Thạch Lam và văn xuôi Việt Nam trước năm 1945
 

 

Sáng tác của Thạch Lam trong

đời sống văn học việt nam truớc 1945

                                                                                  Phạm Xuân Thạch

 

Như chúng tôi đã trình bày, cho đến nay, Thạch Lam là một trong những tên tuổi của TLVĐ (TLVĐ) được tái bản, được khẳng định vị trí và giá trị văn học sử sớm nhất tại miền Bắc sau năm 1954 và ở Việt Nam sau năm 1975. Trong các bộ văn học sử, trong các giáo trình đại học, trong các bộ sách giáo khoa giảng dạy trong nhà trường phổ thông, ông là đại diện duy nhất trong số những tác giả viết văn xuôi của TLVĐ được trình bày với tư cách là một tác gia văn học quan trọng. Đồng thời, còn có một khuynh hướng biệt lập (thậm chí đối lập) Thạch Lam với TLVĐ coi ông như một tác gia độc lập và đưa sáng tác của ông lại gần với những tác giả văn xuôi thuộc khuynh hướng hiện thực. Khuynh hướng này cũng diễn ra với một số thành viên khác của TLVĐ mà tiêu biểu là Xuân Diệu và Thế Lữ. Tình trạng này, theo chúng tôi, xuất phát từ một số nguyên nhân chủ yếu :

Thứ nhất, sự chi phối quá sâu sắc của những giá trị chính trị đối với các nghiên cứu văn học sử. Như đã biết, Thạch Lam nằm trong số các tác giả không tham gia vào các hoạt động chính trị, xã hội sôi nổi của TLVĐ trong những năm 1936 – 1939 và đặc biệt, sau năm 1941. Ông không có những tuyên ngôn ồn ào về cải cách xã hội và phong tục, không phải là một người theo đuổi những lý tưởng về một thứ chủ nghĩa xã hội không tưởng như Hoàng Đạo (chịu ảnh hưởng bởi những tư tưởng của L. Tolstoi), và càng không tham gia những tổ chức chính trị chống Pháp (Đại Việt Dân chính – một tổ chức đối lập với những người Cộng sản) như Hoàng Đạo, Nhất Linh. Cho đến nay, những “vết đen” trong lý lịch chính trị của những nhà văn này vẫn là nguyên nhân khiến các nhà nghiên cứu chưa có được một cái nhìn thực sự công bằng đối với sự nghiệp văn chương của họ (một trong những nhà nghiên cứu sáng suốt vượt qua được những “chướng ngại” này là GS. Đỗ Đức Hiểu – một chuyên gia nghiên cứu văn học Pháp. Ông đã có một bài viết xuất sắc về những tìm tòi nghệ thuật của tiểu thuyết Nhất Linh, từ Đoạn tuyệt đến Bướm trắng).

Thứ hai, cái nhìn xã hội học và khuynh hướng đề cao quá mức giá trị phản ánh của tác phẩm đã khiến cho giới nghiên cứu đánh giá cao một cách thiên lệch giá trị của những sáng tác của Thạch Lam. Trong TLVĐ, xuất phát từ giai đoạn lăn lộn kiếm sống trước khi tham gia văn đoàn, Thạch Lam nằm trong số những nhà văn có một vốn sống phong phú về đời sống của những người bình dân lớp dưới ở những đô thị. Truyện ngắn của ông cũng thường lấy những nhân vật lớp dưới làm đối tượng phản ánh với một cái nhìn giàu lòng nhân ái. Đó là một thực tế không thể phủ nhận. Có điều, đề tài, đối tượng phản ánh không phải là tiêu chí duy nhất để thẩm định giá trị của một tác phẩm văn học.

Thứ ba, cách đánh giá có phần chưa thỏa đáng của giới nghiên cứu văn học sử về vị trí của TLVĐ trong tiến trình văn học. Cho đến nay, cùng với Thơ mới, TLVĐ vẫn được hình dung như là những đại diện của phuơng pháp sáng tác lãng mạn trong văn học Việt Nam, là hình chiếu của chủ nghĩa lãng mạn châu Âu vào thực tế văn học Việt Nam. Chúng tôi không phủ nhận những ảnh hưởng của chủ nghĩa lãng mạn (cùng nhiều khuynh hướng nghệ thuật khác của châu Âu thế kỷ XIX – XX) đối với sáng tác của TLVĐ và một số văn nghệ sĩ trước năm 1945. Tuy nhiên, cũng không thể bỏ qua một thực tế là sự phát triển của các trường phái, khuynh hướng thường pha tạp và không thuần nhất. Chính vì vậy, áp dụng một cách máy móc mô hình lý thuyết phương Tây vào thực tế văn học Việt Nam, vô hình trung sẽ bỏ qua thực tế có tính nội tại và những giá trị đích thực của văn học dân tộc. Hơn nữa, ngày nay,  trên thế giới, phương pháp sáng tác không còn được coi là tiêu chí duy nhất để hình dung văn học sử. Theo chúng tôi, vai trò, ý nghĩa của TLVĐ trong tiến trình lịch sử lớn hơn là sự xuất hiện của một phương pháp sáng tác và việc áp dụng một cách cứng nhắc mô hình phương pháp sáng tác vào nghiên cứu văn học sử, vô hình trung, đã làm giản hóa đối tượng nghiên cứu, không cho phép thấy được tính chất phức tạp nội tại của đối tượng. Trường hợp TLVĐ là một ví dụ điển hình. Một trong những người sớm đặt lại vấn đề này là một chuyên gia nghiên cứu văn học Trung đại : Cố Giáo sư Trần Đình Hượu. Chỉ có điều, kể từ thời điểm bài viết của Giáo sư được công bố, việc giảng dạy về TLVĐ trong nhà trường đại học dường như vẫn chưa có nhiều thay đổi.

Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi đặt vấn đề định vị lại mối quan hệ của sáng tác của Thạch Lam và những nhà văn khác trong TLVĐ cũng như những chủ trương, đường lối phát triển chung của tổ chức văn học này. Trong sự hình dung đó, chúng tôi cố gắng vượt ra khỏi hệ tiêu chí phương pháp sáng tác để có một cái nhìn tổng thể hơn về vấn đề. Trên cơ sở đó, chúng tôi cũng đặt vấn đề nhìn nhận lại vị trí của sáng tác Thạch Lam trên tiến trình vận động chung của tự sự nghệ thuật ở Việt Nam trước năm 1945. Hy vọng cách đặt vấn đề đó sẽ đem lại một hình dung khác về vận động của văn học Việt Nam trong tiến trình hiện đại hóa văn học dân tộc.

1. Để có thể tái lập được một cách đầy đủ những mối quan hệ giữa sáng tác của Thạch Lam và TLVĐ không thể bỏ qua một số mốc thời gian đánh dấu những thời điểm chính trong hoạt động sáng tác của nhóm nhà văn này. Thạch Lam bắt đầu viết văn vào năm 1936 và tập truyện đầu tiên của ông (Gió lạnh đầu mùa) được xuất bản vào năm 1937. Vào thời điểm này, TLVĐ đã trở thành một tổ chức văn học có uy tín trong đời sống văn chương và những thành viên trụ cột của tổ chức văn học này (Nhất Linh, Khái Hưng - chúng tôi chỉ bàn đến những tác gia sáng tác văn xuôi) cũng đã kịp trở thành những tên tuổi lớn trong đời sống văn học với những tác phẩm không chỉ gây nên được tiếng vang trong đời sống văn học đương đại mà còn tạo dựng vị trí lâu dài cho họ trong lịch sử văn học dân tộc : Anh phải sống, Hồn bướm mơ tiên, Nửa chừng xuân, Đoạn tuyệt, Đời mưa gió, Gánh hàng hoa, Lạnh lùng, Gia đình,…  TLVĐ là một hiện tượng văn học phức tạp trong chủ trương tư tưởng cũng như trong hoạt động sáng tác. Sáng tác của các nhà văn thành viên của tổ chức văn học này một mặt đề cập trực diện đúng vào những vấn đề bức xúc của thời đại (sự háo hức khám phá thế giới tinh thần và tình yêu của thanh niên; những vấn đề xã hội mà điển hình là sự xung đột giữa chủ nghĩa cá nhân và những biểu hiện của văn hóa truyền thống) và đồng thời cũng báo hiệu những xu hướng phát triển chính trong sáng tác của họ : khuynh hướng tiếp cận hiện thực (hướng về mô tả hiện thực tâm lý), những hình thức thể loại chính (tiểu thuyết luận đề, tiểu thuyết phong tục và tiểu thuyết tâm lý), những mảng đề tài có tính “truyền thống” trong sáng tác của văn đoàn (đời sống tinh thần của thanh niên và thị dân, thực tế sinh hoạt trong những đại gia đình truyền thống, mô tả một mảng sinh hoạt vật chất và tinh thần của những người bình dân)… Từ 1936, bắt đầu một giai đoạn sáng tạo mới trong sáng tác của văn đoàn. Bắt đầu từ thời điểm này, chấm dứt tình trạng tác phẩm viết chung Khái Hưng – Nhất Linh. Từng thành viên của văn đoàn bắt đầu chủ động tìm kiếm và theo đuổi những tìm tòi nghệ thuật của mình. Từ đây, bắt đầu thời kỳ xuất hiện những tác phẩm đánh dấu những tìm tòi nghệ thuật  ở chiều sâu trong sự nghiệp sáng tác của họ : Đôi bạn, Bướm trắng (Nhất Linh); Đẹp, Băn khoăn (Khái Hưng); Con đường sáng (Hoàng Đạo). Xu thế vận động chung của họ là sáng tạo nên những thành tựu vượt lên trên những giá trị đã có làm nên tên tuổi của văn đoàn. Xuất hiện và hoạt động chủ yếu vào thời kỳ sáng tác thứ hai này của TLVĐ, theo chúng tôi, một mặt Thạch Lam có cơ sở để kế thừa những thành tựu của những nhà văn tiên phong của TLVĐ, mặt khác, là cơ sở để ông có những nghiền ngẫm cho con đường sáng tạo nghệ thuật riêng mình. Sự giao thoa giữa sáng tác của Thạch Lam và hoạt động văn chương của TLVĐ diễn ra trên mọi bình diện của hoạt động sáng tác.

