Home‎ > ‎ZZZZZZZZZZZZZZZ: nháp‎ > ‎súng‎ > ‎

15






-
 Trợ giúpTrợ giúp   Tìm kiếmTìm kiếm   Nhóm làm việcNhóm làm việc   Thông tin cá nhânThông tin cá nhân   Tin nhắn riêngTin nhắn riêng   Đăng nhậpĐăng nhập 

Súng.
Chuyển đến trang Trang trước  1, 2, 3 ... 14, 15, 16, 17, 18, 19  Trang kế
 
gửi bài mới   Trả lời chủ đề này    VN Defence -> Kiến thức quốc phòng
Xem chủ đề trước :: Xem chủ đề kế  
Tác giả Thông điệp
huyphuc1981_nb
Thượng úy
Thượng úy


Ngày tham gia: 20/05/2007
Bài gửi: 510

Bài gửigửi: 01.09.2010    Tiêu đề: Súng máy Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

Chúng ta thường nghe thấy các từ tiểu liên, trung liên, đại liên, trọng liên...


Đại Liên
Súng máy ban đầu xuất hiện từ trước cả vỏ đạn, đó là các gattling bên Mỹ, chúng ban đầu chỉ có rất nhiều nòng, giống y như kiểu súng nhiều nòng Đông Âu từ tk16, chạy bằng động cơ ngoài. Sau đó, các nhà kỹ thuật Mỹ cố gắng hoàn thiện gattling bằng cách chế ra các máy nhồi tự động, Nhưng , dẫu cho gattling ngày nay vẫn dùng, thì chúng chỉ chạy được hiệu quả khi có vỏ đạn, thêm nữa, ngày nay gattling không thể khắc phục được các cố tật là tốc độ bắn không đều, tốc độ bắn tăng chậm.... và chỉ có thể bắn diện tích bằng tràng dài, là có tác dụng với hiệu quả rất thấp.
http://science.howstuffworks.com/machine-gun4.htm
http://www.metacafe.com/watch/979745/gatling_gun_animation/

Súng máy thật sự đắc dụng đầu tiên là của Maxim. Hiram Maxim (1840 - 1916) năm 1885 đã chế ra súng dùng năng lượng của phát bắn để thực hiện chạy tự động. Nhờ vậy, súng không cần động cơ ngoài, tốc độ bắn vọt lên nhanh tức thời, cho phép bắn loạt ngắn chụm vào mục tiêu điểm ở xa. Súng được cải tiến thành rất nhiều loại ở nhiều nước. Kiểu máy của Maxim còn được gọi là lùi ngắn, tức nòng lùi lại chút ít, sau đó khóa nòng mở và nòng dừng lại, đẩy về.
http://www.gotavapen.se/gota/artiklar/utv_ksp58/ksp36/ksp36.htm

Động tác bắn từng loạt chụm vào mục tiêu điểm ở xa, chứ không phải bắn diện tích, mới là nguyên lý chiến đấu concept đúng đắn của súng máy. Nhờ vậy, đường đạn súng trường tản mát sau 300 mét những vẫn dùng được ở tầm xa hơn, thậm chí đến hết tầm sát thương. Chính vì thế, Mauser và Mosin model 1930 đã quay lại đầu đạn 12-13 gram, ở tầm bộ binh 300 mét kém chính xác hơn Mosin M1906 9,5 gram, nhưng ở xa lại chụm hơn. Đồng thời, ngày trước đó, trên mặt trận WW1 còn nhiều xe bọc giáp nhẹ như ô tô, súng máy hy vọng làm ăn tình huống này. Tuy nhiên, ngay sau đó Mosin đã ưu tiên cho súng trường và quay về 9,5gram, vì lý thuyết chứng minh rằng, viẹc ưu tiên cho đạn súng trường bắn ở tầm quá xa, cũng như xuyên giáp là vô ích, việc này dành cho trạng liên hay súng trường chống tăng chẳng hạn. Ở tầm 600 mét, thì đạn 9,5 gram vẫn làm việc tốt, mà không mất tính chính xác của súng trường đối kháng dùng chung đạn.

Cũng thời điểm đó, người Mỹ xây dựng lý thuyết súng máy bắn cầu vòng, bắn gián tiếp, bắn diệnt ích ở xa, mà không ai mở mắt cho họ con số 1 triệu đạn / 1 km2 với mật độ thấp chỉ 1 m2 / 1 viên. Do đó, đạn ".30-06" nhanh chóng chuyển sang cỡ to 13 gram, bất chấp trước đó đã theo Mosin 9,5 gram.



Maxim các loại được gọi là đại liên, tức là súng máy to, nhiều người dùng, bắn liên thanh, nhưng vẫn dùng đạn súng trường đối kháng, hồi đó nó có cái bầu nước làm nguội nòng to tướng. Súng bắn bằng băng dây. Nhược điểm của súng này là súng rung mạnh trước khi phát nổ đạn, đồng thời cơ cấu rất to nặng, rung lắc mạnh theo các chiều ngang đứng, làm đạn phân tán. Súng cúng quá lớn với cá nhân và thường chỉ dùng ở cấp đại đội, tiểu đoàn, do nhiều lính vận hành, thường có bánh xe, lá chắn... như pháo. Đại liên có thể có bánh xe hay dùng giá cao xạ, giá 3 chân....

Ở Liên Xô, Nga dùng bản Maxim model 1910 có chuyển license để bắn đạn Nga. Súng có tốc độ 600 phát / phút, băng 250 viên, súng khô nặng 20kg, cộng thêm 43 kh xe gía do Sokolov thiết kế, bao gồm lá chắn. Sau đó, khoảng 1925-1928, Tokarev thiết kế lại súng chỉ còn 13 kg.

Đại liên có khả năng bắn diện tích tầm gần rất tốt, thích hợp chống kỵ binh có khả năng lao đến gần rất nhanh. Đại liên có nhược điểm dễ bị pháo phát hiện và bắn hạ, khó bê chạy, hay đơn giản là bị súng trường tập trung diệt... Nhưng kỵ binh không dùng súng. Vì vậy, đại liên đắc dụng trong WW1 do thiếu pháo tự hành, nội chiến Nga do nhiều kỵ binh trên thảo nguyên, hay hơn nữa là đại liên chưa đên nỗi nặng như pháo, cho lên xe ngược là đuổi theo kỵ binh trên thảo nguyên rất tốt.

Sau WW2 thì các đại liên hết thời. Hầu hết các đại liên đều bán thải hay viện trợ, ví dụ, cho dâ quân tự vệ nhà ta ở hậu phương, chĩa lên nóc nhà tham gia dọa máy bay. Phía Đức kiên trì theo đuổi súng máy tốt, máy thật cân, đa năng, chạy nhanh như trung liên nhưng có thể bố trí như đại liên, gọi là súng máy đa năng như MG42. Mỹ thì toàn nhái lại súng máy của ĐỨC sau WW2. Liên Xô trước và trong WW2 từ trung liên lên súng máy đa năng DPM, DP-46, nhưng đến 196x mới có PK.


Trung Liên
Đại Liên Maxim được sản xuất nhiều, nhưng nó sớm thể hiện nhược điểm quá cổng kềnh, tốn đạn (do không chụm loạt). Và từ đây xuất hiện hàng loạt chuyện hài hước để ra cái trung liên. Trong các ngôn ngữ châu Âu, trung liên thường được gọi với cái tên tương đương MG Đức Maschinengewehr , G là gewehr tức "vũ khí chính của bộ binh". (Ví dụ, giáo là vũ khí chính, gươm và dao găm, cung tên, lao, tiêu, phiêu=quẩy... là vũ khí phụ. Tương tự, thì súng trường cũng là gewehr trong đám trang bị có lựu đạn, súng ngắn, lê.... ). Maschinen là máy = liên thanh, dùng theo truyền thống. Pháp là fusil mitrailleur , gọi tắt là ép em.

Chỉ sau tk 19 thì người ta mới dần dần hình thành nên định nghĩa chính thức, từ đó có phương hướng đúng đắn để thiết kế trung liên. Những nhà chế tạo súng máy cá nhân đầu tiên, gần như cùng thời, là Madsen và Mondragon không để lại nghiên cứu lý thuyết nào về khả năng chiến đấu, nhưng rõ ràng, họ các những bước tiến chưng minh họ nghiên cứu thận trọng về vấn đề này, trái ngược hoàn toàn với Tây Âu chỉ biết nhái vẻ bề ngoài sau đó, mà không biết trung liên là gì.

Điều cơ sở trong tính năng chiến đấu là phan biệt bắn diện tích và bắn chụm loạt. Ở tầm gần hơn tầm hiệu quả của súng trường, súng máy hay nhiều súng trường đều có thể bắn diẹnt ích hiệu quả, nhanh, tạo thành màn phòng thủ. Nhưng trung liên được thiết kế để tăng tầm súng trường, tức hơn 300 mét, thì cả trung liên và đại liên đều phải diệt mục tiêu điểm bằng loạt thay cho 1 viên của súng trường. Bắn chụm loạt mới là mục tiêu chính, và do đó, hương thiết kế bắn diện tích, kéo theo cả súng lẫn đạn, là sai. Thực tế, không ai đủ sức phủ 12 triệu viên đạn lên 1 km2 để đạt mỗi m2 một viên cả, đương nhiên.

Trung liên đầu tiên là Madsen Đan Mạch, do bộ trưởng chiến tranh nước này là ông Vilhelm Herman Oluf Madsen (1844–1917), đề nghị và tổ chức thiết kế, sản xuất. Khác với đại liên, trung liên cũng dùng đạn súng trường đối kháng, nhưng dùng 1 người, thường chỉ dùng giá 2 chân. Ngày nay, trung liên như RPK được dùng ở tiểu đội hoặc tổ 3 người. Đại liên như PK là súng máy đa năng, dùng như trung liên cũng được, dùng như đại liên cũng được. Trung liên không thích dùng nhiều băng dây (như trung liên RPD), mà thường thích dùng băng hộp lò xo cơ động hơn. Băng hộp lò xo chỉ có ít đạn, nên nguyên lý chiến đấu của trung liên chỉ bắn loạt ngắn chụm vào mục tiêu điểm. Trung liên cũng dùng cùng mục tiêu như đại liên, nhưng cơ động hơn, khi tấn công trung liên để uyển trợ quân xung phong từ tuyến xuất phát xung phong.

Madsen chưa phải là trung liên lý tưởng, nó còn rung ngang đứng quá mạnh làm giảm chụm loạt. Súng cũng không được giới quân sự, công nghiệp ở nhiều nước chú ý. Nước Pháp cũng thử thiết kế trung liên, đó là Chauchat, nhưng súng lởm quá và thiết kế vứt xó từ 1909.

Đức thiết kế MG 08 như là Maxim thu nhỏ. Nhưng ngay sau đó, họ có thiết kế đúng đắn hơn là MG 13. Người Đức đã sớm nhận thấy yêu cầu chụm đạn và cho ra băng trống đôi, hai luồng đạn từ 2 trông chuyển động đối nhau giảm rung. ĐỒng thời, MG-13 cũng bắn từ khóa nòng đóng. MG 13 đã có nòng thay nhanh, làm mát không khí, bỏ đi cái bầu nước. MG 13 đã thật sự là một súng máy đa năng, vừa trung vừa đại liên. Khi có 2-3 người, người ta mang thêm đạn, nòng thay thế, giá lớn, và là đại liên. Khi có 1 người thì bắn chậm thôi và là trung liên. Người Đức tiếp tục phát triển nguyên tắc này thành các MG 34, đặc sắc là MG 42 và FG 42. MG tiếng Đức là súng trường máy Maschinengewehr. MG 34 trở đi dùng băng dây. FG là phiên bản cho lính dù, dùng băng hộp lò so, sau WW 2 bác Mèo copy về làm

Detiarev và Fedorov ở Liên Xô đã chuyển từ thiết kế Fedorov Avtomat 6,5mm thành DP bắn đạn 7,62x54R Nga, được chấp nhận năm 1927 với tên DP. DP có máy rất cân như MG Đức, cả các dòng DP, MG42, G43 Đức hay MP45, MG3 sau này, đều đi theo một hướng do Thụy Điển đề nghị trước đó, cho dù chậm, các nước Liên Xô và Đức đều cương quyết không dùng máy chèn nghiêng cho súng máy cá nhân.

Anh Quốc thì nối tiếp copy súng Czech, ZB 33 thành Bren và BESA, tất cả đều chèn nghiêng. ZB còn được mua và copy ở Nhật, Tầu Trắng, Thụy Điển... vadf rất nhiều nước khác. MAC M. 1924/29 light machine gun =Fusil Mitrailleur Modèle 1924 M29 Phú Lãng Sa cũng chèn nghiêng. Hotchkiss Portative cũng Pháp xoay rồi, nhưng là thời xoay nhiều tai sơ khai.



Hài hước về trung liên
Nghe thì đơn giản, nhưng định nghĩa thế nào là trung liên bên tây thối còn cãi nhau chán.
Trước WW1, thì châu ÂU tự bằng lòng với việc mua Madsen. Nhưng nhiều nước sau đói, trong chiến tranh, không mua được, do Đan Mạch thân với Đức. Thế là xuất hiện rất nhiều hài hước lởm đời, đồng thời kéo tụt trình trung liên Tây Âu đến nay.

Không mua được Madsen, Pháp mới lôi cái thiết kế Chauchat bỏ xó 6 năm , từ 1909 đến 1915 ra xài. Dĩ nhiên là súng rất phở, nó có đường đạn rất yếu, bắn thì siêu rung bật, và rất hay hỏng. Vậy, chỉ còn cách là quảng cáo át đi. Người Pháp dốt đánh nhau, nhưng giỏi nghệ thuật, một bức tranh lừng danh vẽ chú lính Pháp can trường vác Chauchat, tình yêu nước bốc ngùn ngụt.


Đây lại là một thừa kế nữa của việc copy đông Âu mà không dùng não, Lebel nhái Grenade M1872 đã quá cổ của Áo-Hung. Đến thời đạn nhọn cứng, đạn chọc nhau nổ và thế là đạn của Lebel cụt đầu, không có mũi nhọn thì không thể "chống trên mũi nhọn", mà đã không "chống trên mũi nhọn" thì cứ làm đạn 13-15 gram, chứ làm 9 gram như Mauser Mosin là gió thổi bay, và thế là đươnngf đạn bị "cổ hóa", nói cách khác là cải lùi. Chauchat thì có cái băng lừng danh, đạn quá côn và có gờ móc của thời 187x Berdan. Thật ra, Mosin cũng chỉ bớt côn và có vai, nhưng cũng còn gờ móc, nhưng DP đã có cái băng đĩa, cấu kết đĩa-súng tồi, nhưng khi va đập thì đĩa được thiết kế để hỏng trước, còn trừ nhược điểm đó thì đạn DP chuyển động trơn tru và 40 viên, quá đủ làm trung liên, chứ kể các phiên bản nước khác dùng DP (như Phần Lan), thì những 2 tầng 80 viên.

Còn Chauchat ? bác dùng băng 20 viên mà đã không thể cong hơn được nữa. Ra trận làm người hùng bất đắc dĩ, bác luôn mồm tế Lebel dở hơi ăn cám lợn. Chưa hết, sau này người Pháp lý giải chuyện đạn súng trường của họ nặng là để bắn diện tích tầm xa, vì tầm xa thì đạn nặng bảo toàn động lượng - sức xuyên hơn. Vâng, thập niên 193x, khi Nga Đức hoàn thiện một bước nữa đường đạn súng trường, đại thể đã như ngày nay, thì bác Mèo tăng đầu đạn 9,5 gram, có bằng học mót các nghiên cứu đường đạn Nga Phổ hồi đầu tk20, quay về 13-15 gram, để bắn "mưa", tức súng máy bắn cầu vồng tầm cực xa, súng máy rải thảm. Very Happy Very Happy Laughing



Thế nhưng, kẻ bị hút hồn nhất lại là người Mỹ. Vua buôn vua Colt nắm ngay lấy thời cơ, thuê nhà thiết kế súng lừng danh Browning thiết kế ra BAR, hoàn thiện những nhược điểm kỹ thuật ồn ào quanh Chauchat, nhưng hài hước là bê luôn những cái lẩm cẩm. Thật ra, người Tây ÂU không thể thiết kế bất cứ khẩu súng nào chu đáo, cái thước ngắm BAR thì mình đã post. BAR có bơm làm mát không khí, như Chauchat, nhưng cũng có băng đạn 20 viên, như Chauchat. Nó có 20 viên, làm súng liên thanh quá tệ. À, thế làm súng trường, ấy không, nó bắn từ khóa nòng mở, không thể điểm xạ chính xác được. Lại quả cáo át đi, BAR được quay phim quảng cáo là "súng trường xung phong", súng trường xung phong nặng 10kg, kiến thức ở bên kia địa cầu chổng ngược như thế.

Đây là thành công lớn thứ 2 của vua buôn vua súng trường Colt, tiếp sau súng trường revolver của nội chiến.

Thật ra, BAR là súng thiếtkeế tồi , các bạn có thể thấy cái tật nhỏ trên thước ngắm, thì còn có gì để nói đó là súng hoàn hảo ? Súng làm trung liên và súng trường đều tồi.

Anh Quốc sau đó mua thiết kế ZB-26, ZB-50 Tiệp Khắc để sản xuất trung liên BREN. Thuỵ Điển và Đức cũng có dùng súng này , Thuỵ Điển mua License còn Đức sát nhập Tiệp Khắc. Điều đang nói ở đây, ZB Tiệp Khắc đã phát minh ra cái trích khí xiên ngược rất ưu việt của AK, nhưng không đủ toán học để hoản thiện, làm Thụy Điển chuyển sang xiên xuôi.


Súng máy đa năng
Cả dòng MG Đức, đặc sắc là MG 42 đã cho thấy sự ưu việt của súng máy đa năng. Hồi đầu chiến tranh, Liên Xô vẫn thiết kế một số đại liên lớn, rõ ràng là đại liên không cơ động, vẫn khá lợi phòng thủ, mà giai đoạn đầu chiến tranh thì Hồng Quân co cẳng chạy tụt dép, cần phòng thủ. Dĩ nhiên ai cũng hiểu, 3-5 người cái tổ đại liên thì thay bằng 3-5 DP, sức mạnh hơn chán vạn, mà lại rẻ. Nhưng DP chưa là đa năng = lai trung đại liên, mà DP là trung liên thuần chủng.

Rõ ràng là , trong chiến tranh cơ động, đại liên kém thế xa so với súng máy đa năng. Khi bị phát hiện, súng máy đa năng nhảy phát lên vai khẩu đội co cẳng chạy, còn đại liên ì ạch bò ra đợi địch chĩa pháo tăng vào. Một khẩu đội 3 người mang 1 nòng thay thế cho súng máy đa năng, và có thể 2 ngàn viên đạn, thuận lợi trong tấn công. Mỗi khi bắn vài ngàn viên, đại liên lại phải lên quân khí trung đoàn thay nòng, còn binh nhì cũng thay được nòng súng máy đa năng, trong khi các bộ phận khác của súng vẫn bền như thường.

Các trung liên truỳền thống bắn băng hộp lò xo quá ít đạn, nên nhiều khẩu có khả năng chọn lựa giữa băng dây và bằng hộp lò xo, như DPM, DP46. Nhưng sau này, PK chỉ dùng băng dây, có thêm cái hộp treo băng. Những súng như PK là điển hình cho súng máy đa năng, khi làm trung liên, nó còn nhẹ hơn DP cũ vì lý do lớn là dùng kỹ thuật hiện đại (tự động điện tử) cho phép làm khóa nòng kiểu AK rẻ, khá phức tạp khi áp dụng khóa nòng này cho băng dây. Tốc độ bắn khi làm đại liên cao gấp 1,5-2 lần các đại liên cổ như Maxim. PK có 3 loại giá, cao xạ bắn máy bay, 3 chân khi làm đại liên và 2 chân khi làm trung liên.



Súng tầm xa tiểu đội đa năng
Ví như RPK, trung liên, xung phong và bắn tỉa=súng trường tầm xa. Nó đủ nhẹ để chọn một ông khỏe khỏe làm súng trường xung phong. Súng làm tốt chức năng trung liên bắn băng hộp lò xo, nhưng cải tiến bắn từ khóa nòng đóng, có búa riêng, không rung, bắn phát một, nhờ đó làm được chức năng súng trường tầm xa bắn tỉa. Thông thường, một tiểu đội bộ binh đi bộ có 1 RPK, một tiểu đội bộ binh cơ giới thì có thể có PK và 3 RPK.
Khi thu nhỏ đạn AK, Nga nhận thấy ở Chenia, rằng súng máy bắn đạn AK nhỏ (5,45x39), khá yếu. Vậy nên họ làm gọn nhỏ PK bằng kỹ thuật mới để làm trung liên. Súng có máy bơm gió tự làm mát để không cần phụ đem theo nòng thay thế.

Trọng liên
SÚng máy bắn đạn súng trường là trung đại liên, thì súng máy bắn đạn nặng hơn đạn súng trường đốik háng làt rọng liên. Tức ;là bọn 12,7mm và 14,3mm....
Trọng liên thường dùng làm hỏa lực tiểu đoàn, có thể chống máy bay nhpor, cơ giới nhẹ, tầm kiểm soát vượt các súng dùng đạn súng trường, đến vài km.

Có một cái hài hước, người Mỹ gọi trọng liên Gattling là Minigun, mặc dầu nó bắn đạn từ NATO 7,62mm đến 20mm. Thế mới hài, ở nước Mỹ khối kẻ nghe nói đến gun liền giương mõm lên sủa là pháp, nên dọi pháo nhỏ như thế. Đại liên thì bắn đạn nhỏ, còn minigun thì bắn đạn to, máy to.


Khóa nòng
Kiểu khóa nòng xoay hai tai về sau được dùng trên PK, RPK và nhiều súng máy to nhỏ khác, tự chứng minh là rất tốt. Chúng ta biết PK siêu tin cậy và nhẹ hơn trung liên cũ, tốc độ bắn cao gấp rưỡi và gấp đôi đại liên cũ. Nhưng việc chế ra cái khóa nòng kiểu AK đó còn kéo dài, PK chỉ đi vào phục vụ trong thập niên 196x.

Thời gian đầu, hầu hết các súng máy to nhỏ như Maxim, Madsen, Fedorov.... đều dùng lùi ngắn. Lùi ngắn là kiểu máy dùng lực đêyr lùi của đạn đẩy máy chạy, khi nòng về một chút, thì vị trí tương đối của nòng với vỏ máy súng sẽ làm khóa nòng mở, bịt đáy nòng ròi ra, chuyển động ra xa thực hiện các động tác tháo nạp lên cò, còn nòng được đẩy về. Chí tiết của kiểu máy này to, dễ gia công bằng rèn mài, bền với điều kiện vật liệu tồi.... nhưng rung rất mạnh, đồng thời, súng to nặng, dễ va đập gây nứt rạn. Mỹ cũng nỗ lực kiểu máy riêng , là khóa nòng ma sát mang tên Blish, được dùng trong Thompson SMG, và rút ra kinh nghiệp là nên ném đi, các bản sản xuất lớn của súng này không có khóa nòng, dùng lùi thẳng blowback, nhưng lùi thằng không tiện với đạn lớn, chỉ dùng nhiều trong súng ngắn liên thanh.


Các súng trung liên Tây Âu lúc đó như BAR, BREN... đều dùng khóa nòng chèn nghiêng như SVT, SKS (CKC). Khóa nòng này gây rung lệch đứng ngang, đáng ra không dùng cho súng máy, nhưng vì họ không thể hoàn thiện được kiểu khóa khác và không đủ trình đánh giá concept súng, nên vẫn vậy. Khóa nòng chèn nghiêng khởi đầu là Mannlicher 1885=súng trường phát một kéo cò tay, rất dễ gia công và thiết kế, ít mặt cắt gọt, lại toàn phẳng.

Người Đức là bậc thầy về đánh giá nguyên lý chiến đấu (concept), nên do dự rất nhiều khi chọn khóa nòng cho súng máy. Do đó, họ kém sản lượng súng trung liên, đại liên trước khi có MG42, mà kiểu khóa MG42 quá khó thiết kế cũng như gia công. Nó là dạng lùi có hãm bằng con lăn.

Các kiểu khóa của DP (trung liên Liên Xô), G43 (Súng trường tự động Đức), MP-45 (súng ngắn liên thanh Đức), MG42 Đức đều xuất phát từ bản vẽ phác thảo của một nhà khoa học Thụy Điển, nhưng chưa thực hiện, Rudolf Henrik Kjellman 1907. Về nguyên tắc, khóa nòng thực hiện bằng kim hỏa, khi lao lên, kim hỏa đẩy các chèn sang 2 bên, chặn không cho bịt đáy nòng lùi lại. Nhờ vậy, súng rung đều 2 bên, không gây lắc, rất thuận lợi cho súng máy, nhược điểm là các súng trường phát một như G43 gặp khó khăn khi thiết kế búa riêng, điều mà DP bỏ không dám xài, mặc dầu rất thèm.
http://www.gotavapen.se/gota/artiklar/kg/swedish_kg1.htm

DP dùng trích khí, người Đức có vẻ kém về trích khí, nên G43 sau này bê nguyên bộ SVT mới qua thử nghiệm. G43 có khóa nòng sao y bản vẽ Rudolf Henrik Kjellman. Còn MG42, DP, MP45 thì khác. DP đung trích khí hành trình dài, nhờ đó điều tiết được tốc độ bắn trong khi súng mòn hỏng đi, nhưng kiểu này nặng nề. MP42 và MP45 dùng lùi có hãm bằng con lăn.

