Bài viết về xây dựng

Mục này chứa các bài viết về các vấn đề xây dựng
 

Ứng dụng phần mềm ANSYS tính toán thấm 3D.[06/06/13]

posted Aug 2, 2013, 9:54 PM by Quan Nguyen Trong

hương pháp tính toán đối với bài toán thấm 3D bằng PTHH cũng đã được các tác giả khai thác và xây dựng các phần mềm tính. Tuy nhiên theo quan điểm đánh giá của tác giả thì chưa phần mềm nào xây dựng được mô hình tính thật sát với thực tế và còn đơn giản, chưa mô phỏng đầy đủ điều kiện biên phức tạp của bài toán.

ỨNG DỤNG PHẦM MỀM ANSYS TÍNH TOÁN THẤM 3D

                                                      Nguyễn Trọng Quân

…Phương pháp tính toán đối với bài toán thấm 3D bằng PTHH cũng đã được các tác giả khai thác và xây dựng các phần mềm tính. Tuy nhiên theo quan điểm đánh giá của tác giả thì chưa phần mềm nào xây dựng được mô hình tính thật sát với thực tế và còn đơn giản, chưa mô phỏng đầy đủ điều kiện biên phức tạp của bài toán.

 Trong bài báo này tác giả giới thiệu đến bạn đọc một phương pháp tính toán thấm 3D  bằng phần mềm ANSYS, tài liệu và các nghiên cứu tính toán thấm 3D của phần mềm  này cũng chưa có nhiều nên tác giả mong được trao đổi, nhận được góp ý của bạn đọc để  nghiên cứu sâu thêm về ứng dụng các tính toán này. Sử dụng phần mềm ANSYS có thể  giúp tính toán được mọi bài toán thấm 3D có biên phức tạp như thấm hai vai đập, thấm  vòng quanh chỗ tiếp xúc mang cống và đập đất, thấm vòng quanh giữa hạng mục công  trình bê tông với hạng mục đập đất…

Mời download & xem file đính kèm.

Nghiên cứu trạng thái ứng suất và biến dạng của đập bê tông trọng lực có xét đến tác dụng động đất.

posted Oct 25, 2012, 8:49 PM by Quan Nguyen Trong

Để đảm bảo an toàn cho đập bê tông trọng lực, ngoài tính toán ổn định trượt lật thì cần tính ứng suất và biến dạng để kiểm tra độ bền của đập, tính toán cốt thép cũng như phân vùng vật liệu trong đập một cách hợp lí, tránh lãng phí vật liệu và giảm giá thành xây dựng.

Nghiên cứu trạng thái ứng suất và biến dạng của đập bê tông trọng lực có xét đến tác dụng động đất

 

Nguyễn Trọng Quân

Công ty cổ phần tư vấn Sông Đà - Tập đoàn Sông Đà

Để đảm bảo an toàn cho đập bê tông trọng lực, ngoài tính toán ổn định trượt lật thì cần tính ứng suất và biến dạng để kiểm tra độ bền của đập, tính toán cốt thép cũng như phân vùng vật liệu trong đập một cách hợp lí, tránh lãng phí vật liệu và giảm giá thành xây dựng.         

Trước đây, phương pháp tính toán cho đập bê tông trọng lực thường đưa về bài toán phẳng để tính nên chưa phản ánh đúng trạng thái chịu lực của công trình khi làm việc. Trong đề tài này, tác giả sẽ tính theo bài toán không gian tức là đập tràn,  trụ pin, đập bê tông trọng lực và nền cùng làm việc đồng thời có xét đến tải trọng động đất, do đó nó phản ánh được đầy đủ hơn, chính xác hơn trạng thái làm việc của công trình trong thực tế

Mời download & xem file đính kèm.

Dự án áp dụng hệ thống Neoweb tại Sơn Trà - Đà Nẵng

posted Feb 16, 2012, 7:28 PM by Quan Nguyen Trong   [ updated Feb 16, 2012, 7:49 PM ]


THÔNG TIN DỰ ÁN CỐ MÁI DỐC NEOWEB TẠI SƠN TRÀ, ĐÀ NẴNG, VIỆT NAM
- Tên Dự án: Intercontimental Resot & Spa Da Nang.
- Địa điểm thực hiện: Bãi Bắc, Bán đảo Sơn Trà, Q. Sơn Trà, TP. Đà Nẵng.
- Hạng mục: Gia cố mái dốc Neoweb tại dự án Intercontimental Resot & Spa Da Nang.
- Chủ đầu tư: CÔNG TY CỔ PHẦN ĐỊA CẦU
- Thông tin chính về Hạng mục gia cố mái dốc hồ Spa bằng hệ thống ô ngăn hình mạng Neoweb/ Neoloy:
+ Hồ cảnh quan bán đảo Sơn Trà được thiết kế thành 2 phần, hồ trên và hồ dưới, được ngăn cách bằng 1 trạm bơm đặt giữa 2 hồ. Tổng diện tích mặt hồ là 1,06ha với dung tích toàn bộ 16224,72m3, Mái taluy hồ được đắp bằng đất chiều dày 20cm, phủ lên trên hệ thống ô ngăn hình mạng NeowebTM PRS 660-100 chiều cao 10cm với các ô ngăn được chèn lấp bằng đất địa phương. Toàn bộ hệ thống Neoweb được đặt trên lớp màng chống thấm GTL. Sau khi thi công xong, hệ thống không những bảo vệ ổn định cho mái dốc mà còn tạo nên không gian xanh trong khu nghỉ dưỡng.
+ Chiều cao trung bình của mái taluy hồ khoảng 3.6m, mái taluy m=1:1.5
+ Loại vật liệu Neoweb/ Neoloy sử dụng trong dự án này là: Hệ thống ô ngăn hình mạng FACIAL NEOWED/ NEOLOYTM PRS 660-100: Kích thước ô ngăn: 420x500mm; Chiều cao ô ngăn: 100mm; Khoảng cách mối hàn: 660mm. Màu nâu.
+ Tổng khối lượng Neoweb áp dụng: 6,459 m2
+ Bản vẽ mặt cắt ngang điển hình bảo vệ mái taluy hồ bằng hệ thống ô ngăn hình mạng Neoweb:


Một số hình ảnh thi công Neoweb

Chuẩn bị mặt bằng và vật liệu Neoweb

Xác định và hiệu chỉnh kích thước tấm Neoweb

Ghim nối các tấm Neoweb

Đóng cọc neo trên đỉnh mái dốc

Căng hệ thống Neoweb

Neo định vị hệ thống Neoweb

Chèn lấp vật liệu

Lu lèn và hoàn thiện bề mặt

Một số hình ảnh thi công:

 http://www.mediafire.com/file/e689duxwmi9a79h/bao ve mai doc.pdf

https://picasaweb.google.com/101792530722857834647/HinhAnhApDungNeowebDaLat

Movie quá trình thi công:

https://picasaweb.google.com/107145982431284163563/HinhAnhTieuBieuDuAnGiaCoMaiDocNeowebSonTraDaNangVN072011?feat=flashalbum#5627987801189047778

Kết luận: Sau một thời gian, cỏ và hoa sẽ mọc trên bề mặt tạo thànhmột kết cấu Mái dốc “XANH” thân thiện và hài hoà với thiên nhiên mà vẫnđảm bảo dự ổn định của mái dốc. Thi công rất nhanh và đơn giản (Giảm 50% thờigian thi công so với giải pháp truyền thống). Đồng thời tận dụng được vật liệutại chỗ và có độ bền cao đến 100-120 năm.

Bài đăng Không có tiêu đề

posted Dec 25, 2011, 10:53 PM by Quan Nguyen Trong


Về một giải pháp cho cống ngăn triều chống ngập đồng bằng sông Cửu Long.[18/09/11]

posted Sep 21, 2011, 3:08 AM by Quan Nguyen Trong

VỀ MỘT GIẢI PHÁP CHO CỐNG NGĂN TRIỀU

CHỐNG NGẬP ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

KS. Lê Văn An(1), ThS. Lý Thanh Hà(2, KS. Nguyễn Văn Tam(3)

Tổng Công ty Cơ điện Xây dựng NN & TL

(1)levanan@agrimeco.com.vn; (2)chuyengiathuykhi@gmail.com; (3)tamka.ftu@gmail.com

 

Hiện nay, vấn đề chống ngập đồng bằng sông Cửu Long đang là đề tài thời sự, trong đó các cửa van là thành phần chính của công trình. Sự vận hành trơn tru và tin cậy của các cửa van chống ngập là yếu tố quyết định đến hiệu quả của công trình. Việc áp dụng các công nghệ cửa van mới cần phải được kiểm chứng trong thực tế. Do đó, việc cải thiện các thiết kế cửa van đã ổn định về kết cấu và tận dụng kinh nghiệm của các nhà sản xuất trong nước cho các loại cửa van tương tự có thể là giải pháp tốt đáp ứng yêu cầu hiện tại. Dựa trên cửa van cung, đã được thiết kế chế tạo trong một thời gian dài và tích lũy kinh nghiệm, chúng tôi đưa ra một giải pháp khắc phục những nhược điểm của cửa van cung khi áp dụng vào cống ngăn triều.

(Theo www.vncold.vn)

 

Mời download & xem file đính kèm

SỬ DỤNG BÊ TÔNG ĐẦM LĂN (RCC) ĐỂ XÂY DỰNG CÁC ĐẬP BÊ TÔNG MỚI Ở VIỆT NAM

posted Sep 8, 2011, 1:55 AM by Quan Nguyen Trong

Michel Hồ Tá Khanh

Thi công RCC tại đập Định Bình (Bình Định)

Ưu và khuyết điểm của đập bê tông so với đập vật liệu địa phương.

 

So với đập vật liệu địa phương đập bê tông có các ưu khuyết điểm sau:

 

Các ưu điểm:

 

- Chúng có khả năng bố trí công trình tháo lũ ngay trong thân đập (trên đỉnh hoặc dưới sâu).

 

- Chúng có thể cho ngập trong các cơn lũ và đập có thể thích nghi với lũ kiểm tra có tần suất lớn.

 

- Chúng có thể phối hợp dể dàng với các công trình khác (tháo cạn, công trình lấy nước) và có thể xây dựng nhà máy thủy điện ngay trong thân đập. Điều này sẽ không thực hiện được nếu đập dâng bằng bê tông đầm lăng (RCC). Phương pháp xây dựng đập RCC gần giống với đập bằng vật liệu địa phương hơn là đập bê tông truyền thống.

 

- Đập có thể dể dàng thiết kế để có thể tháo nước tràn qua thân đập trong quá trình thi công, điều này cho phép rút ngắn thời gian thi công (đập RCC cũng có tính chất này) và cho phép phục vụ cho lũ có tần khác nhau. Điều này cho phép xây dựng các công trình tháo lũ tạm thời khác kinh tế hơn (xem các ví dụ của đập Yantan ở Trung Quốc, đập Salto Caxias ở Brésil). Chúng ta cũng có thể lưu ý là một vài đập quy mô nhỏ RCC có thể chỉ cần thi công trong vòng một mùa khô, do đó nó cho phép giảm tối đa công trình dẫn dòng tạm.

 

- Chúng có thể xây dựng ngay trong mùa mưa, điều này là không có thể đối với đập vật liệu địa phương. Đây là một ưu điểm lớn của đập bê tông, nhất là trong các quốc gia thuộc miền nhiệt đới ở đó thường có độ ẩm cao trong mùa mưa thường kéo dài. Nhất là trường hợp khi mà vật liệu đắp đập có độ ẩm cao hơn nhiều so với độ ẩm tối ưu cho đầm nén. Sự giảm thời gian thi công là ưu điểm quan trọng nhất trong việc lựa chọn giữa đập bằng bê tông hay đập vật liệu địa phương trong nhiều dự án gần đây trong các quốc gia vùng nhiệt đới. Các quốc gia này thường là nơi có trử lượng latétrite lớn.

