Giun dẹp


Tham khảo
http://www.thuviensinhhoc.com/chuyen-de-sinh-hoc/dong-vat-khong-xuong-song.html?start=99
http://vi.wikipedia.org/wiki/Giun_dẹp
http://giavy12.blogspot.com/2011/05/nganh-giun-dep.html
http://dc429.4shared.com/doc/og3r0A6R/preview.html


Ngành giun dẹp (còn gọi là giun dẹt, hoặc sán dẹp, hoặc sán dẹt, tiếng Anh là Flatworms, ngành Platyhelminthes hay Platodes)


1. Cấu tạo:
1.1. Có cơ thể dẹp, đối xứng hai bên, thể hiện rõ nhất ở nhóm  sống tự do, di chuyển định hướng (bơi trong nước hay bò trên giá thể). Mặt phẳng đối xứng tương đồng ở động vật giun giẹp là măt  phẳng chứa trục miệng - đối miệng ở ấu trùng và mặt phẳng chứa trục cơ  thể vuông góc với mặt phẳng lưng và mặt phẳng bụng của con trưởng  thành. Về nguồn gốc đối xứng 2 bên của giun giẹp từ đối xứng toả tròn,  bằng cách giảm số bậc đối xứng toả tròn của ruột khoang và rõ nhất là ở  sứa lược (đối xứng toả tròn 2 tia - chỉ có 2 mặt phẳng đối xứng).
1.2. Cơ thể phân hoá thành đầu - đuôi, mặt lưng -  mặt bụng.
1.3. Tổ chức cơ thể có những thay đổi quan trọng như các cơ quan được hình thành từ 3 lá phôi. Tuy nhiên chưa xuất hiện một số cơ quan như thể xoang, tuần hoàn, hô hấp và các hoạt động sống như hô hấp còn xảy ra  qua bề  mặt cơ thể. Mô hình cơ thể giống như 2 túi lồng vào nhau, có  chung một lỗ miệng. Túi ngoài là bao biểu mô cơ, túi trong là cơ quan tiêu  hoá, giữa 2 túi là nội quan, nằm trong nhu mô đệm. Có cơ quan bài tiết là nguyên đơn thận.
1.4. Đã hình thành tế bào cơ riêng biệt tạo thành bao cơ gồm có cơ vòng, cơ dọc và cơ chéo. Tế bào cơ của lớp cơ  vòng và cơ dọc hoạt động đối kháng nhau, tạo nên sự chuyển động theo kiểu làn sóng co duỗi dồn dần từ trước ra sau. Đây là đặc trưng của lối di  chuyển uốn sóng của giun dẹp.
1.4.1. Mô bì loài sống tự do gồm các tế bào biểu mô cơ bao ngoài có tiêm mao (lông).
1.4.2. Khi chuyển sang đời sống ký sinh thì lông, giác quan và cả hệ tiêu hoá tiêu giảm, vách ngăn biến mất để chuyển thành lớp hợp bào, sau đó nhân tế bào cùng lớp tế bào chất bao quanh nhân sẽ chuyển sâu vào trong hình thành nên mô chìm khác với giun giẹp sống tự do. Hình thành và phát triển một số cơ quan khác như cơ quan bám, cơ  quan sinh sản….Tăng các hình thức sinh sản và sinh sản theo qui luật số lớn.  
1.5. So với ruột khoang và sứa lược thì giun giẹp đã xuất hiện một số cơ  quan mới như hệ thần kinh có hình thành não, hệ bài tiết là nguyên đơn  thận, hệ sinh dục có thêm tuyến phụ sinh dục, ống dẫn sinh dục và có thể  có cả cơ quan giao phối. Tuy nhiên hệ tiêu hoá thì có cùng mức độ tổ chức như Ruột khoang.


2. Chúng có khoảng 20.000 loài, được chia thành 4 lớp
2.1. 1 lớp chiểm 16%, được gọi là lớp giun dẹp có tiêm mao (còn gọi là sán lông, lớp Turbellria) có khoảng 3.000 loài, chỉ một số ít (150 loài) sống hội sinh  hay ký sinh trong cơ thể động vật, còn phần lớn sống tự do ở biển, nước ngọt như sán Plarina và đất ẩm như Bipalium Kewense.
2.2. 3 lớp còn lại chiếm 84% sống ký sinh trong cơ thể động vật như sán lá đơn chủ (Monogenoidea), sán lá song chủ (Digenea), sán dây (Cestoda) như sán xơ mít.


3. Chúng đa số sống bất tử (không bao giờ chết). Chúng có thể sinh sản ở cả hai dạng: hữu tính (trong điều kiện bình thường) hoặc vô tính (nếu bị cơ thể bị đứt, mỗi phần cơ thể phát triển thành một cơ thể mới).