PHỤNG VỤ CANH TÂN

PHỤNG VỤ CANH TÂN VÀ CANH TÂN PHỤNG VỤ

           

             Tham chiếu những văn kiện của Công Dồng Vatican II, Phụng Vụ là một trong muôn vàn vấn đề cần cải tiến của Giáo Hội Công Giáo, đã được bàn thảo, đúc kết, ban hành và thực thi.  Tuy nhiên, trong suốt trên ba thập niên qua, vẫn còn rất nhiều hiện tượng không đồng nhất.  Từ  vị trí của một giáo dân bình thường, kẻ viết xin thử mạo muội nêu lên một vài điểm trong nghi thức Thánh Lễ Chúa Nhật, mong được đón nhận tôn ý của quý độc gỉả.

 

A- XÁC ĐỊNH

Cụm từ “Phụng Vụ Canh Tân” với hai tiếng Canh Tân đặt sau theo ngữ pháp Việt, đóng vai quá phân từ và dùng như tĩnh tự để xác định cho Phụng Vụ, hầu nói lên ý nghĩa là nền Phụng Vụ đã được đổi mới. Thiết nghĩ, giáo sĩ, giáo dân và giáo xứ nói chung chỉ có nhiệm vụ thực thi Phụng Vụ Canh Tân mà thôi.

Còn mệnh đề “Canh Tân Phụng Vụ” với hai tiếng Canh Tân đặt trước, đóng vai động tự hay danh tự để làm chủ từ cho Phụng Vụ.  Công việc này thuộc thẩm quyền của các nghị phụ trong Công Đồng và Tòa Thánh La Mã.

Theo Công Đồng Vatican II, có cả một Hiến Chế về Phụng Vụ (Sacrosanctum Concilium), bao gồm rất nhiều đề mục đại lược như: Thánh Lễ với phụng vụ Lời Chúa, đáp ca, câu tung hô, lời nguyện giáo dân, phụng vụ Thánh Thể, ngôn ngữ, đồng tế, kinh nhật tụng, năm phụng vụ, thánh nhạc, nghệ thuật thánh v.v...Nói một cách phổ thông thì Phụng vụ là bao gồm những công việc và phương tiện nhằm mục đích thờ phượng Chúa sao cho phải phép, sốt sáng và long trọng.

 

B- GIỚI HẠN

Với nhiều đề mục như thế, nên trong bài này chúng tôi chỉ xin đề cập đến mấy điểm nổi bật trong Nghi Thức Thánh Lễ hiện đang áp dụng như:  câu kết sau mỗi bài đọc, bài đáp ca theo thánh vịnh, câu tung hô trước Phúc Âm và lời nguyện giáo dân. Đặc biệt, cũng xin đề cập tới một vấn đề cần thiết nữa mà văn kiện Công Đồng đã nêu; là việc Dẫn Lễ. Từ đó, chúng ta sẽ nhận định xem việc áp dụng, thực thi có đúng và đủ theo tinh thần của Phụng Vụ Canh Tân chăng, hầu đạt được tính tích cực, long trọng, linh thiêng và duy nhất ??

 

C- HIỆN TRẠNG

Khi quan sát đồng thời cũng là tham dự Thánh Lễ cuối tuần và Chủ Nhật tại các cộng đoàn Mỹ cũng như Việt, người ta có thể nhận thấy rõ ràng hiện tượng không đồng nhất.  Mỗi nơi một cách, rất là tùy tiện...

            1- Câu Kết Sau Bài Đọc :

 -Theo nghi thức thánh lễ chính thức trong Sách Lễ Quy Rôma, từ trước cho đến ấn bản mới nhất năm 2005, được Tòa Thánh chấp thuận và do H.Đ.G.M. Việt Nam ban hành, rồi cũng in rõ ràng trong các Sách Bài Đọc, rằng: câu kết của 2 bài Thánh Thư và cả bài Phúc Âm đều là ‘’Đó là Lời Chúa’’. Tuy nhiên, một số cộng đoàn V.N. tại Hoa Kỳ lại có thói quen chỉ đọc là ‘’Lời của Chúa’’.

Sở dĩ có tình trạng này, chẳng qua là do cái não trạng ‘’theo lối Mỹ’’ mà thôi. Vì, người Mỹ thường kết bài đọc bằng cụm từ ‘’The Word of The Lord’’.  Trong khi, chính sách nghi thức thánh lễ The Roman Missal của USCCB, tức là H.Đ.G.M. Hoa Kỳ thì cũng quy định rằng: sau mỗi Reading, kể cả Gospel đều kết thúc bằng câu nguyên văn là:‘’This is the Word of The Lord’’. (Một số sách Việt và Anh đã không theo đúng như sách nghi thức, nên sau bài Phúc Âm lại in câu ‘’Phúc Âm của Chúa’’ hay ‘’Tin Mừng của Chúa’’ và ‘’The Gospel of The Lord’’).

