ĐỊA LÝ CÀ MAU

 

 

I- MỤC ĐÍCH – YÊU CẦU DẠY VÀ HỌC ĐỊA LÝ ĐỊA PHƯƠNG CÀ MAU:

 

Việc giảng dạy địa lý địa phương tỉnh Cà Mau trong nhà trường phổ thông trong tỉnh phải đạt được những yêu cầu mục đích sau:

1-Giúp cho học sinh bổ sung và nâng cao những kiến thức về tự nhiên, dân cư và kinh tế – xã hội trong phạm vi của địa phương cấp tỉnh mà trong sách giáo khoa địa lý theo chương trình của bộ GD-ĐT chưa có điều kiện đưa vào.

2-Giúp cho học sinh có được các kiến thức về địa lý địa phương của tỉnh nhà qua việc học tập trên lớp, khảo sát, nghiên cứu địa lý địa phương, tạo điều kiện cho học sinh hiểu rõ thực tế địa phương về những khó khăn và thuận lợi của tự nhiên, dân cư và kinh tế xã hội ở địa phương. Qua đó giúp cho học sinh có ý thức tham gia cải tạo, xây dựng địa phương, đồng thời bồi dưỡng tình cảm tốt đẹp đối với quê hương đất nước.

3-Học sinh học tập, khảo sát, nghiên cứu địa lý địa phương của tỉnh nhà bước đầu còn tập cho học sinh làm quen với tính chất và công việc của công tác nghiên cứu khoa học về địa lý địa phương. Những kết luận rút ra từ thực tiễn địa phương, những biện pháp đề xuất đúng đắn có thể có qua học tập, qua nghiên cứu của giáo viên và học sinh về địa lý địa phương.

Chúng tôi nghĩ rằng đó có thể là cơ sở để nhà trường, để giáo viên, học sinh đóng góp vốn hiểu biết của mình về địa lý địa phương tỉnh nhà trong sản xuất, trong quản lý xã hội và cũng qua đó phát hiện được tư duy khoa học, tư duy địa lý cho học sinh phổ thông trong các nhà trường ở tỉnh Cà Mau.

4-Cũng thông qua việc học tập địa lý địa phương tỉnh Cà Mau sẽ giúp cho học sinh phát triển được năng lực nhận thức và vận dụng kiến thức của mình vào hoàn cảnh, điều kiện của địa phương tỉnh nhà. Mặt khác thông qua học tập, khảo sát, nghiên cứu về địa lý tỉnh nhà còn giúp cho nhà trường bồi dưỡng cho học sinh các phương pháp nghiên cứu, học tập phù hợp với trình độ của các em như các phương pháp khảo sát, điều tra, quan sát, phân tích vẽ, thiết lập các số liệu, biểu đồ, bản đồ... Từ đó giúp cho học sinh bồi dưỡng thề giới quan khoa học, phát triển năng lực trí tuệ và những kỹ năng thực tiễn.

 

II- NỘI DUNG DẠY VÀ HỌC ĐỊA LÝ ĐỊA PHƯƠNG CÀ MAU:

 Địa lý địa phương tỉnh Cà Mau là một bộ phận của địa lý cả nước, nó giúp chúng ta tìm hiểu thực trạng tiềm năng cụ thể và đánh giá kiểm chứng lại các điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, kinh tế xã hội của tỉnh nhà so với điều kiện chung của cả nước. Địa lý địa phương có thể phục vụ cho nhiều mục đích khác nhau và tuỳ theo từng mục đích nội dung và phương pháp nghiên cứu sẽ phú hợp với những yêu cầu khác nhau. Ở đây chúng tôi muốn đề cập đến yêu cầu về nội dung với mục đích là giảng dạy và học tập trong các trường phổ thông trong tỉnh, đồng thời phải gắn liền với phân phối chương trình địa lý địa phương và thời gian qui định của Bộ Giáo Dục và đào tạo vừa mới ban hành được áp dụng thực hiện từ năm học 2000 – 2001 như : ở lớp 6 tiết 66; ở lớp 9 tiết 32 (các bài 23,24,25) tiết 33 (các bài 26,27) chính vì vậy yêu cầu về nội dung đối với học địa lý địa phương là: các em phải có khả năng nhận biết, phân tích được một số hiện tượng địa lý trong tỉnh nhà hoặc nơi các em đang sinh sống.

-Các em phải hiểu biết môi trường thiên nhiên chung quanh và có khả năng nhận biết mối quan hệ giữa khai thác tài nguyên và bảo vệ môi trường.

-Các em biết ứng dụng những kiến thức địa lý chung mà chương trình môn địa lý đã trang bị, đồng thời biết đối chiếu so sánh với địa phương của tỉnh nhà kể cả việc đọc các loại bản đồ địa lý địa phương.

Xuất phát từ những yêu cầu về nội dung nêu trên, chúng tôi xác định nội dung giảng dạy cụ thể gồm 03 phần chính là điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, dân cư và kinh tế.

1-Điều kiện tự nhiên:

Để tìm hiểu các điều kiện tự nhiên trong tỉnh, chúng ta thấy nó có thể tồn tại những hệ thống cấp thấp hơn so với cả nước như các hệ thống khí hậu, địa hình, thổ nhưỡng, động thực vật... Do đó yêu cầu là phải định vị các hệ thống đó chỉ trong tỉnh Cà Mau và xác định các mối quan hệ với nhau trên cơ sở tất cả các phần tạo nên thể tổng hợp địa lý tự nhiên của tỉnh nhà.

a-Về địa chất:

Đặc điểm địa chất có ảnh hưởng quyết định đến diện mạo của một lãnh thổ ở địa phương nên phần này không thể thiếu được vì thế mà yêu cầu học sinh nắm được lớp vỏ địa chất cùng với những đặc điểm và lịch sử hình thành, phát triển của nó ở tỉnh Cà Mau.

b-Về địa hình:

Địa hình là nơi học sinh đang sinh sống, trên đó diễn ra tất cả hoạt động của con người. Địa hình có một vị trí quan trọng trong cấu trúc cảnh quan tự nhiên, nó được coi là biểu hiện cơ bản và tổng hợp của điều kiện tự nhiên địa phương tỉnh nhà. Do đó phần này yêu cầu học sinh nắm được nguồn gốc, quá trình phát sinh và phát triển cuả địa hình tỉnh nhà. Từ đó ứng dụng hiểu biết vào sản xuất, xây dựng, thiết kế các công trình thuỷ lợi, giao thông cũng như việc bảo vệ và sử dụng đất đai trên phạm vi tỉnh ta.

c-Về khí hậu:

Chúng ta biết rằng khí hậu là một trong những yếu tố quan trọng nhất của địa lý tự nhiên. Tuy nhiên trên phạm vi lãnh thổ của một tỉnh như tỉnh Cà Mau thì chúng ta chỉ yêu cầu học sinh nắm được những nhân tố chi phối đặc điểm khí hậu của tỉnh nhà. Trong đó nêu lên các nhân tố như: vị trí địa lý, bức xạ mặt trời, khí quyển, ảnh hưởng của địa hình, lớp phủ thực vật... Từ đó cho học sinh ứng dụng hiểu biết vào đánh giá tác động xấu, tốt của khí hậu, thời tiết đến sản xuất và đời sống trong phạm vi cả tỉnh hoặc nơi học sinh sinh sống.

d-Thủy văn:

Thủy văn thể hiện mức độ tổng hợp cao các yếu tố địa lý tự nhiên trong môi trường và trên phạm vi lãnh thổ. Vì vậy yêu cầu cơ bản là học sinh nắm được mạng lưới thủy văn tỉnh nhà chủ yếu là mạng lưới sông, rạch, biển, bờ biển, nước ngầm... Từ đó cho học sinh ứng dụng hiểu biết vào đánh giá giá trị kinh tế cuả sông ngòi, kênh rạch tỉnh nhà, vấn đề sử dụng, bảo vệ và cải tạo.

e-Thổ nhưỡng:

Như chúng ta biết ngoài mối quan hệ với môi trường tự nhiên thổ nhưỡng là đối tượng lao động của con người dùng cho sản xuất nông nghiệp . Vì vậy yêu cầu cơ bản là học sinh nắm được mối quan hệ giữa thổ nhưỡng với tự nhiên địa phương, điều kiện hình thành đất, các loại đất chính và sự phân bố của chúng... Qua đó học sinh ứng dụng hiểu biết vào đánh giá, sử dụng và bảo vệ đất ở tỉnh nhà.

f-Động thực vật:

Thực vật rừng tràm, rừng đước, rừng sát cùng với giới động vật có ý nghĩa kinh tế rất to lớn đối với tỉnh nhà và có mối quan hệ mật thiết với môi trường địa lý địa phương của cả tỉnh. Vì vậy yêu cầu học sinh phải nắm được sự phân bố và những đặc trưng chủ yếu. Từ đó giúp học sinh đánh giá được tiềm năng, triển vọng, hướng sử dụng và bảo vệ rừng, bảo vệ những động vật quí hiếm cuả địa phương tỉnh nhà hoặc khu vực nơi học sinh cư trú.

2-Về địa lý dân cư Cà Mau:

Dân cư vừa là lực lượng sản xuất vừa là nguồn tiêu thụ của cải vật chất là đại diện cuả nền văn hóa và là cơ sở của tổ chức chính trị – xã hội ở địa phương. Do đó yêu cầu học sinh nắm được những nội dung chính sau:

-Số dân, động lực tăng dân số và sự phân bố dân cư.

-Cấu trúc dân số.

-Nguồn lao động và việc sử dụng nguồn lao động.

-Quần cư và phương hướng điều khiển dân số tỉnh nhà.

Qua đó giúp học sinh thấy rõ sự phát triển và sự phân bố dân cư lao động của địa phương tỉnh Cà Mau chúng ta, sức sản xuất và sức tiêu thụ chủ yếu là điều khiển tăng gia dân số, sử dụng lao động và giải quyết vấn đề lao động của tỉnh nhà.

3-Về địa lý kinh tế:

Khi nói đến địa lý kinh tế địa phương là chúng ta đề cập đến thể tổng hợp kinh tế tỉnh nhà theo các cấu trúc ngành như nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, giao thông vận tải, thương mại và du lịch cụ thể từng nhóm ngành cần đạt về nội dung như:

a-Đối với nông lâm ngư nghiệp:

-Yêu cầu cung cấp cho học sinh nắm được cơ cấu và sự phân bố những cây trồng vật nuôi chính của tỉnh nhà với mỗi loại cần nêu được: mục đích phương hướng phát triển, diện tích sản lượng sự phân bố, tỷ trọng so sánh (nếu có giữa tỉnh nhà với vùng và tỉnh lân cận).

b-Đối với công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp:

-Bên cạnh đặc điểm và phát triển các ngành công nghiệp hiện tại, chúng ta cũng cần cung cấp cho học sinh hiểu biết về các ngành nghề thủ công truyền thống của địa phương tỉnh ta, về sử dụng lực lượng lao động địa phương trong các ngành nghề, sự biến động của sản lượng công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp đã qua, hiện tại, sắp tới.

c-Đối với giao thông vận tải, thương mại-dịch vụ và du lịch:

Về giao thông cần cung cấp cho học sinh kiến thức cơ bản về những đặc điểm chung của giao thông vận tải thủy bộ của tỉnh nhà, các loại hình, khả năng, phương hướng phát triển giao thông vận tải địa phương.

Về thương mại và du lịch đề cập đến các nội dung như: Đặc điểm tính chất của ngành Thương mại và Dịch dụ tỉnh nhà. Trong đó cần lưu ý vị trí, thế mạnh, cơ cấu phân bổ sản xuất và định hướng, phát triển của địa lý kinh tế thương mại và dịch vụ của tỉnh nhà. Qua đó giúp học sinh ứng dụng hiểu biết vào khai thác tài nguyên và lao động để tham gia phát triển thương mại, dịch vụ và du lịch tỉnh nhà.

 

III-CÁC PHƯƠNG PHÁP DẠY VÀ HỌC ĐỊA LÝ ĐỊA PHƯƠNG CÀ MAU:

 

Cũng như môn lịch sử, chương trình môn địa lý ở trường phổ thông được xây dựng theo kiểu đồng tâm có nâng cao dần từ THCS lên THPT. Phần địa lý Việt Nam được dạy tương đối hoàn chỉnh ở cấp trung học cơ sở gồm hai phần địa lý tự nhiên và địa lý kinh tế. Ở cấp trung học phố thông học sinh sẽ được học lại phần địa lý kinh tế xã hội Việt Nam.

Tuy nhiên chúng tôi nghĩ rằng trong chương trình địa lý Việt Nam của cả bậc trung học phố thông thì nội dung tìm hiểu địa phương, liên hệ với thực tế, khảo sát địa phương, nghiên cứu địa lý địa phương là một bộ phận kiến thức không thể thiếu được ở cả cấp trung học cơ sở và cấp trung học phổ thông. Việc đưa những nội dung này tích hợp vào các bài giảng chính khóa như thế nào ở tất cả các khối lớp của bậc trung học phổ thông là hết sức cần thiết.

-Căn cứ vào giáo trình địa lý địa phương của PGS – TS Lê Huỳnh và PGS – TS Nguyễn Minh Tuệ cùng với hướng dẫn của Bộ Giáo Dục – Đào Tạo thì việc học tập, tìm hiểu, khảo sát và dạy địa lý địa phương là một nguyên tắc trong giảng dạy, học tập địa lý. Việc tìm hiểu tự nhiên, dân cư, kinh tế – xã hội ở chung quanh làm cho học sinh hiểu biết sâu sắc hơn những kiến thức địa lý trong sách giáo khoa, gắn việc học tập địa lý với cuộc sống ở địa phương và với việc giáo dục hướng nghiệp.

Ngoài nội dung địa lý địa phương được dạy thành bài theo một hệ thống nhất định, phù hợp với cấu trúc chương trình của từng lớp, từng cấp học theo phân phối chương trình của Bộ thì việc dạy địa lý địa phương còn được tiến hành dưới dạng kết hợp hay liên hệ với thực tiễn trong từng phần của nội dung bài giảng theo chương trình chính khoá của môn địa lý, hoặc bằng hình thức dạy học ngoài lớp như thực hành ngoài trời, tham gia, du lịch, cấm trại, khảo sát địa lý địa phương và ở mức độ cao hơn là nghiên cứu địa lý địa phương.

Môn địa lý nói chung và địa lý địa phương nói riêng cũng như một số môn học khác trong chương trình ở nhà trường có hai hình thức dạy học: trên lớp và ngoài trời. Đặc biệt, do đặc điểm của môn địa lý có liên quan chặt chẽ với thiên nhiên, với các hoạt động sản xuất của con người, nên việc dạy ngoài lớp mang lại hiệu quả rất lớn về mặt giáo dục và giáo dưỡng.

1-Dạy địa lý địa phương Cà Mau ở trên lớp:

a-Hình thức dạy trên lớp thông qua các tiết giảng về địa lý địa phương đã được qui định trong chương trình:

Để các giờ dạy địa lý địa phương trên lớp đạt hiệu quả, những tài liệu sử dụng phải được nghiên cứu đầy đủ, đảm bảo tính khoa học. Điều này rất cần thiết, vì thông qua giờ dạy địa lý địa phương học sinh nắm vững một cách cụ thể nơi mình đang sinh sống, học tập, hiểu được những thuận lợi, khó khăn của quê hương và có thái độ đúng đắn trước thực tế đó.

Những giờ trên lớp về địa lý địa phương tỉnh Cà Mau trong chương trình phổ thông rất ít (5 bài trong chương trình lớp 9, ở các lớp khác chỉ có giờ tổng kết việc khảo sát địa lý địa phương). Song người giáo viên cần phải trình bày được những đặc điểm về điều kiện địa lý tự nhiên nói chung và của từng thành phần tự nhiên, những đặc trưng về dân cư kinh tế – xã hội , đặc điểm phát triển kinh tế và từng ngành kinh tế của địa phương tỉnh nhà.

Kết hợp với những hoạt động thực hành, tham quan, khảo sát địa phương, giờ học trên lớp phải hệ thống hóa được những điều mà học sinh đã biết một cách rời rạc, lẻ tẻ để khái quát thành những vấn đề mang tính quy luật, giúp các em hiểu sâu sắc hơn bản chất các sự vật - Địa lý địa phương – hiện tượng địa lý ở địa phương mình. Dựa vào hệ thống câu hỏi ở chương trình III sách giáo khoa Địa lý 9 NXBGD năm 2000 và các bài học cụ thể trong tập tài liệu này giáo viên xây dựng một đề cương bài giảng theo các bước sau:

-Vị trí, giới hạn diện tích lịch sử phát triển lãnh thổ và đánh giá ý nghĩa của các yếu tố trên đối với sự phát triển kinh tế – xã hội trong tỉnh:

+Đánh giá điều kiện tự nhiên: Phân tích từng yếu tố (địa chất, địa hình, khoáng sản, khí hậu thủy văn, thổ nhưỡng, động thực vật, các khu vực tự nhiên), nêu ý nghĩa kinh tế và khả năng khai thác các yếu tố đó. Đánh giá tổng hợp những thuận lợi và khó khăn chính của điều kiện tự nhiên, phương hướng và triển vọng khai thác, sử dụng chúng vào mục đích phát triển kinh tế tỉnh nhà.

Để dạy tốt hai phần trên, giáo viên nên sử dụng bản đồ tự nhiên và bản đồ hành chính (Việt Nam và tỉnh Cà Mau), các sưu tập về mẫu đất đá, khoáng sản, tiêu bản thực vật có ý nghĩa trong sự phát triển kinh tế, các loại tranh ảnh về tự nhiên và các cảnh quan điển hình trong tỉnh.

+Những vấn đề về dân cư, kết cấu dân cư phân bổ dân cư và các hình thái cư trú: ở phần nầy, giáo viên trước hết cần nêu lên vai trò ý nghĩa của dân số trong sự phát triển kinh tế của tỉnh nhà, sau đó phân tích các khía cạnh của dân cư, đánh giá chung về sự phát triển dân số của tỉnh nhà so với của cả nước, phương hướng điều khiển dân số. Giáo viên cần làm rõ cấu trúc dân số theo độ tuổi, đặc biệt là nguồn lao động và việc sử dụng lao động ở địa phương.

Để minh họa cho bài giảng, giáo viên có thể sử dụng bản đồ dân cư (Việt Nam và tỉnh Cà Mau), xây dựng một số biểu đồ, bảng thống kê từ việc tìm hiểu địa phương, sưu tầm một số tranh ảnh về các dân tộc Khơme, Hoa (nếu có), các điểm dân cư nông thôn và đô thị tiêu biểu.

*Về kinh tế: Phân tích các mặt:

+Đặc điểm chung về phát triển kinh tế của tỉnh.

+Sự chuyển biến trong cơ cấu và phân bố các ngành kinh tế quan trọng, sự phân hóa của chúng theo lãnh thổ.

+Các chính sách kinh tế và xu hướng phát triển kinh tế của tỉnh nhà trong tương lai.

+Công nghiệp: Cần phân biệt các Xí nghiệp công nghiệp Trung ương với các Xí nghiệp công nghiệp địa phương và tiểu thủ công nghiệp.

Giáo viên cần làm rõ tình hình phát triển, các ngành sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp quan trọng, sự phân bố theo lãnh thổ. Đặc biệt nên giới thiệu cho học sinh các sản phẩm truyền thống của tỉnh nhà.

+Nông nghiệp: Những biến đổi về cơ cấu và phân bố sản xuất nông nghiệp, những cây trồng và vật nuôi chủ yếu, các vùng chuyên canh. Đây là vấn đề hiện nay đang được quan tâm ở tỉnh ta, vì vào ngày 27/7/2000 vừa qua UBND tỉnh Cà Mau đã có Quyết định số 14/2000/ QĐ-UB về việc điều chỉnh quy hoạch sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp tỉnh Cà Mau.

+Giao thông vận tải: Nêu đặc điểm chung, tổng chiều dài các loại đường và chức năng của nó, các đầu mối giao thông quan trọng, khối lượng hàng hoá, người vận chuyển và luân chuyển trong tỉnh.

+Thương mại – dịch vụ: Nêu tính chất, đặc điểm và sự phân bố không gian của hoạt động thương mại, dịch vụ và xu hướng phát triển của tỉnh ta.

Ở phần này giáo viên nên kết hợp sử dụng bản đồ kinh tế chung của tỉnh với xây dựng các biểu đồ, bảng thống kê và tình hình phát triển các ngành kinh tế, tranh ảnh minh hoạ.

 Kết luận: Đánh giá chung về những thuận lợi và khó khăn của các điều kiện tự nhiên, dân cư xã hội đối với sự phát triển kinh tế tỉnh nhà. Vị trí kinh tế (Tỉnh nhà) so với các tỉnh xung quanh và toàn quốc.

b-Sử dụng tài liệu địa lý địa phương tỉnh Cà Mau này trong bài giảng địa lý:

Việc sử dụng tài liệu địa lý địa phương Cà Mau này có thể tiến hành bằng hai cách: kết hợp trong khi giảng đối với những bài có nội dung gắn với nội dung của tài liệu địa lý địa phương Cà Mau và gắn thực tiễn địa phương vào nội dung bài giảng.

Sử dụng hai hình thức trên vào việc giảng dạy địa lý sẽ mang lại hiệu quả giáo dục cao vì khi bài giảng có nhiều tài liệu thực tế ở địa phương tỉnh ta, nhất là gần với học sinh cư trú thì sẽ sống động, dễ hiểu với học sinh.

Những kiến thức địa lý địa phương Cà Mau sẽ giúp học sinh hiểu rõ hơn những khái niệm địa lý, bổ sung và cụ thể hoá những kiến thức tiếp thu trên lớp, đặc biệt có thể gây cho học sinh sự hứng thú, lòng ham mê hiểu biết, muốn đóng góp sức mình vào việc làm cho địa phương tỉnh, huyện, xã mình giàu có, tiến bộ.

Ngay trong các bài giảng về địa lý các Châu, sự liên hệ và so sánh theo nguyên tắc trên sẽ giúp cho giáo viên rất nhiều trong việc mô tả những miền đất xa lạ, những vần đề kinh tế mới mẻ, làm cho việc tiếp thu kiến thức của học sinh được dễ dàng.

Để gắn những kiến thức địa lý địa phương Cà Mau vào nội dung bài giảng được tốt, giáo viên phải xuất phát từ những kiến thức cụ thể như sách giáo khoa và nội dung khoa học của bài giảng, nếu không sẽ dẫn đến sự liên hệ với địa lý địa phương Cà Mau một cách gượng ép, chủ quan, thiếu khoa học và không tác dụng.

2-Dạy địa lý địa phương Cà Mau ở ngoài lớp:

Song song với việc dạy trên lớp, có thể dạy địa lý địa phương Cà Mau ở ngoài lớp với các hình thức thực hành ngoài trời (hay ở trong trường), tham quan, cắm  trại. Đề giúp học sinh có những hiểu biết cụ thể về quê hương mình và gây được sự say mê hứng thú cho các em qua môn học địa lý địa phương, giáo viên nên hướng việc dạy ngoài trời vào một số nội dung sau:

-Tìm hiểu các đặc điểm về tự nhiên , môi trường ở địa phương nơi trường đóng, hoặc nơi học sinh cư trú...

-Tìm hiểu các vấn đề về sử dụng và bảo vệ đất, rừng, nước sạch và môi trường ở địa phương.

-Tìm hiểu các vấn đề về dân cư và những khía cạnh xã hội ở địa phương: phong tục, tập quán, truyền thống văn hoá, sản xuất, tình hình phát triển dân số...

-Tìm hiểu sự hoạt động của các ngành kinh tế chủ yếu ở địa phương.

Sau đây là một số hình thức dạy địa lý địa phương Cà Mau ở ngoài lớp:

a-Xây dựng một số bài thực hành ở vườn địa lý hoặc ngoài thực địa:

Một số bài học về địa lý tự nhiên đại cương và Việt Nam có thể cho học sinh thực hành ở vườn trường (đo nhiệt độ, ẩm, gió...) hay tập quan sát, theo dõi các hiện tượng, sự vật, sự việc địa lý ngoài thực địa để giúp các em hiểu sâu hơn nội dung bài giảng của giáo viên, thông qua các bài thực hành, học sinh còn hiểu rõ hơn về đặc điểm tự nhiên của địa phương. Ngoài ra còn tạo cho các em thói quen quan sát để tìm hiểu, nắm vững kiến thức, cách phân tích, nhận xét và nếu có điều kiện tổng hợp, đánh giá, rút ra những kết luận cần thiết cho việc lao động sản xuất trên quê hương mình.

b-Tổ chức đi tham quan ở các địa phương trong tỉnh:

Hình thức tham quan có tác dụng nhiều mặt về giáo dục tư tưởng, thẩm mỹ, trao đổi học vấn... Để đạt được những mục đích trên, người giáo viên cần phải xác định rõ nội dung kế hoạch và phương pháp tiến hành đợt tham quan.

-Nội dung tham quan phải phù hợp với yêu cầu tìm hiểu địa lý địa phương, ngoài ra còn nhằm gây hứng thú cho học sinh.

-Phương pháp tiến hành phải tuỳ thuộc vào nội dung, nếu yêu cầu của chuyến tham quan là minh họa, bổ sung cho bài giảng về địa lý địa phương tỉnh nhà thì phải thực hiện sau khi giảng dạy xong phần lý thuyết.

Thí dụ: Tham quan thực tế sản xuất nông nghiệp ở một xã (hay một huyện).

Nghiên cứu sự phát triển nông nghiệp của một địa phương không thể không nghiên cứu các điều kiện tự nhiên, nhất là đánh giá các điều kiện đó. Vì thế trước khi tham quan, học sinh phải được giới thiệu những đặc điểm về tự nhiên (địa hình, khí hậu, đất đai...) và những đặc điểm dân cư, xã hội ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp.

Học sinh cũng cần được giới thiệu trước một số vấn đề có liên quan đến sản xuất nông nghiệp ở địa phương như: ý nghĩa và vai trò của sản xuất nông nghiệp đối với nền kinh tế của huyện (hoặc tỉnh), những đặc điểm về điều kiện tự nhiên , kinh tế – xã hội ảnh hưởng đến sự phát triển nông nghiệp (cơ cấu, phân bố), các ngành sản xuất chính (cây trồng, vật nuôi), diện tích, năng suất, sản lượng nông nghiệp hàng năm và đánh giá hiệu quả... Những khả năng và những hạn chế trong phát triển nông nghiệp của địa phương.

Sau buổi tham quan, giáo viên có thể hướng dẫn học sinh thảo luận, trao đổi những thu hoạch. Cuối cùng giáo viên gợi ý học sinh sắp xếp những tài liệu đã sưu tầm, chuẩn bị báo cáo tổng kết vấn đề mà cuộc tham quan đã đặt ra.

c-Khảo sát địa lý địa phương Cà Mau:

Trong việc dạy học địa lý ở nhà trường phổ thông, khảo sát địa lý địa phương có một ý nghĩa rất lớn, đặc biệt đối với việc dạy và học địa lý địa phương. Chính vì vậy, khảo sát địa lý địa phương đã được qui định cụ thể và dành một số tiết nhất định trong chương trình lớp 6 (2 tiết) Khảo sát địa lý địa phương Cà Mau hay tìm hiểu địa lý địa phương Cà Mau là một phần của chương trình nhưng dạy dưới hình thức ngoài lớp. Nó không phải là những bài trên lớp có hệ thống mà chỉ là một hoạt động được thực hiện trong chương trình của mỗi khối lớp trong năm học.

Công tác khảo sát địa lý địa phương tỉnh nhà được tiến hành dưới sự hướng dẫn, tổ chức, chỉ đạo của giáo viên , chính vì vậy kết quả phụ thuộc rất nhiều vào trình độ kiến thức, trình độ hiểu biết địa lý địa phương của giáo viên, vào khả năng hướng dẫn, động viên làm cho học sinh thích thú với công tác khảo sát.

*Nội dung của công tác khảo sát địa lý địa phương trong tỉnh:

+Khảo sát những hiện tượng và quá trình địa lý cụ thể xảy ra ở môi trường xung quanh trường đóng. Từ những mẫu hình sống động, học sinh sẽ có những biểu tượng, khái niệm rõ ràng về tự nhiên, dân cư, kinh tế của địa phương mình. Từ đó có thể suy ra những hiện tượng và quá trình tương tự về địa lý xảy ra ở xa hơn, trên mọi miền đất nước cũng như trên thế giới.

+Đối với học sinh phổ thông trung học, cùng với việc khảo sát địa lý địa phương của huyện, tỉnh một cách hệ thống là việc liên hệ những kiến thức được học ở trường với cuộc sống xung quanh và vận dụng chúng vào thực tiễn

* Hình thức tiến hành khảo sát địa lý địa phương trong tỉnh:

+Tổ chức các buổi khảo sát tập trung cho tất cả học sinh dưới sự hướng dẫn của giáo viên.

+Tổ chức các hoạt động độc lập của nhóm, tổ, qua đó phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của  học sinh.

*Các phương pháp tiến hành khảo sát địa lý địa phương:

Trong quá trình khảo sát địa lý địa phương tỉnh nhà có thể áp dụng một số phương pháp sau:

+Phương pháp đi thực địa.

+Phương pháp  điều tra, tìm hiểu qua nhân dân địa phương.

+Phương pháp nghe báo cáo .

+Phương pháp phân tích, sử dụng tài liệu (tài liệu, số liệu, bảng biểu thống kê, bản đồ, tranh ảnh...).

Do học sinh ở các khối lớp có trình độ nhận thức khác nhau, nên khi đề ra các yêu cầu khảo sát cũng cần phải chọn lọc, sao cho phù hợp với khả năng và với hiểu biết của học sinh. Thí dụ: đối Với các lớp ở trung học cơ sở, giáo viên nên cho các đề tài khảo sát về địa lý tự nhiên địa phương, chú ý đến các sự vật, hiện tượng cụ thể. Đối với học sinh phổ thông trung học, nên chọn các đề tài địa lý, kinh tế – xã hội, những đề tài có mối quan hệ tự nhiên và kinh tế.

Sau khi hoàn thành việc khảo sát địa lý địa phương, giáo viên cần giúp học sinh rút ra kết luận, viết báo cáo hay chuẩn bị hội thảo.

d-Nghiên cứu địa lý địa phương:

Việc nghiên cứu địa lý địa phương đối với học sinh phổ thông nhằm tạo điều kiện cho các em tiếp xúc với tự nhiên, với môi trường xung quanh mình, với các hoạt động sản xuất . Qua đó giúp các em nhận thức rõ các khái niệm, các quy luật địa lý đã đựợc học tập trên lớp.