Sau này, người Mỹ dùng toàn vũ khí Bỉ, Thụy Sỹ, Đức, Thụy Điển, ném hết cả những cái tự hào cũ của họ đi. Khẩu M60 là bản sau y FG 42 ( Fallschirmjägergewehr 42 ), súng trung liên nhẹ đổ bộ đường không Đức. Súng này đã có khóa nòng hai tại nhưng chưa hoàn thiện gọn nhẹ như PK sau này. Đức sau WW2 vẫn dùng MG42 với tên mới M3.

Trong này nhầm
http://world.guns.ru/machine/mg12-e.htm

Trong này thì đúng
http://world.guns.ru/rifle/rfl11-e.htm

Kiểu khóa nòng xoay nhiều tai do Mogragon nỗ lực trong chương trình súng trường tự động đầu tiên trên thế giới, trang bị cho quan Mexico và một số vị trí trong quân Đức. Ngay từ đó, người ta đã đánh giá tính hay kẹt và vỡ khóa nòng của kiểu này, nhưng về sau, người Mỹ lại vội vàng trang bị trong M16.

FN các đời sau WW2 vẫn dùng chèn nghiêng, đơn giản.

=======
_________________
http://sites.google.com/site/huyphuc1981nb/thu_muc


Được sửa chữa bởi huyphuc1981_nb ngày 13.09.2010, sửa lần 2
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn  

huyphuc1981_nb
Thượng úy
Thượng úy


Ngày tham gia: 20/05/2007
Bài gửi: 510

Bài gửigửi: 07.09.2010    Tiêu đề: Xoắn Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

Súng trường nòng trơn từ khí có súng trường đúng nghĩa đến giữa tk19, (ví dụ các model MLE 1822/42/57 Pháp ) có nhược điểm là tầm bắn chính xác quá kém.
http://armesfrancaises.free.fr/les%20fusils.html
Tầm bắn chính xác của chúng chỉ dưới 50 mét, ở 50 mét, khả năng bắn trúng bia hình người rất thấp. Trong khi đó, tầm bắn sát thương của chúng đạt 200-300 mét, tàm bắn tối đa cỡ ngàn mét, nên mới làm đội hình ô vuông để tiện bắn diện tích. Khả năng chính xác thấp của các súng trên do nòng trơn, đồng thời, tản mát tăng lên khi phải dùng đạn bé hơn cỡ nòng (ví dụ, đạn Pháp thường bé hơn 1mm), bé để nhồi nhanh, càng cần hơn khi mà nòng đạn còn mẻ méo và gia công tồi. Đây là các con số trung bình, trong thực tế, kích thước đạn hết sức lởm khởm, vì đạn chì mềm lại đúc thủ công, súng đạn gia công mới đã kém chính xác, sau xác cũng rất nhanh mòn mẻ méo vì thép hồi đó đã dở, mà giá trị súng lại lớn, nên thường có tuổi thọ thuộc lớp đại gia, ví dụ, các MLE 1822 được hoán cải đến 186x thành 1822Tbis và lại tiếp tục được hoán cải khai hậu sau 1867, song song với các MLE 1842, 1857, người ta khoan rộng nòng từ 17,5mm lên 18mm để khử rỗ mẻ ( và cũng để tiện bán nguồn cung gia công nòng đạn cho Anh)... Có thể thấy, con số dưới 50 mét là con số quá thấp người ta không tám nữa, ví dụ, các súng bắn đạn súng ngắn 11-13mm ngày nay, như Thompson SMG, có đạn nòng xoắn và gia công chính xác hơn, sơ tốc vậy, thường có tầm tối đa cũng chỉ thế. Trong thực tế, việc thử các súng đạn giả cổ ngày nay cho con số tốt hơn nhiều súng thật sự trước đây, và rất nhiều súng trường ngày đó chỉ bắn được trúng bia hình người ở 20-30 mét. Cũng chính vì súng kém chính xác nên cần nòng dài làm cán lê, vì bắn chả được bao nhiêu mà cận chiến giáp lá cà là nhiều. Vừa nòng dài khóa khoan, vừa không thể -> không cần đường đạn tốt, nên nòng to=tầm bắn sát thương tăng lên= để bắn diện tích ở ngoài tầm chính xác.

Các bạn khi đọc sách cũng đừng hiểu sai về thời điểm có nạp sau nòng xoắn. Từ thời mới có súng, đã có nòng xoắn và nạp sau. Nhưng rồi, chúng thất truyền vì máy móc phức tạp làm súng yếu hơn đúc liền một cục. Trong các tk, luôn có các phiên bản nạp sau, và xoắn. Gaspard Zöllner ở thành Vienna được nhắc là đã bắn súng có rãnh 1498, nhưng có thể ông nghe hơi nồi chõ đâu, hay người viết nghe hơi nồi chõ về ông, tả rãnh không... xoắn. Augustin Kutter (Koster) ở Nuremberg, chết năm 1630, đã viết về thuật phóng xoắn mà nhà toán học Anh Benjamin Robins (chết 1751) , đề cập trong cuốn sách "New Principles of Gunnery" xuất bản 1742. Augustin Kutter (Koster) nói đến các rãnh xoắn hình sao chạy theo hình "spiral" = xoắn ốc, tức là xoắn tam giác như hình khẩu Lepage 1800 dưới đây, điều này cho thấy, Augustin Kutter đã thấy nhiều người sử dụng xoắn, và việc thử đưa xoắn vào súng quân sự từ dầu tk18 đến đầu tk19 chỉ là những nỗ lực sao lại các kỹ thuật đã cũ, và chưa thực hiện được vì chưa đủ trình độ làm kim loại để có nạp sau tốt. Như dưới đây, xoắn nạp miệng nạp đạn rất chậm và dễ dàng vô hiệu hóa súng vì đạn tắc ở mức không thể khắc phục được ngoài trận. Cũng như khi nói về súng trường, mình đã nói nòng dài của súng bộ binh thì chỉ dài để làm cán giáo, vậy nên, không dùng trong quân sự chính thức, nhưng các súng săn ngắn hơn=dễ làm xoắn hơn, lại cần chính xác hơn, và không cần bắn nhanh, đã có xoắn từ cổ đại, từ lúc chưa có súng trường Phú Lãng Sa MLE 1714. Đặc biệt, cũng như nhiều máy móc khác, với tư cách là đồ chơi của dân thừa tiền, thì súng cạc bin nòng xoắn dễ dàng được thực hiện bằng mọi giá=có thể thực hiện được cả khi kỹ thuật rất tồi tệ. Súng nhà Trần ban đầu cũng phát triển như vậy, cũng như các máy hơi nước đầu tiên của thế giới ở Ottoman, cái động lực làm xiếc mà ngày nay được thay bằng các viện nghiên cứu được cả xã hội cưng chiều (tất nhiên, trừ các ngu dân liệt não thì ngược lại ). Mình chả cần tìm hiểu ngày xưa làm xoắn bằng gì, ví dụ đơn giản nhất là lấy một viên kim cương trên báng súng ra làm dao, thì kể cả nòng gang đúc cũng xoắn tít.
http://vndefence.info/modules.php?name=Forums&file=viewtopic&p=54893#54893
http://vndefence.info/modules.php?name=Forums&file=viewtopic&p=54453#54453

Thực tế, dễ hiểu là xuất phát điểm súng ống châu Âu , là nước Ottoman xưng hậu duệ Mông Cổ, và xa hơn nữa là các dòng Mông Cổ khác nhau mà tiện đi lại với Ottoman và châu Âu, như các đế quốc ở Bắc Ấn Độ , Trung Đông, Kim Trướng.... là nguồn gốc của nòng xoắn, nhưng người Âu và nhất là người nói tiếng Anh cực kỳ ngu ngoại ngữ, nên dốt nát. Thực ra, các sách vở tiếng khác đã nhiều lần nói đến chuyện các vùng gần Ottoman như Đức, Ý, đã dùng xoắn và đúng là cạc bin dân sự, không phải súng chiến, ít nhất từ 1520.
http://riv.co.nz/rnza/hist/gun/rifled1.htm

Đến thời tk18-19, có nhiều súng nạp sau không xoắn, về sau các mẫu còn lại được làm xoắn, như Patrick Ferguson. Cũng như có các súng xoắn nhưng không nạp sau, như Miniê, bất tiện quá nên hoán cải nạp sau. Phần lớn súng trường châu Âu giữa tk19 là các dạng trung gian, trong đó, có nhiều chú hoán cải nhiều lần, từ trơn nạp miệng thuần chủng thuốc đạn rời, sang xoắn nạp miệng, cho đến xoắn khai hậu nạp sau có vỏ đồng, như MLE 1867 của Phú Lãng Sa được hoán cải từ các 185x cho đến 1822Tbis, chưa kể dân sự hoán cải thoải mái từ các MLE 1777. À, khai hậu là các súng hoán cải thành nạp sau từ nhồi trước, mở bịt đáy nòng ra, cũng như các súng chế tạo mới nhưng có thiết kế tương tự.





Thời điểm chính xác
Súng trường tiêu chuẩn cấp Quốc Gia đầu tiên xoắn là các Dreyse M1841 Phổ, Kammerlader-1842 của Na Uy. Một số nước khác không làm được súng phổ biến, thì làm súng "sỹ quan", "trợ chiến", "bắn tỉa" (thực chất là súng săn), như súng trường trợ chiến Le fusil de rempart de 21,8 mm modèle 1831 có vai trò như trung liên ngày nay, hay các súng ngắn dễ làm. Pháo được phát triển xoắn đúng đắn từ ngày cuối thời đồng điếu đúc, đến thập niên 186x, như model 1867 Nga, Krupp Đế Quốc Phổ, thì đã có cấu tạo bên trong nòng đại thể như hiện đại.

Các nước khác sử dụng các giải pháp giật gấu vá vai, như xoắn được làm bằng các kỹ thuật và có cấu tạo hết sức đa dạng lởm khởm, thậm chí, phương pháp đơn giản nhất là dao đóng tam giác, súng nhồi miệng, có tên Miniê, hết sức lạc hậu, nhưng lại được quảng cáo thành lừng danh đến nay để ... ngu dân, nhồi sọ liệt não bã đậu để nhồi ngân sách tham nhũng súng lởm. Ở đây, chỉ ví dụ, các bạn tự tìm hiểu theo các thông tin post sau.
Miniê đưa ra giải pháp của mình năm 1849, được quảng cáo bắn trúng .... hơn ngàn bộ. Năm 1851, ông có 1 mẫu bán được khá nhiều, năm 1857, hệ thống Tiêu chuẩn Quốc Gia Pháp nhét Miniê vào, nhưng thối nhất là năm 1867, ông này lần cuối đưa ra phiên bản đạn nạp miệng cùng với việc Pháp đã có modèle 1866 Chassepot , thuốc lớp đường đạn khác hẳn, và các súng có nòng to cũ hoán cải khai hậu tabatière MLE 1867. MLE 1866 Chassepot đã có hình dạng khóa nòng và rãnh xoắn như Dreyse M1841 Phổ, đường đạn đường kính nhỏ, tốt hơn Dreyse M1841. Mỹ có Springfield M1861 dùng Miniê, nhưng mua máy hiện đại về làm rãnh kiểu chữ nhật Dreyse, đến nỗi bán rất chạy kiểu nòng không xoắn để khách mua về đóng xoắn tam giác cổ lỗ cho lành. Về pháo, Whitworth, điển hình cho việc ăn cắp ngân sách, mua máy hiện đại, về làm những đồ lởm khởm lạc hậu, ngoài pháo gia công cắt gọt, nhưng trong đúc đa giác ? hay là pháo chính xác bằng son phấn bên ngoài ? cũng thập niên 186x. Đến 187x, pháo hải quân Pháp MLE 1870 24cm ở Bảo Tàng Quân Sự Hà Nội cũng đã có nòng đại thể hiện đại.

So sánh các nước. Thì Nga lúc đó đã suy đồi, đi chậm ngang Tây Âu, nhưng các bước đi rất khoa học chắc chắn. Trong thời hoán đổi, Nga chỉ có ít loại súng và đều hiệu quả, đầy đủ giải pháp so với đương thời, M1867 Krnka và M1869 Baranov là hoán cải khai hậu súng cũ , Berdan I được sản xuất rất ít chiều các lệt não với máy lật như Kammerlader-1842, đệm cho phiên bản Berdan II 1870 có nhiều giải pháp hơn cả I.G.71 sau đó. Berdan II phiên bản có băng (repeater ) năm 1885 nhưng không sản xuất mà chờ thiết kế hoàn chỉnh, đồng tác giả, là Mosin 1890, trở thành súng trường tiêu chuẩn có đường đạn tốt nhất cho đến nay, và cũng là súng lớp đó có số lượng sản xuất lớn nhất (nếu như không cộng các phiên bản khác nhau của Mauser G98 làm 1). Phổ thì đi tiên phong quá trước với Dreyse M1841, nhưng lúc đó còn thiếu nhiều kinh nghiệm, quan trọng nhất là đạn to, và không chập cheng bạ đâu cải tiêu chuẩn súng trường đấy, nên sau khi thắng Pháp, mới I.G.71 Mauser. Áo Hung đi thứ 2 sau Phổ với rất nhiều loiaj súng và hãng bán cho nhiều chư hầu khác nhau của đế quốc phức tạp cũng đang suy đồi này, bắt đầu là Trap Door Lorenz Infanterie Gewehr M.1954 được Anh Quốc nhái kiểu thành kiểu khai hậu mà nhà ta hay dùng Martini-Henry được thay bởi thiết kế khác cũng nhái Áo Hung 189x.Pháp thì lộn xộn với Miniê nòng xoắn nạp tiền dở hơi làm chậm bước tiến, MLE 1866 ra quá muộn, thừa kế kinh nghiệm, có đường đạn hiện đại như Berdan, IG sau này, nhưng đạn không lõm mà có đai đuôi, và.... vỏ giấy, súng ra vội vàng trước bại trận, cùng với tabatière système 1867 khai hậu súng cũ, nhưng cũng 1867, Miniê vẫn gào thét tung ra đạn nạp miệng cho gờ.... chữ nhật, và cả làm xiếc nạp vỏ đằng miệng. Anh đi sau, Mỹ thì đến tận 189x mới bỏ khai hậu dùng búa điểu đầu lấy từ flint lock, thay bằng Krag, và cũng nhiệt thành Miniê mạp miệng chữ nhật như Springfield M1861.
Bên súng to, thì từ thời đồng đúc, Nga Phổ đã có thiết kế đúng hướng, mặc dù kỹ thuật còn dài. Mỹ Pháp Anh thì đem đến một rổ các giải pháp trong nội chiến Mỹ, dĩ nhiên, sau đó chúng đều ngỏm cả.



Công nghiệp
Thời điểm súng phổ biến chuyển từ trơn sang xoắn là các thập niên 184x-186x, đây là thời điểm hình thành lên các cách nấu thép công nghiệp năng suất cao thay cho loại lò hun ủ thấm carbon Cementation Prague 1574 vẫn dùng, thép chất lượng cao rất ít. Thực chất, từ lâu người ta vẫn nấu thép, nhưng giá thành thép tốt rất đắt, Carl Wilhelm Siemens 185x đưa ra loại lò lửa quặt tiết kiệm than, sau đó, Pierre-Émile Martin cải thành lò Mác Tanh, cho ra thép chấp lượng cao giá rẻ và số lượng lớn 186x, liền sau đó, An dát + Lo ren (Alsace và Lorraine) , vùng sản xuất thép than của Pháp, sát nhập sang Đế Quốc Phổ 1871. Lượng thép tốt lớn là cơ sở để chế tạo nhiều máy công cụ chính xác, cách mạng công nghiệp sau một thời gian dài tích lực bằng lò thấm carbon, nay bùng phát thời cơ khí. Pháo đồng điếu đúc chuyển thành pháo thép cắt gọt. Cách khoan súng trường cổ truyền gần giống người Mèo ta chuyển sang khoan bằng máy công nghiệp.
Cũng thời này, bên Anh lạm dụng lò thổi khí Bessemer , thép xấu, và lại nhồi sọ liệt não để nhồi máy móc dụng cụ lởm. Anh Mỹ tiếp tục sử dụng các súng khai hậu như Martini-Henry (trap door, theo Lorenz Áo Hung 185x) và các súng Mỹ vẫn còn dùng búa điểu đầu Flint Lock cho đến 189x mới thay thiết kế, nhưng vẫn còn sản xuất dài dài.

Thời bấy giờ, 2 Đế Quốc chủ lực của miền Đông Âu=cái nôi súng ống hiện đại của thế giới, là Nga và Áo Hung đã suy đồi, Phổ lại quá trẻ. Áo Hung cũng có cách nấu sắt tốt, làm máy tốt, nhưng lại thiếu vốn để bùng phát thay đổi mạnh. Nga thì có vốn nhưng xã hội bị bó chặt bởi chính quyền đã suy đồi từ trước chiến tranh Napoleon, mà thật không may, cái chính quyền ấy lại không bại trận lúc đó, kỹ thuật mới để gia công thiếu, trong khi trình độ bác học và tướng lĩnh, binh sỹ lại cao. vậy nên, chường trình pháo hiện đại M1867 chỉ có vài chục khẩu, còn súng trường thì thuê ông Berdan của Mỹ về làm ma nơ canh ngoại nhập, để thỏa mãn mong muốn nhập khẩu của giới quý tộc liệt não trong các nhà thổ Tây, mà bám quanh là lũ giòi bọ mút não thối, Berdan II có các giải pháp không bao giờ được áp dụng trên súng Tây và Mỹ cho đến 189x mới thay các thiết kế máy điểu đầu=thế hệ lạc hậu so với Berdan II.

Phổ có điều kiện bùng phát, nhưng không có nhiều vàng như Anh Pháp lắm thuộc địa, mà chỉ có nhiều thép tốt, máy tốt, âm nhạc tốt, toán tốt và lý hóa tốt. Điều này dẫn đến nghịch lý, như các lò thép hun kiểu Cementation từ Prague 1574 bùng phát mạnh nhất ở Anh 186x -> chạy đến sau WW2, cùng với lò... Mác Tanh, Anh Pháp có nhiều vàng và kinh nghiệm mua non bán nước Buốc Bông, để cho các Nhà Nguyễn bán non Dân Tộc, mua chịu súng lởm giá cao. Điển hình mâu thuẫn ở châu Âu sau thời đó là chiến tranh Ottoman-Nga bùng phát lần cuối, Anh Pháp lại bài cũ, bán chịu súng lởm. Mũi này phát triển cao ở Nga-Nhật 1905-1906, Anh cho Nhật mua chịu súng, dĩ nhiên, trả nợ bằng đất dân chiếm được, nạo cạn kiệt các xứ mọi, không may, trong cuộc bùng phát trí não đó, Vịt lại đã bị bán non, là mọi bị nạo.


Cấu tạo
Xoắn ngày nay có dạng chữ nhật, nòng xoắn vừa mòn rộng ra như cũ, vừa mòn theo chiều chu vi, vậy nên, kết hợp là mòn theo một hướng xoắn rộng ra ngoài với chiều chu vi mòn mạnh hơn nhiều bán kính, và do kỹ thuật làm phình đạn, nên chiều bán kính có mòn cũng ít ảnh hưởng, chữ nhật chống mòn kiểu đó tốt nhất. Các pháo có số lượng phát bắn ít, thường làm gờ hẹp, nhiều gờ, rãnh rộng bằng gờ. AK thì có 4 rãnh, các súng rẻ tiền như súng ngắn liên thanh Sten Anh Quốc 2 rãnh, thành đạn chữ nhật. Độ xoắn được phát triển theo thuật đường đạn , sao cho gia tốc xoáy của đạn đồng đều, lâu mòn chu vi, thông thường, ở các súng bắn đạn đồng đều như súng bắn đạn viên, thì độ xoắn giảm dần khi ra đầu nòng.
Đó là ngày nay, nhưng trước đây, xoắn tam giác rất nhanh mòn chu vi, và dao đóng button thì không điều khiển được độ xoắn. Và có muôn vàn các kiểu xoắn được trình bầy bên dưới, nhiều kiểu khó mà nói có thể tăng độ chính xác, như nòng đạn đúc đa giác, chỉ có mỗi tác dụng là bắn được đạn dài, tăng được tầm do giảm cản gió.




Gia công
Ngày nay, súng nhỏ bắn đạn viên được khoan chính xác ở đường kính gờ, sau đó, rãnh được cắt gọt bằng dao nhiều tầng lưỡi. Còn súng to thì phay lưỡi xoay hoặc đơn giản là đá mài quay thò cán vào nòng làm từng rãnh. Súng nhỡ thì người ta cũng kép dọc dao theo xoắn nhưng lại gia công mặt đứng của gờ, thay cho mặt lòng của rãnh như súng nhỏ. Cũng còn nhiều súng làm rãnh bằng đúc , đúc áp lực, như các phóng lựu cá nhân đơn giản.

Thời mới có máy công nghiệp như Springfield M1861, thì người ta dùng 1 lưỡi dao móc kéo hoặc hai lưỡi đối diện được ép vào thành nòng bằng đàn hồi. Trước đó, M1841 Dreyse của Phổ được gia công xoắn chữ nhật bằng dao dạng thanh dài thò ra hai đầu nòng, phía dưới có nhiều lưỡi dạng nửa giũa nửa dao. Trước đó = sau M1841 bên vùng Tây Âu lạc hậu, có phương pháp đóng nút = button , phương pháp này chia làm hai dạng xịn và lởm. Lởm là các dao không sở hữu kỹ thuật cắt gọt kim loại cứng như gang tốt (tỷ lệ graphit cầu cao và nhiệt luyện tốt), chúng làm lõm mặt kim loại bằng ép áp lực, có dốc thoai thoải, thường chỉ gia công được nòng thép dẻo = không tốt và thường làm sai số nòng đi rất nhiều do nòng rộng ra, và cũng làm mẻ nhiều, tai hại hơn nữa khi có nhiều hãng lởm không làm tam giác bằng kỹ thuật này, mà làm chữ nhật để lừa liệt não. Nút button xịn là nút cắt, dao có phôi hình côn, cắt nhiều tầng đai có dạng tiết diện gờ đai theo mặt cắt dọc trục là hình chữ nhật, đường sinh không côn mà bậc thang với sinh song song trục , rồi được mài đai thành hoa khế (tiết diện cắt ngang trục cán dao), hoa khế xoắn, tạo ra cho mỗi rãnh tương lai nhiều tầng lưỡi dao nhọn sắc. Cả hai dạng button đều có cán dài và dùng búa đóng dọc nòng, dao tự quay theo đường sinh trượt trên rãnh do chính lưỡi trước nó tạo ra. Dạng súng ngắn đơn giản thép mềm không bền thì ai cũng tự mua dao về đóng được. Loại súng trường dài cũng chả cần cầu kỳ nhiều.

Le fusil de rempart de 21,8 mm modèle 1831
http://armesfrancaises.free.fr/fusil%20de%20rempart%20mle%201831.html
Đến đầu tk19 thì đã có khá nhiều phương pháp làm xoắn, cái phương pháp làm xoắn tam giác hiệu quả nhưng sơ khai, dạng như lơ trung liên kiểu 1831 trên, đã phát triển, từ nửa đầu tk19 nó thành phương pháp chủ lực, rãnh ram giác cạnh gờ xoắn sắc quá xịn cho việc nạp tiền=nhồi miệng. Chắc các bạn đã hiểu, với con số hơn 1 triệu súng trường kiểu "Năm thứ 9 Cộng Hoà", thời Napoleon, đã được sản xuất từ 1802-1819, đủ để trang bị cho 2 "Đại Quân" Great Army đánh Nga, thì súng đã đã phổ biến, và trong đó, nhu cầu dùng súng đi săn rất lớn. Đi săn kiểu rình thỏ hay sói chẳng hạn, thì không thể dùng đạn ria hay độ chính xác quá lởm của nòng trơn, mà lại không cần bắn nhanh hay chậm chút nào, con sói nó chẳng cần đến nửa phát thứ 2 để chạy trốn chẳng hạn. Dần dần, cái dao đóng rãnh cho phương pháp "nút" được bán rộng khắp, anh nào đảo ngũ, thì mua con dao ấy hoán cải súng chiến thành súng săn, rất tiện kiếm ăn trong đại dịch đói, thiếu lương mà thừa quân đảo ngũ sau chiến tranh Napoleon. Chính vì thế, các súng nạp sau như lơ trung liên MLE 1831 trên, vẫn tam giác=giải pháp gia công dễ tìm.

