chiến dịch Điện Biên Phủ trên không năm 1972, phần 3

21. “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không” và những con số
Phạm Hoàng Hà
Phần 1: Những con số của sự bạo tàn 

Gần 40 năm đã trôi qua song tinh thần quyết chiến quyết thắng của quân và dân Hà Nội nói riêng, quân và dân miền Bắc nói chung trước cuộc tập kích chiến lược bằng không quân của Mỹ vào Hà Nội và các tỉnh, thành phố lân cận vẫn lưu giữ vẹn nguyên. Những con số về Chiến thắng “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không”,  vừa lên án sự tàn bạo của kẻ thù, vừa thể hiện tinh thần mưu trí, sáng tạo, quả cảm và hiệu suất chiến đấu cao của quân và dân ta…

663 lần chiếc B-52 đánh phá

Đó là số lần chiếc B-52 mà không quân Mỹ sử dụng để đánh phá miền Bắc, trong chiến dịch tập kích đường không 12 ngày đêm tháng 12 năm 1972 (trong đó, khu vực Hà Nội bị 417 lần chiếc B-52 vào đánh phá).  

Trong khi đó, không quân chiến thuật của Mỹ cũng cất cánh 3.920 lần chiếc từ các căn cứ của địch để hộ tống bảo vệ B-52 và đánh phá các sân bay, các trận địa phòng không, các mục tiêu nhỏ lẻ của ta.



Xác của “con ngáo ộp” B-52 và nhiều loại máy bay khác của Mỹ đã phải đền tội trong Chiến dịch “Hà Nội-Điện Biên Phủ” trên không.

Chiến dịch tập kích đường không 12 ngày đêm tháng 12 năm 1972 cũng ghi nhận lần đầu tiên không quân Mỹ sử dụng cả một liên đội F-111 gồm 150 chiếc; mỗi đêm cất cánh từ 10 đến 25 lần chiếc, hoạt động xen kẽ giữa các đợt đánh phá của B-52.

Máy bay B-52 được Mỹ coi là vũ khí “linh hoạt nhất” trong bộ ba vũ khí chiến lược (tên lửa chiến lược, tàu ngầm hạt nhân, máy bay chiến lược B52), có thể bay trong điều kiện thời tiết phức tạp, ném bom ở độ cao trên dưới 10km; mỗi máy bay có thể mang 15 máy gây nhiễu tích cực và 2 máy gây nhiễu tiêu cực. Một số thông số của B-52:

Vận tốc lớn nhất: 1.050 km/h; độ cao tối đa: 16,7km; tầm bay xa nhất: 18.000km; bán kính hoạt động: 4.000km

Dài: 48,07m; cao: 12,39m; rộng: 56,42m

Khả năng mang vũ khí: 18.000 đến 30.000kg, có súng 12,7ly 4 nòng, có thể mang 20 tên lửa Sram

5000 quả bom đào xới một khu vực

Nơi phải hứng chịu số lượng bom khổng lồ ấy là khu vực Yên Viên, Hà Nội.

Trong chiến dịch tập kích đường không nói trên, không quân Mỹ đã trút 8 vạn tấn bom đạn xuống 140 điểm lớn nhỏ thuộc 5 thành phố, 17 tỉnh, giết hại 4.025 người và làm bị thương 3.327 người.



Bệnh viện Bạch Mai bị B-52 rải thảm tháng 12-1972. Chụp lại ảnh tư liệu

Riêng Hà Nội phải hứng chịu 4 vạn tấn bom của địch, với 67 xã ngoại thành, 39 phố nội thành, 7 ga xe lửa, 4 cầu, 4 bến phà và Đài Tiếng nói Việt Nam bị oanh tạc. Khu phố Khâm Thiên bị bom Mỹ phá hủy gần 2.000 nhà ở, trường học, trạm xá, đền chùa; làm thiệt mạng 287 người và bị thương 290 người, phần lớn là phụ nữ, trẻ em và người già, có gia đình chết cả 9 người. Khu tập thể An Dương có hàng trăm ngôi nhà bị phá hủy, với 117 người dân bị chết và 151 người bị thương.