Nghiên cứu địa lý địa phương được coi như một bộ phận của giáo dục hướng nghiệp, có mối quan hệ chặt chẽ với các bộ môn khoa học cơ sở khác (như sinh vật, hoá học, lịch sử...). Nghiên cứu địa lý địa phương có giá trị giáo dục rất lớn, làm cho học sinh hiểu biết về quê hương và có thái độ đúng đắn về những vấn đề mà quê hương đang đặt ra cần giải quyết.

e-Các hoạt động khác trong dạy và học địa lý địa phương của tỉnh nhà:

 +Tổ chức những buổi sinh hoạt khoa học về những vấn đề của địa lý địa phương: đây là một hình thức cuốn hút những học sinh đứng ngoài tổ chức nghiên cứu địa lý địa phương, thu hút các em vào một hoạt động bổ ích, lý thú. Hoạt động này nhất thiết phải có sự hướng dẫn, chỉ bảo  của giáo viên nhằm đạt được mục đích đề ra. Các sinh hoạt này có thể tổ chức mỗi học kỳ một lần.

+Tổ chức dạ hội địa lý địa phương : các dạ hội địa lý nói chung và dạ hội địa lý địa phương nói riêng làm cho các em dễ dàng tiếp thu bài trên lớp và yêu thích môn địa lý. Trong chương trình buổi dạ hội có thể tổ chức hái hoa trả lời các câu hỏi chuẩn bị trước nhằm giúp học sinh nắm vững địa lý, lịch sử, hoạt động kinh tế địa phương. Thí dụ như các câu hỏi về ý nghĩa các địa danh, các sự kiện lịch sử, các sản vật nổi tiếng của địa phương, số dân của địa phương và những ngành nghề truyền thống của nhân dân ở địa phương.

+Xây dựng góc địa lý địa phương :

Góc địa lý địa phương  là nơi trưng bày có chọn lọc những mẫu đất, hoa lá, côn trùng, mẫu khảo cổ, những tài liệu thu thập được, các sổ tay ghi chép, các sản phẩm tiêu biểu của địa phương.

Góc địa lý địa phương có một tầm quan trọng rất lớn trong quá trình giáo dục và giáo dưỡng cho học sinh trong nhà trường. Những hiện vật trưng bày ở đây có thể dùng làm tài liệu để chứng minh cũng như so sánh khi học về các điều kiện tự nhiên cũng như kinh tế của các địa phương khác ở trong nước hay ở các nước khác. Trên cơ sở của các tài liệu trực quan trưng bày trong góc địa lý ở địa phương giúp học sinh có những nhận thức từ cụ thể đến tư duy trừu tượng và có thể vận dụng vào thực tiễn.

Những hiện vật của góc địa lý địa phương còn góp phần giáo dục lòng yêu nước, yêu quê hương cho học sinh và có ý thức xây dựng quê hương, bảo vệ tự nhiên, bảo vệ môi trường sống, bảo vệ của cải vật chất do cha mẹ, bà con xóm giềng tạo ra.

Sự hình thành góc địa lý địa phương cần theo một thứ tự và mục đích nhất định. Nên trình bày các hiện vật và tài liệu địa lý  tự nhiên trước rồi tiếp đến kinh tế và lịch sử địa phương. Mục đích của việc trình bày cần hướng người xem tìm hiểu ngày càng sâu về quê hương. Cần kết hợp giữa trình bày hiện vật với các biểu đồ, bản đồ, tranh ảnh...

Góc địa lý địa phương là một công cụ hữu ích để giáo dục tư tưởng cho học sinh và nâng cao chất lượng đào tạo học sinh về mọi mặt.

 

 

IV-CHƯƠNG TRÌNH ĐỊA LÝ ĐỊA PHƯƠNG CÀ MAU

 

Gồm có ba chương và 20 bài cụ thể như sau:

 

 

CHƯƠNG I : ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN VÀ NGUỒN TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN TỈNH CÀ MAU.

 

Bài 1 :  Vị trí lãnh thổ và Bản đồ hành chính tỉnh Cà Mau.

Bài 2 : Lịch sử thành tạo và địa hình Cà Mau.

Bài 3 : Khí hậu tỉnh Cà Mau.

Bài 4 : Biển, sông, rạch, nước ngầm ở Cà Mau.

Bài 5 : Đất trồng ở Cà Mau.

Bài 6 : Thực vật - Động vật ở Cà Mau.

Bài 7 : Các cảnh quan tự nhiên ở Cà Mau.

Bài 8 : Đặc điểm chung thiên nhiên Cà Mau.

 

 CHƯƠNG II : ĐỊA LÝ DÂN CƯ CÀ MAU.

 

Bài 9 : Dân số – Phân bố dân số – Gia tăng dân số.

Bài 10 : Kết cấu dân số – Dân tộc ở Cà Mau.

CHƯƠNG III : ĐỊA LÝ KINH TẾ CÀ MAU.

Bài 11: Đặc điểm chung của nền kinh tế Cà Mau.

Bài 12 : Địa lý nông nghiệp  Cà Mau.

Bài 13 : Ngành trồng trọt ở Cà Mau.

Bài 14 : Ngành chăn nuôi ở Cà Mau.

Bài 15 : Địa lý ngư nghiệp ở Cà Mau.

Bài 16 : Địa lý Lâm nghiệp ở Cà Mau .

Bài 17 : Địa lý công nghiệp Cà Mau.

Bài 18 : Địa lý giao thông vận tải ở Cà Mau.

Bài 19 : Địa lý thương mại và dịch vụ Cà Mau.

Bài 20 : Các vùng kinh tế Cà Mau .

 

KẾT LUẬN

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO.

 ___________________________

 

 

CHƯƠNG I

ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN VÀ NGUỒN TÀI  NGUYÊN THIÊN NHIÊN TỈNH CÀ MAU

 

 

Bài 1

VỊ TRÍ LÃNH THỔ VÀ BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH TỈNH CÀ MAU

 

I- VỊ TRÍ LÃNH THỔ.

-Cà Mau là tỉnh cực nam tổ quốc, được tái lập ngày 01/01/1997, tách ra từ tỉnh Minh Hải. Lãnh thổ gồm 2 phần: phần đất liền và vùng biển chủ quyền.

Phần đất liền có diện tích 5.211 km2, bằng 1,58% diện tích cả nước; 13,1% diện tích đồng bằng sông Cửu Long. Điểm cực Nam :8o 33’ vĩ độ Bắc (thuộc xã Viên An, Ngọc Hiển), điểm cực Bắc : 9 o 33’ Bắc (thuộc xã Biển Bạch, Thới Bình). Theo đường chim bay, từ Bắc tới Nam : 100 km. Điểm  cực Đông: 105 o 24’ độ kinh  đông (xã Tân Thuận, Đầm Dơi), điểm cực Tây: 104 o 43’ đông (xã Đất Mũi, Ngọc Hiển). Từ Tây sang Đông: 68 km.

Vùng biển chủ quyền gần 100 ngàn km2, trong đó có nhiều đảo: Hòn đá Bạc (Trần Văn Thời), Hòn Chuối, Hòn Buông (Cái Nước), thuộc Biển Tây; Hòn Khoai (Ngọc Hiển) thuộc Biển Đông. Hòn Khoai là một cụm đảo gồm 4 đảo: Đảo Đồi mồi, Hòn Sao, Hòn Gò và lớn nhất là Hòn Khoai. Cụm đảo cách đất liền khoảng 18 km, với diện tích xấp xỉ 5 km2.

Cà Mau tiếp giáp với các tỉnh: Kiên giang ở phía Bắc (63 km), Bạc Liêu ở phía Đông (75 km). Còn tiếp giáp  2 biển: phía Tây giáp Biển Tây (Vịnh Thái lan), phía Đông nam và Nam giáp Biển Đông. Bờ biển dài 251 km.

Với vị trí giáp biển 2 mặt, Cà Mau như một bán đảo nằm ở vĩ độ địa lý thấp, tính cận xích đạo trong thiên nhiên khá đặc trưng. Tuy vậy, do cách các trung tâm kinh tế lớn quá xa (Thành phố Hồ Chí Minh 350 km, Cần Thơ 180 km) Cà mau sẽ có ít cơ hội được hưởng sức lan toả của các trung tâm trên.

 

II-BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH TỈNH CÀ MAU

Toàn tỉnh đến cuối năm 2000 có một thành phố trực thuộc tỉnh và 6 huyện, 82 xã, phường, thị trấn, 616 khóm, ấp.

( Xem phụ lục kèm theo )

Câu hỏi:

1-Giới thiệu vị trí địa lý và giới hạn lãnh thổ (phần đất nổi) của tỉnh Cà Mau ?

2-Xếp theo thứ thự giảm dần về diện tích, dân số của các huyện, thành phố trong tỉnh ?

3-Thực hành cho học sinh tìm hiểu và giới thiệu vế vị trí địa lý, giới hạn diện tích, dân số trong huyện, xã nơi học sinh cư trú.

 

TÊN HUYỆN, THÀNH PHỐ, XÃ, PHƯỜNG, THỊ TRẤN TRONG TỈNH (ĐẾN CUỐI NĂM 2000)

 

*Thành phố Cà Mau : có 8 phường và 7 xã gồm:

Phường 1, Phường 2,  Phường 4, Phường 5, Phường 6, Phường 7, Phường 8, Phường 9, Xã Tắc Vân, Xã Tân Thành, Xã Định Bình, Xã Hoà Thành, Xã Hoà Tân, Xã Lý Văn Lâm, Xã An Xuyên.

*Huyện Thới Bình : có 1 thị trấn và 9 xã gồm:

Thị Trấn Thới Bình, Xã Tân Lộc, Xã Tân Lộc Bắc, Xã Tân Lộc Đông, Xã Biển Bạch, Xã Biển Bạch Đông, Xã Tân Phú, Xã Hồ Thị Kỷ, Xã Trí Phải, Xã Thới Bình.

*Huyện U Minh : có 1 thị trấn và 5 xã gồm:

Thị Trấn U Minh, Xã Khánh an, Xã Nguyễn Phích, Xã Khánh Lâm, Xã Khánh Hoà, Xã Khánh Tiến.

*Huyện Trần Văn Thời : có 2 thị trấn và 9 xã gồm:

Thị Trấn Sông Đốc, Thị Trấn Trần Văn Thời, Xã Khánh Bình, Xã Lợi An, Xã Khánh Hải, Xã Khánh Bình Đông, Xã Khánh Hưng, Xã Khánh Bình Tây, Xã Khánh Bình Tây Bắc, Xã Trần Hợi, xã Phong Lạc.

 *Huyện Cái Nước : có 2 thị trấn và 12 xã gồm:

Thị Trấn Cái Nước, Thị Trấn Cái Đôi Vàm , Xã Phú Hưng, Xã Lương Thế Trân, Xã Tân Hưng, Xã Tân Hưng Đông, Xã Tân Hưng Tây, xã Đông Thới, Xã Trần Thới, Xã Phú Mỹ, Xã Phú Tân, Xã Hưng Mỹ, Xã Việt Khái, Xã Việt Thắng.

*Huyện Đầm Dơi : có 1 thị trấn và 12 xã gồm:

Thị Trấn Đầm Dơi, Xã Tân Duyệt, Xã Tân Đức, Xã Nguyễn  Huân, Xã Tạ An Khương, Xã Tạ An Khương Nam, Xã Tạ An Khương Đông, Xã Trần Phán, Xã Quách Phẩm, Xã Quách Phẩm Bắc, Xã Tân Thuận, Xã Tân Tiến, Xã Thanh Tùng.

 *Huyện Ngọc Hiển : có 1 thị trấn và 12 xã gồm:

Thị Trấn Năm Căn, Xã Đất Mới, Xã Hàm Rồng, Xã Hàng Vịnh, Xã Hiệp Tùng, Xã Tam Giang, Xã Tam Giang Đông, Xã Tam Giang Tây, Xã Tân Ân, Xã Viên An, Xã Viên An Đông, Xã Tân Ân Tây, Xã Đất Mũi.

 

Toàn tỉnh có 6 huyện, 1 thành phố, 66 xã, 8 phường, 8 thị trấn.

 

(Bản đồ hành chính tỉnh Cà Mau – 1997)

 

 

 

Bài 2

LỊCH SỬ THÀNH TẠO VÀ ĐỊA HÌNH CÀ MAU

 

 

Là một tỉnh thuộc Đồng bằng sông Cửu Long, lịch sử thành tạo Cà Mau  gắn liền với lịch sử thành tạo khu vực.

Nhiều tài liệu nghiên cứu địa chất Đồng bằng sông Cửu Long đã ghi nhận: cách đây khoảng 6 triệu năm, vào chu kỳ tạo sơn Tân sinh, toàn khu vực đã chìm xuống biển, hình thành các bồn nhận trầm tích Nêôgan và đệ tứ. Khu vực lại được nổi lên vào thời kỳ tiền băng hà Hôlôxen (mực nước biển thấp hơn hiện nay khoảng 120 m), lục địa Châu á rộng tới Xumatơra (Inđônêxia).

Thời kỳ băng tan (cách đây 17 đến 20 ngàn năm) mực nước biển dâng lên tới độ cao cực đại (khoảng 5 ngàn năm trước), mực nước biển cao hơn hiện nay từ 4 đến 5 m. Toàn bộ khu vực lại chìm dưới biển. Cùng với sự sụp võng của tầng phù sa cổ, Pleistoxen và đóng góp to lớn trong sự bồi đắp của biển và sông Mê Kông, tầng vật liệu giàu sét Hôlôxen càng dầy lên. Sự sụp võng không đều của tầng Pleistoxen làm thành tạo Hôlôxen càng dày khi tiến về phía Nam. Khu vực Bạc Liêu, Cà Mau lớp trầm tích này dày hàng trăm mét. Thời kỳ sau đó là biển thoái; mực nước hạ thấp dần, các lớp trầm tích mới có nguồn gốc khác nhau hình thành, phủ lên trầm tích biển (trầm tích sông, trầm tích sông biển, trầm tích lòng sông cổ, trầm tích đầm lầy – Biển, trầm tích than bùn...)

Cách đây khoảng 2.500 năm, phần lớn Đồng bằng sông Cửu Long đã được nổi lên và được phủ các cánh rừng ngập mặn hoặc ngập lợ. Riêng đồng bằng rìa châu thổ (vùng bán đảo Cà Mau) vẫn tiếp tục nhận sự bồi tụ của các dòng phù sa ven bờ, vừa mở rộng đồng bằng, vừa nâng cao bề mặt.

Với thềm lục địa mở rộng, biển nông và bãi biển thoải, dòng Biển Đông –Bắc ổn định vận chuyển vật liệu bồi tụ, mở rộng nhanh vùng Đất mũi Cà Mau . Đoạn từ Đất mũi đến Bảy Háp mỗi năm bồi mở thêm  40 đến 50 m. Đất bãi bồi rộng cả chục ngàn hecta. Bên cạnh đó, cũng còn những đoạn bờ biển đang diễn ra quá trình sụp lở. Đoạn bờ biển sụp lở quan trọng nhất là từ Gành Hào tới Hố Gùi: 33,4 m/ năm ; Nam Hố Gùi tới Bắc Vàm Sấy: 22,6 m/ năm.  Trung bình mỗi năm diện tích đất lở của tỉnh lên tới hàng trăm hecta.

Nằm xa đới bồi tụ trực tiếp và thường xuyên của sông Cửu long nên Cà Mau có địa hình thấp. Phần lớn lãnh thổ Cà Mau thuộc đồng bằng thấp, khá bằng phẳng, có độ cao từ 0,5 m – 1,5 m. Hướng địa hình nghiêng dần từ Bắc xuống Nam, từ Đông Bắc xuống Tây Nam. Những vùng trũng cục bộ Thới Bình, Cà Mau nối liền với Hồng Dân, Giá Rai (thuộc tỉnh Bạc Liêu) thuộc vùng trũng trung tâm bán đảo Cà Mau , quan hệ với địa hình lòng sông cổ. Những ô trũng U Minh, Trần Văn Thời là những vùng trũng treo nội địa được giới hạn bởi đê tự nhiên của các dòng sông Ông Đốc, sông Cái Tàu, sông Trẹm và gờ đất cao ven Biển Tây.

Con người thông qua hoạt động sản xuất cũng tác động rất lớn tới địa hình tự nhiên  của tỉnh. Hàng trăm km kinh mương, đường xá với hàng triệu mét khối đất được đào trong nhiều thế hệ đã làm thay đổi đáng kể hình dạng bề mặt đồng bằng.

Bộ phận đảo ở Biển Tây và Biển Đông tuy diện tích nhỏ (xấp xỉ 0,1% diện tích đất liền của tỉnh). Đây là những mảnh sót của tầng nham cổ sụt võng. Nhiều tài liệu ghi nhận tuổi tuyệt đối của nó tới hơn 180 triệu năm(thuộc jura giữa trung sinh). Hòn Buông có đỉnh cao 50 m, Hòn Chuối 150 m, Hòn Khoai tới 318 m. Những đảo này có vị trí hết sức quan trọng trong việc khai thác biển, phát triển du lịch và bảo vệ chủ quyền.

Câu hỏi:

1-Lịch sử thành tạo Cà Mau có đặc điểm gì ?

2-Địa hình Cà Mau có đặc điểm gì ? Tại sao có đặc điểm đó ?

3-Thực hành: Cho học sinh quan sát địa hình nơi học sinh cư trú, cho ý kiến nhận xét và có so sánh với địa hình trong tỉnh.

 

 

 

Bài 3

KHÍ HẬU TỈNH CÀ MAU

 

Lãnh thổ Cà Mau trái từ 8o25’ Bắc (Hòn Khoai) tới 9o33’ Bắc, Cà Mau thuộc lãnh thổ nội chí tuyến bắc bán cầu, gần xích đạo, đồng thời lại nằm trong khu vực gió mùa Châu á. Vị trí trên, xác định tính chất cận xích đạo, gió mùa rất đặc trưng trong khí hậu của tỉnh. Đặc điểm chung của khí hậu ở đây là có nền nhiệt cao và ổn định, có lượng mưa lớn theo mùa và thất thường.

 

I-CHẾ ĐỘ NHIỆT:

1-Bức xạ mặt trời:

Mặt trời biểu kiến qua thiên đỉnh hai lần trong năm vào tháng 4 và tháng 8. Ở tại Cà Mau vào ngày 14/04 và 30/8 cách nhau 138 ngày. Các địa phương khác trong tỉnh sai lệch với Cà Mau từ 1 đến 2 ngày. Góc nhập xạ quanh năm lớn, nhỏ nhất vào ngày Đông chí (22/12) là 57o32’ (Đài khí tượng Cà Mau). Tổng lượng bức xạ lý tưởng (khi trời quang mây) trung bình trên 240 KCal /cm2/năm. Tháng thấp nhất là tháng 12 (15,6 KCal /cm2), tháng cao nhất là tháng 8 (22,5 KCalo /cm2/năm). Tuy tổng lượng bức xạ lý tưởng của tỉnh cao nhất so với cả nước, song lượng bức xạ thực tế trung bình ở Cà Mau là 120,3 KCal/cm2/năm, trong khi Sóc Trăng là 147, Sài Gòn là 138,3. Tổng lượng bức xạ thực tế của tỉnh trên mỗi hecta trong năm nhận được khoảng 12 tỷ KCal tương đương với lượng nhiệt của 1,5 triệu tấn than đá. Tổng sản lượng bức xạ cao và ổn định là cơ sở hình thành nền nhiệt cao và ổn định cho địa phương.

2-Nắng:

Thời gian chiếu sáng thiên văn dài, tháng thấp nhất cũng 11,5 giờ/ngày, trung bình cao nhất là 12,5 giờ/ngày. Tổng số giờ chiếu sáng thiên văn có thể lên tới 4.383 giờ/ năm. Song số giờ nắng thực tế trung bình năm chỉ là trên dưới 2.200 giờ/năm. Tại Cà Mau tổng số giờ nắng thực tế trung bình năm là 2.269 giờ. Như vậy số giờ nắng thực tế chỉ bằng 50 đến 60% thời gian chiếu sáng thiên văn. Nguyên nhân chính do vân độ trên bầu trời của tỉnh thường cao, trung bình trên 7/10. Số giờ nắng thực tế của tỉnh Cà Mau thấp hơn so với nhiều địa phương trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long (Cần Thơ 2.400 giờ, Sóc Trăng 2.500 giờ). Phân phối giờ nắng chi thành hai mùa rõ rệt. Mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4, số giờ nắng mỗi tháng đều lớn hơn 200 giờ, trung bình 7,6 giờ/ ngày. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, trung bình là 5,1 giờ/ngày.

3-Nhiệt độ:

Nhiệt độ không khí ở tầng thấp của tỉnh nhìn chung cao và ổ định. Nhiệt độ trung bình năm thường xê dịch từ 26o đến 27oC. So với các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, Cà Mau có nhiệt độ trung bình năm vào loại thấp (Sóc Trăng 27o, Cần Thơ xấp xỉ 27o, An Giang 27,2o, Kiên Giang 27,5o). Phân phối nhiệt độ không đều trong năm, tháng nóng nhất là tháng 4 khoảng 27,8oC, tháng lạnh nhất là tháng 01 khoảng 25oC. Biên độ nhiệt năm thấp khoảng 2,8oC. Biên độ nhiệt ngày khá cao, trung bình từ 6,5 đến 7,5oC. Vào mùa khô biên độ nhiệt ngày thường cao, từ 8 đến 10oC, tháng 03 và tháng 04 lên tới trên 10oC. Biên độ nhiệt năm nhỏ hơn biên độ nhiệt ngày là đặc trưng của khí hậu cận xích đạo.

Nhiệt độ tối cao tuyệt đối lên tới 38o3 (tháng 4/1941 tại Cà Mau), nhiệt độ tối thấp tuyệt đối là 15o3 (tháng 1/1963). Đây là những trường hợp rất hiếm.

Trong phạm vi lãnh thổ hẹp, địa hình khá đồng nhất và bằng phẳng, thấp, sự biến thiên nhiệt độ theo không gian trong tỉnh không rõ ràng.

4-Tổng nhiệt hoạt động (tổng tích ôn):

Tồng nhiệt của tỉnh thường xấp xỉ 9.800oC, so với các tỉnh trong khu vực, Cà Mau có tổng nhiệt thấp hơn (Sóc Trăng 9.813oC, Bến Tre 9.904oC, An Giang 9.910oC, Kiên Giang 10.044oC). Từ tháng 3 đến tháng 10 có tổng nhiệt lớn hơn 800oC. Từ tháng 11 đến tháng 12 năm sau tổng nhiệt thường nhỏ hơn 800oC. Tháng có tổng nhiệt lớn nhất là tháng 5 (868oC), thấp nhất là tháng 2 (722,4oC). Với tổng nhiệt năm trên, Cà Mau có thể phát triển được 3 vụ cây trồng nhiệt đới trong năm.

5-Nhiệt độ đất:

Nhiệt độ đất trung bình năm thường biến thiên trong khoảng từ 29 đến 30oC. Những tháng 2, 3, 4, 5 thường trên 30oC. Tháng có nhiệt độ trung bình cao nhất là tháng 4 (32,5oC) tháng có nhiệt độ cao nhất tuyệt đối (tháng5) lên tới 68oC. Từ tháng 6 đến tháng 1 năm sau, nhiệt độ đất thường xê dịch trong khoảng 28o5 đến 28o7, nhiệt độ trung bình thấp nhất rơi vào tháng 1 (21o1), nhiệt độ thấp nhất tuyện đối 16o9 (vào tháng 1/1963).

Biên độ nhiệt đất lúc thấp nhất và cao nhất tuyệt đối lên đến 51,1oC.

 

II-CHẾ ĐỘ ẨM:

Cà Mau có lượng mưa lớn nhất trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Lương mưa trung bình năm khoảng 2.400 mm (Cà Mau 2.390). Mưa của tỉnh theo mùa, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11. Lượng mưa trong mùa mưa thường chiếm 90 – 93% lượng mưa cả năm. Mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau. Lượng mưa trong mùa khô không đáng kể, chủ yếu diễn ra trong thời kỳ chuyển tiếp. Chiếm từ 7 đến 10% lượng mưa cả năm. Thời gian mùa mưa khoảng từ 180 đến 200 ngày. Thời gian mùa khô khoảng từ 140 đến 160 ngày. Thời gian chuyển tiếp từ mưa qua khô khoảng 13 ngày chủ yếu cuối tháng 11, đầu tháng 12. Mưa của Cà Mau thường diễn ra theo đợt. Trong mùa mưa thường có 5 đến 7 đợt mưa gắn liền với thời kỳ diện hội tụ nhiệt đới hoạt động trong khu vực hoặc thời kỳ xuất hiện các áp thấp trên biển Đông và đang di chuyển vào đất liền. Mỗi đợt mưa có thể kéo dài từ 10 đến 25 ngày, lượng mưa mỗi đợt thường từ 150 đến 250 mm. Khác với một số tỉnh (Bạc Liêu, Sóc Trăng...) Cà Mau ít xuất hiện “hạn Bà chằng”.

Lượng mưa phân phối không đều theo các vùng trong tỉnh, giảm dần từ Tây sang Đông. Khu vực ven biển Tây thường có lượng mưa lớn hơn 2.400 mm, vùng trung tâm khoảng từ 2.200 đến 2.400mm, khu vực phía Đông có lượng mưa nhỏ hơn 2.200 mm, (bộ phận của tỉnh giáp Bạc Liêu, thuộc Đầm Dơi có lượng mưa nhỏ hơn 2.200 mm). Thời gian mùa mưa, số ngày mưa và số giờ mưa cũng giảm dần từ Tây sang Đông.

Lượng bốc hơi trung bình của tỉnh trên dưới 1.000 mm/năm. Những tháng mùa mưa lượng bốc hơi thường nhỏ hơn 80 mm/tháng, thấp nhất vào tháng 10 (58 mm/tháng). Những tháng mùa khô lượng bốc hơi cao thường trên 100 mm/tháng. Tháng có lượng bốc hơi cao nhất: tháng 3 (126 mm/tháng), trung bình ngày hơn 4 mm.

Độ ẩm tương đối của lớp không khí tầng thấp nhìn chung cao. Độ ẩm tương đối trung bình năm tại Cà Mau là 84.4%. Những tháng vào mùa khô có độ ẩm tương đối thấp.

 

III-CHẾ ĐỘ GIÓ:

Hoàn lưu khí quyển tầng thấp đã xác lập chế độ gió của tỉnh, một điều lý thú là hướng gió ở đây hoàn toàn không chịu sự chi phối của yếu tố địa hình. Chế độ hoàn lưu mùa đã quyết định chế độ gió.

+Gió mùa hạ: Từ tháng 6 đến tháng 9, hướng gió ưu thế là Tây và Tây Nam với tần suất gần tương đương. Hai hướng gió Tây và Tây Nam chiếm từ 70 đến 90%, số thời gian có gió trong những tháng mùa hạ. Hướng gió chính này hoàn toàn phù hợp với sự có mặt của khối TBg hoặc EM (Tây bengan và khối khí xích đạo). Ngoài Tây và Tay Nam còn xuất hiện gió nam với tần suất từ 7 đến 12%, gió Tây Bắc từ 5 đến 7%. Những gió có thành phần đông chiếm một tần suất không đáng kể.

+Gió mùa đông: Từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, hướng gió thịnh hành vào mùa này là gió đông. Tần suất trung bình là 43%. Riêng những tháng 1, 2, 3, gió đông chiếm từ 50 đến hơn 60%. Bên cạnh hướng gió chính này còn có gió đông bắc (tháng 11, 12) với tần suất hơn 30%, gió đông nam (vào những tháng 2, 3, 4) với tần suất từ 23 đến 33%, gió bắc (tháng11, 12) hơn 20%. Gió có thành phần tây có tần suất không đáng kể (tháng11) 6,4%. Những tháng chuyển tiếp giữa chế độ gió mùa hạ và chế độ gió mùa đông là tháng 5 xuất hiện gió tây nam 59%, gió đông và bắc 41%. Tháng chuyển tiếp từ chế độ gió mùa hạ đến chế độ gió mùa đông là tháng 10. Ngoài ra còn xuất hiện hướng gió có thành phần bắc 20% thành phần nam 13%.

Ngoài chế độ gió do hoàn lưu trong khu vực lớn, Cà Mau còn có chế độ gió địa phương: gió đất, gió biển do sự chênh lệnh về khí áp giữa lục địa và biển trong ngày. Gió địa phương ở ven biển hoạt động khá mạnh giữa thời gian chuyển tiếp ngày và đêm hoặc thời kỳ chuyển tiếp mùa.

Vận tốc gió trung bình từ 1,5 đến 2m / giây. Những tháng gió có vận tốc lớn là tháng 2, 3. Thời gian gió thổi mạnh nhất 13 giờ, ở vùng ven biển có thể có tốc độ trung bình hơn 3m /giây. Những ngày lặng gió trong năm chiếm khoảng 30%.

 

IV-CÁC HIỆN TƯỢNG THỜI TIẾT ĐẶC BIỆT:

1-Dông:

Ngoài chế độ gió mùa, Cà Mau còn có nhiều ngày có dông, gió mạnh từ cấp 7, 8 thậm chí tới cấp 10, 11, ảnh hưởng không nhỏ tới sản xuất và sinh hoạt. Mùa dông từ tháng 4 đến tháng 10. Hai cực đại thường xảy ra vào tháng 5 và tháng 8 phù hợp với thời kỳ khối TBg thịnh hành trong khi nhiệt độ mặt đất còn cao và thời kỳ CIT (điện hội tụ nhiệt đới) hoạt động với các xoáy áp thấp được hình thành trên dải này. dông nhiệt thường xuất hiện vào buổi trưa hay buổi chiều, cũng có trường hợp xuất hiện  ban đêm. Nó thường kèm theo sấm sét và mưa lớn, gió giật có thể tới 40m/ giây.

Cà Mau còn xuất hiện  vòi rồng với gió xoáy cực mạnh có thể tới 100m/ giây, gây thiệt hại lớn cho những vùng nó đi qua. Vòi rồng thường xuất hiện vào đầu mùa mưa và mỗi năm thường xuất hiện 3 đến 5 lần.

2-Bão:

Dải hội tụ nội tuyến CIT hoạt động thường gắn liền với sự xuất hiện bão trên biển đông. Tần suất bão đổ bộ vào duyên hải Việt Nam trung bình mỗi năm 3,74 lần. Song đổ bộ vào Nam bộ chỉ 0,15 lần (bằng 4% cả nước). Bão vào Nam bộ thường trong 2 tháng 11 và 12. Vào thời kỳ này đã có xâm nhập cuả Tp hoặc Tm (khối khí tín phong, khối khí chí tuyến) nên dễ bị lấp đầy, bão thuờng yếu hoặc tan. Cơn bão số 5 (Linda) đổ bộ vào Bạc Liêu, Cà Mau ngày 02/ 11/ 1997 là cơn bão thế kỷ ( cơn bão trước đó vào năm 1904 ). Tuy sức gió không mạnh (cấp 10 đến 11) nhưng đã gây thiệt hại cực kỳ to lớn về người và của. Số người chết 128, số người mất tích 1.164, số người bị thương 601, số nhà sập 84.059. diện tích lúa bị ảnh hưởng 79.072 ha, diện tích nuôi trồng thủy sản bị ảnh hưởng 94.758 ha. Tổng giá trị thiệt hại 2.712 tỷ đồng. Nhiều cơn bão tuy không đổ bộ trực tiếp vào địa phương, nhưng mỗi khi xuất hiện trên Biển Đông hoặc đổ bộ và các vùng khác của nước ta thì Cà Mau thường có mưa.