Lơ trung liên MLE 1831 trên không được áp dụng vào súng trường đại trà Pháp, đó là thời mạt vận, Buốc Bông mẹ con với nhà Nguyễn ta bán non Tổ Quốc cho ngoại bang, lúc đó, ngoại bang, đặc biệt là Anh, đến thu tô trừ nợ. Nước Pháp không đủ danh dự , tiền bạc và các tổ chức như các xưởng thợ lâu đời danh tiếng lành mạnh, để phát triển kỹ thuật. Nòng lơ trung liên MLE 1831 trên to, dễ làm. Nó được làm bằng phương pháp lai có từ Jean Lepage silex carbine thời Napoleon, ban đầu, một dao ấn button sẽ tạo ra rãnh nông, sau đó, dao cắt có lưỡi nhọn đối xứng được ép ra thành nòng bằng đàn hồi sẽ được kéo chạy dọc rãnh nông đã có trước mà không cần máy móc phức tạp. Cũng thời gian đó, thay cho đóng thô bạo bằng búa, đã có nhiều máy ép-kéo vít me, sau đó là thủy lực trong các xưởng chuyên nghiệp.

Thực tế, trong điều kiện đó, các hãng "mẹ" bán rất nhiều dao đóng button, chỉ cần vài dụng cụ đơn giản và thợ không pờ rồ lắm cũng tháo được bịt đáy nòng ra, đóng xoắn, hoán cải súng trơn. Dĩ nhiên, đó là các vùng lệ thuộc kỹ thuật, không có đỉnh cao mũi nhọn như Tây Âu, Anh Pháp Mỹ. Còn ở các vùng làm được con dao button ấy trước, thì người ta lấy thép làm con dao ấy để làm loại rãnh khác bằng loại dao khác, để súng trường đi trước. Các dạng súng xoắn nhồi miệng như các loại dùng đạn Miniê đến hoán cải 1867 Pháp thì dùng tam giác dễ hơn, cạnh sắc dễ dàng cắt thành đai của đạn chì, càng tiện khi súng đạn méo mó sai mẻ, mà chuyện đang nạp tắc đạn chì ngày đó dễ dẫn đến không thể khắc phục ngoài trận. Riêng hàng nhồi sọ liệt não như Springfiend M1861 lại mua máy xịn về làm chữ nhật, dẫn đến bán được rất nhiều nòng trơn để khách tự đóng tam giác, hay là dùng luôn trơn cho lành. Miniê như phiên bản đạn M1867 và các đời gần trước đó có cải đạn để dùng chữ nhật nạp miệng, điểm hoán cải chính là làm đạn rỗng nhiều hơn, mỏng thành hơn, đai phẳng chứ không tam giác có dốc vào thoai thoải, để dễ tóp vào và trượt trên mặt chữ nhật, và thử nghiệm ngày nay cho thấy hầu hết đạn vỡ khi ra khỏi nòng, đây là điển hình cho sự phi lý lúc đó.

M1841 Dreyse được thiết kế để thuận tiện dùng rãnh chữ nhật, nòng bền hơn, vì nòng xoắn mòn theo chu vi xoắn chứ không chỉ theo bán kính, mà gờ tam giác quá hẹp theo chiều chu vi. Đồng thời, đường kinh chữ nhật cũng ổn định, và vì thế, chính xác hơn. Tuy vậy, các phiên bản M1841 còn ở trong thời khá thoải mái, các đơn vị nhỏ hay xạ thủ tự mua và nhồi đạn, nên có nhiều phương án nòng khác nhau, kể cả trơn, lúc nước Đức còn phân tán và Phổ vẫn phải à ơi nhì nhằng, trong khi yêu cầu lớn vẫn là 4 gờ rãnh chữ nhật như AK sau này. Dĩ nhiên, rãnh chữ nhật thì rất khó nhồi miệng.

Các súng khai hậu hoán cải từ súng nhồi miệng dạng máy lật của Áo Hung, sau được Nga, Anh, Pháp, Mỹ dùng... đã thuận tiện dùng vỏ đồng và rãnh chữ nhật. Lúc đó, đồng còn ít, nhưng vỏ đạn lại là loại dùng nhiều lần, vượt mặt M1841 vỏ giấy. Bavaria đứng giữa các áp lực Đông Tây, nhưng cũng dùng kiểu khoá nòng của M1841, ra sau, tiện cho vỏ đồng, lại vượt lên. Các súng hoán cải Bavaria tuy còn nòng to lạc hậu, nhưng cũng là tiên thân của Berdan II, I.G.71 và Gras MLE 1874, dùng khoá M1841 với vỏ đồng và nòng nhỏ, kết thúc hoàn toàn những dư âm của thời nhồi miệng.



Đầu Đạn
I.G.71 và Berdan II 1870 là những súng có đạn như ngày nay nhưng đúc chì, còn trước đó, súng vẫn có nòng to như thời nạp miệng, đạn cải không hoàn chỉnh. Gras MLE 1874 có đầu giống modèle 1866 Chassepot, sau thời học mót Đông Âu Miniê rồi lòe dân Mèo Hoang, thì đã mặc váy PARROTT Mèo Hoang=thiếu cái váy tinh tế Đông Âu, từ đó, Tây Âu không hiểu hết đầu đạn hiện đại cho đến khi có NATO 7,62mm pha chất Đức. Đạn hiện đại vừa ít làm mòn nòng, lại vừa chấp nhận được nòng sai số nhiều, và có đường đạn tốt. Sau 187x đạn chì cỡ nhở 11mm, tiếp đến 188x, nhiều nước có của như Pháp MLE 1880 đã có lõi thép đồng mềm và thuốc mới, nhưng do chỉ mặc áo váy son phấn -> dẫn đến lebel cải lùi cắt cụt đầu nhọn = quá hài hước, nên đường đạn vẫn như cũ. Đường đạn chống trên mũi nhọn và thuốc viên chỉ có 1900, như G98, Model M1906 Mosin, ".30-06", trước thời điểm đó, các súng vẫn dùng rộng rãi đạn chì song song với đạn lõi thép vỏ đồng mềm, vì thực tế đường đạn vẫn vậy. Dreyse M1841 và các súng hoán cải khai hậu vẫn dùng cỡ đạn của thời nhồi miệng, quá to. Dreyse M1841 ban đầu không mặc váy được vì đặt hạt nổ đúng... chỗ ấy=sau đầu đan=kim hỏa xuyên qua vỏ và thuốc, sau khắc phục bằng đệm gỗ.

Xuất hiện các yêu cầu của nòng xoắn là thành đạn phải ép chặt vào thành ăn xoắn=khít nòng chính xác=chống hoàn toàn hiện tượng đạn nẩy trong nòng do đạn bé hơn nòng, và bịt khí = kín. Ngay nay, đạn súng trường ép thành bằng việc chúng phình ra bởi gia tốc và bố trí khối lượng, có vỏ mềm đậm dầy để ăn xoắn. Các đạn tốt nhất của AK, Mauser, Mosin, và đạn Đức ngày nay... có lõm đuôi bị áp lực khí đẩy xòe ra như cái váy = kín khí. Tác dụng váy này có thể được bổ sung bởi một mẩu chì, kiêm chức năng kéo trọng tâm ra sau trong đường đạn "chống trên mũi nhọn". Còn đạn pháo có đai kim loại mềm được nén phình ra, kín khí ăn xoắn. Vẫn còn những pháo có điều kiện bắn riêng có gờ đạn và gờ nòng được gia công sắn khớp vào nhau, như ĐKZ 75mm.

Ban đầu, các đạn xoắn trong nhân gian được các sỹ quan áp dụng vào súng trường tiêu chuẩn nửa đầu tk19 có lõm đuôi lớn đến rỗng ruột, riêng Dreyse M1841 Phổ không làm đạn lõm đuôi được vì chỗ lõm đó nó đặt hạt nổ, về sau, trong quá trình sử dụng, mới cải thành cái đệm gỗ và dùng lõm đuôi như đạn Kammerlader-1842 của Na Uy. Không hiểu được điều đó, các sỹ quan Pháp định ứng dụng xoắn như súng Carabine tige làm cái cọc thò ra ở đáy nòng cho con ếch ngồi, dùng thông nòng tọng cho đạn phình ra vì cái cọc chọc vào lõm đuôi, trong khi chẳng có cái cọc nào ép được hàng tấn như áp lực khí thuốc, đây là điểm hài hước mà các liệt não wiki vẫn la liếm một cách hài hước, cũng như các phương án khác, súng này chết không phải vì các lý do đó, mà điều kiện hia cộng tệ hại của nước Pháp thời bại trận, có chính phủ Buốc Bông bán chịu nước non cho giặc, thứ này là anh em với Nhà Nguyễn ta, nên tình thương mếm thương lắm lắm, bắt về làm Con Hủi Mẹ Ghẻ. Đến thời các đạn nhỏ như Berdan II; Mauser I.G.71 thì có cái lõm đuôi nông như sau này.

HOTCHKISS hồi nội chiến Mỹ đã làm đai đạn pháo như nay, nhưng không biết làm nòng. Siêu pháo cắt gọt Whitworth đúc đa giác thô thiển bên trong son phấn thì ngu đặc, không có giải pháp kín khí chèn khít nào. JAMES có xoắn chữ nhật và gờ đạn đúc sẵn như ĐKZ 73mm ngày nay, nhưng không có bịt kín và ép kít, đạn vẫn nẩy READ-PARROTT có váy kín nhưng không chèn khít. Đạn HOTCHKISS ở đó là nhái lại súng to Đông Âu đang phát triển dở, nhưng không nhái được nòng.

Đạn Miniê là đạn lõm đuôi = có váy kín, váy này cao đến cổ để thay chuyện lưng đạn phình ra khít, có các đời... được quảng cáo, chỉ là giật gấu vá vai nòng xoắn nạp miệng, đến cả Pháp cũng không dùng nhiều, thực tế là Pháp có yêu cầu nhưng không có đời chính thức nào xoắn nạp miệng được thực hiện.


Nạp sau thay cho nhồi trước=nạp tiền
Khi làm xoắn cho súng nạp miệng, thì tốc độ bắn sụt giảm và xác suất súng bị hỏng đến mức không bắn được ngoài trận tăng vọt. Làm đạn bé thì xoắn không tác dụng, còn đạn to thì nhồi rất chặt, đạn quá lõm đuôi thì lại dễ méo vấp. Kể cả đạn có lỗ tâm để dễ tóp lại, có đai để xoắn dễ cắt... thì tốc độ bắn vẫn quá thấp. Các lý do này được khuyếch đại vì thép tồi, nòng mẻ, và tuổi thọ lâu do nòng đắt, càng mẻ, xác suất kẹt đạn khi nhồi là thường xuyên=điều mà ngày nay khá lạ lùng. Đây cũng là một điểm là Tây Âu hiểu sai việc chọn lựa súng của Đông Âu.

Dreyse M1841 Phổ nạp sau để bắn nhanh, nhưng là khắc phục nạp miệng xoắn quá chậm, chứ khả năng chiến đấu chung của M1841 trơn so với nhồi miệng trơn thì không khác nhiều. Cũng như các súng hồi đó, M1841 ban đầu không bắt buộc xoắn <> mặc dù sau này là 4 xoắn chữ nhật hiện đại như AK, ban đầu tùy hứng các đơn vị. Đồng thời, do hạt nổ ở tâm sau đầu đạn, nên không tiện áp dụng lõm nở đầu đạn hợp với xoắn, ví như Krnka Nga, Kammerlader-1842 của Na Uy. Thêm nữa, M1841 vẫn dùng cỡ nòng to của nhồi miệng đạn cầu (Phổ bé hơn Pháp, 15mm), nên đầu đạn dài sẽ khá nặng. Tuy vậy, ít nhưng đạn vẫn nở, nặng nhưng vẫn làm đạn to hơn cỡ nòng và dài ra chút, chắc chắn là đạn không cần bé hơn nòng, và chính xác hơn nhiều trơn nhồi miệng. Kể cả M1841 trơn thì đạn vẫn khít và chính xác hơn nhiều nhồi miệng phải dùng đạn bé hơn cỡ nòng.

Phương tây, mà lúc đó to mồm nhất là Pháp, tưởng rằng kiểu như M1841 có lợi là bắn nhanh, càng nhanh càng tít, cái dở hơi ăn cám lợn này bẫn tồn tại cho đến nay. Ngày đó, Pháp làm vỏ đồng, nạp sau, lại đường kính nhỏ 9mm tiên tiến Treuille de Beaulieu modèle 1854 . Đúng là súng bắn nhanh. Nhưng do học Đông Âu những cái bề ngoài, như nạp sau, bắn nhanh, có vỏ, và xoắn, mà quên không dùng não để phân tích điểm cốt yếu, là mục tiêu của chúng chỉ vì xoắn để chính xác, nên M1854 chết yểu. Súng có hạt nổ sườn động tác đóng khóa nòng trượt đứng đồng thời là điểm hỏa, bắn nhanh hơn nhiều súng khai hậu hạt nổ tâm (khai hậu là loại hoán cải mở nắp đuôi nòng như Krnka, Wanzl ....) và cũng nhanh hơn cả Dreyse M1841, do M1854 Pháp khi mở khóa nòng đồng thời lên cò như M1841, Berdan và IG71 sau này, hơn hệ khai hậu hoán cải phải lên búa riêng như flint lock, trong khi Berdan và IG tách rời động tác đóng khóa nòng. Hơn M1841 Phổ lúc đó là M1854 Pháp có hẳn vỏ đồng. Chỉ có điều, M1854 không biết mục tiêu của các giải pháp nạp sau , vì nạp sau mà có vỏ, vỏ đồng... dùng để làm gì ? MLE 1854 nó dùng búa đứng rất nặng vì cùng là khóa nòng khi bắn, làm súng lệch hướng mạnh.
http://armesfrancaises.free.fr/Mousq%20Treuille%20de%20Beaulieu%20mle%201854%201er%20type.html

Sau này, Pháp Mỹ gào thét bán loại đạn Miniê chuyên dùng cho những súng nạp miệng có xoắn dở người như Springfield model 1861, chủ lực của Nội Chiến Mỹ 1861 - 1865, chiện gào thét quảng cáo bán súng lởm ấy đến nay còn lặp lại nhiều, nhồi sọ đến đoạn bắn đạn có vỏ như Dreyse M1841 bằng cách làm xiếc nạp vỏ đằng miệng.




Vỏ đạn kim loại
M1841 Dreyse đi tiên phong dùng đạn có vỏ, nạp vỏ vào chứ không xé vỏ đổ thuốc. Các khai hậu thập niên 186x dùng vỏ đạn đế đồng thân giấy, Berdan II, I.G.71 và Gras đã là đạn vỏ đồng, có vai và côn như ngày nay. Modèle 1866 Chassepot dở người ở chỗ, áp dụng nhái các giải pháp Đông Âu, đường kính nhỏ 11mm, khoá nòng xoay Dreyse M1841, 4 xoắn chữ nhật cân đều, hạt nổ tâm đáy vỏ... đủ cả, có cả chút cải tiến là cái tông, nhưng lại vỏ giấy, cái tông hình côn để bớt chút hở khí. M1854 Phú và các Lefaucheux dùng vỏ có hạt nổ sườn. Lefaucheux thì vỏ có cả kim hỏa. Nhưng M1841 Dreyse hạt nổ tâm, nhưng ở sau đầu đạn. Nay thì đều vỏ đồng hạt nổ tâm đáy vỏ hết.
Như vậy, xoắn yêu cầu nạp sau, nạp sau lại yêu cầu vỏ đạn, vỏ đạn ngày nay như cái van một chiều, đàn hồi nở ra ngăn không cho khí thoát ra, rồi lại co lại dễ tháo, chúng ta biết rồi, bắn nhanh chỉ là mục tiêu phụ. Không bao h người ta thiếu súng bắn nhanh, ví như lơ trung liên 1831, Le fusil de rempart de 21,8 mm modèle 1831, nó giữ nguyên lý như súng trường thông dụng thời Vauban hất về trước ở Tây Âu, bắn được 10 viên 1 phát. Chỉ đến sau này, khi độ chính xác đã đạt mức nào đó của thuật chống trên mũi nhọn, cuối tk19, mới lại cần bắn nhanh, chứ bắn thì cái súng trường nào nhanh được bằng pháo bắn đạn ria ngày xưa, và ngày nay không ai lấy trung liên, đại liên mà làm súng trường. Sau này, các súng hiện đại như Heckler und Koch G11 Đức bỏ vỏ đạn đi vẫn bắn nhanh chả sao.
Phì cười Phú Lãng Sa cái thời cá thối thua trận triền miên, bán nước Buốc Bông nhồi sọ xã hội, liệt não toàn dân, súng trường thì không xoắn, mà súng bắn đạn ria thì lại xoắn. Le fusil de rempart de 21,8 mm modèle 1831 có máy lật buồng đốt, như Kammerlader M1842, chỉ khác chỗ, Kammerlader là súng trường, bắn cái đạn có đai, lõm đuôi, mà sau Anh Mỹ gọi là đạn Miniê của Pháp, dù Anh Mỹ hay Na Uy đều có mục tiêu là chính xác, chưa từng ai làm xoắn cho pháo chuyên bắn đạn ria như Đại Mẹ Ghẻ nhà ta. Cũng cần nhớ Kammerlader là súng Na Uy.
http://armesfrancaises.free.fr/fusil%20de%20rempart%20mle%201831.html

Để cải tiến bắn nhanh, Miniê hài hước có vỏ đạn nạp miệng như hình giả cổ dưới đây, nó cũng mang hộp đạn chứa đạn có vỏ, như M1841. Có lẽ, so sánh Miniê và Dreyse M1841 thì Miniê chả kém gì, cũng vỏ giấy, cũng nòng xoắn, đạn đai lõm đuôi, như ai. Nhưng ngày nay, chỉ còn đông liệt não nói tiếng Anh tụng ca cái đó, vì Mèo Hoang còn làm các kiểu Miniê dài dài cho đến cuối tk19. Liệt não Phú Lãng Sa dù có liệt thối não, cũng còn rất ít đứa mở miệng lè lưỡi liếm Miniê vì có là chuyên gia liếm cũng thấy mùi cá thối.

Đạn có vỏ được dùng từ lâu ở các súng nhồi miệng, từ thời bắt đầu có súng cá nhân. Vỏ đạn vải hoặc giấy đựng liều dong sẵn và đầu đạn, xạ thủ cắn bóc ra nhồi. Dreyse M1841 nhét hạt nổ trong vỏ giấy và nhờ nạp sau nên nạp cả vỏ. Dù có nỗ lực, thì Dreyse M1841 và bản nhái Pháp modèle 1866 Chassepot cũng không thể làm kín khí và điểm hỏa tin cậy, do vỏ giấy dễ hỏng. Các súng hoán cải khai hậu thời 186x đa phần dùng vỏ đế đồng thân giấy, có đế bằng đồng lắp hạt nổ, đủ vững chắc để điểm hỏa tin cậy. Gras, Berdan II (nếu mình không nói rõ Berdan I thì các bạn hiểu Berdan là Berdan II cho nhanh), I.G.71 vỏ đồng hoàn toàn



Súng khai hậu
Ngày nay, chữ khai hậu trong tiếng Tầu hiện đại chỉ các súng không còn nhồi miệng nói chung, tức là cả AK. Nhưng trong tiếng ta, khai hậu để chỉ các súng có máy móc kiểu hoán cải, hay theo thiết kế đó mà làm mới, có nhiều là Martini-Henry trap door được dùng cho đến chống Mỹ, là kiểu máy khai hậu hoán cải đầu tiên, được Áo-Hung chấp nhận Lorenz model 1854, tuy Martini-Henry là súng thiết kế mới sau đó. Riêng Phổ thì đi thẳng từ Dreyse M1841, chắc đã hoán cải hết nòng nhồi miệng và M1841 rồi, lại như Nga, không thích súng dở ương, nên không có đời khai hậu máy lật hay trap door nào.

Các súng nạp tiền nhồi miệng hoán cải thành nạp sau để tiện dùng xoắn, không đến nỗi như Miniê lừng danh, thì gọi là súng khai hậu=mở bịt đáy nòng. Tuy vậy, có rất nhiều súng chế tạo mới làm theo các cấu tạo đó, do đơn giản rẻ tiền. Ví dụ, trông đơn giản như thế, nhưng ở cái chính trị thối nát thua trận triền miền Phú Lãng Sa, mà cái sự thối nát bán nước ngu dân này bán chịu cho nhà ta, khai hậu không gia công được bằng thép, ban đầu làm bằng đồng đúc MLE 1867. Cái kỹ thuật súng ống ngu si thối nát đó, đáng buồn thay, lại tìm được khách hàng ruột, xuất khẩu súng ống không được bao, nhưng nhồi nhét ngu si và kỹ thuật bán nước gia truyền thì lại đắt.

Các khai hậu thường dùng lại cò búa Flint Lock, chỉ sửa lại một chút. Bịt đáy nòng bên trong có kim hoả, thường lật bằng bản lề. Dốc thoai thoải của đầu đạn khai hậu lại ở phía trước, ngược với đạn nhồi miệng nòng xoắn như Miniê. Martini-Henry trap door như Lorenz đã nói trên, và cũng giống súng ống Baravia cũng thời cầu Tây M1869, trước khi Phổ cáu quá sát nhập, vẫn là búa quay nhưng đã nghiêng nhiều sang chiều trước sau, đỡ lệch đường ngắm hơn.
Các khai hậu chia làm hai lớp cỡ nòng, một là cỡ như nhồi miệng hay to hơn nhồi miệng một chút, vì hoán cải từ súng cũ, như tabatière système 1867 Phú Lãng Sa, M1866 Baravia, M1854 Áo-Hung, Krnka Nga, bọn này tận dụng súng cũ=bước trung gian. Sau là lớp súng mới nhưng vẫn dùng thiết kế máy cũ, chỉ cỡ nòng nhỏ hơn, đường đạn tốt hơn do ít cản gió, gọi là súng dở dở ương ương, rất nhiều nước không có như Nga-Phổ, chỉ Baravia, Áo-Hung, Anh, Mỹ là có sản lượng đáng kể. Pháp có cỡ nòng nhồi miệng đời cuối quá to (cải từ 17mm Napoleon lên 18mm như nòng to Anh thời Buốc Bông sâu bọ nắm quyền), lại bị Miniê nhồi sọ làm xiếc chui đằng miệng, nên chậm trễ và không có đời khai hậu nòng nhỏ, nếu không tính M1866. Nòng to đến khi hoán cải sang xoắn, đùng đạn nhọn dài, thì quá nặng. Áo Hung có nhiều đệ tử rất nghèo, như Anbani... nên cũng sẵn sàng làm súng dở dở ương ương loại tốt nhất, kiểu khai hậu ổ xoay như Werndl chẳng hạn, tốt nhất trong các loại dở ương.

Krnka M1867 (số lượng đáng kể, đạt hàng trăm ngàn), cỡ nòng "Six Line" 15,24mm. M1868 Berdan I là máy lật như Kammerlader. M1869 Baranov không lật ngang như Krnka mà lật dọc về trước, ít được chế tạo hơn.

Áo-Hung có rất nhiều đời, như Lorenz Infanterie Gewehr M.1954 dùng máy trap door mà sau này Anh Quốc sẽ dùng trên Martini-Henry. Wanzl M1954/67 & M1862/67 là hoán cải, nhưng do nòng đời nạp miệng cuối của Ao-Hung là 14mm, nên các hoán cải dùng lại nòng cũ bắn đạn 14x33 Áo-Hung ít tệ hơn. Werndl Model 1867 Infantry đã dùng nòng nhỏ 11x42mm, nhưng vẫn cơ cấu khai hậu.

Nã Phá Luân Đệ Tam là cái hình nhân sống bám trên bàn thờ ông cha, phát minh ra kiểu vỏ đồng của đội vệ binh MLE 1854, nhưng bộ binh Pháp vẫn nhái lại giấy M1841 ngay trước chiến tranh và ngỏm củ tỏi liền sau. Phú Lãng Sa vì nguyên nhân nòng to, nên ít áp dụng, nhưng trong thời điên loạn của chính trị thối = tâm lý của quý bà danh giá bị bọn Đông Âu thô bỉ nó cưỡng bức nhiều lần, Phú có rất nhiều phương án , phát minh. Kiểu Vệ Binh Hoàng Đế MLE 1854 ngớ ngẩn trên có rất ít. Sau đó, từ 1857, nỗ lực đóng xoắn súng nạp miệng Miniê, nhưng tiêu chuẩn quốc gia này coi như không được thực hiện vì chưa hết người khôn. Sau nhiều lần cải tiến thiết kế khai hậu, (vì bán nước, mua license Anh Quốc không hợp lý, thậm chí còn thiếu kỹ thuật đến mức dùng khoá nòng đồng đúc để dễ tạo hình), có tabatière système 1867, nhưng cũng rất ít. Trong khi đó, dân sự lại cải khai hậu rất nhiều, thường dùng trượt đứng. Anh Mỹ cũng như Phú, cỡ nòng nạp miệng đời cuối quá to, không tiện hoán cải khai hậu, nhưng lại sản xuất mới rất nhiều nạp miệng nòng xoắn..... cho đến gần cuối tk19.


Hoàn thành cải cách nòng trơn sang xoắn
Berdan II, I.G.71 và Gras MLE 1874 dùng nòng đạn như ngày nay. Thật ra, việc cải cách trơn sang xoắn, thì M1841 đi đầu, với 4 xoắn chữ nhật như AK sau này. Nhưng điều kiện kỹ thuật năm 1836-1841 còn thiếu, nên vẫn nòng to 15mm và vỏ giấy, lại kim hoả chọc xiên đến đầu đạn nên không dùng được đầu đạn đai lõm đuôi.