Lý do sâu xa là do đời sống của nền văn minh cơ khí, người Mỹ thường có khuynh hướng nói vắn, viết gọn, gọi là American English, khác với Bristish English. Ví dụ ‘’4 sale’’ thay cho giới từ ‘’for’’,  ‘’2-9’’ thay vì viết ‘’To-night’’ v.v...Cho nên, đáng lẽ đọc như  nghi thức đã quy định bằng câu nguyên văn ‘’This is the Word of The Lord’’ hay ‘’Đó là Lời Chúa’’, với đầy đủ chủ từ (subject), động từ (verb) và túc từ (complement), thì họ chỉ đọc cụt ngủn rằng:‘’The Word of The Lord’’, rồi mình cũng theo mà đọc ‘’Lời của Chúa’’.

Lý do kế tiếp là câu ‘’This is the word of The Lord’’ thực ra không chính xác, đáng lẽ phải là ‘’That is...’’ (Điều vừa đọc ĐÓ...).  Cho nên Uỷ Ban Phụng Vụ Mỹ đã xin được đổi thành THAT is và phải mất một thời gian dài mới được chấp thuận.  Trong khi đó, người ta đã dùng quen câu ‘’The word of The Lord’’ mất rồi, nên cũng không mấy nơi theo câu mới nữa. Hiện nay, đã có một số Sách Bài Đọc  của nhà thờ Mỹ ( chứ không phải là Giáo Hội Hoa Kỳ) dành cho người đọc (lector) đã tuỳ tiện bỏ hẳn câu kết đó sau các bài thánh thư cũng như Phúc Âm.  Cho tới khi những dòng này được viết, hẳn là chưa được sự chấp thuận của Tòa Thánh Roma, cũng như đối với các bản văn Thánh Kinh và  nghi thức Thánh Lễ bằng tiếng Mỹ vậy.

Lý do khác nữa là người ta cho rằng  những lời trong Thánh Kinh từ Cựu Ước đến Tân Ước xem ra chÌ là những lời của các Tiên Tri và Thánh Đồ viết, chứ không hẳn là Lời Chúa. (Chẳng hạn ở bài đọc 1, Sách Lễ Giáo Dân trang 1211, chÌ là những câu đối thoại giữa một tiên tri và viên lãnh binh thôi; hay ngay trong bài Phúc Âm ở trang 96, chÌ là lời tường thuật của Thánh Sử Luca với lời bàn tán của các mục đồng; và bài Phúc Âm ở trang 65, chỉ là những lời Thiên Thần báo mộng cho Thánh Giuse v.v...Thậm chí trong những bài Phúc Âm mở đầu Mùa Chay, còn có cả những lời của ma quỷ khi chúng cám dỗ Chúa trong hoang địa nữa v.v...) Vì lập luận như thế, nên người ta cho rằng không nên dùng câu khẳng định ‘’Đó Là Lời Chúa’’, mà nên dùng chung chung ‘’Lời của Chúa’’!           

Thế nhưng kỳ tình thì cũng vậy thôi, như khi muốn rõ ràng thì nói: ‘’Cái đó của tôi đấy’’ hay muốn vắn gọn thì chÌ nói: ‘’ Của tôi đấy’’ . Tất cả đều là hai câu ở thể xác định, với cùng một nghĩa mà thôi.  Hơn nữa, họ lại quên rằng: Toàn bộ Thánh Kinh tuy là do các Tiên Tri và Thánh Đồ viểt ra, nhưng Chúa Thánh Thần đã LINH HỨNG, cho nên văn và người chÌ là công cụ trần thế, còn Ý trong đó thì mới chính là bởi Chúa. Vậy câu khẳng định ‘’Đó Là Lời Chúa’’ đã nói lên được sự xác tín với thực tại thần thiêng này!

Vấn đề nêu lên còn là nỗi băn khoăn , nhưng giải quyết vấn đề là thuộc về Giáo Quyền. Chủ đích ở đây chÌ bàn về việc tuân hành nghi thức phụng vụ đã được quy định và ban hành rõ ràng như đã trình bầy trên..., thì nhất thiết phải tuân theo, chứ không thể tuỳ tiện thay đổi như hiện trạng !.

(Giả thử dùng câu ‘’Đó là Thánh Kinh’’ hay ‘’Đó là Phúc Âm’’ với ý nghĩa tổng quát, xem ra có lý hơn và có thể chấp nhận được. Hãy chờ mong Giáo Quyền quan tâm cứu xét).

-Tóm lại, khi đọc :‘’The Word of The Lord’’  hay ‘’Lời Của Chúa’’ thì rõ ràng là:         

(1)- Không đúng với nghi thức, nếu không muốn nói là sai với nghi thức. Và đó là lỗi luật Phụng Vụ, là bất tuân thẩm quyền.

(2)-Do đó, không giữ được tính duy nhất trong Giáo HộI. Muốn không như những cộng đoàn khác thì chỉ là cái hiện tượng ‘’Tân Biệt Phái’’ thời đại mà thôi!

(3)- Ngoài ra, còn sai cả văn phạm cơ bản; vì ’’Lời của Chúa’’ chỉ là một cụm từ làm nhiệm vụ túc từ, thiếu mất chủ từ và động từ.