Ngoài ra, không quân Mỹ còn tập trung đánh phá 19 trận địa tên lửa, 14 trận địa pháo phòng không và 8 sân bay, gây cho ta tổn thất cả về người và vũ khí, khí tài…

Phần 2: Con số của ý chí quyết chiến, quyết thắng

34 “siêu pháo đài bay” B-52 bị tiêu diệt

Với sức mạnh tổng hợp của thế trận phòng không nhân dân, sau 12 ngày đêm (từ 18 đến 29-12-1972) chiến đấu ngoan cường, mưu trí, sáng tạo, quân và dân ta đã bắn rơi 81 máy bay của Mỹ, trong đó có 34 máy bay B-52 (16 chiếc rơi tại chỗ), 5 chiếc F-111 (2 chiếc rơi tại chỗ) và 42 máy bay chiến thuật các loại.



81 máy bay Mỹ, trong đó có 34 máy bay B-52 đã bị tiêu diệt trong Chiến dịch 12 ngày đêm tháng 12-1972. Ảnh: Hoàng Hà

Trong số 34 máy bay B-52 bị tiêu diệt, Bộ đội Tên lửa bắn rơi 29 chiếc; Bộ đội Không quân bắn rơi 2 chiếc; Bộ đội pháo phòng không 100mm bắn rơi 3 chiếc.

8 chiếc B-52 bị “hạ gục” trong một đêm

Thành tích xuất sắc đó được ghi dấu trong đêm 26-12-1972, đêm thứ 9 của Chiến dịch.

Chiều 26-12, Quân chủng PK-KQ nhận được thông báo của Bộ Tổng tham mưu: “Từ 18 giờ đến 23 giờ có hoạt động của B-52”. Trực ban trưởng tại Sở chỉ huy Quân chủng phát lệnh cho toàn Quân chủng vào cấp 1 lúc 17 giờ 35 phút.

Vào lúc 21 giờ 35 phút, Tiểu đoàn 78 (Trung đoàn 257, Sư đoàn 361) đã phóng những quả đạn đầu tiên vào các tốp B-52 của địch. Đạn được điều khiển tốt, nổ đúng thời cơ, thiêu cháy một B-52, rơi xuống xã Định Công, Hoàng Mai, Hà Nội.



Bộ đội Tên lửa chuẩn bị chiến đấu trong Chiến dịch “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”. Ảnh tư liệu.

Tiếp đó, vào 22 giờ 27 phút, Tiểu đoàn 86 (Trung đoàn 274, Sư đoàn 361) bắn cháy một B-52 (rơi xa); 22 giờ 30 phút, Tiểu đoàn 76 (Trung đoàn 257, Sư đoàn 361) bắn một B-52 rơi tại chỗ xuống Tương Mai, Hai Bà Trưng, Hà Nội; 22 giờ 33 phút, Tiểu đoàn 93 (Trung đoàn 261, Sư đoàn 361) bắn một B-52 rơi tiếp xuống Đèo Khế, Tuyên Quang; 22 giờ 47 phút, Tiểu đoàn 79 (Trung đoàn 257, Sư đoàn 361) bằng một quả đạn đã diệt gọn một B-52, rơi xuống địa phận Sơn La.

Trong đêm 26-12, Trung đoàn pháo 100mm của Quân khu Việt Bắc cũng bắn rơi một B-52 (lần thứ hai trong Chiến dịch bắn rơi B-52).