Như trên, sức ép sinh ra 3 chú này vì Bavaria có bản hoán cải lai Đông-Tây có vỏ đồng trên phân Phổ, Pháp modèle 1866 Chassepot và súng Baravia M1869 có đường đạn mới 11mm. M1866 Baravia tuy là hoán cải, nên cỡ không nhỏ, giống M1841, nhưng tận dụng kinh nghiệm sử dụng, tuy nhiên, cái ưu việt này thì Bavaria chả khoái tí teo nèo, có thể hiểu, các phiên bản Bavaria 1869 chẳng hạn, đánh được Phú Lãng Sa, nhưng mà là của Phổ, trong khi Phổ khôn ngoan, thận trọng khi không thay đổi bừa bãi nhanh xoành xoạch tiêu chuẩn súng.

Về pháo, cối hải quân M1867 Nga, MLE 1870 Pháp, Krupp M1867 Phổ.... là những đại diện hiện đại.


=======================
_________________
http://sites.google.com/site/huyphuc1981nb/thu_muc


Được sửa chữa bởi huyphuc1981_nb ngày 18.09.2010, sửa lần 29
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn  

huyphuc1981_nb
Thượng úy
Thượng úy


Ngày tham gia: 20/05/2007
Bài gửi: 510

Bài gửigửi: 13.09.2010    Tiêu đề: xoắn 2 Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

điên quá, pót nhầm, mất cái này


===
Xoắn nạp trước và đại dịch ngu dân, hay là nòng xoắn cần lò xo, lò xo cần loại thép mới hạ giá
Trong chiến dịch quản cáo các súng Miniê, có việc làm xiếc nạp trước đạn có vỏ giấy, nạp cả vỏ chứ không cắn vỏ đổ thuốc. Tất nhiên, súng trơn còn không làm thế, nữa là xoắn, nhưng vào đầu khói liệt não và vẫn còn cho đến nay. Dĩ nhiên là thế, nhưng cứ thử xem nạp miệng vỏ giấy có gì hay ?

Thật ra, nước nào, dân nào cũng đầy người khôn, nhưng chứng ta đã biết tình cảm mẹ ghẻ với chúng ta. Nước Đại Mẹ Ghẻ Phú Lãng Sa đến với chúng ta bằng thua trận triền miên, Napoleon, Ottoman (theo Anh giúp Ottoman đánh Nga), Canada (Anh-Mỹ tranh thủ Pháp bó chân ở châu Âu vì thua Hải Quân, chiếm các vùng thuộc Pháp), Pháp-Phổ... Sau những lần bại trận đó, khối lũ thối rữa như Buốc Bông hay là hình nhân trên bàn thờ cha ông như Nã Phá Luân Đệ Tam... và chúng có cái gì để tồn tại, ngoài việc như Buốc Bông nhồi sọ dân chúng toàn cám lợn, để bán các hợp đồng vũ khí sang Anh-Mỹ=những kẻ đã mua lúa non, đặt cược vào Buốc Bông bán nước, vậy nên, sau khi Phổ áp dụng nạp đạn sau để xoắn M1841, thì MLE 1842TBIS khoan rộng nòng trơn ra cho nòng Anh và đạn Anh (17mm->18mm 185x), trước đó, một quá trình dài ai cũng giảm cỡ nòng, Anh lạc hậu nhất châu Âu nên vẫn còn cỡ to nhất, Pháp đi từ 19mm MLE 1714 đến đó, còn Phổ Nga đã đến 15mm, Áo Hung đã đến 14mm, lúc đó càng khoan tồi thì càng cần nòng to.

Rồi súng xoắn nạp tiền Miniê 1849, được Anh Mỹ cổ vũ 150 năm nay, mà chúng ta biết rồi, thực chất, ông này chả phát minh ra cái gì cả, chỉ đem đạn Đông Âu đến biểu diễn, được đưa vào tiêu chuẩn quốc gia Pháp 1857 -> phát triển đại dịch khuếch đại la hét bên Mèo Hoang, nhưng Pháp không bao giờ có đáng kể số súng trường loại này, như đã nói trên, nước Pháp không thiếu người mất hết não để nhổ vào súng xoắn nhồi miệng. Chúng ta quá hiểu, trước Kammerlader thì đạn đai lõm đuôi nhồi miệng được dùng để đi săn chẳng hạn, không cần bắn nhanh mà cần chính xác. Đến thời Miniê 1849 thì cái đế gỗ đã được dùng để M1841 Dreyse Phổ chuyển sang đạn như Kammerlader. Sau này, người Mỹ cũng làm súng nạp tiền xoắn tam giác, bắn đạn đai lõm đuôi Miniê trong thời đại của I.G.71 và Berdan, Gras, nhưng chúng ta hiểu, mục tiêu ban đầu là súng săn rẻ tiền, có điều bên Mèo Hoang, khi có chiến tranh đến, ngu dốt không thiết kế súng chiến được, thì lại chế tạo hàng loạt liệt não để nhồi sọ súng chơi thành súng chiến. Thật ra, trước Miniê, dã có nhieuf người đem đạn Đông Âu sang dân nói tiếng Anh khoe của, như Newton đầu tk19, nhưng Miniê được SpringField quảng cáo rầm rĩ cho M1861, bất chấp cái kỹ thuật này đã quá lạc hạu. Trước khi các bác đảng viên biết "điển hình", giáo dục "trường điểm" để buôn lậu uy tín chính trị, thì người ta cũng đã buôn lậu, ăn cắp thương hiệu, và đều có công cụ chung là liệt não được giáo dục bồi dưỡng hàng loạt bởi ngu dân.

Từ những cá thối đó, những lý sự nhồi sọ liệt não được chế tạo hàng loạt, xâu xé ngân sách. Chúng được xây dựng thành môn khoa học tên là tranh cướp ngân sách. Rồi, thua trận, ,tóe ra chạy, và xuất khẩu cái khoa học cá thối ấy sang cái bọn cũng y như Đại Mẹ Ghẻ, cũng cắm con bán nước, bán nước như bán lúa non giá rẻ giật mình. Cái số đen cho dân Vịt Cạc, lại là đáy cùng của cái phễu cá thối di cư, cũng có điểm nào đó giống như nước Mèo, hứng trọn toàn bộ những cặn bã bị người ta đào thải.

Có cái hài, là các chiến binh bắt buộc phải dùng súng trường nòng xoắn nhồi miệng nòng Miniê đã chế ra cách dùng vỏ... nạp miệng. MLE 1857 có cái khuôn để xạ thủ làm vỏ đạn và ngắn dựng đạn cho loịa đạn có vỏ nạp miệng này, dĩ nhiên là vỏ giấy. Tất nhiên, tốc độ không cải thiện được bao nhiêu , vẫn quá chậm so với trơn và chính vì thế, nước Pháp thất bại trong nỗ lực của ngu dân là trang bị đồng đều nhồi miệng nòng xoắn (Miniê kết hợp vào các model 1842, 1857... trong tiêu chuẩn quốc gia 1857).

Cũng là đai, nhưng chú ý, đai đạn súng xoắn nạp miệng có dốc thoai thoải phía sau, để dễ ăn vào rãnh, ngược với dốc thoai thoải của đạn khai hậu lại ở phía trước. Cái buồng thuốc chịu áp lực bé hơn nòng của súng nhồi miệng nòng trơn, có từ thời Thiên Tự Hồ Nguyên Trừng, nay bỏ đi để dùng đạn có vỏ nhồi miệng.

Kiểu khóa nòng của M1841 Greyse có cái lò xo ruột gà. Ngày nay, lò xo nào chả thế, ấy vậy, ngày đó, biệt danh lớn nhất của M1841 là "súng mỳ", sợi mỳ là cái lò xo kim hoả, chính đồ hai tếch ấy đã cản trở nòng xoắn và sinh ra rất nhiều nhồi sọ liệt não. Ví dụ, nội chiến Mỹ thì Mèo Hoang được vua buôn vua Colt sau này nhồi là M1841 yếu, phải súng trường Revolver mà Colt làm được cơ, và sau này, vì Colt còn, nên nghệ thuật sử dụng chó dại liệt não còn.


Có thể thấy, Miniê chả hề phát kiến phát ong ra cái gì, đầu đạn không, vỏ giấy không, hạt nổ không. Và các súng Miniê như Minie 1849 1851 (không được chấp nhận), M1857 Pháp, SpingFileld M1861 Mỹ.... lấy gì để so với Dreyse M1841 Phổ ? Đơn giản, cái tên này được Springfield mượn để nhồi sọ cho loại súng quá lởm, quá lạc hậu từ khi chưa ra đời, ở cái xứ xa xôi hoang dã, mà Mèo bán sới trời Âu, phắn đến đấy lập nghiệp. Bản thân Springfield, xem các mẫu nòng còn lại, có đủ cả xoắn tam giác, chữ nhật hợp lý cho nạp sau nhưng lại khó nạp trước, và trơn chả xoắn xiếc gì. Cái bệnh nhồi sọ bằng quảng cáo kiểu nhồi vịt, kết hợp với đút lót, bán súng lởm giá cao, đã tìm được đất tốt mà sinh sôi nảy nở.
http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/armesfrancaises/minie/untitled.jpg



nòng xoắn và lò xo 166x của khai hậu
Chúng ta đã biết, người ta loay hay rất lâu trước khi có Flint Lock, nguyên nhân chính là chất thép. Không có lò xo mỳ, các súng hoán cải Áo Hung, Nga, Anh Pháp Mỹ vẫn dùng máy flint lock. Máy này búa bổ thẳng trên xuống, rất rung, rung thì kém chính xác, làm xoắn làm gì. Cũng có khá nhiều cải tiến, như làm búa nhẹ đi, đổi hướng bổ búa dần từ sau ra trước... nhưng các khai hậu đó đều là giật gấu vá vai. Chũng ta cần hiểu, lúc đó, gia công được máy móc tinh vi không đơn giản, ví như khai hậu Pháp trước 1867 còn phải dùng máy bằng đồng để dễ tạo hình. Chuyện này lại lặp lại ở Anh Quốc hồi WW2 với cái khố lùi của Sten..

AK ngày nay cũng là búa quay, nhưng súng ngày nay búa bé tí tẹo. Ngày đó, việc không có lò xo, thậm chí là dùng kim hoả lởm, kim hoả đồng... làm búa khá nặng, không thể đánh giá khai hậu là các súng tốt được.




Nòng trơn thì bắn đạn cầu, nòng xoắn thì bắn đạn dài ?
Trong suốt tk18, ví dụ, từ MLE 1714 đến MLE 1857 Phú Lãng Sa, đường kính nòng không thay đổi nhiều, ban đầu là 19mm, rồi 17,5mm. Ban đầu, người ta nỗ lực thu nhỏ đường kính theo kỹ thuật khoan và thép phát triển. Nòng nhỏ hơn thì súng nhẹ hơn, nhưng khó khoan hơn và chức năng cán giáo dễ gẫy hơn khi xung phong. Trong thực tế, có chênh lệch chút về đường kính các loại nòng trơn nhồi miệng cuối cùng. Nga Phổ là 15, Áo Hung 14, Pháp Anh 17,5-19. Pháp sau khi bọn Buốc Bông bán nước nắm quyền, đã cải sang 18 cho dễ dùng đạn Anh, nòng Anh, thậm chí còn hoán cải bịt đáy nòng cũ, làm súng ngắn đi chút (khi tháo bịt đáy nòng rèn ra phải làm lại chút cái nòng, dẫn đến phải bỏ một đoạn nòng đi), để thay cái bịt đáy nòng Anh, tận thu tối đa khả năng bán nước bán dân cho ngoại bang = MLE 1822Tbis. Đồng thời, khi thu nhỏ, thì đạn cầu nhẹ quá, yếu. Tuỳ vào chất lượng thuốc và quan điểm quân sự mà các nước đã chọn như vậy. Các súng nạp sau nòng xoắn đầu tiên của Áo-Hung, Nga, Anh Pháp Mỹ... đều là hoán cải khai hậu, do đó, vẫn dùng đường kính của đạn bi cầu, khi dùng đạn nhọn dài, thì đạn có khối lượng quá lớn. Loại đạn dùng cho súng xoắn nhồi miệng có cái lỗ trong đạn, làm đạn nhẹ bớt vã cũng dễ tóp vào khi nhồi, nhưng chức năng rút bớt khố lượng của cái lõm ấy kém. Do đó, từ trơn sang xoắn, chỉ những khai hậu ban đầu đúng là hoán cải nòng cũ mới dùng cỡ to, còn khai hậu làm mới thì lại thu nhỏ lại 11mm như cỡ Gras.


Pháp đi khá tiên phong về giảm cỡ đạn, trong khi Phổ khi làm M1841 chưa có nhiều kinh nghiệm, và cũng không nỡ bóc lột dân chúng để bạ đâu thay tiêu chuẩn toàn quân đấy, như anh Phú Lãng Sa khoan rộng và cắt bớt nòng dâng Anh Quốc. Treuille de Beaulieu modèle 1854 thiết kế súng cho đội Vệ Binh Hoàng Đế 9mm. Nhưng lại búa đứng, rung rất mạnh, thế thì xoắn có tác dụng gì ?, nhỏ có tác dụng gì ?. Le fusil d'infanterie de 11 mm modèle 1866 Chassepot , đạn nhỏ, búa dọc, nhưng lại vỏ giấy, trong thời tràn ngập các hoán cải khai hậu vỏ đồng. Có lẽ, cứ trời mưa là quân Phổ mượn quân Bavaria nên mới bắt được Nã Phá Luân Đệ Tam. Nói chơi, thật ra, Chassepot có nòng và đầu đạn cũng tạm tạm, song song với M1867 hoán cải khai hậu nòng đạn quá to tuy rẻ, nhưng đều đã lạc hậu và quá muộn để làm đủ số, cũng như đủ tướng quân quen với chiến thuật mới.


Các vùng Đức cũ sử dụng nhiều loại, ví như, Jägerbüchse M1863 - của Baden, thì vừa có búa điểu đầu FlintLock, vừa có khóa quay M1841 !!! , lại còn cỡ nòng 14mm. M1867 - Bavaria hiệu gia công Lindner-Podewils , cũng tân cổ giao duyên như thế, nòng nạp miệng cũ. Werder (Áo Hung) M1869 làm cho Bavaria, trước khi chị gái Phú Lãng Sa bị thằng cướp khốn nạn nhiều lần là thằng hàng xóm Phổ, nó cưỡng bức lần nữa, thì lại dùng máy trap door 185x Áo Hung (Anh Quốc cũng dùng đến tk20), nhưng đã xuống cỡ bằng I.G.71 sau này, 11mm. Bavaria hai đời đều vỏ đồng.







Pháo xoắn
Pháo chuyển từ trơn sang xoắn khoảng 185x-186x cùng với đồng điếu sang thép, đúc sang cắt gọt và nạp trước sang nạp sau. Lúc này, cách mạng pháo thuận lợi hơn súng trường, đo đúc đã có các lò thép Bessemer (185x = lò sục khí), Siemens , Pierre-Émile Martin (lò mác tanh 1865 ). Giá trị của pháo lúc đó chủ yếu là cân nặng nguyên liệu, kích thước to... thuận tiện hơn cho áp dụng cắt gọt, ví dụ, việc chi tiền cắt gọt ở pháo to lại thuận lợi hơn súng trường, giá trị lớn nhất của pháo thời đó lại là cân nặng nguyên liệu, nên thêm chút tiền vào cắt gọt là điều dễ hơn súng trường = thứ có giá trị lớn nhất là cắt gọt. Hay nòng to dễ mài giũa, nòng ngắn dễ khoan. Có điểm thú vị, là nhờ quan sát khoan nòng pháo, các nhà khoa học đã tìm ra bản chất của nhiệt độ, từ đây, họ tính được các phản ứng cháy và nở.... nhưng còn lâu nữa, thuốc ngày nay mới dùng cho pháo.

Việc có xoắn làm pháo bắn chính xác hơn, thuận tiện công phá công sự, bắn đội hình dàn quân ô chữ nhật đều bước... cũng như đạn dài bắn xa hơn. Tuy vậy, chiễn thuật cũ mới chỉ lung lay, chưa sa lầy như WW1, vì súng pháo chưa có thuốc tốt cũng như máy cắt gọt chưa nhiều. Trong tiến trình làm xoắn, cũng như các mặt súng khác, pháo Đông Âu tiến bình thường với các giải pháp đúng, còn Anh Pháp Mỹ thể hiện rất nhiều kiểu loại nòng xoắn và đạn, kiểu dáng và kích cỡ... khác nhau, dĩ nhiên, chúng đều sớm ngỏm. Sau Nội Chiến Mỹ, Tây Âu chán phát kiến phát ong súng đạn, từ đó, toàn copy Đông Âu, những phát kiến phát ong cho khoa học chiến đấu thì ít, mà mục tiêu bắn phá ngân sách thì vô địch, đi kèm nhồi sọ ngu dân.

Pháo xoắn được thực hiện những ngày cuối cùng của nòng đồng điếu đúc, nạp trước. Như các cối pháo Nga trước M1867=phiên bản nòng xoắn đầy đủ, như các model cối tầu thuỷ-bờ biển (cối ngang có giá, chức năng tương dương hải pháo nòng dầy ngắn tũn lưng gù Paixhans Pháp Anh Mỹ) 1853..1857. Đạn có đúc sẵn gờ rãnh để khớp vào nòng khi nhồi miệng. Sau đó, các kiểu khoá nòng để nạp sau phát triển. Vấn đề độ bền với nòng pháo phức tạp hơn nhiều với súng trường. Ban đầu, gờ xoắn hẹp cho dễ nạp, người ta dễ nhận thấy sự mài mòn theo chu vi và dần chuyển sang gờ xoắn rộng. Thêm nữa, yêu cầu độ bền đẻ ra kỹ thuật composite, đúc đoạn dầy của pháo bằng 2 lớp mà ngày nay vẫn dùng. Ngày đó, kỹ thuật 2 lớp này cho phép làm kim loại cứng chịu mài mòn, nhưng kém áp lực, như gang xám đúc, ở trong nòng, nòng kiểu đó cũng thuận lợi cho cắt gọt. Cấu tạo trong gang ngoài đồng còn tồn tại đến MLE 1897 75mm, ở các véc xi ông đầu tiên, mà quân ta vẫn dùng trong Kháng Chiến. Đến cối Nga model 1867 thì nòng pháo hiện đại đã đầy đủ như ngày nay, tuy đạn, thuốc, giá...còn lâu. Cũng giai đoạn đó, như cái MLE 1870 240mm trong Bảo Tàng Quân Sự, Phú Lãng Sa cũng có xoắn như vậy, nhưng vẫn là cái nòng khủng bố chưa composite.
http://vndefence.info/modules.php?name=Forums&file=viewtopic&p=55518#55518

xoắn ban đầu
http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/7/7a/Six-duim_mortar.JPG

và đã hiện đại hoá để chống mòn theo chu vi, cũng như cho gia tốc đạn lớn
http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/6/61/Eight-duim_mortar.JPG


Thời hiện đại, đạn pháo thường có đai đồng, đai này được các gờ xoắn cắt tạo xoắn và chèn kín nòng mòn, chứ không dùng kỹ thuật nở đầu đạn như đạn viên của súng bắn đạn viên.


Whitworth là kiểu đa giác Anh Mỹ. Còn La Hitte system 1858 thì siêu quái thai lai đa giác với rãnh xoắn. Cũng như Henry, dùng trên súng trường Martini-Henry Anh = lai đa giác với gờ tam giác để dùng đạn đai lõm đuôi như Miniê, được sản xuất đến 189x. Miễn bình luận, chỉ có một câu duy nhất là quái thai. Chúng không tuân theo các quy luật chống mài mòn, mà tuân theo các quy luật nhồi sọ liệt não, ngu dân toàn quốc, để nhồi kỹ thuật lởm mà các hãng thối não dùng. Đang chú ý, các đời cuối đồng đuc và nạp miệng ở Mỹ Pháp đã tuân theo gờ rãnh chữ nhật đúng đắn ? trước khi chính phủ nhục nhã bên Pháp và sau là Mỹ được lái súng lởm Anh Quốc nhồi sọ.

?? quá dễ để giải thích, điều này cũng như súng trường Colt revolver mới là xịn, còn Dreyse M1841 là yếu, là lởm. Hay Miniê nạp miệng mới đáng tự hào, M184 đáng khinh vì không làm xiếc nạp vỏ đằng miệng được. Miniê và súng trường Colt revolver đều là các thương hiệu danh tiếng của nội chiến Mỹ, và sản xuất ở Mỹ sau đó, cũng như Whitworth. Các súng trường trên thì thiếu cái lò xo "mỳ" để làm búa thẳng, thời đại búa còn to, còn ảnh hưởng nhiều đến đường đạn, và thiếu luôn cả trình cắt gọt để M1867 hoán cải bằng đồng. Whitworth thì dùng dao phẳng, dao dạng mài giũa, cả rãnh chữ nhật cũng vậy, nhưng làm mặt giũa phằng hay đá mài phẳng quá dễ so với giũa có mặt cong. Thế thôi, đại dịch ngu si lan truyền, cho đến vội vàng copy MP28/I năm 1923 thành Stel mà cũng không đủ, lại khối lùi đúc đồng của WW2.

Sự ngớ ngẩn đến hài hước khi đạn Miniê dùng cho .... pháo trong nội chiến Mỹ. Mèo Hoang thần tượng cái Miniê vui quá. Pháo lục quân trong Nội chiến Mỹ tiến bộ vượt bậc, vì chiến tranh đang trong lúc giao thời, và có rất nhiều giải pháp tốt xấu được đem đến từ châu Âu. Parrott dân chuyenr thành kiểu rãnh chữ nhật, ban đầu cũng là đúc nhồi miệng, dùng đạn "Miniê cho pháo". Nhưng rồi, cái đai Miniê đúc sau viên đạn theo kinh nghiệm sử dụng biến thành cái đai đồng ngày nay, tuy rằng vẫn ở cuối cùng của viên đạn chứ không ở trọng tâm, cái đai ấy ban đầu được gọi là guốc.

HOTCHKISS là hãng đạn pháo áp dụng đai đồng trên lưng ngày nay trong Nội Chiến Mỹ, nhưng lại là gờ xoắn hẹp đúc. Cũng trong nội chiến này, "đạn dài có cánh đuôi" xuất hiện, "cánh đuôi" đơn giản chỉ là kéo dài ống rỗng nhẹ đựng thuốc, còn đầu là gang đặc.


Whitworth là kiểu pháo áp dụng kỹ thuật gia công hiện đại nhất Nội chiến Mỹ. Pháo có nạp sau, bịt dáy nòng ren xoáy, xoắn không đúc mà là xoắn cắt gọt. Tuy vậy, nó điển hình cho hiện tượng nhồi hàng lởm, kết hợp quảng cáo nhồi sọ, đút lót thành bán hàng lởm giá cao. Tất cả các giải pháp áp dụng cắt gọt hiện đại của Whitworth ngày nay có lẽ bò ra cười. Đã nói trên, pháo có nòng đa giác, đạn lại đa giác đúc không đai không nở, tức là rất kém chính xác, và làm vô dụng cái kỹ thuật cắt gọt chính xác. Ban đầu, nòng đa giác đúc nạp miệng, nhưng sau này pháo cắt gọt và đắt nhất nội chiến Mỹ, nhưng vẫn không có giải pháp kín nòng nào, thua xa các đồ cổ như Miniê mặc váy Parrott. Cái khoá nòng của nó là ren xoáy, nhưng không xoáy ốc là khoá nòng vào bu lông là nòng như ngày nay, mà ngược lại, bịt đáy nòng như cái mũ chụp vào nòng, nòng được ren bên ngoài, có lẽ, không cần lớn lắm cũng đủ biết cái bịt đáy nòng mũ ngoài ấy to nặng và yếu thế nào so với cắm trong, cứ gọi là bịt đáy nòng cái. Tập hợp những ngớ ngẩn ấy trong món thầu cắt gọt quý giá, kỹ nghệ rửa tiền lộ liễu này vớ bở trong chiến tranh và vẫn phát rồ quy mô lớn đến ngày nay.


---------------



Xoắn chữ nhật ngày nay và đa giác lởm khởm Nội Chiến Mỹ


Từ hồi đồng điếu, Pháp đã có phương án đung, nhưng cái triều đình bán chịu nước non cho ngoại bang thì có một tỷ cách xoắn


Hiện đại, nòng pháo tăng Anh Quốc


Đạn pháo 122 Liên Xô-Nga đã bắn và một số đạn pháo chưa bắn



152mm M30
http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/f/fc/M10_helsinki_3.jpg

song song với việc sử dụng lõm đuôi, Kammerlader nạp sau sử dụng đai , vì nạp sau nên không có đai như Miniê. Đai Kammerlader phiên bản 1849 rộng, dẹt, nhờ vậy dễ được cắt vởi xoắn và xòe ra kín khít. Một phiên bản đạn M1849 không có lõm đuôi như đai như vậy, thủy tổ của đạn pháo ngày nay.



