảng, hình thành  đời sống tinh thần, lý tưởng cách mạng “THÀ HY SINH TẤT CẢ CHỨ NHẤT ĐỊNH KHÔNG CHỊU LÀM NÔ LỆ” BỞI “KHÔNG CÓ GÌ QUÝ HƠN ĐỘC LẬP TỰ DO !”. Tất nhiên, cuốn sách chỉ là một khâu nhỏ trong chuỗi hạt tiếp nối những gì đã có từ trước, cố gắng đánh dấu hiện thực và cùng nhau đi sâu hơn một bước, hy vọng cống hiến thêm...

Không xuất phát từ góc độ này, chúng ta sẽ khó hiểu vì sao cháu Nguyễn Phi Hùng, một thiếu niên nghèo “lớn lên trong đôi tay tần tảo của mẹ” khi sa vào tay giặc lúc bị thương, Hùng không đầu hàng, theo gương bạn TÁM, anh ƠN, anh TRỖI, Hùng vứt hết bông băng cho máu chảy, miệng “đả đảo” quân giặc và trước phút hy sinh, Hùng hô “BÁC HỒ muôn năm !” cho đến khi lạc giọng (Bài Thanh Minh).

Chiến sĩ trẻ Đoàn Văn Thật sau một đêm bao vây đồn Rau Dừa, về đến Xẻo Trê thì Tổ du kích  lọt vào ổ phục kích của địch. Anh bị thương gãy ống chân, nằm bắn truy cản giặc cho hai đồng đội thoát. Khi bắn hết đạn, anh đập gãy súng không cho địch cướp. Anh thét lớn: “Tao là bộ đội giải phóng quân không biết đầu hàng”. Trước phút hy sinh, Thật vụt đứng thẳng lên và hô to: “HỒ CHÍ MINH MUÔN NĂM !”. Tiếng anh tắt giữa tiếng súng thù, nhưng âm hưởng còn vang vọng mãi (Bài Thế Hùng). Nguyễn Trung Bỉnh, một cán bộ Đoàn, năm Diệm thi hành Luật 10/59, Bỉnh bị giặc bắn gãy cánh tay trái, máu chảy tràn như xối. Bỉnh không cho giặc băng bó, cứ vạch tội ác Mỹ-Diệm phá hoại hòa bình thống nhất, anh cố nói cho đồng bào chi khu Cái Nước nghe rõ. Khi khàn giọng, chúng không cho anh uống nước, anh tự nút máu mình thấm giọng tiếp tục tuyên truyền. Sau cùng, anh hô “BÁC HỒ MUÔN NĂM” nhiều lần, rồi ngã xuống trong sự thán phục của bà con thị trấn.

Cũng thời gian này, anh Tô Văn Cất-cán bộ Đoàn xã Phú Mỹ, giặc bắt anh về khu Bình Hưng tra tấn đủ cách mà không khai thác được gì. Chúng đưa anh về ấp nhà để hành quyết. Chúng cho bọn tề xã, ấp kêu cha mẹ vợ con anh tới xem chúng mổ bụng moi gan anh để uy hiếp tinh thần. Chờ người thân và đồng bào bị giặc gom đến đông, anh dõng dạc tố cáo tội ác “Trời không dung đất không tha” của chúng và dặn dò, từ biệt cha mẹ, vợ con, họ hàng. Rồi ngước nhìn phương Bắc, anh hô “HỒ CHÍ MINH MUÔN NĂM !” nhiều lần, cho đến khi giặc nhét giẻ vào miệng anh, đè anh xuống mổ bụng... (Tài liệu của đội thanh niên xung phong, do Bùi Tấn Sĩ lưu trữ). Còn Bé Tâm (Thơ Nguyễn Hải Tùng) tả một em bé bị giặc bắt hành hình tra khảo, rồi đem cột vào cọc gỗ ở bãi bắn. Tâm hiên ngang nhìn quân giặc, trước khi đạn nổ:

Bé Tâm dồn sức hô to:

“Bác Hồ !” Rồi lại “Bác Hồ Muôn Năm !”

Cũng như nhiều nơi khác, cán bộ, chiến sĩ và đồng bào Cà Mau luôn có BÁC trong lòng. Lúc vui, buồn, cơn nguy biến, mọi người đền nghĩ đến BÁC, lấy sức mạnh từ BÁC để vươn lên, để vượt thoát. Và như chúng ta từng biết, có hàng trăm, hàng ngàn trường hợp hô vang khẩu hiệu “HỒ CHÍ MINH MUÔN NĂM !”, “BÁC HỒ MUÔN NĂM !”... trước phút hy sinh.

 

***

 

Có một hiện tượng lạ ở lãnh vực tình cảm cao cả này: Các em thiếu niên nhi đồng đều rất yêu kính BÁC. Có nhiều em may mắn được nhìn ảnh BÁC, được xem phim kháng chiến có BÁC xuất hiện cuối những năm đánh Pháp. Nhưng phần lớn các em chưa từng thấy BÁC HỒ, chưa từng nghe BÁC nói... Thế mà các em lại yêu kính BÁC dữ dội và thiết tha. BÁC là ông bụt, ông tiên trong truyện cổ tích, trong giấc mơ đẹp của cá em. Bài Em Chảy (Thơ Nguyễn Phong Triều) tả một thiếu niên đau trái hấp hối, trước khi chết em nhờ cha, mẹ lấy ảnh BÁC HỒ trong cặp vở cho em nhìn:

Giọng yếu ớt Chảy không nói được

Hai tay ôm ảnh Bác không rời

Chảy ơi, em đã mất rồi

Nhưng tình yêu Bác nghìn đời không tan!

Hay như bài HAI em bé ở Tân Hưng Đông (Trần Trọng Sơn sưu tầm) Cắt tay lấy máu viết thư gửi BÁC HỒ:

Để trút hết nỗi niềm thương nhớ

Dao cắt tay máu đỏ chảy tràn

Bao nhiêu tình nghĩa chứa chan

Hòa trong nét chữ bên hàng tâm thơ.

Câu chuyện Đội Thiếu niên bảo vệ đền thờ BÁC (Lời kể của Trần Thanh Liêm) Trong một thời gian ngắn các em được các anh chị du kích và các cụ già giúp sức, đã dựng xong ngôi miếu nằm sâu trong rừng đước Năm Căn-An Viên. Từ đó, các em phân công nhau giữ miếu thờ, lo đốt nhang và cùng các anh chị du kích chiến đấu chống giặc càn vào phá miếu. Liêm, Hà, Võ Phú... Các em tự động làm một cuốn sổ ghi chú ưu khuyết của mình đề tu dưỡng và học tập noi theo gương BÁC.

 

***

 

Còn về ảnh BÁC HỒ, thì Cà Mau chúng ta có biết bao nhiêu câu chuyện cảm động. Ngày cuối quân đội ta tập kết khỏi thị trấn Cà Mau (cuối 1954), khi buổi liên hoan văn nghệ kết thúc, người đi đã tập trung vào hàng ngũ, ghe nổ máy chờ dưới bến. Nhưng khi các anh bộ đội sắp rời khỏi lễ đài, thì có tiếng báo cáo: “Bức ảnh BÁC HỒ còn treo giữa lễ đài, có tập kết luôn không ?”. Đó là bức ảnh sơn dầu cao 3 m, rộng 1,5 m, dưới góc phải có chữ ký tắt của Hoạ sĩ Diệp Minh Châu.

Có nên giữ lại bức ảnh BÁC HỒ ở đây không ? Một đồng chí bộ đội lập lại. Nhiều ý kiến bàn cãi. Cuối cùng các anh làm lễ công kênh bức ảnh BÁC xuống tàu đi tập kết, không để bọn giặc xúc phạm đến chân dung BÁC (Bài Huỳnh Hiếu).

Một trường hợp khác (Bài Chị Lý của Phạm Hồng) mô tả bọn địch trải Quốc kỳ và ảnh Bác ở một lối đi độc nhất, buộc một nữ tù nhân là trần Thị Lý chưa đầy 20 tuổi, bước qua. Chi quỳ xuống đỡ lá cờ và chân dung Bác Hồ lên cao, làm quân giặc hoàn toàn thất vọng. Chúng tra khảo chị tàn nhẫn, nhưng không khuất phục được chị.

Mẹ Trần Thị bái ở ấp Bảy B, xã Hiệp Tùng, sau thời gian cùng bà con chăm lo hương khói tại phủ thờ BÁC ở rạch Dược. Năm 1976 phủ thờ bị hư dột, mẹ đến nhận tấm ảnh và lư hương đem về nhà thờ cúng cho đến ngày hôm nay. Cũng như vậy, bà Lê Thị Phú mang lư hương thờ BÁC từ ngôi đền toạ lạc ở ngã ba tân Thành (sông Bàu Sen) về nhà, tiếp tục thờ phụng BÁC. Còn bức ảnh ở ngôi đền này thì con ông Phan Văn trí lộng kính, treo uy nghi giữa nhà, ba mươi năm mà bức ảnh của BÁC vẫn được giữ nguyên (Bài Đinh Đằng –Trung Thực –Trường Sơn). Tác giả Nguyễn Minh cho ta một sự kiện nữa: Bác Bảy Nguyễn Ngọc Lợi ở vàm Khâu Bè đã tìm mọi cách giữ gìn bức ảnh BÁC HỒ trong 23 năm, dù gia đình Bác bảy trải qua bao thăng trầm, còn –mất. Đặc biệt, bức ảnh này anh em Ban tuyên huấn Tỉnh ủy Cà Mau đến mượn làm mẫu để vẽ in ra phổ biến...

 

***

 

Về cây vú sữa Miền Nam, một lão nông xã Trí Phải nhờ anh em bộ đội tập kết mang ra Hà Nội tặng BÁC. BÁC đã chăm sóc cây vú sữa này như thế nào, chúng ta đều biết rõ. Mùng 3 tết năm 1955 BÁC nhận cây vú sữa, tự tay trồng gần bên nhà BÁC ở. Cây vú sữa Miền Nam gắn bó với BÁC (Bài Nguyễn Bảo). Cây ăn trái thiêng liêng này là đề tài của bao nhiêu văn, thơ, nhạc, hoạ và ảnh nghệ thuật. Người Cà Mau lần đầu tiên nhìn thấy bức ảnh BÁC dưới tàn cây vú sữa là  xúc động tràn nước mắt. Dầu năm 1963 Hội nghị Phụ nữ toàn Miền Tây Nam bộ chuyền tay nhau xem ảnh BÁC với tất cả lòng trân trọng kính yêu và nhờ Ban Tuyên huấn Tây Nam bộ in ra cho mỗi đại biểu một tấm (ảnh BÁC bên cây vú sữa) để mang về cơ sở, mặc dù nguyên tắc bí mật, các chị ở thành thị không được mang tài liệu về...(chi Nguyễn Thị Được kể). Qua hình ảnh thiêng liêng này, các tác giả thơ đã bày tỏ cảm xúc của mình:

Con muốn được làm cây vú sữa

Để sớm trưa thường gặp Bác ra vào

Ngày bận việc, Bác không đến đó

Cây nhớ Người... cành lá xanh xao

(Rừng biển quê nhà)

Bóng cây che mát sàn nhà

Bóng vú sữa tự Miền nam thành đồng

(Ngậm ngùi)

Sau này theo Trần Trọng Sơn, tại phủ thờ Bác ở xã Trí Phải, lại nhận một nhánh vú sữa của Bác từ Hà nội gửi vào. Cây được các vị bô lão chăm sóc phủ thờ trồng cao lớn... thật là kỳ diệu biết bao: cây vú sữa Miền Nam với bác Hồ và cây vú sữa bác Hồ với Miền nam gốc từ Trí Phải - Cà Mau.

 

 

ĐỀN, PHỦ, NHÀ THỜ BÁC HỒ Ở CÀ MAU:

 

BIỂU TRƯNG TÌNH CẢM YÊU KÍNH LÃNH TỤ HỒ CHÍ  MINH THẲM SÂU ĐỘC ĐÁO CỦA ĐÀN CON CUỐI TRỜI TỔ QUỐC

 

Ở phần sau cuốn  sách, bản thống kê của nhóm phóng viên sưu tầm, bước đầu xác lập được 15 đơn vị. Nhưng theo báo cáo của Tỉnh ủy Cà Mau năm 1972 thì số đền, phủ thờ Chủ Tịch HỒ CHÍ MINH sau ngày Người mất lên đến 20 đơn vị. Đó là chưa kể các hình thức thờ cúng mang tính dân gian khác.

 

***

 

Trong 15 đơn vị thờ cúng BÁC HỒ – trừ nhà sàn BÁC HỒ xây trong Công viên văn hoá Thành phố Cà Mau theo mô hình Nhà sàn của BÁC HỒ ở Hà Nội, là mới xây gần đây. Còn lại 14 đơn vị đều xây cất trong chiến tranh ác liệt. Tám ngôi đền xây xong trong năm 1969 (năm BÁC mất). Xem bảng thống kê, chúng ta sẽ thấy ngôi đền Hậu Nà Chim, do ông Ba Long, ông Hai Khá chỉ đạo và tham gia xây dựng với một bộ phận Tỉnh đội Cà Mau, chỉ hơn một tuần sau BÁC mất là ngôi đền được hoàn tất. Ngôi đền ở ngọn Ngã Quát cũng đồng thời xây cất như ngôi đền ở Hậu Nà Chim.

Người đề xuất xây cất những ngôi đến thờ cúng BÁC phần lớn là các vị lão thành, các má và các chị. Khi chúng tôi hỏi bà Nguyễn Thị Bái năm nay 89 tuổi, hiện sống với con trai ở Vịnh Nước Sôi, xã Viên An: tại sao bà lại đề nghị  làm đền thờ BÁC HỒ ? Bà vui vẻ trả lời:

- BÁC HỒ có công cứu nước, BÁC như cha mẹ mình. Khi Bác chết, mình làm con cháu BÁC phải chăm lo thờ cúng BÁC như thờ cúng cha mẹ mình.

Còn ông Nguyễn Văn Dưỡng (Bảy Cóc) bộc lộ với chúng tôi:

-Mình thọ ơn BÁC HỒ lớn quá. BÁC qua đời, dù ở đâu, hoàn cảnh nào, mình cũng phải lo thờ cúng BÁC.

Trong 14 ngôi đền mà chúng tôi vừa khai thác được trong bản thống kê ghi rõ: đền thờ, phủ thờ nào cũng có nhà hội, nhà khói (để nấu nướng khi cúng giỗ Bác)  có sàn lát gỗ, có hành lang và cầu bắc ra sông rạch, mặt tiền, mặt hậu, bên trong... để xuồng ghe dễ ghé khi bộ đội, cơ quan và nhân dân đến hành lễ.

Vì đền thờ, phủ thờ rộng rãi, mát mẻ và thiêng liêng như vậy nên các đơn vị bộ đội như Đoàn 692, cơ quan Tuyên huấn Khu, Phòng điện ảnh Tây nam bộ thường đến mượn điểm hội họp, chiếu bóng, biểu diễn văn nghệ, học tập, phổ biến chủ trương, đường lối từ trên đưa xuống.

Do nếp sinh hoạt quen thuộc của bà con Nam Bộ vùng Đất Mũi, khi các đơn vi du kích xuất trận, đến bàn thờ BÁC đốt nhang, khi thắng trận về lại đốt nhang báo cáo  tin vui cho BÁC. ở những ngôi đền, tự nhiên thành trụ sở của các cơ quan, đơn vị vũ trang chiến đấu, nơi hoạch định kế hoạch tác chiến và tổng kết kinh nghiệm.

Giặc rất lo sợ khu vực có  đền, có phủ, có miếu  thờ Chủ Tịch HỒ CHÍ MINH. Chúng cho oanh kích, pháo kích, biệt kích rất dữ dội và liên tục để hủy diệt các đơn vị thờ cúng này. Do vậy quá trình xây dựng, bảo vệ đền thờ BÁC HỒ là quá trình chiến đấu quyết liệt với địch: chúng phá, ta xây lại ngay. Chung quanh đền thờ là bãi lửa dày đặc chông lôi và trái gài. Nam nữ thanh niên, các cháu thiếu nhi và các phụ lão đều tham gia vào du kích, dân quân tự vệ, canh gác, cảnh giới và đánh địch bảo vệ đền. Chiến công của các đội du kích giữ đền Cái Mú, Ông Bọng, Bàu Hầm, Nhà Hội, Tân Tiến (Đầm chim), Thới Bình... đều rất oanh liệt. Có đơn vị “tương kế tựu kế” dùng ghe tàu vào tận sào huyệt địch ở Mũi Gò Công diệt ác, ra khơi đánh bọn Hải Thuyền, Giang Cảnh... Có thể nói quanh đền thờ BÁC là một quần thể chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá, xã hội và cao hơn tất cả : đó là tình yêu kính lãnh tụ... thành lẽ sống và tình yêu Tổ quốc của người cà Mau. Khám phá công trình xây cất đền thờ là “lay động đến một lĩnh vực thiêng liêng, hiếm thấy xảy ra trong lịch sử, tiềm ẩn tính nhân văn cao cả, làm phong phú thêm “Dân tộc tính” của chúng ta.

Dù chưa phải là một công trình khoa học, kinh qua hội thảo và nghiên cứu, nhưng mặt bằng tài liệu thu nhận được cho phép ta đánh dấu một Cà Mau xa xôi nơi BÁC ở, cách trở trong giao lưu sinh hoạt nhiều mặt. Thế mà Cà Mau, Đất Mũi, Ngọc Hiển, Cái Nước, Đầm Dơi, Thới Bình... hình thành thái độ sống bằng tình yêu kính lãnh tụ.

Qua tình cảm thiêng liêng này Đảng bộ và quân dân Cà Mau đã vươn lên giành chiến thắng trong hy sinh gian khổ, phải ăn trái Mắm và uống nước cất hàng một, hai năm trời. Thế mà chiến công đánh tàu, diệt hạm đội nhỏ trên sông đã hoá dòng sông Cửa Lớn – Tam Giang thành sông “Bạch Đằng thời đại”. Nữ anh hùng Phạm Thị Bay cùng Đảng bộ và quân dân toàn xã Tân Hưng Đông xin phép BÁC HỒ dựng đền thờ BÁC trong 84 ngày, tiêu diệt giặc, chiếm lĩnh thị trấn Cái Nước. Khánh thành phủ thờ BÁC 16 giờ ngày 25/4/1975, có 17.000 người dự. BÁC mất, nhân dân Cà Mau báo hiếu bằng “biến đau thương thành sức mạnh”, tạo thêm thành tích và chiến công, thêm nhiều trang sử mới...

 

***

 

 

Bài 16

 

NHÂN DÂN CÀ MAU KIÊN CƯỜNG

CHỐNG “BÌNH ĐỊNH” BẢO VỆ QUÊ HƯƠNG

 

1-Âm mưu “bình định” của địch.

Sau khi thắng lợi tổng tấn công mùa xuân 1968 đã làm phá sản “Chiến tranh cục bộ” của Mỹ ngụy, từ đó chúng đã chuyển sang “Việt Nam hoá chiến tranh” nhằm tiếp tục thực hiện âm mưu xâm lược ở Việt Nam.

