Thư viện pháp luật

Thông báo Gần đây

Hiển thị bài đăng 1 - 10trong tổng số 55. Xem nội dung khác »

Phải xin phép xây dựng để sửa chữa nhà xây tạm

đăng 19:04 10-07-2012 bởi Vu Phi

(DiaOcOnline.vn) Tôi có mua một mảnh đất với diện tích, chiều rộng 4m2 và chiều sâu 9m2 trong hẻm 3m ở phường phú thuận,Q7(TPHCM)vào năm 2001 và được UBND Quận cấp giấy chứng nhận QSDĐ giấy đỏ. Cũng trong năm 2001 tôi đã tự cất căn nhà tạm để ở,cho tới nay căn nhà đã xuống cấp không thể ở được nữa. 

Tôi muốn xin được cấp giấy hồng và xin giấy phép xây dựng cho căn nhà trên có được không? Và điều kiện, thủ tục như thế nào để được cấp giấy và xây nhà. Xin chân thành cảm ơn. 


Kính gửi: Quý bạn đọc

Café Luật – Chuyên mục hợp tác giữa Cổng thông tin và giao dịchDiaOcOnline.vn và Công ty Luật Giải Phóng xin gửi đến bạn lời chào trân trọng. Theo nội dung thư bạn gửi; Căn cứ vào những quy định của pháp luật hiện hành Cafe Luật xin phúc đáp đến bạn như sau: 

Trước đây, giấy chứng nhận chủ quyền cấp cho người sử dụng đất và chủ sở hữu nhà có tên gọi là “giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở”, giấy này được thiết kế màu hồng nhạt, thường gọi là “giấy hồng”. Trong khi đó, giấy chứng nhận chủ quyền cấp cho người sử dụng đất trong trường hợp trên đất không có nhà có tên gọi là “giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”, giấy này được thiết kế với bìa màu đỏ, thường gọi là “giấy đỏ”.

Hiện nay, căn cứ khoản 2 điều 4 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật liên quan đến đầu tư cơ bản số 38/2009/QH12, khoản 4 Điều 48 Luật Đất đai 2003 quy định: “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp cho người sử dụng đất theo một mẫu thống nhất trong cả nước đối với mọi loại đất. Trường hợp có tài sản gắn liền với đất thì tài sản đó được ghi nhận trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; chủ sở hữu tài sản phải đăng ký quyền sở hữu tài sản theo quy định của pháp luật về đăng ký bất động sản”. Người đã được cấp giấy đỏ hoặc giấy hồng sẽ được đổi sang giấy mới khi có sự chuyển quyền sử dụng đất. Và theo Quyết định số 24/2004/QĐ-BTNMT ngày 01/11/2004 ban hành quy định về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì mẫu giấy chứng nhận này cũng có màu đỏ. Như vậy, một sản phẩm giấy đỏ mới đã ra đời theo Luật Đất đai 2003 thay thế cho ba loại giấy tờ đỏ, hồng, tím hợp pháp đang tồn tại, thống nhất chung một giấy chứng nhận cho mọi loại đất và cả tài sản trên đất.

Để xây dựng nhà mới, trước tiên ông cần làm thủ tục xin cấp giấy phép xây dựng. Theo quy định tại điều 5 và điều 17 Quyết định 68/2010/QĐ-UBND ngày 14-9-2010 của UBND TP.HCM, ông nộp tại UBND quận 7 bộ hồ sơ xin phép xây dựng gồm:

1. Đơn xin cấp giấy phép xây dựng (1 bản chính - theo mẫu tại phụ lục IV ban hành kèm theo Nghị định số 12/2009/NĐ-CP);

2. Bản sao có chứng thực giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;

3. Bản vẽ thiết kế (2 bộ bản chính):

Ngoài ra, bạn cũng cần lưu ý, theo khoản 2 điều 10 Quyết định 68/2010/QĐ-UBND, trong trường hợp khu vực nơi có đất đã có quy hoạch chi tiết xây dựng tỉ lệ 1/500 được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt và công bố, đã có quyết định thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất của cơ quan có thẩm quyền nhưng chưa triển khai thực hiện quy hoạch thì không được xây dựng mới; sửa chữa, cải tạo làm thay đổi quy mô, kết cấu công trình và diện tích sử dụng; chỉ được sửa chữa nhỏ như: thay mái chống dột, thay nền, thay vách ngăn.

Sau khi được cấp giấy phép xây dựng, trước khi khởi công, bạn phải đăng ký việc xây dựng công trình tại ủy ban nhân dân phường để được kiểm tra, theo dõi thi công.

Sau khi công trình hoàn tất, theo khoản 2 điều 11 và khoản 1 điều 16 Nghị định 88/2009/NĐ-CP, bạn sẽ làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở và quyền sở hữu nhà ở (sổ hồng) tại văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thuộc phòng tài nguyên và môi trường quận với thành phần hồ sơ gồm:

1. Đơn đề nghị cấp giấy chứng nhận;

2. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;

3. Giấy phép xây dựng;

4. Các giấy tờ có liên quan khác theo yêu cầu của cơ quan tiếp nhận hồ sơ.

Đất có diện tích 85m2 có thể tách thành 3 thửa được không?