Câu hỏi:

1-Khí hậu và thời tiết ở Cà Mau có đặc điểm gì ?

2-Chế độ nhiệt ẩm, gió ở Cà Mau có đặc điểm gì ?

3-Nêu vài hiện tượng thời tiết đặc biệt ở Cà Mau ?

4-Thực hành: Cho học sinh  ghi nhật ký về diễn biến tời tiết của địa phương thời gian 1 tháng và có nhận xét ?

5-Tổ chức cho học sinh đi tham quan đài khí tượng thủy văn ở địa phương (nơi gần trường nhất)?

6-Việc phòng, chống lụt, bão ở địa phương như thế nào ? Hãy thử lập kế hoạch phòng, chống lụt, bão nơi học sinh cư trú ?

 

KHÍ TƯỢNG VÀ THỦY VĂN TỈNH CÀ MAU

 

Tháng

Nhiệt độ trung bình các tháng trong năm

(Đơn vị tính : Độ C)

Số giờ nắng các tháng trong năm

(Đơn ví tính :Giờ)

Chỉ tiêu

1997

1998

1999

1997

1998

1999

Cả năm

27,19

27,9

27,0

2.233,3

2.232,5

1.918,5

Tháng 01

24,9

27,2

26,3

240,6

306,6

154,7

Tháng 02

26,4

27,6

26,3

180,0

250,0

183,0

Tháng 03

27,1

28,9

28,0

273,1

278,1

229,8

Tháng 04

28,3

29,8

27,7

225,7

241,8

140,8

Tháng 05

28,3

30,0

28,0

161,0

205,4

157,7

Tháng 06

28,1

28,5

27,1

162,0

145,1

137,3

Tháng 07

26,9

28,4

27,1

103,8

171,8

137,0

Tháng 08

27,4

27,9

27,2

147,1

155,1

161,3

Tháng 09

27,5

27,3

27,7

121,3

118,4

173,9

Tháng 10

27,2

26,8

27,0

163,0

85,6

134,4

Tháng 11

27,4

27,1

26,7

214,9

146,5

141,0

Tháng 12

27,0

25,8

25,1

240,8

128,1

167,6

 

 

Tháng

Độ ẩm trung bình các tháng trong năm

(Đơn vị tính : %)

Lượng mưa các tháng trong năm

(Đơn ví tính :mm)

Chỉ tiêu

1997

1998

1999

1997

1998

1999

Cả năm

83,3

81,25

83,6

2.547,9

2.595,7

3.459,7

Tháng 01

81,0

78,0

82,0

0,1

0,0

115,6

Tháng 02

82,0

78,0

79,0

56,8

0,0

61,7

Tháng 03

78,0

73,0

80,0

28,1

0,0

77,5

Tháng 04

78,0

73,0

86,0

144,7

9,0

446,5

Tháng 05

82,0

77,0

83,0

262,0

82,6

262,2

Tháng 06

84,0

83,0

86,0

337,4

285,4

496,2

Tháng 07

89,0

83,0

86,0

441,2

271,0

406,6

Tháng 08

87,0

85,0

86,0

401,9

354,8

321,1

Tháng 09

87,0

87,0

84,0

321,5

420,4

197,6

Tháng 10

88,0

89,0

86,0

323,0

748,7

475,4

Tháng 11

83,0

85,0

86,0

223,3

286,5

320,6

Tháng 12

80,0

84,0

79,0

7,9

137,3

223,3

 

 

 

Tháng

Độ ẩm trung bình các tháng trong năm

(Đơn vị tính : %)

Lượng mưa các tháng trong năm

(Đơn ví tính :mm)

Chỉ tiêu

1997

1998

1999

1997

1998

1999

Cả năm

83,3

81,25

83,6

2.547,9

2.595,7

3.459,7

Tháng 01

81,0

78,0

82,0

0,1

0,0

115,6

Tháng 02

82,0

78,0

79,0

56,8

0,0

61,7

Tháng 03

78,0

73,0

80,0

28,1

0,0

77,5

Tháng 04

78,0

73,0

86,0

144,7

9,0

446,5

Tháng 05

82,0

77,0

83,0

262,0

82,6

262,2

Tháng 06

84,0

83,0

86,0

337,4

285,4

496,2

Tháng 07

89,0

83,0

86,0

441,2

271,0

406,6

Tháng 08

87,0

85,0

86,0

401,9

354,8

321,1

Tháng 09

87,0

87,0

84,0

321,5

420,4

197,6

Tháng 10

88,0

89,0

86,0

323,0

748,7

475,4

Tháng 11

83,0

85,0

86,0

223,3

286,5

320,6

Tháng 12

80,0

84,0

79,0

7,9

137,3

223,3

 

(THEO NIÊN GIÁM THỐNG KÊ CÀ MAU NĂM 1999)

CÓ BIỂU ĐỒ LƯỢNG MƯA QUA CÁC NĂM KÈM THEO

 

 

 

Bài 4:

BIỂN, SÔNG, RẠCH, NƯỚC NGẦM Ở CÀ MAU

 

1-Biển và bờ biển:

Cà Mau tiếp giáp 2 biển. Mặt tây giáp vịnh Thái Lan (biển Tây), có đường bờ 145 km, có nhiều cửa sông đổ ra biển: cửa Khánh Hội (U Minh), Sông Đốc (Trần Văn Thời), Mỹ Bình (Cái Nước), Bảy Háp, Ông Trang (Ngọc Hiển)... Đường bờ biển thẳng, biển nông, bồi tụ và lở ít, riêng phía nam từ Bảy Háp đến Đất Mũi bồi nhanh. Biển Tây có chế độ nhật triều không đều, biên triều nhỏ, thường nhỏ hơn 1 mét. Đây là vùng biển có nhiều ngư trường lớn được khai thác mạnh vào mùa gió bắc.

Mặt Đông Nam và Nam tiếp giáp biển Đông với đoạn bờ từ Gành Hào đến Rạch Gốc đang diển ra quá trình sụp lở. Từ Rạch Gốc đến Đất Mũi đang trong quá trình bồi tụ. Với chiều dài 106 km, có một số sông lớn đổ ra :cửa Gành Hào, Bồ Đề, Hố Gùi...

Biển Đông có chế độ bán nhật triều không đều, biên triều lớn trung bình khoảng 2,9 m, lớn nhất có thể đến 4,1 m. Đây là vùng biển có nhiều ngư trường lớn và thường được khai thác mạnh vào mùa gió nam. Biển nông, bãi biển thoải, đường đẳng sâu 6m – 10m, mở rộng cách bờ 20 – 30 km. Phần lớn biển không sâu quá 50 m, độ mặn trung bình khoảng 34%o.

2-Hệ thống sông, rạch:

Tổng chiều dài hệ thống sông, rạch của tỉnh khoảng 7 ngàn km, mật độ trung bình 1,34 km/km2 với tổng diện tích 15 ngàn 756 ha, chiếm 3,02% diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh.

*Các hệ thống sông lớn:

Sông đổ ra biển Tây: có sông Bảy Háp dài hơn 50 km nối sông Gành Hào với cửa Bảy Háp; sông Cửa Lớn nối hai cửa Bồ Đề và Ông Trang dài 58 km, rộng trung bình 200 m; sông Ông Đốc từ ngã ba Tắc Thủ cửa Ông Đốc dài hơn 60 km, lòng rộng hơn 100 m, sâu 3 đến 4 m; sông Cái Tàu dài 43 km, rộng 50 m, từ ngã ba Tắc Thủ đổ ra cửa Tiểu Dừa; sông Trẹm từ ngả ba Cái Tàu chạy theo hướng Bắc qua huyện Thới Bình đổ về Kiên Giang, phần thuộc Cà Mau dài 36 km, rộng khoảng 50 m, sông Đồng Cùng dài khoảng 36 km đổ ra cửa Mỹ Bình; sông Bạch Ngưu từ ngã ba Tắc Thủ tới ngã ba Đình Kiên Giang với chiều dài 72 km, phần trên đất Cà Mau khoảng 30 km, rộng từ 30 đến 40 m, sâu từ 2,5 đến 3 m.

Sông đổ ra biển Đông: có sông Mương Điều từ Gành Hào qua Đầm Dơi gặp sông Đầm Dơi đổ vào sông Cửa Lớn với chiều dài 45 km, sâu từ 5 đến 6 m, rộng 80 m; sông Gành Hào từ ngã ba Tắc Thủ đổ ra cửa Gành Hào dài 56 km, rộng từ 60 đến 100 m, sâu từ 4 đến 5 m, cửa Gành Hào rộng 300 m, sâu 19 m.

Ngoài ra còn có nhiều sông rạch nối các hệ thống sông trên.

Do ảnh hưởng của biển, hầu hết hệ thống sông, rạch có vai trò như những lạch chuyền triều. Chế độ nước của các dòng sông phụ thuộc vào chế độ triều và chế độ mưa. Chất lượng nước trong các hệ thống dòng chảy tuỳ thuộc vị trí gần hay xa biển, mùa mưa hay mùa khô. Mùa khô độ mặn nước sông cao, đầu mùa mưa vùng xa biển có độ pH thấp. Hệ thống sông biển Đông (sông đổ ra biển Đông), biên độ mực nước lớn, tốc độ chuyền triều nhanh. Khu vực sông biển Tây biên độ mực nước nhỏ, tốc độ chuyền triều chậm. Ngoài chịu ảnh hưởng của chế độ triều ngày, hệ thống sông, rạch Cà Mau còn chịu ảnh hưởng đến chế độ triều tháng. Mỗi tháng có hai kỳ triều cường, nước sông lên rất cao và xuống rất thấp vào những ngày 15, 16 và ngày 1, 2, 3, âm lịch. Hệ thống sông, rạch của tỉnh không có lũ lớn, nhưng khi mưa lớn vào ngày triều cường, mực nước sông vẫn có thể dâng cao tràn vào đồng ruộng. Mực nước lũ cao nhất có thể cao hơn ruộng 1 m. Song lũ rút rất nhanh. Khu vực đông bắc tỉnh có chịu ảnh hưởng của lũ sông Hậu vào mùa mưa nhưng không đáng kể, độ mặn nước sông xuống thấp độ PH thấp.

Sông, rạch của tỉnh có vị trí quan trọng trong giao thông và phát triển kinh tế. Đặc biệt, thuận lợi đối với vùng nông thôn sâu, nơi chưa phát triển vận tải bộ. Sông, rạch còn là nơi cung cấp nguồn thuỷ sản rất đáng kể. Ngoài hệ thống kinh rạch, Cà Mau còn có nhiều hồ, đầm. Những đầm nước mặn ở ven sông, biển được giữ nước để nuôi trồng thuỷ sản. Đó là những đầm nhân tạo. Đầm tự nhiên rộng lớn nhất là đầm Bà Tường (Cái Nước) chiều dài 7 km, rộng 1 đến 2 m. Ngoài việc cung cấp nguồn thuỷ sản, tương lai trở thành điểm du lịch của tỉnh.

3-Nước ngầm:

Đây là nguồn quan trọng cung cấp nước ngọt cho sinh hoạt và sản xuất của tỉnh trong mùa khô. Những năm gần đây, nguồn nước ngầm được khai thác chủ yếu từ phức hệ trầm tích Pleistôxen (Q1 – Q3). Tầng này thường ở độ sâu từ 70 đến 170 m. Chất lượng nước khá, thành phần muối hòa tan chủ yếu ClHCO3, NaMgCaSO4 với độ khoáng hoá từ 0,5 đến 1%o. Tuy nhiên cũng có những ô nhiễm mặn cục bộ như ở Đầm Dơi, Ngọc Hiển độ khoáng hoá có thể hơn 2%o. Ngoài tầng nước được khai thác phổ biến trên, Cà Mau còn có các phức hệ chứa nước trong các trầm tích Plioxen ở độ sâu 180 – 230 m, phức hệ chứa nước trong các trầm tích Mioxen ở độ sâu 280 – 350 m, có khi tới độ sâu 450 m. Song việc khai thác các tầng nước trên sẽ tốn kém và hiệu quả kinh tế không cao mặc dầu chất lượng nước tốt hơn.

Câu hỏi:

1-Biển và bờ biển phía Đông và phía Tây của Cà Mau có đặc điểm gì ?

2-Hệ thống sông, rạch ở Cà Mau có đặc điểm gì ?

3-Hãy tìm hiểu và nêu một số đặc điểm của một số con sông lớn trong tỉnh mà em biết ?

4-Thực hành : Cho học sinh quan sát, ghi chép về chế độ nước trong một đoạn sông, rạch nơi học sinh cư trú.

 

 

 

Bài 5:

ĐẤT TRỒNG Ở CÀ MAU

 

 

Là khu vực có lịch sử thành tạo trẻ, đất Cà Mau rất giàu khoáng tự nhiên và mùn, vật liệu bồi tụ phần lớn giàu sét và cát mịn. Thành phần cơ giới chủ yếu là đất thịt nặng. Ngoài nhân tố lịch sử thành tạo, nhiều nhân tố khác đồng thời tác động đến việc hình thành đất Cà Mau. Nhân tố quan trọng nhất sau đó là biển, thông qua hệ thống lạch chuyền triều đã làm cho một diện tích lớn của tỉnh bị nhiễm mặn. Tiếp đó là nhân tố địa hình, khí hậu, sinh vật đã tham gia tích cực trong việc hình thành đất phèn, đất than bùn phèn và sau cùng là nhân tố con người.

Đất Cà Mau có thể chia thành 4 nhóm chính: nhóm đất mặn, nhóm đất phèn, nhóm đất than bùn, nhóm đất bãi bồi.

1-Nhóm đất mặn:

Có diện tích 150.278 ha, chiếm 28,84% diện tích toàn tỉnh, trong đó chủ yếu là đất mặn trung bình 82.351 ha, đất mặn ít 57.987 ha, đất mặn nhiều 3.295 ha và đất mặn dưới rừng ngập mặn 6.645 ha. Đất mặn ít là loại đất thuận lợi nhất cho phát triển trồng trọt, được phân bố ở Cái Nước (12.699 ha), Thới Bình (11.608 ha), U Minh (11.773 ha), Thành phố Cà Mau (11.608 ha), Trần Văn Thời (9.131 ha) và Đầm Dơi ( 1.093 ha ).  Riêng Ngọc Hiển không có loại đất này.

 Các đặc trưng về thổ nhưỡng của loại đất mặn ít là không xuất hiện tầng sinh phèn, độ ngập sâu từ 30 - 60 cm, thời gian ngập từ 6 đến 10 tháng. Loại đất này trước đây được sử dụng trồng lúa, nuôi cá nước ngọt, hiện nay đang có chủ trương điều chỉnh quy hoạch lại.

Nhóm đất mặn trung bình tập trung nhiều ở Đầm Dơi, Cái Nước, Trần Văn Thời. Ngoài ra còn có rải rác ở Thới Bình. Loại đất này không xuất hiện tầng sinh phèn và cũng bị ngập nước trong mùa mưa, ngập sâu từ 30 đến 60 cm. Đất mặn trung bình hiện được khai thác phát triển cây lương thực kết hợp nuôi trồng thủy sản.

 Nhóm đất mặn nhiều tập trung chủ yếu ở Đầm Dơi và Trần Văn Thời. Loại đất này có thể khai thác để canh tác một vụ lúa trong mùa mưa hoặc khai thác nuôi trồng thủy sản. Hiện nay nhóm đất này còn hoang hoá nhiều.

Nhóm đất mặn dưới rừng ngập măn tập trung nhiều ở Ngọc Hiển, ngoài ra còn có ở Trần Văn Thời, U Minh. Đây là địa bàn phát triển lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản.

2-Nhóm đất phèn:

Tổng diện tích là 334.925 ha, chiếm 64,27% diện tích toàn tỉnh. Đây là nhóm đất có nhiều hạn chế do các độc chất phèn. Ngoài ra còn do bị nhiễm mặn. Tình trạng chồng lắp hai yếu tố hạn chế phèn và mặn không chỉ là một diễn biến phức tạp về mặt hoá học mà còn gây những trở ngại lớn cho vấn đề sử dụng đất và môi trường. Nhìn chung các đất phèn có độ phì nhiêu tiềm tàng rất cao, hàm lượng hữu cơ rất giàu, hàm  lượng đạm cao, hàm lượng Kali cao, song hàm lượng lân hơi nghèo. Để khai thác được tiềm năng đất phèn cần có nước ngọt để hạ phèn. Đồng thời phải có cơ cấu mùa vụ phù hợp và giống thích nghi. Nhóm đất phèn nhiễm mặn thường xuyên chỉ có khả năng để phát triển  rừng và nuôi tôm. Trong quá trình sử dụng đất không nên thoát thủy nhiều và xới xáo nhiều. Đất phèn gồm: phèn tiềm tàng và phèn hoạt động . Đất phèn tiềm tàng có diện tích 247.039 ha (chiếm 47,4% diện tích tự nhiên toàn tỉnh) được phân bố ở các địa phương trong tỉnh. Song tập trung nhiều hơn ở Ngọc Hiển (107.295 ha), ở Đầm Dơi (38.263 ha), Cái Nước (33.441 ha), U Minh (28.306 ha). Nhóm đất phèn tiềm tàng có 8 đơn vị đất, nhiều nhất thuộc đất phèn tiềm tàng nông dưới rừng ngập măn.

Đất phèn hoạt động  có diện tích 87.886 ha, được phân bố ở nhiều địa phương trong tỉnh. Song tập trung nhiều hơn ở Thới Bình (37.968 ha), U Minh (26.948 ha). Riêng Ngọc Hiển không có loại đất này. Nhóm đất phèn hoạt động có 8 đơn vị đất. Trong đó đất phèn hoạt động nông trên phèn tiềm tàng, mặn ít chiếm diện tích lớn nhất (44.050 ha).

3-Nhóm đất than bùn:

Hiện nay còn khỏng 10.564 ha, chiếm 2,03 % diện tích tự nhiên. Loại đất này hình thành do sự tích tụ xác thực vật đã phân hủy. Tầng mùn có độ dày từ  0,3 đến 2 m. Tỷ lệ mùn ở tầng mặt thường hơn 50%. Do bị ngập úng trong mùa mưa (từ 0,6 đến 1 m) nên quá trình phân hủy xác thực vật phần lớn diễn ra trong điều kiện yếm khí, cơ sở phát sinh phèn. Hiện nay loại đất này được sử dụng trồng lúa, cây công nghiệp, rau màu. Một diện tích đáng kể vẫn đang được rừng tràm bao phủ. Đất than bùn được phân bố tập trung chủ yếu ở U Minh (6.588 ha), Trần Văn Thời (3.251 ha), Ngọc Hiển (728 ha). Nhóm đất này có 3 đơn vị đất, nhiều nhất thuộc về đất than bùn dày (25 – 50 cm) trên nền phèn tiềm tàng.

4-Nhóm đất bãi bồi:

Là nhóm đất mới được hình thành dọc theo bờ biển, với diện tích 9.507 ha, chiếm 1,82% diện tích toàn tỉnh. Đây là môi trường rất thuận lợi cho việc sinh sản và cư trú của các loài thủy sản nước mặn, đặc biệt là tôm. Đất bãi bồi tập trung chủ yếu ở Ngọc Hiển (7.632 ha), Cái Nước (1.875 ha). Diện tích đất bãi bồi ngày càng được mở rộng.

Câu hỏi:

1-Cà Mau có mấy nhóm đất chính ? Nó được phân bố ở đâu ? Sơ lược về đặc điểm hình thành và sử dụng ?

2-Thực hành cho học sinh tìm hiểu đất nước nơi học sinh cư trú và canh tác thuộc loại nhóm đất nào ?

 

 

 

Bài 6

THỰC VẬT - ĐỘNG VẬT Ở CÀ MAU

 

Giới sinh vật của Cà Mau bao gồm hệ sinh vật hoang dã và hệ sinh vật canh tác.

Sinh vật hoang dã gồm thực vật, động vật trên cạn và dưới nước.

1-Thảm thực vật hoang dã.

Thảm thực vật hoang dã của Cà Mau phong phú, đa dạng hơn so các tỉnh đồng bằng sông Cửu long. Nó bao gồm thảm rừng ngập mặn, thảm thực vật úng phèn, thảm thực vật trên vùng đất canh tác, rừng cận xích đạo gió mùa trên đất Feralit đỏ vàng...

-Rừng ngập mặn: chủ yếu tập trung ở ven biển khu vực mũi Cà Mau thuộc huyện Ngọc Hiển, thảm rừng này phát triển mạnh trở thành những cánh rừng cổ thụ nhờ lớp bồi tụ dày, màu mỡ, nhờ khí hậu xích đạo nóng ẩm quanh năm. Rừng ngập mặn Cà Mau đã có thời đứng hàng thứ hai trên thế giới vế diện tích. Hiện nay đất rừng ngập mặn của tỉnh có hơn 130 ngàn ha. Đất có rừng còn khoảng hơn 60 ngàn ha. Diện tích rừng ngập mặn ở Cà Mau giảm nhanh trong những năm gần đây chủ yếu do khai thác để phát triển nuôi trồng thủy sản. Trong khoảng 10 năm (1985 – 1995), gần 50 ngàn ha rừng ngập mặn của tỉnh đã bị phá trụi. Rừng ngập mặn có vai trò to lớn đối với nền kinh tế cũng như môi trường tự nhiên của tỉnh. Việc bảo vệ rừng ngập mặn ven biển là rất cần thiết.

-Thảm thực vật úng phèn: là thảm rừng hỗn giao được hình thành trên địa bàn ngập úng trong mùa mưa. Thời gian ngập từ 4 đến 5 tháng, bắt đầu từ tháng 7, tháng 8 đến tháng 12, tháng 1 năm sau. Độ ngập sâu thường từ 0,6 đến 1 mét. Thảm rừng hỗn giao này gồm một số loài cây có số lượng ưu thế: tràm, choại, sậy, năng... Trong 7 quần hợp thực vật úng phèn có 5 quần hợp tràm chiếm ưu thế: tràm, dớn, choại trên đất than bùn; tràm sậy trên đất sét; tràm, năng trên vùng trũng, phèn nhiều. Diện tích rừng tràm của tỉnh là hơn 35 ngàn ha. Rừng tràm cũng có những biến động lớn về diện tích, giảm nhiều do nạn phá rừng lấy đất canh tác, do cháy rừng. Những năm gần đây tỉnh có những giải pháp hữu hiệu khôi phục rừng tràm. Rừng tràm cũng có giá trị kinh tế to lớn không kém rừng ngập mặn. Cây tràm trưởng thành (20 đến 30 năm) có thể có đường kính 30 đến 50 cm, cao hơn 20 m. Trữ lượng gỗ trong quần hợp tràm, dớn, choại ở tuổi 15 có thể đạt tới 300 m3/ ha, gấp gần 2 lần năng suất sinh học trong rừng ngập mặn. Rừng tràm còn là chiếc nôi của hàng trăm loài động vật . Chỉ tính riêng năng suất cá tự nhiên, trung bình 1 ha mỗi năm cho 250 kg. Ngoài nguồn lợi kinh tế, rừng tràm còn có giá trị rất lớn đối với môi trường. Ở Cà Mau, các quần hợp rừng tràm trong thảm thực vật úng phèn chủ yếu tập trung ở huyện U Minh, Trần Văn Thời.

-Thảm thực vật vùng ngập nước định kỳ: gồm các loài Năng, Lát chiếm ưu thế, được phân bố ở các vùng trũng ở Thới Bình, Cà Mau. Đặc điểm: mùa khô nước cạn, mùa mưa nước ngập sâu từ 60 đến 80 cm, đất phèn nặng.

-Thảm thực vật trên  vùng đất canh tác: gồm nhiều quần hợp xen kẽ với cây trồng, phân tán trong khu vực canh tác dưới dạng cỏ dại, đặc trưng cho từng loại môi trường như ráng, gạc nai, lác biển... cho vùng đất mặn ít và có phèn nhiễm mặn; đồng tiền, rau má, lồng vực, cỏ chác, sam... cho vùng đất ngọt ít phèn...

-Thảm rừng cận xích đạo gió mùa trên đất Feralit đỏ vàng: được phát triển trên các đảo thuộc cụm đảo Hòn Khoai, diện tích khoảng 500 ha. Thảm rừng lá rộng này có 221 loài thực vật bậc cao thuộc 78 họ, 11 loài cây dược liệu quí hiếm và 10 loài cây mới đối với Việt Nam.

2-Hệ thực vật canh tác (hệ cây trồng):

-Năm 1998 diện tích đất gieo trồng của tỉnh hơn 350 ngàn ha. Hệ cây trồng của tỉnh rất đa dạng gồm nhiều loại cây từ lâu năm đến ngắn ngày, từ cây công nghiệp, cây lương thực đến cây ăn trái; từ cây cho hạt đến cây cho củ, quả, thân, lá... trong đó cây lương thực, cây lúa giữ vị trí hàng đầu (1998 hơn 220 ngàn ha). Dưới tác động của khoa học – công nghệ, hệ cây trồng đang có những thay đổi về cơ cấu giống, mùa vụ, diện tích năng suất, sản lượng... đáp ứng nhu cầu nội địa và tạo hàng hoá xuất khẩu.

3-Động vật:

-Động vật hoang dã: có nhiều loài với số lượng cá thể đông, địa bàn cư trú đa dạng.

-Động vật trên cạn: có thú, bò sát và hàng trăm loại khác, tập trung nhiều ở “căn cứ địa” rừng tràm, rừng ngập mặn.

-Động vật dưới nước: Cà Mau là tỉnh giàu nguồn lợi thuỷ sản, với 251 km bờ biển, gần 100 ngàn km2 vùng biển chủ quyền, trữ lượng cá nổi ước khoảng 260 ngàn tấn, cá đáy khoảng 450 ngàn tấn thuộc 661 loại, 319 giống, 138 họ. Vùng biển Cà Mau có nhiều loài có trữ lượng lớn, trữ lượng kinh tế cao như cá đường, tôm biển, cá thu, cá gộc, cá hồng, cá dứa. Biển Cà Mau có nhiều ngư trường đánh bắt cho năng suất cao, ở cả hai biển Đông và Tây đều có những bãi cá nổi và cá đáy. Ngoài biển là ngư trường lớn, Cà Mau còn có thủy vực nội địa có diện tích lớn hơn 15 ngàn ha. Trong vực nước chảy có các loài thủy sản lợ: tép đất, cá chẽm, tôm càng, cá ngát... Trong vực nước đọng có các loài cá đen: lóc, rô, trê, lươn, sặc bổi... Trữ lượng và năng suất cao.

-Động vật nuôi: có trâu, heo, gà, vịt, thuỷ sản... Trong những năm gần đây việc nuôi trồng thuỷ sản nước lợ cho giá trị kinh tế cao.

Câu hỏi:

1-Thực vật và động vật ở Cà Mau có đặc điểm gì ?

2-Cà Mau có những loại rừng nào ? phân bố ra sao ?

3-Tại sao diện tích rừng ở Cà Mau trong thời gian qua giảm nhanh ? hiện nay đã khắc phục như thế nào ?

4-Thực hành: Cho học sinh tìm, kể tên các loại động vật, thực vật ở địa phương, ở nơi học sinh cư trú mà học sinh biết ?

 

 

 

Bài 7

CÁC CẢNH QUAN TỰ NHIÊN Ở CÀ MAU

 

Thiên nhiên luôn không đồng nhất theo không gian. Ở phạm vi lãnh thổ rộng lớn, tính chất không đồng nhất thường được xác định do sự khác biệt về lịch sử địa chất, về địa hình, về khí hậu... Từ sự khác biệt căn bản của các thành phần trên dẫn đến sự khác biệt của các thành phần tự nhiên khác. Nó là cơ sở để hình thành các miền tự nhiên, các vùng tự nhiên.. Trong phạm vi lãnh thổ hẹp, không có sự khác biệt lớn của các yếu tố địa chất đại địa hình, khí hậu, cơ sở để tạo nên sự phân hóa trong tự nhiên của tỉnh chủ yếu dựa trên sự phân hóa về đất trồng, về tiểu khí hậu... Sự không đồng nhất đó là cơ sở để hình thành các tổng thể tự nhiên, cảnh quan tự nhiên của tỉnh. Sự khác biệt của các tổng thể dẫn đến sự khác biệt về tiềm năng kinh tế. Vì thế khi tiến hành khai thác, rất cần có giải pháp kinh tế kỹ thuật riêng cho từng tổng thể, từng cảnh quan.

Dựa vào các nhân tố trội tạo sự phân hoá theo không gian (đất trồng, tiểu khí hậu, chất lượng nước) Cà Mau riêng phần đất liền có thể chia thành 3 cảnh quan tự nhiên :

1-Cảnh quan trũng phèn Tây Bắc tỉnh:

Diện tích 111 ngàn 635 ha, lãnh thổ bao gồm  huyện U Minh, các xã phía Bắc huyện Thới Bình, một số xã phía Bắc huyện Trần Văn Thời. Đây là khu vực có các trũng treo (U Minh), nằm xa các lạch triều lớn, ít chịu ảnh hưởng của lũ sông Hậu, mùa mưa thường ngập sâu từ 0,6 đến 1 m, thời gian ngập kéo dài 5 – 6 tháng. Khu vực có lượng mưa lớn nhất trong tỉnh (hơn 2.400 mm/ năm). Thời gian mùa mưa kéo dài hơn (trên 200 ngày). Thời gian canh tác nhờ nước mưa có thể tới 250 ngày trong năm. Đất trồng phần lớn thuộc phèn tiềm tàng nông, mặn. Cảnh quan trũng phèn có thể chia thành 3 tiểu vùng :

-Tiểu vùng trũng phèn trên lâm phần rừng tràm: diện tích 58.180 ha với 3 loại đất chính: phèn tiềm tàng, phèn hoạt động mặn ít và than bùn phèn. Hiện nay khu vực này đang được khai thác phát triển nông nghiệp (25.528 ha), lâm nghiệp (25.127 ha). Định hướng của tỉnh là sử dụng các nguồn tài nguyên của rừng: bảo vệ nghiêm ngặt rừng tràm hiện có, trồng rừng tràm mới, kết hợp nuôi cá, nuôi ong dưới rừng tràm.

-Tiểu vùng nông lâm kết hợp: thuộc các xã ven biển, huyện U Minh, có diện tích 30.076 ha. Tiểu vùng này gồm các loại đất mặn ít, đất phèn hoạt động nông mặn, phèn tiềm tàng sâu mặn. Khu vực này đang được khai thác phát triển nông nghiệp (17.636 ha), lâm nghiệp (8.744 ha). Định hướng khai thác là sản xuất nông nghiệp kết hợp trồng tràm với nuôi cá.