Hiện đại, 2 đạn Mauser Mosin bên phải, đạn Lebel Pháp bên trái đã mất các kỹ thuật học mót Đông Âu . Đạn Pháp sau thời gian Miniê đã mất các kỹ thuật nghiên cứu ngay từ MLE 1866= mất cái lõm đuôi, vì lúc đó, Phua Lãng Sa nghe hơi nồi chõ các dự định và nghiên cứu chưa thử nghiệm kỹ, cũng như chỉ nghe hơi nồi chõ được dăm chiện tán nhảm về những súng giải pháp mới đang phát triển.


Trình diễn 3D nòng Mosin
http://7.62x54r.net/MosinID/MosinBarrel.htm
http://sketchup.google.com/3dwarehouse/details?mid=ba6903bd7fc420d0c7d00c29d97b78a9

kích cỡ nòng đạn Mosin (AK 7,62 mm cũng vậy). Có 4 gờ, gờ rất rộng nên chống mòn theo chu vi bền. Nhiều súng hiện đại có thiết kế đường đạn không chuẩn, phải làm nhiều gờ, gờ hẹp, kém bền. Nếu không đủ gờ theo yêu cầu đường đạn thì đạn sẽ tuột vỏ.
http://7.62x54r.net/MosinID/MosinSpec.htm
http://7.62x54r.net/MosinID/MosinUpdate.htm



Dao hiện đại và máy ép dùng cho súng bắn đạn viên, dao thường được đẩy.


Đạn bắn từ nòng xoắn


Cổ
Thời Napoleon, cạc bin thử nghiệm Lepage 1800. Phương án này rất chuẩn cho MLE 1831


Súng trường trợ chiến 21mm MLE 1831


Gras MLE 1874 Pháp


dao dài, thò cán ra hai đầu, lưỡi nửa dao nửa giũa, gia công Dreyse M1841 Súng Mỳ, có 4 rãnh chữ nhật rất tiến bộ


Một số dao đóng xoắn áp lực, cả tam giác và chữ nhật, cùng máy ép






Lưỡi dao kéo cắt gọt xoắn chữ nhật và máy, Springfield Mỹ, M1861



Máy chuốt rãnh xoắn sau này dùng dao kéo


Cũng năm đó, Mỹ chuyển từ khoan đứng dùng trọn vật để ổn định lực ép (giống người Mèo ta), sang khoan máy công nghiệp. Lưỡi dao khoan mới, súng để khoan thô, sau đó là lưỡi tiện chuốt tinh. Sao có hai cái lỗ bơm dầu làm mát


http://www.quackenbushairguns.com/Airgun_barrels.htm



đạn Girdled và súng trường Brunswick nặp miệng đầu tk19, đạn hình cầu có đai, nòng 2 rãnh đóng, cỡ nòng ".704" = 17,8 mm, hay gọi là cỡ Anh 18mm. Royal Small Arms Factory at Enfield. Giao hàng 1836, cộng khoảng ngàn khẩu, tồn kho và dùng đến 50 năm sau với tiếng tăm lừng lẫy là khó nhồi, đây là đạn dập khuôn theo các mô tả nge gơi nồi chõ Augustin Kutter ở Nuremberg, chết năm 1630, được trình bầy bởi nhà toán học Anh Benjamin Robins, chết 1751 , trong cuốn sách "New Principles of Gunnery" xuất bản 1742. Rõ ràng, người ta không hề thực tế hóa tí tị tì ti nào, tức không hề nghiên cứu thử nghiệm, và rất nhiều lợn nói bác học chỉ nói phét ở đây. Việc của các lớp lợn, lợn không làm, rồi chửi bác học, điều này được các đại cách mạng văn hóa vô sản tận dụng triệt để trong tiến trình xây dựng sức mạnh cho các đạo quân liệt não chó dại.







Đạn lõm đuôi nở ra, cọ đai vào xoắn, kín và khít.


Ở đây, mình minh họa cho hiện tượng các ngu dân cắp vặt não trẻ em, ăn cắp vặt từng mẩu một, nhưng quy mô lớn ở mọi nơi mọi lúc và làm khối trẻ em mất sạch não, các bạn có thể search URL=http://www.google.com.vn/search?hl=vi&source=hp&q=%22Minie+ball%22&meta=&aq=f&aqi=&aql=&oq=&gs_rfai=]"Minie ball"[/URL] để kiểm tra.
Đạn có nguyên tắc nở này đung rộng rãi ở Đông Âu, ví như Kammerlader-1842 của Na Uy, Dreyse M1841 ban đầu không dùng cái lõm này vì đó là chỗ hạt nổ, nhưng ngay sau đó kinh nghiệm sử dụng đẻ ra cái đế gỗ của hạt nổ, dùng đạn nào cũng được.
Hình này chú thích là phát minh của Miniê đúng,, nhưng nói Mini ê phát minh là cái lõm là lừa đảo, đây là điều ngớ ngẩn, Miniê trình bầy mẫu đạn của mình 1849, và là đạn dành cho súng xoắn nhưng nạp miệng. Cái phát minh của Miniê không phải là cái lõm nở đã được dùng phổ thông, mà là cái đai có dốc thoai thoải về sau, để dễ nhồi miệng. Trong các phiên bản sau, Miniê có thay đổi để dùng gờ chữ nhật, xem phần Miniê.
Như vậy, một thằng thợ rửa ô tô chỉ: tao làm ra cái ô tô này !!! chiện ăn cắp này được khếch đại bởi ngu dân liệt não Pháp Mỹ 185x, 186x, nhằm bán súng nhồi miệng đã quá lạc hậu. Chiện này là anh em của cái quảng cáo đạn có vỏ làm xiếc chui đằng miệng.



Đạn Miniê ? là loại đạn chỉ dành cho phương án củ chuối xoắn nạp miệng, đây là phương án bán đầu cho tam giác, còn chữ nhật thì xem trong ảnh post dưới. Bản thân cái súng xoắn nạp miệng đã là nhồi sọi liệt não để nhồi ngân sách súng lởm. Chính vì thế, Miniê được quảng cáo một cách nhồi sọ ngớ ngẩn



Sau khi phát triển, đạn Miniê dùng cho rãnh chữ nhật quá mỏng và vỡ thế này, model 1857 dùng cho "xoắn chữ nhật nạp miệng"



La Hitte system = hệ thống tiêu chuẩn quốc gia, 1858, Phú Lãng Sa, giống như Brunswick dở người trên, gọi là cải lùi thời bán nước liếm ngoại bang. Một phương pháo trả tiền thanh toán nước non bán chịu là Pháp dùng các license Anh, phá hủy khoa học, tất nhiên, Buốc Bông bán nước đi kèm ngu dân và liệt não, xuất khẩu nguyên si công nghệ bán chịu nước non cho Nhà Nguyễn. Cái ngợm này có cả xoắn đa giác và rãnh, lợn sống chung với khoa học.




Cải lùi 1860








đa giác nạp miệng


Henri Anh, gia công phức tạp, nhanh mòn, cố... dùng đạn lõm đuôi cho nạp sau


===========================
_________________
http://sites.google.com/site/huyphuc1981nb/thu_muc


Được sửa chữa bởi huyphuc1981_nb ngày 24.09.2010, sửa lần 31
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn  

huyphuc1981_nb
Thượng úy
Thượng úy


Ngày tham gia: 20/05/2007
Bài gửi: 510

Bài gửigửi: 13.09.2010    Tiêu đề: Ảnh xoắn Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

"New Principles of Gunnery" bản xài chùa

http://books.google.com.vn/books?id=3j8FAAAAMAAJ&printsec=frontcover&dq=%22New+Principles+of+Gunnery%22&source=bl&ots=Y4RO_whY98&sig=xjWuzpS123EZqZMx_R8hTnwUIHo&hl=vi&ei=CHuQTImxH4W4ceXFgfoM&sa=X&oi=book_result&ct=result&resnum=1&ved=0CBsQ6AEwAA#v=onepage&q&f=false


Các giải pháp xoắn khác nhau được tập trung đến Nội Chiến Mỹ

Springfield, máy công nghiệp, cái máy sẽ đẩy dao có dạng giũa chạy đi chạy lại



1861


Khẩu súng ngắn của Henry Deringer, Booth dùng bắn Lincon.















http://www.cwreplicas.com/data.html























====================









Miniê
150 năm nay, liệt não các giống tung hô rằng, vào năm 1849, cái ông Claude Etienne Minié chế ra cái lõm đuôi của đạn Kammendaler 1842.
http://fr.wikipedia.org/wiki/Balle_Mini%C3%A9
http://en.wikipedia.org/wiki/Mini%C3%A9_ball
http://www.google.com.vn/search?hl=vi&client=firefox-a&hs=hdS&rls=org.mozilla%3Aen-US%3Aofficial&q=Minie+ball&aq=f&aqi=g10&aql=&oq=&gs_rfai=

vả mõm 150 năm sủa ổng cái


Thực chất, nòng xoắn, và các giải pháp của nó như gờ rãnh chữ nhật, lõm đuôi, đai... đã được dùng từ hàng tk và không tự nhiên Dreyse M1841 hay Kammerdaler M1842 nghĩ ra điều đó, lập tức áp dụng đại trà (Dreyse M1841 ban đầu không lõm đuôi vì vị trí hạt nổ thì mình đã nói). Ngay ở nước Pháp, cạc bin tige cũng đã có ý định làm đạn nở, nhưng ngu ngốc là bằng ấn que thông nòng, trong khi không ấn thì khí thuốc có lực ép hàng tấn. Miniê đã có công lý giải nguyên tắc của lõm đuôi đầu đạn và truyền bá ở Pháp-Mỹ, được lợi dụng để tuyên truyền kiểu nhồi sọ liệt não cho những súng xoắn nạp miệng quá lạc hậu, Mle 1857 hay Spingfield M1861.

Thực chất, công của Miniê chỉ là giới hạn cải tiến các đai bên ngoài đạn, để thuận tiện cho giải pháp ngu si là xoắn nhưng làm xiếc đi đằng miệng. Một tuyên truyền kiểu nhồi sọ đến nay nghe phát ọe là đạn súng trường có vỏ nhưng nhồi miệng-như thế sẽ có tốc độ bắn và độ chính xác không kém gì Dreyse M1841, với hiệu quả kín khí và sơ tốc vượt trội. Ban đầu, Miniê có các đai tiết diện tam giác với dốc thoải về phía sau cho rãnh tam giác, sau này cải thành đai hình thang có mặt phẳng cho rãnh chữ nhật.





Như mỉnh nói trên, có hai điều

Một là, không có ai xưng chế ra nòng xoắn cả. Càng ở những nước ngu si như dân nói tiếng Anh, càng có nhiều lợn xưng là bố mẹ chúng là người đầu tiên hay thứ nhì làm ra nạp sau nòng xoắn, và nhồi sọ được khối liệt não bập bẹ đọc tiếng Anh chữ tác chữ tộ. Nòng xoắn và nạp sau được dùng từ lâu. Riêng nòng xoắn nạp miệng, nó cơ ưu thế vượt trội về độ chính xác, so với súng nòng trơn có tầm bắn chính xác, từ bắn trung bia hình người, không đến 50 mét, thì những súng nòng xoắn cùng lớp với các súng trường quân dụng, như MLE 1714 - MLE 1757, cho độ chính xác cao vọt, tầm bắn hiệu quả ít nhất đạt 100 mét và nhiều khẩu đạt 150 mét. Súng nòng xoắn nạp miệng tốc độ bắn rất chậm, nên không được dùng trong quân chính quy, nhưng lại là ưu thế tuyệt đối khi làm súng săn. Thêm nữa, nòng súng quân dụng quá dài để làm cán lê, còn các súng cạc bin đi săn thì dễ làm xoắn hơn nhiều. Lại thêm nữa, đồ này là đồ quý tộc, không thiếu tiền và sách, nên không có chuyện trong 300 năm không có ông nửa Đông Ky Sốt nào hâm lên bán lâu đài làm súng xoắn.

Lịch sử cũng gi lại đầy đủ, châu Âu biết đến súng xoắn từ đường Địa Trung Hải, châu Á, và ít nhất là 1520, chỉ có điều dân nói tiếng Anh rất ngu ngoại ngữ, không đọc tiếng Đức, Ý, và đặc biệt là Thổ Nhĩ Kỳ, Ả Rập, hàng ty tỷ thứ tiếng Ấn Độ, rất nhiều tri thức. Cũng giống như cách đây 65 năm, hầu như không người Âu nào biết Việt nam nằm ngoài đế chế Mông Cổ, và cả châu Âu khâm phục duy nhất có Nhật Bản thoát ách này, mặc dù, Nhật bản chỉ ăn may được cái Thần Phong nó cứu.



Hai là. cái ông Claude Etienne Minié không hề phát kiến phát ong ra cái gì, mà chỉ được các ngu dân liệt não ở Pháp, Mỹ, mượn tên quảng cáo kiểu nhồi sọ, để bán các súng đã quá lạc hậu so với các súng Đông Âu trong thập niên 186x. Loại đạn của ông này có đầy toét trước đó. Hầu hết các nỗ lực Pháp được ghi lại là của các sỹ quan, nhưng chúng ta quá hiểu, các kiểu đạn xoắn có từ lâu, chỉ thỉnh thoảng, khi nòng xoắn đã nhiều, thì có ông sỹ quan này nọ tự dưng nhìn thấy súng săn nào đó, và thử các phương án.

Cái Miniê hay được quảng cáo, là cái lõm đuôi đã được phổ thông từ lâu, cái duy nhất Miniê cải tiến là cái đai, có đời dốc thoai thoải về sau với tiết diện tam giác sắc để tiện nạp miệng rãnh xoắn tam giác. Và cải tiến 185x-1867 có mặt chu vi phẳng để trượt trên ... chữ nhật. Các phiên bản dùng đạn Miniê có rãnh chữ nhật như Springfield model 1861 được quảng cáo là dùng được cả vỏ đạn, vỏ đạn làm xiếc nhồi miệng mà không rách như tam giác. Phần dưới mình đã mô tả, lại nhồi sọ những đứa ngu nhất, đến nòng trơn người ta cũng không dám nhồi vỏ đằng miệng.

Bản thân các xoắn nhồi miệng là súng rất lởm, chỉ nên dùng dân sự, đi săn, vì khi mòn mẻ, đạn méo... thì xác suất tắc đạn không thể sửa được ngoài trận là rất lớn. Và việc chúng quá lạc hậu so với Dreyse M1841 đã là sự ngu dân, cái Miniê cũng chỉ là chiêu thức để ngu dân mà thôi.

Ngu si đến mức dùng xoắn chưa nhật để nạp miệng, làm mất các gờ tam giác sắc cắt đạn Miniê, cũng như pháo Whitworth cắt gọt bên ngoài nhưng đúc đa giác bên trong, mua máy hiện đại châu Âu về để làm đồ lởm. Chính vì thế, rất nhiều bản M1861 Springfield và các súng cùng đời, cùng loại đạn, có nòng trơn đến nay, vì người ta sẽ thích trơn hay cùng lắm là tự đõng rãnh tam giác.





http://www.littlegun.be/arme%20francaise/collection%20fusils/a%20a%20coll%20fusil%20evolution%20projectiles%20fr.htm

Delvigne dùng buồng đốt nhỏ hơn nòng như Thiên Tự Hồ Nguyên Trừng, dùng que thong nòng và lính siêu nhân tống cho đạn chì bẹp ra để khít vào xoắn, phương án này dùng que thông nòng khá nặng.

tige dùng buồng đốt hình khuyên, cọc thép ở giữa cùng với que thông nòng cũng tông bẹp đạn ra. Dĩ nhiên, khi cái cọc thép này mẻ hay que thông nòng nặng bị rơi mất, người ta sẽ phát minh ra một thứ, đó là chả cần tông và không cần cái cọc cho con ếch nó ngồi, thế là có đạn Miniê MLE 1867, tự áp lực đạn sẽ làm đạn nở ra. Thêm một phát minh nữa cho các liệt não, sau khi quay về như cũ, thì nó giống đạn Kammerlader 1942 và trước đó mẫu đạn do Newton dùng khoảng đầu tk19. Đại khái, đó là các đạn dùng trong súng săn từ lâu, khi mới dùng cho súng chiến, người ta gặp một vài khó khăn và loay hoay hoán chuyển cho đến khi lại ... về như cũ. Thực chất, khi chuyển từ săn sang chiến, cạc bin săn sói săn thỏ sang ống cán giáo giáp là cà dài, thi vẫn đề tốc độ bắn được đặt ra, và chỉ có mỗi cách là mém cái ý tưởng súng chiến xoắn nạp miệng của ông Miniê đi, nó quá dở người. Hết trò.





Dreyse M1841 ban đầu không dùng được đầu đạn lõm đuôi vì nó đặt hạt nổ chính chỗ lõm đó, nhưng vào năm 1849, khi Miniê mới khoe khoang, còn chưa cải lùi lại cho đúng phóc Kammerlader, thì Dreyse M1841 đã kiếm được cái đệm gỗ và dùng đạn lõm đuôi rồi. Thêm nữa, cái đệm gỗ của M1841 Dreyse chính là Mộc Mã Tử của Thiên Tự Hồ Nguyên Trừng.

Đạn Miniê dùng cho tabatière système 1867 cũng giống như Krnka Nga, lõm rất sâu và đệm giấy vụn vào đó, không như đạn của Kammerlader có mặt cắt lõm hình tam giác đều, Miniê cũng dùng mặt cắt đó cho một số thiết kế khác. Tất cả các đạn quá lõm đến rỗng giữa đó chỉ thích hợp với súng hoán cải khai hậu, hay súng nạp sau đợt đầu=chưa có nghiên cứu kỹ như Kammerlader và Dreyse M1841, chúng có đường kính nòng lớn. Đến đợt đạn sau 11mm thì đã thành đạn lõm đuôi nông ở Berdan và I.G.71. Người Pháp bắt chước Đông Âu một cách ngu ngốc, đã bỏ lõm đuôi đi ở Gras và Chassepot, nguyên nhân ? không thể làm lỗ rỗng độn giấy được nữa. Cái điểm này Mèo Hoang học lại cho đến nay, trong khi vẫn ngu si vỗ ngực với cái tên ma nơ canh ngoại nhập Hiram Berdan.

Chúng ta cũng đã biết, cho đến Mauser, Mosin, AK 7,62 và AK 5,45, đầu đạn hiện đại, tất nhiên hiện đại của nước khôn, vẫn theo cái lõm đuôi nông của Berdan được miêu tả trong Lịch Sử Súng Trường của Fedorov. Thuật nở bịt kín nòng và ép sát vào xoắn của nó không còn như cũ, trong khi cái đuôi bịt kín khí bởi lõm nông, thì quán tính đầu đạn kết hợp với cái lõm, đệm mềm ở vỏ đầu đạn, làm đầu đạn ngắn lại và bị ép phình ra khi có gia tốc lớn. Có một điều rất hài hước, và có lẽ là đương nhiên với sự ngu si, vào thời Gras, đầu đạn chì rất mềm, gia tốc Gras lại vượt trội các đạn nòng to trước đó, nên Gras vẫn phình ít nhiều và có tác dụng với cac điều iện bắn thuận lợi, trong khi đó, Gras và Chassepot dùng cái váy của đạn pháo Parrott thời Nội Chiến Mỹ, và tự hào là váy rất đắc dụng. Của đáng tội, cái điều này không cần phải quá tinh mắt để nhìn thấy đạn Gras mài lưng, chứ không mài váy vào rãnh xoắn, và điều này loè bịp những ai thì chúng ta biết, ngoài cái triều đình thối sạch sành sanh não thì còn có ai nữa. (Tớ mất 4 nghẽn mới được chiêm ngưỡng 1 viên Gras bắn rồi).

Phát minh của Miniê khởi xướng từ 1849 và hoàn thành 1867 nó như thế. Cái hiện tượng copy một cách ngu ngốc, rồi được sơn son thếp vàng quảng cáo kiểu nhồi sọ, để bán súng lởm... có nhiều điển hình, và nhà phát minh Claude Etienne Minié là như thế. Ông ta phát minh ra cái gì ? súng nạp trước nòng xoắn sau Dreyse M1841 bao nhiêu năm ? và chính cái nước Pháp cũng chán không hoán cải theo ông ta. Thực chất, các kế hoạch hoán cải nạp miệng xoắn như 1857 đã không được thực hiện, còn tabatière système 1867 thì chúng ta biết rồi, nó không nạp miệng Miniê, mà là khai hậu, và là đồ hoán cải lạc hậu, đường kính quá lớn nên quá tệ, không có gì để khoe khoang với các súng 25 năm trước cả.

Môt điều cực kỳ ngu si nữa, cũng hạng giòi bọ sống bám vào công nghiệp nhồi sọ liệt não, là các súng kiểu Miniê làm ở Mèo Hoang dốt nát. Ví dụ, SpringField model 1861. Nó không làm được khoá nòng xoay, không có "lò xo mỳ" cho búa dọc ?? à, nhưng mà gờ chữ nhật tốt, lâu mòn, máy thì ta mới tậu ? à, nhưng đạn Miniê nạp miệng tốt ?? thế là, M1861 dùng đạn Miniê cho gờ chữ nhật. Chắc không cần thông minh quá để hiểu, cái gờ tam giác nó cắt đai đạn , còn cái gờ chữ nhật nó miết chặt đạn lại. Tất nhiên, với đạn quảng cáo, nòng mới, thì các vấn đề sẽ khác đạn xạ tủ tự đúc, nòng mẻ...Thế là, rất nhiều bản M1861 lại cải lùi nòng trơn còn nòng cho đến nay, để xạ thủ mua dao dạng button bên Phổ xuất sang, tự đóng rãnh tam giác cho... lành, tránh xa kỹ thuật cao, máy công nghiệp mới tậu SpringField .








MLE 1866 Chassepot và sau đó là MLE 1874 Gras đã ngu ngốc không còn lõm đuôi, mà làm đai như pháo ngày nay.



Mini ê cho súng xoắn nạp trước có đường kính lớn, dùng nòng nạp trước cũ hoán cải, đạn có lỗ tâm lớn cho nhẹ và lèn đầy giấy vụn. Dốc thoai thoải hướng về sau để dễ ấn đạn vào, Miniê thiết kế ra các kiểu vỏ ngoài đạn khác nhau. Nòng Anh Pháp 18mm quá khủng nên thích dùng đầu đạn kiểu này.
Đấy là nguyên tắc chung của đạn Miniê. Nhưng điều đáng chú ý là, những hình như cái nhồi sọ này khẳng định Miniê phát minh ra đuôi lõm của Kammerlader-1842, ăn cắp vặt não trẻ em quy mô lớn . Trong khi, cái phát minh của Miniê chỉ là các gờ đai bao quanh đạn phục vụ súng lởm nhồi sọ, xoắn nhưng nạp miệng các kiểu.


Với đầu đạn nặng hơn hay cỡ nòng nhỏ hơn, dùng lõm tam giác như Kammerlader 1942


đạn có vỏ nạp miệng






















Miniê cải sang xoắn chữ nhật những vẫn nạp miệng như Springfield model 1861. Lỗ to ra, vỏ mỏng, thành không đai tam giác mà đai phẳng để dễ trượt hơn trên mặt rãnh chữ nhật. Hài nữa là đến tận năm 1867, cùng với khai hậu tabatière système 1867 và modèle 1866 Chassepot. Bại trận mới không phải là lạ.


vỏ mỏng, đạn vỡ toác


Springfield model 1861. http://www.auctionarms.com/closed/displayitem.cfm?itemnum=9183522.0




Làm xiếc, chui vỏ qua miệng. Giải pháp này mang đậm tính quảng cáo, không ứng dụng thực tế, vì xác suất không nổ cao, yêu cầu hạt nổ ở xa đủ mạnh đâm thủng vỏ đạn. Đến đoạn quảng cáo như thế này thì quá thối, lợn các giống muốn rằng cũng như Dreyse M1841.
ngày nay thì chỉ có chút tư cách người ta cũng buộc phải ọe vào điều đó, tốc độ vẫn 3 phát / phút http://armesfrancaises.free.fr/fusil%20d%27infanterie%20Mle%201857.html

http://www.cwreenactors.com/~sykes/equipment/accoutrements.php




================
_________________
http://sites.google.com/site/huyphuc1981nb/thu_muc


Được sửa chữa bởi huyphuc1981_nb ngày 24.09.2010, sửa lần 18
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn  

huyphuc1981_nb
Thượng úy
Thượng úy


Ngày tham gia: 20/05/2007
Bài gửi: 510

Bài gửigửi: 13.09.2010    Tiêu đề: Ảnh các hỏa thằng so với Nguyễn Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

15-7
Vội vàng bán nước từng mẩu, kiệt quệ ngân sách, rồi bán từng mảng, và bán hết

M1777 là model phổ biến ở Nhà Nguyễn, nhưng rất ít, quân kiêu binh ở kinh thành chỉ có như thế này : "Mỗi đội 50 lính thì chỉ có 5 người có súng điểu thương, mỗi người chỉ được bắn có 6 phát mà thôi"
...
bắn xa độ 250 đến 300 thước là cùng.
,
Cần nhớ rằng, bắn xa là cùng đây là tầm bắn sát thương, xuyên 5cm gỗ linh sam. Còn tầm bắn hiệu quả rất thấp, dưới 50 mét, thậm chí dưới rất nhiều 50 mét, nhưng không tính nữa. Súng nòng trơn bắn đạn bé hơn cỡ nòng được như thế là may mắn rồi, chúng ta biết, loại súng ngắn Mỹ như Thompson SMG có sơ tốc tương tự, nòng xoắn đàng hoàng, đạn khít khìn khịt, cũng có tầm bắn hiệu quả chưa đến 50 mét.

