Tiểu thuyết Nguyễn Quang Thân sau 1986

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

-------–&—-------

 

(1)-(2)-(3)-(4)-(5) 

 

 

 

NGUYỄN THỊ THƯƠNG

 

 

 

 

 

TIỂU THUYẾT

NGUYỄN QUANG THÂN SAU 1986

 

 

                   Chuyên ngành  : Văn học Việt Nam

                   Mã số                  : 60.22.34

 

 

 

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

 

 

 

 

Người hướng dẫn khoa học:

PGS.TS. NGUYỄN BÍCH THU

 

HÀ NỘI - 2010


LỜI CẢM ƠN

Em xin trân trọng cảm ơn Ban Giám Hiệu, phòng Quản lý khoa học cùng các thầy cô giáo trong tổ bộ môn Văn học hiện đại, khoa Ngữ văn, trường ĐHSP Hà Nội đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho em trong quá trình học tập, nghiên cứu.

Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới PGS.TS. Nguyễn Bích Thu, người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn, giúp đỡ em trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này.

Xin chân thành cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã quan tâm và luôn động viên tôi trong thời gian học tập và hoàn thành luận văn.

 

Hà Nội, ngày 14 tháng 11 năm 2010

Tác giả luận văn

 

 

 

Nguyễn Thị Thương

 

 

Môc lôc

PHẦN MỞ ĐẦU.. 1

1. Lý do chọn đề tài. 1

2.   Lịch sử vấn đề. 2

2.1.Những ý kiến về sáng tác của Nguyễn Quang Thân. 2

2.2.Những ý kiến về tiểu thuyết Nguyễn Quang Thân. 5

3.   Mục đích nghiên cứu. 8

4.   Đối tượng và phạm vi nghiên cứu. 8

4.1. Đối tượng nghiên cứu. 8

4.2. Phạm vi nghiên cứu. 8

5.   Phương pháp nghiên cứu. 8

5.1.Phương pháp lịch sử - xã hội. 8

5.2.Phương pháp so sánh. 9

5.3. Phương pháp phân tích, tổng hợp. 9

5.4. Phương pháp thống kê, phân loại. 9

6.   Cấu trúc luận văn. 9

PHẦN NỘI DUNG.. 10

CHƯƠNG I: CẢM HỨNG CHỦ ĐẠO TRONG TIỂU THUYẾT NGUYỄN QUANG THÂN SAU 1986. 10

1. Cảm hứng lịch sử. 11

1.1.Cái nhìn giải thiêng lịch sử. 12

1.2. Sự chuyển biến lịch sử dưới góc nhìn văn hóa. 18

1.3.Phân tích lịch sử gắn với số phận con người. 22

2.   Cảm hứng thế sự. 25

2.1. Phê phán lối sống thực dụng chạy theo đồng tiền. 26

2.2. Lột trần mặt trái của cơ chế thị trường. 31

2.3. Tin tưởng vào giá trị tốt đẹp của con người . 34

CHƯƠNG II: THẾ GIỚI NHÂN VẬT TRONG TIỂU THUYẾT NGUYỄN QUANG THÂN SAU 1986. 40

1. Các kiểu nhân vật. 41

1.1. Nhân vật nhìn từ góc độ loại hình. 41

1.1.1.Nhân vật người trí thức. 41

1.1.2.Nhân vật nữ với cá tính mạnh mẽ. 45

1.2. Nhân vật nhìn từ cấu trúc hình tượng. 47

1.2.1 Nhân vật tha hóa. 47

1.2.2.Nhân vật bi kịch. 51

2. Nghệ thuật xây dựng nhân vật. 57

2.1. Xây dựng nhân vật qua tình huống độc đáo. 58

2.2. Miêu tả con người với bản thể tự nhiên. 61

2.3. Chú trọng miêu tả đặc điểm tâm lý ngoại hiện. 64

CHƯƠNG III: NGHỆ THUẬT TRẦN THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT NGUYỄN QUANG THÂN SAU 1986. 67

1.   Điểm nhìn trần thuật. 67

1.1. Sự phối hợp nhiều điểm nhìn. 68

1.2. Vị thế mới của điểm nhìn bên ngoài. 75

2.   Giọng điệu trần thuật. 79

2.1. Giọng điệu triết lý, suy tư. 80

2.2. Giọng điệu phân tích đối thoại dân dã mộc mạc. 84

3. Ngôn ngữ . 87

3.1. Lớp ngôn ngữ lịch sử trang trọng cổ kính. 88

3.2. Ngôn ngữ đời thường thô mộc. 91

KẾT LUẬN.. 95

TƯ LIỆU THAM KHẢO.. 98

                          


PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài.

Sau năm 1986, đất nước ta có nhiều chuyển biến trên mọi phương diện, trong đó có văn học, nghệ thuật. Không khí cởi mở trong xã hội cùng với quan hệ giao lưu văn hóa ngày càng rộng rãi với các nước trong khu vực và trên thế giới đã tác động mạnh đến đời sống văn học Việt Nam đương đại. Có thể nói văn học giai đoạn này đang có những bước chuyển mình mới mẻ nhưng cũng đầy phức tạp trong cuộc hành trình “tìm lại chính mình”.

Bên cạnh sự phát triển phong phú của thơ, truyện ngắn, kí,…không thể không nhắc đến tiểu thuyết – thể loại luôn được coi là “máy cái” của một nền văn học. Những năm gần đây, tiểu thuyết nước ta đã và đang nỗ lực chuyển biến không chỉ ở bản thân thể loại mà ở cả đội ngũ sáng tác với những đổi mới trong tư duy nghệ thuật.

Quan sát văn học sau đổi mới, chúng ta nhận thấy một loạt các cây bút xuất hiện từ những thập niên 60 của thế kỷ XX vẫn không ngừng sáng tạo và đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận, theo sát những đổi thay của đời sống xã hội và con người đương đại như: Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng, Nguyễn Xuân Khánh, Châu Diên, Nguyễn Quang Thân...So với các nhà văn cùng thời, con đường đến với văn chương của Nguyễn Quang Thân có phần quanh co, gấp khúc hơn. Tuy nhiên từ những năm 60, cái tên Nguyễn Quang Thân đã trở nên quen thuộc với bạn đọc qua khá nhiều sáng tác ở các thể loại: tiểu thuyết, truyện ngắn và vừa, truyện viết cho thiếu nhi, kịch bản điện ảnh...Trong số đó, có một số tác phẩm được  dịch ra tiếng nước ngoài và được bạn đọc đánh giá cao như: Ngoài khơi miền đất hứa (tiểu thuyết), Giữa những điều bình dị (tập truyện ngắn song ngữ), Vũ điệu cái bô, Thanh minh (truyện ngắn)...Nguyễn Quang Thân đã từng được nhận giải nhì cuộc thi truyện ngắn báo Thống nhất (Bức thư trong rừng - 1960); Giải ba truyện ngắn báo Văn học (Cơn bão H - 1963); Giải nhì truyện ngắn báo Văn nghệ (Vũ điệu cái bô, 1991 - 1992); Giải ba kịch bản phim báo Văn nghệ 1994 (Cây bạch đàn vô danh); Giải nhì cuộc thi Bút ký báo Văn nghệ 1994 (Hạc về Bồng lai); Giải thưởng chính thức văn học thiếu nhi của Hội Nhà văn Việt Nam 1985 (Chú bé có tài mở khóa) ; Giải nhất cuộc thi kịch bản điện ảnh kỉ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội 2005 (Hội thề).