-Tiểu vùng cây công nghiệp: gồm các xã phía Bắc huyện Thới Bình, diện tích 23.380 ha, với các loại đất: phèn tiềm tàng mặn và đất mặn ít. Hiện nay khu vực đang được khai thác phát triển nông nghiệp 20.775 ha, lâm nghiệp 518 ha. Định hướng sử dụng là sản xuất nông nghiệp , cây trồng chính là mía kết hợp khóm và hoa màu.

2-Cảnh quan trung tâm tỉnh:

Diện tích 214.675 ha, lãnh thổ bao gồm các xã Nam huyện Thới Bình, Nam huyện Trần Văn Thời, phần lớn huyện Cái Nước, các xã phía Tây huyện Đầm Dơi và toàn bộ Thành phố Cà Mau. Đây là khu vực có địa hình cao hơn các khu vực khác, đất phần lớn thuộc nhóm mặn trung bình và mặn ít. Khu vực này là trọng điểm kinh tế của tỉnh. Lượng mưa Trung bình hơn 2.200 mm/ nămvà giảm dần từ Tây sang Đông. khu vực phía Tây (thuộc huyện Trần Văn Thời và Cái Nước) lượng mưa tới 2.400 mm/ năm; khu vực đông Bắc Thới Bình lượng mưa còn khoảng 2.000 mm/ năm.

Cảnh quan trung tâm tỉnh chia thành 3 tiểu vùng:

-Tiểu vùng lúa 2 vụ cao sản: diện tích 79.209 ha, gồm các xã đông nam Thới Bình, đông U Minh, Trần Văn Thời và đông bắc Cái Nước, tây bắc Đầm Dơi. Tiểu vùng này có tiềm năng lớn về nông nghiệp (đất nông nghiệp 67.579 ha) chủ yếu là cây lúa 2 vụ năng suất cao kết hợp với trồng hoa màu, cây ăn trái.

-Tiểu vùng lúa một vụ cao sản và lúa – cá: diện tích 11.950 ha, gồm các xã tây Trần Văn Thời, nam Cái Nước, Đầm Dơi. Phần lớn đất canh tác trong tiểu vùng là đất mặn trung bình. Hiện nay khu vực phần lớn được khai thác phát triển nông nghiệp (90.081 ha). Định hướng của tỉnh khai thác khu vực này là lúa cao sản  một vụ kết hợp nuôi cá, trồng cây công nghiệp và cây ăn trái (dừa, chuối...).

-Tiểu vùng Cà Mau: diện tích 24.507 ha, gồm toàn bộ Thành phố Cà Mau. Đất chủ yếu là đất phèn hoạt động mặn và đất mặn ít, chủ yếu khai thác phát triển nông nghiệp (21.718 ha) và phát triển đô thị. Định hướng khai thác của tỉnh là ngoài phát triển đô thị, đất nông nghiệp được tập trung trồng lúa 2 vụ và lập “Vành đai xanh”.

3-Cảnh quan ven biển Nam và Đông Nam tỉnh:

Diện tích 168.821 ha, lãnh thổ gồm toàn bộ huyện Ngọc Hiển, một số xã phía nam huyện Cái Nước, phía Đông huyện Đầm Dơi. Đây là vùng đất thấp mới bồi ven biển phần lớn đang còn như những bãi triều thấp, ngập triều thường xuyên hoặc định kỳ. Lãnh thổ phần lớn thuộc lâm phần rừng ngập mặn của tỉnh. Đất gồm các loại đất phèn tiềm tàng nông dưới rừng ngập mặn chủ yếu thuộc huyện Ngọc Hiển, Đầm Dơi. Ngoài ra còn đất mặn dưới rừng ngập mặn  thuộc Ngọc Hiển. Thảm rừng ngập mặn chủ yếu là đước và rừng hỗn giao (đước, Mắm, giá, cóc...). Hiện nay diện tích có rừng còn ít.

Lượng mưa trung bình thường lớn hơn 2.000 mm/ năm, riêng khu vực phía Đông thuộc Đầm Dơi lượng mưa nhỏ hơn 2.000 mm/ năm. Lãnh thổ bao chiếm toàn bộ phía Đông  nam và Nam, một phần đường bờ biển phía Tây là khu vực vừa diễn ra quá trình bồi tụ (Đất mũi, Ngọc Hiển) vừa diễn ra quá trình sụt lở (cửa Bồ Đề, Hố Gùi thuộc Ngọc Hiển, Đầm Dơi).

Cảnh quan ven biển đang được khai thác phát triển nuôi trồng thủy sản và trồng rừng. Cảnh quan này được chia làm 3 tiểu vùng: tiểu vùng rừng phòng hộ ven biển, tiểu vùng rừng tôm, tiểu vùng tôm- lúa.

Câu hỏi:

1-Cảnh quan Cà Mau có những đặc điểm gì ? Tại sao lại có những đặc điểm đó ? Việc khai thác, sử dụng ra sao ?

2-Thực hành: Cho học sinh tìm hiểu về cảnh quan tự nhiên nơi học sinh cư trú có đặc điểm gì ? Đã qua và hiện nay được khai thác, sử dụng ra sao ?

 

 

 

Bài 8

ĐẶC ĐIỂM CHUNG THIÊN NHIÊN Ở CÀ MAU

 

 

Là một phần của Đồng bằng sông Cửu long, lại nằm ở vĩ độ thấp nhất, tiếp giáp với 2 biển, nên ngoài đặc điểm chung của Đồng bằng sông Cửu long, Cà Mau còn mang những nét riêng mà tỉnh khác trong khu vực không có. Chính cái chung và cái riêng ấy tạo nên đặc điểm của môi trường thiên nhiên Cà Mau.

1-Cà Mau là một tỉnh đồng bằng trẻ, phần lớn lãnh thổ mới được bồi tụ và nâng lên trong thời gian gần đây. Là vùng đất trẻ nhất của Đồng bằng sông Cửu long, lãnh thổ vẫn đang tiếp tục mở rộng. Độ cao trung bình toàn tỉnh so với mực nước biển xấp xỉ 1 mét. Biển ảnh hưởng rất sâu vào nội địa, tính chất cận xích đạo gió mùa phát huy đầy đủ đặc điểm trên phạm vi lãnh thổ toàn tỉnh.

2-Cà Mau là tỉnh điển hình của thiên nhiên cận xích đạo gió mùa. Lãnh thổ trải dài từ 8o33’ vĩ bắc tới 9o33’ vĩ bắc. Cà Mau nằm trong khu vực cận xích đạo gió mùa, quanh năm có nền nhiệt cao và ổn định, chịu ảnh hưởng của nhiều khối khí hoạt động theo mùa, nhịp điệu mùa thể hiện rất rõ trong chế độ ẩm của tỉnh. Trong năm có một mùa mưa và một mùa khô sâu sắc. Tính chất cận xích đạo gió mùa trong khí hậu chi phối và xác định tính chất của tất cả các thành phần tự nhiên trong tổng thể. Đồng thời nó cũng ảnh hưởng rất lớn đến đời sống và hoạt động sản xuất của con người.

3-Thiên nhiên Cà Mau mang tính chất bán đảo. Là một tỉnh duy nhất trong đồng bằng sông Cửu Long tiếp giáp 2 biển. Bờ biển dài bằng 7,7% tổng chiều dài bờ biển cả nước, biển ảnh hưởng toàn diện và sâu sắc tới thiên nhiên của tỉnh. Địa hình thấp, bờ biển dài, có nhiều cửa sông đổ ra biển, biên triều lớn, áp triều ảnh hưởng rất sâu vào đất liền, hầu hết các hệ thống dòng chảy đều bị nhiễm mặn và thủy chế được quyết định bởi chế độ triều biển. Ngoài phần các bãi triều ngập triều thường xuyên hay định kỳ là lâm phần rừng ngập mặn, các cánh rừng ngập mặn, lợ còn ăn sâu vào nội địa. Thủy vực cho giới động vật thủy sinh ưa mặn được mở rộng gần như trên toàn bộ hệ thống kinh, rạch trên toàn tỉnh. Biển ảnh hưởng lớn tới việc hình thành đặc điểm của đất trồng. Cả 35 đơn vị đất trồng của tỉnh đều bị nhiễm mặn. Vì thế những hoạt động kinh tế còn liên quan tới nguồn tài nguyên đất đều phải quan tâm đến đặc điểm này. Tính chất bán đảo còn ảnh hưởng tới các hoạt động của con người trong khu vực. Đồng thời đây cũng là một thế mạnh của tỉnh so với các tỉnh khu vực đồng bằng sông Cửu Long.

4-Thiên nhiên Cà Mau không đồng nhất có sự phân hóa theo không gian. sự khác biệt giữa các tổng thể tự nhiên tạo sự phân hóa lãnh tổ theo không gian. Phần đất liền của tỉnh được chia thành 3 cảnh quan tự nhiên:

-Cảnh quan trũng phèn phía Bắc tỉnh.

-Cảnh quan trung tâm tỉnh.

-Cảnh quan ven biển nam và Đông Nam tỉnh.

Mỗi cảnh quan có những đặc điểm riêng, khả năng riêng, cần được khai thác bằng những giải pháp riêng. Xác định đúng đặc điểm bản chất của từng cảnh quan, xây dựng hướng khai thác đúng, biện pháp khai thác phù hợp sẽ phát huy được tốt hơn các tiềm năng kinh tế của từng cảnh quan. Đồng thời hạn chế được nhiều hơn những tác hại do thiên nhiên gây ra.

Thiên nhiên là một thể hoàn chỉnh thống nhất. Mỗi thành phần tự nhiên là một bộ phận của cả tổng thể, nó quan hệ với nhau khắng khít, nó qui định nhau. Sự thay đổi của thành phần này sẽ dẫn đến sự thay đổi các thành phần khác và thay đổi cả tổng thể. Đồng thời mỗi thành phần tự nhiên cùng một lúc luôn chịu sự chi phối của các đặc điểm chung, đặc điểm của tổng thể khai thác tài nguyên thiên nhiên, khai thác từng thành phần hay khai thác tổng thể tự nhiên rất cần phải chú ý tới đặc điểm chung này.

Câu hỏi:

1-Thiên nhiên Cà Mau có những đặc điểm gì ? những đặc điểm có đó quan hệ với nhau như thế nào ?

2-Tại sao nói thiên nhiên Cà Mau mang tính chất bán đảo ?

 

 

 

CHƯƠNG II

ĐỊA LÝ DÂN CƯ  CÀ MAU

 

 

Bài 9

DÂN SỐ-PHÂN BỐ DÂN SỐ-GIA TĂNG DÂN SỐ

 

 

1-Cà Mau là tỉnh có dân số trung bình. Tổng số dân cuối 1999 là 1.133.747 người, đứng hàng thứ 29 trong tổng số 61 tỉnh thành, chiếm 1,5% tổng dân số cả nước. Trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long, Cà Mau có dân số đứng hàng thứ 10, mật độ dân số trung bình 218 người / km2 (1999), thấp hơn so với trung bình cả nước, bằng hơn một nửa mật độ dân số trung bình của đồng bằng sông Cửu Long. So với các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long mật độ dân số Cà Mau vào loại thấp.

Cà Mau là tỉnh “đất rộng người thưa”, nó hoàn toàn phù hợp với lịch sử khai mở đất nước.

2-Phân bố dân số của Cà Mau không đồng đều. Dân tập trung đông ở thành phố Cà Mau, ở thị trấn. Thành phố Cà Mau với diện tích 245 km2, năm 1999 có 181.526 người mật độ dân số trung bình là 741 người / km2. Trong khi mật độ dân số trung bình của các vùng nông thôn 198 người / km2. Mật độ dân số trung bình của các huyện không đồng đều. Huyện Cái Nước 290 người / km2, Trần Văn Thời  262 người / km2, trong khi đó U Minh chỉ có 108 người / km2, Ngọc Hiển 115 người / km2. So sánh giữa hai đơn vị huyện Cái Nước có mật độ dân số hơn U Minh tới 2,7 lần. Phân bố dân số ở nông thôn Cà Mau ngoài việc tập trung theo điểm quần cư thành phố, thị trấn còn tập trung theo tuyến lộ, tuyến kinh rạch.

Cà Mau có hai dạng quần cư chính: quần cư thành thị, quần cư nông thôn. Quần cư thành thị gắn với hoạt động công nghiệp chế biến, hoạt động dịch vụ (thương mại, vận tải, y tế, giáo dục, văn hóa, chính trị ...). Quần cư nông thôn thường gắn với sản xuất nông nghiệp (lúa – cá, lúa – tôm, lúa – chăn nuôi – thủ công, tôm – rừng, rừng – cá, thủy sản – dịch vụ,...).

3-Gia tăng dân số: Từ sau 1975, Cà Mau gia tăng dân số nhanh. Trước năm 1993, gia tăng trung bình hàng năm thường trên 2,5%, trong đó gia tăng tự nhiên hơn 2,2%. Từ đó năm 1996 đến nay, mức gia tăng dân số tự nhiên giảm dần: 1996 là 1,99%, 1997 là 1,92%, 1998 là 1,87%, 1999 là 1,82%. Từ trước năm 1995 gia tăng nhanh do hai nguồn: gia tăng tự nhiên và gia tăng cơ học. Gia tăng tự nhiên trong những năm gần đây giảm do tỷ lệ sinh giảm. tỷ lệ sinh toàn tỉnh năm 1997 là 24%o, 1998 là 24,04%o, năm 1999 là 23,5%o. Tỷ lệ tử của Cà Mau nhìn chung thấp thường xê dịch trong khoảng 5 đến 6%o.

Gia tăng dân số tự nhiên không đồng đều giữa các địa phương trong tỉnh. Năm 1999 thấp nhất là thành phố Cà Mau 1,74%, cao nhất là huyện Trần Văn Thời 1,89%.

Gia tăng dân số nhanh về lâu dài là nguồn bổ sung lực lượng lao động, nhưng trước mắt là gánh nặng đối với xã hội. Giải quyết việc làm cho số lao động hiện tại đã khó, lại phải lo cho gần 20 ngàn lao động trẻ bổ sung hàng năm chắc chắn là nhiều khó khăn.

Để đạt mức gia tăng dân số tự nhiên vào năm 2010 còn 1,6%, thì tỷ lệ sinh trung bình cần hạ xuống còn từ 21 – 22%o / năm. Việc hạn chế tỷ lệ sinh trong khu vực có nền kinh tế chưa phát triển, đời sống vật chất văn hóa còn thấp là rất khó, song kiên trì giáo dục, kết hợp với việc trang bị đầy đủ phương tiện dịch vụ kế hoạch hóa sẽ góp phần đáng kể giảm tỷ lệ sinh, hạ tỷ lệ gia tăng.

Câu hỏi:

1-Trình bày về tình hình phân bố và gia tăng dân số tỉnh Cà Mau ? Các giải pháp để gia tăng dân số tự nhiên ?

2-Thực hành cho học sinh tìm hiểu về tình hình dân số, phân bố dân số và sự gia tăng dân số trên địa bàn huyện (thành phố, xã, phường, thị trấn) của học sinh đang cư trú ?

 

 

Bài 10

KẾT CẤU DÂN SỐ – DÂN TỘC Ở CÀ MAU

 

1-Kết cấu dân số:

-Kết cấu theo giới: Năm 1999 tổng số dân toàn tỉnh là 1.133.747 người, nam 560.019 người, nữ 573.728 người, tỷ số giới tính 97,6% cao hơn so với trung bình cả nước. ở mỗi độ tuổi tỷ số giới tính có những đặc trưng riêng. Từ 0 tới 24 tuổi tỷ số giới tính bằng 108,1 % (cứ 100 nữ có 108,1 nam). Trong độ tuổi từ 0 đến 9 tuổi sự chênh lệch giới tính (nam nhiều hơn nữ) đáng kể:

*0 tới 4 tuổi 114,4 %.

*5 tới 9 tuổi 111,8 %.

Từ 25 tuổi trở lên, chênh lệch về giới tính phù hợp với đặc trưng chung kết cấu giới của dân số. trong tổng số 461.291 người, nam có 201.742 người, nữ có 250.819 người, tỷ số giới tính 83,9%. Trong độ tuổi từ 25 đến 29 và 30 tới 34 có tỷ số giới tính chênh lệch khá rõ rệt:

*25 tới 29 : 80,5%.

*30 tới 34 : 77,4%.

-Kết cấu giới theo địa bàn: không đồng đều

Thành phố Cà Mau :                   63,6%

Huyện Thới Bình :                      97,5%

Huyện U Minh :                      100,5%

Huyện Trần Văn Thời :               99,4%

Huyện Cái Nước :                      96,5%

Huyện Đầm Dơi :                       96,8%

Huyện Ngọc Hiển :                     98,9%

-Kết cấu lao động: năm 1999 tổng số dân trong độ tuổi lao động bằng 597.045 người, chiếm 52,45%, trong đó dưới độ tuổi lao động: 35,7% và ngoài độ tuổi lao động bằng: 11,85%. Lực lượng lao động trung bình mỗi năm tăng thêm khoảng 20.000 người.

-Kết cấu nghề nghiệp: phần lớn dân số Cà Mau hoạt động trong khu vực nông nghiệp chiếm 81,3 %, khu vực phi nông nghiệp chiếm 18,7 %. Trong khu vực phi nông nghiệp : số đông hoạt động trong các ngành dịch vụ (giáo dục, vận tải, y tế, thương mại...). Hoạt động trong khu vực công nghiệp khoảng 6%.

-Kết cấu thành thị nông thôn: phần lớn dân số của tỉnh cư trú ở nông thôn, chiếm 81,4%, thành thị 18,6%, thấp hơn so với trung bình cả nước.

-Kết cấu tôn giáo: Cà Mau có nhiều tôn giáo. Số cơ sở thờ tự toàn tỉnh là 116, trong đó đạo phật 64, Cao đài 33, Thiên chúa giáo 16, Tin lành 3. Phật giáo, Thiên chúa giáo có số tín đồ đông nhất.

-Về văn hoá, giáo dục , y tế: Toàn tỉnh Cà Mau đến năm 2000 – 2001 số cán bộ, giáo viên 11.261, học sinh 287.088. Cứ 4 người có một người đi học. Tỉnh có 2 Bệnh viện, 7 phòng khám và điều trị cấp huyện, 70 trạm ytế phường xã, gần 1.700 giường bệnh. Tỉnh có 413 Bác sĩ, tỷ lệ  0,36/ 1.000 dân.

2-Dân tộc:

Cà Mau có nhiều dân tộc cư trú: Kinh, Khơ-me, Hoa, Tày, Thái, Mường, Chăm, Nùng...Trong đó dân tộc có số dân đông là Kinh chiếm 92,2%, Khơ- me 4,1%, Hoa chiếm 3,3% tổng số dân toàn tỉnh. Người kinh cư trú ở tất cả các địa phương trong tỉnh, hoạt động kinh tế tương ứng với mỗi địa bàn nhất định. Ở vùng nội địa, người kinh gắn liền với mô hình lúa 1 đến 2 vụ kết hợp vườn, rẫy, chăn nuôi gia súc, gia cầm, nuôi cá nước ngọt, khai thác cá nước lợ, kết hợp làm một số mặt hàng thủ công. Ở thành phố, thị trấn người kinh thường hoạt động buôn bán, sản xuất công nghiệp, thủ công nghiệp, dịch vụ... ở vùng ven biển người kinh thường hoạt động nuôi thả khai thác thủy sản, mức thu nhập thường ở mức trung bình.

Người Khơ-me cư trú trên tất cả các huyện thị trong tỉnh, nhưng nhiều hơn là Trần Văn Thời, Thới Bình, Đầm Dơi. Người Khơ-me thường sống tập trung ở một số khóm, ấp riêng hoặc sống xen với người Kinh, người Hoa. Ở vùng nông thôn, người Khơ-me thường độc canh cây lúa. Thu nhập bình quân của đồng bào thường thấp.

Người Hoa cư trú ở nhiều địa bàn trong tỉnh, tập trung đông hơn là thành phố Cà Mau, Cái Nước, Trần Văn Thời, Ngọc Hiển. Hoạt động kinh tế của người Hoa thiên về buôn bán, sản xuất công nghiệp, thủ công (ở thành phố, thị trấn). Ở nông thôn người Hoa thường thâm canh lúa kết hợp với làm rẫy, chăn nuôi... thiên về sản xuất nông phẩm hàng hóa. Thu nhập của người Hoa thường là khá, số gia đình giàu nhiều.

Câu hỏi:

1-Kết cấu dân số Cà Mau có đặc điểm gì ? Hãy trình bày những đặc điểm đó ?

2-Cà Mau có những thành phần dân tộc nào ? Hãy nêu địa bàn cư trú và vai trò đóng góp của mỗi dân tộc đối với sự phát triển kinh tế của Cà Mau.

 

Chỉ tiêu

Tổng số (người)

Chia theo giới tính

Tỷ  lệ sinh  (%o)

Tỷ lệ chết  (%o)

Tỷ lệ tăng tự nhiên  (%)

Nam

Nữ

1997

1.080.314

519.502

560.812

24,47

5,29

19,20

1998

1.101.852

543.625

558.227

24,04

5,27

18,77

1999

1.123.140

553.076

569.434

23,50

5,25

18,25

 

Phân theo huyện, Thành phố.

 

Tp Cà Mau

178.894

86.500

92.394

22,46

5,00

17,46

Thới Bình

130.174

64.263

65.911

23,58

5,33

18,25

U Minh 

81.092

40.653

40.439

23,27

5,25

18,02

Trần V Thời

182.325

90.889

91.436

24,18

5,21

18,97

Cái Nước

240.804

118.242

122.562

23,25

5,17

18,08

Đầm Dơi

168.181

82.717

85.464

23,67

5,22

18,45

Ngọc Hiển

141.670

70.422

71.228

24,22

5,75

18,47

 

DÂN SỐ TRUNG BÌNH PHÂN BỐ THEO THÀNH THỊ, NÔNG THÔN VÀ NÔNG NGHIỆP, PHI NÔNG NGHIỆP

 

Chỉ tiêu

Tổng số

Thành thị

Nông thôn

Nông nghiệp

Phi nông nghiệp

1997

1.080.314

200.875

879.439

878.419

201.895

1998

1.101.852

204.880

896.972

895.923

205.970

1999

1.123.140

209.584

913.556

913.170

209.970

 

Phân theo huyện, Thành phố.

 

Tp Cà Mau

178.894

103.975

74.919

92.527

86.367

Thới Bình

130.174

10.134

120.040

113,528

16.646

U Minh

81.092

5.503

75.589

70.252

10.840

Trần V thời

182.325

36.648

145.857

159.028

23.297

Cái Nước

240.804

29.570

211.234

210.204

30.600

Đầm Dơi

168.181

6.458

161.723

146.103

22.078

Ngọc Hiển

141.670

17.476

124.194

121.528

20.142

 

(Theo Niên giám thống kê Cà Mau năm 1999)

 

 

CHƯƠNG III

ĐỊA LÝ KINH TẾ TỈNH CÀ MAU

 

 

Bài 11

ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA NỀN KINH TẾ CÀ MAU

 

Từ khi thực hiện công cuộc đổi mới, cùng với cả nước nền kinh tế Cà Mau đã có những chuyển đổi lớn, tập trung vào một số mặt cơ bản sau đây:

-Thứ nhất: hướng vào phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Những thành phần kinh tế gồm: quốc doanh, tập thể, cá thể, doanh nghiệp tư nhân và liên doanh. Hiện nay trong các thành phần kinh tế, thành phần kinh tế ngoài quốc doanh vẫn chiếm tỷ trọng lớn. Năm 1998, giá trị sản xuất nông nghiệp cá thể chiếm tỷ trọng tuyệt đối. Khu vực sản xuất công nghiệp, số cơ sở ngoài quốc doanh chiếm 98,9% giá trị sản xuất chiếm 51,3%.

-Thứ hai: nền kinh tế  Cà Mau, nhóm ngành thuộc khu vực I (nông – lâm – ngư) vẫn giữ vị trí chủ yếu. Khu vực II (công nghiệp xây dựng), khu vực III (dịch vụ) vẫn còn chiếm tỷ trọng nhỏ. Năm 1998 tỷ trọng trong cơ cấu GDP giữa 3 nhóm ngành là: 60,47%, 20,26%, 19,27%. Song điều đáng chú ý là một số năm gần đây trong cơ cấu kinh tế của tỉnh, tỷ trọng giữa các nhóm ngành đã có những chuyển dịch theo hướng ngày càng tăng cho nhóm ngành II và III, giảm nhóm ngành I. Năm 1996, nông - lâm – thủy sản 65,95%; công nghiệp và xây dựng 16,41%; dịch vụ 17,64%.

-Thứ ba: nền kinh tế Cà Mau phát triển nhanh và tương đối ổn định. Từ sau năm 1995, chỉ số phát triển GDP thường vượt 6% hàng năm. năm 1996 so với năm 1995 tăng 6,4%. Năm 1997 tăng 6% so với năm 1996. Năm 1998 tăng 8,35% so với năm 1997. Đặc biệt trong khu vực II và III tốc độ tăng trưởng thường đạt hơn 10% hàng năm. Kim ngạch xuất khẩu 1998 đạt hơn 132 triệu USD, so với năm 1996 tăng 46,3%. Bình quân đầu người (theo GDP) là 250 USD (1998), tăng khá nhanh so với các năm trước, trên mức bình quân chung của cả nước.

-Thứ tư: về phân bố kinh tế .

Cùng với những chuyển dịch cơ cấu kinh tế, sự phân bố kinh tế  của tỉnh đã có những thay đổi đáng kể: hệ thống công nghiệp - đặc biệt công nghiệp chế biến đã phát triển về các vùng nguyên liệu, vùng nông thôn sâu, Ngoài khu vực  công nghiệp tập trung tại phành phố Cà Mau, tỉnh đã phát triển thêm 7 cụm công nghiệp: Năm Căn, Sông Đốc, Khánh Hội, Gành Hào, Cái Đôi Vàm, Trí Phải, Vàm Đình. Trong nông nghiệp đã và đang hình thành những vùng nông nghiệp tập trung, vùng chuyên canh, vùng kinh tế chuyên môn hóa như: vùng nguyên liệu mía Thới Bình, vùng tôm tập trung ở Ngọc Hiển, Đầm Dơi; vùng lúa Cái Nước, Trần Văn Thời, Thới Bình, U Minh,...

Hình thành các vùng chuyên canh là dấu hiệu tốt của nền kinh tế chuyển đổi theo hướng sản xuất hàng hóa. Đồng thời nó cũng là cơ sở để khẳng định mô hình phân bổ kinh tế trong thời kỳ mới.

-Thứ năm: Tiềm năng kinh tế của tỉnh rất lớn, song hiện trạng đang còn chưa tương xứng. Nguyên nhân chính là do cơ sở hạ tầng còn thấp kém, đặc biệt đội ngũ lao động còn thiếu và yếu, nguồn vốn còn nghèo... Muốn khai thác hiệu quả cao các tiềm năng kinh tế của tỉnh cần nhanh chóng khắc phục các hạn chế trên.

Hiện nay tỉnh đang có chủ trương phân vùng, điều chỉnh quy hoạch sản xuất giai đoạn 2000 – 2010 (xem bài đọc thêm) và Trung ương có dự án đầu tư xây dựng khu công nghiệp “Khí--điện - Đạm” tại xã Khánh An, huyện U Minh. Trong tương lai nền kinh tế Cà Mau sẽ có nhiều triển vọng phát triển tốt, tốc độ tăng trưởng nhanh, cơ cấu kinh tế sẽ có nhiều biến đổi theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá...

Câu hỏi:

1-Nền kinh tế Cà Mau có đặc điểm gì ?

2-Bằng những hiểu biết của em hãy phân tích những đặc điểm đó ?

3-Triển vọng của nền kinh tế tỉnh Cà Mau trong tương lai như thế nào ?

 

 

Bài đọc thêm

PHÂN VÙNG ĐIỀU CHỈNH QUY HOẠCH SẢN XUẤT TỈNH CÀ MAU

 

Sau khi được tái lập năm 1997, kế thừa phương án quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh Minh Hải, tỉnh Cà Mau đã điều chỉnh bổ sung quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội đến năm 2010 đã được Chính phủ phê duyệt và Đảng bộ nhân dân Cà Mau thực hiện đạt hiệu quả cao. Nhìn lại việc thực hiện quy hoạch trong 3 năm qua (từ năm 1997 đến nay) về cơ bản là phù hợp, kinh tế khá, khối lượng các sản phẩm chủ yếu của tỉnh tăng nhanh, đời sống nhân dân được cải thiện... Tuy nhiên, đứng trước vận hội mới, thời cơ mới như thị trường tiêu thụ hàng thủy sản rất lớn, giá trị kinh tế cao so với các mặt hàng nông sản mà tỉnh Cà Mau lại có nhiều vùng đặc thù sinh thái thích nghi có thể bố trí quy hoạch sản xuất theo nguyện vọng của nhân dân, phù hợp với qui luật cung cầu của thị trường nên điều chỉnh lại quy hoạch sản xuất là một vấn đề bức xúc và cần thiết nhất. Dưới đây xin nêu những định hướng phát triển của việc phân vùng điều chỉnh lại quy hoạch sản xuất tỉnh Cà Mau (giai đoạn 2000 – 2010) theo qui định của UBND tỉnh.

(Bài được đăng trên báo ảnh Đất Mũi số 129 – 2000).

Về cơ bản vẫn phân chia thành 3 vùng kinh tế : kinh tế nội địa, kinh tế ven biển và kinh tế tế biển. Tuy nhiên có sự điều chỉnh về ranh giới giữa các vùng, tiểu vùng kinh tế gắn với chủ trương mở rộng vùng ngọt hóa, điều chỉnh cơ cấu sản xuất cụ thể như sau:

1-Vùng kinh tế nội địa:

Bao gồm các huyện Thới Bình, U Minh, Trần Văn Thời, Thành phố Cà Mau và phần lớn phía Bắc huyện Cái Nước.

Lấy tuyến lộ Cái Đôi Vàm – Cái Nước – Chà Là - Ngã ba Hoà Trung - Đê sông Gành Hào làm ranh giới giữa vùng kinh tế nội địa.

-Diện tích tự nhiên của vùng: 281.834 ha, chiếm 54% diện tích tự nhiên toàn tỉnh.

-Tổng số hộ dân khoảng: 143.050 hộ chiếm 63,3% tổng số hộ toàn tỉnh.

-Diện tích đang canh tác lúa: 157.540 ha (chiếm 87,5% diện tích canh tác lúa toàn tỉnh)

-Diện tích đang nuôi tôm trong vùng khoảng 18.000 ha.

-Diện tích rừng tràm: 37,579 ha (đất có rừng).

-Diện tích kinh tế nội địa được chia thành 2 tiểu vùng.

a-Tiểu vùng ngọt hóa:

Bao gồm vùng Quảng lộ Phụng Hiệp và vùng U Minh hạ (tiểu vùng phía Bắc sông Ông Đốc và phía Bắc Quốc lộ 1A Cà Mau – Bạc Liêu).