Tại chiến trường Cà Mau địch tăng cường mở nhiều chiến dịch đi càn quét đánh sâu vào vùng giải phóng –căn cứ của ta, nhất là ở khu vực U Minh, nhằm thực hiện kế hoạch “Bình định” của chúng trong tỉnh Cà Mau.

Vào tháng 11/1968, chúng đưa Lữ đoàn A thủy quân lục chiến phối hợp với lực lượng đặc nhiệm Hải quân Hoa kỳ chiếm lại Năm Căn và đưa 50 tàu (có ba tiểu pháo hạm) mở chiến dịch Sóng Thần đánh phá ác liệt vào khu căn cứ rừng đước. Chúng đã sử dụng cả B52 (loại máy bay tối tân chiến lược của Mỹ) ném bom xuống Kinh Năm, Kinh Ba huyện Duyên Hải (Ngọc Hiển bây giờ) và tiếp tục rải chất độc hoá học diệt màu xanh trên 50 % rừng  đước; đồng thời có những tháng chúng đi càn trên 20 cuộc càn lớn nhỏ, có nghĩa là cường độ đánh phá rất cao chưa từng có từ trước đến lúc đó. Đặc biệt chúng bao vây và chặn các ngã không cho gạo xuống rừng đước làm cho đời sống nhân dân  gặp nhiều khó khăn. Có nơi bà con không có gạo phải nấu trái mắm ăn thay cơm, cất nước mặn để uống...

Ở khu vực rừng U Minh, đầu năm 1969 địch tiếp tục tăng cường “Bình định U Minh”, chúng đưa xuống sư đoàn chủ lực 21 và lực lượng biệt động quân, thủy quân lục chiến, bảo an cùng với các hoả lực (Hải quân, không quân...) Mở nhiều chiến dịch mang tên “Cửu Long”, “Trần Hưng Đạo” đánh vào huyện Mười cư (nay là huyện Thới Bình”, Mười tế (nay là huyện Trần Văn Thời, U Minh”. Chúng đã huy động hai sư đoàn ( sư 9 và sư 21) và 25 Đoàn “Bình định”, 1.200 bọn gián điệp và các loại máy bay kể cả máy báy B52 bỏ nhiều đợt và pháo 250 ly từ Hạm đội 7 của Mỹ từ ngoài biển bắn vào... Đồng thời chúng còn tổ chức nhiều cuộc cán quét chà đi sát lại ở khu vục giải phóng của ta. Chúng càn đi đến đ1âu thì gom dân ra “ấp chiến lược” đến đó, để nhằm mục đích tách dân ra khỏi Đảng.

2- Kiên cường bám trụ đánh “Bình định” của quân dân Cà Mau.

Để chống lại âm mưu thủ đoạn của địch, Tỉnh ủy chủ trương: “...gấp rút củng cố lực lượng từ trên xuống dưới, tập trung xây dựng cơ sở, bám trụ địa bàn, ra sức phát động phong trào nhân dân du kích chiến tranh, xây dựng xã, ấp chiến đấu kết hợp ba mũi giáp công để chống “Bình định” lấn chiếm của địch, bẻ gãy từng mũi tấn công, đẩy lùi từng bước và giành lại từng người dân với địch... Nghị quyết còn nhấn mạnh: “Khẩn trương xây dựng lực lượng về mọi mặt (đông về số mạnh về chất). Chú ý phát triển lực lượng ba mũi tại cơ sở, xây dựng chi bộ, chi đoàn 4 tốt...”

Với tinh thần đó, các chi bộ và Đảng bộ trong tỉnh đã khắc phục mọi khó khăn, vượt qua bom đạn của địch để từng bước xây dựng lại thực lực cách mạng. Tuy sau tết Mậu thân 1968, lực lượng ta có hy sinh mất mát lớn, phong trào cách mạng lúc bấy giờ gặp nhiều khó khăn, thậm chí nhiều nơi không hoạt động được, phải tạm lắng. Nhưng sự cố gắng lớn của địa phương đã bám trụ lãnh đạo quần chúng chống “Bình định”. Từ đó phong trào ngày được khắc phục, dần dần tạo thế, tạo lực mới để đánh địch.

Ở khu vực rừng đước, lực lượng ta đã bẻ gãy chiến thuật “Hạm đội nhỏ trên sông” đã bắn chìm hàng trăm tàu sắt của địch trên sông Tam giang, Kinh Mười Bảy và sông Bảy Háp...Có những ngày ta bắn chìm ba, bốn chiếc. Các đội du kích đánh tàu của các xã ngày được phát triển và lập nhiều chiến công xuất sắc.

Để ngăn chặn địch đi càn vào vùng giải phóng, chủ trương của ta là đánh vào thị xã - tỉnh lỵ của địch. Vì thế vào tháng 3/1968, lực lượng nội thành đã lợi dụng địch tập trung đón đoàn “Bình định”  xuống Cà Mau ở tại Hội trường thông tin (nay là Nhà văn hóa  trung tâm) dùng trái nổ đánh tiêu diệt trên 50 tên Mỹ, ngụy; tiếp theo ta đánh vào bót Lò heo (phường 1) và một số cứ điểm quan trọng trong thị xã như trận đánh vào Ty cảnh sát giữa ban ngày của đồng chí Hồ Thị Kỷ (3/4/1970).

Tiếp tục tấn công địch, đêm ngày 01/3/1970 ta đánh đồn Xẻo Đá diệt và bị thương 70 tên địch. Tiếp theo trên tuyến sông Trẹm năm 1970 ta đánh 5 trận, làm chìm và cháy 16 tàu, diệt 221 tên. Nếu tính cả năm 1970, ta chống “Bình định”  đã diệt hàng ngàn tên, trong đó diệt gọn một tiểu đoàn, 21 đại đội, 01 Ban chỉ huy liên đội bảo an, 3 đoàn bình định, đánh thiệt hại nặng 9 tiểu đoàn, 30 đại đội, 02 ban chỉ huy trung đoàn chủ lực và diệt 01 chi khu, 15 đồn. Ta bắn rơi 137 máy bay, hỏng 107 chiếc, phá hủy 25 khẩu pháo, thu 687 súng các loại.

Tháng 4/1972, lực lượng ta tiếp tục đánh vào cứ điểm chủ lực đóng ở Nổng Cạn, xã Khánh Lâm, pháo kích đồn sông Ông Đốc, đồn Rạch Cui, đồn Rạch Làng, đồn Ông Tự... Nếu tính trong năm 1971, ta đánh chìm 112 tàu và xuồng máy quân sự, trong đó có hai tiểu pháo hạm (dài 128 m), ta diệt hàng trăm tên, thu nhiều quân trang quân dụng. Đặc biệt là phong trào chiến tranh nhân dân ngày được phát triển và đánh địch bằng ba mũi giáp công (quân sự, chính trị và binh vận).

Chấp hành đồng loạt tấn công toàn miền, xuân hè 1972 quân dân Cà Mau đã tiến hành bao vây và bứt rút hàng loạt đồn bót, trên các tuyến quan trọng đều bị ta tấn công. Ngày 10/6/1972 ta đánh tiêu diệt chi khu Thới Bình, là chi khu được kiên cố từ lâu, ta diệt trên 300 tên địch, phá hủy 02 khẩu pháo 105 ly. Nếu tính cả năm 1972, quân và dân trong tỉnh đã diệt 15.672 tên trong đó có 13 tên Mỹ, bắn rơi và làm bị hư 38 máy bay, bắn chìm và cháy 97 tàu, 24 xe quân sự, bức rút hàng trăm đồn bót, giải phóng 283 ấp, trong đó có 06 xã giải phóng hoàn toàn, 15 xã giải phóng cơ bản. Vùng giải phóng được xây dựng và phát triển, các đoàn thể thi đua sản xuất, tích cực đóng góp người và của cho kháng chiến.

3-Ý nghĩa:

-Sau năm 1968, địch tăng cường “Bình định” ác liệt ở tỉnh Cà Mau, chúng tăng cường cả hoả lực (không quân, hải quân, bộ binh) đánh sâu vào vùng hậu cứ làm ta gặp nhiều khó khăn, nhưng Đảng bộ và nhân dân Cà Mau đã vượt qua những khó khăn thử thách từng bước xây dựng thực lực cách mạng, khôi phục lại phong trào đã tiến lên đánh địch mở rộng vùng giải phóng.

-Phát huy được phong trào chiến tranh nhân dân đều khắp trong tỉnh, đặc biệt là kết hợp được 3 mũi tấn công (quân sự, chính trị, binh vận). Từ đó cổ vũ được phong trào chiến đấu, đánh địch trên chiến trường Cà Mau.

-Làm thất bại kế hoạch “Bình định” của địch trên chiến trường Cà Mau và mở rộng vùng giải phóng, tăng cường xây dựng thực lực cách mạng cho phong trào của tỉnh ngày càng được phát triển và tiến lên giải phóng quê hương.

Câu hỏi:

  1-Nêu những âm mưu của địch ở tỉnh Cà Mau ?

  2-Em hãy kể những trận tiêu biểu đánh “Bình định” của quân dân Cà Mau ?

3-Trình bày ý nghĩa của quân dân Cà Mau trong đấu tranh chống hành động của Mỹ nguỵ ?

(Bản đồ : Diễn biến cuộc tấn công và nổi dậy Tết Mậu thân 1968)

 

 

Bài 17

 

NHÂN DÂN CÀ MAU ĐẤU TRANH CHỐNG MỸ NGỤY

(1969 – 1973)

 

1-Đặc điểm  tình hình.

Thắng lợi của cuộc tổng tiến công và nổi dậy muà xuân 1968 đã làm phá sản chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của Mỹ, ngụy, buộc chúng phải điều chỉnh chiến lược và đưa ra cái gọi là “Việt Nam hoá chiến tranh” ở Miền Nam.

Để thực hiện chiến lược mới này, trên chiến trường Cà Mau, địch tập trung quân và hoả lực đẩy mạnh “Bình định”. Đầu năm 1969 Lữ đoàn “A” thủy quân lục chiến phối hợp lực lượng đặc nhiệm hải quân Mỹ (CTF 115) tấn công chiếm lại Năm Căn, một cứ điểm hải quân khống chế vùng biển phía tây Nam và khu vực rừng đước. Đồng thời chúng tập trung ở đây 2 sư đoàn chủ lực (sư đoàn 21 và sư đoàn 9) cùng với các binh chủng kỹ thuật pháo binh, thiết giáp... của “Vùng 4 chiến thuật” 25 đoàn bình định, 1.700 tên tề điệp để phối hợp với lực lượng ngụy quân ngụy quyền trong tỉnh tăng cường càn quét vùng này. Số quân của địch trong toàn tỉnh đã lên đến 13.358 tên và hàng trăm cố vấn Mỹ. Ngoài ra chúng phối hợp nhiều giang đoàn dùng hoả lực không quân kể cả máy bay chiến lược B52 và pháo 250 ly của Hạm đội 7 từ ngoài biển bắn vào.

Với một lực lượng áp đảo, địch mở nhiều chiến dịch quân sự qui mô lớn mà chúng gọi là “Nhổ cỏ U Minh” ; “Sóng thần” ( hạm đội nhỏ trên sông)... nhiều lần tấn công, chà đi sát lại vùng căn cứ kháng chiến của ta. Trong 2 năm (1969 – 1970) địch đã mở 4.487 cuộc càn quyét nhỏ, sử dụng hơn 5.000 lượt máy bay (kể cả máy bay B52) ném bom rãi thảm và rải chất độc hoá học xuống vùng dân cư, vùng căn cứ cách mạng. Đồng thời chúng còn tăng cường chiến tranh tâm lý để mỵ dân, chia rẽ nội bộ, kiểm soát gắt gao vùng giải phóng. Theo tài liệu bình định của địch ở tiểu khu Cà Mau và Bạc Liêu cuối năm 1970 địch đã đóng hơn 400 đồn, lập 336 ấp Tân Sinh.

Sự điên cuồng đánh phá của địch đã gây nhiều khó khăn cho ta. 70% điện tích rừng tràm U Minh, rừng đước Năm Căn bị hủy diệt, 3.000 công ruộng bị hư hại, 1.000 công vườn bị tàn phá, 3.000 đồng bào ta bị ngộ độc. Bình quân mỗi người dân huyện Duyên Hải (Ngọc Hiển) phải đội 13 trái bom, ở xã Khánh Lâm (U Minh) gầm 700 kg bom đạn trên đầu người. Đặc biệt nghiêm trọng là sau tổng tiến công tết Mậu Thân 1968 vùng giải phóng bị mất rất nhiều, từ 18 xã và một huyện hoàn toài giải phóng nay chỉ còn 3 xã giải phóng không hoàn toàn ; 156 Chi bộ ấp mất chỗ đứng chân không hoạt động được, 13 xã ủy phải dời sang xã khác, hàng trăm cán bộ Đảng viên có cả cấp ủy huyện, tỉnh hy sinh. Lực lượng vũ trang tỉnh còn không quá 100 chiến sĩ, bộ đội địa phương, huyện chỉ còn 15 đến 20 chiến sĩ ; du kích ấp, xã hầu như tan rã.

2-Chủ trương và biện pháp đối phó của ta:

Thực hiện lời kêu gọi thiêng liêng của Hồ Chủ Tịch ngày 20/7/1969: “Toàn quân, toàn dân cả nước quyết tâm đánh cho đế quốc Mỹ cút khỏi Miền Nam Việt Nam và quân Nguỵ sụp đổ hoàn toàn” ; Nghị quyết của Trung ương cục và chỉ thị số 54 của Thường vụ khu ủy: “Bất cứ giá nào cũng phải bẻ gãy kế hoạch bình định U Minh của địch” ; với phương châm: “Đảng bám dân, dân bám đất, bộ đội bám giặc”, “Một tấc không đi, một ly không dời”... Hội nghị Tỉnh ủy mở rộng tháng 9/1969 đề ra nhiệm vụ: “Củng cố lại lực lượng cách mạng, nhất là ba thứ quân, tổ chức học tập chỉnh huấn cho cán bộ nhất là Đảng viên cấp ủy” để quyết tâm đánh bại một bước kế hoạch “Bình định” của địch.

Nhờ vậy, trong ác liệt của chiến tranh Đảng bộ vẫn kiên cường bám dân, lãnh đạo quần chúng nổi dậy phá kềm, diệt ác như ở Phú Mỹ, Phú Hưng (Cái Nước), nhiều ấp thuộc huyện Ngọc Hiển, Thới Bình. Trong đau thương mất lớn của dân tộc, khi nghe tin Bác mất, Cà Mau cùng cả nước tổ chức lễ tang Hồ Chủ Tịch, xây dựng đền thờ Bác ở Tân Ân, Đất Mũi... Biến đau thương thành hành động, chỉ trong 3 tháng của năm 1970 ta đã bắn chìm và bắn cháy 240 tàu chiến các loại, diệt 2.900 tên trong đó có hàng trăm tên Mỹ.

Với phương châm vừa chiến đấu vừa xây dựng, đến năm 1971 lực lượng vũ trang của tỉnh đã có một tiểu đoàn bộ binh, hai đại đội độc lập, mỗi huyện có một đại đội, mỗi xã có hơn một trung đội, các cấp đều có lực lượng du kích. Đặc biệt tỉnh được đón nhận trung đoàn “Sông Hương” vượt hàng ngàn cây số mang theo tất cả tình cản thân thương của đồng bào Miền bắc chi viện cho Bạc Liêu và Cà Mau. Nhờ có lực lượng mạnh, ta đã liên tục tấn công tiêu diệt hàng loạt đồn bót, phá vỡ hàng mảng hệ thống kềm kẹp của địch trên tuyến sông Ông Đốc, Kinh xáng Thọ Mai, Vàm Đình, chi khu Giá Ngựa, Cái Nước... Đặc biệt là trận đánh mìn giữa ban ngày ở nội ô Cà Mau của nữ biệt động Hồ Thị kỷ, diệt nhiều tên cảnh sát, bẻ gãy  cuộc hành quân của chúng.

Tính đến tháng 8/1971 ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 6.591 tên địch (trong đó có 3.000 tên bị tiêu diệt, 91 tên bị bắt sống), diệt 14 đồn, 9 lô cốt, trong đó có chi khu ta đánh thiệt hại nặng; đánh phá 4 cụm pháo, phá hỏng 25 khẩu, đánh chìm 112 tàu và xuồng quân sự; bắn rơi và bắn hỏng hàng chục máy bay, thu 475 súng các loại.

Những tháng cuối năm 1971 ta tiếp tục tấn công diệt thêm 3.700 tên, diệt 7 đồn, thu 225 súng, giải phóng nhiều xã, ấp. Hàng vạn nhân dân trở về ruộng vườn cũ để sản xuất, xây dựng xã, ấp chiến đấu.

Bước sang năm 1972, thực hiện quyết tâm của Bộ chính trị và Chỉ thị 13/ CT của Trung ương Cục, ta đồng loạt tiến công và nổi dậy mở rộng vùng nông thôn giải phóng. Tháng 3/1972 Tỉnh ủy mở hội nghị nhận định tình hình ta, địch và đi đến thống nhất đánh giá: “So sánh lực lượng trên chiến trường Cà Mau... đang thay đổi theo chiều hướng có lợi cho ta. Chủ lực của 4 vùng chiến thuật có khả năng phải rút đi”. Và chủ trương đẩy mạnh tiến công và nổi dậy, lấy vùng thị xã, thị trấn, chi khu làm hướng tấn công chủ yếu.

Ngày 07/4/1972 quân dân Cà Mau mở màn tấn công đồng loạt trên khắp chiến trường, bao vây gần 200 đồn bót, tiêu diệt và bức rút 46 đồn. Riêng quân dân huyện Trần Văn Thời đã loại khỏi vòng chiến đấu 200 tên, thu 100 súng, giải phóng 5 ấp, đưa 2.500 dân thoát khỏi ách kềm kẹp trở về quê cũ. Trong 10 ngày cuối tháng 4, ta bức hàng thêm 64 đồn bót, loại khỏi vòng chiến đấu 2.447 tên, thu 760 súng, giải phóng hoàn toàn 3 xã: Tân thuận, Tân Tiến, Tân Hưng, 90.000 dân thoát khỏi ách kềm kẹp của địch.

Ngày 10/6/1972 ta tiêu diệt Chi khu Thới Bình, một chi khu trọng yếu của địch. Đây là căn cứ xuất phát các cuộc hành quân đánh phá tuyến sông Trẹm nhằm ngăn con đường vận chuyển của ta từ các huyện phía Nam Cà Mau lên U Minh thượng. Lực lượng địch ở Chi khu gồm 2 đại đội Bảo an, 1 đại đội công binh, 1 trung đội biệt kích thám báo, 1 trung đội pháo binh. Ngoài ra còn có lực lượng cảnh sát, tất cả hơn 400 tên. Ngoài hệ thống lô cốt, ấp chiến lược, kênh rạch, mạng lưới tề điệp để bảo vệ, phát hiện từ xa, Chi khu còn có 2 trận địa pháo, 2 khẩu 105 ly và 155 ly yểm trợ. Sau 30 phút chiến đấu, ta làm chủ Chi khu đồng thời tiêu diệt 2 tiểu đoàn dù từ Cà Mau xuống ứng cứu, diệt thêm 8 tàu, bắn bị thương 3 chiếc khác.