(4)- Riêng đối với Việt Ngữ, dùng giới từ ‘’của’’ xem ra thiếu tính văn chương Việt, mà nghe ra lối văn Tây, văn Mỹ; như nói Lời  Của Chúa  không hay bằng nói Lời Chúa, nói Lòng Của Mẹ không hay bằng nói Lòng Mẹ.

            Một trong những tư tưởng nổi bật của Công Đồng Vaticanô II là cổ vũ dùng những nét tinh hoa của mọi nền văn hóa mà Chúa đã ban riêng cho từng dân tộc để minh họa niềm tin!

(5)- Rồi, khi cần hát Lời Của Chúa thì lại thiếu nhịp, nghe cụt ngủn còn hát Đó Là Lời Chúa thì mới đủ 2 nhịp, tức là một chi câu theo luật cân phương, nghe trọn vẹn hơn!

            Trong một dịp học hội tại New Orleans, Giám Mục San Petro, đặc trách về Di Dân Tị Nạn đã yêu cầu: ‘’Lễ tiếng Anh theo bản tiếng Anh, lễ tiếng Việt theo bản tiếng Việt.  Đừng đổi lộn xộn, lỗi luật phụng vụ’’.

Vì những lẽ đó, xin khẩn đề nghị  xét lại và chỉ thị dứt khoát để chấn chỉnh về vấn đề này!

2 -  Đáp CaTheo Thánh Vịnh :

-Cũng như câu kết trên, có nơi thì đọc, mà người đọc thường là người vừa đọc bài 1.  Có nơi lại hát, thường do ca đoàn hát chính bài đáp ca đó hay một bài tương tự.  Lại có nơi hát câu đáp, đọc câu xướng; cứ vừa hát vừa đọc tới bốn,năm lần như thế.

-Đọc theo cung bình ca thì cũng đúng cách và kể là được. Nhưng theo nghi thức thì phải hát, và hát chính bài thánh vịnh đã định trong sách lễ.  Do đó, cần tìm bản nhạc đã viết theo thánh vịnh này.  Nếu không có, thì hãy soạn cung nhạc ra.  Một ca  xướng viên thuộc ca đoàn hay chính ngưòi đọc bài một có năng khiếu hát phụ trách cần tập sẵn những câu xướng, còn câu đáp sẽ hướng dẫn trước khi thánh lễ cử hành mấy phút cho cả cộng đoàn hát chung với ca đoàn.

-Một ca xướng viên thuộc ca đoàn phụ trách  hát bài đáp ca đó.  Cần tập riêng những câu xướng, còn câu đáp sẽ hướng dẫn trước khi thánh lễ cử hành mấy phút cho cả cộng đoàn hát chung với ca đoàn.

-Mở đầu ca và cộng đoàn cùng hát 2 lần câu đáp.  Sau đó cứ mỗi câu xướng thì đáp một lần.  Chỉ  cần 3 câu xướng để người đọc bài Ii biết chừng mà lên.  Cuối cùng ca, cộng đoàn hát 2 lần câu đáp.

-Người hát đáp ca là solo, nên phải hát cho hay, có micro tốt và chỉ đệm đàn nhẹ để lời hát được rõ, chứ đừng đệm theo kiểu trình diễn độc tấu, làm át cả lời ca đi.

- Người đọc bài I, nếu có năng khiếu, cũng có thể  hát luôn đáp ca, nhưng phải kẹp sẵn bài đáp ca trong sách bài đọc, để sau khi đọc bài thì hát luôn. Nếu không hát thì sau khi kết thúc câu “Đó là Lời Chúa” , cúi chào Sách Thánh, rồi rời giảng đài ngay.

-Nếu một ca xướng viên phụ trách hát thì cũng phải để sẵn bài đáp ca trong bìa, ở giảng đài, hoặc ôm folder trước ngực mà bước lên, đặt trên bàn như sách. Không nên cầm cao lên khỏi micro. Dù có thuộc lòng rồi cũng nên nhìn qua vào bản.

-Đừng diễn tả bằng cử chỉ theo kiểu hát trình diễn trên sân khấu. Cũng không được đánh nhịp tay khi cộng đoàn hát câu đáp.  Tất cả đều thiếu trân trọng và nghiêm chỉnh! Có chăng, chỉ giơ một hay hai tay cao và giữ yên, có ý nhắc cộng đoàn hát câu đáp mà thôi.

Hàng năm, qua màn ảnh truyền hình, Thánh Lễ Nửa Đêm tại Đền Thánh Phê Rô do Đức Thánh Cha chủ tế từng diễn ra hết sức long trọng. Chúng ta nhận thấy nghi thức hát đáp ca như trên đã được áp dụng đúng theo Phụng vụ và biểu lộ sâu sắc sức sống của Lời Chúa.

            Một điểm đáng quan tâm nữa, đó là ca đoàn chỉ nên phụ trách    những bài hát cần đến nghệ thuật chuyên biệt về hòa âm và nhạc khí.  Còn bộ lễ (Thương xót, Vinh danh v.v...)và Đáp ca phải là những bài hát cộng đồng, nghĩa là đơn giản, không bè, để có sự tham dự tích cực của cả cộng đoàn, thì mới thể hiện rõ tinh thần Phụng vụ canh tân. Thánh Âu Cơ Tinh bảo:”Ca hát hay là cầu nguyện gấp hai lần”.