Diện tích tự nhiên của vùng ngọt hóa là 197.570 ha, bằng 70% diện tích vùng kinh tế nội địa. Diện tích đang trồng lúa hiện nay trong tiểu vùng này là 108.800 ha, bằng 60,5% diện tích canh tác lúa toàn tỉnh.

Trong tiểu vùng có khoảng 16.000 ha đất trũng, phèn nông dân đang tận dụng nuôi tôm sú.

Hướng phát triển sản xuất là nông lâm nghiệp theo hệ sinh thái ngọt ... Đây là vùng sản xuất lúa đảm bảo sản lượng lương thực trên cơ sở ngọt hóa, tăng vụ, chuyển đổi cơ cấu giống, ứng dụng công nghệ mới (công nghệ sinh học, gien...) để tăng năng suất, chất lượng lúa, giải quyết lương thực trong tỉnh và góp phần đảm bảo an ninh lương thực quốc gia.

Khôi phục bảo vệ phát triển hệ sinh thái rừng tràm theo quy hoạch 40.000 ha.

Những diện tích đang nuôi tôm nước mặn trong tiểu vùng này sẽ chuyển sang sản xuất cây con nước ngọt khi thực hiện ngăn mặn đồng bộ toàn tiểu vùng trên cơ sở Trung ương đầu tư hoàn chỉnh các công trình ngăn mặn, dẫn ngọt đầu mối có thể bố trí trồng lúa, lên liếp trồng tràm dạng thâm canh, trồng khóm và các loại cây công nghiệp khác.

 Trong tiểu vùng này ngoài phát triển lúa, cây thực phẩm, cây công nghiệp ... cần chú trọng phát huy tiềm năng kinh tế mặt nước nuôi trồng thủy sản nước ngọt như cá đồng, cá ao hồ, tôm càng xanh... bao gồm nuôi dưới rừng tràm, nuôi kết hợp trồng lúa, nuôi trong các ao hồ.

b-Tiểu vùng phát triển tổng hợp:

Bao gồm các xã Lợi An, Phong Lạc huyện Trần Văn Thời (phía Nam sông Ông Đốc) và phần Bắc huyện Cái Nước, phía Nam Thành phố Cà Mau.

-Diện tích tự nhiên: 84.265 ha, bằng 30% diện tích vùng kinh tế nội địa. Diện tích đang trồng lúa hiện nay trong tiểu vùng này là 48.740 ha, bằng 27% diện tích canh tác lúa toàn tỉnh.

Hiện có khoảng gần 2.000 ha đang nuôi tôm kết hợp trồng lúa, nuôi tôm dưới mương liếp vườn.

Định hướng phát triển của tiểu vùng là đa dạng các loại cây con theo khả năng thích nghi cụ thể của từng ô khép kín, bao gồm nuôi tôm chuyên, nuôi tôm kết hợp trồng lúa, trồng lúa kết hợp cá đồng, làm lúa cao sản ở những nơi có điều kiện, trồng cây công nghiệp (dừa)...

Đây là vùng phát triển tổng hợp, tuy nhiên việc chuyển đổi cơ cấu sản xuất ở từng diện tích cụ thể phải được quy hoạch cụ thể và thực hiện từng bước theo các dự án được cấp thẩm quyền phê duyệt mới triển khai thực hiện.

2-Vùng kinh tế ven biển:

Bao gồm địa bàn huyện Đầm Dơi, huyện Ngọc Hiển và phần phía Nam huyện Cái Nước.

-Diện tích tự nhiên của vùng: 239.266 ha, chiếm 46% diện tích tự nhiên toàn tỉnh.

-Tổng số hộ dân khoảng: 76.000 hộ, chiếm 34,7% dân số toàn tỉnh.

-Dân số khoảng 365.170 người, chiếm 32,7% dân số toàn tỉnh.

-Diện tích đang canh tác lúa 22.460 ha (chiếm 12,5% diện tích canh tác lúa toàn tỉnh).

-Diện tích đang nuôi tôm trong vùng khoảng 82.662 ha. Bao gồm huyện Ngọc Hiển 47.000 ha, Đầm Dơi 31.000 ha, Cái Nước 4.000 ha (bao gồm nuôi tôm chuyên canh thuộc các xã phía bắc huyện Ngọc Hiển, huyện Đầm Dơi nuôi ở diện tích đất trống trong rừng, nuôi dưới các kênh mương trong rừng).

-Diện tích rừng ngập mặn (có rừng): 61.152 ha.

Vùng kinh tế ven biển được chia thành 2 tiểu vùng với nhiệm vụ như sau:

a-Tiểu vùng 1:

Hướng sản xuất trọng tâm là tiểu vùng nuôi thủy sản. Bao gồm phần phía nam huyện Cái Nước (trừ lâm ngư trường Sào Lưới, huyện Đầm Dơi) và các xã phía bắc huyện Ngọc Hiển.

Diện tích tự nhiên: 119.328 ha, bằng 49,8% diện tích vùng kinh tế ven biển.

Diện tích đang nuôi tôm hiện nay trong tiểu vùng này là 38.442 ha.

Đây là vùng quy hoạch nuôi tôm, bao gồm nuôi tôm thâm canh, bán thâm canh, nuôi tôm kết hợp trồng lúa.

Hướng quy hoạch diện tích nuôi tôm thâm canh chiếm khoảng 10 – 15%

vào năm 2005 và tăng lên 25 – 30% vào năm 2010. Còn lại là nuôi quảng canh cải tiến, nuôi tôm sinh thái dưới tán rừng ngập mặn.

-Quy hoạch diện tích rừng ngập mặn 90.000 ha.

Đây cũng là tiểu vùng đầu tư phát triển các cụm kinh tế thủy sản ven biển để làm dịch vụ cho kinh tế khai thác biển là thị trường tiêu thụ lúa vùng nội địa sản xuất, địa bàn dịch vụ lao động từ vùng nội địa.

3-Vùng kinh tế ven biển:

Bao gồm các đảo và vùng lãnh hải khoảng 70.000 km2.

Nhiệm vụ khai thác thủy sản xa bờ, vận tải biển, du lịch biển gắn với bảo vệ chủ quyền an ninh vùng biển.

Việc chuyển đổi đánh bắt xa bờ phải gắn với giải quyết vốn, việc làm cho những chủ phương tiện đang khai thác ven bờ.

Hiện nay tổng số tàu của tỉnh có trên 4.600 chiếc, tổng công suất 270.000 CV, trong đó có trên 1.000 chiếc từ 45 CV trở lên.

Để tiếp tục phát triển nhanh kinh tế biển, cần đầu tư cơ sở hạ tầng dịch vụ khai thác biển như cảng cá Hòn Khoai, cảng cá Sông Đốc, cơ sở hạ tầng đảo Hòn chuối, các cụm kinh tế thủy sản ven biển Sông Đốc, Khánh Hội, Gành Hào, Cái Đôi Vàm.

 

NÔNG NGHIỆP:

Tập trung phát triển sản xuất lương thực (cây lúa) trong vùng quy hoạch ngọt hóa, duy trì mức sản lượng lương thực bằng mức kế hoạch năm 2000 (900 ngàn – 1 triệu tấn) trong một số năm đầu của quy hoạch (từ 2001 – 2005), khi chương trình ngọt hóa được đầu tư đồng bộ có thể tăng sản lượng lúa trên 1,1 – 1,2 triệu tấn. Thực hiện chuyển đổi cơ cấu giống lúa để nâng cao phẩm cao cấp, chất lượng để có thể bán được với giá tương đối tại thị trường trong nước và xuất khẩu.

 

THỦY SẢN:

Phát triển mạnh lĩnh vực nuôi trồng, trong đó nuôi bán thâm canh và thâm canh ở mô hình thích ứng với môi trường, khả năng vốn đầu tư, đồng thời vừa phát triển nuôi sinh thái (nuôi kết hợp). Chuyển đổi những diện tích lúa một vụ, kém hiệu quả sang nuôi tôm kết hợp trồng lúa.

Tuy nhiên cần chú ý tiến độ chuyển đổi phải thích ứng với khả năng đầu tư vốn cho vùng nuôi trồng, nhất là đầu tư hệ thống thủy lợi, tránh việc tự động phá đập đưa nước mặn ồ ạt vào trong lúc chưa đầu tư đồng bộ dẫn đến tôm nuôi không hiệu quả, lúa không làm được gây khó khăn cho nhân dân (tương tự như vùng phía đông huyện Đầm Dơi hồi năm 1993 – 1994), đồng thời gây biến động lớn về môi trường sinh thái.

Duy trì sản lượng khai thác hải sản sông biển theo hướng hạn chế khai thác ven bờ, phát triển đánh bắt xa bờ để hạn chế việc làm cạn kiệt nguồn lợi ven bờ.

Tiếp tục phát triển chiều sâu các nhà máy chế biến thủy sản xuất khẩu (đa dạng sản phẩm) và công nghiệp khác của địa phương. Chú trọng tăng cường sức cạnh tranh các sản phẩm, nhất là sản phẩm thủy sản xuất khẩu.

Khi dự án khí, điện, đạm được đầu tư sẽ thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn tỉnh, tăng khả năng thu hút đầu tư nước ngoài, phát triển các dịch vụ kèm theo. Chuyển cơ cấu kinh tế nông nghiệp – công nghiệp – dịch vụ sang cơ cấu công nghiệp – nông nghiệp – dịch vụ.

Đẩy mạnh khai thác du lịch sinh thái trên cơ sở khôi phục, bảo vệ và phát triển hệ sinh thái rừng ngập mặn, nhất là khu du lịch Đất Mũi – Khai Long – Hòn Khoai.

 

 

Bài 12

ĐỊA LÝ NÔNG NGHIỆP CÀ MAU

 

I-ĐẶC ĐIỂM CHUNG:

Nông nghiệp là ngành kinh tế giữ vị trí quan trọng nhất của tỉnh. Trong cơ cấu tổng sản phẩm GDP của tỉnh những năn gần đây, nông nghiệp (gồm: nông, lâm, ngư) luôn luôn chiếm hơn 60%. Năm 1998: 60,47%. Nhóm ngành này thu hút hơn 75% tổng lao động, sử dụng đất 85,6% diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh.

Nông nghiệp cung cấp nguồn lương thực thực phẩm cho nhu cầu địa phương. Trong những năm gần đây nó tham gia cung cấp nguồn nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến tạo nguồn hàng xuất khẩu quan trọng.

*Những thuận lợi và trở ngại trong phát triển nông nghiệp:

1-Điều kiện tự nhiên:

Với tổng diện tích 5.211 km2, bình quân đất tự nhiên đầu người của Cà Mau là 0,47 ha và bình quân theo lao động 0,95 ha (1998). So với các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, bình quân này vào loại cao.

Đất Cà Mau thuộc đất phù sa trẻ, giàu hàm lượng mùn, độ phì nhiêu cao, bất cứ loại đất nào cũng đều có khả năng phát triển nông nghiệp.

Khí hậu cận xích đạo gió mùa nóng và ẩm, không có mùa đông, đặc biệt rất ít bão, lũ, biển bao bọc hai mặt, hệ thống kinh rạch chằng chịt... là cơ sở cho Cà Mau phát triển nền nông nghiệp đa dạng, bền vững, qui mô lớn.

Về cả thế và lực để phát triển nông nghiệp, Cà Mau hơn hẳn các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long.

Tuy vậy, để khai thác được những tiềm năng nông nghiệp, ở bất cứ loại đất nào người dân Cà Mau cũng đều phải dày công cải tạo. Toàn bộ diện tích canh tác của tỉnh đều bị nhiễm mặn, phèn (đất mặn: 159.785 ha, đất phèn: 345.489 ha).

Mặn hoặc phèn đều không phù hợp với nhiều loại cây trồng. Đặc biệt trong điều kiện lượng ẩm (mưa) lại chia hai mùa sâu sắc, phèn hoặc mặn dễ phát triển tới tầng canh tác. Thực tiễn phát triển nông nghiệp của tỉnh đã có những mùa vụ thất thu do tính chất này của đất.

Nền nhiệt cao và ổn định tạo khả năng tăng trưởng, phát triển cây trồng nhanh, song chính nó cũng tạo điều kiện cho sinh vật có hại phát triển mạnh làm giảm năng suất cây trồng vật nuôi.

Chế độ mưa của Cà Mau không sâu sắc so với Bạc Liêu, Sóc Trăng và một số tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, nhưng thời gian mùa khô đất canh tác thiếu nước, phần lớn diện tích đất canh tác mới chỉ được khai thác trong mùa mưa, hệ số sử dụng đất còn thấp, bên cạnh đó tính chất thất thường trong chế độ mưa, các hiện tượng thời tiết đặc biệt ( giông, gió xoáy...) cũng ảnh hưởng xấu đến phát triển nông nghiệp của tỉnh.

2-Điều kiện kinh tế xã hội:

Nguồn lao động nông nghiệp dồi dào, năm 1998 tổng lao động trong khu vực nông – lâm – ngư là 416.223 người. Nguồn lao động này lại có truyền thống về sản xuất nông nghiệp, có nhiều kinh nghiệm trong trồng lúa, màu, cây công nghiệp và chăn nuôi, thủy sản. Cũng như nông dân Nam bộ, người nông dân Cà Mau sớm tiếp xúc với nền sản xuất hàng hóa, sáng tạo và năng động trong sản xuất trong chuyển đổi cơ cấu vật nuôi cây trồng. Những kinh nghiệm quí báo này kết hợp với công nghệ mới lại được khuyến khích phát triển bằng chính sách phù hợp là nguồn lực thúc đẩy nền nông nghiệp của tỉnh phát triển.

Đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho nông nghiệp trong những năm gần đây đã tăng nhanh (phân bón, xăng dầu, máy, hệ thống kinh mương, nguồn vốn, mạng lưới điện, đường xá, đội ngũ lao động kỹ thuật,...). Song so với nhu cầu phát triển nông nghiệp với qui mô lớn, hiện đại thì những đầu tư này vẫn chưa đáp ứng thỏa đáng, sản xuất nông nghiệp còn lệ thuộc nhiều vào tự nhiên, hệ số sử dụng đất còn thấp, năng suất chưa cao, chưa ổn định.

3-Tình hình phát triển:

Sản xuất nông nghiệp của tỉnh trong những năm gần đây gia tăng nhanh cả về diện tích, năng suất, sản lượng. Giá trị sản xuất lương thực, thực phẩm đều tăng: năm 1998 so với 1996 tăng gần 11%, giá trị sản xuất thủy sản tăng 25%, giá trị sản xuất lâm nghiệp tăng 98%. Đồng thời đang có sự chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, bước đầu phát triển mô hình sản xuất đa canh.

Câu hỏi:

1-Phân tích vị trí, vai trò của nền kinh tế nông nghiệp đối với sự phát triển kinh tế nói chung của Cà Mau.

2-Kinh tế nông nghiệp Cà Mau có những thuận lợi khó khăn gì ?

3-Nên những nét lớn về kết quả đã đạt được và hướng phát triển sắp tới của nền kinh tế nông nghiệp Cà Mau ?

(Bản đồ phân vùng sử dụng đất thời kỳ 1997-2010).

 

 

Bài 13

NGÀNH  TRỒNG TRỌT Ở CÀ MAU

 

Bao gồm ngành trồng trọt cây hàng năm và cây lâu năm. Tổng diện tích trồng trọt của tỉnh năm 1998 là 262.895 ha bằng 74,9% diện tích đất nông nghiệp. So với những năm trước diện tích đất trồng trọt tăng (13,4% so với năm 1995). Về giá trị sản xuất tăng 27,8% so với năm 1997.

1-Cây lương thực:

Cây lương thực chiếm vị trí quan trọng hàng đầu trong trồng trọt. Năm 1998 diện tích trồng lương thực là 224.200 ha bằng 85,3% diện tích đất trồng trọt của tỉnh và tăng 19% so với năm 1995. Cây lương thực của tỉnh gồm có: lúa, bắp, khoai lang, khoai mì. Tổng sản lượng qui thóc năm 1998 là 732.230 tấn, tăng 37,4% so với năm 1995. Sản lượng lương thực bình quân đầu người năm 1998 là 665kg. Trong những năm gần đây sản lượng lương thực bình quân đầu người luôn luôn tăng. Phân bố sản xuất lương thực không đồng đều giữa các địa phương trong tỉnh.

Trần Văn Thời, Cái Nước, Thới Bình là các huyện có diện tích và sản lượng lương thực lớn.

 

Địa phương

Diện tích lương thực (ha)

Sản lượng qui thóc (tấn)

Bình quân đầu người / kg

Toàn tỉnh

Thành phố Cà Mau

Huyện Thới Bình

Huyện U Minh

Huyện Trần Văn Thời

Huyện Cái Nước

Huyện Đầm Dơi

Huyện Ngọc Hiển 

224.200

24.606

43.665

32.797

50.580

49.993

22.381

178

 

732.330

85.836

134.528

106.494

162.508

170.715

71.572

677

665

492

1.050

1.341

906

720

435

-

 

 

a-Cây lúa:

Là cây lương thực quan trọng nhất của tỉnh, chiếm 99,5% diện tích trồng lương thực, chiếm 99,7% tổng sản lượng lương thực của tỉnh. Diện tích và sản lượng lúa trong những năm gần đây luôn tăng. Năm 1998, so với năm 1996 tăng 16.971 ha (8,2%), sản lượng lúa tăng 139.628 tấn (23,6%). Năng suất trung bình đạt 32,73 tạ/ha (1998), cao hơn so với những năm trước. Bình quân đầu người 663 kg lúa (1998). Sản xuất lúa của tỉnh hiện nay chủ yếu vẫn dựa vào nước mưa.

Cà Mau có nhiều thuận lợi hơn các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long về thời tiết là có lượng mưa lớn thời gian mưa kéo dài hơn, thời gian sử dụng nước trời cho canh tác có thể tới 250 ngày trong năm, nếu khắc phục được những hạn chế  của đất, nhiều địa phương trong tỉnh cò thể canh tác 2 vụ lúa nhờ nước mưa trong năm. Tỷ trọng các mùa vụ lúa những năm gần đây đã có thay đổi cả diện tích và sản lượng.

 

Năm

Lúa mùa

Lúa hè thu

Lúa Đông -xuân

Diện tích (ha)

Sản lượng (Tấn)

Diện tích (ha)

Sản lượng (Tấn)

Diện tích (ha)

Sản lượng (Tấn)

1996

175.656

479.408

30.451

110.992

 

 

1997

180.415

399.079

403.429

149.683

2.151

8.807

1998

159.053

507.609

54.981

210.532

9.044

11.887

 

 

Cây lúa được trồng ở hầu hết các địa phương trong tỉnh. Năm 1998, diện tích lúa tập trung nhiều hơn ở một số huyện: Trần Văn Thời 50.476 ha, Cái Nước 49.742 ha, Thới Bình 43.460 ha, U Minh 32.674 ha, Thành phố Cà Mau 24.448 ha, Đầm Dơi 22.225 ha, Ngọc Hiển 53 ha. Sản lượng lớn nhất là huyện Cái Nước 170.432 tấn, thứ hai là Trần Văn Thời 162.213 tấn.

Ngành lúa trồng ở Cà Mau cũng là ngành sản xuất hàng hóa. Với số dân hiện nay, mức tiêu thụ lương thực của tỉnh khoảng 400.000 tấn. Như vậy mỗi năm, Cà Mau có thể xuất khỏi tỉnh trên 300.000 tấn.

Định hướng phát triển cây lúa của tỉnh: duy trì diện tích canh tác lúa ở mức 180.000 ha, phấn đấu tăng nhanh diện tích lúa 2 đến 3 vụ/ năm để tới năm 2005 đạt 1,2 triệu tấn, năm 2010 đạt 1,4 triệu tấn lúa.

b-Cây hoa màu:

Hoa màu là cây lương thực phụ, chiếm 0,5% diện tích canh tác và 0,3% sản lượng lương thực của tỉnh. So với các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, tỷ trọng hoa màu của Cà Mau thấp hơn. Trong cơ cấu hoa màu lương thực của tỉnh, cây khoai mì có diện tích lớn nhất (632 ha – 1998) kế đó là khoai lang (316 ha), bắp (174 ha). Phân bố các loại cây hoa màu: khoai mì có nhiều nhất ở Cái Nước (159 ha), Cà Mau (152 ha); khoai lang có nhiều ở Cái Nước (84 ha), Thới Bình (66 ha); bắp có nhiều ở Ngọc Hiển (64 ha), Trần Văn Thời (47 ha). Ngoài các loại cây màu lương thực trên, Cà Mau còn trồng một số loại khoai: môn, mỡ, từ... ở nhiều nơi trong tỉnh để làm thực phẩm.

Các loại rau, đậu: năm 1998, diện tích 4.275 ha, hàng năm cung cấp khoảng 1.800 tấn cho nhu cầu nội địa. Rau đậu được trồng nhiều ở Trần Văn Thời ( 2.031 ha), Ngọc Hiển (773 ha).

2-Cây công nghiệp và cây ăn trái:

Diện tích 34.460 ha (1998) bằng 13,1% diện tích trồng trọt của tỉnh. Một số cây công nghiệp và cây ăn trái chính: nhiều nhất là cây dừa 21.248 ha được trồng nhiều ở Cái Nước (11.000 ha), Trần Văn Thời (4.163 ha), Đầm Dơi (2.890 ha); cây chuối có diện tích 5660 ha, được trồng nhiều ở Cái Nước (1.500 ha), Trần Văn Thời (1.468 ha), U Minh (1.349 ha); cây mía có diện tích 5.263 ha, tập trung với diện tích lớn ở Thới Bình (4.765 ha trở thành vùng nguyên liệu cho Nhà máy đường Thới Bình. Trần Văn Thời cũng là huyện trồng nhiều mía (307 ha). Ngoài ra còn trồng một số loại cây công nghiệp khác: cây lác để dệt chiếu 292 ha, có nhiều ở Thới Bình (102 ha), Đầm Dơi (96 ha), Cà Mau (62 ha); cây đay (81 ha), có nhiều ở Đầm Dơi (41 ha), Thới Bình(28 ha).

Cây công nghiệp và cây ăn trái ở Cà Mau phát triển nhằm đáp ứng nguyên liệu cho công nghiệp thực phẩm, nhiều loại được sử dụng làm thực phẩm để cải thiện bữa ăn, đồng thời nhằm tận dụng nguồn lực đất, lao động và tăng thu nhập cho nhân dân.

Câu hỏi:

1-Tình hình sản xuất lương thực và hoa màu ở Cà Mau hiện nay. Những thuận lợi, khó khăn và hướng phát triển trong thời gian tới của sản xuất lương thực, sản xuất hoa màu ở Cà Mau như thế nào ?

2- Nêu vài nét vể tình hình cây công nghiệp, cây ăn trái ở Cà Mau hiện nay.

 

 

Bài 14

ĐỊA LÝ LÂM NGHIỆP CÀ MAU

 

Cà Mau có nguồn tài nguyên rừng phong phú nhất trong các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long. Rừng ở Cà Mau có hai loại chính: rừng ngập mặn 60.176 ha, rừng tràm 35.281 ha. Trữ lượng gỗ ước tính khoảng 1.349.749 m3 (1997) trong trữ lượng gỗ thuộc rừng sản xuất là 1.134.980 m3, rừng phòng hộ là 132.222 m3, rừng đặc dụng là 82.547 m3. Biến động diện tích rừng tự nhiên của tỉnh từ 1975 đến nay giảm nhanh, ảnh hưởng xấu đến môi trường sinh thái, làm suy giảm nhiều nguồn tài nguyên. Từ thực tế trên, ngành lâm nghiệp Cà Mau trong những năm gần đây luôn thực hiện song song hai nhiệm vụ: bảo vệ tu bổ và trồng mới. Phần lớn rừng của tỉnh nằm trong sự quản lý trực tiếp của các lâm ngư trường. Hiện nay toàn tỉnh có 12 lâm ngư trường với tổng số 564 lao động, quản lý 99.592 ha lâm phần. Hiện nay số lao động hoạt động trong ngành lâm nghiệp là 8.910 người với tổng số nhân khẩu trong khu vực là 16.901 người, 3.479 hộ. Giá trị sản xuất lâm nghiệp của tỉnh năm 1998 là 235.600 triệu đồng. Năm 1998 lượng khai thác lâm sản là 92.510 m3 gỗ tròn, 395.717 Ste củi. Công tác trồng rừng, tu bổ rừng trong những năm qua có hiệu quả cao. Chỉ tính riêng 3 năm 1996 – 1998 diện tích trồng rừng tập trung đạt hơn 26.500 ha, chăm sóc 54.895 ha rừng đã có, trồng rừng phân tán trong dân hơn 122 triệu cây.

Rừng Cà Mau chủ yếu tập trung ở Ngọc Hiển (46,6% diện tích). U Minh (23,5% diện tích). Trong tổng số 12 lâm ngư trường Ngọc Hiển 06, U Minh 03.

Định hướng phát triển lâm nghiệp của từ nay đến năm 2010 là phủ xanh toàn bộ đất trống trên lâm phần, trồng đi đôi với bảo vệ hệ sinh thái ven biển, các cửa sông, bãi bồi, quy hoạch cụ thể các lọai rừng đặc trưng, phòng hộ, kinh tế. Thực hiện các dự án U Minh hạ, xây dựng khu bảo tồn thiên nhiên rừng tràm, rừng đước.

Câu hỏi:

-Nêu vài nét khái quát về thực trạng lâm nghiệp ở Cà Mau hiện nay và định hướng phát triển trong thời gian tới.

 

 

Bài 15

NGÀNH CHĂN NUÔI Ở CÀ MAU

 

 

Ngành chăn nuôi của Cà Mau cung cấp thực phẩm động vật, nguyên liệu cho công nghiệp, sức kéo cho nông nghiệp và phân bón cải tạo đất. Tỷ trọng chăn nuôi trong nông nghiệp năm 1998 là 11,1% so với trung bình cả nước, tỷ trọng chăn nuôi trong nông nghiệp của tỉnh còn rất thấp (cả nước 27%). Chăn nuôi chưa ổn định, giá trị sản xuất trong những năm 1996 (185.252 triệu đồng), năm 1997 (150.936 triệu đồng) năm 1998 (163.108 triệu đồng).

Hình thức Tổ chức chăn nuôi ở dạng gia đình. Trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi của tỉnh có những tiến bộ đã đưa vào các giống nuôi có năng suất cao, hình thành được mạng lưới trị bệnh cho gia súc, gia cầm đưa nguồn thức ăn chế biến theo phương pháp công nghiệp vào chăn nuôi. Các vật nuôi hiện nay của Cà Mau có: gia súc lớn, gia súc, gia cầm, thủy sản (sẽ nêu trong bài thủy sản).

1-Chăn nuôi gia súc lớn:

Đàn gia súc lớn của tỉnh chỉ có trâu, Đàn trâu trong những năm gần đây giảm khá nhanh, năm 1996 có 4.096 con đến năm 1998 chỉ còn 2.909 con. Nguyên nhân: máy nông nghiệp nhỏ gia tăng, đồng cỏ thu hẹp. Hiện nay Thới Bình có số lượng trâu nhiều nhất (1.133 con), Trần Văn Thời (618 con), U Minh (615 con).

2-Chăn nuôi gia súc:

Đàn gia súc của tỉnh chủ yếu là heo. Đàn heo phát triển tương đối ổn định, số lượng thường biến động trong những khoảng 200 đến 250 ngàn con. Năm 1998, đàn heo có 208.944 con. Tuy đã có  nhiều tiến bộ về kỹ thuật, nhưng một số năm gần đây dịch bệnh đã làm giảm đáng kể số lượng heo. Ở Cà Mau, phân bố đàn heo thường gắn liền với vùng trọng điểm sản xuất lương thực. Hiện nay Cái Nước có 55.068 con, Trần Văn Thời có 38.643 con.

3-Gia cầm:

Đàn gia cầm của tỉnh gồm có 2 loại vật nuôi chính là vịt, gà. Năm 1998 có 2.065.818 con (gà + vịt). Những năm gần đây đàn gia cầm phát triển khá ổn định. Mức tăng trưởng hàng năm từ 5 – 6%. Đàn gà có 1.066.164 con, đàn vịt gần 1 triệu con. Đàn gia cầm được phát triển chủ yếu ở vùng sản xuất lương thực.

Câu hỏi:

-Nêu những nét nổi bật về kết quả của ngành chăn nuôi ở Cà Mau hiện nay. Để phát triển ngành chăn nuôi trong thời gian tới Cà Mau cần phải tập trung giải quyết những vấn đề gì ?

 

 

Bài 16:

ĐỊA LÝ NGƯ NGHIỆP Ở CÀ MAU

 

1-Vị trí và tiềm năng:

Ngư nghiệp là ngành kinh tế trọng điểm của tỉnh. Năm 1998 ngành thu hút gần 100 ngàn lao động với 38 ngàn hộ, gần 200 ngàn nhân khẩu. Giá trị sản xuất bằng 34,13% và tổng sản phẩm của ngành bằng hơn 1/3 tổng sản phẩm (GDP) toàn tỉnh. Là ngành có tiềm năng lớn: diện tích ngư trường ngọt, lợ (đất liền) của tỉnh rộng hàng trăm ngàn héc ta, đất ngập nước là những bãi triều thấp hiện đang được nuôi thả thủy sản tới gần 110 ngàn héc ta, đất ngập nước định kỳ trồng lúa kết hợp thả cá, nuôi tôm khoảng 150 ngàn héc ta. Bờ biển Cà Mau dài hơn 250 km, vùng biển chủ quyền rộng gần 100 ngàn km2 là ngư trường rộng lớn và giàu có, ít tỉnh có được. Trữ lượng hải sản ước tính khoảng 320 ngàn tấn cá nổi, 530 ngàn tấn cá đáy.

2-Ngành nuôi trồng thủy sản:

Nuôi trồng thủy sản Cà Mau trở thành ngành kinh tế có thu nhập cao. Nó cung cấp nguồn thực phẩm thường xuyên và đáng kể cho nhu cầu trong tỉnh và cung cấp một phần lớn nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến thủy sản xuất khẩu. Trong những năm gần đây, nuôi trồng thủy sản tăng nhanh cả diện tích, sản lượng. Năm 1998, diện tích nuôi trồng thủy sản lên tới 161.598 ha, bằng 31% diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh. So với những năm 1996, 1997 diện tích thủy sản tăng từ 4 – 5%.