 Chiến thắng Thới Bình là chiến thắng lớn nhất của quân dân Cà Mau trong cuộc tiến công chiến lược năm 1972 làm nức lòng nhân dân trong tỉnh, đẩy địch vào sâu hơn thế hoang mang dao động. Bên cạnh thắng lợi về quân sự, phong trào thi đua sản xuất, đóng góp để nuôi quân cũng được đẩy mạnh. Phong trào toàn dân giết giặc, xây dựng xã ấp chiến đấu, các hoạt động văn hoá xã hội trong vùng giải phóng của quân dân tỉnh nhà lên một bước phát triển mới.

Những thắng lợi đạt được của quân và dân Cà Mau góp phần cùng quân dân toàn Miền Nam đánh bại chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh” của Mỹ- ngụy, buộc chúng phải ngồi vào bàn đàm phán và ký kết Hiệp định Pari năm 1973.

3-Cà Mau sau Hiệp định Pari 27/3/1973.

Đế quốc Mỹ trong thế thua, thế bại trận buộc phải ký kết Hiệp định Pari và rút hết quân Mỹ, quân chư hầu ra khỏi Miền Nam. Tuy nhiên chúng vẫn chưa từ bỏ dã tâm chiếm đóng lâu dài Miền Nam, biến Miền Nam nước ta thành thuộc địa kiểu mới của chúng. Để thực hiện âm mưu này, những tháng cuối năm 1972, Mỹ ồ ạt viện trợ cho bọn ngụy quyền  tay sai hàng tỷ đô la, vũ khí đạn dược, phương tiện chiến tranh, khẩn trương củng cố và tăng cường quân ngụy về tổ chức và trang bị để đối phó với cách mạng Miền Nam. Do đó, khi Hiệp định Pari vừa ký kết, ngụy quyền Sài Gòn hò hét “Tràn ngập lãnh thổ” lấn chiếm vùng giải phóng của ta, trắng trợn vi phạm Hiệp định.

Tại Cà Mau địch đưa tiểu Đoàn 76 lấn chiếm trái phép Thủ Tam Giang, huyện Duyên hải. Các đồn bót, chi khu trong tỉnh đều bung ra đánh xỉa, lấn chiếm đất, giành dân với ta. Đồng thời chúng đưa tiểu đoàn chủ lực của trung đoàn 32 thuộc sư đoàn 21 càn quét, phản kích, giải toả khu vực dọc theo tuyến sông Bảy Háp, sông Ông Đốc, sông Trẹm, Cái Tàu và ven Thị xã Cà Mau. Chỉ riêng năm 1973, địch đã mở 5.000 cuộc hành quân cán quét từ cấp đại đội đến cấp tiểu đoàn, cho 10.000 lượt máy bay oanh tạc và pháo binh bắn phá dã man vào các vùng giải phóng, vùng tranh chấp; mở hàng ngàn cuộc hành quân cảnh sát bao ráp để bắt lính và truy quét lực lượng ta ở nội – ngoại ô thị xã.

Đi đôi với càn quét lấn chiếm, địch tăng cường củng cố ngụy quyền, chúng thay đổi hàng loạt chỉ huy từ tỉnh đến xã, tăng cường thủ đoạn kềm kẹp, dồn quân bắt lính, cưỡng ép cả nữ thanh niên, thiếu niên vào phòng vệ dân sự; ra sức thực hiện cái gọi là “Kinh tế hậu chiến”, ráo riết vơ vét cướp bóc, hành quân càn quét, phá hoại mùa màng; sử dụng bộ máy cảnh sát, tề điệp kiểm soát các tuyến đường bộ, đường sông từ thị xã, thị trấn vào vùng giải phóng nhằm ngăn chặn việc giao lưu hàng hoá, đi lại gây khó khăn cho ta; chúng còn đẩy mạnh chiến tranh tâm lý, xuyên tạc nội dung Hiệp định hòng gây tư tưởng hoang mang, hoài nghi trong quần chúng nhân dân.

Để kịp thời chống lại âm mưu phá hoại Hiệp định của kẻ thù, Tỉnh ủy tổ chức hội nghị tập huấn nội dung Hiệp định, quan điểm của Đảng cho các bộ các ngành và cơ sở trong tỉnh; sau đó triển khai xuống các huyện, xã phát động quần chúng đấu tranh. Tỉnh còn mở các lớp bồi dưỡng chính trị, đào tạo cán bộ cho cơ sở, chấn chỉnh tổ chức, sắp xếp lại cấp ủy Đảng, đưa cán bộ đảng viên có năng lực xuống giữ các vị trí quan trọng. Tổ chức học tập các chỉ thị về công tác dân vận, binh vận, công tác vận động thanh niên tòng quân, xây dựng lực lượng vũ trang.

Thực hiện Nghị quyết hội nghị khu ủy khu 9 họp ngày 30/02/1973 và Nghị quyết Trung ương lần thứ I với tinh thần: bất kể trong tình huống nào con đường thắng lợi của cách mạng Việt Nam cũng là con đường bạo lực, do đó phải mắm vững chiến lược tấn công, kiên quyết đấu tranh trên 3 lĩnh vực quân sự, chính trị, ngoại giao nhằm tiến lên thực hành phản công để giành toàn thắng...

Được sự lãnh đạo của Tỉnh ủy, chính quyền cách mạng, quân dân trong tỉnh đã kịp thời sử dụng bạo lực cách mạng, chặn đứng âm mưu “Tràn ngập lãnh thổ” của chúng, đánh bại các cuộc hành quân lấn chiếm, giữ vững thế chủ động tiến công tiêu diệt nhiều sinh lực địch, mở rộng vùng giải phóng. Năm 1973 ta đánh 2.578 trận, loại khỏi vòng chiến đấu 7.000 tên địch, thu 1.020 khẩu súng, phá 5 kho đạn của địch, bức rút, bức hàng 55 đồn bót, giải phóng nhiều xã, ấp và đưa gần 70.000 dân về với ruộng vườn cũ. Đời sống nhân dân vùng giải phóng vẫn ổn định, văn hoá, văn nghệ, y tế, xã hội tiếp tục phát triển.

Tháng 01/1974, lực lượng vũ trang của tỉnh kết hợp với quân du kích huyện Năm Căn diệt 3 đồn, liên tiếp chặn đứng quân chủ lực ngụy đến chi viện, diệt gọn 4 đại đội, đánh thiệt hại nặng 2 tiểu đoàn khác, loại khỏi vòng chiến đấu 500 tên.

Tháng 03/1974 ta tấn công chi khu Bình Hưng, huyện Cái Nước, diệt 2 đồn, đẩy lùi các đợt chuyển quân chi viện diệt trên 150 tên. Tiếp theo trong tháng 4 ta đánh địch ở đoạn lộ xe giữa Rau Dưà, Cái Nước diệt 9 đồn, giải phóng hoàn toàn 2 xã Hưng Mỹ, Phú Hưng và gần hết xã Lương Thế Trân (ven thị xã Cà Mau), mở rộng vùng giải phóng trên chiều dài gần 30 km.

Từ tháng 06/1974 ta loại khỏi vòng chiến đấu 7.744 tên địch, tiêu diệt, bức rút, bức hàng 37 đồn, thu 1.487 súng, bắn chìm, bắn cháy 19 tàu, bắn rơi 9 máy bay. Phong trào đấu tranh vũ trang đã cổ vũ, hỗ trợ cho đấu tranh chính trị của quần chúng. ở Thị xã Cà Mau hàng vạn người đã tham gia các cuộc đấu tranh chống địch càn quét, gom dân bắt lính. Qua hàng trăm cuộc đấu tranh ta đã buộc địch phải thả gần 300 người bị địch bắt và gần 1.000 thanh niên bị bắt lính, giành lại 5.000 giạ lúa và các tài sản khác giá trị hàng chục triệu đồng.

Công tác binh vận làm tan rã hàng ngũ kẻ thù cũng đạt kết quả tốt. Trong năm 1974 ta đã làm tan rã 3.915 binh sĩ. Số binh sĩ bỏ hàng ngũ địch về với cách mạng đã nộp 120 khẩu súng các loại. Chính quyền của bọn tề xã, ấp bị tan rã gần hết. Cả tỉnh Bạc Liêu và Cà Mau đã có 49 xã hoàn toàn giải phóng bao gồm 400 ấp và 31 vạn dân.

Những tháng cuối năm 1974 và đầu năm 1975, tiếp tục phát huy những thắng lợi đã đạt được, ta đẩy mạnh việc tiến công địch loại khỏi vòng chiến đấu 11.200 tên, diệt và bức rút 136 đồn bót, trong đó có 3 phân chi khu, thu hơn 200 súng các loại. Phong trào đấu tranh chính trị cũng phát triển mạnh mẽ với 1 khí thế mới. Hàng chục ngàn lượt người xuống đường tổ chức thành đội ngũ liên tiếp biểu tình, mít tinh, đấu tranh chống các luật lệ, chính sách phát xít của địch. Hàng vạn quần chúng bung về bám ruộng vườn cũ. Trên 100.000 đồng bào đăng ký thi đua góp sức người, sức của và tham gia phục vụ chiến đấu. Phong trào thu lượm vũ khí địch đánh địch phát triển rộng rãi. Đầu năm 1975 du kích xã Lương Thế Trân đã dùng vũ khí tự tạo bằng đầu đạn pháo lấy được của địch phá được thêm 4 đồn, giải phóng hoàn toàn xã nhà.

Vừa chiến đấu, vừa xây dựng, với phương châm “chính trị, quân sự là hàng đầu, kinh tế là cơ sở, văn hoá xã hội là quan trọng”, quân dân Cà Mau đã đề ra chỉ tiêu xây dựng về mọi mặt, nhằm động viên cao nhất tiềm năng cách mạng của vùng giải phóng làm hậu phương vững chắc cho tiền tuyến. Nông dân hăng hái sản xuất, năm 1974 đã huy động được gần 1 triệu giạ lúa và hàng trăm triệu bạc cho kháng chiến.

Các đơn vị xã huyện đã mở hơn 100 lớp bồi dưỡng cho đối tượng Đảng, kết nạp 1.500 đảng viên mới; phát triển thêm 3.000 đoàn viên và hơn 10.000 hội viên của các đoàn thể quần chúng; động viên được 3.610 thanh niên gia nhập các lực lượng vũ trang. Giao  thông liên tục thông suốt, các đồng chí giao liên hoạt động suốt ngày đêm, vượt qua các vùng đang có chiến sự, các đồn bót của địch đề chuyển hàng hoá, vũ khí, công văn, chỉ thị kịp thời cho tiền tuyến.

Cả tỉnh bừng bừng một khí thế thi đua sản xuất, thi đua giết giặc lập công. Mọi điều kiện đã sẵn sàng để cùng quân và dân Cà Mau bước vào trận quyết chiến chiến lược  có tính chất quyết định; cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975 giải phóng hoàn toàn Miền Nam thống nhất đất nước.

Câu hỏi.

1-Nêu những nét lớn về tình hình và âm mưu của địch ở Cà Mau năm 1969 ?

2- Nêu  những nét lớn về chủ trương và  biện  pháp của quân và dân Cà Mau để đánh bại chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh” của Mỹ- ngụy ?

3- Nêu những nét lớn về tình hình địch và ta ở Cà Mau những ngày trước khi có Hiệp định Pari (27/1/1973) ?

4-Âm mưu và thủ đoạn của địch ở Cà Mau sau khi ký kết Hiệp định Pari (27/1/1973). Ta đã đánh bại âm mưu  đó như thế nào ? ý nghĩa của những thắng lợi đó ?

(Bản đồ Diễn biến chiến dịch Xuân Hè 1972).

 

 

Bài 18

 

CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY

MUÀ XUÂN 1975 Ở CÀ MAU

 

Căn cứ vào tình hình phát triển mạnh mẽ của cách mạng Miền Nam cuối năm 1974, trên cơ sở phân tích sự suy yếu của Nguỵ quyền Sài Gòn; đánh giá lực lượng của ta; khả năng can thiệp của Mỹ; Bộ chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng Sản Việt Nam đã tổ chức một cuộc hội nghị mở rộng kéo dài từ 18/12/1974 đến ngày 08/01/1975 hạ quyết tâm hoàn thành giải phóng Miền Nam trong hai năm 1975 – 1976. Hội nghị còn dự kiến một phương án táo bạo là: nếu thời cơ đến vào đầu hoặc cuối năm 1975 thì lập tức giải phóng Miền Nam trong năm 1975.

Thực hiện quyết tâm chiến lược của Bộ chính trị, đầu tháng 4 năm 1975 Tỉnh ủy Cà Mau tổ chức hội nghị nhằm kiểm tra thực lực và bàn kế hoạch thực hiện Nghị quyết 15 của Trung ương Cục “tỉnh giải phóng tỉnh, huyện giải phóng huyện, xã giải phóng xã”  và chủ trương :“ khẩn trương chuẩn bị cho đòn quyết định, vừa đẩy mạnh tiến công và nổi dây theo phương châm kết hợp nổi dậy với tiến công”.

1-Diễn biến cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975, giải phóng tỉnh Cà Mau:

Tỉnh lỵ Cà Mau là trung tâm đầu não của Mỹ – nguỵ ở tỉnh Cà Mau ; nơi tập trung mạnh nhất tiềm lực chính trị và quân sự của chúng. Để cuộc tổng tiến công giành được thắng lợi, tỉnh ủy Cà Mau họp và bố trí phân công từng mũi tiến công cụ thể vào thị xã.

-Phía Bắc: do các đồng chí Ba Báo, Huỳnh My, Tư Tấn chỉ huy. Lực lượng sử dụng là các tiểu đoàn 2,4 và 13.

-Phía Đông: do đồng chí Trần Thanh Liêm tỉnh đội phó và một số cán bộ tham mưu, trợ lý chỉ huy. Lực lượng sử dụng là tiểu đoàn 3 và tiểu đoàn 5.

-Phía Tây: do đồng chí Tống Kỳ Hiệp và cùng một số trợ lý chỉ huy. Lực lượng sử dụng là các tiểu đoàn 7, 8 và 10.

-Phía Nam: do đồng chí Nguyễn Hoàng Chi, Nguyễn Thanh cùng một số trợ lý cơ quan tỉnh đội. Lực lượng là tiểu đoàn 9 và đại đội pháo 105.

-Lực lượng dự bị lấy tiểu đoàn 13 huyện Thới Bình, các huyện lấy lực lượng tổng hợp xã, ấp trong huyện để bao vây các quận lỵ, chi khu.

-Riêng tiểu đoàn 12 Châu Thành, đại đội công binh tỉnh, tấn công chi khu Tắc Vân và các đồn bót ven trục lộ 4, nhằm mở cửa tiến thẳng vào thị xã Cà Mau.

Ngày 29/04/1975 được lệnh của Quân khu, cuộc tấn công vào thị xã bắt đầu.

Tiểu đoàn U Minh 3 tấn công tấn công vào phân Chi khu Hoà Thành kết hợp với quần chúng nổi dậy. Sau 20 phút chiến đấu ta làm chủ Chi khu, cửa ngõ phía Đông Nam tiến vào thị xã Cà Mau được mở.

Phía Bắc, đêm 29/ 4 tiểu đoàn U Minh 2, tiểu đoàn 4 cùng đại đội pháo đồng loạt tấn công đồn Xi Cách, đồn Cái Nhúc. Đồn Xi Cách nhanh chóng bị tiêu diệt. Đồn Cái Nhúc phải xin hàng. Thừa thắng ta tiếp tục tiến lên bao vây, tiến công đồn Cầu Số 2, địch ở phân Chi khu lộ tẻ Tân Thành phải tháo chạy.

Phía Đông, tiểu đoàn 8 và tiểu đoàn 5 tấn công, tiêu diệt đồn Ao Kho. Như vậy tiếp theo của ngõ phía đông bắc thị xã Cà Mau được mở, lực lượng ta áp sát sân bay Cà Mau.

Ở phía nam ta tấn công tiêu diệt toàn bộ quân địch trên lộ xe Cà Mau – Cái Nước tiến vào thị xã.

“ Trong khi các hướng tiến công của ta – trên thế áp đảo kẻ địch, giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác, hình thành thế trận bao vây, chuẩn bị tổng công kích vào thị xã, thì trưa ngày 30/04/1975 Dương Văn Minh, Tổng thống nguỵ Sài gòn tuyên bố đầu hàng. Tình hình chuyển biến tích cực, mau lẹ, kế hoạch tiến công phải thay đổi. Lúc này, bọn ngụy quân, ngụy quyền ở Cà Mau phân hoá dữ dội, số lớn hầu như tê liệt, chỉ còn một số ít sĩ quan chỉ huy làm bộ hung hăng quyết chiến tử thủ. Ta dùng máy thông tin vô tuyến kêu gọi tên đại tá tỉnh trưởng Nhan Nhật Chương phải đầu hàng và yêu cầu hắn ra lệnh cho các Chi khu còn lại nộp vũ khí. Tên Chương ngoan cố chần chờ xin đến sáng hôm sau sẽ thực hiện. Không chờ đến sáng, ban chỉ huy tiền phương ra lệnh cho các mũi từ 4 hướng tiến công vào thị xã. Đêm  30 / 4 tên Chương chuồn lên chiếc máy bay L19 trốn thoát.

5 giờ sáng ngày 01/5/1975 các mũi tiến công vào nội ô thị xã đánh chiếm từng mục tiêu theo phương án tác chiến đã hoạch định. Cùng với các mũi tiến công của ta, phong trào nổi dậy của quần chúng giành quyền làm chủ cũng phát triển mạnh mẽ, rộng khắp, đẩy địch tiếp tục lấn sâu vào thế lúng túng, bị động, buộc chúng phải buông súng đần hàng ở từng khu vực.

Ở phía bắc thị xã, 3 tiểu đoàn là tiểu đoàn 2, 4, 13; đến 7 giờ sáng (01/5/1975) đã chiếm xong khu vực Khám lớn, giải thoát tù chính trị, phát triển sang Ty đặc biệt, Tòa hành chánh, Ty nhân dân tự vệ, bãi để xe, trung tâm tuyển mộ, Ty ngân khố và truy lùng bọn tàn quân ngoan cố trong phạm vi địa bàn phụ trách.

Ở phía tây, tiểu đoàn 7 đúng 7 giờ đã chiếm lĩnh trại Cao Thắng, phát triển sang trại Phạm Ngũ Lão. Đồng thời đưa ra một đại đội tiến thẳng hướng Cầu số 1. Cùng lúc tiểu đoàn 8 tiến vào giải tán cơ quan Hội đồng xã Tân Xuyên và tiến thẳng vào nội ô. Tiểu đoàn 10 chiếm hậu cứ thám sát, hậu cứ tiểu đoàn Bảo an 446 phát triển qua Ty cảnh sát.

Phía Đông, tiểu đoàn 3, tiểu đoàn 5 chia thành 2 mũi, một mũi tiến công vào sân bay mới, hậu cứ trung đoàn 32, phát triển xuống tiểu khu và Tòa hành chánh, một mũi tiến thẳng vào sân bay cũ, qua trận địa pháo và Tòa hành chánh.

Ở phía nam, 5 giờ sáng ngày 01/ 5 tiểu đoàn 9 đã chiếm xong căn cứ Hải quân, Ty chiêu hồi và truy lùng những tên ngoan cố trốn tránh.