3 - Câu Tung Hô Phúc Âm:

Cũng tương tự như trường hợp bài đáp ca, nghĩa là có thể đọc hay hát tùy nghi.  Nhưng nếu đọc thì phải đọc theo cung bình ca và đọc cả hai tiếng alleluia nhập đề đến chính câu tung hô và hai tiếng alleluia kết thúc.  Còn nếu hát thì nên hát tất cả.  Tuyệt nhiên không nên duy trì tình trạng ca đoàn chỉ hát hai tiếng nhập alleluia, rồi bỗng dưng người đọc sách chuyển sang đọc câu tung hô, cuối cùng ca đoàn lại hát hai tiếng kết alleluia như thường thấy.  Vừa hát vừa đọc như vậy không thể nào ăn khớp được, vì đang là cung hát lại chuyển sang giọng đọc, âm giai đối chọi nhau, trong khi không có những nốt chuyển cung, nghe rất là chỏi.

Hiện nay, những câu tung hô có soạn nhạc sẵn tương đối còn ít, nhưng những tiếng alleluia nhập đề và kết thúc thì kể ra đã có nhiều cung khác nhau và rất hay.

            Để giải quyết tình trạng đã hát rồi lại đọc như trên, các ca trưởng nên soạn sẵn nhạc cho câu tung hô, tập trước cho một ca xưống viên hay cho chính người sẽ đọc bài II, nếu có thể, để một trong hai người này sẽ hát solo.

Với  một năng khiếu tương đối thôi và một số kiến thức căn bản về nhạc lý, nhất là về cung Grégorien và cung Passio (cung hát lễ La Tinh và cung Bài Thương Khó), chúng ta có thể hát ngay bất cứ câu tung hô nào dù không có nhạc sẵn. 

Tiếng Việt là một ngôn ngữ đơn vận nhưng đa âm với những dấu nặng, sắc, huyền, hỏi, ngã; cho nên có thể nói là một ngôn ngữ để hát, lại hát hay hơn và dễ hơn các ngôn ngữ đa vận nhưng đơn âm như La, Pháp, Anh v.v...Khi cần có cung lên hay xuống ta chỉ việc sử dụng những nốt láy liên tiếp, hoặc đổi từ ngữ một cách phải phép và đồng nghĩa, để có được vần bằng hay vần trắc, như thay vì “trời đất” thì hãy dùng “đất trờI”, “thương xót” đổi thành “xót thương”, “nỗi vui sướng” ra “lòng hân hoan” v.v…

4-Lời Nguyện Giáo Dân:

Xưa nay thói quen của chúng ta khi cầu nguyện thì cứ xin ơn mà thôi.  Thực ra, nội dung của các lời nguyện cần bao gồm những ý tưởng: cảm tạ, ngợi khen, tôn thờ, nguyện hứa và xin ơn, đồng thời cũng liên hệ tới tình hình thời sự mới nhất nữa, để chứng minh Lời Chúa luôn gắn liền với mọi thực tại trần thế.

Đọc hay nghe những câu Ý Cầu Nguyện Trong Tháng được in trong Niên Lịch Phụng Vụ, hoặc Lời Nguyện Giáo Dân do các cộng đoàn viết và ngay cả trên mạng lưới toàn cầu soạn sẵn, người ta thường nhận thấy nhiều câu chưa được mạch lạc, nếu không muốn nói là thiếu cả văn phạm tối thiểu. 

Ví dụ nguyên văn:’’Cho các nhà khảo cứu khoa học và kỹ thuật để họ biết đón nhận lời mời gọi của Giáo Hội...’’Cho ở đây là giới từ, vậy mà không thấy có một động từ nào đi trước.

            Cũng có câu dùng động từ xin, nhưng xin ai thì lại không biết, vì thiếu  túc từ trực tiếp đi liền sau. ( Nếu viết Xin Chúa cho...thì thật là rõ ràng và có luận lý).

Vẫn trong câu trên, phải xin cho họ điều gì đó đã ( ví dụ ý thức trách nhiệm ), thì mới có lý do mà dùng tiếng để..., nếu không thì cần bỏ hẳn cụm từ ‘’để họ’’ cho câu được ngắn gọn, sáng tỏ và hợp quy.

Đôi khi còn thấy những cách nhập đề như: "Chúng ta hãy cầu xin cho...". Thì cứ nói ngay ra những nguyện vọng đi. Mạch văn như thế chỉ mới có tính chất gợi ý, khuyến khích chứ chưa hề có lời cầu nguyện đích thực nào, thế mà lại kết bằng câu: "Chúng con cầu xin Chúa."

            Cũng vậy, nên tránh những kiểu nhập đề khơi khơi rằng: "Xin cho...", xem ra không được trân trọng; vì xin ai, không có túc từ đối tượng?! Thiết tưởng nên nhập đề trực khởi bằng lời xin như: "Xin Chúa cho...", hay bằng lời trình như: "Lậy Chúa,..." thì mới được trang trọng.