Nuôi trồng thủy sản ở tỉnh tập trung ở huyện Ngọc Hiển: 54.394 ha, bằng 33,7% diện tích nuôi trồng toàn tỉnh; Đầm Dơi: 39.668 ha, bằng 24,5%; Thới Bình: 19.950 ha, bằng 12,3% (năm 1998 ). Riêng Ngọc Hiển , ngành thủy sản thu hút hơn 60% tổng dân số và lao động của huyện. Sản lượng thủy sản nuôi trồng năm 1998 là 42.363 tấn.U Minh (12.059 tấn), Đầm Dơi (8.935 tấn), Ngọc Hiển (7.237 tấn), Trần Văn Thời (6.627 tấn) là những đơn vị có sản lượng nuôi trồng thủy sản lớn. Nuôi trồng thủy sản ở Cà Mau đa dạng về địa bàn nuôi (nuôi trong ao, đầm, kênh rạch, ruộng ngập nước, nuôi xen trong rừng ngập mặn, ngập úng, nuôi trong lồng...). Loại hình nuôi cũng phong phú (tôm sú, thẻ, càng xanh, cá chép, cá mè, cá phi, cá lóc, cá trê, cá rô, cá sặc bổi, lươn, cua, sò, ếch...). Trong cơ cấu loại hình nuôi trồng ở Cà Mau, tôm là vật nuôi quan trọng nhất. Năm 1998, diện tích nuôi tôm: 107.397 ha bằng 65,6% diện tích nuôi trồng thủy sản toàn tỉnh. Sản lượng tôm nuôi bằng 16.817 tấn. Ngọc Hiển, Đầm Dơi là 2 huyện có diện tích nuôi tôm lớn, chiếm 79% diện tích nuôi tôm của tỉnh (1998) – Ngọc Hiển: 54.383 ha, Đầm Dơi: 29.118 ha.

Hình thức nuôi tôm chủ yếu là quảng canh: quảng canh trong vùng trồng lúa 1 vụ (3.578 ha), nuôi xen trong rừng ngập mặn (13.413 ha), quảng canh trong đầm tôm ngập triều thường xuyên (bãi triều thấp nội địa, bãi triều ven biển) là 90.859 ha. Tôm sú nuôi quảng canh thường thả mật độ thưa 0,5 đến 2 con /m2. Một năm nuôi 2 vụ tôm, vụ 1 từ tháng 1 đến tháng 5 (dương lịch), vụ 2 từ tháng 7 đến tháng 12 (dương lịch). Nguồn thức ăn chủ yếu dựa vào tự nhiên. hiệu quả kinh tế của hình thức quảng canh đạt từ 5 đến 10 triệu đồng (năm/héc ta).

Trong những năm gần đây, tỉnh đã có nhiều cơ sở ương thuần hóa hoặc sinh sản nhân tạo để cung cấp nguồn tôm giống cho tỉnh.

3-Đánh bắt thủy sản:

Cà Mau có nhiều thuận lợi trong đánh bắt thủy sản. ngoài những thuận lợi của điều kiện tự nhiên, một số năm gần đây ngành đánh bắt đã được trang bị mới về hạ tầng và phương tiện. Mặc dầu năm 1997, cơn bão số 5 đã gây thiệt hại nặng cho ngành đánh bắt, năm 1998, số tàu đánh bắt đã tăng thêm gần 1.000 chiếc (55,8%). Công suất các phương tiện đánh bắt tăng thêm gần 70 ngàn CV (tăng 83,5%). Tuy vậy so với nhu cầu phát triển đánh bắt qui mô lớn, cơ sở vật chất hiện có còn thiếu - đặc biệt đối với ngành đánh bắt xa bờ.

Sản lượng đánh bắt thủy sản trong những năm gần đây luôn tăng. Năm 1998 sản lượng là 90.155 tấn tăng gần 12% so với năm 1996. Trần Văn Thời, Cái Nước, Ngọc Hiển có sản lượng đánh bắt lớn, chiếm 83% sản lượng đánh bắt toàn tỉnh. Trần Văn Thời là huyện có sản lượng đánh bắt lớn nhất: 43.540 tấn, bằng 48,3% sản lượng toàn tỉnh (1998). Hình thức đánh bắt phong phú, phương tiện đánh bắt đa dạng. Đánh bắt thủy sản nước ngọt thường sử dụng phương tiện: nò, đó, đăng, vó, lưới chụp, câu, chài... Đánh bắt thủy sản nước mặn thường sử dụng phương tiện: lưới đèn, câu, lưới, cào đôi... Thủy sản nước ngọt đánh bắt cá lóc, rô, trê, sặt, lươn, ếch... Nguồn này có thể khai thác quanh năm, nhưng mùa khô sản lượng đánh bắt nhiều hơn. U Minh, Trần Văn Thời, Cái Nước, Đầm Dơi có nguồn thủy sản ngọt lớn nhất toàn tỉnh. Thủy sản nước mặn đánh bắt quanh năm, năng suất cao hơn ở biển tây vào mùa gió đông bắc và ở biển đông vào mùa gió tây nam. Số loại có sản lượng đánh bắt cao hơn là tôm, cá nục, cá đuối, cá ngừ, nhám, khoai, mực... Riêng tôm – mặt hàng có giá trị xuất khẩu cao. Năm 1998, có sản lượng gần 21 ngàn tấn. Trần Văn Thời có sản lượng tôm đánh bắt nhiều nhất tỉnh (13.014 tấn/năm – 1998) bằng 62% toàn tỉnh.

4-Hướng phát triển:

Thủy sản là ngành kinh tế trọng điểm của tỉnh, tỷ trọng giá trị sản lượng cao, do đó việc khai thác cần đảm bảo cho phát triển bền vững. Trước hết trong nuôi trồng thủy sản việc chuyển đổi từ quảng canh qua bán thâm canh và thâm canh là cần thiết. Thâm canh trong nuôi thả thủy sản trước hết là chủ động nguồn giống – dự kiến đến năm 2010, hoàn thành xây dựng 2 trung tâm giống thủy sản ngọt và lợ – tạo giống tốt, phù hợp địa phương, có năng suất cao. Thứ hai: chủ động nguồn thức ăn và thức ăn phù hợp với vật nuôi. Thứ 3: phải chú trọng trị bệnh cho vật nuôi. Thứ 4: quy hoạch các đầm nuôi đạt các chuẩn nuôi trồng. Thứ 5: cần kết hợp cân đối nuôi thả, khai thác, vận chuyển, bảo quản và chế biến.

Mặt khác trong nuôi trồng cần đa dạng hóa giống nuôi, địa bàn nuôi,  nhằm khai thác hiệu quả các tiềm năng tự nhiên và lao động, tăng sản phẩm cho xã hội, thu nhập cho nhân dân. Đa dạng hóa cần gắn liền với việc nhân rộng mô hình VAC. Để tạo khối lượng hàng hóa thủy sản lớn cần hình thành các vùng chuyên canh. Định hướng phát triển ngành thủy sản trong những năm tới của Cà Mau là tập chung chỉ đạo thực hiện các biện pháp thâm canh, cải tạo khu vực nuôi tôm, quy hoạch hệ thống thủy lợi kênh trục cấp thoát nước, tiến hành nuôi tôm công nghiệp thí điểm ở một số nơi, từng bước phát triển nghề nuôi tôm theo hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa (báo cáo: tình hình thực hiện nhiệm vụ kinh tế – xã hội năm 1999 và phương hướng nhiệm vụ năm 2000 – của UBND tỉnh).

Về hướng phát triển đánh bắt: tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, nâng cao năng lượng đánh bắt, củng cố phát triển ngành đánh bắt xa bờ, năm 2000, đội tàu đánh bắt của tỉnh có 4.350 chiếc, công suất 260.000 CV. Để khai thác hiệu quả tiềm năng kinh tế biển, đội tàu đánh bắt cần được tăng cường cả lượng và chất.

Câu hỏi:

1-Phân tích những nét lớn về tiềm năng ngành khai thác ngư nghiệp của Cà Mau. Tiềm năng đó được khai thác trong những năm qua như thế nào ?

2-Nêu những định hướng lớn về phát triển ngư nghiệp ở Cà Mau trong thời gian tới.

 

 

Bài đọc thêm

CHẾ BIẾN THỦY SẢN NHÌN TỪ KHAI THÁC – NUÔI  TRỒNG VÀ XUẤT KHẨU

 

Ngày 22/05/2000, lần đầu tiên UBND tỉnh Cà Mau phối hợp với ngành thủy sản tổ chức hội nghị “kinh tế thủy sản”. Hội nghị có sự tham dự của lãnh đạo 7 huyện, thành phố, chủ tịch các xã ven biển, các vùng nuôi trồng thủy sản. Có thể xem đây là hội nghị có qui mô lớn nhất từ trước đến nay. Nó qui mô ở chỗ, tại hội nghị này, nhiều bản tham luận, nhiều ý kiến đóng góp cho ngành thủy sản của các đại biểu có giá trị. Đặc biệt, những khó khăn vướng mắc của ngành trong thời gian qua đều được đem ra mổ xẻ một cách cặn kẽ với mục đích là tìm ra một hướng đi thích hợp nhất để phát triển ngành thủy sản trong thời gian tới. Một trong những vấn đề đại biểu quan tâm tại hội nghị là chế biến thủy sản , nhìn từ khai thác – nuôi trồng và xuất khẩu.

Con số mới đây mà ngành thủy sản đưa ra cho thấy: Cà Mau hiện có 19 nhà máy chế biến thủy sản, trong đó có 15 nhà máy chế biến đông lạnh, 2 nhà máy chả cá, 2 nhà máy bột cá. theo thống kê toàn tỉnh có 60 thiết bị đông lạnh, có 7 băng chuyền IQF dạng phẳng, chiếm 11%, 53 thiết bị đông Block, chiếm 89%. Tủ đông Block ở Cà Mau được xem là tủ lạc hậu nhất. Do vậy, chi phí vận hành cao, hiệu quả đạt rất thấp. Trong khi đó 89% tủ đông Block là sản xuất tôm sơ chế, chỉ có 9% là sản xuất hàng giá trị gia tăng. Tổng công suất hiện có của tỉnh là 4.300 tấn/năm. Điều này cho thấy, để có thiết bị hiện đại, phù hợp với điều kiện sản xuất cũng như khả năng sử dụng là vấn đề bức xúc nhất đối với các doanh nghiệp hiện nay.

Tuy nhiên cũng phải thừa nhận rằng, thời gian qua, ngành thủy sản Cà Mau cũng có một bước đột phá lớn về chế biến thủy sản: nếu như năm 1978, 100% sản phẩm thủy sản là đông Block thì sau 21 năm, tỷ lệ này là 91% (9% còn lại được sản xuất hàng giá trị gia tăng). Từ 1 – 2 tấn thủy sản được chế biến năm 1978, đến nay đã sản xuất được 48.000 tấn, từ vài triệu USD đến nay con số này là 145 triệu USD. Từ 2 nhà máy năm 1978, đến nay tăng lên 19 nhà máy. Kim ngạch sản xuất có mức tăng trưởng tương đối cao. Chỉ tính đến cuối tháng 06/2000, toàn tỉnh đã khai thác được 157.000 tấn thủy sản, tăng 80% so cùng kỳ. Riêng tôm hơn 24 ngàn tấn. Chế biến thủy sản xuất khẩu 17.585 tấn với giá trị kim ngạch 109 triệu USD. Năm 2000, dự kiến sẽ đạt 156 triệu USD, tăng 8% so với năm 1999. Xuất khẩu thủy sản đã trở thành động lực để ngành này phát triển một cách nhảy vọt, về tiềm năng khai thác thủy sản. Nếu như năm 1993, Cà Mau có 2.345 chiếc tàu, với tổng công suất 54.704 CV, trong đó có 49 tàu đánh bắt xa bờ, thì đến nay con số này đã lên đến 4.350 chiếc, 260.000 CV, với gần 1.000 tàu có khả năng đánh bắt xa bờ, giải quyết công ăn việc làm cho hàng ngàn lao động.

Đi đôi với đánh bắt và chế biến thủy sản, nhiều công ty, xí nghiệp cũng đã chủ động đầu tư đổi mới công nghệ, lắp đặt thêm băng chuyền IQF mới như: Công ty Camimex, phân xưởng mặt hàng mới, Seaprimexco, Jostoco... nâng tổng công suất chế biến hàng giá trị gia tăng của tỉnh hiện nay lên 4.300/4800 tấn/năm. Cùng với việc đổi mới công nghệ, việc quản lý chất lượng sản phẩm theo HACCP cũng được các doanh nghiệp quan tâm, song còn chậm. Chỉ có 5/17 nhà máy thực hiện quản lý sản phẩm theo HACCP. Trong cơ cấu xuất khẩu thủy sản Cà Mau thì tôm là mặt hàng chủ lực. Theo thống kê toàn tỉnh có khoảng 100 ngàn ha nuôi tôm. Còn lại khoảng 55 ngàn ha nuôi cá đồng, nước ngọt. Nhưng thực tế hiện nay con số này là 42 ngàn ha, chuyên tôm 45 ngàn ha, rừng – tôm (70% rừng và 30% diện tích nuôi tôm) 3.000 ha kết hợp nuôi tôm – lúa. Như vậy, tổng diện tích có nuôi tôm ước đạt 90.000 ha (trong đó có diện tích thực nuôi 65 ngàn ha). Còn khu vực nước ngọt khoảng 61 ngàn ha. Trong 175.566 tấn thủy sản mà ngành khai thác được năm 1999, thì sản lượng nuôi thủy sản chiếm 41.564 tấn. Trong đó nuôi tôm 26.160 tấn có khoảng 6 – 7 ngàn tấn tôm sú nguyên liệu. Hiện nay toàn tỉnh có 320 trại tôm giống đảm bảo cơ bản nhu cầu nuôi tôm của nhân dân. Ngoài ra các mặt hàng như cá, nhuyễn thể cũng tăng đáng kể. Điều này cho thấy mặt hàng tôm xuất khẩu đang đóng một vai trò quan trọng trong tổng kim ngạch xuất khẩu của tỉnh. Tuy nhiên, hiện nay cơ cấu mặt hàng tôm xuất khẩu đã giảm đáng kể. Nếu như năm 1980, mặt hàng này chiếm 15% trong tổng sản phẩm thủy sản xuất khẩu thì nay con số này chỉ còn lại 2%. Rõ ràng, dù sản lượng và diện tích tôm nuôi ở Cà Mau đã cải thiện đáng kể nhưng cũng không khỏi đứng trước một nguy cơ mặt hàng này đánh mất thị phần xuất khẩu trên thị trường, nếu không có những giải pháp tích cực từ phía ngành chức năng.

Mặc dù trong điều kiện cạnh tranh không cân sức về công nghệ, thị trường, nhưng hầu hết các doanh nghiệp chế biến thủy sản xuất khẩu đã tăng nhanh về sản lượng, lợi nhuận. Tỷ trọng xuất khẩu hàng thủy sản có nhiều thay đổi theo hướng có lợi cho các doanh nghiệp như xuất khẩu vào EU, đã đạt 25 – 27%, Mỹ 5 – 7%, Châu á và thị trường khác 66 – 70%. Riêng thị trường Nhật chỉ còn khoảng 54% so với 70% trước đây. Có thể lý giải rằng, vào những năm vào thập kỷ 90, thị trường Nhật chiếm khoảng 70% tổng giá trị xuất khẩu thủy sản của Cà Mau. Song năm 1997, do biến động kinh tế trong khu vực, sự mất giá của đồng yên và việc Chính phủ Nhật tăng thuế bán hàng nên đã khiến hàng thủy sản xuất khẩu của Cà Mau giảm mạnh về khối lượng và giá cả. Hiện nay tỷ trọng thị trường này còn khoảng 54%. Các thị trường Châu á, Đông Nam á, Châu âu, Mỷ, Trung Quốc đang phát triển mạnh mẽ và nhu cầu rất đa dạng. Để chế biến thủy sản Cà Mau phát triển trong thời gian tới, Nhà nước cần đầu tư  vốn tập trung để thay đổi thiết bị lạc hậu trên nguyên tắc: nhanh, tập trung, dứt điểm, từng công trình, đảm bảo tính đồng bộ cân đối giữa sản xuất, chế biến, tiêu thụ và dịch vụ sản xuất. Trong đó khai thác biển phải đi đôi với bảo vệ nguồn lợi thủy sản ... Đặc biệt, chế biến phải gắn với nguyên liệu và bảo quản nguyên liệu sau thu hoạch và chế biến phải gắn với thị trường... Để giải quyết tốt những vấn đề trên, vừa qua Tỉnh ủy có Nghị quyết 04 và đề án 08 của UBND tỉnh Cà Mau, trong đó 03 chương trình kinh tế lớn của ngành, theo đó, 7 giải pháp được tập trung giải quyết là: khẩn trương điều chỉnh quy hoạch tổng thể ngành thủy sản phục vụ cho nhu cầu phát triển trước mắt và trong 5 đến 10 năm tới. Đổi mới công nghệ, tìm kiếm thị trường, đào tạo nhân lực, một số chính sánh quản lý và kinh phí hoạt động của ngành thủy sản. Tuy nhiên, để triển khai thực hiện tốt Nghị quyết 04, đề án 08 của Tỉnh ủy – UBND tỉnh việc làm đầu tiên là thực hiện tốt chương trình của ngành trong 2 năm 2000 – 2001 là việc khởi đầu quan trọng. Những giải pháp đó tập trung trên 7 lĩnh vực: khai thác, nuôi trồng thủy sản, chế biến và xuất khẩu, bảo vệ nguồn lợi thủy sản, khuyến ngư, đầu tư xây dựng cơ bản, quản lý Nhà nước của ngành thủy sản.

Để ngành thủy sản Cà Mau đạt được mục tiêu xuất khẩu thủy sản 156 triệu USD trong năm 2000 và ngành thủy sản phát triển trong những năm tới, có lẽ đây là một giải pháp mang tầm vĩ mô chiến lược, đòi hỏi tỉnh Cà Mau phải nỗ lực rất lớn thì mục tiêu này mới trở thành hiện thực.

(Theo Lê Ngô Chí Tín - đăng trên Báo ảnh Đất Mũi số 129 – 2000).

 

 

Bài 17

ĐỊA LÝ CÔNG NGHIỆP CÀ MAU

 

I-NHẬN ĐỊNH CHUNG:

1-Vị trí:

Công nghiệp là ngành kinh tế giữ vị trí quan trọng chiếm 18,4% tổng sản phẩm GDP, thu hút hơn 17 ngàn lao động (năm 1998). Công nghiệp của tỉnh đã tạo nhiều sản phẩm có giá trị phục vụ đắc lực cho sản xuất và đời sống. Công nghiệp đã thực sự thúc đẩy các ngành kinh tế trọng điểm của tỉnh (thuỷ sản, nông nghiệp) phát triển, giúp khai thác có hiệu quả các tiềm năng của mỗi ngành.

2-Tiềm năng:

Cà Mau có tiềm năng công nghiệp lớn. Trước hết thiên nhiên có nhiều thuận lợi cho phát triển các ngành khu vực I (nông – lâm – ngư). Sự phát triển của nhóm ngành này, tạo ra một thị trường rộng lớn cho công nghiệp của tỉnh. Đồng thời nó cũng là hậu phương lớn cung cấp nguồn nguyên liệu, nguồn vốn, nguồn lao động cho công nghiệp. Năm 1998, nhóm ngành này đã cung cấp hơn 730 ngàn tấn lúa, hơn 130 ngàn tấn thủy sản, gần 250 ngàn tấn mía cây, gần 56 triệu trái dừa, hơn 50 ngàn tấn chuối, gần 5.500 tấn trái cây các loại, gần 1.000 tấn khóm, hơn 2.000 tấn đậu, hơn 1.000 tấn lát, 200 tấn đay, hàng triệu gia súc, gia cầm và 90 ngàn m3 gỗ. Điều quan trọng là các sản phẩm trên đã và đang được phát triển theo hướng chuyên môn hóa, chuyên canh sản xuất lớn, nó sẽ thực sự trở thành nguồn nguyên liệu dồi dào, bền vững cho công nghiệp của tỉnh. Ngoài những thuận lợi trên, công nghiệp còn được sự hỗ trợ của các ngành kinh tế thuộc khu vực III (dịch vụ): vận tải, thông, tin, ngân hàng, thương mại... Công nghiệp của tỉnh có nguồn lao động rất dồi dào. Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật cho công nghiệp của tỉnh là đáng kể: hiện nay tỉnh có hàng ngàn cơ sở sản xuất công nghiệp, nhiều xí nghiệp được trang bị công nghệ mới, hiện đại là tiền đề cho một nền công nghiệp phát triển.

3-Đặc điểm:

-Công nghiệp của Cà Mau có tốc độ tăng trưởng nhanh. Số cơ sở sản xuất công nghiệp năm 1998 là 2.815, tăng 45% so với năm 1997. Giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh năm 1998 là 2.512.765 triệu đồng, tăng 52% so với năm 1997 và tăng hơn 90% so với năm 1996.

-Khu vực công nghiệp quốc doanh chiếm tỷ trọng khá cao, chiếm 61%. Mặc dầu số cơ sở sản xuất công nghiệp quốc doanh ít (10 doanh nghiệp) nhưng có nhiều xí nghiệp lớn số lao động tới trên 1.000 người, giá trị tài sản cố định hàng chục tỷ, doanh thu hàng năm hàng trăm tỷ đồng. Công ty chế biến thủy sản và xuất nhập khẩu Cà Mau (CAMIMEX) có hơn 1.500 công nhân, doanh thu hơn 611 tỷ đồng năm 1998. Khu vực công nghiệp quốc doanh bao chiếm hầu hết các ngành kinh tế trọng điểm của tỉnh. Nhiều xí nghiệp được trang bị hiện đại tạo chất lượng sản phẩm cao.

-Công nghiệp chế biến là ngành công nghiệp chủ yếu của tỉnh. Trong đó hàng đầu là công nghiệp chế biến thực phẩm (thủy sản). Năm 1998, giá trị sản xuất của ngành này là 2.036.043 triệu đồng, bằng 81% giá trị sản xuất công nghiệp toàn tỉnh.

-Công nghiệp chế biến tập trung chủ yếu ở Thành phố Cà Mau, Cái Nước, Ngọc Hiển. Nó phù hợp với phân bố vùng nguyên liệu và có vị trí địa lý thuận lợi. Riêng Cà Mau giá trị sản xuất công nghiệp năm 1998 là 1.689.820 triệu đồng, chiếm hơn 67% giá trị sản xuất công nghiệp toàn tỉnh.

II-CÁC NGÀNH CÔNG NGHIỆP:

1-Công nghiệp chế biến công nghiệp thực phẩm:

Ngành công nghiệp này tác động mạnh tới sự phát triển của các ngành: đánh bắt nuôi trồng thủy sản, trồng cây công nghiệp, chăn nuôi...

Trước hết nó như một nhịp cầu nối liền các vùng sản xuất với thị trường. Nó làm tăng giá trị các loại nông phẩm.

Cà Mau xa trung tâm kinh tế và các thị trường tiêu thụ lớn, do đó phát triển công nghiệp chế biến thực phẩm là rất cần thiết.

Hệ thống công nghiệp chế biến thực phẩm gồm có: chế biến thủy sản, công nghiệp chế biến lương thực, công nghiệp chế biến các loại nông phẩm như dừa, khóm, đường mía, hoa quả...

Năm 1998, tổng số cơ sở chế biến lương thực, thực phẩm là 710, tổng số lao động là 10.815 người, chiếm 62,6% tổng lao động toàn ngành của tỉnh.

Công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm chủ yếu tập trung ở Thành phố Cà Mau. Trong hệ thống công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm quan trọng nhất là chế biến thực phẩm, giá trị sản xuất năm 1998 là 2.036.043 triệu đồng, bằng 99% giá trị sản xuất của ngành công nghiệp lương thực, thực phẩm. Nhiều xí nghiệp đã được đổi mới công nghệ, đầu tư theo chiều sâu, nâng cấp thiết bị nhằm tạo ra sản phẩm có giá trị xuất khẩu cao. Sản phẩm chủ yếu: tôm đông lạnh 18.958 tấn, tôm khô 212 tấn, cá đông 1.541 tấn, nước mắn 1.481.000 lít, đường 2.600 tấn, bánh kẹo 850 tấn, rượu 740.000 lít, chả cá 122 tấn, ghẹ 182 tấn, mực 678 tấn... (1999).

Kim ngạch xuất khẩu thủy sản năm 1999 của tỉnh ước đạt 140 triệu USD, khả năng cạnh tranh trong và ngòai nước được nâng lên.

Công nghiệp chế biến lương thực của Cà Mau chủ yếu là xay xát lúa gạo. Các cơ sở chế biến thường có qui mô nhỏ, phân tán. Sản phẩm năm 1998 là 326.490 tấn gạo xay xát. Giá trị sản xuất bằng 22.822 triệu đồng bằng 1,1% giá trị sản lượng của ngành chế biến lương thực, thực phẩm toàn tỉnh, lượng gạo xuất khẩu năm 1998 là 63.762 tấn.

*Các ngành công nghiệp khác:

Ngoài hệ thống công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm là nhóm ngành công nghiệp trọng điểm, Cà Mau còn có các ngành công nghiệp khác như: công nghiệp sản xuất phân phối điện – nước; công nghiệp cơ khí; công nghiệp chế biến gỗ; công nghiệp dệt may.

Công nghiệp sản xuất và phân phối điện nước: trước năm 1990 toàn tỉnh chỉ có 01 cơ sở phát điện Diedel (Cà Mau), công suất nhỏ hơn 5.000 KW. Từ năm 1991 tỉnh đã có lưới điện quốc gia 110 KV  nối liền từ Bạc Liêu – Cà Mau.

Đến nay điện đã về tới tất cả các xã trong tỉnh, nhưng tỷ lệ hộ dân dùng điện còn thấp, mới đạt gần 30%.

Công nghiệp cơ khí: chủ yếu là cơ sở sửa chữa cho ngành vận tải, ngành đánh bắt thủy sản, ngành công nghiệp... Hầu hết cơ sở cơ khí của tỉnh thuộc tư nhân với gần 200 cơ sở (1998). Giá trị sản xuất 1998 bằng 23.397 triệu đồng.

Công nghiệp chế biến gỗ: tập trung ở Thành phố, một số thị trấn. Sản phẩm là gỗ xây dựng , đồ gỗ gia dụng. Toàn tỉnh có hơn 1.600 cơ sở sản xuất với gần 5.000 lao động, giá trị sản xuất năm 1998 là 26.783 triệu đồng.

 Ngoài ra, Cà Mau còn có ngành công nghiệp dệt may, sản xuất vật liệu xây dựng, hoá chất – dược phẩm, khai thác nước ngầm, sửa chữa điện tử, sản xuất một số mặt hàng tiêu dùng, in, nước đá... Riêng ngành sản xuất nước đá khá phát triển nhằm phục vụ cho nhu cầu ngành thủy sản.

Cà Mau còn có một số ngành nghề thủ công truyền thống: dệt chiếu.

Phương hướng phát triển công nghiệp của tỉnh trong những năm tới (2000 – 2010):

-Ưu tiên phát triển công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm hướng xuất khẩu.

-Chú trọng đầu tư cho công nghiệp khai thác và dịch vụ kinh tế biển.

-Đẩy mạnh sản xuất các mặt hàng phục vụ cho nhu cầu sản xuất tiêu dùng.

-Phát triển công nghiệp cơ khí dịch vụ phục vụ nông – lâm – ngư.

-Hỗ trợ phát triển công nghiệp khu vực nông thôn.

-Phân bố chú trọng theo hướng phục vụ việc hình thành hành lang kinh tế động lực, hình thành các cụm công nghiệp tập trung.

-Kêu gọi đầu tư vào sản xuất  và bao tiêu sản phẩm ở một số lĩnh vực lợi thế.

Tốc độ phát triển bình quân hàng năm từ 13 – 15%. Tỷ trọng GDP công nghiệp năm 2010 chiếm 29 – 30% GDP toàn tỉnh. Kim ngạch xuất khẩu bình quân đạt 250 triệu USD/năm.

Công nghiệp chế biến thủy sản tới 2010 đạt 30.000 tấn/năm. Công nghiệp chế biến đường ở Thới Bình đưa vào hoạt động với công suất 1.000 tấn mía/ngày, sau đó mở rộng 3.000 tấn mía/ngày...

Dự kiến quy hoạch  các khu công nghiệp : khu công nghiệp Thành phố Cà Mau tập trung vào chế biến thủy sản, lương thực, thực phẩm, dệt may, điện tử và một số mặt hàng tiêu dùng. Khu công nghiệp thương mại năm căn: tập trung vào chế biến thủy sản, cơ khí và dịch vụ cho đánh bắt và chế biến. Khu liên hiệp thủy sản Sông Đốc: cảng cá, chế biến, dịch vụ thủy sản. Khu công nghiệp Gành Hào: chế biến thủy sản, cơ khí phục vụ, khai thác, chế biến. Khu công nghiệp Hòn Khoai: cảng cá, chế biến. Ngoài ra còn các cụm điểm công nghiệp khác như Trí Phải, Vàm Đình, Cái Đôi Vàm, Đầm Dơi, khu công nghiệp “Khí - Điện - Đạm” khánh An.

Câu hỏi:

1-Nhận xét chung về kinh tế công nghiệp ở Cà Mau.

2-Nêu vị trí, vai trò, kết quả cụ thể của các ngành kinh tế công nghiệp ở Cà Mau ?

3-Hướng phát triển công nghiệp (nói chung) và từng ngành Công Nghiệp (nói riêng) ở Cà Mau trong thời gian tới như thế nào ?

4-Bài tập thực hành: lược đồ phân bố công nghiệp ở Cà Mau ?

 

 

Bài 18

ĐỊA LÝ GIAO THÔNG – VẬN TẢI CÀ MAU

 

Giao thông vận tải hành khách là một ngành dịch vụ, tuy không sản xuất ra vật chất, nhưng nó hỗ trợ sản xuất, không thiếu được trong quá trình sản xuất. Đặc biệt với Cà Mau, một tỉnh chủ yếu sản xuất nông phẩm tươi sống, vận tải không chỉ tham gia vào quá trình sản xuất mà còn quyết định chất lượng, giá trị sản phẩm. Giao thông còn gắn liền vào đời sống và quốc phòng.

Hệ thống giao thông của Cà Mau gồm: giao thông đường bộ, đường sông, đường biển và đường hàng không.

Giao thông đường bộ: nhìn chung chưa phát triển, tổng chiều dài khoảng 255 km, (trong đó đường nhựa 59 km, còn lại là đường đất, gạch, đá). Mật độ đường bộ (có rải nhựa) của tỉnh là 11,3m/ km2, trong khi trung bình cả nước là 250 m/km2 (1998). Tới năm 2000 tuyến Cà Mau – Năm Căn hoàn thành đưa tổng chiều dài đường tráng nhựa lên tới 113 km, mật độ đường nhựa lên 21,7 m/km2.

 Giao thông đường sông: giữ vị trí trọng yếu ở nông thôn. Tổng chiều dài kênh, rạch, sông được sử dụng vận tải là 2.750 km (trong đó có nhiều đoạn sông tàu có trọng tải trên 20 tấn có thể đi lại trong mùa cạn: gần 1.200 km).

Phương tiện vận tải đường bộ: có 2.390 chiếc (1998), trong đó các loại ô tô vận tải 219 chiếc, ô tô chở khách các loại 577 chiếc, xe lam 16 chiếc, các phương tiện khác khoảng 2.000 chiếc.

Vận tải đường thủy: có 405 chiếc tàu vận tải hàng hóa và 1.748 chiếc vận tải hành khách.