Quân địch ở các vị trí  đều nộp vũ khí đầu hàng. Trước đó một số lớn mừng rỡ vứt bỏ vũ khí, quần áo, giầy dép, bỏ nghề binh nghiệp trở về với đồng bào, trở về địa phương.

Cùng với các mũi tiến công quân sự, công tác chính trị, binh vận, phát động phong trào nổi dậy của nhân dân vùng lên tự giải phóng cũng được đẩy mạnh; hàng chục ngàn người có vũ trang tự vệ, từ các nơi kéo vào thị xã, biểu dương lực lượng cùng với lực lượng tổng hợp tại chỗ ở nội ô làm áp lực buộc địch phải đầu hàng giao toàn bộ chính quyền cho cách mạng.

10 giờ sáng 01/5/1975, cờ giải phóng tung bay trên nóc Tòa hành chánh, Dinh tỉnh trưởng nguỵ, lan dần khắp thị xã Cà Mau. Cả thị xã rực rỡ màu cờ cách mạng cùng với tiếng hoan hô vang dậy làm náo nức lòng người, mừng Cà Mau hoàn toàn giải phóng.

Chính quyền quân quản do đồng chí Tống kỳ Hiệp là chủ tịch được thành lập. Ngay trong ngày 01/5/1975 toàn bộ quân địch ở các Chi khu, quận lỵ còn lại đều buông súng đầu hàng.

Cùng với quân và dân toàn Miền Nam, cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975 ở Cà Mau đã giành thắng lợi trọn vẹn.

2- Ý nghĩa lịch sử và nguyên nhân thắng lợi của cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975 ở Cà Mau:

Báo cáo chính trị của Đảng Cộng sản Việt nam tại đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV nêu rõ : Thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước “Mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc”. Thắng lợi của cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975 ở Cà Mau là một bộ phận, một phần trong thắng lợi vĩ đại chung đó của dân tộc.

Thắng lợi của cuộc tổng tiến công và nổi dây mùa xuân năm 1975 ở Cà Mau là thắng lợi lớn nhất, vĩ đại nhất của quân và dân Cà Mau trong cuộc chiến tranh yêu nước, chiến tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ tổ quốc của nhân dân Cà Mau. Với thắng lợi này đã kết thúc 21 năm chiến đấu chống Mỹ, đồng thời kết thúc vẻ vang quá trình 30 năm chiến tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ tổ quốc – Từ cách mạng tháng 8 năm 1945 của quân và dân Cà Mau.

Thắng lợi của cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975 ở Cà Mau chứng tỏ ách thống trị của thực dân, phong kiến, đế quốc đã bị quét sạch khỏi mảnh đất cuối cùng của Tổ quốc. Đất nước từ nay đã thống nhất, non sông thu về một mối, Việt Nam là biểu tượng của sự thống nhất từ mục Nam quan đến mũi Cà Mau.

Thắng lợi của cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975 ở Cà Mau mở ra một kỷ nguyên mới, một bước ngoặt lịch sử đối với Đảng bộ, toàn quân và dân tỉnh Cà Mau. Kỷ nguyên cùng cả nước bảo vệ nền độc lập dân tộc thống nhất đất nước và vững bước đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Với mục tiêu xây dựng Cà Mau, tỉnh mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh.

Thắng lợi của cuộc tổng tiến công và nổi dậy của quân và dân Cà Mau mùa xuân năm 1975 do những nguyên nhân sau:

-Trước hết, là nhờ sự lãnh đạo sáng suốt, đường lối chính trị, đường lối quân sự độc lập, tự chủ, đúng đắn, sáng tạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam và sự vận dụng sáng tạo đường lối đó của Đảng vào hoàn cảnh cụ thể của tỉnh - đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của thực tiễn – Vì vậy, đã huy động được sức mạnh tổng hợp của quân và dân Cà Mau. Hay nói cách khác là vai trò quan trọng trong lãnh chỉ đạo và tổ chức thực hiện của tỉnh Đảng bộ, cấp ủy, chính quyền các cấp tỉnh Cà Mau.

-Thắng lợi của cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975 ở Cà Mau là tinh thần yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng, ý trí quyết tâm vượt qua mọi gian khổ khó khăn của nhân dân Cà Mau để giành lại nền độc lập cho dân tộc, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.

-Thắng lợi ấy còn do sự cổ vũ, phối hợp giúp đỡ của nhân dân các tỉnh Miền Tây Nam Bộ, của cách mạng toàn Miền Nam, của nhân dân cả nước trong cuộc chiến đấu chống kẻ thù chung là đế quốc Mỹ xâm lược và bè lũ tay sai, vì mục tiêu độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội, vì “lương tâm và phẩm giá con người”.

Câu hỏi:

1-Nêu những nét lớn về diễn biến cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975 ở Cà Mau ?

2-Nguyên nhân thắng lợi và ý nghĩa lịch sử của cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975 ở Cà Mau ?

(Bản đồ diễn biến chiến dịch mùa khô 1974 – 1975 ).

 

 

 

 

CHƯƠNG V

CÀ MAU TRONG THỜI KỲ SAU GIẢI PHÓNG ĐẾN NĂM 2000

 

 

 

Bài 19

 

CÀ MAU NHỮNG NĂM ĐẦU GIẢI PHÓNG

 

 

Thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đã đem lại niềm tự hào vinh quang cho dân tộc. Đất nước đã thống nhất, non sông thu về một mối, từ dây cách mạng Việt nam chuyển sang giai đoạn mới: giai đoạn cả nước tiến lên CNXH và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Cùng với nhân dân cả nước, nhân dân Cà mau bắt tay vào việc hàn gắn vết thương chiến tranh, xóa bỏ, cải tạo những tàn dư của chế độ cũ, khôi phục kinh tế, phấn đấu phát triển về mọi mặt để đưa tỉnh nhà cùng cả nước vững bước tiến lên CNXH. Thuận lợi là cơ bản, xong nhân dân Cà Mau cũng đứng trước những khó khăn thử thách rất nặng nề.

1-Cà Mau trước những khó khăn, thử thách sau giải phóng:

Trước hết, phải chuyển từ bộ máy quản lý, phục vụ, chỉ đạo chiến tranh mang sang quản lý kinh tế, xã hội trong điều kiện thiếu cán bộ, thiếu kinh nghiệm thực tế; vừa cải tạo xây dựng CNXH; vừa hàn gắn vết thương chiến tranh; vừa xóa bỏ cái lạc hậu tàn dư của chế độ cũ để lại; vừa xây dựng CNXH từ gốc đến ngọn, từ cơ sở kinh tế đến nếp nghĩ, lối sống, phong cách làm việc đến tâm hồn con người. Vừa xây dựng vừa phải đối phó với âm mưu phá hoại nhiều mặt của kẻ thù.

+Về kinh tế: Cà Mau là căn cứ địa cách mạng suốt hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược. Vì vậy, Cà Mau bị chiến tranh tàn phá nặng nề. Thế mạnh của kinh tế Cà Mau là lâm nghiệp và đánh bắt, chế biến hải sản thì chưa được khai thác và cũng chưa có đủ điều kiện để khai thác. Nền sản xuất nông nghiệp là chủ yếu thì sản xuất độc canh, đất đai chưa được cải tạo, phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên, mỗi năm chỉ sản xuất một vụ. Cải tạo nền kinh tế nông nghiệp tỉnh nhà theo hướng sản xuất XHCN là một vấn đề hết sức khó khăn, phức tạp. Trong khi đó, Cà Mau không có một nền công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp khá để làm nền tảng cho sự phát triển kinh tế của tỉnh. Kinh tế thương mại – dịch vụ thì nhỏ bé, chủ yếu phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng của cuộc sống hằng ngày.

+Về văn hóa, giáo dục: Là đô thị nhỏ, lại là vùng tranh chấp ác liệt nên Cà Mau không bị ảnh hưởng nặng nề bởi tư tưởng thực dân, phong kiến trong đời sống văn hóa nhất là đối với đối tượng thanh thiếu niên. Tuy nhiên là vùng trọng điểm trong chính sách “bình định” của “Mỹ – Nguỵ”; Chiến tranh ác liệt liên miên cho nên nhân dân không có điều kiện học hành.

Toàn tỉnh mới chỉ có 2 trường cấp 3 còn lại chủ yếu là trường Tiểu học. Hệ thống trường lớp chỉ tập trung ở hai thị xã Cà Mau – Bạc Liêu và dọc theo quốc lộ 1A. Nạn thất học mù chử là một tồn tại to lớn một yêu cầu bức xúc cần phải giải quyết đối với chính quyền cách mạng.

Phát triển kinh tế gắn liền với việc nâng cao trình độ dân trí. Xây dựng mạng lưới trường lớp để phát triển giáo dục trong điều kiện kinh tế, đội ngũ CBQL, giáo viên hầu như không có là một thử thách không nhỏ đối với tỉnh nhà.

+Về an ninh chính trị: Hệ thống chính quyền của Mỹ – Nguỵ đã sụp đổ nhưng hậu quả của nó để lại còn rất nặng nề. Số lượng nguỵ quân, nguỵ quyền ở Cà Mau rất lớn. Chưa kể đến số trốn tránh cải tạo, trốn tránh sự trừng trị của chính quyền cách mạng ở các nơi khác chạy về, số phản động tạm thời nằm yên chờ thời cơ nổi dậy, gây khó khăn rất lớn cho chính quyền cách mạng.

Năm 1976, tỉnh Cà Mau kết hợp với Bạc Liêu thành tỉnh Minh Hải. Với địa hình phức tạp, ba mặt giáp biển, bờ biển dài, nội địa sông ngòi chằng chịt, dân cư phân tán, giao thông đi lại khó khăn... lợi dụng điều này các thế lực phản động ở nước ngoài cấu kết với thế lực phản cách mạng ở trong nước, đẩy mạnh hoạt động chống phá, tổ chức đưa người vượt biên, nhập biên, âm mưu gây bạo loạn, nhằm lật đổ chính quyền cách mạng phục hồi chế độ cũ. Điều này gây khó khăn cho việc bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội của tỉnh, gây hoang mang dao động cho một bộ phận ngụy quân, ngụy quyền đang có ý thức phấn đấu sửa chữa những lỗi lầm và góp phần xây dựng quê hương.

2-Nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân Cà Mau:

Với việc thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng CNXH và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN. Dưới sự lãnh đạo của Tỉnh Đảng bộ, phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng tinh thần đoàn kết nhất trí bằng sự năng động sáng tạo của mình, nhân dân Cà Mau xác định những nhiệm vụ cần phải thực hiện. Đó là nhanh chóng:

-Xác định và củng cố hệ thống chính trị.

-Cải tạo và xây dựng nền kinh tế XHCN.

-Phát triển GD – ĐT, xây dựng nền văn hóa mới con người mới XHCN.

-Giữ gìn cà củng cố an ninh quốc phòng.

Thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện trên tất cả các lĩnh vực kể từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986) đến nay. Nhờ vậy, đã nhanh chóng vượt qua mọi khó khăn giành được nhiều kết quả tốt đẹp trong công cuộc xây dựng CNXH bảo đảm an ninh chính trị  và bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.

Câu hỏi:

1-Phân tích những khó khăn và thử thách của Cà Mau sau ngày hoàn toàn giải phóng ?

2-Nêu những nhiệm vụ mà toàn Đảng, toàn quân, toàn dân của Cà Mau phải thực hiện sau giải phóng ? Vì sao phải thực hiện những nhiệm vụ ấy Cà mau mới vượt qua được những khó khăn, vững chắc tiến lên xây dựng CNXH ?

 

 

Bài 20

 

NHỮNG THÀNG TỰU CỦA TỈNH MINH HẢI (CÀ MAU – BẠC LIÊU) SAU 22 NĂM GIẢI PHÓNG (1975 – 1997)

 

1-Xây dựng và củng cố hệ thống chính trị:

Đây là nhân tố hàng đầu bảo đảm sự thắng lợi của cách mạng. Trong điều kiện từ chiến tranh chuyển sang hoà bình; từ quân sự chuyển sang xây dựng, phát triển kinh tế; từ chiến tranh cách mạng chuyển sang đấu tranh xây dựng và bảo vệ thành quả cách mạng... Yêu cầu cấp bách là phải xây dựng và củng cố hệ thống chính trị, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu lực quản lý của Nhà nước.

-Ngay sau ngày giải phóng, trong vùng giải phóng và căn cứ kháng chiến của ta trước đây, hệ thống chính trị được củng cố, nhanh chóng chuyển sang thích ứng với vai trò chức năng của tình hình mới.

-Tại các vùng mới giải phóng: Ta thực hiện tốt việc tiếp thu các cơ quan, công sở do chế độ cũ để lại. Ban hành những chính sách nhằm củng cố chính quyền cách mạng, xóa bỏ mọi tàn dư của chế độ phong kiến, thực dân.

Hệ thống chính trị (các cơ quan Đảng, chính quyền đoàn thể, các tổ chức chính trị, xã hội...) được thiết lập từ tỉnh đế cơ sở. Phát huy quyền làm chủ trực tiếp và dân chủ, đại diện qua mỗi lần bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp, bầu cử Quốc hội, bầu người lãnh đạo cơ quan Đảng, Nhà nước, quyền làm chủ và ý thức trách nhiệm công dân ngày càng được tăng cường, củng cố (thể hiện các cuộc bầu cử đều đạt 97% trở lên số cử tri đi bầu). Các cơ quan Đảng, chính quyền, đoàn thể... ngày càng thực hiện tốt chức năng của mình theo qui định của Hiến pháp, pháp luật, phát huy được quyền làm chủ của nhân dân trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, nâng cao hiệu lực quản lý của Nhà nước.

Các đoàn thể quần chúng đã góp phần tích cực trong việc củng cố khối đoàn kết toàn dân. Động viên và tạo điều kiện cho nhân dân vượt qua những khó khăn trong sản xuất và đời sống. Với tinh thần “Lấy dân làm  gốc” vai trò của quần chúng được phát huy trên mọi lĩnh vực. Nhờ vậy đã tạo được sức mạnh tổng hợp trong xây dựng CNXH, bảo đảm giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội của tỉnh nhà.

2-Cải tạo và xây dựng nền kinh tế XHCN:

Nông nghiệp  là một thế mạnh kinh tế của tỉnh. Nông nghiệp cung cấp lương thực thực phẩm cho đời sống nhân dân, đảm bảo an ninh lương thực, là nguồn xuất khẩu quan trọng, tạo nguồn vốn tích lũy để thực hiện công nghiệp hoá.

Xác định tầm quan trọng của nền kinh tế nông nghiệp  và những tiềm năng của kinh tế nông nghiệp  chưa được khai thác, ngay sau giải phóng, các tiến bộ khoa học kỹ thuật đã được áp dụng vào trong sản xuất (thâm canh tăng vụ, áp dụng giống lúa mới, kỹ thuật làm đất, phân bón, giao thông, thủy lợi...)  đã biến nền kinh tế nông nghiệp của tỉnh từ một nền kinh tế độc canh thành một nền kinh tế đa dạng, có hiệu quả. Sau khi có Nghị quyết của Bộ chính trị, cuả BCH Trung ương, nhất là Nghị quyết 10 về khoán sản phẩm trong nông nghiệp , tỉnh Cà Mau đã chủ động đề ra các chủ trương, biện pháp cụ thể đáp ứng yêu cầu sản xuất, mở rộng giao lưu hàng hoá, hội nhập với kinh tế thị trường.

 Công tác thủy lợi nội đồng giữ vai trò quan trọng trong phát triển  nông nghiệp . Hàng chục km kinh mương được nạo vét; Kinh xáng Quản Lộ – Phụng hiệp được quy hoạch khai thác; công tác tháo chua rửa mặn được đẩy mạnh cùng với việc áp dụng những tiến bộ của KHKT vào sản xuất đã làm thay đổi  tâm lý, tập quán cuả người nông dân Từ sản xuất  một vụ  đã trở thành 2,3 vụ lúa một năm. Cơ cấu mùa vụ sản xuất  nông nghiệp  chuyển đổi khá nhanh. Diện tích cây nông nghiệp  trong tỉnh từ chỗ chỉ chiếm 1% đã tăng lên 10%. Cơ cấu trồng trọt và chăn nuôi chiếm 16% năm 1976 nay đã tăng lên đến 30%. Lương thực từ chỗ thiếu ăn đã dần dần đủ ăn, có tích lũy và xuất khẩu.

-Rừng trong một thời gian dài bị chiến tranh tàn phá, sau giải phóng lại bị khai thác bừa bãi nhất là nạn chặt phá cây rừng để nuôi tôm, để hầm than đước, cộng với nạn cháy rừng  xảy ra liên tục trong các mùa khô làm cho diện tích rừng ngày càng bị thu hẹp đáng kể. Những năm gần đây, thực hiện chủ trương giao đất giao rừng cho huyện, Hợp tác xã và nhân dân  quản lý đã hạn chế được nạn khai thác bừa bãi, phòng chống có hiệu quản nạn cháy rừng. Công tác trồng, bảo vệ rừng có chuyển biến tích cực góp phần làm tăng vốn rừng, khai thác hiệu quả tài nguyên rừng, đất rừng. Đã trồng mới, khoanh nuôi tái sinh gần 20 ngàn ha rừng, tăng độ che phủ từ 42% năm 1996 lên 53% năm 2000. Môi trường sinh thái nhiều khu vực đang được hồi phục . Tình trạng cháy rừng, chặt phá cây rừng giảm rõ rệt, cơ cấu kinh tế nông- lâm nghiệp của tỉnh đến năm 2000 đã chiếm tỷ trọng 56%.

-Kinh tế thủy sản tăng trưởng nhanh, từng bước phát huy vai trò ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh. Hoạt động theo hướng hạch toánh kinh doanh, từng bước đổi mới cơ chế quản lý, cải tiến kỹ thuật đánh bắt, mở ra hợp tác liên doanh  kết với các tỉnh bạn, với các công ty của nước ngoài. Diện tích đánh bắt nuôi trồng ngày càng tăng. Dịch vụ thủy sản được đầu tư đồng bộ với sản xuất như xây dựng nhà máy đông lạnh, cơ sở cung ứng nhiên liệu, nước đá, phát triển trên 300 trại sản xuất tôm giống, xây dựng cảng cá... Công tác bảo vệ nguồn lợi thủy sản được quan tâm. Giá trị sản lượng ngành thủy sản tăng nhanh bình quân 9,5%. Giá trị chế biến xuất khẩu năm 2000 đạt gần 200 triệu USD.

-Giao thông vận tải, thông tin liên lạc được chú trọng. Hệ thống đường bộ, đường thủy được quy hoạch , trùng tu nâng cấp, rút ngắn khoảng cách giữa thành thị và nông thôn. Từng bước lắp đặt tổng đài tự động đến các huyện và một số xã, thị trấn.

-Lưới diện quốc gia năm 1997 đã kéo về 7/7 huyện, thành phố. Một số ngành công nghiệp quốc doanh đạt giá trị sản phẩm cao. Năm 1997 tôm đông lạnh đạt 5.700 tấn, muối i ốt 1.300 tấn, nước máy đô thị 2.000 m3/ ngày... Tổng giá trị sản xuất công nghiệp đạt 479.744 triệu đồng/ ngày.