Sau mỗi lời nguyện, người đọc thường kết bằng câu ‘’Chúng con cầu xin Chúa’’. Nhưng hẳn vì theo những  lời nguyện mẫu trên mạng lưới như Vietcatholic, nên có nơi lại đọc câu kết rằng ‘’Chúng ta cầu xin Chúa’’. Thật là quái lạ! Đây là câu văn thuộc thể xác định (affirmative form), đọc lên ắt ra cái nghĩa xấc láo, trái ngược hẳn với câu thường dùng để thưa lên cùng Chúa rằng:"Chúng con cầu xin Chúa".

Hai câu đối và đáp vắn gọn này chỉ có dụng ý đồng thanh xác định lại là: ‘’Vâng, chúng con cùng khẩn cầu điều đó, và xin Chúa chấp nhận’’.

Đây lại cho thấy cái não trạng ưa ‘’theo lối Mỹ’’, vì các lời nguyện giáo dân của họ (prayer of the faithful) thường có câu kết là ‘’We pray to The Lord’’. Câu này chỉ có nghĩa thưa lên cùng Chúa, cho nên ‘’we’’ ở đây là ‘’chúng con’’. Nếu dịch ra Việt ngữ là ‘’chúng ta’’ thì  hẳn nhiên là rất xấc xược đối với Chúa!

            Không thể biện minh rằng đó là câu ở mệnh lệnh cách(imperative mode) để nói với nhau, bởi lẽ không thấy có tiếng “Let’s/Hãy” ! Cho dù ‘’hiểu ngầm’’ là có tiếng đó đi chăng nữa như có khi dùng câu ‘’Chúng ta cùng nguyện xin’’, thì  cũng  không thuận lý, vì lời cầu đã được người đọc làm đại diện thưa lên Chúa rồi, cần chi phải nhắc công đoàn hãy cầu đi?

Cách xưng hô Phương Tây đâu có phong phú,tế nhị như Phương Đông mà phải theo ?

Rồi, cuối mỗi lời nguyện còn có câu đáp  rằng “Xin Chúa nhậm lời chúng con” nữa. Chữ Nho " trấn nhậm, nhậm chức “ là đảm nhiệm việc công. Nhưng chữ  Việt  ‘’nhậm nhời, nhặm nhời, dậm lời, dặm lờI’’ chỉ là lải nhải, lắm chuyện. Cho nên dùng ‘’nhận lờI’’ mới được chính xác, nhất là tôn kính !

Mới đây, có cộng đoàn lại dùng một  câu kết mới sau mỗi lời nguyện, rồi cả cộng đoàn lập lại rằng: ‘’Xin Chúa cứu chữa chúng con’’, mà ý trong những lời nguyện đều là xin được Chúa chấp nhận. Thật là lạc điệu và lạ lùng quá đi!

Ngay đến như những lời cầu trong Kinh Mân Côi từ xưa tới nay, 15 lời trong 3 mùa Vui, Thương và Mừng cũ; nay lại thêm 5 lời trong mùa Sáng mới, tất cả đều chưa hề xin một điều gì cả!

Khẳng định như vậy không phải là nói ngoa. Quả thực, hãy cứ chỉ xét lại 1 ngắm thứ nhất mùa Vui thôi thì sẽ thấy rõ ràng:  ‘’Thứ nhất thì ngắm: Thiên Thần truyền tin cho Đức Bà Chịu thai. Ta hãy xin cho được ở khiêm nhường’’.

Mệnh đề ‘’Ta hãy xin’’ ở mệnh lệnh cách (imperative mode), có nghĩa mới chỉ là lời kêu gọi, lời nhắc nhở  xin đi, chứ chưa hề nói lên lời xin Chúa ban ơn khiêm nhường cho.

            Để đáp lại lời nhắc nhở này, để chính thức xin điều đó với Chúa, thì câu  suy ngắm và xin ơn phải ở thể xác định (affirmative mode) như thế này: ‘’Thứ nhất thì ngắm: Thiên Thần truyền tin cho Đức Bà Chịu thai. Xin Chúa cho chúng con được ở khiêm nhường’’.

Và tất cả 19 câu còn lại trong chuỗi kinh Mân Côi cần được điều chỉnh lại như thế!

 

 

 

D- TẠM KẾT

Những dòng trình bầy trên không có tính chất “chẻ sợi tóc làm tư”.  Tuy nhiên, khi nói tới lễ tiết, nghi thức, lễ nghi tôn thờ thì nhất thiết cần phải được chú ý từng ly từng tý mới chu đáo, cẩn thận, nghiêm túc và có tác dụng. Mọi dấu chỉ hữu hình cũng như điều kiện vật chất là để diễn tả nội dung và ý nghĩa vô hình thuộc lãnh vực tinh thần và siêu nhiên.

Đức Khổng còn soạn ra cả bộ Kinh Lễ để biểu lộ và nuôi dưỡng tình cảm tốt đẹp và thiêng liêng trong mối quan hệ Thiên Địa Nhân. Phần tinh túy của Kinh Lễ quy vào ba tiếng “vô bất kính”: không có một điều gì được thiếu đi sự kính cẩn.