đăng 19:03 10-07-2012 bởi Vu Phi

Câu hỏi: 

Kính gửi luật sư. Trong sổ hộ khẩu và sổ hồng nhà tôi do mẹ tôi đứng chủ hộ. Trên mảnh đất 85m2 này năm 1997 bố mẹ tôi xây 3 căn nhà cho 3 anh em tôi. Mẹ tôi mất năm 2011. Đến nay bố tôi muốn tách sổ đứng chủ quyền cho 3 anh em tôi có được không? Cách làm như thế nào? và làm thủ tục ở đâu? Xin chân thành cám ơn! (hoanghak83@yahoo.com.vn) 

Kính gửi Quý bạn đọc

Café Luật – Chuyên mục hợp tác giữa Cổng thông tin và giao dịch DiaOcOnline.vn vàCông ty luật hợp danh Thiên Thanh xin gửi đến bạn lời chào trân trọng. Theo nội dung thư bạn gửi; Căn cứ vào những quy định của pháp luật hiện hành Café Luật xin phúc đáp đến bạn như sau: 

Về nguyên tắc chung của pháp luật Dân sự về thừa kế thì khi một người chết sẽ làm phát sinh quan hệ thừa kế đối với khối di sản do người đó để lại. Trong trường hợp này, nếu tài sản đó là tài sản riêng của mẹ bạn và mẹ bạn chết đi mà không để lại di chúc thì gia đình bạn phải tiến hành khai nhận di sản thừa kế tại UBND xã, phường, thị trấn hoặc tại phòng Công chứng. Sau đó mới có thể tiến hành phân chia di sản thừa kế. Trong trường hợp này, các đồng thừa kế của mẹ bạn bao gồm tất cả những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất, chứ không phải chỉ có 3 anh em bạn. Điều 676 Bộ luật Dân sự Việt Nam quy định về hàng thừa kế thứ nhất như sau: 

Điều 676. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết; …

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

Trong trường hợp căn nhà và quyền sử dụng đất là tài sản chung của bố mẹ bạn, thì mẹ bạn chỉ có ½ trong khối tài sản chung mà thôi. Chính vì vậy, gia đình bạn phải tiến hành khai nhận di sản thừa kế đối với khối di sản mà mẹ bạn để lại. Còn ½ căn nhà trên thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bố bạn. Nếu bố bạn đồng ý tặng cho số tài sản đấy cho anh em bạn thì sẽ làm hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất sang cho anh em bạn.

Trình tự, thủ tục tặng cho, nhận thừa kế quyền sử dụng đất được Luật Đất đai năm 2003 quy định như sau: Điều 129. Trình tự, thủ tục đăng ký thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất 

1. Việc nộp hồ sơ thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất được quy định như sau: 

a) Hồ sơ thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất nộp tại văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất; trường hợp hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất tại nông thôn thì nộp tại Uỷ ban nhân dân xã nơi có đất để chuyển cho văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất;

b) Hồ sơ thừa kế quyền sử dụng đất gồm di chúc hoặc biên bản phân chia thừa kế hoặc bản án, quyết định giải quyết tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất của Toà án nhân dân đã có hiệu lực pháp luật và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; trường hợp người được nhận thừa kế là người duy nhất thì hồ sơ thừa kế gồm đơn đề nghị và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Hồ sơ tặng cho quyền sử dụng đất gồm văn bản cam kết tặng cho hoặc hợp đồng tặng cho hoặc quyết định của tổ chức tặng cho quyền sử dụng đất và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Văn bản cam kết tặng cho hoặc hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài phải có chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất hoặc chứng nhận của công chứng nhà nước.

2. Trong thời hạn không quá mười ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất có trách nhiệm thẩm tra hồ sơ, chuyển hồ sơ đến cơ quan quản lý đất đai thuộc Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trường hợp bên nhận quyền sử dụng đất phải thực hiện nghĩa vụ tài chính mà nghĩa vụ tài chính đó được xác định theo số liệu địa chính thì văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất gửi số liệu địa chính đến cơ quan thuế để xác định nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật; văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thông báo cho bên nhận quyền sử dụng đất thực hiện nghĩa vụ tài chính.

Trong thời hạn không quá năm ngày làm việc, kể từ ngày thực hiện xong nghĩa vụ tài chính, người nhận quyền sử dụng đất nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại nơi đã nộp hồ sơ.

Tuy nhiên, trong trường hợp này, diện tích đất chỉ có 85 m2 thì sẽ rất khó cho bạn có thể tách thành 3 thửa đất độc lập cho 3 anh em bạn được. Do bạn không nói rõ bạn ở tỉnh nào, nên chúng tôi không thể tư vấn cụ thể diện tích đất tối thiểu để được tách thửa tại địa phương là bao nhiêu. Đề nghị bạn liên hệ trực tiếp với Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất tại địa phương để được giải đáp cụ thể. 

Hồ sơ chuyển nhượng QSDĐ quá 10 ngày không nộp thuế sẽ bị phạt có đúng không?