Từ sau 1986, tên tuổi Nguyễn Quang Thân gắn liền với các tiểu thuyết: Một thời hoa mẫu đơn (1988);  Ngoài khơi miền đất hứa (1990); Chú bé có tài mở khóa  (Truyện dài, 1983. Xuất bản lần thứ 6 năm 1998); Con ngựa Mãn Châu (2000),  Hội thề (2009). Tuy nhiên, trong dòng chảy của văn học hôm này thì dường như cái tên Nguyễn Quang Thân còn ít được nhắc đến mặc dù ông liên tục ra mắt bạn đọc những sáng tác có chất lượng và có sức ám ảnh sâu sắc đối với người đọc.

 Theo chúng tôi, tiểu thuyết Nguyễn Quang Thân mặc dù đã được giới phê bình và độc giả chú ý nhưng chưa được khám phá tương xứng với giá trị của nó. Tiểu thuyết của ông còn là một mảnh đất nguyên sơ chưa được nghiên cứu một cách hệ thống để thấy được những nét riêng độc đáo  cũng như những đóng góp của nhà văn đối với đời sống văn học đương đại. Đó là lý do gợi dẫn chúng tôi chọn đề tài cho luận văn của mình là : “Tiểu thuyết Nguyễn Quang Thân sau 1986”.

2.     Lịch sử vấn đề.

Hiện nay, mặc dù đã bước qua tuổi bảy mươi, nhưng Nguyễn Quang Thân vẫn tâm huyết và khát khao sáng tạo bởi với ông : “Chưa bao giờ tôi cảm thấy mình viết được hết, được tới cùng con đường. Tôi hi vọng sẽ ăn hết cái bánh xèo văn chương nhỏ bé mà Trời dành phần tôi”. Và thực sự từ khi cầm bút đến nay, ông đã luôn nỗ lực trải lòng mình trên trang viết cho ra đời những tác phẩm đặc sắc để lại ấn tượng sâu đậm trong lòng độc giả,

2.1.                     Những ý kiến về sáng tác của Nguyễn Quang Thân.

          Những năm trước và sau đổi mới, Nguyễn Quang Thân được biết đến với những sáng tác văn xuôi thu hút sự chú ý của công chúng như: Truyện ngắn Người không đi cùng chuyến tàu, tiểu thuyết Một thời hoa mẫu đơn, Ngoài khơi miền đất hứa, truyện ngắn Vũ điệu cái bô...Bằng các tác phẩm kể trên, Nguyễn Quang Thân là một trong số hiếm hoi các tác giả bước những bước tiên phong trên tiến trình đổi mới văn học Việt Nam hiện đại, từ tiền đổi mới đến cao trào đổi mới.                                                                                                                                                                                                                          

Đánh giá về những đóng góp của nhà văn Nguyễn Quang Thân ở lĩnh vực truyện ngắn, trên báo Người Hà Nội, Nguyễn Hoàng Sơn  đã viết: “Bây giờ bình tĩnh nhìn lại thời kỳ "tiền đổi mới" (nghĩa là trước đại hội 6 của Ðảng) phải ghi nhận Nguyễn Quang Thân cùng với Nguyễn Minh Châu, Lưu Quang Vũ, Thạch Quỳ... là những người đã đi những bước tiên phong” (33). Bằng các sáng tác của mình, Nguyễn Quang Thân đã góp phần không nhỏ trong việc mang luồng gió mới đến cho văn học mà trước tiên là ở thể loại truyện ngắn, bởi lẽ đúng như nhà nghiên cứu Mai Hương nhận xét: “ Trong sáng tác của Nguyễn Quang Thân, truyện ngắn vẫn là thể loại anh viết đằm tay hơn cả. Mỗi truyện gần như một nỗi niềm của riêng anh, nơi anh trao gửi những trăn trở với sự đời và tình đời. Truyện nhờ thế thường có sự lay động. Nơi dấu chấm hết thường không phải là điểm ngừng của truyện” (15.284).

Truyện thiếu nhi cũng là lĩnh vực ghi nhận thành công của ngòi bút Nguyễn Quang Thân. Đến nay, ông đã là tác giả của 5 tập truyện và hơn 1000 trang sách cho thiếu nhi. Người đọc nhận thấy ở ông một lối viết: “Kết hợp huyền thoại với hiện thực, căng thẳng với trữ tình, truyện do vậy mang lại hứng thú không chỉ riêng cho lứa tuổi thơ. Ngay ở đây, anh gắng khơi những nguồn mạch trong trẻo nhằm gây dựng cho các em lòng nhân ái – cái gốc để có thể sống tốt đẹp và xây dựng xã hội tốt đẹp”.(15)

Hoài Nam trong bài  Nguyễn Quang Thân – nốt trầm của tiểu thuyết thời đổi mới đã khẳng định những đóng góp của nhà văn cho thể loại tiểu thuyết Việt Nam sau 1986 qua 2 tác phẩm  Ngoài khơi miền đất hứaMột thời hoa mẫu đơn. Tác giả lý giải nguyên nhân vì sao tiểu thuyết Nguyễn Quang Thân ít được lưu tâm, bởi lẽ: “Một sự dấn thân quyết liệt như vậy đương nhiên sẽ sản sinh ra - đúng hơn sẽ mang lại những bức tranh hiện thực trần trụi và có thể rất tàn nhẫn về đời sống xã hội. Phải chăng đó là lý do khiến cuốn sách bị lờ đi? Nếu không thì xin hỏi các nhà phê bình của văn học thời ấy, họ ở đâu mà không nghe ra nốt trầm trong bản hòa ca của tiểu thuyết đổi mới?” (19)

Nhà nghiên cứu Mai Hương cũng đã khái quát lại hành trình sáng tác của nhà văn Nguyễn Quang Thân :“ Từ đầu những năm 60, Nguyễn Quang Thân chia tay với những trang viết bằng phẳng ban đầu đi theo hướng mổ xẻ cuộc sống, gắng thấy cho được sự vận động căng thẳng, phức tạp của nó với mục tiêu: loại trừ được cái xấu, cái ác, góp phần hoàn thiện cuộc sống và con người. Đi từ khía cạnh chưa hoàn thiện để đạt tới sự hoàn thiện – đóng góp của Nguyễn Quang Thân chủ yếu theo hướng đó. Anh đằm lại trong cảm hứng ngợi ca sôi nổi của một thời văn chương. Anh đem đến cái vị tuy đắng nhưng lạ, bên cạnh cái vị ngọt ngào thơm thoảng của những “hương cỏ mật” quen thuộc. Đặt trong hoàn cảnh hai mươi năm trước, hướng đi ấy quả không phải dễ dàng được chấp nhận. Chúng ta hiểu vì sao trên con đường Nguyễn Quang Thân đến với văn học có những chặng không hoàn toàn êm ả”(15).