2. Từ góc độ nội dung phản ánh của tác phẩm, có thể nhận thấy sự  tồn tại của những vùng giao thoa giữa sáng tác của Thạch Lam và các tác giả văn xuôi khác trong của TLVĐ (Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo). Nói cách khác, họ có chung những mối quan tâm đối với hiện thực. Tiếp nối mạch đề tài có tính “truyền thống” của TLVĐ, một bộ phận sáng tác của Thạch Lam mô tả những thảm kịch sinh hoạt của những kiếp người trong đại gia đình truyền thống : những thảm kịch hôn nhân, sự xung đột giữa các thế hệ, những kiếp người “chết mòn” trong thế giới u tối và tàn bạo của đại gia đình truyền thống,… Dẫu vậy, đây không phải là mảng sáng tác chủ đạo trong truyện ngắn Thạch Lam, khó có thể coi ông là một nhà văn chuyên “mô tả phong tục” như Khái Hưng.

Một bộ phận không nhỏ sáng tác của Thạch Lam hướng vào phản ánh đời sống tinh thần của những người thị dân trung lưu đương thời. Tương tự như tự sự của Nhất Linh, Khái Hưng hay Hoàng Đạo, phảng phất trong tác phẩm của Thạch Lam giấc mơ về một cuộc sống hạnh phúc bình dị được hiển hiện qua hình ảnh ngôi nhà, khu vườn, nếp sống lặng lẽ và an lành bên những người thân yêu (bà, người bạn gái cũ) trong Dưới bóng hoàng lan. Ông cũng bắt đầu đề cập tới cuộc sống sa đọa về đạo đức, lối sống, mặt trái ích kỷ và nhẫn tâm của một bộ phận thị dân trung lưu (trong các truyện ngắn Sợi tóc, Một cơn giận và đặc biệt, truyện ngắn Trở về) tương tự như Khái Hưng hay Nhất Linh. Tuy vậy, đề tài có tính “sở trường” của Thạch Lam thường là những xung đột tình cảm có tính đời thường của người thị dân, từ những dằn vặt trong cuộc đời sáng tác của một nhà văn (Cuốn sách bị bỏ quên), sự nảy nở của tình phụ tử (Đứa con đầu lòng), cuộc xung đột sâu sắc bên trong con người giữa cái tốt và cái xấu (Một cơn giận, Sợi tóc, một phương diện, kể cả truyện ngắn Tiếng chim kêu) và đặc biệt là cảm xúc đối với những thân phận nghèo khổ (Một cơn giận, Người bạn trẻ, Cái chân què, Gió lạnh đầu mùa). Cái nhìn của người thị dân trong truyện ngắn Thạch Lam đối với số phận của những người nghèo thường nhuốm màu thương cảm và thậm chí đậm màu sắc sám hối (Một cơn giận). Dẫu vậy, cũng cần phải khẳng định, những đề tài trên đều được đề cập đến trong không ít tự sự ngắn dài của các nhà văn trong TLVĐ. Từ năm 1934, bên cạnh các truyện ngắn và tiểu thuyết viết về những xung đột giữa con người cá nhân và gia đình, đạo đức truyền thống thì một bộ phận không nhỏ sáng tác của TLVĐ được hướng vào những suy tư và băn khoăn của người thanh niên trí thức trước hiện tại, trong đó có số phận của những người đồng loại bất hạnh : Nắng thu, Đôi bạn, Hai vẻ đẹp (truyện ngắn trong tập Tối tăm) của Nhất Linh; Gia đình của Khái Hưng và điển hình là Con đường sáng của Hoàng Đạo.

Cùng với đời sống tinh thần của người thị dân trung lưu, tình yêu cũng là một đề tài được đề cập đến trong một số truyện ngắn của Thạch Lam (các truyện ngắn Trở về, Trong bóng tối buổi chiều, Dưới bóng hoàng lan, Tình xưa). Có thể tìm thấy trong truyện ngắn của ông (điển hình là truyện ngắn Dưới bóng hoàng lan) dấu vết của một thứ tình yêu thuần túy tinh thần, những rung động nhẹ nhàng, tinh khiết, giàu màu sắc lý tưởng trong không gian điền viên tương tự như tiểu thuyết TLVĐ thời kỳ đầu (Hồn bướm mơ tiên, Gánh hàng hoa, …). Tuy vậy, tình yêu trong truyện ngắn của Thạch Lam bắt đầu được tái hiện với một ánh sáng khác. Nó nhuốm màu hiện thực, được lột bỏ những lớp vỏ lãng mạn để bộc lộ cả sự nông nổi, dại dột (Tình xưa), hoặc nhuốm màu cay đắng bởi sự thâm nhập của những giá trị trần trụi vật chất và giả tạo của đời sống đô thị (Trở về, Trong bóng tối buổi chiều).