- Chúng ít bị tác dụng với hiện tượng ăn mòn bên trong đập và ngay cả trong vùng tiếp xúc của đập và nền.

 

- Chúng có khả năng chống động đất rất tốt. Cho đến nay chưa có ghi nhận đập bê tông nào bị hư hại đáng kể vì động đất.

 

Tuy vây nó cũng có các khuyết điểm:

 

- Đập bê tông (ngoại trừ đập di động và đập RCC) thường có yêu cầu địa chất nền đá tốt. Yêu cầu nền phải có khả năng tốt về phương diện chịu nén và biến dạng nền bé.

 

- Đập bê tông, nhất là bê tông trọng lực, tính ổn định rất nhạy đối với áp lực ngược. Do đó nó thường có yêu cầu cao về thoát nước nền, đôi khi cần thiết phải bố trí thoát nước ngay cả phía bên trong công trình để giảm áp lực ngược.

 

- Đập bê tông có thể xuất hiện các vết nứt dưới tác dụng của hiện tượng nhiệt trong thời kỳ xây dựng và cả thời kỳ khai thác. Các vết nứt sẽ làm giảm khả năng chịu lực của kết cấu. Ngoài ra hiện tượng này còn dẫn đến sự không kín nước của công trình. Tuy vậy với sự áp dụng kỹ thuật vải địa kỹ thuật ở mặt trước của đập có thể giải quyết khuyết điểm này.

 

- Đập bê tông có thể bị ảnh hưởng xấu của nhiều tác nhân khác như vật lý, hoá học làm biến chất các đặc tính của nó (sự “ngâm chiết” do loại nước thường hay acid, hoặc phản ứng “alcali”…).

 

- Xây dựng đập bê tông trọng lực đòi hỏi nhiều công việc phối hợp đồng thời, yêu cầu đội ngũ công nhân lành nghề cao: sản xuất bê tông, vận chuyển bê tông, lắp đặt coffrage, đầm nện bê tông, xử lý mối nối, công tác thép, xử lý các mạch ngừng, phương pháp làm nguội bê tông…. Tất cả các yêu cầu trên đã làm gia tăng giá thành đập bê tông và làm cho chúng khó cạnh tranh với đập bằng vật liệu địa phương. Tuy nhiên với sự xuất hiện của đập RCC đã cho phép xây dựng các đập trọng lực kinh tế và nhanh chóng hơn trong xây dựng đập.

 

Sử dụng đập RCC

 

Đập RCClà một kỹ thuật mới trong ứng dụng của bê tông với việc dùng các thiết bị đầm nện như đầm nện trong thi công đất. Thi công đập RCC sẽ được thực hiện theo lớp (giống như đập vật liệu địa phương) và thường sẽ đầm nén bằng các thiết bị đầm rung trên các lớp có chiều dày từ 30 đến 40cm.

 

Các ưu điểm của nó so với đập bê tông trọng lực chủ yếu là sự nhanh chóng trong xây dựng (hơn 12000 m3/ngày, nếu cần) và giá thành tương đối thấp (khoảng 40USD/m3). Giá này sẽ giãm đáng kể nếu khối lượng xây dựng lớn, ví dụ đập Tha Dan giá xây dựng khoảng 25USD/m3.

 

Kỷ thuật đập RCC dùng cho các đập trọng lực phát triển mạnh  từ  khoản đầu năm 1980 và đến nay trên thế giới đã có khoản 300 đập RCC được xây dựng. Chiều cao đập có thể đạt đến 130m (dự kiến cao 220m cho đập Longtan ở trung Quốc và Ta Sang ở Myanmar). Đập Tha Dan ở Thái Lan dùng 5tr.m3 RCC.

 

Đập RCC không những thích hợp tốt đối với đập trọng lực mà còn cho đập bản chống và ngay cả đập vòm đã có xây dựng ban đầu và hy vọng sẽ phát triển nhiều trong tương lai.

 

Gần đây đã có nhiều cuộc hội nghị tổ chức tại VN giới thiệu về đập RCC, ở đây chúng tôi chỉ giới hạn nói đến một vài đặc tính cơ bản của nó. Các độc giả muốn nghiên cứu sâu có thể tham khảo nhiều tài liệu liên quan đã được công bố.

 

Do đập RCC được đầm nén bởi các máy đầm rung thay vì đầm thủ công, do đó về nguyên tắc yêu cầu ít nước trong việc trộn vật liệu hơn. Để cho cùng một khả năng chịu lực, đập RCC dùng ít ciment hơn đập bê tông truyền thống. Do sử dụng ít nước và ít ciment hơn, đập RCC phải được trộn nhuyễn hơn là đập bê tông để có thể len lõi vào và lấp đầy các lỗ hổng nhằm đảm bảo tính chống thấm. Mức độ trộn nhuyễn có thể ở nhiều cấp độ, từ nhuyễn như đá vôi nghiền đến kích cở  tro bay các loại nhờ vào các thiết bị nghiền lọc (trường hợp các đập được xây dựng ở Brasin) hoặc dùng các khoán pouzzolane tự nhiên (tuy nhiên phải tránh đưa vào các chất sét). Dùng tro (loại F) thường rất hiệu quả khi có thể tìm thấy tro gần nơi xây dựng. Bới vì khi hàm lượng tro cao nó có tác dụng như những chất nhuyễn và tác dụng với ciment như là một chất thủy liên kết chậm và ít sinh ra nhiệt. Điều này hết sức có ý nghĩa cho trường hợp xây dựng đập có khối lượng lớn.