Vả lại, một trong những đặc tính căn bản của Giáo Hội là Duy Nhất cần được tuyệt đối tôn trọng, chứ không nên để cho trăm hoa đua nở cách phóng khoáng. Nghiêm trọng hơn nữa, theo tinh thần Lời Chúa thì: “Có trung thành trong việc nhỏ, mới trung thành trong việc lớn.” (Lc. 16.10a)            

 

E- DẪN LỄ CÁC NGÀY CHỦ NHẬT VÀ LỄ TRỌNG

                 

       1-Tham Chiếu

            Theo Hiến Chế Phụng Vụ của Công Đồng Vatican II, số 35 điểm 3 có ghi: ‘’ Trong các  nghi lễ, nếu cần, phải dự liệu những dẫn giải ngắn.  Những lời đó sẽ do Linh Mục hay người phụ tế có khả năng nói lên, nhưng chỉ nói vào những lúc thích hợp, với những lời đã quy định trước.’’

                   2-Thực Thi

Nhận thấy trong các Thánh lễ ngày Chúa Nhật và Lễ trọng, sau công thức chào chúc cộng đoàn, nhiều vị chủ tế đã từng nói đôi lời tổng quát về ý nghĩa ngày lễ, theo chủ đề của phần Phụng Vụ Lời Chúa.  Đó cũng chính là việc thực thi huấn thị trên đây vậy.

Hiện nay, trên mạng lưới Viêcatholic cũng có mục Dẫn Lễ do L.M. Lý Văn Ca  soạn, tuy rằng còn đơn giản, chỉ với tính cách gợi ý  và làm mẫu.  Để việc dẫn lễ này được đi  sát với thực tiễn hơn, và vì lẽ nội dung cũng như tinh thần Phụng Vụ Lời Chúa thật vô cùng phong phú với tràn đầy ý nghĩa; mỗi cộng đoàn ở mỗi nơi cần tự soạn lấy, theo những nguyên tắc đề nghị ở dưới đây.

                   3-Mục Đích

Dưới ánh sáng văn kiện Công Đồng, việc dẫn lễ này nhắm mục đích tăng thêm tính long trọng và để cộng đoàn tín hữu tham dự Thánh lễ, trung tâm đời sống phụng vụ một cách tích cực, sốt sáng, sống động và hữu hiệu hơn.  Quả thực là’’vô tri bất mộ’’.

                   4- ĐảmTrách

Theo huấn thị, việc dẫn giải này sẽ do chính Linh mục hay người phụ tế có khả năng đảm trách.  Linh mục chủ tế thì đã phải đọc và giảng suốt Thánh lễ.  Vậy người phụ tế đảm trách là thích hợp nhất.  Người phụ tế có thể là một thầy, một dì hay là một giáo dân nam, nữ đứng tuổI; vì dẫn lễ cũng chính là một thừa tác vụ vậy.

Đặc biệt, khi một giáo dân được ủy thác  vai trò này, thì có thể nói Thánh lễ sẽ thể hiện rõ một bầu khí mớI.   Các quan sát viên trong những khóa họp Công Đồng đã ghi nhận một sự kiện hiển nhiên là khi có một giáo dân lên thuyết trình, thì hội trường bỗng dưng sinh động hẳn lên.  Quả vậy, các yếu tố như phục sức, tư thế, kể cả giọng nói đều được chú ý vì đã thay thế được phong cách đạo mạo và sư phạm  cố hữu của Hàng Giáo Phẩm trong một khoảng khắc.

Nếu người giáo dân dẫn lễ, ngoài kiến thức phổ thông mà còn có khả năng và tâm hồn văn nghệ, tâm lý chiến, hay đã quen với lễ nghi quân cách, thì hẳn là sẽ đảm trách một cách hiệu quả hơn nhiều.

Tưởng cũng cần minh định rằng, người đảm trách có thể là, tuỳ theo năng khiếu mà: chỉ soạn thảo, chỉ diễn đọc; nhưng tiện lợi và tốt đẹp nhất là người song toàn.  Ngoài ra, công việc này cần có vài ba người chuyên trách cho thật chu đáo và thay đổi cho linh động.

                5-Soạn Thảo

a-Điều Kiện Tiên Quyết:

            Người soạn thảo cũng như người diễn đọc nói chung, cần có một kiến thức phổ thông sẵn sàng về mọi ngành học thuật, nhất là về Tín Lý và Giáo Lý Công Giáo; hay ít ra là biết cách tham khảo để có được những kiến thức đó.  Đặc biệt, cần nắm vững hai khoa chuyên biệt là Nghệ Thuật Viết Văn và Nghệ Thuật Nói Trước Công Chúng.  Ngoài ra, cũng phải đọc sinh ngữ theo đúng tiêu chuẩn nữa.

b-Tài Liệu Căn Bản: 

            Lịch Phụng Vụ, Sách Lễ Giáo Dân, Kinh Thánh Cựu và Tân Ước, Sách Giáo Lý, Sách Bài Đọc, Lễ Qui Rôma.  Nói một cách tổng quát là cần cả một tủ sách công giáo...