Với tầm bắn hiệu quả thấp như thế, chiến thuật của Napoleon vẫn là dàn hàng ngang các khối quân chữ nhật, luân hàng, phía sau nạp đạn, phía trước bắn, và lê là cái không thể thiếu , để khi xung phong thay giáo, do lúc đó không thể nạp đạn bắn kịp được. Dĩ nhiên, với tầm bắn và tốc độ bắn như thế, thì cái chiến thuật biển người đều bước này cần rất nhiều lựu pháo, pháo bắn đạn ria, súng cối rẻ tiền.... các cỡ. Pháo là pháo dã chiến, cối là cối hộ thành, cũng như phải dùng nhiều trái phá sát thương như Brodino. Thế nhưng, nhà Nguyễn hoàn toàn không có, cối hầu như không có, chỉ có một vài khẩu cối bắn ngang = tương đương chức năng của Carronnade Anh Quốc, nhưng Pháp làm, đúc đồng. Pháo toàn bắn đạn đặc, đạn đá.... vì hầu hết pháo nhà Nguyễn là mua thải hay sao chép lại một cách ngu ngốc pháo Ship Of The Line, sau đó là pháo Miền Nam Mỹ bán thải sau nội chiến Mỹ. Chúng ta sẽ đề cập sau về loại pháo này, suốt 1 tk 17, Anh Pháp Tây Ban Nha đã tích lũy 3 hạm đội lớn nhất thế giới, rồi đột ngột được Horatio Nelson chứng minh là lởm vô dụng 1805, và bán thải ồ ạt sau chiến tranh Napoleon, với con số hàng vạn khẩu, đi khắp các xứ ngu hèn. Cũng như vậy, điều kiện đồng nước rừng núi Việt Nam không có bãi đồng cỏ Brodino để biển người Napoleon đi đều bước, nên gươm giáo vẫn rất mạnh so với súng lởm đó.

Điều kiện để chế súng tốt ? thật nhục nhã , lúc đó Việt Nam có đủ. Còn quân các nơi thì chỉ có hỏa thằng câu thương kiểu nhà Thanh. Nhà Nguyễn là triều đình ươn hèn cá thối nhất của Đại Cồ Vịt. Xin sử thanh, về bịa đặt hoàn toàn một cách hèn hạ để dèm Hồ Nguyên Trừng, bịa nguyên ra đoạn gia đình ông bị giết, bị cực hình trong Khâm Giám, Tiếp theo, không làm được luật, định nhai lại luật Hồng Đức, nhưng quá khoai, bớt xén, rồi lại xin luật Thanh về. Súng cũng vậy, lại xin mẫu hỏa thằng câu thương tk16 đã quá lạc hậu vè làm súng trường chủ lực. Chỉ một chút có máy flint lock, được Nguyễn gọi là "thạch cơ điểu thương", thì cũng đã quá mạt. Đến thời Tự Đức, lâu rồi PHú Lãng Sa không sản xuất flint lock, thì mới mày mò tự làm được.

Cũng không thấy sử ghi nhà Nguyễn khoan nòng, chỉ thấy ghi đúc những "súng cựa gà , súng mãng , súng tự mẫu , súng chụ , sung bảo lân."... lởm khởm, là các súng nòng đúc trợ chiến, nặng nề, như loại pháo nhỏ lạc hậu bắnchậm và yếu. Điều này cho thấy, nhà Nguyễn cá thối đã bán nước từng mẩu ngay khi có chính quyền, bán nguồn cung máy cò cho Pháp, nguồn cung nòng khoan cho Tầu, mua về với giá rất cao, được một dúm súng lơm lởm và kiệt quệt ngân sách. Từ bán nước từng mẩu đó, phải bán từng mảng, và bán hết nhanh chóng.




Thuốc xấu
mỗi đội 50 lính thì chỉ có 5 người có súng điểu thương, mỗi người chỉ được bắn có 6 phát mà thôi. Hễ ai bắn quá số ấy thì phải bồi thường. Đây là nói kiêu buinh chỉ ở Kinh Thành mới có.


Chúng ta đã biết, súng là loại hỏa khí yêu cầu thuốc nổ đen loại tốt nhất, thuốc nổ đen này không dùng xan-phết KNO3 thiên nhiên, cho dù có khai thác ở mở Jordan thượng hạng miền Địa Trung Hải.
http://vndefence.info/modules.php?name=Forums&file=viewtopic&p=54656#54656
http://vndefence.info/modules.php?name=Forums&file=viewtopic&p=55018#55018

Ở thời thuốc nổ yếu, súng chưa có, ví như Tích Lịch Pháo chỉ phun khói độc, mặc dù là một cái túi da to chứa đầy thuốc=đạn của máy bắn đá, hay súng nòng tre. Phương pháp kết tinh tinh thể to bằng cách làm khô rất chậm dung dịch cho ra KNO3 nguyên chất với năng suất rất chậm và chỉ có thể thực hiện đượcở khí hậu sa mạc, cho ra thời súng hiếm. Súng của nghĩa quân, sau là Minh Triều Hồng Vũ, nếu như nhồi thuốc của Thiên Tự Hồ Nguyên Trừng, thì nòng Thắng Tự Hồng Vũ nổ tan như lựu đạn chầy. Cho đến tk16, đạn "trọng bát tiền diên tử" 30 gram của Thiên Tự trung ương Minh Triều vẫn cấm chỉ dùng thuốc lởm địa phương và ngược lại, đến mức, mỗi đơn vị vài trăm người có 2 thứ thuốc.

Súng người Mèo có nòng rất dài và điểm hỏa tốt bằng kíp=hạt nổ ưu việt đặc biệt cho miền nóng ẩm, nên khắc phục được phần nào tính nổ yếu. Chúng ta đã biết, thuốc yếu mạnh không phải do nhồi nhiều ít, mà chí ít phải đảm bảo chúng cháy, với chất thuốc nổ đen, khi chúng cháy hết, thì dù ẩm mốc yếu thiếu thành phần, nó vẫn tỏa năng lượng như thế. Như vậy, cái nòng dài để đảm bảo thuốc xấu cháy hết, và cái kíp đánh lửa tin cậy, coi như khắc phục được phần lớn điều kiện thiếu thốn của người Mèo.

Sau thời súng hiếm, KNO3 được chế tạo bằng ủ phân động vật theo "Phương pháp Nga", hay khai thác mỏ, hay cả 2. Quan trọng là sau đó có các kỹ thuật trộn ủ, thắng, rây.

Trộn , ủ, là ủ phân động vật với các men cho giầu nitơ, trộn với tro trắng của cây cối cho giầu kali. Chất nitre (chất nhão dùng làm nguyên liệu tinh chế), dù là có nguồn gốc phân hay khóang, đều có nhiều thành phần Ca, Na, Cl, CO3.... lởm khởm rất nguy hại cho súng, cho đến hôm nay, phân KNO3 lởm hàng Tầu, dù đã tinh chế công nghiệp, vẫn chỉ có 60%, các chất đặc biệt nguy hại như Ca, Na, Cl sẽ làm biến chất thuốc đến mức không thể dùng được nữa, mặc dù chỉ lẫn tỷ lệ nhỏ. Thắng bằng tiết hay lòng trắng trứng, cho đến khi thật sạch. Rây là kết tinh, dung dịch đặc được rất trong phễu hơi xoáy nhẹ nước, tạo thành tinh thể kim, và tháo nước thừa đi. Phương pháp này cho ra sản lượng lớn KNO3 tốt, bất kể là nguồn gốc phân động vật tươi, đừng nói là phân dơi ủ kỹ trong hang núi=bằng thứ phân thượng hạng mà người Nga phải thay bằng phân ngựa->vẫn có pháo Nga tk18. Kỹ thuật tinh chế không cần mỏ xan phết tốt cho lắm, mà mỏ tốt ở Trung Đông chỉ có tác dụng phát triển súng thời gian đầu, khi kỹ tuật chưa tốt, và sau đó là làm thuốc vùng đó rẻ đi chút. Sản lượng KNO3 lớn là chìa khóa của thời kỳ súng phổ biến, Thiên Tự thành vũ khí chủ lực, thy cho thời súng hiếm, súng oai, súng chơi....


Như vậy, khái niệm thuốc tốt-xấu hoàn toàn còn phụ thuộc vào cấu tạo súng, kỹ thuật làm thuốc, chứ không như ông Tây nói là xan phết. Nhà Nguyễn không hề có kỹ thuật lọc thuốc, đáng ra, với kỹ thuật đó, thì phân dơi hang núi đã là thuốc tốt. Chúng ta biết, 5 tấn KNO3 là có 1 triệu phát bắn, đâu phải như ông tây nói thảm hại thế này .

Thuốc nội làm từ phân dơi đơn giản đến mức, chỉ hòa phân khô đã ủ tự nhiên trong chảo gang, lọc nước, rồi cô lại, đã hoàn toàn thất truyền kỹ thuật thời Lê và Tây Sơn. Còn Nhà Nguyễn mua xan phết nhập khẩu và giã, dùng tươi luôn, đó mới là nguyên nhân thuốc xấu. Còn trên đường biển, khắp Á Âu, đâu đâu cũng dùng thứ xan phết Jordan đó, cho đến hôm nay.






Máy lởm
Thực chất, flint lock vẫn dùng thuốc rời, ở xứ mưa ẩm nhà ta thì chất lượng chiến đấu cực tệ như dưới đây. Thiếu lò xo tốt, thì sẽ đanh lửa phát nổ phát xịt, nên người Nhật cương quyết không dùng đá lửa với lò xo đồng thau.

Cái thuốc lởm nhà ta, lại dùng máy đánh lửa ở xứ ít mưa ?, thuốc bột rời ? và thêm vào một đội quân vô kỷ luật, ưa nhậu nhẹt ? lại dùng đồ cũ thủng nát của Triều Đình tham nhũng từ xương tủy ? Cũng như báng Nhật và máy cò Tây Tạng, chứ không phải báng Tây Tạng và máy cò Nhật Bản.




http://vndefence.info/modules.php?name=Forums&file=viewtopic&p=54447#54447
Ở đây, mình đã đề cập rồi. chữ súng ban đầu là cái lỗ cán dao, sau chỉ súng. Năm 1352, nghĩa quân Miền Nam tầu nhặt được súng Triều Đình Nguyên, dùng, rồi nhái lại, nhưng không biết nhiều thứ, nên thất truyền nhiều kỹ thuật và cả cái tên súng. Nghĩa quân gọi súng là "giáolửa, tức "hỏa thương", 火槍. Chính vì thế, các nước Mông Cao Vịt Nhật.... đều dùng súng, mà nàh Minh thì truyền cho Thanh cái thất truyền là thương.


Nhà ta từ thời Lê, vẫn thừa kế từ thời Trần, khi ghi sử trang trọng thì gọi là pháo tuốt, to nhỏ lớn bé, có nòng phản lực, mìn súng tên lửa, đến đầu đạn bộc phá.... tuốt tuồn tuột đều là pháo. Nhà ta dùng chữ pháo chuẩn thời cổ, có bộ thạch, ví dụ, Cổn Dương Pháo trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư. Hay Bảo Lân Pháo trong Hoàng Lê NHất Thống Chí, bản dịch là súng Bảo Lân.

Cái lý đó thừa kế nhà Tống, Nguyên, như cái súng tre cầm tay, súng ngắn, là thủ pháo.


Đến nhà Nguyễn, lại đi ăn xin cái ngu si thất truyền, từ đó, gọi theo Thanh là .... thương chỉ súng cá nhân.

Cái triều lợn ấy không có khởi nghĩa liên miên ngay từ lúc lập quốc thì mới là cái sự lạ lùng, còn nó mất nước thì chả có gì phải ... thắc mắc.




Hỏa Thằng Câu Thương 火繩鉤槍
Đấy là súng quý hiếm đá lửa nhập khẩu Tây, còn loại súng chủ lực của nhà ta là loại... cả báng và máy cò cổ nhất quả đất. Nó là mồi thừng, nhưng là mồi thừng chưa bật, chưa Snapping. Cò cổ như thế, và báng cũng tk16 như thế. Tây Tạng tuy cô lập, nhưng cũng biết cải cái báng thành dài dài, chỉ giữ lại cái càng Minh. Nhật cải cò, Ấn Tạng cải báng, duy nhất có Thanh và Nguyễn như nhau, cò cũ báng cũ. Thật ra, vào tk18, thì vùng Ấn Độ đã tự chế flint lock gần như Tây rồi, chỉ là chưa có nhiều, nên vẫn tận dụng súng cũ thôi. 火繩鉤槍=hoả thằng câu thương.

Nên chú ý bức tranh này, vì nó rất giống súng chủ lực nhà Nguyễn. Đây là loại súng Minh Triều thiết kế và làm tk16, loại hỏa thằng câu thương có cò đơn giản, chưa có bật, tức loại serpentine matchlock chỉ có một lò xo lá yếu đẩy kẹp thừng ra xa cốc mồi mà châu Âu bỏ đi từ giữa tk16 ở Nam Đúc Nuremberg.
Chinese Soldier, by William Alexander, 1793
http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/8/8d/ChineseSoldierByWilliamAlexander1793.JPG


Technique du peuple Annamite
Tầu


và ta, trên khẩu súng là chữ "pháo thủ". Dễ thấy, cái báng súng trường quân sự của Nhật, người Mèo ta, Thanh, và chúng ta. Do kiêu binh cũng chỉ có rất ít súng, nên người cần súng là pháo thủ. Chữ pháo nhà ta dùng bản nguyên thuỷ, không bị biến thành bào chế như tiếng Tầu ngố, đại cách mạng văn hóa vô sản không nghỉ.
http://www.nomna.org/DVSKTT/dvsktt.php?IDcat=57


Cái này mình đã nói đến rồi, nay nhắc lại chút. Người tầu thường nói họ chế súng Tây sau tây Thảo Loan Chi Chiến 1520, người chế là Triệu Sỹ Trinh 赵士桢, có cả cuốn phóng tác "trung quốc hỏa khí sử" 中国火器史 có hình vẽ đáng tin cậy lắm lắm, tất nhiên là trừ liệt não Tầu thì người ta cũng thấy hình các ốc vít=đồ tiêu chuẩn của tk18-19 bên Tây, tất nhiên vẽ theo phong cách lợn Tầu, chứ không phải là phối cảnh.

Thực chất, kiểu súng nhà Minh tk16 rất giống các súng Ấn Độ, Đông Nam Á, Tây Tạng... trước 1530 thì súng có dáng báng dẹt nòng dài như hiện tại mới có ở Ấn Độ, còn khá lâu mới truyền vào Âu. Các thương lái người Âu, vừa đi vừa cướp, mang các súng đó đến Tầu và Nhật. Người Nhật đã cải thành bộ cò đồng, có bật Snapping matchlock. Còn Tầu thì vẫn là cái serpentine matchlock thêm lò xo, hơn cái serpentine nguyên thủy vì có cái lò xo giữ cho thừng mồi không gí sát vào cóc mồi lúc chưa bóp cò. Tuy cò khác, nhưng báng thì Tầu, Nhật và An Nam như nhau. Sau này, Ân Độ và Tây Tạng cải thành báng dài như Tây, còn Nhật Tầu An Nam vẫn như tk16.

Minh và càng, dùng đế đầu Thanh, Tây Tạng vẫn sản xuất súng này đầu tk20.


Tầu sau bỏ càng đi, dùng ốc vít như Tây, cuối Thanh. Cái tranh này "trung quốc hỏa khí sử" dám nói tk16, bên Tầu đông lợn thật. Đây chính là loại súng nhà Nguyễn, súng chủ lực, mồi thừng và copy y nguyên nhà Thanh. Lợn đi tìm lợn mà.


Thanh 18-19


Nhậtk Bản không cải báng vì kỹ thuật khoan thép của họ rất tốt, 10-15mm nòng dài 1,4 mét, súng ít giật, nên báng nào cũng được. Có điều, khẩu M79 trong hình thì giật khá mạnh, báng bất hợp lý. Không cải báng như Nhật có bộ cò bật. Chỉ có Nguỹen và Thanh là xin nhau sự kết hợp của những cái ngu si nhất quả đất.



Đây là cái cò đầu tiên , không lò xo, chính là cái cò nỏ lấy cho súng, serpentine.
http://vndefence.info/modules.php?name=Forums&file=viewtopic&p=54862#54862



Bộ cò Thanh-Nguyễn là bộ cò đơn giản gần nhất quả đất, chỉ trên cái cò nỏ một thứ, đó là lò xo đẩy về của cò bóp, đẩy ra để khi không bóp cò, thì thừng mồi không chọc vào cốc mồi.

Đây là châu Âu tk15, 1430


Châu Âu tk16, họ chưa có nòng báng truyền vào từ Ấn Độ trước năm 1530, nhưng cái cò của họ đã giống Thanh Nguyễn.
[img][/http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/7/76/PS8004046.jpg/800px-PS8004046.jpgimg]
http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/7/76/PS8004046.jpg


Tây hay chơi kiểu máy mổ ngược


Và tây có cái máy thêm một cần, tư thế bóp cò tốt hơn



đây là các đời máy có trên phân thứ quá đơn giản đó
Lò xo búa, cái kiểu này rất giống người mèo ta, nhưng người Mèo ta là hạt nổ


Nhật chau chuốt hơn nhiều





Thạch Cơ Điểu Thương 石机鳥枪
Chính vì điều kiện mưa ẩm, mà người Mèo đã có hạt nổ từ lâu và là thứ hạt nổ tốt hơn nhiều Tây, có ống dài (lông vũ), làm trạm truyền nổ kín. Hạt nổ cũng không phải khó mua, bán đầy các chợ, và các nghĩa quân nhà ta cũng mua được, đừng nói là Triều Đình, nhưng Triều Đình cá thối không có hạt nổ, vẫn phát nổ phát xịt.

Trong "Châu bản triều Tự Đức" có đoạn "do các nước phương Tây chế ra súng trường kiểu mới, ko chế loại đá lửa như cũ nữa nên ta ko thể nhập tiếp, tuy nhiên thợ ta cũng đã tự chế tạo được." Câu này được dân ... truyền đi truyền lại la liếm cho sự tài giỏi cuả Nhà Nguyễn. Sự việc trên được thực hiện trong triều Tự Đức, ông vua cuối cùng trươc khi mất nước,

Quân Triều Đình có cái súng châu Âu, đặc trưng bởi cái lê, nhưng vẫn là thuốc rời, đây là năm 1874 lận.
http://dlxs.library.cornell.edu/cgi/t/text/pageviewer-idx?c=sea;cc=sea;idno=seaA11;q1=Tong-kin;size=S;frm=frameset;seq=21;view=image;page=root
Cái link ấy dở người, xem link này cho nhanh
http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/6/61/Vietnamese_Tirrailleurs_of_Nguyen.jpg


Rất có thể là cái lê này, MLE 1777
http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/armesfrancaises/infanterie1777_IX/sq5uuc.jpg



http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/6/61/Vietnamese_Tirrailleurs_of_Nguyen.jpg




Schreiner viết:
“Vũ khí của họ thuộc loại chậm hơn một thế kỷ. Thí dụ, súng trường là loại súng từ thời đá lửa (loại Saint E1tienne, kiểu năm 1777 về trước). Ở đó có cả súng châm ngòi kiểu Tàu”.
Thái Hồng, sđd, tr. 160
Đó là loại thạch cơ, hay thường gọi là súng điểu thương, là vũ khí thông dụng trong thời Trung Cổ (thế kỷ XIV trở về trước):

“Súng điểu thương cò bằng đá lửa, bắn xa độ 250 đến 300 thước là cùng. Mỗi đội 50 lính thì chỉ có 5 người có súng điểu thương, mỗi người chỉ được bắn có 6 phát mà thôi. Hễ ai bắn quá số ấy thì phải bồi thường. Muốn bắn phải lấy thuốc súng (đựng trong một cái bao mang ở nịt lưng) bỏ vào nòng súng, dùng cây thông hồng nén thuốc vào cho chặt rồi bỏ viên chì (đựng ở cái bầu mang ở cổ) rồi bóp cò cho viên đá nảy lửa làm cháy thuốc ngòi. Bắn được một phát tốn nhiều thời giờ. Chưa kể là có nhiều khi bóp cò, mà đá lửa không bật lửa, lại phải tháo ra nhồi lại tốn hơn gấp đôi thời giờ”.
Thái Hồng, sđd, Tr 160

Súng cá nhân đã vậy, pháo thì sao? Chính tướng Rigault De Genouilly miêu tả pháo của ta:
“Hỏa lực của địch không làm thiệt hại chúng tôi mảy may nào, cho dù đạn pháo của họ bắn trúng vỏ tàu của ta”.

De Larclause viết:
“Người An Nam đã cố gắng cải tiến rất nhiều, nhưng họ vẫn không thể làm chúng ta lo lắng, vì đường đạn đại bác của họ chỉ đạt đến 1.200m là cùng... Đại bác của họ bằng đồng hay bằng gang, đủ các kiểu, trông thì đẹp nhưng khó di chuyển, bố trí kém, thuốc lại xấu...”



-----------------







Ấn Độ làm được flint lock từ tk18, với dáng rất đặc trưng. Nhưng do quốc gia này phân tán, và số lượng thép tốt ít, nen vẫn tận dụng hỏa thằng câu, có điều, báng dáng đã cải rất hiện đại.






Tây Tạng còn nguyên cái càng Minh Triều tk16, nhưng cũng đã có báng. Tây Tạng còn sản xuát súng này đến đầu tk20



Nhạt vẫn còn báng cổ như tk16
Nhưng ngay từ khi có súng cò bật 1534-1536, người Nhật đã cải tiến thành bộ máy cò bật rất hiệu quả, đòng thời, ký thuật nòng khoan hoàn hảo, đạn nhỏ nhẹ và tin, ít giật, nên báng đó chấp nhận được. Trình độ súng Nhật từ tk16 đã hơn xa Thanh và Nguyễn tk19. Nhật có cấu tạo súng được chuyên môn hóa cao độ, từng bộ phận do các đám thợ chuyên làm, rất hiệu quả.
Cũng do thiếu lò xo khoẻ, nên Nhật không bỏ mồi thừng




















==========
_________________
http://sites.google.com/site/huyphuc1981nb/thu_muc


Được sửa chữa bởi huyphuc1981_nb ngày 15.09.2010, sửa lần 3
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn  

huyphuc1981_nb
Thượng úy
Thượng úy


Ngày tham gia: 20/05/2007
Bài gửi: 510

Bài gửigửi: 13.09.2010    Tiêu đề: Fusil d'infanterie de 17,5 mm modèle 1777 modifié an IX Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

Ngồi nhăn nhó type về công nghiệp thép. Đã xong, đến thập niên 177x thì Anh và Pháp đã có kỹ thuật thép mới, đồng thời, Pháp 1777 và Anh 1797 format tiêu chuẩn súng trường mới.
http://vndefence.info/modules.php?name=Forums&file=viewtopic&p=54943#54943
http://vndefence.info/modules.php?name=Forums&file=viewtopic&p=54890#54890

Từ đó, format này bên Pháp ổn định cho đến Model=MLE 1857 được thay bởi MLE 1866 Chassepot hoàn toàn cách mạng, cỡ nhỏ 11mm, nạp sau, vỏ giấy và xoắn, kết thúc thời kỳ này. Có nhiều lần người Pháp đã cố xoay xỏa phát minh phát kiến phát ong, như súng vỏ đồng cho đội Vệ Binh Hoàng Gia Treuille de Beaulieu modèle 1854 , nhưng không thành. Vào năm 1822/1841, tiêu chuẩn Pháp chuyển từ flint lock của 1777 sang hạt nổ, nhưng các MLE 1822, 1842, 1857 không khác gì nhiều 1777 về nòng, lê, đạn. Năm 1859, Miniê khoe khoang với người Mỹ cách dùng nòng xoắn nhưng nạp trước, nhưng tốc độ bắn quá chậm, mặc dầu, chính xác cao bởi xoắn. Đạn Miniê là đạn Đông Âu lõm đuôi, tuy có tóp vào chút khi nhồi miệng, nhưng nhồi vẫn rất khó khăn và nguy hiểm. Từ đó cho đến cuối tk19, các hãng Mỹ vẫn sản xuất nhiều súng xoắn nạp miệng. Thật là giật gấu vá vai khi đứng cạnh Dreyse M1841 nạp sau của Phổ, đương nhiên, bản sao có cải tiến chút từ Dreyse là Chassepot 1866 đã kết luận vụ này.

Pháp trước đi. Cũng như các nước khác, nước Pháp thường có 2 phiên bản súng trường chính, Cạc Bin (mút cơ tông = mousqueton ) và súng bộ binh = fusil.