Trong một bài viết của mình, Phan Thị Thanh Hà đã nhấn mạnh đến kiểu nhân vật trí thức trong tiểu thuyết của Nguyễn Quang Thân: “Chân dung trí thức hiện lên trong sáng tác của Nguyễn Quang Thân sau 1975 muôn hình, muôn vẻ, đa dạng nhiều cung bậc. Những khám phá của nhà văn không chỉ giúp cho người đọc có cái nhìn toàn diện hơn về người trí thức mà còn có ý nghĩa cảnh báo nhiều mặt. Vấn đề đánh giá, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng đội ngũ trí thức ra sao?...Những trăn trở cũng như hạn chế của trí thức…Đó là những vấn đề không đơn giản mà từ tác phẩm của mình, Nguyễn Quang Thân đã có những gợi mở thú vị tới người đọc”.(12)

Có được thành công ở nhiều thể loại như thế chứng tỏ Nguyễn Quang Thân là cây bút luôn hết mình với nghiệp văn chương. Vũ Quốc Văn đã tinh tế nhận ra ở tác phẩm của Nguyễn Quang Thân không chỉ có độ đằm sâu mà còn vương vất chất phóng túng của  con người xứ Nghệ: “Công bằng mà nói tác phẩm của Nguyễn Quang Thân không bị giới hạn hay bị khuôn lại trong một không gian hẹp nào đó. Tác giả ít bị lệ thuộc hoàn cảnh hay con người quanh ông chi phối. Nhưng hình như cái hiện hữu cuộc sống thường nhật đã giúp tâm hồn người nghệ sĩ trong Nguyễn Quang Thân nhận chân rồi chưng cất ra những tác phẩm đậm chất đời sống”. (50)

 2.2.Những ý kiến về tiểu thuyết Nguyễn Quang Thân.

Sau tiểu thuyết đầu tay Lựa chọn, những cuốn tiểu thuyết sau này của Nguyễn Quang Thân đã đi theo một lối viết mới. Tiểu thuyết của ông đã chạm đến những vấn đề bức xúc của đất nước, của lịch sử, của thời đại gắn với số phận con người. Đến với thể loại tiểu thuyết, nhà văn có thể gửi gắm ý tưởng nhân văn và trách nhiệm của người sáng tạo mà ông suốt đời phấn đấu.

         Khi đọc tiểu thuyết Một thời hoa mẫu đơn, tác giả Lê Nhật Ký đã nhận thấy : “Có nhiều nguyên nhân đẩy con người đến bi kịch. Trong Một thời hoa mẫu đơn, chúng ta thấy Nguyến Quang Thân đề cập hai phương diện: quan hệ xã hội và hôn nhân. Phải chăng qua quan hệ Huy Dung, tác giả Một thời hoa mẫu đơn muốn khẳng định rằng chỉ có những người tốt mới tạo ra được hạnh phúc chân chính cho xã hội. Trong tác phẩm tình yêu của Tuệ và Minh cũng được nói tới một cách cảm động. Đó không chỉ là chuyện hôn nhân, nó còn là sự liên kết lại của những người tốt trong lúc kẻ xấu đang lộng hành”.(18)

 Cùng với Một thời hoa mẫu đơn, tiểu thuyết Ngoài khơi miền đất hứa cũng được giới nghiên cứu, phê bình quan tâm chú ý. Trần Đạo trong bài  Ngoài khơi miền đất hứa – một huyền thoại thời hậu chiến đã đánh giá về tác phẩm như sau: “Ngoài khơi miền đất hứa là một cuốn tiểu thuyết đẹp về tình yêu, tình bạn, tình người của một thế hệ không mặc cảm, sẵn sàng gánh lên vai gia tài của một lịch sử tàn bạo, của một giấc mơ tàn nhẫn, đấu tranh với một bộ máy man rợ để cướp lại tương lai, tự tạo nhân cách”. (6)

Sau thành công của hai cuốn tiểu thuyết xuất sắc về đề tài thế sự, Nguyễn Quang Thân tiếp tục cho ra đời tiểu thuyết Con ngựa Mãn Châu. Cuốn tiểu thuyết viết về một thời kì lịch sử đầy biến động dữ dội trên đất nước ta. Một thời kì lịch sử ngắn ngủi nhưng có biết bao nhiêu đổi thay không chỉ ở số phận cá nhân mà còn là vẫn mệnh chung của cả dân tộc. G.S Phan Ngọc trong bài Đọc tiểu thuyết Con ngựa Mãn Châu của Nguyễn Quang Thân đã cho rằng :“Nguyễn Quang Thân vào cuối năm 2000 đã viết một cuốn tiểu thuyết mới về nhiều mặt. Nó khác phần lớn các tác phẩm mà chúng ta đã đọc..Cách trình bày không mang tính tự sự kể chuyện này đến chuyện khác. Trái lại, ta bắt gặp những cảnh kế tiếp nhau theo lối đồng hiện trong đó sự phân biệt về không gian bị vượt qua. Từng người một nói năng, suy nghĩ theo kiểu của mình, chẳng ai giống ai. Có tục có thanh, có thực tế bên ngoài và có phân tích nội tâm nhưng tất cả đều ngắn, không cho phép yếu tố nào làm chủ...Tất cả cái vẻ bên ngoài khá lộn xộn này thể hiện được chính thực tế của tâm trạng và xã hội Việt Nam trong một giai đoạn bản lề sẽ dẫn tới sự ra đời của đất nước hôm nay ”. (23)

 Tác giả Thúy Nga trong bài Con ngựa Mãn Châu thì cho rằng :“Cuộc cách mạng được nhìn từ nhiều phía đã mang lại cho cuốn tiểu thuyết sức sống của bản thân đời sống. Cái đời sống khách quan mà ở đó mỗi nhân vật đều được tác giả chăm chút vẽ nên từng nét đậm nhạt. Trừ ra có một người. Nguyễn Quang Thân không vẽ được, ông phủ lên đó từng nỗi thương yêu dành cho người phụ nữ dịu dàng, mảnh mai mà quả cảm ấy của núi đồi - Dư An những trang đẹp nhất, mạnh bạo và nồng nàn nhất cũng đều dành riêng cho bà và tình yêu của bà. Nguyễn Quang Thân nâng niu nhân vật của mình quá, như nâng niu một giấc mơ đẹp”. (22)

Chú ý đến ý nghĩa biểu tượng của hình ảnh con ngựa Mãn Châu, Văn Ngọc nhận xét: “Nhưng con ngựa Mãn Châu không chỉ là một kỷ niệm. Nó còn là một biểu tượng. Trước hết, đó là biểu tượng của thời kỳ Nhật chiếm đóng Đông Dương vào những năm 40. Hình ảnh những con ngựa Mãn Châu lang thang, vô chủ (lúc Nhật đã đầu hàng), ngày một rạc đi. Để rồi cuối cùng kiệt lực, rơi xuống vực thẳm (cùng với nhân vật ông Tham Chinh ở cuối truyện), có thể còn là biểu tượng của sự cáo chung của một xã hội - cái xã hội Việt Nam nửa phong kiến, nửa thuộc địa, bước vào Cách Mạng Tháng Tám”. ( 24)

Sau bốn năm ấp ủ ý tưởng, tiểu thuyết Hội thề được Nguyễn Quang Thân chính thức giới thiệu với độc giả vào đầu năm 2009. Tác phẩm chứa đựng nhiều  tâm huyết và sự kì công của nhà văn.