 

Một trong vấn đề quan trọng bậc nhất khi xây dựng đập RCC là có thể tìm được vật liệu sử dụng được gần công trình. Do vậy, với bất cứ dự án nào khi dự kiến dùng đập RCC, việc đầu tiên là phải nghiên cứu tất cả các khả năng vật liệu có thể có gần khu xây dựng. Trước hết là nghiên cứu trong phòng và sau đó là làm thí nghiệm hiện trường. Kinh nghiệm chỉ ra rằng việc xây dựng một đập RCC trên nền đá là luôn luôn có thể được bởi vì luôn luôn có thể tìm được vật liệu thích hợp tại hiện trường. Còn vấn đề tiếp theo là xem dự án có thỏa đáng về mặt kỹ thuật, kinh tế. Từ đó chúng ta nhận thấy so với đập bê tông truyền thống, đập RCC có một khả năng mềm dẽo trong việc lực chọn cốt liệu và do vậy phải tránh việc đưa ra các tiêu chuẩn “cứng nhắc” có thể cản trở sự sáng tạo và tiến bộ kỹ thuật.

 

Sự sử dụng đập RCC có thể đưa đến sự xem xét lại một vài khái niệm thiết kế phổ biến như trong thiết đập bê tông trọng lực. Thật vậy để có thể rút ra kết luận đầy đủ về ưu thế của đập RCC, chúng ta không nên bố trí tập trung tất cả các hạng mục công trình trong cùng một kết cấu, ngược lại nên tách rời chúng ra và nếu được sẽ bố trí chúng càng ra xa nếu có thể (đặc biệt là nhà máy, công trình phụ). Ngoại trừ công trình tháo lũ có thể bố trí trên đỉnh đập. Thông thường sự giảm chiều dày ở đỉnh đập hoặc giảm kích thước mặt cắt hay mái dốc thượng lưu sẽ cho mặt cắt kinh tế hơn trong một số trường hợp và do nhiều lý do khác (nhất là trong trường hợp địa chất nền ở điều kiện trung bình và/hay vùng có động đất lớn).

 

Một khuyết điểm của đập RCC  là sự hiện diện nhiều mạch ngừng nằm ngang. Sự giảm yếu tại các mạch ngừng làm giảm khả năng chịu lực đập. Điều này sẽ không quan trọng lắm đối với đập bé nhưng rất quan trọng đối vói các đập cao vì trong trường hợp đó phải gia tăng khối lượng đập để bảo đảm ổn định. Một điểm yếu nữa là tính chống thấm kém tại các mạch ngừng. Tuy nhiên, kết hợp sự nghiên cứu và những kinh nghiệm rút ra từ việc sử dụng đập hơn 20 năm nay, người ta đã có thể khắc phục một cách đáng kể yếu kém này. Các giải pháp đề ra rất nhiều và sau đây là một số phương pháp phổ biến sử dụng:

 

- chọn các loại vật liệu cấp phối thích hợp nhằm chèn vào thành phần cốt liệu chính của đập RCC, chủ yếu là để liên kết chúng.

 

- có các biện pháp xử lý RCC nơi đập tiếp xúc thường xuyên ở mặt thượng lưu và tại các mạch ngừng.

 

- có các biện pháp đặc biệt khi tiến hành trãi cốt liệu từng lớp để đầm, tiến hành các phương pháp kiểm tra tại hiện trường để bảo đảm sự liên kết tốt giữa các lớp.

 

- sử dụng vải địa kỹ thuật chống thấm bằng PVC ở mặt thượng lưu hay các nơi tiếp xúc của đập RCC.

 

- trong kỹ thuật thi công sẽ chủ động tạo lớp không hoàn toàn nằm ngang. Điều này cho phép tối ưu thể tích RCC khi thi công theo năng suất của trạm trộn trung tâm. Nó cho phép giảm thiểu các mạch ngừng phải bị để lâu.

 

Thay lời kết luận về việc ứng dụng RCC trong việc xây dựng đập trọng lực, chúng tôi lưu ý các kỹ sư việt nam một vài điểm quan trọng sau:

 

- Khời đầu từ những năm 1980, sự thay thế dần của đập RCC cho đập bê tông truyền thống trong việc xây dựng đập trọng lực được xem cũng như là sự thay thế “logique”. Nó giống như việc đập bê tông truyền thống thay cho đập đá xây vào đầu thế kỷ 20 khi vật liệu bê tông được phát triển. Sự phát triển RCC bắt nguồn chính từ sự giảm giá thành và giảm thời gian kéo dài thi công nhờ vào các kỹ thuật mới. Từ đó có thể kết luận chắc chắn rằng xu thế thay thế này sẽ càng ngày càng rõ nét trong tương lai.

 

- Nếu nói rằng đập trọng lực RCC có một vài đặc tính so với đập bê tông truyền thống, chúng tôi có thể giới thiệu một số điểm chính như sau: nó không đòi hỏi một thiết kế hay vật liệu hoàn toàn mới. Chúng ta sẽ không có khó khăn lớn và rũi ro nhiều khi bắt đầu bằng cách xây dựng các đập nhỏ bằng RCC trước khi bắt tay vào thực hiện các đập quy mô hơn nhờ vào kinh nghiệm đã trãi qua.  Một sự truyền bá rộng rãi các kinh nghiệm cho các đập đã xây là việc nên làm ở VN để bảo đảm sự phát triển của loại đập này. Những thành công tại Trung Quốc, Brasin, Marôc chứng tỏ rằng mỗi quốc gia có thể phát triển kỹ thuật riêng cho mình từ kinh nghiệm riêng của bản thân họ cộng với kinh nghiệm của các chuyên gia quốc tế trong lĩnh vực. Điều này có nghĩa là ta sẽ không lệ thuộc hoàn toàn vào kỹ thuật nước ngoài.