Trung tâm giao thông bộ và sông quan trọng của tỉnh tập trung tại Thành phố Cà Mau với một bến xe và hai bến tàu sông toả đi nhiều tuyến. Ngoài trung tâm lớn Cà Mau, các thị trấn huyện cũng là đầu mối giao thông cho các địa phương.

Ngành vận tải biển: chưa phát triển. Cửa biển Bồ Đề, cảng Năm Căn tuy có mực nước sâu, tàu 2 đến 3 ngàn tấn ra vào được, nhưng “hậu phương” nhỏ và thiếu liên kết vận tải, nên chưa được khai thác.

Ngành hàng không: Cà Mau đã mở lại sân bay nối với Thành phố Hồ Chí Minh nhưng lưu lượng khách ít.

Những năm gần đây hệ thống đường bộ nông thôn Cà Mau đang được cải thiện góp phần nâng cao cuộc sống cho nhân dân và góp phần thúc đẩy sản xuất.

Phương hướng phát triển giao thông – vận tải những năm tới:

Đầu tư cho xây dựng tuyến liên tỉnh lộ Cà Mau – Kiên Giang (quốc lộ 63) tạo điều kiện phát triển kinh tế về hướng Tây Bắc tỉnh.

Xây dựng tuyến giao thông ven biển kết hợp với hệ thống đê biển.

Cải tạo nâng cấp một số tuyến đường thủy: Cà Mau đi Phước Long (Bạc Liêu), Cà Mau đi Năm Căn.

Khẩn trương xây dựng cảng Năm Căn.

Có kế hoạch nâng cấp sân bay Cà Mau , khôi phục sân bay Năm Căn – Hòn Khoai.

Xây dựng các tuyến đường liên huyện, liên xã.

Phấn đấu hoàn thành việc xây dựng cầu cơ bản (xóa cầu khỉ) vào năm 2000.

Câu hỏi:

1-Lược đồ: hệ thống mạng lưới giao thông vận tải tỉnh Cà Mau.

2-Phân tích vai trò, vị trí của giao thông – vận tải. Nêu những nét lớn về thực trạng giao thông  - vận tải thủy, bộ ở Cà Mau hiện nay ?

3-Phương hướng phát triển giao thông – vận tải những năm tới của Cà Mau như thế nào ?

 

 

Bài 19:

ĐỊA LÝ THƯƠNG MẠI VÀ DỊCH VỤ CÀ MAU

 

Hệ thống ngành dịch vụ (các ngành thuộc khu vực III) bao gồm: thương mại, vận tải, thông tin, ngân hàng, du lịch, khách sạn, y tế, giáo dục... Trong đó dịch vụ, thương mại giữ vị trí quan trọng. Nó được coi như một ngành sản xuất vật chất. Nối liền sản xuất với sản xuất, sản xuất với tiêu dùng, thúc đẩy phát triển sản xuất và nâng cao đời sống nhân dân.

Hệ thống thương mại gồm nội thương, ngoại thương. Hiện nay các thành phần tham gia hoạt động thương mại của tỉnh gồm: quốc doanh, tư doanh, đại lý, của hàng, chợ nông thôn. Trung tâm thương mại lớn nhất của tỉnh tại Thành phố Cà Mau. Trung tâm thương mại của các địa phương, thường ở các thị trấn. Cà Mau quan hệ buôn bán với nhiều địa phương trong khu vực và cả nước và đã có quan hệ buôn bán với một số nước trên thế giới. Các mặt hàng bán ra chủ yếu là nông phẩm tươi sống hoặc đã được chế biến.

Tổng kim ngạch xuất khẩu năm 1999 là 158 triệu USD tăng 19% so với năm 1998.

Các mặt hàng nhập từ nước ngoài hoặc các tỉnh khác trong nước gồm: các loại vật tư kỹ thuật, hàng tiêu dùng, xăng dầu, điện, phân bón, vật liệu xây dựng, thuốc trị bệnh, xe gắn máy...

Tổng giá trị nhập khẩu năm 1999 là hơn 6 triệu USD. Cân đối xuất nhập khẩu thì Cà Mau đang trong tình trạng xuất siêu. Để phát huy được vốn ngoại tệ trong hoạt động ngoại thương, nên tìm kiếm mặt hàng gia tăng nguồn nhập khẩu nhằm phục vụ tốt hơn cho sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh.

Những năm gần đây cùng với sự tăng trưởng nhanh của nền kinh tế, của đời sống vật chất và văn hóa, sự mở rộng hợp tác kinh tế, dịch vụ du lịch của Cà Mau cũng phát triển.

Hệ thống Nhà hàng, khách sạn phát triển tương đối khá, nhiều khách sạn có tiện nghi tốt được xếp hạng từ hai đến ba sao. Những khu vui chơi, nghỉ mát, du lịch cũng đã hình thành và có sức thu hút khách trong và ngoài tỉnh. Số lượt khách du lịch năm 1997 tới hơn 50 ngàn người (trong đó có nhiều khách nước ngoài). Hiện nay một số tuyến điểm du lịch sinh thái đang được xây dựng hoặc đã đưa vào hoạt động như Đá Bạc, Đất Mũi Cà Mau ....

Cà Mau có tiềm năng du lịch lớn: những di tích lịch sử, văn hóa hoà quyện với tự nhiên đang còn đầy vẻ hoang sơ như rừng đước, tràm bạt ngàn, những sân chim nổi tiếng.

Nhiều tuyến du lịch có thể khai thác như Cà Mau – Đầm Dơi; Cà Mau – Khai Long; Năm Căm – Hòn Khoai; Cà Mau - Đầm Bà Tường – Sông Đốc; Cà Mau – Thới Bình – Sông Trẹm – U Minh...

Nét hoang sơ thơ mộng của vùng đất mới cực Nam mãi mãi đầy sức quyến rũ du khách trong và ngoài nước.

Thông tin liên lạc và Bưu điện: mạng lưới thông tin bưu điện phát triển đã nối liền tỉnh với Trung ương, giữa tỉnh với các địa phương. Toàn tỉnh có 6 bưu cục huyện, 40 bưu cục khu vực. Năm 1998 số máy điện thoại 16.900 cái, bình quân 15,2 máy/ngàn dân. Thông tin liên lạc và bưu điện đã góp phần đáng kể trong công cuộc xây dựng, đổi mới kinh tế xã hội của tỉnh.

Câu hỏi:

1-Bài tập: lược đồ các tuyến du lịch ở Cà Mau ?

2-Nêu những nét lớn về tình hình kinh tế thương mại và dịch vụ ở Cà Mau ?

3-Triển vọng phát triển thương mại – dịch vụ ở Cà Mau những năm tới như thế nào ?

 

 

Bài đọc thêm :

ĐỂ NGÀNH DU LỊCH PHÁT TRIỂN ĐÚNG TẦM VÓC VỐN CÓ

 

... Năm 1999 thực hiện chủ trương của Chính phủ, UBND tỉnh Cà Mau quyết định thành lập Ban chỉ đạo phát triển du lịch của tỉnh có 11 thành viên do Phó Chủ tịch UBND tỉnh làm trưởng ban. Đã xây dựng và triển khai chương trình hành động phát triển du lịch và sự kiện du lịch Cà Mau năm 2000.

-Hệ thống kinh doanh du lịch phát triển mạnh thu hút nhiều thành phần và Tổ chức kinh tế tham gia hoạt động kinh doanh du lịch là đơn vị quốc doanh của tỉnh. Năm 1990 chỉ có một công ty kinh doanh du lịch thì đến nay năm 2000 có 15 doanh nghiệp thuộc nhiều thành phần kinh tế kinh doanh du lịch và tham gia du lịch . Trong đó có 9 doanh nghiệp tư nhân, ngoài ra còn nhiều hộ tư nhân, cá thể, cơ quan đoàn thể quản lý các khu vui chơi giải trí như: Công viên văn hoá 19/ 5, Công viên Hùng Vương, Nhà văn hoá thiếu nhi... cũng tham gia kết hợp kinh doanh du lịch.

Công tác quy hoạch phát triển ngành được triển khai tích cực:

-Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Minh Hải giai đoạn năm 1996 – 2010 được Tổng cục du lịch và UBND tỉnh phê duyệt.

-Hai quy hoạch chi tiết: quy hoạch khu trung tâm du lịch Thành phố Cà Mau ; khu du lịch Mũi Cà Mau – Khai Long – cồn Ông Trang và dự án điểm du lịch Đá Bạc đã được UBND tỉnh phê duyệt.

-Các dự án Công viên văn hoá du lịch Mũi Cà Mau, làng du lịch Khai Long đang được tập trung triển khai thực hiện một các tích cực. Ngoài ra các dự án chợ nổi trên sông, Công viên văn hoá du lịch Trần Ngọc Hy đang được khẩn trương xây dựng nhằm tạo điều kiện vốn đầu tư.

Xây dựng cơ sở vật chất, nâng cao chất lượng và đa dạng hóa sản phẩm du lịch:

-Kết quả 10 năm qua ngành du lịch Cà Mau đã đẩy mạnh việc xây dựng mới hệ thống khách sạn trong tỉnh như: Khách sạn Siêu thị, Khách sạn Cà Mau, Khách sạn Năm Căn, Khách sạn du lịch Công Đoàn ; các khách sạn tư nhân như: Hương Sen, Thiên Phúc, Hải Châu, T98. Ngoài các các Khách sạn Phương Nam, Cà Mau cũng được cải tạo nâng cấp, đưa tổng số phòng Khách sạn lên 325 phòng, trong đó có 150 đủ tiêu chuẩn đón khách Quốc tế.

-Các Khách sạn Siêu Thị, Cà Mau và Phương Nam được Tổng cục du lịch công nhận xếp hạng sao: Khách sạn Siêu Thị 3 sao, Khách sạn Cà Mau và Khách sạn Phương Nam 2 sao, Khách sạn Công Đoàn cũng đang được Tổng cục du lịch thẩm định đang chờ kết quả xếp hạng. Nhiều Nhà hàng của Nhà nước và tư nhân được cải tạo và xây dựng mới như : Nhà hàng Vân Thủy của Công ty du lịch. Ngoài hệ thống Khách sạn – Nhà hàng, cơ sở dịch vụ của doanh nghiệp Nhà nước và tư nhân còn có Nhà khách Tỉnh ủy, Nhà khách ủy ban nhân dân tỉnh cũng được kiện toàn góp phần đáp ứng nhu cầu của khách du lịch Quốc tế và nội địa, phục vụ tốt nhiều hội nghị của địa phương và các ngành Trung ương do địa phương đăng cai.

-Cùng với việc xây dựng Khách sạn Nhà hàng, các khu vui chơi giải trí như: Công viên văn hoá 19/5, Công viên Hùng Vương, Nhà văn hoá thiếu nhi cũng được quan tâm xây dựng đáp ứng một phần nhu cầu vui chơi giải trí của nhân dân địa phương.

-Năng lực vận chuyển khách du lịch được tăng cường, chất lượng được nâng cao theo hướng hiện đại hóa như: hệ thống xe vận chuyển khách du lịch, xe Taxi, Canô tốc hành... đã đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của du khách.

-Sản phẩm du lịch của ngành ngày càng đa dạng phong phú hơn. Với thế mạnh là du lịch sinh thái, ngành du lịch đã chú trọng các tuyến điểm du lịch sinh thái như: du lịch sinh thái rừng ngập mặn với các điểm du lịch Mũi Cà Mau, Khai Long, cồn Ông Trang, khu bảo tồn sinh thái 184... Du lịch sinh thái rừng tràm với các điểm rừng đặc dụng Vồ dơi, rừng tràm ong mật U Minh... Du lịch sông nước... đang là loại hình du lịch được ưa thích.

-Việc nâng cao chất lượng các dịch vụ phục vụ khách trong các cơ sở du lịch cũng được quan tâm. Toàn ngành đã Tổ chức thành công hội thi “Liên quan văn hoá ẩm thực Mũi Cà Mau” lần thứ nhất và đã chọn được nhiều món ăn đặc sắc của quê hương Cà Mau để giới thiệu cho du khách.

Công tác đào tạo phát triển nguồn lực:

-Do sự phát triển nhanh các doanh nghiệp du lịch, các Khách sạn, nhà hàng nên ngành du lịch Cà Mau đã thu hút một khối lượng nhân lực lớn. Từ chỗ ban đầu chỉ có vài chục cán bộ nhân viên, đến nay tổng số lao động trực tiếp trong ngành lên đến gần 600 người. Ngoài ra còn hàng ngàn lao động gián tiếp phục vụ khách du lịch.

-Ngành du lịch Cà Mau  đã quan tâm đến việc tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ nhân viên trong ngành bằng nhiều hình thức: phối hợp với trường nghiệp vụ du lịch Vũng Tàu mở được 5 lớp nghiệp vụ về phục vụ bàn, buồng và quản trị kinh doanh cho cán bộ quản lý khách sạn, nhà hàng. Hàng chục cán bộ nhân viên trong doanh nghiệp Nhà nước được gửi đi đào tạo tại trường du lịch Thành phố Hồ Chí Minh, Vũng Tàu. Ngoài ra, nhiều lượt cán bộ công nhân viên được tạo điều kiện bồi dưỡng tin học và ngoại ngữ...

(Theo Nguyễn Thị Niêm –Bài được đăng trên Báo ảnh Đất Mũi số 130 – 2000).

 

 

Bài đọc thêm.

CÀ MAU ĐIỂM ĐẾN CỦA KHÁCH DU LỊCH

 

Cách Thành phố Hồ Chí Minh 350 km, vượt qua chiếc cầu Mỹ Thuận kỳ vĩ của con sông Tiền, vượt qua những chuyến phà thân thương của con sông Hậu, bạn sẽ đặt chân đến miền đất cuối trời của Tổ quốc Việt Nam – tỉnh Cà Mau, nơi có một mũi đất mỗi năm vươn xa ra biển khơi hàng trăm mét.

Từ cái thuở cha ông phá rừng mở đất, từ cái thuở những dòng di dân tụ hội về đây, bởi nơi đây một xứ sở từng được mệnh danh “đất lành chim đậu”. Ba trăm năm mở đất và giữ đất, ngày nay với diện tích đất tự nhiên 500 ngàn ha, với hơn một triệu người ngụ cư sinh sống. Nơi đây còn là một tỉnh duy nhất của Tổ quốc mà con người có thể ngắm nhìn mặt trời lặn và mọc hai lần mỗi ngày trên đại dương. Bởi Cà Mau được biển Đông, biển Tây bao bọc tạo nên một bán đảo trù phú, lắm tiềm năng.

Cà Mau – một vùng đất mà con người và thiên nhiên hòa quyện với nhau, đậm chất hào phóng, lắm nét hồn nhiên đã tạo nên một vóc dáng đặc biệt cho con người và đất Cà Mau. Thật vậy, ở nơi đây tên người và tên đất như gắn chặt vào nhau tạo nên những huyền thoại của lịch sử rất đổi tự nhiên...

Ai đã một lần ghé thăm vùng sông nước Cà Mau đều không thể quên...

Chợ Nổi trên sông – Từ Cà Mau khách lãng du có thể xuôi dòng sông đến những cánh rừng đước, rừng tràm... Thế nhưng điểm ghé đầu tiên của khách phải là chợ Nổi – chợ nằm cách trung tâm Thành phố Cà Mau chưa đầy 1 km – nơi đây những chiếc ghe thương hồ neo đậu, người kẻ chợ ở đây có thể cung cấp cho khách lãng du những thứ mà khách cần từ trái cây miệt vườn đến những mặt hàng hải sản vùng biển...Trong lúc mua bán, khách lãng du có thể nghe đâu đó vọng ra những câu ca vọng cổ ngọt đến lịm người – một trong những làn điệu dân ca tài tử có một không hai của vùng đất châu thổ cuối trời này.

Khách có thể xuôi dòng sông Trẹm để đến với rừng tràm U Minh nổi tiếng. Nơi bát ngát hương tràm, nơi qui tụ những đàn ong cần mẫn làm mật. Rừng tràm U Minh cũng còn là nơi cho khách bắt gặp, nhìn thấy những loài vật quí hiếm...

Bằng phương tiện thủy len lỏi trên những kênh rạch chằng chịt của rừng ngập mặn – một cánh rừng nguyên sinh còn sót lại của thế giới – bạn sẽ thấy choáng ngợp trước cảnh thiên nhiên nơi mà chim trời, cá nước còn mang những nét hoang sơ... Thiên nhiên kỳ vĩ, thiên nhiên huyền bí luôn thể hiện trước tầm nhìn của du khách.

Về Năm Căn – nơi được mệnh danh là mỏ tôm của cả nước với những cánh rừng đước nguyên sinh bạt ngàn... Nơi diễn ra những ngày hội – ngày hội mà không phải nơi nào cũng có được – ngày hội của ba khía vào tháng 8 hàng năm, ngày hội mà từng đàn có đến hàng ngàn, hàng vạn con ba khía qui tụ về những gốc cây, những gốc đước để bắt đầu một mùa sinh sản mới... Ngày hội của cá đường diễn ra vào tháng 4 hàng năm khi những ngọn gió lồng trung thổi về. Từng đàn cá đường biển Đông kéo nhau về đây, nơi giao nhau của hai dòng chảy biển Đông và biển Tây cách mũi Cà Mau non 10 cây số.

Đến Cà Mau ai không một lần muốn đạt chân trên mũi đất cuối trời của Tổ quốc – Mũi Cà Mau. Cách Mũi Cà Mau vài km theo đường kênh rạch là bãi Khai Long một vùng đất của huyền thoại, nơi mà những bãi cát sạch trải dài, đẹp óng ánh sắc vàng... khách có thể ngã lưng trên cát để nhâm nhi những món quà của biển – hải sản của biển Đông cùng cốc rượu đế cay xè của ngư dân vùng rừng ngập mặn.

Hướng ra biển cách Mũi Cà Mau 20 km là đảo Hòn Khoai xinh đẹp và quyến rũ, nơi có những bãi tắm biển, suối nước ngọt, có núi, có rừng...

Bạn muốn khám phá những điều mới lạ.

Bạn muốn hòa nhập với thiên nhiên, bạn muốn trở về với cái thời khai hoang mở đất của vùng đất Nam bộ non trẻ này...

Cà Mau - điểm đến của bạn.

Xin bạn một lần đến với Cà Mau.

(Theo Đào Minh Tuấn – Bài được đăng trên Báo ảnh Đất Mũi số 130 – 2000)

 

 

Bài đọc thêm:

ĐỂ PHÁT TRIỂN DU LỊCH  TRONG TÌNH HÌNH MỚI

 

Ngày 09/7/2000 ngành Thương mại – du lịch Cà Mau long trọng tổ chức kỷ niệm 40 năm ngày thành lập ngành du lịch Việt Nam (09/7/1960 – 09/7/2000). Nhìn lại chặng đường đã qua, ngành du lịch Cà Mau tuy còn non trẻ nhưng đã được các cấp lãnh đạo tỉnh quan tâm cùng với sự nổ lực phấn đấu của tập thể cán bộ, công nhân viên chức của ngành nên đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể. Tuy nhiên, nếu so với tiềm năng du lịch của tỉnh thì những thành tựu đó còn rất khiêm tốn và có cả khiếm khuyết.

Ngành Du lịch Cà Mau phải làm gì để phát triển du lịch trong tình hình mới, xin lược trích ý kiến phát biểu chỉ đạo của ông Lê Hồng My – Phó Chủ tịch UBND tỉnh kiêm Trưởng ban chỉ đạo phát triển du lịch tỉnh tại buổi lễ kỷ niệm này... Bài được đăng trên Báo ảnh Đất Mũi số 129 – 2000.

Ngành Du lịch Cà Mau được thành lập muộn hơn so với các ngành khác trong tỉnh, song luôn được Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh quan tâm và chỉ đạo, cùng với sự nỗ lực phấn đấu của tập thể cán bộ, công chức, lao động trong ngành, hoạt động du lịch của tỉnh Cà Mau đã phát triển nhanh chóng và đạt được nhiều thành tựu đáng phấn khởi. Khách du lịch từ chỗ chỉ có 18.550 lượt khách năm 1991 đã tăng lên đến 89.344 lượt khách năm 1999. Tốc độ tăng trưởng bình quân trong giai đoạn này là 42,4%. Đây là kết quả đáng được khích lệ, tuy nhiên so với các trung tâm du lịch và các tỉnh trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long thì thành tích trên còn quá khiêm tốn. Doanh thu thuần tuý về du lịch: năm 1991 đạt 4.550 triệu đồng, đến năm 1999 đạt 27.075 triệu đồng; tốc độ tăng trưởng bình quân 55%/năm. Bộ máy quản lý Nhà nước được kiện toàn, hệ thống kinh doanh du lịch phát triển với nhiều thành phần kinh tế cùng tham gia kinh doanh du lịch. Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch ngày càng được tăng cường. Đến nay cả tỉnh đã có 325 phòng Khách sạn, trong đó có 150 phòng đạt tiêu chuẩn đón khách quốc tế. Ba Khách sạn được xếp hạng sao, từ 2 đến 3 sao theo tiêu chuẩn của Tổng cục du lịch. Các phương tiện vận chuyển khách cũng được tăng cường theo hướng hiện đại hơn, các khu vui chơi giải trí cũng được xây dựng nhằm đáp ứng một phần nhu cầu vui chơi giải trí, tham quan của du khách và nhân dân trong tỉnh. Những thành tựu đạt được trong những năm qua là rất đáng phấn khởi, đó là nhờ sự phấn đấu không mệt mỏi, sự tâm huyết của bao thế hệ cán bộ, công nhân viên công tác trong ngành du lịch của tỉnh nhà.

Thành tích đạt được của ngành du lịch Cà Mau tuy rất lớn, nhưng so với tiềm năng du lịch của tỉnh nhà thì còn rất khiêm tốn. Sản phẩm du lịch của tỉnh nhà còn rất đơn điệu, vốn đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho ngành chưa nhiều, các điểm du lịch, các di tích lịch sử văn hoá thiếu vốn đầu tư để tôn tạo. Thế mạnh của du lịch Cà Mau là du lịch sinh thái nhưng chưa có qui chế phối hợp và khai thác một cách có hiệu quả tiềm năng trên. Đội ngũ cán bộ, công nhân viên ngành du lịch tuy có nhiệt tình, có tâm huyết, nhưng thiếu về số lượng, yếu về chuyên môn nghiệp vụ, đặc biệt là ngoại ngữ. Công tác tuyên truyền quảng bá du lịch có tiến bộ hơn nhưng vẫn còn ít. Quản lý Nhà nước về du lịch còn nhiều vấn đề cần phải cụ thể hóa hơn. Mối quan hệ, phối hợp giữa các ngành, các địa phương để tháo gỡ những khó khăn từ du lịch đã có chuyển biến nhưng chưa thường xuyên chặt chẽ. Những khó khăn yếu kém đó đã hạn chế kết quả hoạt động của ngành du lịch Cà Mau.

Để phát triển mạnh du lịch trong tình hình mới, ngành du lịch Cà Mau cần phải tập trung làm tốt một số việc sau đây:

1-Thực hiện nghiêm túc kết luận của Bộ Chính trị về phát triển du lịch trong tình hình mới. Quán triệt sâu sắc những quan điểm của Đảng, Nhà nước, sự chỉ đạo cụ thể sâu sát của Tỉnh ủy, UBND tỉnh về phát triển du lịch, tập trung vốn đầu tư phát triển du lịch sinh thái nhằm tạo ra sản phẩm du lịch độc đáo, đa dạng có sức hấp dẫn đến du khách.

2-Tiếp tục triển khai mạnh mẽ chương trình hành động phát triển du lịch và các sự kiện về du lịch tỉnh Cà Mau năm 2000, nhất là đẩy mạnh in ấn phát hành ấn phẩm du lịch nhằm giới thiệu tiềm năng du lịch của tỉnh nhà cho du khách và nhân dân trong tỉnh, phối hợp với các phương tiện thông tin đại chúng như: báo, đài phát thanh truyền hình nhằm đẩy mạnh tuyên truyền quảng bá về du lịch, coi trọng việc đầu tư nâng cấp, bảo tồn các di tích lịch sử văn hoá, ưu tiên tập trung đầu tư xây dựng Mũi Cà Mau thành khu du lịch sinh thái với tên gọi: “Công viên Văn hoá du lịch Mũi Cà Mau”; trước hết đầu tư một số hạng mục công trình như : nạo vét kinh mương, san lấp mặt bằng, một số công trình kiến trúc khác như: xây dựng bãi đậu tàu thuyền, hệ thống vệ sinh, nhà nghỉ chờ, nhà quản lý, nhà hàng, hệ thống đường bộ... nhằm phục vụ cho nhu cầu hết sức cấp thiết của cán bộ, nhân dân trong tỉnh và du khách cả nước, cố gắng đưa công trình vào sử dụng cuối năm 2000.

3-Không ngừng nâng cao chất lượng các dịch vụ du lịch, cải thiện môi trường thiên nhiên, môi trường xã hội, cải thiện đi lại nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho du khách. Ngành du lịch chỉ đạo cho các đơn vị cơ sở có kế hoạch cải tạo nâng cấp các cơ sở dịch vụ lưu trú, ăn uống, phương tiện đi lại, thường xuyên kiểm tra về vệ sinh, thái độ phục vụ, chất lượng phục vụ của các đơn vị trong ngành nhằm phục vụ tốt hơn cho du khách.

4-Chăm lo xây dựng đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức lao động cả về chính trị, nhất là chuyên môn nghiệp vụ, tin học và ngoại ngữ nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ phát triển của ngành du lịch Cà Mau trong tình hình mới.

5-Có chính sách khuyến khích đầu tư, thúc đẩy các thành phần kinh tế trong tỉnh đầu tư vào hoạt động kinh doanh du lịch, nhằm thúc đẩy ngành du lịch Cà Mau phát triển một cách đồng bộ, đa dạng với nhiều sản phẩm du lịch độc đáo, nhiều khu du lịch hấp dẫn. Tôi hy vọng Cà Mau trong tương lai sẽ là điểm hẹn của du khách trong và ngoài nước.

 

 

Bài 20

CÁC VÙNG KINH TẾ CÀ MAU

 

Quá trình phát triển kinh tế đồng thời với phát triển kinh tế ngành là việc hình thành sự phân công lao động theo vùng. Trên cơ sở đặc thù tự nhiên và hiện trạng kinh tế - xã hội, tập quán canh tác của các khu vực kinh tế trong tỉnh, Cà Mau thời gian qua được chia làm 3 vùng kinh tế:

-Vùng kinh tế nội địa.

-Vùng kinh tế ven biển.

-Vùng kinh tế biển.

1-Vùng kinh tế nội địa:

Có diện tích 366.000 ha, bằng 70,3% diện tích toàn tỉnh. Dân số năm 1997 khoảng 950.000 người, bằng 84% dân số toàn tỉnh. Mật độ trung bình 260 người/km2. Nhiệm vụ chính là phát triển nông lâm nghiệp theo hệ sinh thái nước ngọt. Là vùng cung cấp lương thực và thực phẩm cho tỉnh, đáp ứng nhu cầu nội địa và xuất khẩu. Ngoài sản xuất nông nghiệp vùng, còn một diện tích rừng tràm rộng lớn. Việc trồng mới, khôi phục, bảo vệ hệ sinh thái ngọt này là nhiệm vụ quan trọng thứ hai. Công việc này vừa có ý nghĩa to lớn trong bảo vệ đa dạng sinh học, vừa có ý nghĩa kinh tế. Nhiệm vụ thứ ba của vùng là phát triển công nghiệp chế biến lương thực và thực phẩm. Trung tâm của vùng là Thành phố Cà Mau – trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá lớn nhất của tỉnh.

Vùng kinh tế nội địa được chia thàng 3 tiểu vùng:

-Tiểu vùng ngọt hoá Quản lộ – Phụng Hiệp: diện tích khoảng 55.000 ha, hướng sản xuất chủ yếu là lúa tăng vụ nhờ nước ngọt sông Hậu; trồng mía, khóm, một số loại cây ăn trái, rau đậu và chăn nuôi gia súc, gia cầm, thủy sản nước ngọt.

-Tiểu vùng U Minh hạ: diện tích khoảng 170.000 ha. Hướng sản xuất chủ yếu là khôi phục và phát triển hệ sinh thái rừng tràm; hình thành vùng sản xuất lúa, rau sạch; lúa xuất khẩu. Đồng thời cũng là vùng trồng tập trung các loại cây công nghiệp như mía, khóm (vùng nguyên liệu).

Một số chỉ tiêu: lúa 70.000 ha, rừng tràm 58.000 ha, mía 7.000-8.000 ha.

-Tiểu vùng phía nam Cà Mau: diện tích 141.000 ha. Đây là vùng sản xuất nông nghiệp chủ yếu phụ thuộc vào nước mưa, là vùng đang còn chịu ảnh hưởng mạnh của triều biển, đất dễ bị nhiễm mặn. Hướng sản xuất chủ yếu là lúa kết hợp nuôi cá đồng; trồng cây công nghiệp (dừa); phát triển công nghiệp chế biến.

2-Vùng kinh tế ven biển:

Với diện tích 154.800 ha, chiếm 29,7% diện tích tự nhiên toàn tỉnh. Dân số khoảng 170.000 người, mật độ trung bình 110 người/km2. Vùng có hướng sản xuất chính là nuôi trồng thủy sản, khôi phục phát triển hệ sinh thái rừng ngập mặn. Đây là vùng kinh tế động lực của tỉnh.

3-Vùng kinh tế biển:

Bao gồm vùng biển, thềm lục địa và các đảo gần bờ của Cà Mau. Đây là vùng kinh tế có ý nghĩa chiến lược của tỉnh, trên cơ sở phát triển ngành khai thác xa bờ, khai thác và dịch vụ khai thác dầu khí tự nhiên, vận tải biển và du lịch sinh thái. Gắn liền việc khai thác với bảo vệ, đảm bảo an ninh chủ quyền vùng biển.

Tốc độ tăng trường kinh tế của Cà Mau trong một số năm gần đây khá nhanh. Tuy vậy bình quân một số mặt về kinh tế, xã hội theo đầu người còn thấp.

Để vững bước tiến vào thế kỷ XXI, việc tăng cường vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng là quan trọng và cấp bách. Đồng thời phải đặc biệt coi trọng yếu tố con người.

Với nguồn lực sẵn có, biết tổ chức khai thác hợp lý, nền kinh tế Cà Mau chắc chắn sẽ đạt được những thành tựu mới.

Một vùng đồng bằng màu mỡ, đất rộng người thưa, quanh năm chan hòa ánh nắng mặt trời, có rừng, có biển, lắm cá, nhiều tôm, tiềm năng nông nghiệp ít có tỉnh sánh bằng. Nếu khai thác tốt tiềm năng này, Cà Mau sẽ là một tỉnh giàu và sẽ là một tỉnh làm giàu cho cả nước, đặc biệt là nguồn xuất khẩu thủy hải sản.