Trong bài viết gần đây đăng trên Báo Văn nghệ, Hoài Nam đã có những nhận định về tác phẩm Hội thề như sau: Chọn “trúng” khoảnh khắc lịch sử để mô tả và để triển khai ý tưởng của mình, không đơn giản hóa sự kiện lịch sử, không một chiều hóa các danh nhân lịch sử khi biến họ thành nhân vật của tiểu thuyết, đồng thời kích thích được ở người đọc hứng thú suy nghĩ tiếp về những vấn đề của lịch sử, có thể nói, đây là những thành công cần phải được ghi nhận ở tác phẩm “Hội thề” của nhà văn Nguyễn Quang Thân”. (20)

Hội thề không chỉ kể chuyện lịch sử là những nhật xét của Hương Giang đăng trên Báo An ninh thủ đô: “Chọn thời điểm cuối cùng của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, khi đại quân đóng ở trại Bồ Đề để nhìn sang bên kia sông Hồng, đạo quân của tổng binh Vương Thông đang thoi thóp trong thành Đông Quan. Nhưng không vì giặc đến đường cùng mà tận sát, nhà văn Nguyễn Quang Thân  đã  khắc  họa  tấm lòng “lấy chí nhân để thay cường bạo” trăn trở suốt 400  trang tiểu thuyết “Hội thề” của Nguyễn Trãi”. (9).

 Trong bài Trớ trêu tri thức, bẽ bàng tình nhân, Văn Hồng đã viết về    thân phận của người trí thức như sau: “Trong tiểu thuyết Hội Thề, thân phận trớ trêu của người trí thức càng nổi rõ nhờ  được đặt trên cái nền bi khốc bẽ bàng của thân phận tình yêu. Có bốn mối tình, bốn cặp tình nhân, thì đều kết thúc bi thương. Nhưng sắc thái và dư vị khác hẳn nhau, thậm chí đối nghịch nhau”. (13)

Số lượng các bài viết về Nguyễn Quang Thân và tác phẩm của ông không nhỏ song mới chỉ dừng lại ở phạm vi các bài báo riêng lẻ hoặc những đánh giá nằm trong các chuyên luận. Cho đến nay vẫn chưa có một công trình nào mang tính hệ thống, chuyên sâu về sáng tác của Nguyễn Quang Thân, đặc biệt là ở mảng tiểu thuyết. Những đánh giá nhận định của các tác giả đi trước là những gợi dẫn quý báu, tạo cơ sở cho chúng tôi tiếp tục đi sâu nghiên cứu tiểu thuyết Nguyễn Quang Thân để thấy được sức sáng tạo cũng như những đóng góp của ông với đời sống văn học đương đại nói chung và đời sống thể loại nói riêng.

3.  Mục đích nghiên cứu.

Đi sâu khảo sát nghiên cứu tiểu thuyết Nguyễn Quang Thân sau 1986, luận văn nhằm mục đích:

Nhận diện, miêu tả được những đặc điểm cơ bản về nội dung và nghệ thuật của tiểu thuyết Nguyễn Quang Thân như cảm hứng chủ đạo – cái nhìn của nhà văn về hiện thực, thế giới nhân vật hay những đặc sắc về nghệ thuật trần thuật.

Ghi nhận những nét riêng, độc đáo trong sáng tác của Nguyễn Quang Thân và những đóng góp của ông với tiểu thuyết Việt Nam đương đại.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.

4.1. Đối tượng nghiên cứu.

         Tiểu thuyết Nguyễn Quang Thân thời kỳ đổi mới nhìn từ phương diện nội dung và nghệ thuật trần thuật.

4.2. Phạm vi nghiên cứu.

Trong giới hạn phạm vi nghiên cứu, chúng tôi tập trung chủ yếu vào 4 tiểu thuyết xuất hiện sau 1986.

-                   Một thời hoa mẫu đơn (1988)

-                   Ngoài khơi miền đất hứa (1990)

-                   Con ngựa Mãn Châu (2000)

-                   Hội thề (2009)

Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi còn mở rộng phạm vi khảo sát trên truyện ngắn và tiểu thuyết Nguyễn Quang Thân trước và sau 1986.

5.     Phương pháp nghiên cứu.

5.1.Phương pháp lịch sử - xã hội.

Văn học là bức tranh sinh động nhất về đời sống xã hội. Tìm hiểu văn học nói chung và tiểu thuyết của Nguyễn Quang Thân nói riêng, chúng ta không thể không nhắc đến ảnh hưởng của thời đại trong đó. Vì vậy, nếu không xem xét đến yếu tố hiện thực, đặc biệt là sự chuyển biến của xã hội từ sau 1986 thì không thể nào thấy được sự vận động tất yếu của văn học giai đoạn này. Sử dụng phương pháp lịch sử - xã hội sẽ giúp cho việc lý giải những nguyên nhân thực tiễn và cơ sở của sự chuyển hướng trong văn học nghệ thuật, cụ thể là trong các tiểu thuyết của Nguyễn Quang Thân sau đổi mới.

5.2.Phương pháp so sánh.

Văn học chịu sự chi phối trực tiếp của hoàn cảnh xã hội. Sự chuyển biến của văn học gắn với quá trình vận động đổi mới trong xã hội. Việc vận dụng phương pháp so sánh giúp chúng tôi có điều kiện đối chiếu sự chuyển biến trong sáng tác của Nguyễn Quang Thân trước và sau 1986 cũng như đối với các nhà văn cùng thời.

5.3            . Phương pháp phân tích, tổng hợp.

Muốn làm rõ những đặc điểm về nội dung, nghệ thuật của tiểu thuyết Nguyễn Quang Thân không thể không tìm hiểu, đào sâu tác phẩm. Nghệ thuật tiểu thuyết của nhà văn được thể hiện trên nhiều phương diện vì vậy không chỉ phân tích mà còn phải tổng hợp, khái quát lại để rút ra những đặc điểm chung nhất.

5.4            .Phương pháp thống kê, phân loại.

Phương pháp này được dùng trong việc tìm hiểu, phân loại các kiểu nhân vật, giọng điệu, ngôn ngữ…trong nghệ thuật tiểu thuyết Nguyễn Quang Thân để có được cái nhìn cụ thể và chính xác.

6.  Cấu trúc luận văn.

Ngoài phần mở đầu và kết luận, phần nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương I: Cảm hứng chủ đạo trong tiểu thuyết Nguyễn Quang Thân sau 1986.

Chương II: Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết Nguyễn Quang Thân sau 1986.

Chương III: Nghệ thuật trần thuật trong tiểu thuyết Nguyễn Quang Thân sau 1986.

PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG I: CẢM HỨNG CHỦ ĐẠO TRONG TIỂU THUYẾT NGUYỄN QUANG THÂN SAU 1986.