 

- Ngoài xây dựng đập lớn, đập RCC cũng có thể xây dựng một cách kinh tế cho các đập nhỏ (20000-100000m3). Một cách tổng quát, giá thành giữa đập RCC có thể thấp hơn bê tông truyền thống ước tính từ 20% đến 30% (giá trị lớn cho đập càng lớn).

 

- Đập RCC có các tính chất tốt ngay cả về phương diện vệ sinh môi trường so với đập bê tông, với điều kiện là có vật liệu thích hợp gần nơi xây dựng. Đập RCC lớn có thể xây dựng ngay cả trong vùng có động đất. Kinh nghiệm các đập đã xây dựng trên thế giới cho thấy đập RCC có tính chống thấm tốt.

 

- Yêu cầu về nền của đập RCC cũng giống như đập bê tông truyền thống.  Tuy nhiên, nhờ giá thành thấp, ta cũng có thể sử dụng RCC trên các nền có tính chất cơ lý thấp hơn bằng cách gia tăng diện tích tiếp xúc nền hoặc hạ thấp cao trình đáy hố móng mà sự gia tăng giá thành tổng thể là chấp nhận được.

 

- Trên một nền đá và có kết cấu vai đập thích hợp cho đập vòm, các giải pháp đập RCC hay đập đá có bản mặt chống thấm thượng lưu cũng có thể áp dụng trong giai đoạn nghiên cứu ban đầu. Sự lựa chọn sẽ tùy thuộc nhiều vào lưu lượng lũ vận hành và lũ thi công và địa hình khu đầu mối. Về nguyên tắc, khi lưu lượng lũ lớn và sông dốc RCC sẽ thuận lợi hơn, tuy nhiên cũng phải lưu ý đến việc tận dụng vật liệu đào đối với đập đá khi so sánh kinh tế các phương án.

 

- Khi xây dựng đập bê tông đòi hỏi tiến hành thành từng khối có các cao độ khác nhau, đồng thời nhiều thao tác (cẩu, cáp treo…), nhiều công nhân trên từng khối xây dựng, và điều này sẽ khó khăn trong tổ chức thi công. Điều này đơn giản hơn đối với đập RCC nhất là trường hợp dùng các băng chuyền trong sự vận chuyển vật liệu. Một công trường xây dựng đập RCC có dáng vẻ của một công trường xây dựng đường sá hơn so với việc xây dựng đập bê tông. Do đặc tính này, các rũi ro trong xây dựng đập RCC cũng ít hơn. Đây là một ưu điểm rất quan trọng mà rất tiếc là cho đến nay nó thường chưa được đánh giá đúng mức.

 

- Cũng có thể xây dựng các bề mặt hay mặt tràn hạ lưu của các con đê để có khả năng tháo tràn. Giải pháp kiểu này này được sử dụng thành công ngày càng nhiều tại Mỹ, và chứng tỏ hiệu quả kinh tế cao. Ít ra, với phương pháp này cũng cho phép gia tăng khả năng tháo tại các công trình đã xây dựng và đang vận hành.

 

- Vật liệu sử dụng và khái niệm về thiết kế đập RCC rất phong phú. Mỗi quốc, mỗi vùng phải tìm ra giải pháp thích hợp nhờ vào sự giúp đở bên ngoài và thích nghi nó với điều kiện cụ thể của địa phương xây dựng. Phải tiếp cận dự án đập RCC với một tinh thần thực dụng, cởi mở (hơn nhiều so với thiết kế đập bê tông) và tránh sự ràng buộc cứng nhắc không cần thiết và đôi khi tai hại và phản tác dụng.

 

 

Tác giả (theo vncold.vn)

Đập RCC Thủy điện Sơn La: hình ảnh đầu tháng 8/2011

posted Aug 15, 2011, 8:39 PM by Quan Nguyen Trong

Đập RCC (bê tông đầm lăn) Sơn La lớn nhất nước ta và thuộc loại lớn ở Đông Nam Á. Đập cao 138m, nhà máy thủy điện  có công suất 2400MW. Chuyên mục ‘Đập ở Việt Nam’ trên www.vncold.vn  đã đăng nhiều bài giới thiệu công trình này. Đầu tháng 8/2011, phần đập và các công trình thủy khác đã cơ bản xong. Các đơn vị xây dựng đã chuyển lên công trường đập Lai Châu. Hiện chỉ có các đơn vị lắp máy. Sau khi lắp xong 2 tổ máy,  đang tích cực lắp tiếp 4 tổ máy nữa để kịp tiến độ hoàn thành toàn bộ công trình vào năm 2012. 

Mời download & xem file đính kèm.

Dựng đập trên sông: Ai được ai mất?

posted Apr 19, 2011, 6:59 PM by Quan Nguyen Trong

 
Cập nhật lúc 20/04/2011 06:10:00 AM (GMT+7)

- Có vẻ là sự trùng hợp ngẫu nhiên khi tròn một năm, dòng Mekong lại trở nên nóng bỏng. Tháng 4 năm trước, tại Hội nghị thượng đỉnh Ủy hội Mekong, chuyện Trung Quốc xây đập trên thượng nguồn trở thành tâm điểm. Và tháng 4 năm nay, việc nước Lào ở hạ nguồn xây đập cũng là vấn đề bàn cãi.

Tranh cãi về việc xây dựng các đập thủy điện trên sông Mekong càng làm phức tạp vấn đề năng lượng mà các nền kinh tế đang phát triển phải đối mặt, đặc biệt sau khi những hy vọng về khả năng gia tăng điện hạt nhân sụp đổ bởi cuộc khủng hoảng hạt nhân tại Nhật Bản.

Hôm qua (19/4), tại cuộc họp với Campuchia, Thái Lan và Việt Nam ở Vientiane, Lào đã hoãn lại quyết định triển khai dự án trị giá 3,5 tỉ USD xây con đập 1.260 megawatt có tên Xayaburi trên dòng Mekong.

Lào - một trong những quốc gia kém phát triển nhất thế giới - hy vọng sử dụng nguồn thu từ Xayaburi và các con đập khác để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đất nước, trong khi Thái Lan được cho là khách hàng mua điện chủ yếu.

