Bồ ngót

RAU NGÓT


-Tên gọi khác: Bù ngót, bồ ngọt, bồng ngọt, rau tuốt, hắc diện thần (Trung Quốc).

-Tên tiếng Anh: Katuk, Star gooseberry, or Sweet leaf.

-Tên khoa học: Sauropus androgynus (L.) Merr.

-Tên đồng nghĩa: Cluytia androgyna L.; Sauropus albicans Blume


Phân loại khoa học

Bộ (ordo):

Malpighiales

Họ (familia):

Phyllanthaceae

Tông (tribus):

Phyllantheae

Phân tông (subtribus):

Flueggeinae

Chi (genus):

Sauropus

Loài (species):

Sauropus androgynus

Phân bố

Bồ ngót, bù ngót, rau tuốt (Sauropus androgynus) là một loài cây bụi mọc hoang ở vùng nhiệt đới Châu  Á nhưng cũng được trồng làm một loại rau ăn ở một số nước, như ở Việt Nam.

Mô tả

Cây bụi nhỏ, cao tới 1,5 – 2m, thân nhẵn, nhiều cành, mọc thẳng – Vỏ thân xanh, lục, rồi nâu nhạt. Lá mọc so le, dài 4 – 5cm, cuống ngắn có 2 lá kèm nhỏ. Phiến lá nguyên hình trứng dài hoặc bầu dục, mép nguyên.

Hoa đực mọc ở kẽ lá thành xim đơn ở phía dưới, hoa cái ở trên. Quả nang hình cầu, hạt có vân nhỏ. Rau ngót có ở nhiều nơi trong nước VN. Có thể mọc hoang hay trồng ở quanh bờ ao.

Khi hái ăn, thường chọn lá non. Vị rau tương tự như măng tây.

Trái ngót giống trái cà pháo nhưng kích thước nhỏ hơn.

Về mặt dinh dưỡng, rau ngót có lượng đạm cao, giàu chất vôi, nhiều sinh tố C và sinh tố K.



Thành phần hóa học

Theo một số nghiên cứu về thành phần hóa học của rau ngót cho thấy: Trong 100g rau có 6,5g đạm, 0,08g chất béo, 9g đường, 503mg kali, 15,7mg sắt, 13,5mg mangan, 0,45mg đồng, 23.300UI betacaroten, 85mg sinh tố C, 0,033mg B1, 0,88mg B2.

Qua đây thấy rau ngót (so với các rau lá khác) nhiều đạm, chất sắt, mangan và tiền sinh tố A. Rau ngót cũng khá nhiều magiê, đồng, kali, sinh tố C và PP. Về axit amin thì trong 100g rau ngót có 0,34 threonin, 0,25g phenylalanin, 0,24g leucin, 0,23g isoleucin, 0,16g lysin, 0,13g methionin, 0,05g tryptophan. Với chất lượng đạm thực vật cao như vậy nên rau ngót được khuyên dùng thay thế đạm động vật để hạn chế những rối loạn chuyển hóa canxi gây loãng xương và sỏi thận. Rau ngót được khuyên dùng cho người giảm cân và người bị bệnh đường huyết cao.

Ngoài ra rau ngót là một trong giới thực vật hiếm có chứa vitamin K. Theo American of clinical nutrition 1/1999 và tài liệu của Trường đại học Berkeley 7/1999 cho biết ăn rau có vitamin K thiên nhiên làm giảm nguy cơ gãy xương ở người già, do nó bảo vệ cấu trúc khung sụn chống lại sự bào mòn...

 Từ năm 1973 Pareira và Ifafar phát hiện trong rau ngót nhiều papaverin là chất từ trước chỉ tìm thấy trong cây thuốc phiện. Trong điều trị dùng papaverin để giãn cơ trơn của mạch máu làm giảm cơn đau phủ tạng, hạ huyết áp và gây cương cứng dương vật.

Cứ 100g rau ngót có 580mg papaverin cho nên nếu ăn quá nhiều rau ngót trong một bữa cơm thì về lý thuyết có thể gặp các phản ứng phụ do papaverin gây ra (buồn ngủ, chóng mặt, táo bón...).

Công dụng

a-Bồ ngót dùng làm rau

Người ta thường dùng đọt rau ngót hoặc các lá bánh tẻ để nấu canh với tôm, tép hoặc cá lóc, cá rô, thịt heo nạc, thịt bầm. Canh rau ngót ăn mát và có vị ngọt rất đặc biệt, có khi chỉ nấu suông vì rau có sẵn vị ngọt.

Cách nấu canh rau ngót cũng giống như các loại rau khác, nghĩa là đun nước cho thật sôi, cho tôm cá vào nồi, đun sôi chín rồi mới cho rau vào, đến khi rau chín thì nêm nếm lại bằng bột ngọt và nước mắm chưng (mắm cá lóc hoặc mắm sặc), hương vị nồi canh sẽ rất đậm đà. Canh rau ngót được nhiều người ưa thích vì vị ngọt dịu.

Ngoài nhiều vitamin và khoáng, rau ngót rất giàu đạm nên nó được khuyên dùng thay thế đạm động vật nhằm hạn chế những rối loạn chuyển hóa canxi gây loãng xương và sỏi thận. Nó rất tốt cho người ăn chay, hay cần giảm cân, tiểu đường, và áp huyết.