đăng 19:01 10-07-2012 bởi Vu Phi

Câu hỏi: 

Tôi vừa mua một mảnh đất nông nghiệp, thủ tục công chứng đã hoàn tất đầy đủ, và tôi đã gửi phòng một cửa để đính chính lại sổ đỏ, cán bộ phòng một cửa có đưa cho tôi giấy hẹn sau một tháng đến lấy. Tôi vẫn băn khoăn vì nghe nói nếu hồ sơ mà quá 10 ngày không nộp thuế thì sẽ bị phạt 2 lần, như vậy có đúng không? Xin luật sư tư vấn giúp tôi. 

Kính gửi Quý bạn đọc

Café Luật – Chuyên mục hợp tác giữa Cổng thông tin và giao dịch DiaOcOnline.vn vàCông ty luật hợp danh Thiên Thanh xin gửi đến bạn lời chào trân trọng. Theo nội dung thư bạn gửi; Căn cứ vào những quy định của pháp luật hiện hành Café Luật xin phúc đáp đến bạn như sau: 

Luật Đất đai năm 2003 quy định về trình tự, thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất cụ thể như sau:

Điều 127. Trình tự, thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất 

1. Việc nộp hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất được quy định như sau:

a) Hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất nộp tại văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất; trường hợp hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất tại nông thôn thì nộp tại Uỷ ban nhân dân xã nơi có đất để chuyển cho văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất;

b) Hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất gồm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. 

Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải có chứng nhận của công chứng nhà nước; trường hợp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân thì được lựa chọn hình thức chứng nhận của công chứng nhà nước hoặc chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất. 

2. Trong thời hạn không quá mười lăm ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất có trách nhiệm thẩm tra hồ sơ, gửi hồ sơ cho cơ quan quản lý đất đai thuộc Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trường hợp các bên chuyển nhượng phải thực hiện nghĩa vụ tài chính mà nghĩa vụ tài chính đó được xác định theo số liệu địa chính thì văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất gửi số liệu địa chính đến cơ quan thuế để xác định nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật; văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thông báo cho các bên chuyển nhượng thực hiện nghĩa vụ tài chính.

Trong thời hạn không quá năm ngày làm việc, kể từ ngày thực hiện xong nghĩa vụ tài chính, các bên tham gia chuyển nhượng quyền sử dụng đất nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại nơi đã nộp hồ sơ.

Như vậy, sau khi tiếp nhận hồ sơ của bạn, Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất sẽ phải gửi hồ sơ sang cơ quan thuế để tính thuế và các nghĩa vụ tài chính khác. Trong trường hợp bạn phải thực hiện nghĩa vụ tài chính thì cơ quan thuế sẽ gửi thông báo thuế cho Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất và bạn đến bộ phận một cửa, nhận thông báo thuế để đi nộp thuế. Trong trường hợp này, sau 10 ngày kể từ ngày nhận thông báo thuế mà bạn không đi nộp thuế thì mới bị phạt, chứ không phải tính từ ngày nộp hồ sơ. 

Tư vấn về đất hương hỏa?

đăng 19:01 10-07-2012 bởi Vu Phi

Câu hỏi: 

Gia đình tôi hiện đang sở hữu 1 mảnh đất rộng 2500m2 bao gồm nhà ở và đất vườn. Mảnh đất này trước đây do ông nội tôi đứng tên sở hữu,sau khi ông nội tôi mất thì bố tôi tiếp quản mảnh đất này. Bố tôi là thương binh hạng ¼. Năm 1992 bố tôi đã làm thủ tục giấy tờ nhà đất và đã được UBND Huyện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm 2004, bố tôi qua đời, khi bố tôi qua đời không để lại di chúc gì cả.

Năm 2011,khi UBND xã ra thông báo đo đạc lại và cấp lại giấy tờ đất thì mẹ tôi làm thủ tục để chuyển giấy tờ đất qua tên mẹ tôi. Vấn đề là trong mảnh đất 2500m2 đó ngoài ngôi nhà của gia đình tôi còn có một nhà thờ nhánh. Nhà thờ nhánh này đã tọa lạc ở đây khi ông nội tôi còn sống tức là cách đây khoảng 40 năm. Đây là nhà thờ tổ tiên, khi xây dựng nhà thờ nhánh này các ông đời trước đã thỏa thuận xây trong mảnh vườn của ông tôi. Giờ đây mấy chú mấy bác trong nhà thờ nhánh (mấy chú mấy bác với bố tôi là anh em chú bác cùng 1 ông cố nội) yêu cầu mẹ tôi phải kê khai trong giấy tờ đất mới đang làm này là đất hương hỏa (chỉ được sử dụng cho thờ cúng,không được phép mua bán) chứ không phải là đất nhà ở. Trong khi đó mảnh đất này trong giấy tờ sử dụng do ông nội tôi đứng tên và giấy tờ sử dụng do bố tôi đứng tên đều ghi là đất nhà ở. Và gia đình tôi đều nộp thuế nhà đất đầy đủ theo pháp luật. Tuy nhiên do bố tôi là thương binh nên khi bố tôi còn sống các khoản thuế nhà đất đều được miễn theo quy định của pháp luật. Vậy cho tôi hỏi việc làm của mấy chú mấy bác yêu cầu mẹ tôi phải kê khai đất hương hỏa là đúng hay sai theo quy định của pháp luật. Và nếu xảy ra tranh chấp mảnh đất này thì gia đình tôi phải làm thế nào để được hưởng đúng quyền lợi về mảnh đất này. 