Cuối cùng, một trong những đề tài được đề cập đến trong nhiều truyện ngắn của Thạch Lam là đời sống của những tầng lớp bình dân bần cùng dưới đáy xã hội (Nhà mẹ Lê, Một cơn giận, Người bạn trẻ, Đói, Người lính cũ, Gió lạnh đầu mùa, Hai đứa trẻ, Trong bóng tối  buổi chiều, Tối ba mươi, Cô hàng xén). Điều đặc biệt là không chỉ miêu tả sự tàn tạ của những kiếp người (Nhà mẹ Lê, Cô hàng xén, Người bạn trẻ…), Thạch Lam còn hướng ngòi bút vào những bi kịch tinh thần đầy đau đớn của “những kẻ tủi nhục” : sự cay đắng và nỗi nhục vì bị nghèo đói tước đoạt mất nhân cách (Đói, Đêm ba mươi) hay cái khủng khiếp của một sự “chết mòn” không chỉ về vật chất mà cả về tinh thần (Hai đứa trẻ). Có thể nói, sự xuất hiện dày đặc của đời sống (tinh thần và vật chất) của những người bình dân đã làm nên một màu sắc mới trong truyện ngắn Thạch Lam. Dẫu vậy, lại cũng không thể phủ nhận một hiện thực là cuộc sống của những người bình dân lớp dưới cũng là một mảng đề tài được đề cập đến trong không ít tự sự của TLVĐ (Anh phải sống, Hai buổi chiều vàng, Tối tăm của Nhất Linh hay Gánh hàng hoa của Nhất Linh – Khái Hưng) và một trong những chủ trương được thể hiện trong tuyên ngôn của văn đoàn là hướng về đời sống của người bình dân. Đương nhiên, ở đây, chúng tôi cũng không phủ nhận sự tác động bởi đời sống xã hội (thời kỳ 1936 – 1939) đến sáng tác của Thạch Lam.

Như vậy, từ cái nhìn đầu tiên, có thể khẳng định về sự tồn tại một sự giao thoa về đề tài giữa truyện ngắn của Thạch Lam và các tác giả văn xuôi khác trong TLVĐ. Sự giao thoa đó, theo chúng tôi chính là biểu hiện của mối quan hệ và sự chi phối khăng khít giữa chủ trương, định hướng sáng tác của văn đoàn đối với hoạt động sáng tác của ông.

3. Từ một góc nhìn khác, có thể khẳng định về sự gần gũi trong phương thức tiếp cận hiện thực, hay nói cách khác, trong cái nhìn về thế giới của Thạch Lam và các nhà văn thành viên của TLVĐ. Ngay từ giai đoạn phát triển đầu tiên (trước năm 1936), sáng tác của TLVĐ đã bị giằng xé giữa hai khuynh hướng : mô tả hiện thực sinh hoạt và khảo sát đời sống tâm lý. Sự phân vân giữa hai khuynh hướng này được duy trì trong sáng tác của một số nhà văn như Hoàng Đạo và đặc biệt Khái Hưng, tuy nhiên, ở Nhất Linh, sau tiểu thuyết Đoạn tuyệt, ông ngả hẳn theo khuynh hướng khảo sát đời sống tâm lý và có được những tác phẩm đặc biệt thành công như Đôi bạn hay Bướm trắng. Sự đắn đo giữa hai định hướng tiếp cận hiện thực cũng được phản ánh trong sáng tác của Thạch Lam. Một số truyện ngắn của ông được sáng tác theo định hướng mô tả hiện thực sinh hoạt : Nhà mẹ Lê, Hai lần chết, Người bạn trẻ, … Tuy vậy, nếu làm một phép khảo sát nghiêm ngặt, có thể thấy, Thạch Lam đã làm một lựa chọn giống như người anh Nguyễn Tường Tam của mình : đi sâu khảo sát đời sống tâm lý. Trên một bình diện rộng hơn, định hướng nghệ thuật này cũng chính là định hướng nghệ thuật làm nên những thành công chủ yếu của TLVĐ. Dẫu vậy, cũng không thể bỏ qua một thực tế là cách hình dung về đời sống tinh thần của Thạch Lam có phần giản lược hơn một số nhà văn khác của TLVĐ. Nhân vật của ông thường không có những cơn mê sảng, những ám ảnh, những cõi miền của vô thức và ký ức như nhân vật của Nhất Linh (Bướm trắng) hoặc những tự vấn quyết liệt như Khái Hưng (Đẹp, Băn khoăn) hay Hoàng Đạo (Con đường sáng). Trong hành trình đi vào đời sống nhân vật, Thạch Lam dừng lại ở những rung cảm, những cảm giác, những tâm trạng phẳng lặng tinh tế và nhẹ nhàng. Những tác phẩm xuất sắc nhất diễn tả được những vận động nội tâm quyết liệt của Thạch Lam là Cuốn sách bị bỏ quênSợi tóc nhưng không phải là nét chủ đạo trong sáng tác của Thạch Lam. Ông là nhà văn của những điều đơn giản bình thường. Có thể, đó chính là một nguyên nhân khiến Thạch Lam thất bại trong việc sáng tạo tiểu thuyết. Tinh thần thể loại của tiểu thuyết chống lại cái đơn giản.

Nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân từng đề cập đến một khuynh hướng tồn tại trong truyện ngắn Thạch Lam : khuynh hướng điều hòa những mâu thuẫn xã hội. Đó là một khuynh hướng hoàn toàn có thật trong sáng tác của ông. Mâu thuẫn đến mức quyết liệt giàu – nghèo chỉ tồn tại trong một số lượng nhỏ truyện ngắn Thạch Lam : Nhà mẹ Lê, Một cơn giận. Ngòi bút của ông thường hướng đến sự hòa giải giữa các giai cấp, các tầng lớp người trong xã hội (thậm chí cả giữa người Việt Nam và người Pháp – trường hợp truyện ngắn Người đầm), một sự hòa giải ít nhiều làm người ta nhớ đến những tư tưởng của Dostoievski cuối đời – một nhà văn được Thạch Lam sùng bái và nhiều lần nhắc đến trong tiểu luận Theo dòng. Con người thị dân trong sáng tác Thạch Lam thường có một cái nhìn đồng cảm, cảm thương đối với số phận những người đồng loại đau khổ của mình (dãy truyện với kiểu nhân vật – người chứng : Một cơn giận, Cái chân què, Người lính cũ, Đứa con, Người bạn trẻ). Dẫu vậy, cũng không thể bỏ qua một thực tế là khuynh hướng hướng đến số phận người bình dân, hướng đến sự hòa giải giữa các giai cấp là một khuynh hướng có thật trong sáng tác của TLVĐ. Nó được biểu hiện qua hình tượng những người thanh niên, những trí thức, điền chủ tự vấn về cuộc sống hạnh phúc thừa mứa và ích kỷ của mình, quan sát cuộc sống của những người đồng loại xung quanh và ước mơ dành cả cuộc đời “phục vụ dân quê” của họ. Có điều, trong truyện ngắn của Thạch Lam, thông qua việc “tẩy trắng” những chi tiết tiểu sử của nhân vật người chứng, khoảng đối lập về thân phận của các nhân vật  và tính lý tưởng thường được làm nhẹ bớt nên cái nhìn đối với người nghèo trong tác phẩm của ông có phần giảm bớt được màu sắc “ban ơn”, “thương hại”, tô đậm sắc thái nhân ái, chân thành và tự nhiên hơn (tự nhiên như hành động hồn nhiên của những đứa trẻ đem áo của đứa em đã chết đi cho một đứa bé nghèo khổ trong Gió lạnh đầu mùa). Bản thân việc “tẩy” bớt tính lý tưởng cũng là một nét riêng trong truyện ngắn Thạch Lam.

Như đã biết, một trong những đặc trưng trong sáng tác TLVĐ là tính luận đề. Các nhà văn này không chỉ hoạt động trong địa hạt văn chương mà còn hướng đến sự thay đổi trong đời sống văn hóa, chính trị, xã hội. Đối với họ, văn học không chỉ là một nghệ thuật mà còn là một công cụ ngôn luận, một vũ khí tranh đấu. Ở phương diện này, TLVĐ gần với những nhà phê bình chủ trương “Nghệ thuật vị nhân sinh”. Chính vì vậy nên trong sáng tác của TLVĐ tính lý tưởng trở thành một màu sắc thẩm mỹ chi phối cái nhìn của họ về thế giới. Có thể thấy, khuynh hướng lý tưởng này đã được “tẩy trắng” một cách quyết liệt trong truyện ngắn Thạch Lam. Ngay cả khi ông đề cập đến những vấn đề “truyền thống”, cách xử lý vấn đề và cốt truyện của Thạch Lam cũng được dẫn dắt theo hướng giảm thiểu tính lý tưởng. Tái hiện bi kịch tinh thần của người phụ nữ trong đại gia đình truyền thống (Một đời người, Hai lần chết) tuy nhiên ông không sử dụng một kết thúc “có hậu” như Nửa chừng xuân hay Đoạn tuyệt mà biến tự sự của mình thành một bản ghi chân thực về nỗi đau khổ. Ngay cả người thị dân trong Một cơn giận, dẫu anh ta có sám hối vì hành động của mình thì điều anh ta gây ra với người phu xe vẫn là một vết thương không bao giờ lành trong tâm hồn anh ta. Có thể nói, tự sự của Thạch Lam giàu tính hiện thực và sự bi quan tương tự như sáng tác của TLVĐ thời kỳ sau khi các nhà văn này bắt đầu tập trung cơn khủng hoảng tinh thần trong đời sống của tầng lớp thị dân trung lưu ở các đô thị. Nó tương ứng với điều mà Phạm Thế Ngũ nhận xét trong Việt Nam văn học sử giản ước tân biên là bước chuyển từ “giai đoạn lãng mạn” sang “giai đoạn hoài nghi”.