Ngoài ra, rau ngót là một loại thực vật hiếm hoi chứa vitamin K, một chất giúp giảm nguy cơ gãy xương ở người già. Nó cũng có nhiều papaverin - chất mà từ trước chỉ tìm thấy trong cây thuốc phiện, giúp giảm cơn đau phủ tạng, hạ huyết áp và và gây cương cứng dương vật.

b-Bồ ngót dùng làm thuốc

Theo Đông y, rau ngót tính mát lạnh (nấu chín sẽ bớt lạnh), vị ngọt, có công năng thanh nhiệt, giải độc, lợi tiểu, tăng tiết nước bọt, hoạt huyết, hóa ứ, bổ huyết, cầm máu, nhuận tràng, sát khuẩn, tiêu viêm, sinh cơ. Rau ngót là thang thuốc vừa chữa bệnh vừa bồi bổ, vừa nâng đỡ chính khí vừa trừ tà khí, tăng sức đề kháng của cơ thể...

Y học dân gian thuốc Nam dùng rau ngót để giải nhiệt, giải rượu, trừ tưa lưỡi trẻ conngăn ngừa đái dầmhạ huyết áp.

Ăn nhiều rau ngót ở dạng rau sống có thể gây bệnh nghẽn phổi như một số trường hợp dân Đài Loan dùng rau ngót đánh lấy nước để uống vài ly mỗi ngày để giảm cân. Chất papaverin alkoloit của rau ngót có thể là nguyên do.

Các bài thuốc từ cây bồ ngót

1-Chữa sót nhau: Lấy 400g lá tươi rửa sạch, giã nát, thêm nước đun sôi để nguội vào, vắt lấy 100ml, chia làm 2 lần mà uống. Mỗi lần uống cách nhau 10 phút (có người chỉ giã nhỏ đắp vào gan bàn chân).

2-Chữa tưa lưỡi: Lấy 10g lá tươi, rửa sạch, giã nhỏ vắt lấy nước, thấm vào gạc mềm, sạch đánh trên lưỡi (tưa trắng), lợi, vòm miệng trẻ em. Đánh nhẹ cho tới khi hết tưa trắng. Có thể hòa với mật ong.

3-Trẻ ra mồ hôi trộm, người luôn nóng: Lấy rau ngót 30 g, rau bầu đất 30 g, nấu canh với bầu dục lợn để ăn. Đây không chỉ là món canh ngon, bổ dưỡng lại có tác dụng chữa bệnh, mà nó còn là vị thuốc kích thích ăn uống với những trẻ chán ăn. Đặc biệt, canh rau ngót nấu với thịt lợn nạc hoặc giò sống... không chỉ tốt cho trẻ em mà còn rất tốt cho cả người lớn bởi nó là một vị thuốc bổ, giúp tăng cường sức khoẻ với người mới ốm dậy, người già yếu hoặc phụ nữ sau khi sinh. Nhất là với phụ nữ sắp sinh, hàng ngày nếu được ăn canh rau ngót sẽ giúp tăng sức cho các bắp thịt, giúp việc sinh nở dễ dàng hơn.

4-Bồi dưỡng sau đẻ: Rau ngót nấu canh với thịt lợn nạc hoặc giò sống. Có nơi hay nấu canh rau ngót với trứng tôm, trứng cáy, cá rô, cá quả... nhưng với thịt lợn nạc thì yên tâm hơn đối với sức khỏe của sản phụ đang cho con bú.

5-Chữa nhức trong xương (không phải sưng đau khớp): Nấu rau ngót với xương lợn để ăn.

6-Canh giải nhiệt mùa hè: Rau ngót nấu canh với hến, mát và ngọt đậm đà. Sự phối hợp này lạnh, nên cho thêm lát gừng hoặc nên kiêng với người hư hàn.

7-Giải độc rượu: Uống nước rau ngót sống.

8-Đau mắt đỏ, nhức nhối khó chịu: lá rau ngót 50g, rễ cỏ xước 30g, lá dâu 30g, lá tre 30g, rau má 30g, lá chanh 10g. Tất cả đều dùng tươi, sắc đặc, chắt lấy nước uống nhiều lần trong ngày.

9-Bàn chân sưng nhức: lá rau ngót giã, cho thêm nước muối pha nhạt, sau đó đắp vào chỗ chân sưng nhức.

10-Trị hóc xương: Dùng cả cây và lá bù ngót tươi, giã nhỏ, vắt lấy nước cốt để ngậm nút từ từ sẽ khỏi (lưu ý chỉ dùng cho những trường hợp bị hóc xương nhỏ).

Tài liệu tham khảo

1-hanoimoi.com.vn/.../rau-ngot-bo-huyet-thanh-nhiet-tieu-viem.htm

2-Ăn rau ngót có làm sảy thai?hanoimoi.com.vn/newsdetail/suc.../ăn-rau-ngot-co-lam-say-thai.htm

3- vi.wikipedia.org/wiki/Rau_ngót

4-Vì sao rau ngót lại tốt cho sản phụ? | Làm cha mẹ | giadinh.net.vn giadinh.net.vn/.../vi-sao-rau-ngot-lai-tot-cho-san-phu.htm

5-Nấu rau ngót với gì tốt nhất? - Sức khỏe - Dân trí dantri.com.vn/c7/s7-325547/nau-rau-ngot-voi-gi-tot-nhat.htm

7-rau ngót - BAOMOI.COM www.baomoi.com/Tag/rau-ngót.epi

                                                                     Kỹ sư Hồ Đình Hải


Xem video: Món canh bồ ngót nấu hến



Công dụng dược liệu của rau ngót

YouTube Video



Comments