Kính gửi Quý bạn đọc

Café Luật – Chuyên mục hợp tác giữa Cổng thông tin và giao dịch DiaOcOnline.vn vàCông ty luật hợp danh Thiên Thanh xin gửi đến bạn lời chào trân trọng. Theo nội dung thư bạn gửi; Căn cứ vào những quy định của pháp luật hiện hành Café Luật xin phúc đáp đến bạn như sau: 

Đối với trường hợp dùng di sản vào việc thờ cúng, Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định cụ thể như sau:

Điều 670. Di sản dùng vào việc thờ cúng

1. Trong trường hợp người lập di chúc có để lại một phần di sản dùng vào việc thờ cúng thì phần di sản đó không được chia thừa kế và được giao cho một người đã được chỉ định trong di chúc quản lý để thực hiện việc thờ cúng; nếu người được chỉ định không thực hiện đúng di chúc hoặc không theo thoả thuận của những người thừa kế thì những người thừa kế có quyền giao phần di sản dùng vào việc thờ cúng cho người khác quản lý để thờ cúng. Trong trường hợp người để lại di sản không chỉ định người quản lý di sản thờ cúng thì những người thừa kế cử một người quản lý di sản thờ cúng.

Trong trường hợp tất cả những người thừa kế theo di chúc đều đã chết thì phần di sản dùng để thờ cúng thuộc về người đang quản lý hợp pháp di sản đó trong số những người thuộc diện thừa kế theo pháp luật.

2. Trong trường hợp toàn bộ di sản của người chết không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người đó thì không được dành một phần di sản dùng vào việc thờ cúng.

Như vậy, việc dùng một phần di sản vào việc thờ cúng chỉ áp dụng đối với trường hợp người chết để lại di chúc và trong nội dung di chúc có chỉ định về việc dùng một phần di sản dùng vào việc thờ cúng. Trong trường hợp nhà bạn, từ ông đến bố bạn (là những người sử dụng hợp pháp đối với thửa đất) chết mà không để lại di chúc và cũng không chỉ định đối với việc sẽ dùng một phần di sản vào việc thờ cúng. Chính vì vậy, không có căn cứ để buộc gia đình bạn phải để lại một phần di sản vào việc thờ cúng. 

Có phải chung cư mini chỉ được phép xây dựng 7 tầng?

đăng 20:29 10-06-2012 bởi Vu Phi

Câu hỏi: 

Tôi đang có nhu cầu mua một căn hộ chung cư mini. Căn hộ này nằm trên tầng 8, đang chuẩn bị hoàn thành. Theo tôi được biết thì nhà chung cư mini thì chỉ được phép xây dựng 7 tầng. Nếu tôi mua căn hộ này thì sẽ không được cấp sổ hồng. Tôi biết nếu tôi mua sẽ có có rủi ro. Cho hỏi nếu tôi mua căn hộ này thì những rủi ro gì sẽ xảy ra với tôi?

Kính gửi: Quý bạn đọc

Café Luật – Chuyên mục hợp tác giữa Cổng thông tin và giao dịchDiaOcOnline.vn và Công ty Luật Giải Phóng xin gửi đến bạn lời chào trân trọng. Theo nội dung thư bạn gửi; Căn cứ vào những quy định của pháp luật hiện hành Cafe Luật xin phúc đáp đến bạn như sau: 

Hiện nay thì pháp luật không quy định số tầng tối đa khi xây dựng chung cư, nên thông tin chung cư mini chỉ được phép xây dựng 7 tầng là không chính xác. Khi xây dựng thì chủ đầu tư phải xin giấy phép xây dựng, và trong giấy phép xây dựng sẽ cho phép chủ đầu tư xây tối đa bao nhiêu tầng. Và chủ đầu tư phải thực hiện xây dựng chung cư đúng theo giấy phép xây dựng theo quy định tại khoản 2 điều 10 Luật xây dựng.

Nếu chủ đầu tư xây dựng chung cư được cấp phép theo quy định tại điều 62 Luật xây dựng và không vi phạm các quy định cấm quy định tại điều 10 luật này thì sẽ được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu. Và khi bạn mua căn hộ từ chung cư này thì không có rủi ro lớn. Và bạn chỉ nên mua nhà ở những chung cư có giấy chứng nhận quyền sở hữu để tránh rủi ro.

Ðiều 10. Các hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động xây dựng

Trong hoạt động xây dựng nghiêm cấm các hành vi sau đây:

1.
 Xây dựng công trình nằm trong khu vực cấm xây dựng; xây dựng công trình lấn chiếm hành lang bảo vệ công trình giao thông, thủy lợi, đê điều, năng lượng, khu di tích lịch sử - văn hóa và khu vực bảo vệ các công trình khác theo quy định của pháp luật; xây dựng công trình ở khu vực có nguy cơ lở đất, lũ quét, trừ những công trình xây dựng để khắc phục những hiện tượng này;

2. 
Xây dựng công trình sai quy hoạch, vi phạm chỉ giới, cốt xây dựng; không có giấy phép xây dựng đối với công trình theo quy định phải có giấy phép hoặc xây dựng công trình không đúng với giấy phép xây dựng được cấp;