3-Phát triển giáo dục - đào tạo, xây dựng nền văn hoá mới, con người mới XHCN.

Phát huy truyền thống giáo dục trong kháng chiến và tính ưu việt của chế độ mới, sau ngày giải phóng các chiến dịch “ánh sáng văn hoá hè” được phát động nhằm nhanh chóng xoá bỏ tình trạng thất học và nạn mù chữ trong nhân dân. Năm 1976 tỉnh Minh Hải đã thanh toán xong nạn mù chữ (tương đương lớp 1) và là một trong những tỉnh sớm nhất ở khu vực Đồng bằng sông Cửu long hoàn thành công tác này.

+Về giáo dục - đào tạo : năm 1976 tỉnh Minh Hải (bao gồm 2 tỉnh Cà Mau và Bạc liêu ngày nay) có 142 trường học (trong đó chủ yếu là trường tiểu học) với 3.699 giáo viên cấp I, 332 giáo viên cấp II, 93 giáo viên cấp III, với 102.500 học sinh. Đến năm 1999 chỉ riêng tỉnh Cà Mau đã có 379 trường học, bao gồm: 234 trường tiểu học, 86 trường THCS, 17 trường PTTH, 42 trường mẫu giáo, 7 trung tâm GDTX. Với tổng số 11.261 cán bộ, giáo viên và 287.088 học sinh. Mạng lưới trường lớp đã vươn tới tận xóm ấp xa xôi nhất của tỉnh, đáp ứng cơ bản nhu cầu học tập của con em nhân dân. Hệ thống các trường cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, dạy nghề, các trung tâm GDTX được xây dựng và hoạt động có hiệu quả trong việc đào tạo cán bộ, đào tạo đội ngũ công nhân kỹ thuật, công nhân lành nghề, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế –văn hoá - xã hội của địa phương.

+Công tác chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ nhân dân có nhiều tiến bộ, mạng lưới y tế cơ sở được xây dựng, củng cố. Phong trào “đền ơn đáp nghĩa”, chăm sóc, phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng, chăm sóc thương binh, gia đình liệt sỹ và người có công với nước được đẩy mạnh; các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao phát triển đúng hướng, đổi mới về nội dung, hình thức và chất lượng nghệ thuật... Góp phần đẩy lùi từng bước văn hoá lạc hậu, đồi trụy, xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Nhiều cá nhân và tập thể điển hình tiên tiến xuất hiện là nhân tố quan trọng để xây dựng nền văn hoá mới, con người mới XHCN.

4-Giữ vững an ninh chính trị, đảm bảo an toàn xã hội , củng cố quốc phòng.

Thành quả nổi bật trong việc giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội của quân và dân trong tỉnh là xây dựng được thế trận chiến tranh nhân dân và phong trào toàn dân tham gia bảo vệ an ninh tổ quốc. Nhờ vậy, ngay sau giải phóng, trật tự an toàn xã hội của tỉnh đã được thiết lập, trấn áp kịp thời, có hiệu quả các tổ chức phản cách mạng, các tổ chức tội phạm, phá vỡ âm mưu đưa người nhập biên trái phép. Góp phần cùng cả nước đánh bại hai cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc; góp phần giúp bạn Campuchia thanh toán nạn diệt chủng, làm tròn nghĩa vụ quốc tế.

Những thành quả đạt được trên các lĩnh vực kinh tế –văn hoá - xã hội , an ninh quốc phòng của nhân dân Minh Hải từ 1975 đến 1997) là hết sức to lớn, hết sức quan trọng. Điều ấy chứng tỏ:

-Ý chí kiên cường, tinh thần quyết tâm vượt khó của nhân dân tỉnh nhà trong công cuộc xây dựng chế độ xã hội mới.

-Sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng cộng sản Việt Nam mà trực tiếp là Tỉnh ủy, UBND tỉnh, của cấp ủy Đảng và chính quyền các cấp.

-Những kết quả đạt được đã đặt nền móng vững chắc để Minh Hải vững bước tiến lên xây dựng CNXH, trong công cuộc đổi mới toàn diện do Đảng cộng sản Việt Nam khởi xướng, lãnh đạo, tổ chức; vì mục tiêu “Dân giàu –nước mạnh- xã hội công bằng – dân chủ – văn minh” .

Câu hỏi:

1-Nêu tóm tắt những kết quả nổi bật trong công cuộc xây dựng CNXH của Minh Hải sau 22 năm giải phóng ?

2-Những kết quả đó có ý nghĩa như thế nào trong công cuộc xây dựng CNXH hiện nay ?

3-Thực hành cho học sinh tìm hiểu những dẫn chứng cụ thể về những thành tựu trong xây dựng  CNXH ở địa phương ?

 

 

Bài 21

 

TỈNH CÀ MAU SAU BA NĂM TÁI LẬP

(1997 – 2000)

 

Trước yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và có điều kiện thuận lợi hơn trong việc thực hiện thắng lợi các mục tiêu kinh tế –xã hội –văn hoá của địa phương; để tăng cường  hiệu lực quản lý của Nhà nước ; để tăng cường đầu tư các nguồn vốn của Trung ương, của tỉnh và của các tổ chức quốc tê... Thể theo đề nghị của HĐND tỉnh Minh Hải ... Ngày 06/11/1996, Quốc hội khoá IX trong kỳ họp thứ 10 đã phê chuẩn việc tách tỉnh Minh Hải thành hai tỉnh: Cà Mau và Bạc liêu. Việc tách tỉnh được thực hiện kể từ ngày 01/01/1997.

 1-Tỉnh Cà Mau ở cực nam của Tổ quốc, Đông giáp với tỉnh Bạc Liêu, Bắc giáp với tỉnh Kiên giang, Đông và Nam giáp biển Đông. Bờ biển dài 251 km. Có một thị xã (nay là thành phố) Cà Mau và 6 huyện: Thới Bình, U Minh, Cái Nước, Trần Văn Thời, Đầm Dơi, Ngọc Hiển. Với diện tích 5.211 km2, 1.133.747 người.

“Là vùng đất trẻ, là tỉnh mới được thành lập, nhưng Cà mau là một tỉnh có rất nhiều bè bạn. Mảnh đất hào hiệp và phóng khoáng này đã tiếp hàng vạn người phiêu bạt đi tìm đất sống trước đây. Trong hai cuộc kháng chiến hàng vạn người khắp nước đã về đây chiến đấu và ngã xuống tại đây, để lại biết bao là kỷ niệm”. (Trích phát biểu của đồng chí Võ Văn Kiệt, nguyên Thủ tướng Chính phủ tại Đại hội Đảng bộ tỉnh Minh Hải tháng 7/1983).

Việc tách tỉnh thành lập tỉnh mới Cà Mau là một bước ngoặt quan trọng trong tiến trình phát triển của lịch sử Cà Mau . Với niềm hân hoan, phấn khởi, với truyền thống đoàn kết gắn bó lâu đời, từ đây nhân dân Cà Mau tiếp tục sát cánh với nhân dân Bạc Liêu, với nhân dân các tỉnh bạn trong sự nghiệp xây dựng thành công CNXH và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.

2-Những thành tựu nổi bật của Cà Mau sau ba năm tái lập (1997- 2000):

Phát huy những kết quả đã đạt được của tỉnh Minh Hải sau 22 năm thành lập, kể từ khi tách tỉnh (1997) tỉnh mới Cà Mau tiếp tục vững bước tiến lên giành được nhiều thắng lợi mới.

Trong ba năm qua, mặc dù phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức như hậu quả nặng nề của cơn bão số 5, thời tiết khắc nghiệt, tác động của cuộc khủng hoảng tài chính kinh tế trong khu vực Châu á... Nhưng nền kinh tế tỉnh nhà vẫn tiếp tục phát triển tương đối ổn định, tốc độ tăng trưởng khá. Tổng sản phẩm (GDP) tăng bình quân hàng năm 8,4%, GDP bình quân đầu người đạt 341 USD (tương đương 4,8 triệu đồng) tăng 44% so với năm 1996.

-Sản lượng lương thực đạt gần 1 triệu tấn, tăng 17,5% (so với năm 1996);

-Sản lượng thủy hải sản đạt 190.000 tấn, tăng 18,7% (so với năm 1996);

-Kim ngạch xuất khẩu đạt 178 triệu USD, tăng 18,7% (so với năm 1996);

Cơ cấu kinh tế Nhà nước giữ vai trò chi phối trong lĩnh vực chế biến hàng xuất khẩu và một số hàng chiến lược, kinh tế hợp tác, kinh tế tư nhân phát triển theo hướng đổi mới đúng hướng và phát huy tác dụng tích cực.

Mạng lưới giao thông được đầu tư và sớm đi vào sử dụng . Ô tô đã đến được các huyện Cái Nước, Ngọc Hiển, Trần Văn Thời, U Minh. Phong trào nhân dân tham gia xây dựng giao thông nông thôn được duy trì liên tục, đạt hiệu quả kinh tế –xã hội thiết thực. Hàng ngàn cây số lộ bê tông, trải đá xô bồ, đất đỏ... được xây dựng. Hàng trăm cầu bê tông, hàng ngàn cầu gỗ được làm mới chắc chắn thay thế cầu khỉ, tạo điều kiện đi lại cho nhân dân, góp phần tăng trưởng kinh tế và đổi mới bộ mặt nông thôn.

Hiện nay 100% số xã có điện quốc gia về đến trung tâm xã, 35% số dân được dùng điện, trong đó khu vực nông thôn chiếm 20%. Bưu chính viễn thông tiếp tục phát triển và hiện đại hơn. Số máy điện thọai thuê bao tăng nhanh, bình quân 2,04 máy/ 100 người dân.

Hệ thống trường học, trạm y tế được đầu tư mạnh. Có 100% số trạm ytế, 75% số trường học được xây dựng cơ bản, bán cơ bản; 65% hộ dân ở nông thôn được sử dụng nước sạch để sinh hoạt.

Nhiều công trình văn hoá, phúc lợi công cộng đô thị, nhất là ở Thành phố Cà Mau  được chỉnh trang, xây dựng. Tới đây dự án khu công nghiệp Khí, điện. đạm (với quy mô nhà máy điện 720 MW, nhà máy phân đạm 800.000 tấn/ năm...) được xây dựng và đưa vào hoạt động sẽ góp phần thúc đẩy mạnh mẽ hơn nữa nền kinh tế –xã hội của tỉnh nhà.

Hệ thống chính trị tiếp tục được củng cố. Qua các kỳ Đại hội đảng các cấp và việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2), tổ chức Đảng được củng cố, tăng cường cả về số và chất lượng. Tổng số đảng viên của tỉnh hiện nay là 14.828 người. Trong đó đảng viên có trình độ cao đẳng và đại học trở lên chiếm 30%; số đảng viên phát huy tác dụng tốt chiếm 82% toàn đảng bộ.

Việc tăng cường kết nạp đảng viên trẻ, quan tâm công tác nữ, cơ cấu cán bộ đảm bảo tính liên tục và tính kế thừa giữa các thế hệ; quan tâm bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chủ chốt từ tỉnh đến cơ sở cả về trình độ lý luận, trình độ chuyên môn nghiệp vụ... đã củng cố khối đoàn kết nhất trí trong Đảng, tăng cường năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của toàn Đảng bộ, nâng cao hiệu lực điều hành và quản lý của các cơ quan Nhà nước, giữ vững trật tự an toàn xã hội , an ninh chính trị ở địa phương.

Văn hoá, giáo dục tiếp tục khởi sắc. Cà Mau là tỉnh đã đạt chuẩn quốc gia về phổ cập giáo dục tiểu học, chống mù chữ năm 1998. Hệ thống các trường THCN, dạy nghề đã và đang được xây dựng và phát huy tác dụng tốt. Nhiều thầy cô giáo đã được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu cao quý: Nhà giáo ưu tú. Nhiều đơn vị trường học, cơ sở giáo dục được đón nhận Huân chương lao động hạng Nhì, hạng Ba.

Phong trào “đền ơn đáp nghĩa”, chăm sóc phụng dưỡng Bà Mẹ Việt Nam anh hùng, chăm sóc thương binh, gia đình liệt sĩ và người có công với nước được đẩy mạnh. Những năm qua bằng việc huy động nguồn lực trong nhân dân  (15 tỷ đồng) và nguồn đầu tư của Nhà nước đã xây dựng trên 2.200 ngôi nhà tình nghĩa, góp phần giải quyết khó khăn về nhà ở và chăm sóc tốt hơn các đối tượng thuộc diện chính sách, thực hiện các chính sách xã hội đối với người già, cô đơn, trẻ mồ côi, người tàn tật...

Cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở các khu dân cư được toàn dân ủng hộ. Đến nay có 127 ấp, khóm, 3 xã, phường, thị trấn, 592 công sở và gần 100.000 hộ gia đình được công nhận đạt chuẩn văn hoá. Đây là những mô hình văn hoá mới, đáp ứng yêu cầu của nhân dân, là cơ sở để tiếp tục đẩy mạnh phong trào xây dựng nền văn hoá mới, con người mới XHCN.

3-Cà Mau vững bước đi lên theo định hướng XHCN:

Những thành quả đạt được trên các lĩnh vực kinh tế –văn hoá -xã hội – an ninh quốc phòng của nhân dân Cà Mau sau khi tách tỉnh (01/01/1997) đến nay là hết sức to lớn, hết sức quan trọng. Những kết quả ấy là nền móng, là cơ sở để Cà Mau vững bước tiến lên theo định hướng XHCN trong công cuộc đổi mới toàn diện do Đảng cộng sản Việt Nam  khởi xướng, tổ chức và lãnh đạo, vì mục tiêu “dân giàu –nước mạnh- xã hội công bằng – dân chủ – văn minh”.

Dự thảo báo cáo chính trị của BCH tỉnh Đảng bộ nhiệm kỳ XI trình Đại hội đại biểu tỉnh Đảng bộ lần thứ XII đã xác định phương hướng, nhiệm vụ tổng quát đến năm 2005 như sau:

“Kiên định mục tiêu đi lên CNXH, giữ vững ổn định chính trị, xã hội, phát huy sức mạnh toàn dân, ra sức khai thác tốt tiềm năng, lợi thế tài nguyên... để tăng trưởng kinh tế với nhịp độ cao, chất lượng, hiệu quả, tăng cường xây dựng kết cấu hạ tầng, tạo sự chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá; xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp theo định hướng XHCN; tăng trưởng kinh tế gắn liền với nâng cao đời sống vật chất, văn hoá của nhân dân; bảo vệ vững chắc quốc phòng an ninh. Nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng bộ và sự điều hành của bộ máy Nhà nước các cấp... Góp phần cùng cả nước thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ, mục tiêu do Đại hội IX của Đảng đề ra” (Báo cáo chính trị... tháng 7/2000; trang 27).

Chỉ tiêu phấn đấu cần phải đạt được là:

-Nhịp độ tăng tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) bình quân hàng năm khoảng 16,5%. Đến năm 2005 GDP bình quân đầu người 700 USD.

-Giá trị xuất khẩu công nghiệp bình quân hàng năm 3,2%.

-Sản lượng lương thực 1.000.000 tấn. Đàn heo 350.000 con. Diện tích rừng 130.000 ha. Tỷ lệ hộ nghèo dưới 6%. 50% số xã, phường, thị trấn đạt chuẩn văn hoá và còn nhiều chỉ tiêu văn hoá - giáo dục –y tế... quan trọng khác cần phải đạt được.

Phát huy những thành tích đã đạt được trong những năm đến và bài học kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn hoạt động của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân Cà Mau đoàn kết một lòng, quyết tâm vượt qua mọi khó khăn, thử thách, từng bước xây dựng tỉnh Cà Mau giàu mạnh, xứng đáng với truyền thống của quê hương Đất mũi anh hùng.

Câu hỏi:

1- Yêu cầu của việc tái lập tỉnh Cà Mau là gì ? Việc tái lập đó có ý nghĩa như thế nào ?

2- Nêu những thành quả nổi bật về tất cả các mặt chính trị –kinh tế –văn hoá - xã hội của Cà Mau sa ba năm tách tỉnh. Những kết quả ấy có ý nghĩa như thế nào đối với sự nghiệp xây dựng CNXH, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của đất nước của nhân dân Cà Mau ?

3- Nêu những định hướng lớn để Cà Mau vững bước đi lên CNXH ?

 

 

 

DANH SÁCH

CÁC ĐƠN VỊ ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

--------

 

 

01- Lực lượng vũ trang nhân dân tỉnh Cà Mau;

02- Tiểu đoàn U Minh II tỉnh Cà Mau;

03- Xưởng quân giới tỉnh Cà Mau;

04- Đội biệt động Hồ Thị Kỷ thị xã Cà Mau, tỉnh Cà Mau;

05- Đồn biên phòng 692 Bộ đội Biên phòng tỉnh Cà Mau;

06- Nhân dân và Lực lượng vũ trang nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau;

07- Nhân dân và Lực lượng vũ trang nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau;

08- Nhân dân và Lực lượng vũ trang nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau;

09- Nhân dân và Lực lượng vũ trang nhân dân huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau;

10- Lực lượng vũ trang huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau;

11- Dân quân du kích xã Phú Mỹ, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau;

12- Dân quân du kích xã Tân Thành,Thị xã Cà Mau, tỉnh Cà Mau;

13- Dân quân du kích xã Khánh Lâm, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau;

14- Dân quân du kích xã Trần Phán, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau;

15- Dân quân du kích xã Lương Thế Trân, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau;

16- Nhân dân và Lực lượng vũ trang nhân dân xã Tân Ân, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau;

17- Nhân dân và Lực lượng vũ trang nhân dân xã Hưng Mỹ, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau;

18- Nhân dân và Lực lượng vũ trang nhân dân xã Biển Bạch, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau;

19- Nhân dân và Lực lượng vũ trang nhân dân xã Tạ An Khương, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau;

20- Nhân dân và Lực lượng vũ trang nhân dân xã Tân Tiến, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau;

21- Nhân dân và Lực lượng vũ trang nhân dân xã An Xuyên,Thị xã Cà Mau, tỉnh Cà Mau;

22- Nhân dân và Lực lượng vũ trang nhân dân xã Tân Lộc, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau;

23- Nhân dân và Lực lượng vũ trang nhân dân xã Hàm Rồng, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau;

24- Nhân dân và Lực lượng vũ trang nhân dân xã Tan Hưng Tây, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau;

25- Nhân dân và Lực lượng vũ trang nhân dân xã Phong Lạc, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau;

26- Nhân dân và Lực lượng vũ trang nhân dân xã Nguyễn Phích, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau;

27- Nhân dân và Lực lượng vũ trang nhân dân xã Tân Duyệt, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau;

28- Nhân dân và Lực lượng vũ trang nhân dân xã Khánh Bình Tây, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau;

29- Nhân dân và Lực lượng vũ trang nhân dân xã Khánh An, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau;

30- Nhân dân và Lực lượng vũ trang nhân dân xã Hồ Thị Kỷ, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau;

31- Nhân dân và Lực lượng vũ trang nhân dân xã Quách Văn Phẩm, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau;

32- Nhân dân và Lực lượng vũ trang nhân dân xã Trí Phải, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau;

33- Nhân dân và Lực lượng vũ trang nhân dân xã Tân Hưng Đông, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau;

34- Nhân dân và Lực lượng vũ trang nhân dân xã Trần Hợi, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau;

35- Nhân dân và Lực lượng vũ trang nhân dân xã Tam Giang, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau;

36- Nhân dân và Lực lượng vũ trang nhân dân Thành Phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau;

37- Lực lượng giao bưu- thông tin liên lạc Cà Mau (Bưu điện Cà Mau );

38- Nhân dân và Lực lượng vũ trang nhân dân xã Hoà Thành, Thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau;

39- Nhân dân và Lực lượng vũ trang nhân dân xã Khánh Bình Đông, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau;

40- Nhân dân và Lực lượng vũ trang nhân dân xã Thanh Tùng, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau;

41- Nhân dân và Lực lượng vũ trang nhân dân xã Tân Thuận, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau;

42- Nhân dân và Lực lượng vũ trang nhân dân xãViên An, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau.