Đây là danh sách đầy đủ các súng thời trung gian Phú Lãng Sa, mình sẽ cố gắng cung cấp đủ các thông tin về chúng, để làm tư liệu phân tích các nguyên nhân khác nhau của công nghiệp và chiến tranh, cũng như cái nhà Nguyễn đánh mất con hươu mà nó không đủ sức chăn dắt.
# Fusil d'infanterie de 17,5 mm modèle 1777
# Fusil d'infanterie de 17,5 mm modèle 1777 modifié an IX
# Pistolet de cavalerie de 17,1 mm modèle an IX
# Pistolet de 17,1 mm de cavalerie modèle an XIII
# Fusil d'infanterie de 17,5 mm modèle 1816
# Mousqueton de cavalerie modèle 1816
# Mousqueton de cavalerie modèle 1816C
# Mousqueton de cavalerie modèle 1822
# Fusil d'infanterie de 17,5 mm modèle 1822
# Fusil d'infanterie Mle 1822T
# Fusil d'infanterie de 18 mm modèle 1822T bis
# Fusil de rempart modèle 1828
# Fusil de rempart de 21,8 mm modèle 1831
# Fusil de voltigeur modele 1842
# Fusil d'infanterie de 17,5 mm modèle 1842
# Fusil de marine mle 1842 T
# Fusil de dragon mle 1842 T
# Mousqueton de gendarmerie mle 1842 T
# Fusil d'infanterie de 18 mm modèle 1842 T
# Carabine de Chasseurs a pied 1853
# Carabine de Chasseurs a pied 1853 T
# Fusil d'infanterie de 17,8 mm modèle 1857
# Fusil de marine modele 1857
# Fusil de dragon mle 1857
# Mousqueton de gendarmerie mle 1857
# Fusil à tabatière système 1857
# fusil d'infanterie de 11 mm modèle 1866 Chassepot
# revolver de 11 mm modèle 1873
# revolver de 11 mm modèle 1874
# fusil d'infanterie de 11 mm Gras modèle 1866-74
# fusil d'infanterie de 11 mm Gras modèle 1874
# fusil d'infanterie de 11 mm Gras modèle 1866-74 M80
# fusil d'infanterie de 11 mm Gras modèle 1874 M80
# fusil d'infanterie modele 1874 M80 M14



Trong đó, đáng chú ý các phiên bản súng trường sau
Modèle 1822 d'infanterie à silex súng trương bộ binh điểu đầu flint lock (platine vers l'avant = tấm ốp máy cò thép trắng = kim loại xịn lúc đó ) : canon lisse nòng trơn, calibre đường kính 17.5mm
Modèle 1822 T : c'est le modèle 1822 à silex qui est transformé (T) au système à percussion (platine vers l'arrière) à partir de 1840 T= hoán cải 1840 lên hạt nổ
Modèle 1822 T bis : c'est le modèle 1822 T dont le canon est rayé (bis) à partir de 1859 hoán cải lần nữa lên rãnh xoắn, 1859
Modèle 1840 d'infanterie à percussion : canon lisse, calibre 18mm (platine vers l'arrière) nòng trơn
Modèle 1842 d'infanterie à percussion : canon lisse, calibre 18mm (platine vers l'arrière) nòng trơn
Système 1842 T d'infanterie à percussion : c'est le système 1842 dont le canon est rayé à partir de 1860 hoán cải xoắn
Modèle 1853 d'infanterie à percussion : canon lisse, calibre 17.2mm tron
Modèle 1853 T d'infanterie à percussion : c'est le système 1853 dont le canon est rayé à partir de 1860 hoán cải xoắn
Modèle 1857 d'infanterie à percussion : canon rayé = nòng xoắn, longueur =dài 1421mm, calibre 17.8mm



=====


Chúng ta dễ nhận thấy rằng, trong suốt 1 tk rưỡi, từ mle 1714 Pháp cho đến 1857, súng trường Tây Âu không tiến bộ nhiều, trước là 6kg, sau là 4,5; trước 19 mm, sau là 17,5. Dù đầu thiên nga có to có bé, thì vẫn là flint lock. Cái tiến bô chính ở đây , là sản lượng. Chúng ta nhìn các link trên và dễ thấy, nếu như thập niên 169x, người ta vẫn còn do dự khi đổi máy cò từ Snaphaunce sang Flintlock, thì đến MLE 1777 năm thứ IX Cộng Hòa đã có hàng triệu súng trường. Sau Nuremberg 100 năm, 1720, Anh Quốc đã xây dựng lò ủ thấm thép đầu tiên. Đến 1740 thì họ có cách nấu chảy thép, đến 177x thì họ xây dựng seri kiểu lò được dùng cho đến say WW2. Như vậy súng không tiến nhiều về chất lượng, tính năng, mà tiến nhiều về số lượng, do các loại thép tốt làm các bộ phận của súng đã nhiều lên.

Chất lượng súng tiến bộ gián tiếp vào giữa tk19, khi thép nhiều, thì máy công cụ nhiều, và người ta cầu kỳ chế ra súng hiện đại cần các máy gia công kim loại công nghiệp. Như vậy, chúng ta dễ nhận, không tăng chất lượng nhưng tăng số lượng ?? vào 1/3 cuối của 1,5 tk đó, tức nửa đầu tk19, thì số lượng hơi quá=điều cực kỳ nguy hiểm, sẽ dẫn đến đại chiến. Chiến tranh Napoleon thật sự là đại chiến thứ 2 của châu Âu, sau Đại Chiến Bắc Âu của Piotr.

Kỹ thuật làm súng đã cho ra các lò ủ thấm thép ở Prague 1574, Nuremberg 1601, đến Derwentcote Anh Quốc 1720. Đến đây, máy chưa nhiều để ăn thép phục vụ dân sinh, súng thừa ứ vô tội vạ, và ngừoi ta làm súng đánh nhau rồi cũng lại đánh nhau vì súng. Sau này, các cuộc chiến tranh thuộc địa, chiến tranh Đông Âu-Ottoman, và hai cuộc đại chiến cũng vậy, Tây Âu thừa ứ súng và bán vung lên, rồi đánh nhau để bán súng. Bế tắc về kỹ thuật máy móc dân sự thì làm súng và đánh nhau, nhồi súng lởm cho khách chán lại nhồi cho chính quốc, kích động khách đánh nhau hết chỗ rồi thì về .... tự đại chiến tàn phá giết chóc nhau.

Vào nửa sau tk19, sản lượng thép tốt tăng vọt vì thay các lò ủ thấm Sheffield bởi các lò hiện đại Martin, Siemens, nhưng châu Âu lại nén lòng không đánh nhau, vì máy móc phát triển ăn thép, đây là thời kỳ bùng phát của ô tô, tầu hoả.... và đến khi máy móc hết kỹ thuật phát triển thì Tây Âu lại bế quan tỏa cảng gây sự... đánh nhau tiếp.





Fusil d'infanterie de 17,5 mm modèle 1777 modifié an IX
Le fusil d'infanterie de 17,5 mm modèle 1777
http://vndefence.info/modules.php?name=Forums&file=viewtopic&p=54942#54942
Cái khẩu này đã pót rồi, lại chút tham số cho nối tiếp. Khẩu này rất đang chú ý, vì các model 1777 là hàng chủ yếu nhà Nguyễn nhập khẩu và nhái lại sau này thời Tự Đức.
http://www.militaryheritage.com/musket11.htm


1717 . Súng có cỡ nòng 19mm, nòng dài 1187mm, cả súng nặng 6kg, dài 1,6 mét.
1728, về đại thể như cũ, nhẹ đi được nửa k
1766, vẫn 19mm, nòng dài 1137mm, cả súng dài 152mm, nặng 5kg không lê
1777, cải tiến từ 1728 nhưng với các đặc tính gọn nhẹ của 1766, chủ yếu vẫn là St. Etienne. Đây là súng chủ lực của quân Nã Phá Luân

Le fusil d'infanterie de 17,5 mm modèle 1777 modifié an IX = lơ súng trường bộ binh kiểu 1777 phiên bản cải tiến năm thứ 9 Cộng Hòa 1802. Súng thời Napoleon, loại này là loại Flint Lock có sản lượng lớn nhất của Phú Lãng Sa.

Kiểu 1777 cải tiến năm thứ 9 Cộng Hoà, được áp dụng trong khoảng năm thứ 9 cộng hòa là 1802 đến 1819, được thay bởi hệ thống tiêu chuẩn 1816/1822, với đại diện là MLE 1822. Súng được sản xuất từ 1802 đến 1819. có tổng cộng 1.926.281 bác, khổng lồ ngày đó.
http://armesfrancaises.free.fr/fusil%20d%27infanterie%20Mle%201777%20an%20IX.html


Versions et dérivés: Các phiên bản anh em
fusil d'infanterie de la garde Impériale mle 1777 an IX súng trường bộ binh
fusil de dragon mle 1777 an IX súng trường long binh ( bộ binh cơ giới, bộ binh nặng, di chuyển bằng ngựa nhưng đánh bộ)
mousqueton de cavalerie mle 1777 an IX cạc bin kỵ binh (mút cơ tống)
mousqueton de gendarmerie mle 1777 an IX cạc bin hiến binh
fusil de marine mle 1777 an IX súng trường thủy binh

Số của nhóm phân loại trong hệ thống tiêu chuẩn vũ khí Quốc Gia: 8.
Các quân xưởng tham gia sản xuất
Manufacture Impériale de St-Etienne = ta gọi là mát
Manufacture Impériale de Tulle = ta gọi là tuyn.
Manufacture Impériale de Charleville
Manufacture Impériale de Maubeuge
Manufacture Impériale de Mutzig
Manufacture Impériale de Roanne
Manufacture Impériale de Versaille
Manufacture de Culembourg
Manufacture de Liège
Manufacture de Turin




Thông số
Longueur de l'arme: Chiều dài cả súng 1520 mm
Longueur du canon: chiều dài cái nòng 1137 mm
Poids à vide: cân nặng không lê 4,750 kg
Poids avec baïonnette: cận nặng có lê 5,079 kg
Calibre: cỡ nòng 17,5 mm
Munition: balle ronde en plomb de 16,54 mm (poids: 27,19 g), poudre encartouchée (charge: 12,24 g)
Đạn : cỡ đạn có đường kính trung bình 16,54mm cân nặng 27,19 gram (mình viết rõ gram, không nhiều bạn nhầm với đơn vị hay dùng là grain = hạt), liều 12,24 gram.
Vitesse initiale (Vo): sơ tốc 420 m/s
Vitesse pratique de tir: tốc độ bắn 3 coups/min environ = 3 phát phút=nói khoắng lên cho oách
Portée pratique: tầm 250 m, hiẻu đây là tầm sát thương
Portée utile maxi: 1000 m tầm tối đa, hiểu đây là tầm đạn rơi
Pénétration: 4,6 cm de sapin à 250 m xuyên 4,6mm ở 250 mét, bắn gỗ sam






Nhạo chút, súng này là súng triều đình nhà ta đấy
Cái hài là, sau 1tk cải tiến cải lùi, kiểu con thiên nga gầy lại được quay lại kiểu con thiên nga béo. Very Happy Very Happy Very Happy Very Happy Dĩ nhiên là nói cái búa. Điều này có thể cho thấy rằng, cái thằng chiên ra làm cò, Tuyn, Tulle, có thể mua hàng Đông Âu như sau khi trói được Áo, Phổ và các vùng Ba Lan, Nam Âu.... Hoặc có thể sau khi thống nhất, thợ ở đấy tràn ngập... rồi đến thợ Phú Lãng SA cũng rèn kiểu đó. Điều đáng chú ý, trong quá trình sử dụng, người ta đã kêu ca kiểu đầu thiên nga cũ này nhanh mòn máy (do búa nặng hơn), có thể, kiểu thép của Phú Lãng Sa không bằng Áo-Phổ, và kiểu búa 1777 cũ lại được áp dụng sau năm thứ 13 Cộng Hoà.

Súng không tiến bộ nhiều so với model 1777 nguyên thuỷ, cũng chỉ nhích chút so với model 1766, cũng chỉ nhíc nhót hơn tẹo so với 1714 = đã nói trên, cái tiến bộ chủ yếu là sản lượng chứ không phải chất lượng tính năng. So với 1777 nguyên thuỷ, chỉ khác đôi chút các tiểu tiết qua kinh nghiệm sử dụng, như thông nòng, lắp lê, hộp đạn... riêng về búa đầu thiên nga to là biểu hiện copy Đông Âu dại dột, không lường được thép Đông Âu có bí truyền tốt hơn.

Búa nặng kiểu đầu chó Thụy Điển-Nga hay kiểu thiên nga béo Áo-Phổ được Anh-Pháp thay bằng kiểu thiên nga gầy cỡ 172x (Pháp) 174x (Anh), đã post trong súng trường Tây Âu tk18, cải tiến búa nhỏ này được huyên hoang sang Mèo Hoang là "Frech Lock" và "English Lock", thực chất, thép ủ thấm 1720 và nấu lộn 1740 (Anh Quốc), đã không đủ độ chịu mài mòn như thép Đông Âu, gây mòn nhanh cái nắp cốc mồi-kiêm đe đánh lửa.

Súng bắn đạn nhỏ hơn cỡ nòng 1 mm cho dễ nạp. Thời này, Đông Âu đã tiến khá xa mặc dầu vẫn đẳng cấp kỹ thuật đó, ví dụ, đã chuyển sang nòng 15mm rồi. Cỡ nòng to thì dễ khoan, kỹ thuật còi hơn chút thì khi nòng dài phải to ra chút. Đẳng kỹ thuật Pháp và Anh bám sát nhau. Vì bắn đạn cầu chì lại nhỏ hơn nòng trơn, nên súng vẫn kém chính xác, tầm bắn hiệu quả dưới 50 mét và chiến thuật vẫn là đội hình ô chữ nhật dàng hàng đều bước.

Về chất lượng thì thường, nhưng vè số lượng thì Pháp lúc này đã quá trội, không biết bán cho những ai mà lắm thế. Điều này cho thấy, quân Pháp chỉ trang bị 1 phần rất nhỏ trong sản lượng, và việc bán súng=động lực của chiến tranh thuộc địa, đã phát triển rất mạnh.

fusil d'infanterie = bản súng trường bộ binh. Dùng lại búa đầu thiên nga to mà Anh Pháp đã thu bé lại từ đầu tk18, điều này cho thấy, thép của nắp cốc mồi Anh-Pháp có vấn đề, không chịu được máy mạnh, khoẻ, búa to và đương nhiên tin cậy hơn của Đông Âu. Không có đầu ruồi ở đầu nòng, mà đầu ruồi là miếng đồng làm trên đai xa nhất


















==============
_________________
http://sites.google.com/site/huyphuc1981nb/thu_muc


Được sửa chữa bởi huyphuc1981_nb ngày 18.09.2010, sửa lần 6
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn  

huyphuc1981_nb
Thượng úy
Thượng úy


Ngày tham gia: 20/05/2007
Bài gửi: 510

Bài gửigửi: 14.09.2010    Tiêu đề: Le fusil d'infanterie de 18 mm modèle 1822T bis Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

http://armesfrancaises.free.fr/fusil%20d%27infanterie%20Mle%201822T%20bis.html
Le fusil d'infanterie de 18 mm modèle 1822T bis , lơ súng trường bộ binh kiểu 1822 đã hoán cải (T) lần hai (bis). Từ 184x, súng được hoán cải lần 1 sang hạt nổ 1822T, Sau đó sang xoắn nạp miệng 1822Tbis và một số súng hoán cải tiếp sang khai hậu nhưng không có tên chính thức. Súng 1822T bắt đầu thực hiện đầu 184x và Tbis 1860. Cải khai hậu không chính thức theo MLE 1867 và rất nhiều linh tinh không kiểu.

Cùng với MLE 1857, 1842, đây là nguồn súng hoán cải sang khai hậu lớn nhất mà quân chính quy Pháp dùng. Lầm làm xoắn, nòng ngắn hơn và to hơn, nhưng phải đến 1867 mới đủ kỹ thuật làm khai hậu sau các ... khóa nòng đồng đúc !!!! súng hoán cải xoắn nạp miệng dùng đạn Miniê. Xoắn của 1822Tbis áp dụng trên cả các phiên bản súng ngắn, súng vừa (mút cơ tông và cạc bin), là 4 xoắn chữ nhật đã khá tốt.

Kiểu máy súng dùng hạt nổ này được gọi là "súng kíp Tây", khác với súng kíp ta dùng kiểu kíp ống lông vũ, máy móc gọn gàng ưu việt chống ẩm hơn nhiều. Về sau này, súng kíp Tây lưu truyền rỗng rãi trong nhân gian, rất nhiều kiểu bắt chước, máy cò không có miếng thép trắng làm khung xương sống, mà cò búa lò xo.... bắt luôn vào báng, ốp lót gỗ... Cũng như rất nhiều hỏa thẳng câu thương kiểu Thanh-Nguyễn (có cò serpentine xuyên qua báng) được hoán cải dùng hạt nổ, thậm chí còn có thước ngắm Âu-Mỹ, như khẩu súng ở Bảo tàng Cách Mạng ghi là súng Cao Thắng... Các súng đó dùng chung với súng kíp thuần ta cho đến nay, được gọi chung là súng kíp.

percussion =Amorce. percussion musket = súng kíp tây, còn được gọi là súng có piston, fusil à piston , do cái kim hoả được gọi là piston. Khi chuyển sang dùng kíp, thì súng có thêm hộp đựng kíp và cái kim để thông lỗ dẫn lửa. Kíp tây ban đầu chỉ là miến giấy thấm thuốc, sau này là đồng tán dẹt, quấn thành ống, cắt hoa rồi dán một mặt giấy. Thuốc kíp tây sau này hay dùng fulminate thuỷ ngân Hg(CNO)2, một số pháo chơi và vũ khí Tầu dùng kíp hồng hoàng, một thứ hợp chất chì-thuỷ ngân có tự nhiên thường dùng làm màu vẽ. Kíp ta thì đơn giản là bột đá silic (cát vàng mịn), trộn với thuốc nổ thường nhét trong ống lông vũ. Các loại điểm hoả giậtt nổ, đập nổ, ma sát, áp lực, chấn động .... tin cậy có rất nhiều trong pháo chơi phương Đông, như hồi Bình Đà chưa thất nghiệp, có pháo ném, pháo giật, pháo đập... đủ cả. Binh pháp có Võ Kinh Tổng Yếu của Tiêu Ngọc đời Nguyên Minh đã post.




1822. Đây là mẫu súng mới sau thời chiến tranh Napoleon. Hầu như súng không có thay đổi gì nhiều về tính năng, nòng, lê, đạn... Một số thay đổi đang kể là phần bịt đáy nòng, bịt đáy nòng có kiểu dang giông Anh-Mỹ, gồm 1 cái cần dài bên trên kéo về sau, cõ lỗ để vặn vít vào báng gỗ. Một cái mới xuất hiện là thước ngắm, được rèn lièn với khối bịt đáy nòng, và vài ba thay đổi nhỏ ở cắm lê, thông nòng. Đầu ruồi gắn trên nòng, không gắn trên đai nữa.

Cũng có thể nhà Nguyễn cũng nhập khẩu thứ này. Nhưng về cơ bản, súng thời Napoleon có ở nhiều nguồn và rất nhiều ở các chợ đen chợ trắng, vậy nên, ít ai mua súng giá Quốc Gia đi bán cho bọn cướp. Bên tây, cũng có nhiều súng thời Napoleon và trước đó được hoán cải cùng với các đợt hoán cải khác nhau của MLE 1822, tạo thành các dạng súng rất đa dạng, bán vung khắp các mọi rợ như Vịt cho đến Mèo Hoang, đủ cả chỉ hoán cải chút là làm cái bịt đáy nòng mới, cho đến xoắn nạp miệng và khai hậu, khai hậu vỏ giấy, khai hậu vỏ đồng, khai hậu khóa trượt đứng, khai hậu khóa lật...

Bên Pháp, MLE 1822 là mở đầu cho thời kỳ điên loạn của kỹ thuật Pháp, một dạng quý bà bị cưỡng hiếp. Trước đây, gần Đông Âu, Pháp hơn Anh Mỹ. Thế nhưng, ngay MLE 1822 đã có nhiều đặc điểm Anh Mỹ, như máy cò và bịt đáy nòng, cho thấy, đây là tạo điều kiện rửa tiền cướp ngân sách qua nhập khẩu, khâu khoan nòng cồng kềnh không xơi, mà xơi các bộ phận nhỏ có giá. Sau khi Phổ có M1841 Dreyse = súng trường hiện đại đầu tiên, thì Pháp loay hoay theo ANh Mỹ với các kiểu giật gấu vá vai, rồi lại bại trận lần nữa 1870. Napoleon III bại trận năm 1870 lên được cũng vì người Pháp quá khinh thương dòng Buốc Bông lên sau khi Napoleon Bonapac gục, nhớ đến ông, và ông III là cái hình nônmj bằng giấy của cha ông lại đầu hàng lần nữa với một đống súng lởm.




Khi hoán chuyển thành dùng hạt nổ. Người ta tháo bộ máy cò ra, uốn lại búa cho lệch vào trong và thay kẹp đá lửa bằng búa đập. Lỗ dẫn hỏa cũ được tán kín lại, khoan lỗ mới và rèn tán cóc hạt nổ vào trên lưng nòng súng. Súng được hoán cải từ năm 1841, ký hiệu T là hoán cải (T pour transformé). Búa có dạng cái cốc chụp vào ống dẫn lửa. Khoảng 1860, nòng được khoan rộng từ 17,48mm lên 18mm xoắn, người ta luân chuyển súng để hoán cải dần và các khẩu đã hoán cải lần này có tên modèle1822Tbis năm 1860. Việc hoán cải lần này không có gì khác là làm rãnh . Đồng thời, súng cũng được làm ngắn đi chút không rõ vì sao


Năm 1849, Claude Etienne Minié khoe khoang về súng nạp miệng nòng xoắn, lại có cả vỏ như Dreyse M1841. Đây là giải pháp giật gấu vá vai, ông ta không phát kiến phát ong gì trong vụ này cả, mà chỉ là dân liệt não các giống đặt cho loại đạn ấy là Miniê, thực chất, đây là đạn lõm đuôi Đông Âu có từ lâu, được Miniê dùng để nạp nòng xoắn từ miệng dễ hơn, dĩ nhiên là xoắn tam giác đơn giản làm trong lò rèn nhỏ bằng dao mua của "hãng mẹ", và thực chất, tốc độ nạp tiền mà xoắn rất chậm, được Vích To Huy Gô đặt vào mồm các chiến sỹ đang chờ chết trong chiến lũy Những Người Khốn Khổ = giải pháp giật gấu vá vai của con thỏ liệt não đứng bên cạnh con sói nạp hậu M1841 Dreyse. Năm 1857, các phiên bản 1822, 1842, 1853, 1854... lên kế hoạch hoán cải "tiêu chuẩn Quốc Gia" sang xoắn nạp miệng hay cát tút dở người== cũng ngu lợn như nhiều kiểu tiêu chuẩn quốc gia ở các nước khác. Số lượng súng được thực hiện điều đó rất ít. Đứng trước chiến tranh với PHổ, lại có 1867 Khai hậu cùng với bản nhái Dreyse M1841 Phổ MLE 1866, nhưng cũng không hợp lý và không được bao nhiêu.

Thực chất, các cải tiến của Miniê không phải cái lõm nở đạn có trong Kammenlader 1842, mà là các đai cho xoắn có hình dáng tiện nạp miệng, được thay đổi theo chuyển xoắn tam giác thành chữ nhật.

Kiểu xoắn đầu tiên làm mới của Pháp là 1857, đã 4 gờ chữ nhật như M1841 Dreyse, Minié cũng cải lại đạn của ông theo chữ nhật như hình về Miniê trên kia. Ban đầu, MLE 1853 được hoán cải thành xoắn theo 1857, sau đó, đến lượt móc lại các đời cũ. Sau khi hoán cải thành nạp tiền nhồi miệng MLE 1822Tbis, thì ít súng, nhưng cũng có, hoán chuyển sang khai hậu tabatière système 1867, nhưng chỉ MLE 1857 và một phần MLE 1852, MLE 1842, các MLE 1840 và MLE 1822 ít.

Nhiều xạ thủ súng Miniê phát triển kỹ thuật dùng đạn vỏ giấy, những lâu nay, bên Pháp không còn con liệt não nào đủ sức à ơi về cái đó nữa, tức đạn có vỏ mà lại nạp miệng. Trong bộ tools đi kèm, MLE 1857 có cái khuôn làm vỏ đạn=cát tút=cartouche vỏ giấy nạp miệng.



Sau, "hệ thống"=système 1857=bộ tiêu chuẩn vũ khí Quốc Gia = đời đầu tiên xoắn nạp miệng, mới ra lại được hoán cải lần nữa với cấu tạo khai hậu, tiếng Pháp là tabatière (hộp đựng thuốc lá bột để hít, cách gọi súng khai hậu bên Pháp). Súng khai hậu này they đổi nhiều thiết kế một cách vụng về kém cỏi và lần cuối, là năm 1867.

Có hai "véc si ông", tức vesion, phiên bản của các súng sau 1842, đó là, các súng làm theo thiết kế mới và các súng hoán cải từ thiết kế cũ. Trong các súng hoán cải từ thiết kế cũ, đương nhiên có nhiều khẩu từ các dòng khác nhau, từ thượng cổ modèle 1714 cho đến các đời 1766, 1777. Đồng thời, ngoài các thiết kế tiêu chuẩn nhà nước, có nhiều cách hoán cải súng cũ để bán vung, con số hàng triệu khẩu đến thời Napoleon này còn dùng đến Kháng Chiến CHống Mỹ, có cấu tạo rất "phi tiêu chuẩn", linh tinh xèng.