3.
 Nhà thầu hoạt động xây dựng vượt quá điều kiện năng lực hành nghề xây dựng, năng lực hoạt động xây dựng; chọn nhà thầu không đủ điều kiện năng lực hành nghề xây dựng, năng lực hoạt động xây dựng để thực hiện công việc;

4. Xây dựng công trình không tuân theo quy chuẩn, tiêu chuẩn xây dựng;

5
. Vi phạm các quy định về an toàn tính mạng con người, tài sản và vệ sinh môi trường trong xây dựng; 

6.
 Cơi nới, lấn chiếm không gian, khu vực công cộng, lối đi và các sân bãi khác đã có quy hoạch xây dựng được duyệt và công bố; 

7
. Ðưa và nhận hối lộ trong hoạt động xây dựng; dàn xếp trong đấu thầu nhằm vụ lợi, mua bán thầu, thông đồng trong đấu thầu, bỏ giá thầu dưới giá thành xây dựng công trình trong đấu thầu;

8
. Lạm dụng chức vụ, quyền hạn vi phạm pháp luật về xây dựng; dung túng, bao che cho hành vi vi phạm pháp luật về xây dựng;

9. Cản trở hoạt động xây dựng đúng pháp luật;

10
. Các hành vi khác vi phạm pháp luật về xây dựng.

Trong trường hợp của bạn, nếu bạn mua chung cư ở tầng 8 mà giấy phép xây dựng chỉ cho phép tối đa 7 tầng thì căn hộ của bạn sẽ không bao giờ được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở. Từ đó bạn không thể thực hiện các quyền mua bán, chuyển nhượng căn hộ.

Hiện tại thì căn cứ tại Nghị định 71/2010/NĐ-CP và Thông tư 16/2010/TT-BXD quy định việc mua bán các căn hộ của chung cư không cần phải qua sàn giao dịch bất động sản mà chỉ cần ra công chứng. Thế nhưng, cơ quan công chứng chỉ công chứng vị trí ngôi nhà tại khu chung cư mini được đem ra mua bán (công chứng định vị) mà thôi. Như vậy, hợp đồng mua bán căn hộ này rủi ro rất là cao.

Con nuôi có được hưởng tài sản thừa kế hay không?

đăng 18:22 13-04-2012 bởi Vu Phi

Câu hỏi: 

Ba tôi đã mất không làm di chúc, má tôi hiện nay còn sống. Cho tôi hỏi nếu sau má tôi mất đi không có làm di chúc thì tài sản căn nhà của ba má tôi vẫn được chia đều cho các con (con đẻ và con nuôi) phải không? Ba má tôi có tất cả 5 người con đẻ và một người con nuôi. Vậy tài sản có chia đều cho 6 người con không? Cháu nội, ngoại hoặc con dâu, con rể có được thừa kế nếu không làm di chúc không? 



Kính gửi: Quý bạn đọc

Café Luật – Chuyên mục hợp tác giữa Cổng thông tin và giao dịch DiaOcOnline.vn vàCông ty luật hợp danh Thiên Thanh xin gửi đến bạn lời chào trân trọng. Theo nội dung thư bạn gửi; Căn cứ vào những quy định của pháp luật hiện hành Café Luật xin phúc đáp đến bạn như sau: 

Trả lời: Pháp luật Dân sự Việt Nam quy định chi tiết về việc thừa kế cụ thể như sau: 

Điều 631. Quyền thừa kế của cá nhân 

Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật. 

Trong trường hợp người chết đi mà không để lại di chúc hoặc có để lại di chúc nhưng di chúc không hợp pháp thì di sản thừa kế sẽ được phân chia cho những người thừa kế theo pháp luật. Cụ thể như sau: 

Điều 676. Người thừa kế theo pháp luật 

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây: 

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết; 

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại; 

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại. 

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau. 

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản. 

Trong trường hợp này, nếu cả ba và mẹ bạn chết đi và không để lại di chúc thì tài sản của họ sẽ được phân chia theo các quy định ở trên. Tuy nhiên, bạn cần phải xác định việc nhận con nuôi của ba mẹ bạn có đúng theo quy định của pháp luật Việt Nam không. Nếu việc nhận con nuôi là hợp pháp theo quy định của pháp luật Việt Nam thì người đó mới được nhận di sản thừa kế do ba mẹ bạn để lại. 

Bạn có thể tham khảo thêm các quy định tại Chương XXIV của Bộ luật Dân sự về Thừa kế theo pháp luật nhé. 

***

Người có quốc tịch nước ngoài có được đứng tên sở hữu nhà đất tại Việt Nam?

đăng 02:27 13-04-2012 bởi Vu Phi

Câu hỏi: 

Tôi là người Việt Nam kết hôn với người Hàn Quốc và sống ở Hàn Quốc đã được 14 năm. Hiện tôi có quốc tịch Hàn Quốc. Ba mẹ tôi mất đi có để lại đất đai nhưng ủy quyền toàn bộ số đất cho anh trai tôi. Gia đình tôi có 10 người con, tôi là con gái út. Toàn bộ số đất thừa kế hiện chưa được tách sổ đỏ. Về phần tôi, tôi được hưởng 2 miếng nhưng vì tôi không có quốc tịch Việt Nam nên đến nay tôi cũng không thể tách ra được. Vậy cho tôi hỏi, tôi phải làm sao để có thể đứng tên 2 miếng đất đó?