Cũng không thể bỏ qua một thực tế là cảm quan của Thạch Lam về cái đẹp cũng có phương diện tương đồng với các nhà văn trong TLVĐ. Tính trữ tình, sự chừng mực, sự tinh tế lặng lẽ trở thành những chuẩn mực trong cái đẹp trong văn chương của ông. Trong tự sự của ông thường không có cái đa giọng, cái ồn ào đến mức xô bồ của những chất liệu ngôn ngữ có tính biệt ngữ xã hội. Cái phẫn uất trong những thân phận khốn khổ trong văn chương ông cũng là một thứ phẫn uất được kìm nén đến mức câm lặng. Nỗi buồn của những kiếp người sống mòn trong văn chương của ông cũng là một thứ nỗi buồn lặng lẽ. Nó không nhiều ẩn ức, cay đắng và giằng xé như trong sáng tác của Nam Cao. Trong văn chương của Thạch Lam cũng thường không có cái hài hước nhiều khi đến mức cay nghiệt và chua chát như tự sự của Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng hay Nam Cao. Cái xấu xa được miêu tả trong tự sự của ông cũng khác với cái xấu đến mức trâng tráo, bỉ ổi trong sáng tác của các nhà văn tả chân. Cảm quan đó về cái đẹp trong văn chương của ông là gần gũi với cảm quan chung của TLVĐ về cái đẹp. Sự đối lập của văn đoàn này với sáng tác của một số cây bút tả chân (điển hình là Vũ Trọng Phụng) và một số tài năng thơ mới (điển hình là Hàn Mặc Tử) theo chúng tôi, bên cạnh nhiều lý do (mà sự cạnh tranh về doanh thu trong thị trường báo chí tự do cũng là một) có lý do từ sự đối lập trong quan niệm cách hình dung về cái đẹp. Việc TLVĐ trao giải thưởng văn chương cho Trần Tiêu, Nguyên Hồng nhưng đến cùng không chấp nhận Vũ Trọng Phụng, theo chúng tôi là một hiện tượng có ý nghĩa.

4. Trên bình diện thể loại, một mặt, có thể nhận thấy một số sự tương đồng của một số khuynh hướng vận động của thể loại giữa sáng tác của Thạch Lam và TLVĐ. Đến thời điểm Thạch Lam bắt đầu hoạt động sáng tạo văn học, tự sự luận đề đã bắt đầu trở nên “mất giá”. Từng làm nên tên tuổi cho những cây bút trụ cột của TLVĐ, từ 1936, chính những tác giả từng thành thạo trong sáng tác tiểu thuyết luận đề cũng bắt đầu chuyển sang những dạng thức tiểu thuyết khác. Dẫu vậy, vẫn có thể nhận thấy dấu vết của dạng tự sự này trong sáng tác của Thạch Lam. ít nhất hai truyện ngắn của ông được xây dựng theo tình huống luận đề (Một cơn giậnCái chân què). Có điều thay vì những luận đề mang tính xã hội tương tự như sáng tác của TLVĐ thời kỳ đầu, luận đề trong truyện ngắn của Thạch Lam thường có nội dung gắn với những suy nghĩ, chiêm nghiệm về đạo đức, nhân sinh, kiếp người. Khác với những nhà văn khác trong TLVĐ, Thạch Lam là nhà văn nổi tiếng với thể loại truyện ngắn. Dẫu vậy, một mặt, truyện ngắn Thạch Lam phản ánh những khuynh hướng tìm tòi trong nghệ thuật tự sự của các nhà văn trong TLVĐ nói chung : những kỹ thuật phân tích tâm lý, đặc biệt là trong việc mô tả thế giới của những cảm giác, những xung động vô hình và khó nắm bắt trong đời sống tâm lý của con người (ở phương diện này, có thể coi Nhất Linh là một bậc thầy với dẫy tự sự từ Nắng thu, Đoạn tuyệt và đặc biệt Đôi bạn, một bản giao hưởng của những xúc cảm không lời). Mặt khác, có thể nhận ra một “giấc mơ” hay chính xác hơn một “khát vọng” tiểu thuyết ám ảnh cuộc đời sáng tạo nghệ thuật của Thạch Lam. “Khát vọng” đó được biểu hiện trong hành trình sáng tác (tác phẩm cuối cùng của ông là một tiểu thuyết – Ngày mới) và trong những phát ngôn dày đặc về một thứ “tiểu thuyết lý tưởng” trong tập tiểu luận Theo dòng.

5. Điểm cuối cùng, chúng tôi không phủ nhận những đóng góp của Thạch Lam trong việc làm giàu ngôn ngữ văn học bằng tiếng Việt hiện đại. Cho đến nay, vẫn chưa có những công trình thực sự nghiêm túc và khách quan về ngôn ngữ trong tự sự của Nhất Linh, Khái Hưng hay Hoàng Đạo. Dẫu vậy, theo chúng tôi có thể khẳng định, sáng tạo nghệ thuật của các nhà văn này đã đánh dấu một bước trưởng thành của ngôn ngữ văn học bằng tiếng Việt. Trước năm 1932, ngôn ngữ văn học bằng tiếng Việt bị chi phối  bởi hai khuynh hướng : hoặc quá nặng nề tính khẩu ngữ (biểu hiện trong tác phẩm của các nhà văn Nam Bộ) hoặc bị chi phối bởi vốn từ Hán Việt và cú pháp văn xuôi Hán Nôm (biểu hiện trong sáng tác của các nhà văn sáng tác văn học trên tờ Nam Phong và của Hoàng Ngọc Phách). Ngay từ giai đoạn sáng tác đầu tiên, các nhà văn trong TLVĐ  đã xây dựng nên một thứ ngôn ngữ dựa trên những chuẩn mực hoàn toàn đối lập với những khuynh hướng nói trên, đúng như tôn chỉ của văn đoàn “dùng một lối văn giản dị, dễ hiểu, ít chữ Nho, một lối văn thật có tính cách Annam” dựa trên một chuẩn mực về cái đẹp ngôn ngữ thuần khiết, trong sáng, giàu nhạc tính và gợi cảm. Đó cũng chính là chuẩn mực ngôn ngữ mà Thạch Lam theo đuổi. Để có thể khẳng định về đóng góp của Thạch Lam trên bình diện ngôn ngữ, cần có thêm những công trình chuyên sâu mang tính đối chiếu ngôn ngữ văn học của ông và các tác gia TLVĐ. Dẫu vậy, theo chúng tôi, khó có thể tách rời những thành công trong sáng tạo ngôn ngữ văn học của Thạch Lam với chủ trương và định hướng phát triển ngôn ngữ văn học chung của cả văn đoàn.