 

Cảm hứng chủ đạo là: “trạng thái tình cảm mãnh liệt, say đắm xuyên suốt tác phẩm nghệ thuật, gắn liền với một tư tưởng xác định, một sự đánh giá nhất định, gây tác động đến cảm xúc của những người tiếp nhận”.(26.44) Cảm hứng thống nhất với các cấp độ và yếu tố khác trong nội dung tác phẩm mà nhờ đó nhà văn khẳng định được nguyên tắc thế giới quan của mình trên trang viết. Thông qua cảm hứng chủ đạo của tác phẩm, người đọc có thể thấy được cách nhìn cuộc đời cũng như quan niệm riêng của nhà văn. Do đó, tùy theo tư duy sáng tạo của mỗi tác giả xuất hiện các loại cảm hứng khác nhau như: cảm hứng bi kịch, cảm hứng nhân văn, cảm hứng phê phán…Cảm hứng là sự biểu hiện và cụ thể hóa những rung động tâm hồn nên nó không cho phép nhà văn thể hiện cảm xúc một cách bằng phẳng, một chiều. Vì thế, khi nghiên cứu thế giới nghệ thuật của một tác giả cũng như khi tìm hiểu tiểu thuyết của Nguyễn Quang Thân, theo chúng tôi vấn đề đầu tiên cần đề cập đến là cảm hứng chủ đạo trong sáng tác của nhà văn.

          Xét ở cấp độ khái quát với vai trò là lớp nội dung đặc thù của tác phẩm thì cảm hứng không chỉ dừng lại ở tình cảm yêu ghét hay sự say mê khẳng định ngợi ca…mà nó còn biểu hiện chủ đề tư tưởng của tác phẩm. Đôi khi, cảm hứng chủ đạo cần được hiểu là: “tình cảm xã hội của thời đại xuất hiện trong tác phẩm”. Khi đó người ta nói tới cảm hứng yêu nước, cảm hứng công dân, cảm hứng anh hùng ca…chính là những tình cảm mang lí tưởng chi phối sự đánh giá trong tác phẩm.

          Tìm hiểu tiểu thuyết Nguyễn Quang Thân, chúng tôi nhận thấy có hai nguồn cảm hứng lớn bao trùm là cảm hứng lịch sử và cảm hứng thế sự - đời tư. Hai nguồn cảm hứng này tương ứng với hai xu hướng tiểu thuyết mà nhà văn đã lựa chọn. Tuy nhiên giống như hai dòng chảy cùng chung nguồn cội, dù có chảy theo những hướng khác nhau nhưng hai nguồn cảm hứng ấy vẫn gặp gỡ, đan xen, hòa trộn góp phần khẳng định dấu ấn riêng của Nguyễn Quang Thân trên từng trang văn. Và có lẽ chính những nguồn cảm hứng ấy là động lực tâm hồn không vơi cạn để giúp nhà văn “không bao giờ bị xơ cứng” và những trang viết của ông luôn ngập tràn sự sống cùng  niềm tin vào cuộc đời.

1. Cảm hứng lịch sử.

          Cuộc sống hiện tại muôn màu muôn vẻ là chất liệu vô cùng phong phú cho sáng tác văn chương. Mỗi nhà văn khi bắt đầu ấp ủ hình thành ý tưởng về đứa con tinh thần của mình đều trải qua rất nhiều băn khoăn, lựa chọn. Có những người chọn hiện tại để nắm bắt cuộc sống xung quanh dưới nhiều góc nhìn khác nhau nhưng cũng có những người không chọn lối đi ấy mà quay về quá khứ, chọn lịch sử làm nguồn cảm hứng chính trong sáng tác của mình. Có thể thấy trong bầu không khí văn học cởi mở và dân chủ như hiện nay thì cảm hứng lịch sử là sự trở về với những gì đã qua để đánh giá, nhận thức lại các giá trị một thời của dân tộc, để từ đó soi chiếu vào cuộc sống đương đại. Lịch sử là cái đã qua, đã ăn sâu vào tiềm thức con người như những giá trị tâm linh và đôi khi trở thành bất biến. Phán xét lịch sử, thay đổi suy nghĩ về quá khứ không chỉ bằng giọng điệu ngợi ca một chiều sẽ đặt nhà văn trước những thách thức không nhỏ. Tuy nhiên, nhà văn không phải là nhà viết sử. Nếu sử gia tái hiện lịch sử một cách khách quan để cung cấp cho người đọc những tư liệu thực tế thì tiểu thuyết lịch sử lại “mượn chuyện xưa nói chuyện đời nay, tiếp thu những bài học của quá khứ, bày tỏ sự đồng cảm với những con người và thời đại đã qua song không vì thế mà hiện đại hóa người xưa phá vỡ tính chân thật lịch sử của thể loại này” (27). Hàng loạt các cây bút đã thành công khi viết về vấn đề này, có thể kể đến các truyện ngắn “ lịch sử giả” của Nguyễn Huy Thiệp ( Phẩm tiết, Kiếm sắc, Vàng lửa, Nguyễn Thị Lộ…) Một số tiểu thuyết lịch sử gây được ấn tượng đặc biệt với người đọc như Hồ Quý Ly - Nguyễn Xuân Khánh, Giàn thiêu - Võ thị Hảo, Sông Côn mùa lũ - Nguyễn Mộng Giác, Vằng vặc sao khuê - Hoàng Công Khanh…Rõ ràng là những tiểu thuyết lịch sử ra đời trong bầu không khí xã hội như hiện nay sẽ mang đến cách nhìn mới về lịch sử. Chúng ta nhận ra một điều rằng lịch sử không phải lúc nào cũng là những điều đã biết mà trong nó còn tiềm ẩn rất nhiều điều chưa khai thác hết.

          Đối với nhà văn Nguyễn Quang Thân, lịch sử luôn là nguồn cảm hứng dạt dào trong sáng tác bởi ông vốn là người đam mê sử sách nước nhà từ khi còn rất nhỏ. Ông đã từng tâm sự: “nếu không viết văn có lẽ tôi đã là người nghiên cứu sử”. Tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Quang Thân gây ấn tượng với người đọc bởi một lối viết sắc sảo, sự kết hợp hài hòa giữa chất liệu lịch sử với đặc trưng sáng tạo của tiểu thuyết “Cái gì của tiểu thuyết là tiểu thuyết còn cái gì của lịch sử thì phải trả lại cho lịch sử, không được nhập nhằng, lẫn lộn.”. Những trang viết của ông không chỉ ám ảnh bởi những điều đã thuộc về quá khứ mà còn kích thích bạn đọc tiếp tục suy ngẫm về các sự kiện đã qua bằng cái nhìn của hôm nay. Nó là thứ lịch sử của cuộc đời dù vẫn chói sáng ánh hào quang nhưng cũng không tránh khỏi cái xù xì, gai góc, thô nhám. Cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Quang Thân được thể hiện phong phú dưới nhiều cách thức khác nhau: có lịch sử gần, có lịch sử xa, có những sự kiện lịch sử trọng đại cũng có những khoảnh khắc chỉ thoáng qua, có lịch sử của cả một dân tộc cũng có lịch sử của cá nhân con người…Tuy nhiên, dù được biểu hiện như thế nào thì nguồn cảm hứng ấy cũng hướng về các hệ quy chiếu sau:

1.1.Cái nhìn giải thiêng lịch sử.