Tôi xem trên mạng thì thấy là người có gốc Việt nam phải về đầu tư thì mới có quyền mua đất. Vậy tôi phải có giấy phép kinh doanh ở VN mới làm giấy chuyển nhượng được hay sao? Hay là tôi chỉ ề ở VN và làm việc ăn lương khoảng 3 tháng trở lên thì có thể làm giấy tờ đứng tên đất được?

Mong Café Luật tư vấn giúp tôi vấn đề trên.

Kính gửi: Quý bạn đọc

Café Luật – Chuyên mục hợp tác giữa Cổng thông tin và giao dịch DiaOcOnline.vn vàCông ty luật hợp danh Thiên Thanh xin gửi đến bạn lời chào trân trọng. Theo nội dung thư bạn gửi; Căn cứ vào những quy định của pháp luật hiện hành Café Luật xin phúc đáp đến bạn như sau: 

Điều 631 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: "Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình, để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật, hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật". Khoản 5, Điều 113, Luật Đất đai năm 2003 quy định: "Cá nhân có quyền để thừa kế quyền sử dụng đất của mình theo di chúc hoặc theo pháp luật... 

Trường hợp người thừa kế là người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc đối tượng quy định tại khoản 1, Điều 121, Luật Đất đai thì được nhận quyền thừa kế quyền sử dụng đất; nếu không thuộc đối tượng quy định này thì được hưởng giá trị của phần thừa kế đó". 

Theo quy định tại Luật số 34/2009/QH12 ngày 18-12-2009 sửa đổi, bổ sung một số Điều 126 của Luật Nhà ở và Điều 121 Luật Đất đai, người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc các đối tượng "người có quốc tịch Việt Nam; người gốc Việt Nam thuộc diện người về đầu tư trực tiếp tại Việt Nam theo pháp luật về đầu tư; người có công đóng góp cho đất nước; nhà khoa học, nhà văn hóa, người có kỹ năng đặc biệt mà cơ quan, tổ chức của Việt Nam có nhu cầu và đang làm việc tại Việt Nam; người có vợ hoặc chồng là công dân Việt Nam sinh sống ở trong nước", được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cho phép cư trú tại Việt Nam từ ba tháng trở lên, có quyền sở hữu nhà ở để bản thân và các thành viên trong gia đình sinh sống tại Việt Nam. Trường hợp tặng cho, để thừa kế cho đối tượng không thuộc diện được sở hữu nhà ở tại Việt Nam nêu trên thì đối tượng này chỉ được hưởng giá trị của nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở.

Căn cứ các quy định của pháp luật nêu trên và điều kiện của mình, nếu bạn thuộc đối tượng được sở hữu nhà ở tại Việt Nam thì bạn có quyền đứng tên quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, là di sản thừa kế. Trường hợp bạn không thuộc đối tượng được sở hữu nhà ở thì chỉ được hưởng giá trị của ngôi nhà, gắn với quyền sử dụng đất, là di sản thừa kế khi mẹ của bạn qua đời.

***

Nhà, đất bị thu hồi được bồi thường như thế nào?

đăng 02:24 13-04-2012 bởi Vu Phi

Câu hỏi: 

Gia đình tôi có 2500m2 đất liền với nhà ở nhưng khi doanh nghiệp thu hồi để làm dự án xử lý rác thì chỉ bồi thường cho gia đình tôi 85m2 (đây là 4 gian nhà mà nhà nước đã thanh lý cho nhân viên để ở ) là đất thổ cư, phần còn lại là tính giá bồi thường theo đất khai hoang 15 triệu/360m2 . Trong khi nhà tôi đã định cư tại mảnh đất đó từ năm 1976 đến nay không có tranh chấp gì. Vậy doanh nghiệp làm như thế đúng hay sai ?

Kính gửi: Quý bạn đọc

Café Luật – Chuyên mục hợp tác giữa Cổng thông tin và giao dịch DiaOcOnline.vn vàCông ty luật hợp danh Thiên Thanh xin gửi đến bạn lời chào trân trọng. Theo nội dung thư bạn gửi; Căn cứ vào những quy định của pháp luật hiện hành Café Luật xin phúc đáp đến bạn như sau: 

Đối với trường hợp cụ thể của bạn, do ở đây bạn đưa ra quá ít thông tin dữ liệu để chúng tôi có thể tư vấn chính xác về vấn đề này. Nên chúng tôi không thể tư vấn cũng như kết luận sai hay đúng đối với vụ việc của bạn. Về việc thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ bạn nên tham khảo “Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 8 năm 2009 của Chính phủ quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư”, để biết cụ thể trường hợp của gia đình bạn đang gặp phải. 

Trong trường hợp bạn muốn chúng tôi tư vấn chính xác và cụ thể đối với vụ việc này, đề nghị bạn cung cấp cho chúng tôi toàn bộ hồ sơ, tài liệu về thửa đất của gia đình bạn đang sử dụng cũng như tài liệu về việc đền bù, giải phóng mặt bằng của chủ đầu tư dự án tại đó (bản sao). Sau khi nghiên cứu chúng tôi sẽ tư vấn cho bạn về cách giải quyết theo đúng quy định của pháp luật.