6. Như chúng tôi đã trình bày, bốn phương diện nói trên (hướng về đời sống người nghèo; sự cảm thương chân thành trước số phận của những người cùng khổ; tài năng miêu tả tâm lý, đặc biệt là những rung động tinh vi trong tâm hồn con người; xây dựng một thứ ngôn ngữ văn học bằng tiếng Việt trong sáng và giàu chất thơ) là bốn phương diện được giới nghiên cứu đề cao trong sáng tác của Thạch Lam. Trong những phần trên, chúng tôi đã cố gắng chứng minh sự giao thoa của những đặc điểm đó trong sáng tác của ông với chủ trương chung cũng như sáng tác của những thành viên khác của TLVĐ. Không hề phủ nhận tài năng cá nhân của Thạch Lam nhưng theo chúng tôi, ông giống như một người đến sau trong văn đoàn. Chính vị trí đến sau và là người đứng ngoài cuộc những sinh hoạt ồn ào của văn đoàn đã tạo cho ông cơ hội để quan sát, chiêm nghiệm về những sáng tạo nghệ thuật của những người đi trước. Trên một phương diện, có thể coi ông giống như một trầm tích những kinh nghiệm và thành công nghệ thuật của văn đoàn kết hợp với những sáng tạo cá nhân. Vị thế đặc thù đó là cơ sở cho những giá trị bền vững trong sáng tác văn chương của ông. Có điều, với một cách hình dung như vậy, khó có thể cô lập sáng tác của Thạch Lam với hoạt động văn chương của TLVĐ, càng không thể đối lập những thành công của ông với những thành viên khác trong văn đoàn.

7. Từ một góc nhìn rộng hơn, chúng tôi muốn bước đầu đặt vấn đề lại về vị trí của sáng tác Thạch Lam trong đời sống văn học Việt Nam trước năm 1932. Để có thể thực hiện được điều này, theo chúng tôi, người nghiên cứu bắt buộc phải có khả năng vượt qua được một số định kiến trong cách đánh giá về giai đoạn văn học này. Cho đến nay, giới nghiên cứu vẫn có thói quen sử dụng hệ thống phương pháp sáng tác như là công cụ duy nhất và tuyệt  đối để hình dung và viết văn học sử. Theo đó, toàn bộ các hiện tượng phức tạp Thơ mới và TLVĐ được xếp vào “ô” Văn học Lãng mạn, các sáng tác của Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng, Nam Cao, Nguyễn Đình Lạp… được xếp vào “ô” Văn học Hiện thực. Các công trình văn học sử, các bộ sách giáo khoa ở các bậc học yên tâm với cách phân loại này và theo đó đương nhiên Văn học Hiện thực phải đối lập với Văn học lãng mạn và trong bảng giá trị cũng đương nhiên phải cao hơn Văn học lãng mạn. Theo chúng tôi, cách phân loại nói trên, tuy thuận tiện nhưng khó có thể phản ánh đúng thực chất sự vận động của văn học dân tộc. Không thể phủ nhận những ảnh hưởng và sự du nhập của những phương pháp sáng tác có nguồn gốc phương Tây vào Việt Nam tuy vậy, lại cũng không thể phủ nhận nhiều thực tế hiển nhiên khác. Thứ nhất, khi thâm nhập vào đời sống văn hóa Việt Nam, những phương pháp sáng tác này (từ lãng mạn, hiện thực, đến tượng trưng, siêu thực hay tự nhiên chủ nghĩa…) bị mất đi cơ sở xã hội và cơ sở về tư tưởng, triết học vốn có của mình. Chúng cũng phải chung sống với những yếu tố vốn có của văn hóa và  văn học Việt Nam bởi vậy, chúng khó có thể giữ nguyên được tính thuần nhất ban đầu. Thứ hai, sự  lược quy lịch sử văn học thành quá trình thay thế và tranh đấu giữa các phương pháp sáng tác một mặt, là lược quy một loạt vấn đề khác của văn học (các vấn đề ngôn ngữ văn học, về thể loại…) và mặt khác,  bỏ qua những điểm phát triển có tính đặc thù và nội tại của văn học Việt Nam. Theo chúng tôi, một trong những đặc điểm trong sự vận động của văn học Việt Nam trước năm 1945 chính là sự không thuần nhất và sự pha tạp trong những phương pháp sáng tác. Đặc biệt, theo chúng tôi, giữa các nhà văn thuộc nhóm TLVĐ và các nhà văn thuộc khuynh hướng tả chân không chỉ có quan hệ đấu tranh, đối lập mà còn có cả các quan hệ tương tác, ảnh hưởng  kế thừa. Không thể bỏ qua một thực tế là ngoại trừ trường hợp Nguyễn Công Hoan, thì các tác giả chính của khuynh hướng văn học tả chân đều xuất hiện với tư cách là tác gia văn học sau năm 1936, đặc biệt, những tự sự nghệ thuật có giá trị của khuynh hướng này đều xuất hiện sau 1936. Đến thời điểm này, TLVĐ đã trở thành một uy tín lớn trong đời sống xã hội. Nhiều tác giả thuộc khuynh hướng tả chân bắt đầu sự nghiệp văn chương sau các nhà văn thuộc nhóm TLVĐ từ năm đến mười năm (trường hợp Nguyên Hồng, Nam Cao). Từ cách hình dung đó, chúng tôi đặt vấn đề lại về quan hệ trong sáng tác giữa các nhà văn này để từ đó xác lập lại vị trí của Thạch Lam trên một số điểm chính.