Địa điểm đề xuất xây dựng đập Xayaburi. Ảnh: internationalrivers

"Thất bại kinh tế điển hình"

Các nhà hoạt động môi trường và một số quan chức chính phủ lo lắng rằng, con đập Xayaburi sẽ làm tổn hại tới các bãi cá ở hạ nguồn sông Mekong, ảnh hưởng tới an ninh lương thực châu Á và buộc người dân từ bỏ những cộng đồng ven sông. Con đập cũng có thể tạo dựng một tiền lệ với việc phát triển Mekong trong tương lai hay thúc đẩy quá trình xây dựng 10 hay nhiều hơn nữa đập thủy điện đã được đề xuất trong vài năm gần đây trên dòng chính Mekong, chủ yếu tại Lào và Campuchia.

Nghiên cứu do Ủy hội Mekong - do bốn nước Đông Nam Á thành lập năm 1995 để góp phần quản lý sông - đưa ra cuối năm ngoái cho biết, nếu các đập thủy điện được xây dựng, chúng sẽ “về cơ bản làm suy yếu sự phong phú, năng suất và sự đa dạng của tài nguyên cá Mekong”, ảnh hưởng tới hàng triệu người, gây nguy hiểm cho hoạt động nông nghiệp, đe dọa nguồn cung cấp thực phẩm và làm gia tăng khoảng cách giàu - nghèo. Ủy hội cũng khuyến cáo ngừng xây dựng đập thủy điện trong vòng 10 năm để nghiên cứu kỹ càng hơn.

Một phát ngôn viên chính phủ Thái Lan xác nhận Bộ Năng lượng nước này rất quan tâm tới việc mua điện từ Xayaburi nhưng nói rằng, các quan chức muốn nhiều thông tin hơn về các ảnh hưởng môi trường từ dự án này.

Giới phân tích cho rằng, ở Thái Lan, việc khai thác tiềm năng thủy điện của Lào sẽ cho phép các quan chức tránh được những tranh cãi nhiều hơn ở trong nước. Khi quốc gia của 65 triệu dân trở nên giàu có hơn, người dân cũng quan tâm tới môi trường nhiều hơn và người dân phản đối mạnh mẽ các nhà máy nhiệt điện, thủy điện trong nước vì lo lắng chúng sẽ gây ô nhiễm môi trường hay đảo lộn hệ sinh thái.

Tháng 6 năm ngoái, công ty Điện lực Thái Lan EGAT đã ký thỏa thuận ban đầu với nhà phát triển chính của đập - công ty Xây dựng Thái Lan Ch Karnchang - để mua hơn 95% lượng điện từ dự án. Các nhà đầu tư cho dự án thủy điện này gồm 4 ngân hàng.

Quỹ Bảo tồn thiên nhiên hoang dã (WWF) từng khuyến cáo, các nhà đầu tư vào Xayaburi cũng như các dự án thủy điện khác trên dòng Mekong, cần xem xét những bài học từ đập thủy điện sông Mun của Thái Lan. Dự án này được xây dựng từ đầu những năm 1990 và bị xem là một “thất bại kinh tế điển hình” khi gây ra những tổn thất môi trường và xã hội to lớn. Ở mức 233 triệu USD, đập sông Mun có chi phí gấp đôi dự tính ban đầu, nhưng sản lượng năng lượng giảm xuống 1/3 so với dự kiến trong mùa khô, đầu tư giảm từ 12% dự kiến xuống còn 5%; hơn 20.000 người bị ảnh hưởng bởi sự sụt giảm nhanh chóng sản lượng cá và những thay đổi khác với sinh kế của họ.

Bài học đập sông Mun của Thái Lan quá rõ ràng: Vội vã nghiên cứu tác động môi trường và xã hội sẽ dẫn tới kết quả cay đắng cho cả ngư dân cũng như các chủ đập”, Suphasuk Pradubsuk điều phối viên chính sách quốc gia thuộc WWF - Thái Lan, nói. Theo ông, Mekong là một “hệ sinh thái độc đáo và rất phức tạp”, nắm giữ sản lượng cá nội địa lớn nhất thế giới, chỉ đứng thứ hai sau Amazon về số lượng các loài cá.

Đường đi cho cá?

Tổ chức Sông ngòi Quốc tế cho biết, hơn 200.000 ngư dân và nông dân - phần lớn ở cộng đồng hạ nguồn - sẽ phải di dời và giảm thu nhập vì dự án Xayaburi.

Theo nhiều nhà phê bình Thái Lan, những kế hoạch năng lượng hiện tại của nước này chủ yếu phục vụ lợi ích của các công ty điện lực nhà nước, công ty năng lượng và ngành công nghiệp xây dựng hơn là nhu cầu của người tiêu dùng điện.

Ngay cả khi đập Xayaburi đặt ra những tổn thất lâu dài với sông Mekong, và có thể ảnh hưởng tới hàng triệu người dân, thì người ta lại chưa hề chắc chắn về việc nó sẽ tác động thế nào tới giá điện và lợi ích của người tiêu dùng điện trong tương lai tại Thái Lan.

Về phần mình, chính phủ Lào vẫn khẳng định rằng, Xayaburi sẽ không có bất cứ tác động đáng kể nào tới dòng chính Mekong, đồng thời thúc giục các nước láng giềng không nên cản trở việc xây dựng con đập.

Trong báo cáo gửi tới các nước thành viên khác trong Ủy hội Mekong, chính phủ Lào nhấn mạnh, Xayaburi "dựa trên một công nghệ thiết kế hiện đại để sản xuất năng lượng tái tạo và sạch nhất mà không gây ô nhiễm môi trường … và tác động tối thiểu tới môi trường khu vực phụ cận”.