***

Mua căn hộ chung cư không sổ đỏ có được nhà nước đền bù khi thu hồi không?

đăng 02:23 13-04-2012 bởi Vu Phi

Câu hỏi: 

Hiện tại tôi muốn mua một căn chung cư nhỏ (thuộc phường 1, quận Tân Bình). Đây là dạng chung cư được xây để phân bố cho giáo viên trường khí tượng và cán bộ của quân khu 7 (xây cách đây hơn 10 năm), không có sổ hồng hay sổ đỏ, chỉ có giấy cấp nhà của nhà nước cho chủ đầu tiên. Các giấy tờ mua bán sang nhượng sau đều là giấy tay, không có phường xã chứng nhận, chỉ có sự làm chứng của những người sống lâu năm nhất ở chung cư. Hiện tại đa số các căn đều được chủ gốc bán lại cho người dân. Nếu tôi mua thì tôi là người thứ 3-4 mua (nhà đã qua vài lần mua bán trước). Vậy việc mua bán này có vi phạm những qui định của nhà nước về buôn bán nhà ở không? Nếu sau này nhà nước cần lấy lại đất thì chúng tôi có được đền bù không? Nếu có đền bù thì sẽ đền bù cho chủ gốc hay đền bù cho người đang ở căn nhà đó.

Trân trọng cảm ơn luật sư.


Kính gửi: Quý bạn đọc

Café Luật – Chuyên mục hợp tác giữa Cổng thông tin và giao dịch DiaOcOnline.vn vàCông ty luật hợp danh Thiên Thanh xin gửi đến bạn lời chào trân trọng. Theo nội dung thư bạn gửi; Căn cứ vào những quy định của pháp luật hiện hành Café Luật xin phúc đáp đến bạn như sau: 

Thứ nhất:
 Ngôi nhà như bạn nói là chỉ có “Giấy cấp nhà của nhà nước cho chủ đầu tiên” mà bạn lại không cung cấp cho chúng tôi “giấy cấp nhà” ấy nên chúng tôi không biết là việc cấp này là chỉ cấp cho sử dụng (chỉ được sử dụng) hay là cấp quyền sở hữu đầy đủ và được quyền bán cho các chủ khác. Trong trường hợp cơ quan chỉ cấp cho cán bộ, nhân viên để ở thôi thì việc mua bán nhà sẽ là bất hợp pháp. Còn trong trường hợp cơ quan cấp quyền sở hữu đầy đủ và người được cấp có quyền bán thì căn nhà đó mới được phép chuyển nhượng cho người khác.

Thứ hai: Về hình thức hợp đồng như bạn nói thì hợp đồng mua bán chỉ làm văn bản viết tay và có người làm chứng cũng không hợp pháp. Bởi theo quy định tại Điều 450, Bộ luật Dân sự năm 2005 về hình thức hợp đồng mua bán nhà ở thì: “Hợp đồng mua bán nhà ở phải được lập thành văn bản, có công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”. 

Như vậy với việc chị định mua lại căn nhà bằng giấy viết tay có người làm chứng là khá mạo hiểm và ẩn chứa rất nhiều rủi ro về mặt pháp lý. Các trường hợp mua nhà thế này thường phát sinh tranh chấp trên thực tế và rất khó để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của bên mua nhà. 

***

Xin tách thửa đất ở Bình Chánh

đăng 02:22 13-04-2012 bởi Vu Phi

Câu hỏi: Trước tiên tôi xin trình bày hoàn cảnh hiện tại của tôi như sau: 

Hiện tại tôi đang mua một miếng đất thổ vườn (Trồng cây lâu năm) tại ấp 3 xã Tân Quí Tây, Huyện Bình Chánh, diện tích là 500 met vuông trong một thửa đất lớn diện tích hơn 3000 mét vuông đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Vị trí khu đất nằm trong hẽm nhỏ khoảng 1m. Tôi có xin thông tin quy hoạch của Huyện Bình Chánh và được Phòng Tài Nguyên Môi Trường Huyện Bình Chánh trả lời toàn văn như sau: 

"Căn cứ Nghị quyết hội đồng nhân dân số 103/NQ-HĐND ngày 17 tháng 7 năm 2008 của hội đồng nhân dân huyện Bình Chánh về việc thông qua tờ trình đồ án quy hoạch chung xây dựng huyện Bình Chánh đến năm 2020 và tờ trình số 29/TTr-UBND ngày 21 tháng 10 năm 2008 của Ủy ban nhân dân huyện Bình Chánh về việc xin ý kiến thẩm định và phê duyệt đồ án Quy hoạch chung xây dựng huyện Bình Chánh đến năm 2020, tỷ lệ 1/5000, vị trí khu đất thuộc quy hoạch là đất ở hiện hữu cải tao.

Căn cứ vào bản đồ định hướng khu dân cư hiện hữu trên địa bàn huyện Bình Chánh đã được UBND huyện Bình Chánh chấp thuận theo công văn số: 498/UBND và 499/UBND ngày 14/04/2009 về việc giải quyết các trường hợp giao đất, chuyển mục đích sử dụng đất để xây dựng nhà ở riêng lẽ trên địa bàn huyện. Vị trí khu đất thuộc quy hoạch một phần là đất dân cư đô thị và các khu chức năng đô thị phát triển mới, một phần là đường giao thông.( Vị trí khu đất nằm ngoài khu dân cư hiện hữu) Hiện nay, khu vực chưa có quy hoạch chi tiết 1/2000." 