Câu hỏi:

1-Nêu những nội dung chủ yếu của 3 vùng kinh tế ở Cà Mau .

2-Triển vọng phát triển kinh tế của Cà Mau những năm tới như thế nào ?

 

 

Bài đọc thêm:

THỜI CƠ VÀ ĐỘNG LỰC ĐỂ THỦY SẢN NGÀNH KINH TẾ MŨI NHỌN CÀ MAU PHÁT TRIỂN

 

Nhìn một cách tổng thể, những năm qua thủy sản Cà Mau đang trên đà phát triển với tốc độ khá nhanh. Nếu lấy mốc thời gian năm 1990 tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản Cà Mau chỉ đạt 31 triệu USD so với 145,24 triệu USD năm 1999 thì chúng ta sẽ thấy sự nhảy vọt rõ rệt. Đặc biệt 8 tháng đầu năm 2000 đã đánh dấu bước phát triển vượt bậc của ngành kinh tế thủy sản Cà Mau: tổng sản lượng khai thác ước đạt 175.660 tấn, tăng hơn cùng kỳ 145.73%. Riêng sản lượng tôm đạt 103,86% chỉ tiêu kế hoạch năm 2000; tổng giá trị hàng hóa xuất khẩu được 156 triệu 829 ngàn USD, tăng 186,61% so với cùng kỳ và đạt 100,53% chỉ tiêu cả năm. Ngoài ra thủy sản còn được tiêu thụ nội địa hơn 31,52 tỷ đồng.

Như vậy, thời gian chỉ mới 8 tháng mà tổng giá trị hàng hóa xuất khẩu các mặt hàng thủy sản Cà Mau đã đạt chỉ tiêu kế hoạch cả năm. Động lực nào thúc đẩy nền kinh tế thủy sản phát triển nhanh chóng ? ông Diệp Thanh Hải, Phó giám đốc Sở Thủy sản Cà Mau lý giải: “Trước hết phải cần nhấn mạnh rằng lãnh đạo tỉnh Cà Mau đã đánh giá đúng vai trò và vị trí của kinh tế thủy sản Cà Mau , xác định đây là nền kinh tế chủ đạo có khả năng chi phối đến nền kinh tế – xã hội của tỉnh Cà Mau, trong đó con tôm giữ vai trò số một. Từ đó mà tỉnh đã tập trung đầu tư phát triển ngành kinh tế thủy sản đưa nó đi vào chiều sâu. Đặc biệt sau cơn bão số 5 (năm 1997), được Chính phủ quan tâm đầu tư vốn hàng trăm tỷ đồng để khôi phục và phát triển nghề khai thác thủy sản ở Cà Mau. Theo đó, tỉnh cũng quan tâm đầu tư phát triển nghề nuôi trồng thủy sản trong vùng kinh tế ven sông, ven biển. Với các mô hình nuôi tôm sú thâm canh, bán thâm canh năng suất cao. Các công ty, xí nghiệp chế biến thủy sản xuất khẩu đã đầu tư đổi mới công nghệ, năng động trong việc tìm đối tác, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm...”

Thật vậy, có thể khẳng định sau cơn bão số 5 (năm 1997) được Chính phủ đầu tư vốn ưu đãi, đã tiếp sức cho ngành kinh tế thủy sản Cà Mau tăng tốc nhanh. Hiện nay Cà Mau có đội tàu khai thác biển 4.350 chiếc với tổng công suất 260.000 CV. Trong đó có hơn 1.000 chiếc với công suất lớn đủ khả năng vươn ra khai thác các ngư trường xa bờ, dài ngày trên biển (chiếm hơn 20% so với đội tàu cả nước). Nếu đơn giản đi những yếu tố khó khăn vướng mắc do điều kiện khách quan và chủ quan của nghề khai thác biển ở Cà Mau hiện nay, thì sẽ chính đội tàu này 8 tháng đầu năm 2000 đã đóng góp cho kinh tế thủy sản Cà Mau 126.200 tấn thủy sản nguyên liệu các loại.

Còn nghề nuôi trồng thủy sản trong tỉnh đang từng bước hình thành như thế nào ? các mô hình sản xuất chuyên môn rừng – tôm, lúa – tôm đang được mở rộng với qui mô đại trà ở một số nơi có điều kiện thích hợp. Phương pháp nuôi tôm theo phương pháp quảng canh từng bước bị thu hẹp trên vùng đất Cà Mau. Người nông dân đã năng động hơn, áp dụng phương pháp nuôi tôm quảng canh cải tiến có hiệu quả và năng suất cao. Đặc biệt mô hình nuôi tôm sú công nghiệp đã được định hình ở Cà Mau. Hiện nay một số nơi đã mạnh dạn áp dụng mô hình nuôi tôm công nghiệp thí điểm bước đầu đã cho thấy có hiệu quả thiết thực, đang mở ra một triển vọng cho nghề nuôi trồng thủy sản ở Cà Mau phát triển và mới đây thêm một cơ hội nữa cho ngành kinh tế thủy sản Cà Mau phát triển. Chính phủ đã đồng ý cho phép tỉnh Cà Mau điều chỉnh quy hoạch sản xuất trên qui mô toàn tỉnh. Có thể nói, quyết định trên là động lực, là điều kiện tiên quyết để vực dậy tiềm năng kinh tế thủy sản ở vùng Bán đảo Cà Mau.

Theo đề án quy hoạch sản xuất thì Cà Mau sẽ mở rộng diện tích nuôi trồng thủy sản trong vùng kinh tế ven sông, ven biển; đồng thời bố trí sản xuất tổng hợp trong vùng kinh tế nội địa, trong vùng kinh tế này có khoanh ô nuôi tôm theo từng tiểu vùng thích hợp. Trước mắt tỉnh Cà Mau sẽ chuyển dịch từ 40.000 – 45.000 ha bằng các hình thức tôm – vườn, hoặc nuôi tôm thâm canh, bán thâm canh. Theo đó, tỉnh Cà Mau sẽ tập trung mọi nguồn lực để đầu tư thực hiện đề án điều chỉnh quy hoạch sản xuất. Theo cách tính toán của kỷ sư Nguyễn Thông Nhận, công tác tại Sở Thủy sản Cà Mau thì tổng số vốn đầu tư phục vụ cho chuyển dịch 40.000 ha khoảng 1.838 tỷ đồng, bao gồm: đầu tư cho cải tạo hệ thống thủy lợi, các kinh trục dẫn nước, sản xuất con giống, công nghệ chế biến, đào tạo nguồn nhân lực có trình độ khoa học kỹ thuật... Với hướng này, trong tương lai không xa sẽ làm thay đổi toàn bộ cục diện kinh tế thủy sản ở Cà Mau.

Điều dễ nhận thấy rằng, trước đây công nghệ chế biến thủy sản ở Cà Mau còn thô sơ lạc hậu, công suất chế biến còn thấp, thì đến nay toàn tỉnh Cà Mau có 19 nhà máy chế biến thủy sản (15 nhà máy chế biến tôm xuất khẩu, 2 nhà máy chế biến bột cá và 2 nhà máy chế biến chả cá) tổng công suất hơn 48.000 tấn / năm. Hiện nay Cà Mau đang xúc tiến xây dựng thêm nhà máy chế biến thủy sản ở Đồng Cùng, xã Trần Thới, huyện Cái Nước với tổng số vốn đầu tư dự kiến khoảng 26 tỷ đồng. Công ty chế biến thủy sản Minh phú cũng đang được đầu tư mở rộng dây chuyền sản xuất . Hiện nay Cà Mau có 7 băng chuyền IQF dạng phẳng công suất 4.300 tấn / năm. Dự kiến sang năm 2001 sẽ đầu tư mở rộng thêm từ 10 – 12 băng chuyền IQF, nâng công suất lên khoảng 25.000 tấn / năm, từng bước thay thế dần tủ đông Block truyền thống. Một số công ty, xí nghiệp đã mạnh dạn đầu tư đổi mới công nghệ để chế biến từ sơ chế lên tinh chế để nâng cao giá trị sản phẩm, mạnh dạn đầu tư cho chế biến để chuyển sang chế biến hàng hoá giá trị gia tăng.

Hiện nay tỉnh Cà Mau có khoảng 13 cụm kinh tế biển, nhưng nhìn chung cơ sở hạ tầng còn yếu kém, lạc hậu chưa phát huy được hiệu quả tích cực. Tỉnh đang có kế hoạch đầu tư phát triển các cụm kinh tế biển trọng điểm, đặc biệt chú ý đầu tư xây dựng dịch vụ hậu cần nghề biển, đồng thời xúc tiến xây dựng 2 công trình cảng cá Cà Mau và Hòn Khoai  để sớm đưa vào sử dụng. Lợi thế Cà Mau là chiều dài bờ biển 254 km, với ngư trường rộng 80.000 km2, có nhiều loài thủy sản đa dạng và phong phú. Do vậy việc đẩy nhanh tiến độ xây dựng Cảng cá  là một vấn đề bức thiết làm vệ tinh cho nghề khai thác biển ở Cà Mau phát triển.

Vấn đề khó khăn đối với kinh tế ở Cà Mau hiện nay là nguồn nhân lực. Đây là yếu tố khá quan trọng để thúc đẩy cho ngành kinh tế mũi nhọn này phát triển. Theo ông Diệp Thanh Hải, phó giám đốc Sở thủy sản tỉnh Cà Mau thì vấn đề này đang được lãnh đạo tỉnh và Sở thủy sản quan tâm. Vì vậy một chiến lược đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho ngành kinh tế thủy sản  đang được triển khai thực hiện. Theo kế hoạch, đến năm 2005 tỉnh Cà Mau sẽ đào tạo 200 kỹ sư thủy sản, 1.000 cán bộ trung cấp, 2.000 thuyền trưởng, máy trưởng tàu đánh cá loại 4, loại 5;  5.000 ngư phủ, 10.000 công nhân kỹ thuật nuôi tôm và 5.000 lao động chế biến trong các nhà máy chế biến thủy sản.

Như vậy, có thể nói chiến lược phát triển kinh tế thủy sản Cà Mau đã được phác thảo trên cơ sở phù hợp với tiềm năng và thế mạnh của mảnh đất này. Vấn đề còn lại là việc triển khai thực hiện. Trong quá trình này đòi hỏi phải có sự hỗ trợ của Chính phủ, các Bộ, ngành có liên quan trong việc đầu tư vốn, kỹ thuật, nhân lực và các biện pháp linh hoạt và sáng tạo, làm thế nào phát huy một cách tối đa tiềm năng kinh tế thủy sản mà thiên nhiên đã ưu đãi cho vùng Bán đảo Cà Mau.

(Theo Ngô Minh Tòng – Bài đăng trên Báo Cà Mau số 378-2000).

 

 

QUY MÔ PHÁT TRIỂN TRƯỜNG, LỚP, HỌC SINH, CÁN BỘ, GIÁO VIÊN TỪ NĂM HỌC 1996 -1997 ĐẾN NĂM HỌC 2000-2001

 

            Năm học 1996-1997       Năm học 1997-1998       Năm học 1998-1999       Năm học 1999-2000       Năm học 2000-2001

Trường X          X          X          X          X

NT – MG           23         27         30         32         33

Tiểu học            176       193       221       234       235

THCS (cấp 2)     54         64         71         86         88

PTCS (cấp 1,2)  9                                             

THPT (cấp 3)     15         16         16         16         17

Trung tâm GDTX            5          5          5          6          6

Lớp      X          X          X          X          X

NT- MG 315       363       421       443       434

Tiểu học            6.378    6.380    6.477    6.427    6.211

THCS    1.128    1.316    1.477    1.599    1.741

THPT    170       200       251       325       424

Bổ túc THCS     13         15         18         10         11

Bổ túc THPT      23         25         40         27         55

Học sinh           X          X          X          X          X

NT- MG 6.926    8.698    9.887    10.302  10.633

Tiểu học            195.474 196.309 195.128 189.729 180.152

THCS    49.834  58.356  66.128  72.903  76.433

THPT    8.170    9.689    12.109  15.677  20.410

Bổ túc THCS     520       752       682       270       361

Bổ túc THPT      1.005    1.127    1.680    1.023    2.326

 

 

THỐNG KÊ KẾT QUẢ XẾP LOẠI HẠNH KIỂM HỌC SINH TỪ NĂM HỌC 1996-1997 ĐẾN NĂM HỌC 1999-2000

 

            Năm học 1996-1997       Năm học 1997-1998       Năm học 1998-1999       Năm học 1999-2000

1- Tiểu học (%)  X          X          X          X

 

-Tốt                      57,41                57,83                62,78                66,77

-Khá tốt                38,35                37,87                34,46                30,87

-Cần cố gắng                      4,24                  4,30                  2,77                  2,35

2- THCS (%)      X          X          X          X

-Tốt                      50,36                53,13                54,98                57,70

-Khá                    39,90                38,08                38,37                35,69

-Trung bình                         8,96                  8,48                  6,28                  6,37

-Yếu                      0,78                  0,29                  0,37                  0,22

3-THPT (%)       X          X          X          X

-Tốt                      38,00                39,53                42,18                45,13

-Khá                    44,66                45,22                46,14                45,29

-Trung bình                       16,63                14,17                11,08                  8,85

-Yếu                      0,71                  1,08                  0,60                  0,72

 

 

SỐ LƯỢNG CÁN BỘ, GIÁO VIÊN, NHÂN VIÊN TỪ NĂM HỌC 1996-1997 ĐẾN NĂM HỌC 2000-2001 (Số liệu đầu năm học)

 

            Năm học 1996-1997       Năm học 1997-1998       Năm học 1998-1999       Năm học 1999-2000       Năm học 2000-2001

*Tổng số CB, GV, NV           8.975              9.712              10.799            11.062  (*)11769

1-Cán bộ Sở, phòng GD-ĐT                151                    121                     125                   123                   152

2-CBQL trường, trung tâm                   592                   646                  737                   793                     830

3-Tổng số giáo viên             7.668               8.211                 9.119                  9.360            10.010

-Giáo viên Mầm non              419                   572                    555                   546                  546

+Tỷ lệ giáo viên / lớp              1,30                1,30                   1,09                    1,24                 1,26

+Tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn (%)         50,83                52,79                  67,87              75,00          

-Giáo viên Tiểu học             5.669                 5.903                  6.471             6.345              (*) 6665

+Tỷ lệ giáo viên / lớp              0,89                 0,92                    0,99                 0,99                  1,05

+Tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn (%)           49,42               55,71                83,26                 85,00        

-Giáo viên THCS            1.343        1.523                 1.792                 2.070          (*) 2341

+Tỷ lệ giáo viên / lớp              1,19                 1,16                  1,18                   1,28                 1,33

+Tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn (%)          66,14               66,12                74,95               80,00           

-Giáo viên THPT         237                   213                    301                    295                  379

+Tỷ lệ giáo viên / lớp             1,29                  1,06                   1,02                0,91                    0,89

+Tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn (%)        92,82                93,89                98,80                 99,00          

-Giáo viên trường THSP, các trung tâm.                                              104                      79

4- Nhân viên                564                   734                  818                    786                  777

 

Ghi chú: (*) Kể cả hợp đồng và giáo viên làm công tác Đoàn, Đội trong trường học.

 

 

THỐNG KÊ SỐ LIỆU CƠ SỞ VẬT CHẤT TỪ NĂM HỌC 1996-1997 ĐẾN NĂM HỌC 1999-2000

 

            Năm học 1996-1997       Năm học 1997-1998       Năm học 1998-1999       Năm học 1999-2000

*Tổng số phòng học               4.011                4.510                  4.845              5.093

Chia ra:                                    

+Phòng học cán bộ, BCB                      2.403              2.857                3.360                3.433

Tỷ lệ %        59,91              63,35                   69,35              67,41

+Phòng học tạm                 1.608                1.653                1.485                   1.660

Tỷ lệ %       40,09               36,65                 30,65                 32,59

+Số phòng học  ba ca                478               248                     73                        72

 

THỐNG KÊ KẾT QUẢ XẾP LOẠI HỌC LỰC HỌC SINH TỪ NĂM HỌC 1996-1997 ĐẾN NĂM HỌC 1999-2000

 

            Năm học   1996-1997     Năm học   1997-1998     Năm học   1998-1999     Năm học   1999-2000

1- Tiểu học (%)  X          X          X          X

-Giỏi     5,30      5,33      5,18      5,87

-Khá     23,60    23,51    23,59    24,94

-Trung bình        59,35    61,40    61,51    60,81

-Yếu     11,75    9,76      9,72      8,38

2- THCS (%)      X          X          X          X

-Giỏi     1,64      2,00      1,61      1,96

-Khá     15,27    17,94    17,24    19,39

-Trung bình        62,63    63,05    63,24    62,36

-Yếu     19,14    15,71    16,95    15,44

-Kém    1,30      1,30      0,96      0,83

3-THPT (%)       X          X          X          X

-Giỏi     2,21      2,13      2,03      2,52

-Khá     11,37    12,21    14,68    18,10

-Trung bình        54,99    50,73    46,06    47,74

-Yếu     29,35    31,99    34,17    29,33

-Kém    2,09      2,91      3,06      2,32

 

KẾT QUẢ THI TỐT NGHIỆP CÁC CẤP

 

            Năm học 1996-1997       Năm học 1997-1998       Năm học 1998-1999       Năm học 1999-2000

1- Tiểu học        X          X          X          X

-Số học sinh tốt nghiệp   21.940  23.375  26.439  27.101

-Tỷ lệ %            91,50    95,95    98,76    97,35

2- THCS            X          X          X          X

-Số học sinh tốt nghiệp   4.548    6.871    8.342    10.899

-Tỷ lệ %            65,90    84,66    85,40    94,96

3-THPT X          X          X          X

-Số học sinh tốt nghiệp   1.153    2.273    2.218    2.714

-Tỷ lệ %            65,50    97,30    93,35    86,65

4-Bổ túc THCS  X          X          X          X

-Số học sinh tốt nghiệp   110       520       545       659

-Tỷ lệ %            43,30    77,15    74,25    80,17

5-Bổ túc THPT   X          X          X          X

-Số học sinh tốt nghiệp   380       781       579       988

-Tỷ lệ %            60,90    90,60    77,82    82,82

 

(Trích sách Giáo khoa Địa lý lớp 9 – NXBGD - 1999, từ trang 83 đến 85).

 

 

CHƯƠNG III:

ĐỊA LÝ TỈNH ĐỊA PHƯƠNG

 

 

Bài 23

ÔN TẬP

 

1-Hãy xác định vị trí địa lý và giới hạn của tỉnh em. Điền vào lược đồ tự vẽ tên các tỉnh lân cận.

2-Diện tích của tỉnh em ? Tỉnh gồm có bao nhiêu huyện, Thành phố. Điền vào lược đồ tên các huyện, Thành phố và thị xã.

3-Hãy mô tả địa hình tỉnh em và nêu những đặc điểm chính.

4-Khí hậu tỉnh em có đặc điểm gì về nhiệt độ, gió, lượng mưa trong năm, trong các mùa ?

-Có những loại thời tiết gì đặc biệt ảnh hưởng (tốt, xấu) đến sản xuất và sinh hoạt của nhân dân ? (Nếu có thể, hãy vẽ một biểu đồ về nhiệt độ và lượng mưa trong năm).

 

 

Bài 24

ÔN TẬP

1-Trong tỉnh em có những sông nào chảy qua ? Chảy theo hướng nào ?

-Điền vào lược đồ các sông nói trên. Những đặc điểm chính của các sông đó là gì ? (lượng nước, chế độ dòng chảy, tác dụng đối với sản xuất và sinh hoạt ?).

2-Tỉnh em có những loại thổ nhưỡng nào ? đặc điểm của từng loại ? Chúng được phân bố ở đâu ? Chúng có giá trị gì đối với sản xuất nông nghiệp ?

3-Thảm thực vật trong tỉnh em có những loại gì ? (rừng, đồng cỏ, ruộng lúa,...). Gồm những loại cây gì ? Chúng được phân bổ ở đâu ? (Nếu có thể cho biết tỷ lệ diện tích phân bổ).

4-Các loại tài nguyên khác có những gì ? (khoáng sản, năng lượng, thủy sản,...).

5-Hãy nhận xét chung về hoàn cảnh tự nhiên của tỉnh em.

 

 

Bài 25

ÔN TẬP

 

1-Tỉnh em có bao nhiêu dân ? Tỉ lệ so với cả nước là bao nhiêu ? vẽ biểu đồ biểu thị tỉ lệ đó.

2-Mật độ dân số tỉnh em là bao nhiêu ? Có những thành phần dân tộc nào?

3-Dân cư tỉnh em thuộc loại hình cư trú nào ? (Nếu có thể cho biết tì lệ từng loại).

4-Sự phân bố dân cư ra sao ?

 

 

Bài 26

ÔN TẬP

 

1-Nhìn chung, tỉnh em có những ngành kinh tế nào ? (nông nghiệp, công nghiệp, ngư nghiệp, lâm nghiệp, du lịch,...). Những ngành nào tương đối phát triển, kém phát triển ? Đa số dân cư tham gia sản xuất trong những ngành nào ?

2-Về sản xuất công nghiệp (kể cả tiểu thủ công nghiệp), tỉnh em có những ngành (ngành nhỏ) nào ? Tình hình sản xuất ra sao ? Những ngành nào nổi tiếng nhất với những sản phẩm gì ? Phân bố ở đâu ?

(Nếu có thể, cho biết khả năng phát triển trong tương lai).

3-Về nông nghiệp, trong tỉnh em có những ngành sản xuất nhỏ nào ? Tình hình sản xuất của từng ngành ra sao ? Các nông phẩm chính là gì ? Phân bố ở đâu?

(Nếu có thể, cho biết khả năng phát triển trong tương lai).

 

 

Bài 27

ÔN TẬP

 

1-Ngoài hai ngành sản xuất: công nghiệp và nông nghiệp, tình hình phát triển các ngành kinh tế khác (lâm nghiệp, ngư nghiệp) trong tỉnh em ra sao ? Sản phẩm là gì ? Phân bố ở đâu ?

(Nếu có thể, cho biết khả năng phát triển trong tương lai).

2-Tỉnh em có những loại phương tiện giao thông vận tải gì ? (đường sắt, đường bộ, đường biển, đường sông, ...). Các tuyến đường chính là những tuyến nào ? Vai trò của những tuyến đường đó trong nền kinh tế ra sao ?

Điền vào lược đồ các tuyến đường giao thông chính.

3-Các mối quan hệ kinh tế giữa tỉnh em và các tỉnh lân cận, các tỉnh khác trong cả nước ra sao ? Các sản phẩm nào được trao đổi với các tỉnh đó ?

(Nếu có hàng xuất khẩu thì là hàng gì ? xuất đi nước nào và nhập về những gì ?)

4-Các Thành phố, thị xã, thị trấn nào trong tỉnh có nhiều cơ sở sản xuất quan trọng và nổi tiếng (về các ngành sản xuất công nghiệp, du lịch...) ?

 

 

PHẦN KẾT LUẬN

 

Việc nghiên cứu đề tài này của chúng tôi là sự vận dụng lý luận về phương pháp giảng dạy và học tập nói chung ở Trường Trung học phổ thông, để thực hiện việc dạy và học tập lịch sử , địa lý địa phương cho học sinh phổ thông ở tỉnh Cà Mau, nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục toàn diện, đặc biệt là công tác giáo dục chính trị, tư tưởng đạo đức cho học sinh, trước yêu cầu của tình hình và nhiệm vụ mới mà các Nghị quyết của Đảng về văn hoá - giáo dục đã khẳng định.

Những vấn đề mà chúng tôi đã trình bày, ngoài việc dựa vào tài liệu theo thư mục tham khảo, chúng tôi còn dựa vào kinh nghiệm của bản thân trong thời gian chúng trực tiếp làm giáo viên, làm quản lý trường học. Chúng tôi cũng dựa vào kinh nghiệm của các cán bộ quản lý giáo dục, của các giáo viên, của các đồng chí lãnh đạo Đảng, chính quyền ở địa phương, đặc biệt là Hiệu trưởng trường phổ thông và giáo viên dạy các bộ môn lịch sử và địa lý ... ở trong tỉnh. Ngoài các cuộc trao đổi, khảo sát, xin ý kiến các đối tượng trên, chúng tôi còn tiến hành tìm hiểu, quan sát và khảo sát hoạt động dạy và học lịch sử, địa lý địa phương cho học sinh phổ thông trong tỉnh. Chúng tôi cũng dựa vào các công trình nghiên cứu, biên soạn đã được tổng kết đánh giá ở trong nước và ở địa phương.

Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi đã nhận được sự đồng tình, cỗ vũ, ủng hộ và góp ý kiến của nhiều giáo viên. Từ đó, chúng tôi đã rút ra rất nhiều kinh nghiệm bổ ích cho bản thân trong công tác quản lý, chỉ đạo công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, tình cảm cách mạng cho học sinh ở các trường phổ thông.

Trên cơ sở nghiên cứu đề tài và bước đầu có sử dụng một vài kết quả ở tỉnh Cà Mau, chúng tôi có thể nêu ra một số kết luận khái quát như sau:

1-Công tác dạy và học lịch sử, địa lý địa phương cho học sinh là một yêu cầu hết sức bức thiết trong giai đoạn hiện nay. Trên thực tế hầu hết các trường Trung học phổ thông trong tỉnh Cà Mau đã có Tổ chức giáo dục vấn đề này. Phần lớn công việc đều thực hiện một cách tự phát; việc quản lý công tác này trong các trường còn nhiều hạn chế, nhiều vấn đề chưa giải quyết, chưa xác định rõ nội dung và hình thức Tổ chức dạy và học như thế nào cho có hiệu quả.

2-Chất lượng dạy và học các môn khoa học xã hội, nhân văn; đặc biệt là môn lịch sử, địa lý địa phương còn nhiều hạn chế, chưa có điều kiện thực hiện tốt việc đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng tích cực, khám phá nhằm phát huy tối đa nội lực sáng tạo của học sinh, các nhà trường chưa có kế hoạch  và điều kiện Tổ chức cho học sinh đi tham quan, học tập thực tế ngoài lớp học gắn với nội dung giáo dục ở nhà trường với thực tiễn lịch sử, địa lý địa phương, nhất là trong công tác giáo dục tư tưởng, chính trị, đạo đức và giảng dạy bộ môn lịch sử, địa lý địa phương.

3-Trong công tác giáo dục truyền thống cách mạng địa phương cho học sinh của các trường phổ thông trung học ở Cà Mau hiện nay, về nội dung còn rất chung chung; tư liệu lịch sử, các địa danh, các di tích lịch sử có liên quan đến nội dung giáo dục mặc dù rất nhiều và đã được thẩm định nhưng còn tản mạn và nằm rải rác ở các cơ quan chuyên môn, ở các địa phương cần tiến hành thống kê tổng hợp, thu thập thành tư liệu đã có để giúp vào các tiết dạy trên lớp và các hoạt động ngoại khóa tốt hơn, tránh tình trạng dạy học còn đơn điệu chưa có chương trình, kế hoạch cụ thể và hiệu quả giáo dục không cao.

Những vấn đề được trình bày trong nội dung đề tài nghiên cứu khoa học này phần nào sẽ góp phần giải quyết được các yêu cầu và khắc phục dần thực trạng tồn tại trên nhằm đưa công tác giảng dạy và học lịch sử, địa lý địa phương đi vào nề nếp trong các trường phổ thông trong tỉnh. Vì vậy, để kết quả nghiên cứu này bước đầu được ứng dụng, triển khai vào công tác dạy và học lịch sử, địa lý địa phương cho học sinh phổ thông Cà Mau được tốt hơn, chúng tôi xin đưa ra một số kiến nghị như sau:

Thứ nhất: Sở giáo dục và đào tạo cần có văn bản pháp quy quy định rõ việc dạy và học lịch sử, địa lý địa phương cho học sinh phổ thông nói chung là một trong những nội dung giáo dục bắt buộc trong nhà trường. Trong đó cần phân định rõ phần cứng thực hiện theo phân phối chương trình do Bộ giáo dục và đào tạo quy định đối với bậc trung học và phần mềm do giáo viên hoặc do hiệu trưởng tự chọn và quyết định trên cơ sở kết quả nghiên cứu của đề tài này.

Thứ hai: Truyền thống cách mạng địa phương gắn liền với các di tích lịch sử cách mạng, các sự kiện cách mạng, các anh hùng liệt sỹ, các nhân chứng lịch sử; gắn liền với tự nhiên và xã hội, với quá trình lao động và phát triển kinh tế của tỉnh nhà. Nhiều địa danh, nhiều sự kiện về kinh tế –xã hội, nhiều nhân vật đã đi vào huyền thoại gắn với những chiến công oanh liệt của địa phương, tạo nên bản anh hùng ca về cuộc chiến đấu anh dũng nối tiếp truyền thống vẻ vang của dân tộc, của nhân dân địa phương Cà Mau. Tuy nhiên đến nay, mặc dù đã có nhiều chương trình nghiên cứu, tổ chức nhiều hội thảo khoa học về các đề tài lịch sử cách mạng địa phương, xây dựng, tôn tạo được một số di tích, bia, tượng đài... nhưng vẫn chưa nhiều, chưa thống kê tổng hợp, tổng kết được hết những vấn đề có liên quan đến truyền thống cách mạng oanh liệt của thời kỳ kháng chiến chống Pháp và Mỹ ở Cà Mau. Do đó chúng tôi kiến nghị với các cơ quan chức năng Nhà nước ở địa phương không những phải quan tâm đầu tư tôn tạo và  phát huy tác dụng các khu di tích cách mạng mà còn phải tiếp tục xây dựng bia, tượng đài kỷ niệm và Tổ chức nhiều hội thảo, nhiều chương trình nghiên cứu khoa học có liên quan đến lịch sử cách mạng địa phương và địa lý địa phương.

Thứ ba: ngành giáo dục và đào tạo tỉnh, các trường phổ thông cần liên kết phối hợp với các ngành, các địa phương và thu thập các tư liệu cần thiết có liên quan đến nội dung dạy và học lịch sử, địa lý địa phương phù hợp với từng địa phương, từng trường phổ thông nhằm phục vụ tốt cho việc giáo dục, giảng dạy và học tập hai bộ môn này.

Thứ tư: chúng tôi đề nghị giám đốc Sở giáo dục và đào tạo tỉnh Cà Mau là cơ quan chủ trì và giám đốc Sở khoa học – công nghệ và môi trường Cà Mau là cơ quan chủ quản sau khi chúng tôi hoàn thành bảo vệ đề tài và được Hội đồng khoa học tỉnh Cà Mau chấp thuận thông qua thì cho phép chúng tôi được triển khai đưa vào giảng dạy ngay đối với các trường phổ thông trong tỉnh qua sự chỉ đạo về chuyên môn của Sở giáo dục và đào tạo tỉnh Cà Mau. Qua đó chúng tôi sẽ có điều kiện tiếp tục nghiên cứu, bổ sung tiếp những vấn đề được đặt ra và còn hạn chế của đề tài này./-

---------------------------