Việc hoán cải dùng khai hậu cũng có 1 số đời bao gồm khóa nòng trượt giống modèle 1854 Pháp, và modèle tabatière 1867 có bịt đáy nòng lật giống Anh, Pháp, Áo Hung... Thực chất, súng khai hậu Pháp có nhiều vấn đề. Khai hậu là tên loại súng trung gian, mở bịt đáy nòng súng cổ, hoán cải thành nạp đạn sau, làm xoắn... Như vậy, sẽ có 2 đời khai hậu ở Áo-Hung, ban đầu là các súng hoán cải từ nòng nạp miệng cũ, cỡ nòng to như thời bắn đạn bi cầu. Sau đó, là các súng làm theo kiểu đó nhưng tận dụng sức mạnh của xoắn, làm đạn dài, cỡ nhỏ bắn tin hơn.

Thế nhưng, thứ nhất, Anh Pháp dùng cỡ nạp miệng quá to do phát triển kỹ thuật chậm (ngày đó là do công nhân kém), khi làm xoắn và dài, thì đạn nhọn dù có cố ngắn lại, nhưng cỡ 18mm là quá nặng. Trong khi đó, Nga-Phổ dùng 15mm, Áo-Hung 14mm thời nạp miệng, nên hoán cải vô tư.

Vấn đề thứ 2, là ban đầu rất nhiều hoán cải làm khóa nòng trượt đứng như MLE 1854, nhưng khác là làm búa chính giữa, chứ không búa đứng rung như MLE 1854, nhưng sau này, đứng trước chiến tranh Pháp Phổ, lại cầu cứu Anh Mỹ và thuê Anh hoán cải, Anh lại nhái Áo-Hung, ra tabatière 1867. Model này rất ít thấy tồn tại, chắc không ra sao.

Áo-Hung và Nga đi chung 1 đường, Phổ đi 1, chúng ta đã bàn rồi. Nga và Áo Hung có hoán cải, nhưng sau đó, Nga chỉ có rất ít khai hậu, bỏ, đi thẳng lên Berdan (Nga có 2 đời khai hậu, nhưng chỉ có Krnka là có con số vạn khẩu, M1869 Russian Baranov không nhiều). Phổ thì có con đường dài dằng dặc với M1841, lúc trang bị, thế giới này chưa có nhiều kinh nghiệm dùng nạp sau, nòng xoắn, nên còn nhiều nhược điểm, và đi thẳng lên Mauser I.G.71. Áo Hung thì thiếu năng lực và tiếp tục các đời khai hậu nòng bé cho đến 1885 có repeater, súng có băng.

Vì vậy, đến 1870, thì Pháp đã khá lạc hậu và phải đuổi theo bằng nhái vội vàng MLE 1866, chuyển thằng lẻn Gras cũng rất vội vàng sau bại trận, năm 1874. Phiên bản nòng bé tự ché MLE 1854 thì chết yểu, vì vậy, hai phiên bản khai hậu MLE 1857 và MLE 1867 của Pháp rất ít. Thế nhưng, cho đến Kháng Chiến Chống Mỹ ở ta vẫn còn. Hóa ra, rất nhiều súng cũ có đường kính lớn, 17,5-18mm, được bán vung dân sự. CHúng có thể làm súng chiến rẻ tiền của miền núi hải đảo, nhưng, về lý, là đi săn rất tốt, nòng to mà. Sự lăng nhăng trong các mẫu khai hậu Pháp cho thấy, chúng được bán tháo sau các bại trận như Pháp-Phổ 1870, hay Ottoman mua súng Pháp rồi lại bị Nga đanh tóe còi... rồi các súng thải đó được các xưởng nhỏ hoán cải theo đủ các phương án tốt xấu.

Tóm lại, không quyết tâm đi chính đạo, trong khi rẽ ngang ngửa tà đạo cạn hết lực, súng Pháp đuối sức và không kịp chiến tranh, đầu hàng 5-1871.






























-------------



thêm ảnh
























Phiên bản súng ngắn, nhưng giống, đây là đời trơn 1822T


và xoắn 1822Tbis




Các điềm nhấn chính. Cái bịt đáy nòng có cần dài bắt vít vào báng và thước ngắm cố định, kiểu Anh-Mỹ. Liệu đây có phải là hiện tương trả ơen, bán nước từng mẩu dẫn đến từng mảng sau khi nhờ ngoại bang đanh bại anh hùng dân tộc Napoleon ? hay chỉ là các giống liệt não quý tộc bị ngoại bang nhồi sọ ? Làm thước ngắm cho súng nòng trơn có tầm chính xác dưới 50 mét là cái chuyện hài hước, vì hài hước như vậy, nên không cần có các bộ phận chỉnh. Chiện ngu si này chỉ tràn ngập bên Mèo Hoang, với các xạ thủ Cao Bồi Miền Tây, dùng súng ngắn thời nòng trơn bi cầu đứng xa bắn cụt "súng đạn sinh học" của kẻ thù. Anh- Pháp nhồi sọ Mèo Hoang bán súng lởm, và tự lởm hóa, tự thối não bằng những bước này.







Lê, dể tìm kiếm súng nhà ta



Máy cò tạo điều kiện nhập khẩu hàng lởm Anh-Mỹ


Cái chụp cuả búa có tác dụng ngắn hạt nổ tóe ra, cái súng cổ này được đục bỏ kim hỏa theo luật một số nước


cái kim hỏa chư bẻ đại khái thế này (đây là súng khác)



Vũ khí của quân Cờ Đen sau thành Bắc Ninh 1885. Rất giống, có thể là không phải, nhưng chắc chắn là cùng thời, có thể là phiên bản MLE 1822Tbis, phiên bản tương tự, có thể chưa hoặc đã khai hậu.
http://hinhxua.free.fr/autrefois/docteur-hocquard/page1/photo_docteur_hocquard_1_vn.htm



infanterie1822T bis, tức model 1822 hoán cải sau 1857.



Dĩ nhiên là quân Cờ Đen không đến nỗi hỏa thằng câu thương, flintlock sang trọng thạch cơ điểu thương... Và dĩ nhiên Triều Đình cá thối nhà Nguyễn không có cụm từ "hạch cơ trường thương", Hạch cơ điểu thương, hỏa hạch cơ thương...., tuy các từ đó lợn thật, nhưng nó cũng còn đỡ cá thối hơn cái triều Nguyễn. Còn thời 1885, Lạng Sơn, lính thuộc địa Pháp, nhưng không đến nỗi thuộc địa loại cá thối như NGuyễn, đã xài Gras, đây là lính Pháp và An giê
http://hinhxua.free.fr/autrefois/docteur-hocquard/page1/photo_docteur_hocquard_1_vn.htm



Tham khảo hình
Đây là kiểu máy cò dân tôc nhà ta, bác súng đã "hoán cải" theo thời trang cùng với vị trí đặt cò. Nhưng cái búa thì vẫn như xưa.
http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/sung_kip_dan_toc/DSCN8540.jpg

Đây là kiểu máy cò Mèo, nhưng là loại top, tức loại làm sẵn để người mua gắn vào nòng khác. LOẠI máy cò gá lên ngay thân của bang-ốp lót nhỏ gọn hơn. Sau này, máy cò làm sắn rất nhiều vì nòng cũ hỏng quân sự sau mấy cuộc chiến tranh quá nhiều, cũng như nòng thuê người Kinh khoan máy, hay tận dụng hàn vá từ các ống thép....
http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/meo/CIMG9246.jpg
http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/meo/CIMG9246.jpg
http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/meo/tn_IMG_2056.jpg

Lưu lạc giang hồ
http://i972.photobucket.com/albums/ae209/huyphuc1981_nb_1/bai_sung/meo/1ec89482.jpg



Mấy thằng mafia lợn này chắc có họ là Tôn Thất
http://www.baohaiphong.com.vn/channel/4928/201007/Bang-nhom-su-dung-vu-khi-nong-doi-no-thue-sa-luoi-1973916/





Kíp tây



=============
_________________
http://sites.google.com/site/huyphuc1981nb/thu_muc


Được sửa chữa bởi huyphuc1981_nb ngày 18.09.2010, sửa lần 8
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn  

huyphuc1981_nb
Thượng úy
Thượng úy


Ngày tham gia: 20/05/2007
Bài gửi: 510

Bài gửigửi: 15.09.2010    Tiêu đề: Khai hậu tabatière système 1867 Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

tabatière (système 1867)
système 1857 = hệ thống tiêu chuẩn vũ khí Quốc Gia năm xyzt, chúng ta biết rồi. tabatière=hộp thuốc lá bột để hít, tức khai hậu, chúng ta cũng biết rồi. Khai hậu có thể là chế tạo mới, nhưng cũng cõ thể là hoán cải từ súng nạp miệng, chúng ta cũng biết rồi.

Các tiêu chuẩn nòng trơn tồn tại đến 1842, 1853, 1854... rồi đến 1857 có kiểu đóng xoắn cho nòng trơn. Nhưng điều này làm giảm tốc đọ bắn một cách tệ hại, được miêu tả trong "Những Người Khốn Khổ", đoạn các chiến sỹ chờ chết trong chiến luỹ, nhìn địch bắn và tán dóc. Loại đạn lõm đuôi Đông Âu sính ra trong kinh nghiệm lâu dài của nhân gian được Miniê khoe với Mèo Hoan, lại nhồi sọ bãn, nên dân Phú Lãng Sa vẫn còn nhiều kẻ thích ăn cắp danh dự bằng cái đó. Đạn này có cái lõm đuôi hay lõm sâu thành lỗ tâm, giúp đạn tóp vào dễ dàng khi nạp miệng và to ra khi bắn, nhưng tốc độ bắn cũng rất chậm. Chính vì thế, việc xoắn là không bắt buộc, mang tính chất lôm côm. Hồ đó làm xoắn rất dễ vì các "hãng mẹ" ở Áo, Hung, Phổ... có hai tếch, làm sẵn dao cho bọn mọi Tây Âu, chỉ việc đóng dọc nòng trong các xường nhỏ đến mức tí hon.

Vì vậy, nhóm các súng khai hậu và xoắn nạp miệng=nạp tiền Pháp không đầy đủ, có nhiều mẫu mã, lôm côm, bao gồm các điều không bắt buộc, hoặc dự định bắt buộc nhưng không thành. Như vạy, có rất nhiều loại đã dược chấp nhận chính thức bên cạnh con số loại nhiều hơn không chính thức, bán ra thuộc địa. Ví dụ, chiều ngang vẫn đủ mút cơ tông, thủy quân, bộ quân, kỵ quân... nguồn gốc có MLE 1822, 1842, 1853, 1857... hoán cải có xoắn nạp tiền và xoắn khai hậu, thời hoán cải có 1857, 1867... vật liệu có đồng sắt... cứ thế mà nhân ra số lượng chủng loại.

Đấy là chưa kể một số "chư hầu" hay khách hàng, cũng "tabatière système 1857 1867", nhưng chuối nước mẹ ghẻ quá, cũng là súng Pháp, nhưngd dặt hàng theo yêu cầu riêng, như phiên bản Bỉ.

Súng hoán cải khai hậu tư nhân Pháp thường dùng model MLE 1822 các đời, sau này chính phủ cũng vậy, mặc dù số lượng các đời sau còn nhiều, cho thấy, các đời súng Pháp sau này có vẫn đề về cấu tạo nòng. Các đời của 1777 cũng được hoán cải. Phía tư nhân thường cải chút thiết kế của mút cơ tông MLE 1854 Vệ Binh Hoàng Gia, dùng khóa trượt đứng, nhưng cải tiến búa, dùng búa điểu đầu flint lock.

Vì chuyển sang nòng xoắn, nên tầm bắn hiệu quả xa hơn, có thước ngắm. Sau này, các Gras dễ hoán cải sang có băng, nên khai hậu không thể hoán cải được tồn tại lâu, lưu truyền trong nhân gian cả Ta và Tây, đến đánh Mỹ còn đem ra bắn Mỹ, chứ không phải bắn thỏ. Các khai hậu đường kính lớn cũng rất thuận tiện cho đi săn hơn là súng quân sự hiện đại hơn, cũng vì thế, nó đượ mua bán nhiều.

Cũng vì bắn đạn có vỏ, nên đương nhiên có kim hoả, kim hỏa nghiêng chọc vào đuôi đạn. Búa thì bỏ cái cốc chụp lên đầu vòi hạt nổ đi.

Claude Etienne Minié khoe khoang về súng nạp miệng nòng xoắn năm 1849, đến nay Mèo Hoang nói tiếng Anh và một thiểu số liệt não Phú Lãng Sa vẫn nói là đạn Miniê, mình tập hợp sau. Đạn khai hạu và đạn Miniê có dốc nghiêng thoai thoải của đai ngược nhau, Miniê phía sau, còn khai hậu phía trước. Đạn khai hậu không tụt sâu vào nòng bởi vai vỏ đạn như đạn ngày nay, mà băng gờ móc, tức cái đế vỏ đạn. Đế vỏ đạn cũng rất dầy để chịu lực. Thành vỏ đạn là cái van một chiều, khi bắn, đồng thau đàn hồi phình ra, không cho khí thoát về sau, đại thể chức năng này như đạn ngày nay. Trong thời khai hậu, đồng ở Tây Âu nhiều lên không nhanh chút nào, khác với thép, nên ban đầu các đạn Anh-Pháp thường chỉ làm cái đế vỏ, còn lại vẫn giấy.





Tình hình chiến sự Nga-Ottoman càng căng thẳng, thì tình hình trang bị Pháp Quốc càng căng thẳng. Chúng ta đã biết, một trong những động lực để Pháp Quốc can thiệt vào Việt Nam là họ bại trận liên tiếp ở châu Âu trước Đông Âu, từ đó, tăng cường đi cướp thuộc địa, cũng như nhồi sọ các thứ cặn bã chính trị như Triều Nguyễn, để nhồi súng lởm thải, và rồi cướp đất. Cử chuyên gia sang bán và huấn luyện súng lởm thải, vừa nhồi sọ cả vua đến dân liệt nãom, vừa buôn lậu chờ thời, vừa tọng súng lởm, vừa làm gián điệp, và rồi như vậy. Những cặn bã chính trị như Nguyễn Ánh cắm con bán nước, thì cũng lại tầm ngưu tầm mã với những cặn bã chính trị đục khoét đất nước của Napoleon thất thế. Ai viện trợ cho cặn bã Nguyễn Ãnh, ai đặt cược vào Nguyễn Ánh ?? ngoài những cặn bã chính trị bị đào thải, súng lởm bán thải và bọn nửa cưướp biển trốn chạy pháp luật châu Âu.

Sau khi Napoleon thất thế, Pháp bán đuôi Anh , viện trợ cho Ottoman đánh Nga, kết thúc bởi việc Phổ chiếm Prais 1870. Cũng hài, người ta quá khinh bỉ Buốc Bông bán nước thối nát, lại dựng cái hình nhân khoác oai cha ông là Napoleon III lên để .... dọa Đông Âu đang cường thịnh. Sau khi Phổ trang bị phôi thai của súng hiện đại M1841 Dreyse, thì việc hóa cải sang hạt nổ M1842, M1822T là quá lạc hậu, người Pháp tự đứng vào lớp hạ đẳng Anh Mỹ, nhưng lại vẫn ở sát nách Đông Âu, và vẫn gây sự với Đông Âu. Very Happy Very Happy Very Happy Very Happy Kỹ thuật theo duôi ngoại bang bán nước hại dân này thì Nhất Châu Âu, và xuất khẩu luôn sang Nhà Nguyễn, thứ sản phẩm chính trị- quân sự có đẳng cấp hàng hiệu duy nhất được xuất sang Đông Dương.



Cũng cần chú ý là, chỉ một phần rất nhỏ các MLE 1822, MLE 1842, MLE 1857... được hoán cải mức khai hậu, tức mở đáy nòng hoán cải sang nạp sau, lý do nói các post trên. Phần lớn chúng được khoan rộng ra 18mm để .... tương thích với đạn Anh Quốc.


Tất nhiên, ảnh trên không phải là khai hậu. Khoảng năm 1857, một số các model cũ được hoán cải sang thành model MLE 1822Tbis khai hậu. Việc hóa cải này rất lôm côm đa dạng, chỉ được định hình trong MLE 1867, gọi Mle 1822/67Tbis Tabatiere, anh em với các 1842/67, 1853/67 ...... Do kỹ thuật gia công cắt gọt kém, Phú Lãng Sa làm bằng khóa nòng đồng !!! Súng được thiết kế lại theo kiểu Snider-Enfield Model P/53 Anh Quốc, bản thân Anh Quốc cũng lại liên tục nhái lại các mấu hoán cải Áo-Hung, vì vậy, trả tiền license cho Snider Anh Quốc chính xác chỉ là một sự rửa tiền. Rõ ràng, sự đục khoét này dẫ đến những khó khăn về tốc độ sản xuất cũng như kỹ thuật thực hiện, dẫn đến những bê bối lôm côm, thay đổi liên tục mà số lượng , tính năng đều dẫm tại chỗ.

Các mãu súng cạc bin, bộ binh.... được hoán cải với các kiểu kỹ thuật và cấu tạo hình học khác nhau, như fussil bộ binh bằng đồng, cạc bin lại thép... cho thấy, sự bức xúc đấu tranh giữa bọn đục khoét và nỗi sợ hãi đang tăng dần từ phương Đông.

Có rất nhiều kế hoạch hoán cải lung tung không và nửa không chính thức, hay định chính thức nhưng thôi. Ví dụ, một lô súng theo mẫu MLE 1857 là có cấu tạo như MLE 1853, nhưng nòng xoắn và vẫn nhồi miệng. Các phiên bản hiện đại này được hoán cải trước, sau đó, mới khai thác đến bọn MLE 1822, cõ lẽ, cấu tạo và số lượng các 185x có vấn đề. Trong một đất nước làm khóa nòng khai hậu bằng đồng bên cạnh M1841, thì còn có rất nhiều vẫn đề, kể cả lịch sử có và không ghi lại.


Bộ binh bằng đồng, súng có bịt đáy nòng lật sang bên phải, cửa lật này có một lò xo xoắn nhỏ, bắn đạn có vỏ 17,8 -18,2 x 35mm. Vỏ đạn kiểu khai hậu đời đầu này ngắn, đã có hạt nổ tâm đáy vỏ, nhưng không có vai, có thể chỉ một phần là vỏ đồng, còn lại thân vỏ đạn là giấy. Xạ thủ tự nhồi đạn. Đầu đạn dĩ nhiên là kiểu đầu đạn nhọn, ngắn, có đai, lõm đuôi hay có lỗ tâm, mà Mỹ gọi là Miniê.




Đạn








Lơ súng trường bộ binh 1867



1 mút cơ tông (cạc bin)












khẩu khác


Súng système 1867 của Bỉ Thị Lỳ


http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/2/27/French_Tabatiere_carbine_1867.jpg
http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/5/55/French_Tabatiere_mechanism_1867_detail.jpg
http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/3/3e/French_Garde_Nationale_soldier_with_Tabatiere_rifle_1870.jpg


===========
_________________
http://sites.google.com/site/huyphuc1981nb/thu_muc
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn  

huyphuc1981_nb
Thượng úy
Thượng úy


Ngày tham gia: 20/05/2007
Bài gửi: 510

Bài gửigửi: 15.09.2010    Tiêu đề: khai hậu có khóa nòng trượt ngang Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

Trong khi khai hậu quốc doanh loay hoay 1849 Miniê đến 1867 mới có đủ kỹ thuật làm bằng thép. Thì khai hậu quốc lủi làm theo kiểu khóa nòng của phiên bản Vệ Binh Hoàng Đế MLE 1854, nhưng không dùng cái búa đứng quá thông minh ấy, mà dùng búa thường. Đạn kiểu Lefaucheux có kim hỏa trong vỏ. Cái múa này thì đương nhiên rung như FlintLock cổ đại, nhưng không đến nỗi rung như khi gắn liền nó với với khóa nòng nặng uỵch.

tham khảo đạn Lefaucheux ở đây
http://www.littlegun.be/arme%20francaise/artisans%20k%20l/a%20lefaucheux%2015mm%20gb.htm

Súng nguyên thủy là cạc bin 1822, máy cò Tulle. Mở khóa nòng thì kéo bịt đáy nòng sang trái.
















_________________
http://sites.google.com/site/huyphuc1981nb/thu_muc


Được sửa chữa bởi huyphuc1981_nb ngày 18.09.2010, sửa lần 2
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn  

huyphuc1981_nb
Thượng úy
Thượng úy


Ngày tham gia: 20/05/2007
Bài gửi: 510

Bài gửigửi: 15.09.2010    Tiêu đề: Hạt nổ và việc cải thiện tốc độ bắn ? Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

Hạt nổ và việc cải thiện tốc độ bắn ? sự thật về vỏ giấy nạp miệng

Chúng ta xem lại chuẩn bị bắn của đá lửa. Đạn của nó đã được đong và gói thành các vỏ đạn giấy cartridge. Mỗi gói giấy đó có cả đầu đạn và thuốc. Khi chuẩn bị bắn các flint lock musket đời cuối, ban đầu xạ thủ lên búa nấc giữa, cho phép nắp cốc mồi đóng lại. Sau đó, xạ thủ bóc hay cắn vỏ đạn, dùng vỏ đạn làm phễu, đổ vào nòng, tiếp tục đổ đầu đạn, lấy que lèn. Nhờ lỗ khoan cốc mồi "hiện đại hoá", nên thuốc chảy sang cốc và không phải nhồi cốc như xuc, cần nhớ là nắp cốc mồi vẫn được lò xo ép chặt. Sau đó lên búa nấc cao nhất chuẩn bị bắn.

Miniê trong các trào lưu quả cáo, được biểu diễn là dùng vỏ giấy làm xếc chui qua miệng. Thực chất, điều đó là có thật, nhờ cấu tạo ống dẫn lửa, búa và kim hoả từ 184x, như MLE 1822Tbis trên, hạt nổ nổ trong ống dẫn lửa được đậy kín, sức nổ mạnh, khoan thủng vỏ giấy, kiểu hạt nổ này trên thị trường gọi là hạt nổ to.

Tuy vậy, việc này hết sức không tin cậy, nên vẫn chỉ mang tính chất quảng cáo, và tốt nhất, là đổ thuốc bột ra nhồi. Do đó, có lợi là thời tiết, nhưng hạt nổ làm hơi giảm tốc độ bắn súng nạp miệng. Trong thực tế, người ta vẫn coi chúng bằng nhau 3 phát / phút theo cách tính tối đa. Dĩ nhiên, các súng nòng trơn này dễ nhồi hơn nhiều cát tút giấy của Miniê qua đằng miệng
http://armesfrancaises.free.fr/fusil%20d%27infanterie%20Mle%201777%20an%20IX.html
http://armesfrancaises.free.fr/fusil%20d%27infanterie%20Mle%201777%20an%20IX.html
http://armesfrancaises.free.fr/fusil%20d%27infanterie%20Mle%201822T%20bis.html
http://armesfrancaises.free.fr/fusil%20d%27infanterie%20Mle%201857.html

Như vậy, việc cải thiện tốc độ bắn, dùng đạn có vỏ napk miệng của Miniê chỉ là quảng cáo láo









kammerlader tuy hạt nổ nhưng ban đầu cũng như trên





Sau này, người ta cải tiến cái búa có dạng cốc chụp như MLE 1822Tbis trên, hạt nổ phát nổ trong óng dẫn lửa đã được đậy kín, lửa khoan thủng vỏ giấy, nên nhiều súng đã dùng đạn Minie vỏ giấy nạp miệng. Tuy vậy, điều này mang tính chất quảng cáo, và do đó, trong thực tế, là hạt nổ làm chậm đi một chút tốc độ bắn, những không đang kể, đươc tính là bằng nhau, theo cách tính tối đa là 3 phát / phút.












_________________
http://sites.google.com/site/huyphuc1981nb/thu_muc


Được sửa chữa bởi huyphuc1981_nb ngày 18.09.2010, sửa lần 1
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn  


Trình bày bài viết theo thời gian:   
gửi bài mới   Trả lời chủ đề này    VN Defence -> Kiến thức quốc phòng Thời gian được tính theo giờ [GMT+7giờ]
Chuyển đến trang Trang trước  1, 2, 3 ... 14, 15, 16, 17, 18, 19  Trang kế
Trang 15 trong tổng số 19 trang

 
Chuyển đến 
Bạn không có quyền gửi bài viết
Bạn không có quyền trả lời bài viết
Bạn không có quyền sửa chữa bài viết của bạn
Bạn không có quyền xóa bài viết của bạn
Bạn không có quyền tham gia bầu chọn


Thời gian mở trang: 2.641 giây. Số lần truy cập CSDL: 31
Site xây dựng trên cơ sở hệ thống NukeViet v2.0 - phát triển từ PHP-Nuke, lưu hành theo giấy phép của GNU/GPL.
Diễn đàn BBtoNuke 2.0.21 © 2006 Nuke Cops
Được phát triển từ phpBB 2.0.21 © 2001-2006 phpBB Group


-
-
Comments