Khi các tiểu thuyết lịch sử mới ra đời theo xu hướng “nhận thức lại” đã đặt nhà văn trước một câu hỏi lớn: có nên đi theo chiều hướng giải thiêng lịch sử hay không? Vậy “giải thiêng” là gì? Có nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề này. Có người cho rằng “giải thiêng” là sự “hạ bệ” thần tượng, là một cách “bắn súng” vào quá khứ. Nhưng có lẽ nếu nhìn nhận như vậy thì đã hiểu sai đi mục đích tốt đẹp mà các tác giả nỗ lực hướng tới trên hành trình đi tìm ra cái mới cho tiểu thuyết nước nhà. Tiểu thuyết gia nổi tiếng Milan Kundera khi viết tác phẩm Vô tri đã nhận được nhiều ý kiến của bạn đọc cho rằng: phải chăng nhà văn đang tìm cách giải thiêng các huyền thoại nổi tiếng của phương Tây? Ông đã trả lời: “Nghệ thuật tiểu thuyết được sinh ra như là sự chống đối huyền thoại. Như một sự phân tích, một sự phản ứng các huyền thoại. Điều này thuộc về bản thân ý nghĩa của nghệ thuật tiểu thuyết”. Như vậy, cái nhìn giải thiêng trong tiểu thuyết không phải là sự phủ nhận hay hạ bệ thần tượng mà là cái nhìn tích cực theo xu hướng mở giúp chúng ta nhận thức lịch sử một cách toàn diện hơn. Đồng thời, khi tiểu thuyết lịch sử hướng tới việc giải thiêng huyền thoại cũng là lúc nhà văn muốn gửi gắm suy ngẫm triết lý về nhân sinh thế sự hôm nay và gợi mở những hướng tiếp cận mới cho bạn đọc.

          Cũng giống như nhiều tác giả cùng thời khác, Nguyễn Quang Thân không dùng tiểu thuyết để viết lại lịch sử của nước nhà. Lịch sử trong tiểu thuyết là lịch sử của quan niệm cá nhân, lịch sử được diễn tả bằng những niềm vui nỗi buồn, những rung động thực sự của trái tim con người.

          Viết về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn oanh liệt của dân tộc, nhưng trong tác phẩm Hội thề, Nguyễn Quang Thân không bao quát toàn bộ mười năm Lê Lợi và nghĩa quân từ lúc bắt đầu dựng cờ cho đến khi quân Minh thua trận về nước. Ông chỉ chọn thời điểm nghĩa quân Lam Sơn kéo về trại Bồ Đề để chuẩn bị cho việc kết thúc kháng chiến. Cuốn tiểu thuyết đã dành giải nhất cuộc thi kịch bản điện ảnh kỉ niệm 1000 năm Thăng Long  - Hà Nội. Sức hấp dẫn của tác phẩm có lẽ không chỉ ở khả năng dàn dựng kịch bản mà nó còn lôi cuốn người đọc bởi cách nhìn mới về những nhân vật lịch sử mà tên tuổi của họ đã trở thành một “hằng số” như: Lê Lợi, Nguyễn Trãi…Đã qua rồi cái thời người đọc gấp lại trang sách và hỏi : nhân vật này là tốt hay xấu? Con người ngày nay phức tạp, đa đoan hơn rất nhiều. Bên cạnh con người xã hội , con người thuộc về cộng đồng còn có con người cá nhân, con người tự nhiên với những bản năng rất đời thường. Dù người đó có là vị lãnh đạo tối cao của cuộc khởi nghĩa như Bình Định Vương Lê Lợi hay vị quân sư tài ba lỗi lạc Nguyễn Trãi đến tên tướng giặc Thái Phúc thì họ vẫn là những con người bình thường có cả mặt tốt lẫn mặt xấu. Khắc họa các nhân vật lịch sử không phải bằng cái nhìn phong thánh, Nguyễn Quang Thân đã để cho nhân vật của mình phát triển theo những nhu cầu tự nhiên nhất, người nhất. Nhân vật của ông vì thế mà chân thực, sống động và gây ấn tượng với bạn đọc.

          Linh hồn của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn chính là Lê Lợi. Công lao cứu quốc và khai triều của ông trong lịch sử đời đời còn tôn vinh. Trong tiểu thuyết Hội thề, Lê Lợi hiện lên là một nhà chính trị lão luyện, một nhà lãnh đạo tài ba, khéo léo trong việc dùng người, một nhà cầm quyền tỉnh táo biết rõ cái giá của sự được mất. Có lúc ông dễ dãi, xuề xòa như một anh đầu mục,  có lúc lại mạnh bạo, quyết liệt khác thường. Cuộc kháng chiến mười năm của Lê Lợi đến giờ phút này đã sắp đi đến đích cuối cùng, nhà vua cũng đã sắp thỏa tâm nguyện lớn lao cả cuộc đời. Nhưng con đường đến với vinh quang không hề bằng phẳng, không thể không trải qua mất mát, hi sinh. Và sự hi sinh thầm lặng của người đứng đầu ít ai để ý đến. Để tạo được “bia đá” ngàn năm thì chính bản thân Lê Lợi lại rất cô đơn và bất hạnh trong cuộc sống riêng tư. Ông đã phải hi sinh người vợ yêu dấu Ngọc Trần cho sự nghiệp chung, mặc dù đằng sau sự hi sinh của hoàng hậu là những âm mưu vô cùng đen tối của bọn Phạm Vấn, Lê Sát. Ông bất lực nhìn Ngọc trần gieo mình xuống vực sâu, cố giấu đi đôi mắt vô hồn nhưng cuối cùng ông đã không thể kìm nén được nỗi mất mát này: “ kể cả Bình Định Vương lúc này đang lấy tay che mắt như trốn nắng nhưng kì thực ông đang khóc” (42.221). Trong hàng nghìn tiếng hô “Bình Định Vương vạn tuế!” có lẽ không ai nhận ra một tiếng khóc đau đớn, bất lực của nhà vua. Ông là nhà vua, là người đứng đầu ba quân nhưng trước hết ông cũng là một người chồng, một người cha.

          Bản chất người của Lê Lợi không bị che lấp đi bởi ánh hào quang của vị lãnh tụ. Nhưng điều quan trọng hơn là nhà văn đã không tước đi ở ông vua khai triều Hậu Lê những nét thô lậu của một thổ hào người miền núi Thanh Hóa: “Nguyên Hãn thấy nhà vua cầm đùi gà nhai, uống rượu cần với tướng sĩ, khuy áo không cài hết cúc hở cả rốn, chú ấy quay mặt bỏ đi không ăn nữa” (42.199). Nhưng có lẽ điều mà nhà vua khổ tâm nhất là “ngứa mà không được gãi”. Cuộc chinh chiến đã buộc ông phải sống một cuộc đời khác. Ông đã từng mong ước được trở về cuộc sống tự do nơi rừng núi trùng điệp và những buổi đi săn cùng bầy chó Mường, chó Mán: “Có quá nhiều trách nhiệm, quá nhiều rằng buộc mà một con người nhỏ bé như ông phải gánh chịu. Trong thâm tâm ông biết mình cũng chỉ là một con người như ai, khi cao cả, khi thấp hèn, một con người quen được sống “tự nhiên nhi nhiên” như Đức Thánh Khổng từng dạy. Còn bây giờ khi đã là Bình Định Vương, ông muốn “tự nhiên nhi nhiên” cũng không được nữa. Ông buộc lòng phải cao cả, phải anh hùng mà thôi”. (42.125). Khát vọng tự do được sống một cuộc đời bình thường tưởng là đơn giản lại trở thành nỗi niềm trăn trở khôn nguôi trong lòng nhà vua.