c-Điểm Cần Lưu Ý:

 Khi soạn lời dẫn ý, chỉ nên suy luận, căn cứ và dẫn chứng theo Lời Chúa, Lời Các Thánh và giáo huấn của Hội Thánh, chứ tuyệt nhiên không được đưa ra những quan điểm riêng trái ngược với thánh kinh, tín lý và giáo lý chính truyền.

d-Xác Định Ngày Lễ: 

Như đề tài đã nêu, chỉ nên viết dẫn ý những thánh lễ các ngày Chúa Nhật và Lễ Trọng mà thôi, vì tính chất đặc biệt một tuần, một tháng hay một năm; vả lại số giáo dân tham dự lại đông đảo khác với ngày thường.

e-Những Phần Dẫn Ý:

     - Nhập Đề hay Dẫn Vào Thánh Lễ:  Nói tổng quát về chủ đề của ngày lễ theo những ý tưởng chính của các lời nguyện và các bài đọc.  Ngay sau đó là bài ca nhập lễ và Cha chủ tế từ phòng áo ra hay từ cuối thánh đường tiến lên. ( Thánh lễ diễn tiến theo nghi thức...).

     - Phụng Vụ Lời Chúa:  Giới thiệu những nét chính yếu về nội dung hay ý nghĩa các Bài Đọc I, Bài Đọc Ii và Bài Phúc Âm: ngay sau đó, người đọc mới bắt đầu. ( Thánh lễ tiếp diễn theo nghi thức...).

     - Suy Niệm Hiệp Lễ:  Ngay sau bài ca rước lễ, trong khi tráng chén và trước khi Chủ Tế nhắn nhủ hay thông báo, thì đọc bài suy niệm về Thánh Thể hoặc triển khai một vài điểm quan trọng của Lời Hằng Sống trong Thánh Lễ.

     - Trong những dịp đại lễ như Giáng Sinh, Phục Sinh v.v..., nghi thức còn có những tiết mục đặc biệt, thì cần soạn những lời dẫn ý khác cho đầy đủ và trang trọng hơn.  Rồi còn những lễ chịu các phép bí tích như Truyền Chức, Hôn Phối, Thêm Sức và các lễ Bổn Mạng v.v... Có thể soạn lời giới thiệu một vài bài thánh ca nữa, nhưng nhớ rằng chỉ cần một vài ý tưỏng thôi để tránh kiểu văn nghệ sân khấu. Trong Thánh Lễ, tuyệt đói  không một cá nhân nào được nổi qua những cách nói, đọc, hát hay đàn.

f-Giới Hạn Lời Viết:

Mỗi phần nêu trên, chỉ căn cứ vào một hai ý chính của Lời nguyện, Thánh Thư hay Phúc Âm để viết một đoạn giới thiệu vắn gọn, cô đọng, khái quát chỉ với mục đích dẫn vào nguyên bản sắp được công bố. Tỷ lệ của đoạn giới thiệu này là bằng một phần tư bài đọc chính thức; nói cách khác, khi đọc thì mất khoảng 30 giây mà thôi! Riêng Suy Niệm Hiệp Lễ thì soạn sao để chỉ đọc trong 3 phút mà thôi! Như thế, Thánh Lễ sẽ không phải kéo dài thêm một phút nào nữa.

Rất chú ý rằng khi soạn thảo, ý tưởng này thường gợi nên những ý tưởng khác khiến người viết hay bị lôi cuốn và tham lam mà viết dài dòng, dễ biến thành bài suy niệm hay lời giảng giải nghe nhàm chán vì không đúng tư thế, thậm chí còn có thể vi phạm đến nghi thức Thánh Lễ .

g-Luôn Luôn Đổi MớI: 

Điểm cần quan tâm nữa là phải soạn lại bài dẫn lễ mỗi năm, để cho sát với tình hình thời sự Giáo Hội và Xã Hội đương thời.  Chu kỳ Phụng vụ là 3 năm A B C.  Không nên dùng trở lại bài đã soạn 3 năm trước.  Lời Chúa luôn luôn cổ kính nhưng cũng luôn luôn mới lạ vì có năng lực gợi nguồn cảm hứng vô tận, theo dòng lịch sử và thời gian.   (Với 10 năm phụ trách công tác  Phụng Vụ, trải qua hơn 3 chu kỳ A B C, kẻ viết đã soạn trên 500 bài dẫn lễ  mà vẫn cảm thấy không sao cho đủ được.).

h-Hoàn Chỉnh Tài Liệu: 

Cần dự thảo bài dẫn lễ từ đầu tuần, suy gẫm suốt tuần cho tiềm thức  làm việc và bổ túc . Cuối tuần, trình dự thảo lên Cha Chủ Tế để tránh mọi sơ xuất, nhất là về tư tưởng. Sau đó, hoàn thành bản văn chính thức và rõ ràng để diễn đọc.  ( Giai đoạn trình duyệt có thể thông qua, khi đã có đủ kinh nghiệm và đầy tin tưởng ).