Với nội dung trả lời như trên rất mong Anh/Chi tư vấn giúp tôi 3 vấn đề sau: 

1. Tôi có thể xin tách thửa với diện tích là 500 mét vuông được không?

2. Vị trí khu đất này có xin chuyển một phần diện tích thành đất ở được không?

3. Nếu không tách thửa được, và không chuyển mục đích sử dụng thành đất ở được, thì phần diện tích 500 met vuông tôi đã mua có được công chứng không? Do chủ đất nói là phải 1000 mét vuông mới công chứng được. 

Rất mong nhận được sự tư vấn của Anh/Chị. Xin chân thành cảm ơn.


Kính gửi: Quý bạn đọc

Café Luật – Chuyên mục hợp tác giữa Cổng thông tin và giao dịchDiaOcOnline.vn và Công ty Luật Giải Phóng xin gửi đến bạn lời chào trân trọng. Theo nội dung thư bạn gửi; Căn cứ vào những quy định của pháp luật hiện hành Cafe Luật xin phúc đáp đến bạn như sau: 

Căn cứ theo khoản 2 điều 3 Quyết định 19/2009/QĐ-UBND ngày 25/02/2009 của UBND TP Hồ Chí Minh có quy định về diện tích đất tối thiểu sau khi tách thửa đối với đất nông nghiệp trên địa bàn TP Hồ Chí Minh thì:

a) Trường hợp thửa đất thuộc khu vực quy hoạch để sản xuất nông nghiệp: được phép tách thửa nhưng các thửa đất mới được hình thành và thửa đất còn lại phải đảm bảo diện tích tối thiểu là 500m2 đối với đất nông nghiệp khác và 1.000m2 đối với đất nông nghiệp đã được quy hoạch để sản xuất nông nghiệp.

b) Trường hợp thửa đất thuộc khu vực phải thu hồi theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được phê duyệt và công bố để chuyển sang mục đích phi nông nghiệp thì không được tách thửa.

c) Trường hợp thửa đất thuộc khu vực phải thu hồi theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được phê duyệt và công bố để chuyển sang mục đích phi nông nghiệp, nhưng sau ba năm không thực hiện theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, nếu cơ quan có thẩm quyền (xét duyệt kế hoạch sử dụng đất) chưa điều chỉnh hoặc hủy bỏ thì được tách thửa, nhưng diện tích tối thiểu của thửa đất mới hình thành và thửa đất còn lại không được nhỏ hơn 1.000m2 và không được thay đổi mục đích sử dụng đất.
 d) Trường hợp thửa đất nằm trong khu vực quy hoạch sẽ chuyển sang đất phi nông nghiệp (đất nông nghiệp xen cài trong khu dân cư hiện hữu) và không thuộc khu vực phải thu hồi để đầu tư theo quy hoạch hoặc kế hoạch sử dụng đất đã được công bố:

- Nếu để tiếp tục sử dụng đất nông nghiệp thì việc tách thửa thực hiện theo điểm a khoản 2 này. - Nếu tách thửa để sử dụng đất phi nông nghiệp, phải thực hiện theo đúng quy hoạch. Trường hợp có nhu cầu thay đổi mục đích sang đất làm nhà ở:

+ Nếu thửa đất có diện tích từ 1.000m2 trở xuống thì thực hiện thủ tục thay đổi mục đích sang đất ở, sau đó thực hiện tách thửa đảm bảo các điều kiện nêu tại điểm b khoản 1 Điều này. Khi chuyển mục đích sử dụng đất, người sử dụng đất không phải nộp tiền sử dụng đất đối với diện tích đất làm cơ sở hạ tầng kỹ thuật.

+ Nếu thửa đất có diện tích lớn hơn 1.000m2 đến 2.000m2 thực hiện như đối với trường hợp có diện tích từ 1.000m2 trở xuống và đồng thời có phương án đầu tư hạ tầng kỹ thuật. Khi cơ sở hạ tầng kỹ thuật đã được đầu tư và có nghiệm thu của Ủy ban nhân dân quận, huyện thì mới thực hiện thủ tục tách thửa.

+ Nếu thửa đất có diện tích lớn hơn 2.000m2 phải lập dự án theo quy định pháp luật.

Trong trường hợp của bạn vừa nêu, để biết chính xác được rằng mảnh đất của bạn đã mua có được tách thửa, chuyển mục đích sử dụng được hay không thì cần phải xác định rõ vị trí mảnh đất đó có nằm trong quy hoạch đã được UBND công bố và phê duyệt không? Trường hợp có quy hoạch thì quy hoạch để nhằm mục đích gì ( mục đích sản xuất nông nghiệp, chuyển sang mục đích phi nông nghiệp,…) Về trường hợp nếu không tách thửa được, không chuyển mục đích sử dụng đất thành đất ở được thì bạn vẫn có thể công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với 500 m2 . Tuy nhiên, nếu không tách thửa được thì bạn chỉ có thể được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng chung với chủ sử dụng đất cũ mà không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất riêng.

***

1-10 of 55