          Trong tác phẩm Hội thề, Nguyễn Quang Thân cũng không ngần ngại phê phán tính cách thô lỗ, võ biền, ít học của các tướng lĩnh Lam Sơn. Ngay đến Bình Định Vương Lê Lợi cũng có lúc phần hoang dã trong con người ông vượt lên trên cả lòng nhân nghĩa: “Trái lại, điều ngạc nhiên là ta thấy mình bỗng sốt ruột muốn được chém giết, ham muốn được chém  giết ”(42.95). Phải chăng trong một con người luôn có những mặt đối lập, sự đấu tranh để chiến thắng phần con nhỏ bé sẽ giúp con người hoàn thiện hơn. Trong khí thế xung trận hừng hực của nghĩa quân Lam Sơn khi “thành Đông Quan như quả cam trong túi lấy lúc nào cũng được”, nhà văn xót xa khi nhận ra ngoài lòng căm thù giặc ở họ còn đậm bản năng hiếu sát. Chi tiết Lê Sát lia gươm chém bay đầu ba tên tù binh khi Lê Lợi vừa đi khỏi đã phản ánh rất rõ điều này. Đây cũng là điều khiến cho Lê Lợi hết sức khổ tâm. Ông không lạ gì bản tính thô bạo, tham lam, ít học của những tướng lĩnh thân cận bên mình. Lê Sát thì chỉ thích thú khi được chém giết, được nhìn thấy cảnh máu chảy đầu rơi : “Mừng công mà vắng cảnh đầu rơi máu chảy thì không vui”(42.160). Còn Phạm Vấn lại vô cùng gian xảo chỉ lo thu vén của cải, tư trang mỗi khi vào chiếm thành. Nhà văn đã miêu tả rất chân thực chi tiết Phạm Vấn thích thú khi lột được của Hoàng Phúc một viên hồng ngọc. Y  lấy làm hả hê vô cùng vội vàng đút viên ngọc vào túi khi thấy Lê Sát đến “giống như một anh lái buôn quê rất trái ngược với phong thái bề ngoài đĩnh đạc đàng hoàng thường ngày”(42.170). Y tự nhủ y cần tiền, cần rất nhiều tiền cho cái ngôi báu còn bấp bênh của Nguyên Long cháu y, cần tiền để khôi phục thanh danh dòng họ Phạm và không còn con đường nào khác là y phải vơ vét, cướp bóc.

          Nhà văn còn nhìn thấy trong con người của những viên tướng đứng đầu triều đình tâm lý công thần chủ nghĩa. Họ dựa vào quá khứ đã qua cùng chia ngọt, sẻ bùi với Lê Lợi làm công trạng và tự cho mình quyền muốn làm gì tùy thích. Lê Sát, Phạm Vấn - một người là anh vợ nhà vua, một người là thiếu úy đứng đầu ba quân.  Chính vì lẽ đó mà Phạm Vấn, Lê Sát rất căm ghét bọn nho sĩ Bắc Hà “trói gà không chặt” chỉ bằng mấy câu văn chương sách vở lại khiến cho Bình Định Vương thay đổi ý định. Mọi việc diễn ra không được như ý muốn sẵn với lòng ghen ghét đố kị khiến cho họ nhìn Nguyễn Trãi, Trần Nguyên Hãn như cái gai trước mắt.

          Nguyễn Quang Thân rất sắc sảo khi cắt nghĩa cho những suy nghĩ, hành động của đám tướng lĩnh Lam Sơn. Họ không những không nhận ra nhược điểm của sự ít học, của tính thô lỗ, của bản năng hoang dã trong con người mình mà còn cố tình thổi phồng nó lên. Vì lẽ đó mà bọn họ không bao giờ có thể hiểu thấu hết ý nghĩa nhân văn cao cả trong đường lối chống giặc của Nguyễn Trãi: “Đáng lẽ chúa công và anh em nghĩa sĩ Lam Sơn chúng tôi phải xin các vị nho sĩ Bắc Hà bỏ qua cho cái tội vô học. Chúng tôi sinh ra thời nhiễu nhương, từ chăn trâu cắt cỏ mà lên, chữ nghĩa thánh hiền không đầy một vốc, đâu có được học hành tử tế như người lầu son gác tía” (42.102).

          Có thể nói từ nhận thức của con người hôm nay, Nguyễn Quang Thân đã giải phóng cái nhìn khỏi sự sùng bái lịch sử theo kiểu chỉ ca ngợi một chiều. Từ đó, nhà văn muốn đối thoại cùng độc giả: không nên phong thánh cho con người, hãy trả con người về đúng kích thước của nó. Cần nhìn nhận nhân vật lịch sử một cách biện chứng ở cả hai mặt ưu điểm và nhược điểm. Điều này thể hiện cái nhìn dân chủ trong tư duy phân tích lịch sử của nhà văn nói riêng và văn học đương đại nói chung.

          Trên hành trình khắc họa những nhân vật có tầm cỡ trong lịch sử dân tộc, ngoài những điều mà ai cũng thấy, ai cũng biết thì Nguyễn Quang Thân luôn cố gắng đi tìm “cái bề sâu, bề sau , bề xa” của con người qua những ý nghĩ thầm kín. Cách nhà văn thể hiện nhận vật Nguyễn Thị Lộ là một ví dụ. Đã có rất nhiều giai thoại về mối tình đẹp đẽ giữa Nguyễn Trãi và cô bán chiếu xinh đẹp. Và cũng đã từ lâu người ta chỉ quen với hình ảnh một Thị Lộ thông minh, sắc sảo, người chia sẻ với cùng Nguyễn Trãi tất cả những băn khoăn, trăn trở về quốc mệnh dân sinh. Nhưng ở tác phẩm Hội thề, Nguyễn Quang Thân đã đưa nhân vật của mình trở về đúng vị trí của một người vợ với những khát khao bình thường như tất cả những người đàn bà khác: “Nàng hiểu ông nhưng ông không hiểu nàng. Ông luôn quên nàng là vợ ông nơi quân thứ. Nàng chỉ muốn là vợ ông chứ không muốn là một mưu sĩ…Sau bảy đêm thao thức nàng tưởng như vỡ tim khi thấy chồng bước lên lầu trong đêm, vậy mà không một câu hỏi han, không một cử chỉ âu yếm, ông ấy đã lại lôi nàng vào trận cuồng phong của chiến chinh, trong khi nàng sửa soạn rượu tẩy trần và chỉ mong được chồng kéo lên giường”. (42.40) Bằng cái nhìn rất nhân bản và đầy cảm thông, nhà văn đã đi tới những góc khuất sâu kín nhất trong tâm tư, tình cảm của con người. Rõ ràng là khi quan sát con người trong mối quan hệ với chính nó, nhà tiểu thuyết sẽ khám phá được đến tận cùng đời sống nội tâm phong phú và nhân cách đa dạng của mỗi cá nhân trước những biến động lịch sử. Tuy nhiên, nếu trong Hội thề các nhân vật như Lê Lợi, Nguyễn Thị Lộ hiện lên trong những mối quan hệ, mâu thuẫn nội tại giằng xé phức tạp giữa một bên là bổn phận, trách nhiệm và một bên là những khát vọng bản năng đời thường thì dường như Nguyễn Trãi lại được nhà văn xây dựng như một hình mẫu lý tưởng mà phần “công dân” lấn át phần “người”. Mặc dù ai cũng biết Nguyễn Trãi là anh hùng dân tộc, là người giữ vai trò quan trọng trong tiến trình lịch sử nhưng lại không ai biết Nguyễn Trãi là con người như thế nào trong cuộc sống bình thường ở một quá khứ xa xưa? Đến Hội thề, Nguyễn Quang Thân vẫn chưa thực sự làm sáng tỏ được điều này. Tuy nhiên do cảm hứng chủ đạo chi phối tác phẩm là sức mạnh của tư tưởng nhân nghĩa cho nên nhà văn đã dồn hết ý tưởng của mình vào nhân vật.