Các nhà sinh thái học cảnh báo đập Xayaburi sẽ ngăn chặn những luồng di cư của nhiều loài cá, đặt 41 loài vào nguy cơ tuyệt chủng kể cả cá da trơn khổng lồ.

Nhà xây dựng đập cam kết sẽ tạo “đường đi cho cá”, cho phép các tiếp tục luồng di cư của mình. Nhưng chuyên gia Trandem của Tổ chức Sông ngòi quốc tế khẳng định, hiện tại chưa có công nghệ nào có thể đảm bảo “lối đi” an toàn cho vô số loài cá của Mekong.

Mối quan tâm phát triển Mekong và các nhánh sông của nó như một nguồn sản sinh năng lượng đã được đẩy mạnh trong vài năm gần đây. Trung Quốc đã có thêm ba đập ở vùng thượng nguồn Mekong bên ngoài Đông Nam Á, bất chấp sự phản đối của các nước hạ nguồn. Lào và Myanmar cũng đề xuất hàng loạt dự án đập thủy điện trên các con sông của họ, bao gồm cả các chi lưu của Mekong.

Làm thế nào để phát triển hài hòa dòng Mekong?

Có lẽ, trong một kỷ nguyên gia tăng nhu cầu năng lượng cùng những nỗ lực giảm bớt biến đổi môi trường - khí hậu đang diễn ra tích cực thì sự hợp tác quốc tế để cùng bảo vệ và chia sẻ tài nguyên sông Mẹ sẽ đem lại lợi ích tốt nhất cho tất cả.

Thái An

Đập Xayaburi: 'Cục pin châu Á' hay hạt giống xung đột?

Đập Xayaburi đe dọa 20 triệu dân hạ lưu
Đập Xayaburi và trách nhiệm xã hội

Hệ thống dẫn nước phát điện nhà máy thủy điện Xiaowan.

posted Apr 5, 2011, 9:09 PM by Quan Nguyen Trong   [ updated Apr 5, 2011, 9:15 PM ]

ThS. Vũ Hoàng Hưng

Gần đây trên diễn đàn về công trình thủy lợi của Trung quốc (http://www.shuigong.com/) đang có một cuộc tranh luận sôi nổi về một vấn đề mang tính chất trao đổi chuyên môn, đó là bố trí hệ thống dẫn nước phát điện nhà máy thủy điện Xiaowan (Tiểu Loan) bên vai phải đập liệu đã phải là phương án tối ưu? Xin được tổng hợp ý kiến đa chiều để những ai quan tâm có thể hiểu biết thêm về công trình này.

 

1. GIỚI THIỆU CÔNG TRÌNH


Công trình thủy điện Xiaowan (Tiểu Loan) nằm ở đoạn giữa của sông Lan Thương (thượng nguồn của sông Mê kông) thuộc tỉnh Vân Nam – Trung Quốc. Đây là bậc thang thứ hai trong quy hoạch hệ thống tám bậc thang trạm thủy điện trung và hạ lưu sông Lan Thương. Trạm thủy điện được tạo bởi một đập vòm bê tông cong hai chiều cao 292m (đập vòm có chiều cao lớn nhất trên thế giới tính đến thời điểm xây dựng), đường hầm tháo lũ bố trí ở vai trái đập và hệ thống dẫn nước phát điện ở vai phải đập, diện tích lưu vực là 113300 km2, lưu lượng bình quân nhiều năm là 1210m3/s, mực nước dâng bình thường là 1240m, tổng dung tích hồ chứa là 15.132 tỷ m3, dung tích hiệu dụng là 9.895 tỷ m3, tổng công suất lắp máy là 4200MW (6 tổ máy, mỗi tổ 700MW), lượng phát điện bình quân nhiều năm là 18.89 tỷ kWh .

Hình 1. Mô hình công trình thủy điện Xiaowan sau khi hoàn thành

Hình 2. Mặt bằng công trình đầu mối thủy điện Xiaowan

Hình 3. Công trình thủy điện Xiaowan đang trong quá trình thi công

 

Hệ thống dẫn nước phát điện công trình thủy điện Xiaowan bao gồm cửa nhận nước hình thức giếng đứng, đường ống áp lực hình thức ngầm, nhà máy ngầm, phòng vận hành, phòng điều áp, đường hầm xả nước…(hình 4).


Cửa nhận nước bố trí ở vai phải đập, tổng bề rộng 144m, cao 108m, cao trình bản đáy là 1140m, lưới chắn rác đặt nghiêng, cửa van kiểm tra trong giếng kích thước 7.5m
´9.6m và cửa van sự cố đóng mở nhanh 7m´8.6m, trung tâm cửa nhận nước cách nhau 24m, trung tâm đường ống áp lưc đoạn thẳng đứng sau cửa nhận nước cách nhau 36m, đường kính trong của ống là 9.6m.


Phương trục dọc nhà máy ngầm là SE140o, chiều dài nhà máy là 326m, rộng 29.5m, độ cao lớn nhất 65.5m, lắp đặt 6 tổ máy 700MW. Hai đường hầm tháo nước có áp tiết diện tròn, đường kính trong là 18m, chiều dài đường hầm số 1 là 917.6m, chiều dài đường hầm số 2 là 627.5m

Hình 4. Toàn bộ hệ thống dẫn nước phát điện

 

 

2. Ý KIẾN TRAO ĐỔI


Tại sao lại đặt nhà máy phát điện ở vai phải đập?


Nhà máy quá gần kho nước cột nước cao, có thể xuất hiện vấn đề về thấm, dùng nhà máy ngầm giá thành cao, đường hầm dẫn nước phức tạp, thi công khó.


Từ hình vẽ 2 thấy rằng, nhà máy đặt ở phía thượng lưu trục tuyến đập, vấn đề thấm là khó tránh khỏi.

Nếu ở vai trái mở một đường hầm dài 4.5km (hình 5), cột nước có thể tăng thêm 40m, nhà máy có thể không dùng nhà máy ngầm, đường hầm đơn giản, thi công dễ dàng.