             

              

 

             6- Diễn Đọc

Đã hoàn tất việc soạn thảo tài liệu dẫn lễ rồi; bây giờ là lúc đem áp dụng thực hành.

a-Chuẩn Bị Tâm Tư: 

-Giở Sách Bài Đọc cho đúng chỗ.

-Cắt đặt người đọc.  Dặn rõ chỉ đọc ngay sau khi dứt lời dẫn.

-Phối hợp chặt chẽ với ca đoàn cho ăn khớp các bài hát lễ, với ban phụng vụ trong các tiết mục tổ chức, nhất là trong những dịp lễ trọng.

-Sử dụng một micro riêng vừa để dẫn lễ vừa để solo, đứng ngay trong vị trí ca đoàn. ( Bục đọc sách chỉ dành cho việc công bố Lời Chúa và giảng thuyết ).

b-Nguyên Tắc, Nghệ Thuật:

-Luôn luôn ở tư thế đứng thẳng và tinh thần thật tỉnh táo.

            -Theo dõi sát diễn tiến từng chi tiết nhỏ của nghi thức Thánh Lễ.

            -Tranh thủ cả những giây phút người đọc bài đang bước lên mà dẫn ý, không để có một thời gian chết nào.

            -Giọng phải rõ ràng, chậm giải nhưng không chậm chạp .

            -Lời phải lưu loát, không rời rạc hay vấp váp.

            -Giọng, lời và ý luôn lôi cuốn, truyền cảm như gieo vào lòng người một nguồn sinh lực mới.  Có khi còn dồn dập, thúc đẩy, nhưng âm lượng vẫn chừng mực, không gay gắt.  Nên như phong cách một triết gia hơn là một nhà hùng biện.

            -Nghiêm trang, tuyệt nhiên không bao giờ hài hước dù là nhẹ nhàng, để gây nên tiếng cười dù là cười vui; mà chỉ cần tạo được sự phấn khởi, hân hoan trong cộng đoàn.

            -Riêng bài suy niệm hiệp lễ, sau một ý tưởng nào sâu sắc, nên ngừng lại vài giây để tạo sự thinh lặng thánh và cho thấm vào tâm hồn người nghe.  Đôi khi nói buông một vài câu; ngẩng đầu nhìn vào cộng đoàn, như dẫn dụ, như mời gọI; hay hướng tới bàn thờ như than thở, như nguyện cầu để nâng lòng trí cả cộng đoàn lên!

             c-Tuỳ Cơ Ứng Biến:

-Không quên rằng trong Thánh Lễ đôi khi có những trục trặc bất thường xẩy ra do phương tiện hay kỹ thuật, do quên sót từ vị chủ tế đến ca đoàn, giúp lễ và thừa tác viên...Trong trường hợp đó, người dẫn lễ cần có một khả năng quyền biến bằng lời để khéo léo hóa giải những sự cố đó, hầu nghi thức được tôn trọng tuyệt đối.  Chẳng hạn, sau khi dạo đàn Kinh Vinh Danh mà thấy Cha Chủ Tế không hát câu mở đàu, vì hôm đó ngài yếu mệt hay là quên, thì người dẫn lễ phải hát thay ngay cũng như thể solo vậy.  Hoặc là đến phần dâng lễ vật hay mục cám ơn mà chưa thấy ai sẵn sàng, thì thay vì trực tiếp mời lên, hãy nhắc  một cách tự nhiên bằng những lời như : ‘’Sau đây là...Xin cộng đoàn cùng hiệp ý...Trân trọng kính mời Cha Chủ Tế hay Quý Cha Đồng Tế an toạ v.v...’’

              7-Kết Luận

Những điều trình bầy trên được tổng kết từ một quá trình đảm trách công tác Phụng Vụ tại Giáo Xứ, Giáo Hạt và Giáo Phận trong suốt một thập niên.  Hiệu qủa ghi nhận được là những Thánh Lễ Chúa Nhật và các Ngày Lễ Trọng đã thêm nhiều phần khác thường một cách tốt đẹp.  Cơ cấu Thánh Lễ theo Lễ Quy Rôma không hề bị biến đổi bất cứ một chi tiết nào; nhưng mỗi phần của lễ nghi lại thêm sáng tỏ và khởi sắc lên. Thánh Lễ được tăng thêm nhiều phần long trọng.

Đồng thời và đặc biệt, cộng đoàn giáo dân tham dự thì trở nên tích cực hơn, sốt sáng hơn và sống động hơn.  Không còn tình trạng đi ‘’xem lễ’’ một cách thụ động; hay ‘’đi nhà thờ’’ cho xong bổn phận; mà chính là đi dâng lễ, cử hành Thánh Lễ một cách ý thức và chủ động.

Ước chi, khi Giáo Hội và Thế Giới cùng bước vào Ngàn Năm Cứu Độ Thứ Ba rồi, nhiều cộng đoàn đức tin sẽ thử áp dụng đề nghị trên đây.  Hẳn sẽ còn nhiều sáng kiến tuyệt vời khác hơn nữa được  phát sinh, ngõ hầu nền Phụng Vụ Công Giáo sẽ nên khởi sắc hơn.

 

Vu San

 

Comments