          Quay trở về một thời kì lịch sử đầy biến động cách đây hơn 500 năm cũng là chủ đề chính trong chùm truyện ngắn “lịch sử giả” của Nguyễn Huy Thiệp. Bên cạnh Kiếm sắc, Phẩm tiết, Vàng lửa thì Nguyễn Thị Lộ được đánh giá là tác phẩm có sức căng nén, dồn chặt “chất chứa đằng sau vẻ đơn sơ, trần trụi làm tim ta thắt lại” (Đặng Anh Đào). Một đặc điểm cơ bản trong truyện ngắn lịch sử của Nguyễn Huy Thiệp là cảm thức về thực tại hiện lên một cách rõ nét khi  tái hiện quá khứ. Đây là điểm khác biệt khi viết về lịch sử trong sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp so với Nguyễn Quang Thân và một số nhà văn cùng thời khác. Nếu Nguyễn Quang Thân trong tiểu thuyết của mình tập trung vào một vài sự kiện tiêu biểu có tính chất quyết định trong lịch sử thì trong Nguyễn Thị Lộ của Nguyễn Huy Thiệp tất cả sự kiện chỉ là những mảnh vụn và mâu thuẫn được chuyển vào trong. Cuối cùng là hình tượng Nguyễn Trãi hiện lên trong sự ám ảnh về nỗi cô đơn giữa đời. Ý thức về cá nhân , ý thức về sự đơn độc của một con người cách đây hơn năm thế kỉ đã nhận được sự đồng cảm từ cái nhìn hôm nay. Cũng xuất phát từ cảm hứng đời thường có tính chất phê phán và cũng viết về giai đoạn lịch sử ấy nhưng chúng ta nhận thấy ở Nguyễn Quang Thân một lối viết nhẹ nhàng và có phần ít “gai góc” hơn. Một phần cũng do cái “tạng” và ý đồ nghệ thuật riêng của mỗi nhà văn nên trang viết của Nguyễn Quang Thân không quyết liệt mà đạt đến độ sâu nhất định. Ông luôn hướng tới cái đời thường, giản dị trong mỗi cá nhân con người để có thể nhìn lịch sử một cách đầy đủ hơn.

          Mặc dù xu hướng “giải thiêng lịch sử” không phải là cảm hứng chủ đạo trong tác phẩm Hội thề nhưng cũng giống như phần chìm của một “tảng băng trôi” nó hấp dẫn bạn đọc bởi mỗi người có thể tìm thấy chính mình trong đó và thấy phần khuất lấp trong mỗi tâm hồn được cảm thông, chia sẻ.

1.2. Sự chuyển biến lịch sử dưới góc nhìn văn hóa.

Nền văn hóa của mỗi dân tộc thường được biểu hiện trong nếp cảm, nếp nghĩ của con người dân tộc ấy. Được hình thành một cách rất tự nhiên, nó dần dần trở thành tiềm thức văn hóa dân tộc. Dân tộc Việt Nam với đặc trưng nông nghiệp lúa nước từ ngàn xưa cùng với ảnh hưởng của các tư tưởng Phật, Đạo, Nho nên người Việt Nam mang trong lòng gốc rễ văn hóa nông dân từ trong cách nghĩ đến lối sống. Người Việt Nam yêu những điều thân thuộc, bình dị như cây đa, giếng nước, mái đình là những mảnh hồn của quê hương xứ sở trong khi người Trung Quốc lại chuộng cách sống cầu kì, hoa mĩ, quý tộc. Trải qua hàng ngàn năm Bắc thuộc, văn hóa Trung Quốc đã có sự ảnh hưởng không nhỏ đến Việt Nam. Và cũng chính sự giao lưu này đã tạo nên tính chất đa dạng và luôn biến đổi của văn hóa Việt Nam, trong đó có văn học nghệ thuật. Với tâm thức văn hóa sẵn có và được hình thành một cách tự nhiên cho nên không ít nhà văn khi cầm bút đều muốn thể hiện cho được đặc trưng văn hóa của dân tộc mình. Điều này có thể nhận thấy ở một số cây bút tài hoa như: Nguyễn Tuân, Đỗ Chu….Đọc các tập tùy bút của Đỗ Chu như Tản mạn trước đèn hay Thăm thẳm bóng người ta vừa thấy yêu thêm cái văn hóa xứ mình vừa không khỏi giật mình vì trong văn hóa Việt cũng có cái gì đó “lạ lùng , khó hiểu, để rồi có không ít cái hờn giận vì nó”. Đằng sau mỗi trang tùy bút của Đỗ Chu, người đọc nhận thấy một “cái tôi văn hóa” sâu lắng mà da diết tình đời, tình người. Dường như nhà văn đang giấu trong mình cả một kho văn hóa dân gian, bác học, lịch sử huyền tích, cái trông thấy và cái nghe thấy, cái sống và cái ngẫm, trộn tất cả vào mình rồi rút ra bằng những câu văn vừa như kể chuyện vừa như tâm sự, giãi bày. Còn đối với Nguyễn Tuân – nhà văn nặng lòng với quá khứ “một thời vang bóng” thì lại cố gắng đi tìm vẻ đẹp của những phong tục, những thú tiêu dao hưởng lạc tao nhã, lành mạnh. Tất cả được thể hiện thông qua những con người thuộc lớp người nhà Nho tài hoa bất đắc chí, tuy đã thua cuộc nhưng không chịu làm lành với xã hội thực dân (như nhân vật Huấn Cao trong Chữ người tử tù).

Như vậy, rõ ràng là nhìn thấy mặt văn hóa trong nghệ thuật là chuyện không mới nhưng trong tác phẩm của mình, Nguyễn Quang Thân không dừng lại ở việc khai thác những vẻ đẹp văn hóa lâu đời của dân tộc mà ông còn tinh tế nhận ra một quá trình chuyển biến tư tưởng của các cá nhân với những hậu quả khác nhau của nó đối với tiến trình lịch sử. Đó là tâm lý chuộng hình thức, địa vị, là tình trạng nhập nhằng giữa lòng say mê đi theo cách mạng một cách tự nguyện với tính ích kỉ cá nhân của những người nông dân như Đạt trong Con ngựa Mãn Châu. Không thể phủ nhận những cống hiến của Đạt >>xem tiếp>> 
Comments