 

 

DANH SÁCH

ANH  HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

 

 

01- Liệt sĩ Nguyễn Việt Khái - xã Tân Hưng Tây, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau;

02- Liệt sĩ Lý Ngọc Báo (Lý Văn Lâm), Phường 4, Thị xã Cà Mau, tỉnh Cà Mau;

03- Liệt sĩ Huỳnh Phi Hùng - xã Khánh Bình Tây, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau;

04- Liệt sĩ  Hồ Thị Kỷ - xã Tân Hợi, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau;

05- Liệt sĩ Lê Công Nhân - xã Thới Bình, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau;

06- Liệt sĩ Lê Hoàng Thá - xã Biển Bạch, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau;

07- Đồng chí Bông Văn Dĩa - xã Tân Ân, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau;

08- Đồng chí Nguyễn Trung Thành, Phường 4, Thị xã Cà Mau, tỉnh Cà Mau;

09- Đồng chí Trần Văn Phú - xã Tân Thuận, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau;

10- Đồng chí Nguyễn Thị Nho – xã Trần Hợi, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau;

11- Đồng chí Phạm Thị Đẹt - xã Tân Thuận, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau;

12- Đồng chí Phạm Thị Bay - xã Hưng Mỹ, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau;

13- Đồng chí Đặng Tấn Triệu - xã Phú Mỹ, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau;

14- Đồng chí Dương Văn Thà - xã Trần Hợi, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau;

15- Đồng chí Trần Văn Ngô - xã Nguyễn Viết Khái, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau;

16- Đồng chí Nguyễn Văn Tiết – xã Hưng Mỹ, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau;

17- Đồng chí Hồ Trung Thành - xã Phú Mỹ, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau;

18- Đồng chí Trương Thị Mỹ - xã Đông Thới, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau;

19- Liệt sĩ Danh Thị Tươi, xã Khánh Bình Đông, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau;

20- Liệt sĩ Dương Thị Cẩm Vân, xã Quách Văn Phẩm, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau;

 

*******

 

 

CUỘC ĐỜI HOẠT ĐỘNG CỦA MỘT SỐ ANH HÙNG LIỆT SĨ CÁCH MẠNG Ở CÀ MAU

 

 

Nhân dân Cà Mau đã sản sinh nhiều anh hùng, chiến sĩ cách mạng, nhiều người đã anh dũng hy sinh cho dân tộc, cho Đảng. Chúng tôi xin giới thiệu một số người tiêu biểu cho mỗi thời đại.

 

 

LÂM THÀNH MẬU

(1898 – 1942)

Một trong những Đảng viên tiên

 phong của Đảng bộ Minh Hải

 

Lâm Thành Mậu, mà những người thân quen thời ấy thường gọi với cái tên trìu mến là Bảy Mậu. Trong những năm đầu cách mạng, (1928 – 1930) với bí danh là ái Việt; đến thới kỳ Đông Dương Đại hội (1936 – 1939), đồng chí hoạt động với cái tên là Bình Dân để trách mọi chú ý của kè thù.

Lâm Thành Mậu sinh ngày 17/8/1898, giữa lúc thực dân Pháp dùng sức mạnh súng đạn và bộ máy cai trị tàn bạo để đè đầu cưỡi cổ nhân dân ta; nhiều cuộc đấu tranh quật khởi do các sĩ phu yêu nước lãnh đạo đã chìm vào bể máu. Cuộc sống đói nghèo lầm than cơ cực là nỗi ám ảnh triền miên đối với những người dân hiền lành ở địa phương... đồng chí Lâm Thành Mậu là một trong những Đảng viên đầu tiên ở chi bộ thị trấn Cà Mau, và là chi bộ được thành lập sớm nhất lúc bấy giờ ở Minh Hải (tháng 11/1930). Đồng chí luôn gương mẫu về mọi mặt trong công tác, cũng như trong sinh hoạt đời thường, nghiêm chỉnh chấp hành mọi chủ trương của Đảng, quan hệ mật thiết với quần chúng, kiên quyết đấu tranh không mệt mỏi chống kẻ thù xâm lược, bọn phong kiến và bọn tay sai đến khi bị địch bắt, tù đày và hy sinh tại nhà lao Côn Đảo.

Thân sinh của đồng chí Bảy Mậu là ông Lâm Mẫn Huệ, người rất am hiểu chữ nho, làm thầy thuốc Đông y. Ông là nhà yêu nước được nhân dân địa phương kính trọng và tín nhiệm bầu ông làm Hội đồng Quản trị hạt tỉnh Bạc Liêu.

Lúc còn nhỏ, đồng chí Lâm Thành Mậu được theo học lớp 4 trường tiểu học, nhưng vì nhà nghèo nên không tiếp tục theo học nữa, đồng chí về nhà giúp cha làm thuốc Đông y. Trong lúc này, đồng chí thường nghe cha cùng với một số sĩ phu bàn bạc về quốc sự, nhắc đến những chiến công hiển hách của Hoàng Hoa Thám, Phan Đình Phùng, Trương Công Định, Nguyễn Trung Trực... hoặc đề cập đến hai anh em Đỗ Thừa Luông, Đỗ Thừa Tự lập căn cứ ở U Minh chống Pháp. Tuy còn ở tuổi thiếu niên, nhưng với trí thông minh sẳn có, đồng chí dần dần hiểu được đế quốc Pháp là kẻ cướp nước và bọn quan làng, mật thám làm tai sai cho quân bán nước, trực tiếp đàn áp, bóc lột nhân dân, vì thế đồng bào ta bị bần cùng khổ nhục.

Trong những năm 1920 – 1925, các phong trào yêu nước của các cụ Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Nguyễn An Ninh lan rộng đến Cà Mau và khắp nơi trong tỉnh. Đồng chí Lâm Thành Mậu với tấm lòng tràn đầy nhiệt huyết của tuổi thanh niên, đã cùng một số bạn bè đồng chí hướng, hăng hái tham gia vào các phong trào yêu nước. Với tinh thần tích cực, hăng say và lòng dũng cảm, đồng chí hoạt động khắp mọi vùng, từ thị trấn Cà Mau đến các xã Tân Thành, An Trạch, Thạnh Phú, Tân Hưng...

Đến năm 1927 – 1928, đồng chí Lâm Thành Mậu bắt đầu tiếp thu tư tưởng mới, tư tưởng Mác-LêNin, thông qua các sách báo bí mật như báo Việt Nam Hồn, Người cùng khổ, Bản án chế độ thực dân...

Tháng 01/1928 đồng chí cùng với các anh Nguyễn Văn Chánh (Tư Rạch), Đặng Văn Ninh (Hai Thanh) và một số anh em khác xin gia nhập vào Thanh niên cách mạng Đồng chí hội và thành lập chi bộ Hội ở thị trấn Cà Mau do cán bộ của đặc khu Hậu Giang tổ chức. Chi bộ có mở nhà bán sách lấy tên là “Hồng Anh Thư quán” và một quán bán cơm cà phê “Tâm Đồng” vừa buôn bán gây quỹ hoạt động, vừa làm nơi hội họp trao đổi ý kiến và nói chuyện thời sự...

Cuối năm 1929, sau khi ba tổ chức cộng sản lần lượt xuất hiện ở Ba kỳ và Đặc ủy Hậu giang ra đời và cử cán bộ xuống Cà Mau tìm hiểu và học tập điều lệ. Đến tháng 01/1930, đồng chí Ba Huân (Ung Văn Khiêm), Bí thư đặc ủy Hậu Giang trực tiếp xuống địa phương làm thủ tục kết nạp bốn đồng chí: Lâm Thành Mậu, Nguyễn Văn Chánh, Tăng Văn Hai và tổ chức cho Phạm Ngọc Cừ vào Đảng. Đồng thời thành lập chi bộ An Nam Cộng Sản thị trấn Cà Mau do đồng chí Lâm Thành Mậu làm Bí thư.

Để chào mừng Đảng Cộng Sản Việt nam ra đời (03/02/1930), đồng chí cùng chi bộ đi rãi truyền đơn, dán biểu ngữ, treo cờ đỏ búa liềm ở những nơi công cộng như chợ, trường học, bến đò trong thị trấn và nhiều nơi trên đường số 4 (Quốc lộ 1A ngày nay)... Thật không thể tưởng nổi, lần đầu tiên nhân dân Cà mau nhìn thấy lá cờ của Đảng đung đưa trên sợi dây thép căng ngang sông Cà Mau (tại bến đò kinh 16). Từ đêm mùng 02 đến trưa ngày 03/02/1930, lá cờ vẫn kiêu hãnh trước mắt đồng bào qua lại. Bọn thống trị vừa hằn học, vừa khiếp sợ cái tài treo cờ của cộng sản.

Nhân kỷ niệm ngày Quốc tế lao động 01/5/1930, ở thị trấn Cà Mau, một lần nữa chi bộ Đảng tổ chức treo băng cờ, khẩu hiệu và rải truyền đơn ở nhiều nơi đông dân cư.

Tháng 8/1936, phong trào Đông Dương Đại Hội đã rầm rộ diễn ra khắp  nơi. Tại thị trấn Cà Mau, chi bộ công khai quyết định cử hai đồng chí Lâm Thành Mậu và Văn Trung Thành, là hai đồng chí có tên tuổi và uy tín trong nhân dân đứng ra vận động các giới và lập ủy ban hành động thị trấn Cà Mau.

Bọn thực dân phản động ở địa phương thật sự hoảng sợ trước một phong trào đang lôi cuốn hàng ngàn quần chúng tham gia. Ngày 15/9/1939 chúng ra lệnh cấm và giải tán các ủy ban hành động, khủng bố bắt giam một số đại biểu của nhân dân.

Đến đầu năm 1941, đồng chí Lâm Thành Mậu bị bọn thống trị theo dõi và bắt được tại ấp Ô Rô, xã An Xuyên. Sau một thời gian bị địch giam cầm và tra tấn dã man, nhưng đồng chí vẫn giữ vững khí tiết của người Đảng viên Cộng sản. Chúng bảo “Nếu ông thôi không hoạt động cho cộng sản nữa thì mỗi tháng chúng tôi cho ông 1.200 đồng, ở không mà tha hồ ăn sung, mặc sướng...”. Chẳng những đồng chí không nhận lời mà còn chửi thẳng vào mặt bọn chúng: “Bọn cướp nước và bán nước, các người đừng dùng tiền mà mua được ai. Tao làm cách mạng không phải để dể khai báo cho các người đặng hưởng sung sướng cho riêng tao, mà nhằm tống cổ bọn đế quốc Pháp xâm lược và bè lũ bán nước, hại dân như các người, đem lại độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc cho tất cả đồng bào bị áp bức, bóc lột nghèo khổ... Tao thà chết vinh còn hơn sống nhục...”.

Sau đó bọn thống trị thực dân đã kết án đồng chí 15 năm tù và đày ra Côn Đảo. Nhưng, vì bị tra tấn thương tật rất nặng nề cộng với chế độ nhà tù đế quốc vô cùng khắc nghiệt, đồng chí Lâm Thành Mậu đã hy sinh trong vòng tay thân thương của đồng chí, đồng đội tại nhà lao Côn Đảo vào tháng 7/1942.

Đồng chí Lâm Thành Mậu hy sinh, đã để lại cho gia đình, đồng chí và đồng bào thị trấn Cà Mau niềm yêu mến, tiếc thương vô hạn. Là một tấm gương sáng về đạo đức, phẩm chất cách mạng, tuyệt đối trung thành với Đảng, với lý tưởng cộng sản, không ngại hy sinh, gian khổ, suốt đời không ngừng hoạt động vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân. Tấm gương trong sáng ấy, đáng cho cán bộ Đảng viên hôm nay và mai sau học tập. Chính vì vậy mà sau ngày Miền Nam hoàn toàn giải phóng tên của đồng chí đã được chọn điểm đặt cho con đường đi ngay qua nhà của đồng chí trước đây: Đường Lâm Thành Mậu phường 4 thị xã Cà Mau.

 

 

PHẠM HỒNG THÁM

(1902 – 1978)

Người có công lao lớn trong việc khôi phục và

phát triển phong trào cách mạng ở địa phương.

 

Đồng chí Phạm Hồng Thám, có Bí danh là Phạm Thái, Đông Phương, Thanh Phong, Hai Phước trong năm 1929- 1954. Trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước, anh em thường gọi là Hai Côn - Đuôi , sinh ngày 06/2/1902 ở Thuận Vi, nay là xã Bách Thuận, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình, nơi có phong trào cách mạng sớm.

Vì gia đình nghèo không có ruộng đất canh tác, cũng không có việc làm nên năm 17 tuổi đồng chí xin cha mẹ cho theo người chú ra vùng Cẩm Phả để xin làm phu mỏ kiếm tiền sinh sống. ở đây, đồng chí bị bọn chủ mỏ bắt làm những việc nặng nhọc, vất vả, mỗi ngày 10 tiếng đồng hồ. Không thể chịu đựng được cảnh đời khổ nhục ấy, đồng chí đã nhiều lần đấu tranh chống lại nên bị bọn chủ mỏ là tư sản Pháp đuổi không cho làm nữa.

Tháng 8/1920, đồng chí Thám xin vào lính mộ. Đến đầu năm 1921,Thực dân Pháp đưa hàng ngàn lính Việt Nam sang Đại Pháp để chiến đấu, trong đó có đồng chí Thám.

Trong thời gian ở Paris, đồng chí nhận thấy rõ bộ mặt xấu xa của xã hội tư sản Pháp, thực tế trái ngược với sự tuyên truyền dối trá của chúng về “Bình đẳng, bác ái”, về sự giàu đẹp của nước Pháp... Từ đó đồng chí càng ý thức sâu sắc bản chất của tư sản và những thủ đoạn áp bức, bóc lột hết sức dã man, tàn bạo của đế quốc thực dân đối với các dân tộc thuộc địa, qua đó đã đánh thức trong đồng chí lòng yêu nước, thương nòi; căm ghét bọn thực dân cướp nước và bè lũ tay sai bán nước.

Năm 1925, đồng chí cùng các lính tập được đưa về nước. Trở lại quê nhà, đồng chí ngày càng chứng kiến thêm biết bao cảnh tượng mà nhân dân ta phải còng lưng gánh chịu do bọn thực dân, phong kiến gây ra. Đối với bọn sĩ quan Pháp thường hay khinh rẻ, hiếp đáp binh sĩ người Việt, đồng chí rất căm thù và thường vận động anh em chống lại. Có lần đồng chí đánh nhau với tên sĩ quan huấn luyện Pháp vì hắn lên mặt hống hách và đàn áp anh em, đồng chí bị chúng bắt lột lon (cấp hiệu) và phạt ngồi tù, sau ít ngày bọn chúng đưa đồng chí về đơn vị lính tập ở thị xã Bắc Ninh.

Năm 1926, được biết đồng chí Thám là một binh sĩ có tinh thần đấu tranh chống bọn sĩ quan Pháp, Chi bộ Việt Nam Thanh niện cách mạng đồng chí Hội ở Bắc Ninh do đồng chí Ngô Gia Tự làm bí thư liền cử cán bộ đến tìm hiểu nguyện vọng, đồng thời tuyên truyền, giác ngộ cách mạng cho đồng chí. Qua gần một năm được chăm bồi và thử thách, ngày 01/5/1927 đồng chí cùng vài đồng nghiệp tích cực được tổ chức kết nạp vào Thanh niên cách mạng đồng chí Hội, và thành lập chi bộ ngay trong đơn vị lính tập do đồng chí Thám làm bí thư.

Đến năm 1930, do tên Kim Tôn phản bội, chỉ điểm, đồng chí bị mật thám bắt giam ở nhà tù Hoả Lò (Hà Nội). Sau đó kết án 20 năm tù và đày ra Côn Đảo. Đêm 30/4/1935, đồng chí cùng các đồng chí Tạ Uyên, Tống Văn Trân, Nguyễn Hữu Tiến, Võ Công Phụ, Nguyễn Văn Trọng... tất cả gồm 9 người lần thứ tư đã vượt trùng dương trót lọt và đã cập bến thuộc vùng Bạc Liêu –Vĩnh Châu một cách an toàn. Từ đây các đồng chí chia tay nhau mỗi tốp đi về một hướng. Đồng chí Thám xuôi về vùng Năm Căn, còn các tốp kia toả về miệt Vĩnh Long, Châu Đốc, Cần Thơ...

Ở Năm Căn, đồng chí Phạm Hồng Thám tìm hiểu và gia nhập vào số bà con làm nghề rừng nơi đây, hàng ngày đi đốn củi về bán cho bọn chủ lò để hầm than. Khi có tiền đồng chí nhờ người thân quen tìm mua giùm được một giấy thuế thân mang tên là Lê Đông Phương, và từ ấy tên đồng chí là Lê Đông Phương để được hợp pháp hoá, tránh mọi nghi ngờ của bọn tai mắt địch. Đến tháng 8/1935, đồng chí cùng hai anh Nguyễn Văn Hoàng và Nguyễn Thông đến ấp Rạch Gốc, xã Tân Ân để gây dựng cơ sở cách mạng, tổ chức các đoàn thể trong ngư dân ở làng cá. Sau đó, đồng chí chuyển dần sang các xã Tân Hưng Tây, Thới Bình, Tân Phú, Chợ Hội... Nơi nào đồng chí đã đến là nơi đó có phong trào quần chúng đấu tranh chống áp bức, bóc lột của bọn thực dân, địa chủ, quan làng. Và qua đó mà chọn lọc, đào tạo những quần chúng giác ngộ tiến lên để thành lập chi bộ đảng, làm hạt nhân lãnh đạo phong trào ở địa phương. Đồng chí thám có biết ít nhiều nghề thuốc Đông y, nên trên đường hoạt động thường mang bên mình một va li bằng mây đựng các loại thuốc, vừa tạo thế hợp pháp hoá che mắt bọn mật thám theo dõi, vừa xem mạch cho thuốc giúp đồng bào nghèo ốm đau không tiền mua thuốc điều trị. Vì vậy mọi người thường gọi đồng chí là thầy Hai Phước một cách mến yêu và quý trọng.

Tại thị trấn Cà Mau, đồng chí Thám cùng với các đồng chí Bảy Mậu, Chiến Trưởng, Tiến Cụt, Tư Chơi, Ba Trực, Giáo Hiển... đã khôi phục và phát triển cơ sở Đảng, các tổ chức quần chúng và đưa phong trào ở đây ngày một lên mạnh.