Hình 5. Phương án đặt nhà máy bên vai trái đập

Vấn đề khó khăn khi đào đường hầm 4.5km?


Điều kiện địa chất nền và vai đập cho phép xây dựng được đập vòm cao gần 300m, vì vậy địa chất vùng phụ cận không thể quá yếu. Nếu điều kiện địa chất đào hầm kém, việc xử lý đường hầm cột nước thấp có chiều dài 4.5km là không mấy khó khăn, xử lý dễ dàng hơn nhiều chống thấm cột nước cao mấy trăm mét.


Giải thích lý do đặt nhà máy bên phía bờ phải


Đối với lý do tại sao nhà máy đặt ở bên phái vai phải đập vì nó có liên quan đến đường hầm dẫn dòng và đường hầm tháo lũ, hầm dẫn dòng và hầm tháo lũ đã đặt ở vai trái do chiều dài ngắn, thi công trong thời gian ngắn, bố trí tuyến thẳng, có lợi cho công tác phòng chống xói mòn nước lưu tốc cao, an toàn hơn.


Về vấn đề thi công
: lợi dụng đường hầm dẫn nước 4.5km mặc dù có thể nâng cao cột nước phát điện, tuy nhiên độ dốc cao của núi ảnh hưởng đến quá trình đào đường hầm không thể bỏ qua và tuyến hầm bắt buộc phải đi qua một vài đứt gãy, độ khó của chống đỡ hầm tương đối lớn.


Về vấn đề phạm vi bố trí nhà máy hạ lưu
: nếu cần thỏa mãn về số tổ máy như phương án hiện hành thì diện tích đào mở rất lớn, xử lý ổn định mái dốc cao rất khó, đặc biệt với vùng có cường độ địa chấn cao.

Vấn đề tháo lũ: nếu nhà máy đặt nổi trên mặt đất hạ lưu, khi gặp lũ lớn sẽ ảnh hưởng không có lợi đối với ổn định nhà máy.


Vấn đề cao trình lắp đặt tổ máy
: nhà máy xây dựng nổi trên mặt đất mặc dù có thể lợi dụng thêm 40m cột nước nhưng cao trình lắp đặt tổ máy của nhà máy nổi trên mặt đất cao hơn nhà máy đặt ngầm.


Ý kiến khác phỏng đoán không sử dụng phương án đường hầm dẫn nước dài có thể bởi nguyên nhân sau:


Nguyên nhân quy hoạch
: Công trình thủy điện Xiaowan là bậc thang thứ hai trong hệ thống tổng thể tám bậc thang, hiện nay mực nước sau nhà máy rất có thể liên quan đến mực nước dâng bình thường bậc thứ ba, chúng ở vào thế ràng buộc về quy hoạch; vì vậy nếu không sử dụng phương án đường hầm dẫn nước qua núi, 40m cột nước này không phải là lãng phí, sẽ sử dụng cho bậc thang dưới, đồng thời không tổn thất khi dẫn nước.

Đường kính trong của đường ống áp lực nhà máy là 9.6m, thì đường kính trong đường hầm dẫn nước áp lực khoảng 12m, đường kính đào hầm khoảng 14m, việc đào 6 đường hầm đường kính 14m dài 4.5km chi phí tương đối lớn. Đương nhiên đây chỉ là vấn đề so sánh kinh tế, quan trọng vẫn là điều kiện địa chất có thoả mãn hay không.


Vấn đề kỹ thuật không phải là yếu tố quan trọng!


Nếu sử dụng đường hầm dẫn nước dài, tồn tại một đoạn sông dài 9km sau đập sẽ bị “chết” trong mùa khô. Sông Lan Thương là dòng sông lớn, khả năng dưới hạ lưu vấn đề cung cấp nước sinh hoạt cho thành phố, nông nghiệp, công nghiệp, môi trường không cho phép ngừng cấp nước. Quy phạm hiện nay đều yêu cầu có sinh thái dòng chảy.

 

Đây chỉ là một vài ý kiến trao đổi. Còn ý kiến của bạn thì sao? 




Ý tưởng dự án tuyến đê biển Vũng tàu - Gò công-Phương án II (Phương án chọn)

posted Mar 30, 2011, 10:20 PM by Quan Nguyen Trong   [ updated Mar 30, 2011, 10:24 PM ]

Ban biên tập xin giới thiệu Phương án 2 với đê nối từ Gò Công đến gần Vũng Tàu, đến đoạn sâu nhất thì chỉ làm cầu để kết nối giao thông, dưới cầu để thông thủy cho tàu bè vào cảng nước sâu đi lại bình thường.


• Đê nối từ Gò Công đến gần Vũng Tàu, đến đoạn sâu nhất thì chỉ làm cầu để kết nối giao thông, dưới cầu để thông thủy cho tàu bè vào cảng nước sâu đi lại bình thường. Đoạn đê từ  đê chính đến Cần Giờ bề mặt chỉ rộng 10, sâu bình quân 5 m. Nếu giảm 3km đê nơi sâu nhất thay thế làm cầu rộng 20m và 12km đê nhỏ thì kinh phí còn dư hoặc tương đương.  Sông Lòng Tàu được xây dựng cống và âu thuyền cho các loại tàu thuyền nhỏ hơn vào ra TP.HCM. Với phương án này chế độ nước cho rừng Cần giờ vẫn như trước đây.
• Về lâu dài khi nước biển dâng lên nhiều, cảng đã xây dựng xong ở dọc đê ta có thể hoàn thiện nốt đoạn đê.
• Phương án có nhược điểm cơ bản là quỹ đất để sử dụng cho xã hội hóa sẽ giảm nhiều. Tiền đầu tư từ phía nhà nước phải nhiều lên.


Xin nhấn vào liên kết sau để tải bản báo cáo về máy (.pdf, 4.5 MB): Tải về

1-10 of 24

Comments