Thứ nhất, theo chúng tôi, sự vận động của tự sự Việt Nam từ đầu thế kỷ, bên cạnh nhiều khuynh hướng khác nhau, có hai khuynh hướng vận động chính : mô tả sinh hoạt và khám phá đời sống tâm lý. Hai khuynh hướng tiếp cận hiện thực này gặp nhau ở một điểm : hướng đến cái đẹp có tính Giống như thật (vraissemlable). Quan niệm mỹ học đó có thể chấp nhận cái lý tưởng nhưng nó loại trừ cái đẹp có tính Huyền ảo (fantastique). Hai khuynh hướng tiếp cận hiện thực là cơ sở cho một loạt các hình thức tự sự khác nhau từ tiểu thuyết phong tục (ở đây, khái niệm phong tục được hiểu theo nghĩa rộng là sinh hoạt xã hội), tiểu thuyết phóng sự đến tiểu thuyết luận đề, tiểu thuyết tâm lý và nhiều dạng thức truyện ngắn khác nhau. Những dạng thức tự sự này được cả TLVĐ và các nhà văn thuộc khuynh hướng tả chân khai triển (dẫu đối tượng phản ánh của họ có thể khác nhau), dẫu vậy, không thể bỏ qua công lao là những người khai phá của TLVĐ.

Thứ hai, như chúng tôi đã trình bày, Thạch Lam là người kế thừa và đi sâu vào một định hướng nghệ thuật đã được các nhà văn tiên phong của TLVĐ khai phá : sáng tác các tự sự theo định hướng mô tả tâm lý. Với cách nhìn đó, có thể nhận thấy một dãy phát triển của tự sự mô tả tâm lý từ Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam đến Hồ Dzếnh, Thanh Tịnh, Nam Cao. Khoan hãy bàn đến sự ảnh hưởng và quan hệ kế thừa (điều khó nhất trong các nghiên cứu lịch đại) thì cũng phải thừa nhận một sự tương đồng, thậm chí, có thể nói, một sự đồng vọng trong sáng tác của những nhà văn này. Chúng tôi chỉ bàn đến hai tác giả mà theo chúng tôi, có ý nghĩa điển hình hơn cả : Thạch Lam và Nam Cao. Đối chiếu một cách nghiêm ngặt, có thể nhận ra nhiều điểm tương đồng trong sáng tác của hai nhà văn này : kiểu nhân vật – người chứng (trong sáng tác Nam Cao tạo được ấn tượng với hình tượng ông giáo trong nhiều truyện ngắn về đề tài nông thôn), những kỹ thuật miêu tả tâm lý vi phân, đặc biệt là cảm giác tới hạn, khi con người đứng trước tội ác hoặc sau khi phạm tội, những giai đoạn đột biến của tâm lý; chủ đề về nỗi nhục vì mất nhân cách do nghèo đói; cuộc đấu tranh giằng xé giữa tốt và xấu. Có điều dường như Nam Cao đã vượt lên được khỏi cái đẹp trữ tình, tinh tế và nên thơ của Thạch Lam  để đẩy những tìm tòi của mình đến một cấp độ mỹ học cao hơn. Con người trong sáng tác của Nam Cao được tô bằng những mảng màu đậm nét, méo mó và đối lập quyết liệt hơn. Cái nghịch dị (một phạm trù hoàn toàn vắng bóng trong sáng tác TLVĐ) trở thành một trong những phạm trù mỹ học trung tâm của sáng tác Nam Cao. Cuộc đấu tranh tư trưởng bên trong mỗi nhân vật của Nam Cao cũng khủng khiếp quyết liệt và giầu mầu sắc bi kịch hơn.

Như vậy, với những yếu tố nói trên, chúng tôi đặt giả định về sáng tác của Thạch Lam giống như khâu trung gian trong một tuyến phát triển khác của tự sự Việt Nam từ sáng tác của các nhà văn trong TLVĐ đến các nhà văn tả chân. Như chúng tôi đã khẳng định, trong tuyến phát triển này, không chỉ có các quan hệ đối lập, xung đột mà còn có cả các quan hệ kế thừa, ảnh hưởng… Đương nhiên, để có thể đi đến được kết luận cuối cùng về tuyến phát triển này, cần có thêm những khảo sát cụ thể mang tính đối chiếu. Tuy vậy, điều quan trọng là người nghiên cứu cần có năng lực vượt qua được những định kiến. Những định kiến trong cái nhìn của chính mình.