Để lãnh đạo thống nhất phong trào cách mạng trong quận, sau khi được sự đồng ý của cấp trên, đồng chí Thám đã đứng ra triệu tập Đại hội đại biểu quận Đảng bộ lần đầu vào ngày 5/7/1937, tại nhà đồng chí Lâm Thành Mậu. Về dự có đồng chí Tạ Uyên và Phan Văn Bảy đại diện cho Tỉnh ủy Hậu giang cùng 20 đại biểu của 12 chi bộ trong toàn quận, để thành lập Quận ủy Cà Mau và cũng là quận ủy đầu tiên của tỉnh Bạc Liêu từ khi Đảng ra đời (năm 1930). Tại hội nghị này đồng chí Phạm Hồng Thám được bầu làm bí thư quận ủy. Sự kiện này không những đáp ứng đòi hỏi của phong trào cách mạng của riêng quận Cà Mau mà còn có ý nghĩa quan trọng đối với phong trào chung trong toàn tỉnh.

Cuối tháng 7/1937, đồng chí Phạm Hồng Thám được Xứ ủy Nam Kỳ chỉ định vào Liên Tỉnh ủy Hậu Giang, phụ trách 3 tỉnh Bạc Liêu, Rạch Giá, Sóc Trăng.

Năm 1951, vì lý do sức khoẻ, đồng chí được ủy ban kháng chiến hành chánh Nam Bộ bổ nhiệm làm phó giám đốc Sở Lao động –thương binh Nam Bộ; đến năm 1953, làm giám đốc Sở kho thóc Nam Bộ cho đến khi Hiệp định Giơ ne vơ được ký kết năm 1954.

Sau Hiệp định đình chiến, đồng chí được tổ chức Đảng phân công bảo vệ đồng chí Lê Duẩn, người lãnh đạo tối cao còn lại ở Miền Nam. Đến đầu năm 1959, đồng chí được Tỉnh ủy Bạc Liêu phân công về làm  cố vấn tiểu đoàn Ngô Văn Sở, là đơn vị bảo vệ căn cứ trực thuộc Tỉnh ủy. Năm 1964, vì tuổi cao sức yếu, đồng chí  được Khu ủy Miền Tây Nam Bộ rút về công tác ở Ban tổ chức Khu.

Cuối năm 1971, Trung ương Cục Miền Nam cho đồng chí và vợ ra Miền Bắc điều trị bệnh, hết trị ở bệnh viện trong nước lại ra nước ngoài, nhưng bệnh tình vẫn không khỏi. Mãi đến năm 1978, sau giải phẩu cắt túi mật tại Bệnh viện Việt – Xô, đồng chí Thám đã từ trần vào ngày 5/8/1978, thọ 76 tuổi.

Đồng chí Phạm Hồng Thám là một trong những đảng viên kỳ cựu, người có nhiều công lao cống hiến to lớn trong công cuộc khôi phục, xây dựng, phát triển tổ cức Đảng và phong trào cách mạng ở nhiều tỉnh Nam Bộ, đặc biệt là ở tỉnh Bạc Liêu (Cà Mau) trong những năm 1935 – 1945 và trong suốt thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Đồng chí đã để lại cho đồng bào, đồng chí chúng ta tình thương yêu sâu sắc, luôn là tấm gương sáng ngời về phẩm chất cách mạng cao quý của người chiến sĩ cộng sản, suốt đời vì lợi ích của Đảng, của dân tộc. Để ghi nhớ công lao của đồng chí, tên của đồng chí Phạm Hồng Thám được đặt tên một con đường quan trọng ở Thị xã Cà Mau: Đường Phạm Hồng Thám – Phường 4, Thị xã Cà Mau, nơi có nhiều cơ sở cách mạng trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp và Mỹ.

 

 

TRẦN VĂN THỜI

(1902 – 1942)

Bí thư Tỉnh ủy năm 1940, người giữ vai trò quyết định

trong khởi nghĩa Nam Kỳ ở Cà Mau – Bạc Liêu.

 

Hơn nửa thế kỷ đã đi qua, nhưng đối với đồng bào, đồng chí ở Bạc Liêu vẫn không sao quên được công lao to lớn của đồng chí Trần Văn Thời trong những năm sôi động cách mạng, và cũng là những năm địch ra sức đàn áp khốc liệt phong trào giải phóng dân tộc ở quê hương. Sống vì Đảng, vì dân, đồng chí hết lòng đấu tranh vì sự nghiệp chung cho cách mạng; luôn trầm tĩnh nhưng linh hoạt, có tính quyết đoán cao, thể hiện bản lĩnh trong lãnh đạo... nhất là trong cuộc khởi nghĩa Hòn Khoai năm 1940 của tỉnh nhà.

Song thân của đồng chí là Ông Trần Văn Tám và Bà Ngô Thị Hưỡn, một gia đình trung nông có nề nếp, lại có chút ít thân thế trong xã hội lúc bấy giờ; nhưng là một nhà có tinh thần yêu nước, thương dân rất sâu đậm. Trong thời kỳ hoạt động bí mật, gia đình không còn ruộng đất như xưa, nhưng hai ông bà rất tích cực nuôi dưỡng, bảo vệ cán bộ Đảng; thường xuyên giáo dục và khuyến khích con cháu tham gia hoạt động cách mạng. Chính vì vậy mà sau khi khởi nghĩa Nam Kỳ thất bại, bọn cầm quyền phản động ở địa phương ra lệnh cho tay sai đốt nhà và tìm bắt gia đình ông. Nhưng ông đã trốn thoát để cùng với các chiến sĩ còn lại vào rừng U Minh lập căn cứ, sản xuất vũ khí tiếp tục chống thực dân Pháp và bè lũ tay sai.

Đồng chí Trần Văn Thời có vợ, hai con nhưng đều chết trước và sau cách mạng tháng tám năm 1945. Nhà đồng chí tại Lung Lá Nhà thể, thuộc ấp Rạch muỗi, xã Tân Hưng. Từ những năm 1936 – 1040 và cả hai thời kỳ chống Pháp và chống Mỹ, nơi đây là địa điểm  quan trọng mà các cấp lãnh đạo từ quận ủy đến tỉnh ủy thường lấy làm nơi hội họp, huấn luyện cán bộ, đảng viên. Và cũng chính tại khu vườn của đồng chí, tháng 11/1940 Tỉnh ủy Bạc Liêu quyết định cuộc khởi nghĩa trong tỉnh mà đồng chí Trần Văn Thời là người trực tiếp chỉ đạo.

Trần Văn Thời là con thứ ba trong gia đình mười anh em, nên đồng chí còn có tên là Ba Thời; sinh năm 1902 tại ấp Giao Vàm, xã Phong Lạc, quận Cà Mau, tỉnh Bạc Liêu. Lúc nhỏ đồng chí không có điều kiện để học. Tuy vậy, đồng chí có tinh thần hiếu học lại siêng năng. Những đêm rảnh rỗi đồng chí tranh thủ nhờ bà con trong xóm chỉ dạy đến biết đọc và biết viết thành thạo chữ quốc ngữ. Là một thanh niên khoẻ mạnh, biết võ dân tộc, với lòng vị tha, cho nên đối với láng giềng chòm xóm, đồng chí là người bạn tốt, đoàn kết thân ái và luôn chân thành giúp đỡ không ngại khó khăn, được mọi người thương yêu tin cậy.

Sinh ra và lớn lên trong chế độ thực dân phong kiến, tháng 7/1937, đồng chí được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông dương và sinh hoạt trong Chi bộ xã Phong Lạc, sau đó được quận ủy Cà Mau  chuyển về hoạt động ở xã Tân Hưng – Lung Lá Nhà Thể, quê nhà của đồng chí. Dù ở đâu, hoạt động dưới cương vị nào, đồng chí cũng tỏ ra hăng hái, nhiệt tình làm tròn nhiệm vụ, gần gũi quần chúng. Tháng 5/1940, trong cuộc hội nghị đại biểu của Đảng bộ tỉnh Bạc Liêu do Xứ ủy Nam Kỳ triệu tập tại khu rừng thuộc xã Tân Hưng Tây, trong cuộc hội nghị này đồng chí Trần Văn Thời được cử làm Bí thư.

Với cương vị lãnh đạo cao nhất của tỉnh, đồng chí Thời cùng Ban thường vụ khẩn trương xuống các quận, xã trực tiếp chỉ đạo việc chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa. Trong hoàn cảnh hoạt động khó khăn nguy hiểm, bọn mật thám, tay sai của Pháp biết đồng chí là một cán bộ lãnh đạo quan trọng cuả Đảng bộ địa phương, nên chúng ráo riết cho truy lùng tìm bắt.

Vào năm 1940, cuộc khởi nghĩa ở tỉnh Bạc Liêu cũng như các tỉnh khác ở Nam Kỳ tuy bị địch đàn áp, nhưng  dưới sự chỉ đạo của Tỉnh ủy – mà trực tiếp là đồng chí Trần Văn Thời đã phát huy được truyền thống quật cường, anh dũng của các tầng lớp nhân dân trong tỉnh, đồng thời gây ngọn lửa cách mạng trong tâm hồn người dân địa phương. Song, vì tình hình đất nước chưa có gì chuyển biến có lợi cho ta, nên cuối tháng 3/1941, theo quyết định của Liên Tỉnh uỷ, căn cứ du kích rừng U Minh tạm thời giải tán để đưa lực lượng cán bộ, đảng viên và các chiến sĩ du kích trở về từng địa phương nhằm bám sát quần chúng. Đồng chí  Trần Văn Thời được cấp trên điều động về phụ trách tỉnh Châu đốc.

Sau ngày 01/5/1941, do tên Tư Trà (ủy viên Liên tỉnh ủy Hậu Giang, tỉnh ủy Long xuyên) chỉ điểm, giữa đêm khuya bọn mật thám Pháp bao vây nhà bắt đồng chí cùng nhiều đồng chí khác đưa về thị xã Sa Đéc. Mặc dầu bị địch tra tấn vô cùng dã man, tàn bạo nhưng đồng chí vẫn chịu đựng không khất phục, không khai báo điều gì, kể cả tên thật, quê quán của mình. Sau đó Toà án thực dân Pháp xử đồng chí 10 năm cấm cố, 15 năm lưu đày biệt xứ và đưa ra Côn Đảo. Vì bị địch tra tấn vô cùng tàn bạo cộng với chế độ nhà tù thực dân vô cùng khắc nghiệt, nên ngày 05/5/1942, đồng chí Trần Văn Thời đã trút hơi thở sau cùng tại nhà tù Côn Đảo.

Đồng chí Trần Văn Thời hy sinh là một tổn thất lớn của Đảng bộ và quân dân Bạc Liêu. Để ghi nhớ công lao của đồng chí, một chiến sĩ cộng sản kiên cường và dũng cảm, một cán bộ lãnh đạo xuất sắc của Đảng bộ, năm 1948 Tỉnh ủy và Ủy ban kháng chiến hành chánh tỉnh Bạc Liêu đã lấy tên đồng chí đặt cho một quận mới ở U Minh là quận Trần Văn Thời. Và từ đó tên tuổi của đồng chí đã trở thành tên đất, tên quê hương và sống mãi vơi nhân dân miền đất thân thương cuối cực nam của Tổ quốc.

 

 

PHAN NGỌC HIỂN

(1910 – 1941)

Người thầy giáo, người chiến sĩ văn hoá,

người chiến sĩ cách mạng kiên cường

 

Cách đất mũi  cuối cùng cực nam của Tổ quốc chừng 10 hải lý về phía Đông Nam, một đảo nhỏ với cái tên rất bình thường, giản dị “Hòn Khoai”, nơi đây tiếp nối ngọn lửa Nam Kỳ khởi nghĩa bùng cháy (năm 1940), và cũng từ Hòn Khoai thân yêu này vẫn vang mãi lời ca chiến công của người anh hùng liệt sỹ Phan Ngọc Hiển. Từ đó cuộc đời cách mạng và cuộc sống của anh đi vào trang sử vàng của Cà Mau.

Sau cách mạng tháng tám thành công, một phần đất yêu thương nơi anh sống và hoạt động vinh dự được mang tên anh: Huyện Ngọc Hiển .

Đồng chí Phan Ngọc Hiển, sinh năm 1910 trong một gia đình nghèo ở Thới Bình (ngày xưa là xã Thới Bình), Thành phố Cần Thơ. Song thân của anh là cụ Phan Văn Vinh và Bà Trương Thị Cư là thành phần lao động nghèo thành thị. Thuở nhỏ anh được chị đưa vào học ở trường làng, anh học rất cần cù và thông minh nên người cậu có nhận xét về anh lúc nhỏ: Thằng này (tức là Hiển) ắt sau này làm nên sự nghiệp hiển hách. Lớn lên anh vào trường trung học sư phạm ở Sài Gòn 3 năm.

Tại trường sư phạm Sài Gòn, anh tham gia phong trào đấu tranh của học sinh, sinh viên và cùng đồng bào ở Sài Gòn đưa đám tang cụ Phan Chu Trinh. Đây là một hình ảnh tiếp nối cho anh suy nghĩ về sự yêu nước.

Cuối mùa hè năm 1931, khi ra trường anh bị đẩy xuống vùng đất xa xôi Rạch gốc Cà Mau. Nơi đây đúng là thật gian khổ: muỗi mòng, nước mặn, đất bùn lầy, dân cư thưa thớt... Nhưng người thanh niên 21 tuổi đã đến với bà con chòm xóm nơi đây với một tấm lòng chân thật.

Đối với học sinh, anh thể hiện rõ vừa là người thầy vừa là người anh rất thân thiết với các em. Những ngày hoạt động ở Rạch Gốc, “Anh rất thích tổ chức những trận bóng đá giao hữu, tạo điều kiện giao lưu văn hóa giữa vùng này với vùng khác. Thỉnh thoảng anh làm thơ, viết bài cho báo, hoặc khi nhận được những tờ báo tiến bộ, anh mang đi đọc cho dân nghe, giải thích cho dân rõ.

Cuối năm 1935, anh làm phóng viên cho tuần báo “Tân Tiến” của Hồ Văn Sao ở thị xã Sa Đéc. Lúc này anh hoạt động rộng rãi, đưa nhiều tin đấu tranh của quần chúng trên tờ báo.

Năm 1936, anh trở về hoạt động tại thị trấn Cà Mau. Đến khoảng tháng 03/1936, anh được kết nạp vào Đảng Cộng Sản Việt Nam. Từ đó ý thức hoạt động cách mạng của anh được sâu sắc hơn. Tháng 7/1937, anh được huyện ủy Cà Mau phân công phụ trách cơ quan công khai của Đảng ở thị xã Cà Mau. Anh làm báo, thể hiện rõ bản lĩnh của mình, phản ánh trung thực với thực tế, quan điểm vững vàng trong các cuộc bút chiến với kẻ thù, luôn luôn binh vực quyền lợi cho quần chúng. Đối với người yêu, anh cũng thể hiện lý tưởng cao cả (gắn tình riêng của mình với đất nước), như trong bài thơ của anh viết từ giã người yêu:

“... Anh không thể nào lưu luyến với em mãi

Em yêu anh sao bằng hai mươi lăm triệu đồng bào.

Nếu ngày nào đời anh là đời đau khổ

Một mình em không thể an ủi được lòng

Thôi đi! Em có yêu anh, hãy trông vào Tổ quốc

Có nhớ đến anh hãy ngó lại đồng bào !..”

Năm 1938, đồng chí được Tỉnh ủy xin về. Tháng 6/1940, đồng chí được phân công ra Hòn Khoai. Thời gian ở Hòn Khoai đồng chí làm nhiệm vụ chuẩn bị mọi điều kiện cho khởi nghĩa.

Ngày 13/12/1940, đồng chí cùng cùng đồng đội khởi nghĩa Hòn Khoai giành thắng lợi. Sau đó đồng chí cùng các chiến sĩ khởi nghĩa giương cờ đỏ búa liềm và tấm băng, chạy thẳng về đất liền. Khi đế Rạch Gốc không liên lạc được với tổ chức, đồng chí linh hoạt dẫn đoàn quân khởi nghĩa đi đánh tiếp đồn Kiểm Lâm ở Tam Giang, sau đó đồng chí dẫn đoàn quân khởi nghĩa về giúp đỡ nhân dân Rạch Gốc sơ tán vào rừng để tránh khủng bố của địch.

Đồng chí và đồng đội vào rừng để tránh sự truy lùng của địch, không may sáng 22/12/1940, đồng chí và đồng đội bị bắt tại bãi Khai long.

Chúng đánh đập đồng chí rất tàn nhẫn và đưa đồng chí về giam nhiều nơi ở Cà Mau, Bạc Liêu, Sài Gòn. Những ngày ở tù chúng tra tấn đồng chí rất tàn nhẫn, chết đi sống lại nhiều lần nhưng đồng chí vẫn giữ khí tiết của người cộng sản.

Đầu năm 1941, bọn mật thám đưa đồng chí Phan Ngọc Hiển và đồng đội vào ở chung khám. Nhân dịp gặp được đủ mặt, anh trao đổi với đồng đội rút kinh nghiệm cuộc khởi nghĩa vừa qua và anh động viên đồng đội là: “Chúng ta làm cách mạng vì độc lập cho tổ quốc, tự do cho đồng bào; dù phải hy sinh tánh mạng hay bị đày ra Côn Đảo, hoặc nơi nào khác, chúng ta quyết không sờn lòng, nản chí và luôn tin tưởng thắng lợi cuối cùng thuộc về nhân dân ta”.

Gần sáu tháng giam cầm và tra tấn của bọn thực dân Pháp, tháng 7 năm 1941, chúng đưa Phan Ngọc Hiển và 9 đồng chí tham gia cuộc khởi nghĩa Hòn Khoai ra toà và kết án tử hình. Ngày 12/7/1941 (tức ngày 14 tháng 6 âm lịch), tại Sân vận động thị trấn Cà Mau vào buổi sáng, chúng đưa đồng chí Phan Ngọc Hiển cùng đồng đội ra pháp trường để hành quyết. Hàng ngàn đồng bào đứng vây quanh Sân vận động thấy rất rõ từng đồng chí khởi nghĩa Hòn Khoai. Tuy tay bị còng cứng, nhưng Phan Ngọc Hiển và đồng đội vẫn bình tĩnh, ung dung bước ra pháp trường giữa rừng lê sáng quắc của kẻ thù. Đặc biệt đồng chí Phan Ngọc Hiển xin chúng cho anh nói chuyện với đồng bào thân yêu trước khi vĩnh biệt. Chúng không cho nhưng anh vẫn nói: “...Những người cộng sản coi cái chết rất tầm thường. Chúng tôi sẵn sàng chết để tranh đấu cho đồng bào được ấm no. Nhất định những người kế tục chúng tôi sẽ tiêu diệt thực dân Pháp ! Nhất định Việt Nam sẽ được độc lập ...”

Và anh cùng đồng đội hô vang:

-Đả đảo đế quốc Pháp !

-Việt Nam độc lập muôn năm !

-Đảng cộng sản Việt Nam muôn năm !

Anh và các chiến sĩ khởi nghĩa Hòn Khoai ngã gục trước những loạt đạn trả thù đê hèn của bọn thực dân Pháp và tay sai.

Bà con ra về ai nấy đều khâm phục sự dũng cảm bất khuất của anh và nhớ mãi:

“... Buổi sáng mai hồng trước chợ Cà Mau

Phan Ngọc Hiển đem mặt trời làm trái tim trong ngực

Trái tim mặt trời sáng mãi mai sau.”.

(Trường ca “Hòn Khoai” của nhà thơ Nguyễn Bá).

Để nhớ công lao của đồng chí Phan Ngọc Hiển – nhà giáo, nhà báo, là chiến sĩ cách mạng kiên cường, tỉnh đã lấy tên đồng chí đặt cho một huyện nơi đồng chí hoạt động và lãnh đạo khởi nghĩa – Huyện Ngọc Hiển và đặt tên con đường lớn cửa ngõ của Thị xã Cà Mau - Đại lộ Phan Ngọc Hiển. Đồng thời tên đồng chí cũng được chọn đặt tên cho một trường chuyên tại Cà Mau – Trường PTTH chuyên Phan Ngọc Hiển, trường có nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng nhân tài cho địa phương. Tại huyện Ngọc Hiển trường PTTH cũng được đặt tên là trường PTTH Phan Ngọc Hiển.

Đồng chí Đoàn Thanh Vị- nguyên ủy viên dự khuyết Ban chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Minh Hải đã nói:” Chúng ta không sao quên được người cộng sản kiểu mẫu đầu tiên Phan Ngọc Hiển cùng các liệt sĩ Hòn Khoai đã lấy máu của mình viết lên trang sử oanh liệt chưa bao giờ có trên mảnh đất này”.

Đồng chí Trần Hữu Vịnh –nguyên Phó Bí thư Tỉnh ủy Minh Hải đã nói: “nếu liên hệ lại lẽ sống cuả người cộng sản, thì Phan Ngọc Hiển và đồng đội của anh là tấm gương sáng mà chúng ta và các thế hệ mai sau, mãi mãi học tập và noi theo”.

Đồng chí Nguyễn Thanh Vân –nguyên Phó Bí thư Thị xã ủy Cà Mau  đã nói: “Đồng chí Phan Ngọc Hiển và các chiến sĩ khởi nghĩa Hòn Khoai đã vĩnh biệt chúng ta qua nửa thế kỷ, nhưng những tấm lòng mến thương kính trọng của đồng bào, của Đảng bộ Cà Mau đối với đồng chí không giấy mực nào ghi hết, có chăng chỉ là sự hiểu biết hạn chế của mình. Dù sao đi nữa chúng ta cũng nhận được máu xương, khí phách các đồng chí  đã thấm sâu lòng đất, lòng người !Ngày nay cái gì Cà Mau có được, đó là một phần xương máu, ý chí của các chiến sĩ khởi nghĩa Hòn Khoai tạo nền móng”.

 

 

LÝ VĂN LÂM

(1941 – 1969)

Anh hùng liệt sĩ của

lực lượng võ trang tỉnh Cà Mau

 

“... Bất kỳ lúc nào và trong hoàn cảnh khó khăn nào, đồng chí cũng luôn bám đất, bám dân, dũng cảm, ngoan cường, tích cực tiến công địch, lập nhiều thành tích xuất sắc; được đồng chí, đồng bào yêu thương và tin cậy...”. Đấy là một nhận xét, một đánh giá hết sức khái quát, cô đọng và cũng hết sức sâu sắc đối với tầm vóc và sự cống hiến của người chiến sĩ cách mạng anh hùng Lý Văn Lâm, người con yêu quí của quê hương Cà Mau.

Lý Văn Lâm sinh năm 1941, là con của ông Lý Văn Kiển (Mười Kiển) và bà Nguyễn Thị Tài ở ấp Giồng Kè, xã Lợi An, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau. Là một gia đình nông dân rất nghèo khổ, không có ruộng đất để cày cấy, ngoài việc đi làm tá điền cho bọn địa chủ, còn phải đi làm mướn, làm thuê để sống qua ngày tháng.

Tất cả những cảnh tượng đau thương, tang tóc do Mỹ Diệm gây ra ở quê hương đã nung sôi lòng yêu nước, thương nòi và chí căm thù giặc của người thanh niên tràn đầy nhiệt huyết.

Trong lúc đang nóng lòng trông đợi tìm đến ước mơ, bỗng một đêm khuya vắng lặng anh nghe tiếng loa từ xa văng vẳng về: “... Đồng bào hãy đoàn kết đấu tranh, đánh đuỗi Mỹ Diệm giải phóng quê hương, giải phóng đất nước...” Ô ! Cách mạng đây rồi anh reo lên sung sướng và đinh ninh rằng mình sẽ tìm được cách mạng. Sáng dậy, anh thấy truyền đơn rải trắng ngoài đường. Nhưng ai đã rải truyền đơn ? Làm sao gặp được mấy anh cách mạng ?... Những câu hỏi cứ lởn vởn trong đầu anh, thật khó tìm ra giải đáp.

Một hôm  anh Lâm cùng chị Mẫn đi cấy, bất chợt chị Mẫn hỏi:

-Anh Lâm này anh, có muốn tìm cách mạng không ?

Hết sức ngạc nhiên trước câu hỏi đột ngột của chị, anh không vội trả lời mà hỏi lại một cách ngây ngô:

-Em có phải là cách mạng không ? Và thế là đã rõ, qua trao đổi hai người thật sự hiểu nhau, chia sẽ cho nhau những ý nghĩ thầm kín. Thật, anh vô cùng sung sướng, hân hoan vì tìm gặp được cách mạng, hay nói đúng hơn là cách mạng đã đến với anh như mong ước mà bấy lâu nay anh ấp ủ.

Sau khi được chi Mẫn báo cáo và giới thiệu, tháng 7/1959 anh được tổ chức công nhận là nồng cốt thanh niên hoạt động trong vùng địch hậu, thuộc khu vực I thị xã Cà Mau. Và cũng từ năm ấy, anh trở thành một đồng chí trong hàng ngũ cách mạng, một chiến sĩ ngoan cường và anh dũng của quê hương.

Qua thời gian thử thách, tháng 11/1959, đồng chí Lý Văn Lâm chính thức được công nhận là đội viên đội du kích xã Tân Lợi. Và ngày 20/12/1960, đồng chí được kết nạp vào Đoàn thanh niên cách mạng với niềm vinh dự và tự hào của một thanh niên.

Ngày 15/07/1961, đồng chí Lý Văn Lâm được vinh dự đứng vào hàng ngũ Đảng nhân dân cách mạng và được đề bạt làm Trung đội phó du kích xã Lợi An. Đây là ngày mà đồng chí cho là bước ngoặt của cuộc đời và cũng là ngày vinh quang nhất của một chiến sĩ cách mạng trong suốt quá trình chiến đấu của đồng chí. Tháng 11/1961, vì sơ hở đồng chí bị lựu đạn gài nổ làm mất bàn tay mặt, tay trái cũng bị thương và đôi mắt bị khói thuốc làm mờ đi. Mặc dù tay bị cụt, mắt bị mờ nhưng đồng chí sử dụng vũ khí rất thành thạo và chính xác, mỗi lần đồng chí nổ súng là coi như một tên thù ngã gục. Đặc biệt,  có lần chỉ với một viên đạn đồng chí đã bắn chết hai tên giặc đi càn.

Đồng chí Lý Văn Lâm không những chỉ đánh giỏi, bắn giỏi đối với bọn giặc ở dưới đất, mà giặc “trên trời” anh cũng bắn chính xác không kém, có lần chỉ với 5 viên đạn súng trường bá đỏ đồng chí hạ một máy bay trinh sát L19 của địch, khiến bọn chúng hết sức bàng hoàng, kinh ngạc. Bọn giặc rất sợ đường đạn vô cùng chính xác của đồng chí, mỗi khi chạm mặt nhau chúng ra lệnh cho bọn tay chân: “Nếu ai bắt được “thằng cụt” sẽ được thưởng 40.000đ và một khẩu súng col...”

Tiếng tăm của anh “Hai cụt” cả vùng Cà Mau ai ai cũng biết đến. Đại đội anh hùng chiến sĩ thi đua miền Tây Nam Bộ (ngày 17/9/1967) đồng chí vinh dự được cấp trên cho đi dự Đại hội. Và cũng ngay trong cuộc Đại hội này, đồng chí Lâm được Mặt trận Dân tộc giải phóng cùng bộ chỉ huy các lực lượng võ trang nhân dân  giải phóng Miền Nam tặng danh hiệu anh hùng Quân giải phóng Miền Nam và thưởng: Một Huân chương quân công hạng ba; một huy hiệu anh hùng; một bằng dũng sĩ quyết thắng cấp I; một huy hiệu Bắc – Nam; một khẩu súng K54 và một khẩu K1.

Chiến công nối tiếp chiến công, đồng chí Lý Văn Lâm đã trực tiếp tham gia rất nhiều trận chiến đấu lập nên thành tích vẻ vang. Với khẩu súng trong tay đồng chí đã diệt và làm bị thương hàng trăm tên giặc, bắt sống 4 tù binh, thu nhiều vũ khí, đạn dược cùng nhiều tài liệu quan trọng khác. Ngày 03/9/1969, một lần đồng chí được cấp trên chọn đi dự Đại hội anh hùng chiến sĩ thi đua lần thứ hai ở Tây Nam Bộ. Nhưng trên đường đi vừa đến xã Kháng Bình Đông, bất ngờ lọt vào vòng phục kích của địch, đồng chí cùng với người em trai (Người em trai duy nhất của Lý Văn Lâm) bị chúng vây chặt. Đồng chí bình tĩnh vừa bắn trả quyết liệt, vừa cùng em mở đường máu thoát ra, thà chết chứ nhất định không cho địch bắt được. Địch nhận thấy đối phương có hai người nên chúng cố đuổi theo bắn vãi đạn như mưa. Biết không thể thoát khỏi, đồng chí cùng em trụ lại sánh vai chiến đấu rất kiên cường đến khi cả hai đều ngã xuống trút hơi thở cuối cùng.

Đồng chí Lý Văn Lâm, đứa con thân yêu của quê hương Cà Mau, người anh hùng đã hy sinh anh dũng trên mảnh đất cuối cùng của cực Nam Tổ quốc. Đồng chí tuy không còn nữa là một mất mát lớn lao, đã để lại cho chúng ta một tấm gương chiến đấu sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng cao cả.

Để nhớ công lao to lớn của anh hùng Liệt sĩ Lý Văn Lâm, chính quyền cách mạng và nhân dân Cà Mau  lấy tên đồng chí đặt tên cho con đường từ Thị xã Cà Mau về quê hương đã sinh ra đồng chí và đặt tên cho một xã mới thành lập ven Thị xã Cà Mau – xã Lý Văn Lâm – vùng đất mà suốt 10 năm người chiến sĩ du kích đã chiến đấu không rời tay súng.

 

 

HỒ THỊ KỶ

(1949 – 1970)

Nữ anh hùng liệt sĩ của

lực lượng vũ trang tỉnh Cà Mau.

 

“...Từ trái tim em bừng tiếng nổ

Cuối trời Tổ quốc lửa dâng cao

Từ trái tim em nung thép đỏ

Chảy vào mạch sống vạn đời sau”.

Thật vậy, tiếng mìn của Hồ Thị Kỷ ở đầu thập niên 1970 đã đi vào lịch sử, đã góp phần nâng tầm vóc của người con gái Việt Nam ngang tầm thời đại oai hùng của dân tộc. Làm cho kẻ thù phải một phen khiếp hồn, bạt vía trước một nữ biệt động mảnh mai, nhưng ngoan cường và dũng cảm. Tiếng nổ từ trái tim nồng cháy vì tình yêu quê hương, đất nước; vì lý tưởng cao cả của mọi người và cũng vì lẽ sống cho hôm nay, ngày mai và mãi mãi mai sau của dân tộc.

Nữ anh hùng Hồ Thị Kỷ, sinh năm 1949, trong một gia đình nông dân nghèo khổ ở ấp Cây Khô, xã Tân Lợi, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau. Cha là Hồ Văn Thiên và mẹ là Đào Thị Nhung phải đi làm mướn cho địa chủ để kiếm tiền mua gạo sinh sống.

Lớn lên giữa lúc quê hương không ngớt tiếng bom đạn, mỗi tiếng bom rơi, mỗi tiếng nổ của đại bác từ các chi khu Thới Bình, Cà mau bắn vào nhằm triệt hạ nhà cửa, ruộng vườn cùng tính mạng của nhân dân vô tội là mỗi lần Kỷ vô cùng xót xa và căm thù quân cướp nước dã man.

Tháng 02/1968, Hồ Thị Kỷ được tổ chức kết nạp vào Đoàn thanh niên nhân dân cách mạng Việt Nam . Từ đấy Kỷ càng phấn đấu tích cực, luôn tỏ ra là cánh tay đắc lực, là đội hậu bị của Đảng, dù khó khăn, gian khổ nhưng lúc nào Kỷ cũng tươi vui, phấn khởi và tin tưởng vào tương lai tươi sáng của cách mạng, ra sức hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ.

Kỷ vào Đội biệt động Thị xã Cà Mau và hoạt động rất hăng say, thông minh và dũng cảm, đã nhiều lần trực tiếp cầm vũ khí đánh kẻ thù ngay trong nội ô, sào huyệt của chúng, gây cho chúng nhiều tổn thất, lo sợ, hoang mang. Có những trận tiêu biểu: Ngày 25/4/1969, đồng chí dùng mìn đánh vào kho hậu cần tiểu đoàn 3 thuộc trung đoàn 32 ngụy, diệt và làm bị thương nhiều tên, phá huỷ một kho đạn, đốt cháy gần 82.000 lít xăng. Đến ngày 10/7/1969, đồng chí chỉ huy một tổ đánh vào phòng căn cước thuộc Ty cảnh sát Cà Mau, diệt tại chỗ 6 tên và làm bị thương 5 tên khác. Trận này đồng chí được tặng danh hiệu “Dũng sĩ quyết thắng ưu tú cấp 3”, một giấy khen và một Bằng khen cho chung tổ. Cũng trong thời gian này đồng chí trực tiếp đánh hai trận vào bọn giang thuyền tại bến sông Cà Mau, làm chìm 5 tàu địch và được tặng thưởng hai Huân chương chiến công hạng nhất.

Ngày 06/10/1969, Hồ Thị Kỷ được kết nạp vào Đảng. Với nỗi vui mừng vô hạn và là niềm vinh dự to lớn ấy làm tăng thêm tinh thần và nghị lực của đồng chí trên bước đường hoạt động cách mạng; luôn tỏ ra xứng đáng là một đảng viên ưu tú của Đảng ngày càng đạt thêm nhiều thành tích xuất sắc. Đồng chí đã bí mật xây dựng, tổ chức rèn luyện được một tổ nữ biệt động ngay trong lòng địch, và cùng chị em này đánh nhiều trận tại Thị xã Cà Mau, diệt được 10 tên ác ôn và làm bị thương nhiều tên khác, trong đó có một tên trung úy đền tội. 

Sáng ngày 03/4/1970, xuồng cập bến chợ Cà Mau, theo dự kiến của kế hoạch là đồng chí sẽ đặt chất nổ ở vị trí đã định trước. Thế nhưng tình huống xảy ra không như ý định của đồng chí, trái ngược với điều nghiên ban đầu. Bọn địch tập trung nhốn nháo trước cổng để chuẩn bị hành quân, càn quét. Trước tình huống bất ngờ ấy, Hồ Thị Kỷ tỏ ra rất bình tĩnh, mưu trí và xử lý rất linh hoạt. Với bước đi nhẹ nhàng, thanh thản, đồng chí tay xách vỏ “quà” tiến thẳng đến đoàn xe của địch, đồng chí tươi cười bắt chuyện làm quen để xin đi nhờ xe một đoạn đường. Bọn chó đói như gặp mồi ngon, thèm thuồng trêu chọc, những tên sĩ quan kéo đến xin thuốc vây quanh. Đồng chí đặt giỏ xuống mặt đường và ngồi xuống với tư thế sẳn sàng, giả vờ lấy thuốc ra mời, bọn chúng tranh nhau vồ lấy. Chờ có thế, đồng chí nhanh tay điều chỉnh mìn và ấn kíp. Một tiếng nổ kinh hoàng làm chấn động thị xã lúc ban mai; khói phụt lên phủ đầu quân giặc, 18 tên cướp nước và bán nước đền tội, trong đó có một tên sĩ quan Mỹ, một Trung úy và Thiếu úy ngụy; bị thương 9 tên khác, có một Đại úy, phá hủy một xe Zeep, 2 xe quân sự GMC, sập một lô cốt, hỏng một mảng tường rào và một góc phòng quân cảnh. Đặc biệt là bẻ gãy hoàn toàn kế hoạch hành quân của địch tại nơi xuất phát của chúng, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ do Đảng và tổ chức phân công. Và đồng chí Hồ Thị Kỷ, nữ biệt động ngoan cường, dũng cảm đã hy sinh ngay sau tiếng nổ ở chính tay mình. Nguyễn Hải Tùng đã viết những vần thơ về giây phút ấy:

“... Phút thiêng liêng đến vội vàng

Làm sao nhắn gởi lại người thân

Cám ơn đồng chí nâng tầm vóc

Cho Kỷ nên người gái Việt Nam ...”

Đồng bào Cà Mau vô cùng khâm phục và thương tiếc người con gái anh hùng, dám hy sinh cả cuộc đời đang thời son trẻ cho sự nghiệp vinh quang của đất nước.

Sau chiến thắng oanh liệt ấy, một phong trào noi gương Hồ Thị Kỷ nổi lên đều khắp trong các đơn vị quân giải phóng và các đoàn thể thanh niên, phụ nữ ở địa phương. Từ địa phương quân đến đơn vị du kích xã, ấp bừng bừng một sinh khí náo nức lập công với khẩu hiệu “Sống và chiến đấu theo gương nữ liệt sĩ anh hùng Hồ Thị Kỷ”.

Tháng 5/1971, Hồ Thị Kỷ được Chính phủ lâm thời miền Nam Việt Nam  truy tặng danh hiệu “Anh hùng các lực lượng võ trang nhân dân giải phóng Miền Nam”. Hồ Thị Kỷ đã ngã xuống, nhưng tấm gương chói ngời chủ nghĩa anh hùng cách mạng của đồng chí vẫn còn sống mãi trong lòng các lực lượng võ trang và nhân dân ta.

Đúng như đồng chí Đoàn Thanh Vị – nguyên ủy viên dự khuyết Ban chấp hành Trung ương Đảng, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Minh Hải đã nói: “Chưa ở đâu trên Tổ quốc ta, lại có người con gái như Hồ Thị Kỷ, từ trái tim em làm ra tiếng nổ diệt Mỹ đời đời vang mãi”.

Để ghi nhớ tên tuổi và chiến công oanh liệt của nữ anh hùng liệt sỹ Hồ Thị Kỷ, quân và dân xã Lợi An, đội biệt động Thị xã Cà Mau và nhiều trường học, đơn vị lấy tên “Hồ Thị Kỷ” mãi đến ngày nay.

 

“... Ôi ! đời em thiên sử đẹp như tranh

Rác rưởi chẳng làm bẩn tuổi xanh

Hồn vẫn ngát hương theo gió lộng

Như bông hoa sứ nở trên cành...”

 

_______________________________