Tại Hải Phòng, mặc dù bị máy bay chiến thuật của hải quân Mỹ gây nhiễu, phóng sơ-rai liên tục nhưng Tiểu đoàn tên lửa 81 (Trung đoàn…., Sư đoàn 363) đã vận dụng tốt phương pháp điều khiển và chế độ bám sát, tiêu diệt một máy bay B-51. Đại đội 174 pháo 100mm của Trung đoàn pháo phòng không 252 cũng đã bắn rơi một B-52 lúc 22 giờ 24 phút.

“Quán quân” diệt B-52

Ngôi vị “quán quân” diệt B-52 thuộc về Trung đoàn 261, với thành tích hạ gục 12 chiếc (7 chiếc rơi tại chỗ). Tuy nhiên, nếu tính thành tích “bắn rơi tại chỗ”, thì ngôi vị “quán quân”  lại thuộc về Trung đoàn 257, với 11 lần hạ gục B-52, trong đó 8 chiếc rơi tại chỗ.



Đại diện các kíp chiến đấu của Sư đoàn 361 đã tiêu diệt 25 máy bay B-52 trong Chiến dịch “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”. Ảnh: Hoàng Hà

“Quán quân” bắn rơi B-52 ở cấp tiểu đoàn thuộc về Tiểu đoàn 57 (Trung đoàn 261) và Tiểu đoàn 77 (Trung đoàn 257), cùng bắn rơi 4 chiếc.

Trong khi đó, xét thành thích “bắn rơi tại chỗ” B-52, Tiểu đoàn 77 (Trung đoàn 257) tiếp tục ở vị trí “quán quân” cùng với Tiểu đoàn 93 (Trung đoàn 261), khi cùng bắn rơi tại chỗ 3 máy bay B-52.


22. Có một Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không như huyền thoại


Trong chiến dịch có tổng cộng 741 lượt B-52 vào ném bom Bắc Việt Nam trong đó có 12 lượt bị hủy, trong thời gian đó vẫn có 212 lượt B-52 đi ném bom ở miền Nam Việt Nam. Hỗ trợ cho các máy bay ném bom là 3920 lượt máy bay ném bom chiến thuật của không quân và hải quân. Tổng cộng đã có 15.000 tấn bom đã được thả xuống những nơi được Mỹ coi là 18 mục tiêu công nghiệp và 14 mục tiêu quân sự (trong đó có 8 địa điểm có tên lửa SAM).

anh 1Phòng không Quân đội nhân dân Việt Nam

Cuộc tập kích của không quân Mỹ diễn ra liên tục trong ngày với trọng tâm là các cuộc ném bom của B-52 vào ban đêm. Một lực lượng lớn máy bay B-52, mỗi chiếc mang tối đa 66 quả bom 750-pound (340 kg) hoặc 108 quả bom 500-pound (227 kg) thực hiện các cuộc tấn công hủy diệt hàng đêm tại Hà Nội và Hải Phòng. Còn ban ngày các bay chiến thuật thay nhau liên tục đánh phá ác liệt các sân bay của không quân tiêm kích Bắc Việt Nam, các trận địa tên lửa và các trạm radar phòng không. Để tránh né hệ thống phòng không miền Bắc, Hoa Kỳ đã dùng một biện pháp cực đoan, dùng máy bay B-52 bay ở độ cao lớn rải thảm bom huỷ diệt không chính xác vào một loạt các khu vực dân cư của các thành phố lớn để đánh vào ý chí của dân chúng và đã gây ra thương vong lớn cho dân cư. Thiệt hại về cơ sở hạ tầng tại miền Bắc Việt Nam là rất nặng nề. Hà Nội, Hải Phòng bị tàn phá, các nhà xưởng, nhà máy điện, và các khu dân cư trở thành đống gạch vụn. Ở Hà Nội, riêng tại phố Khâm Thiên bom trải thảm đã phá sập cả dãy phố, sát hại 287 dân thường, làm bị thương 290 người, 178 đứa trẻ trở thành mồ côi, trong đó có 112 mồ côi cả cha lẫn mẹ. Bệnh viện Bạch Mai, cơ sở y tế lớn nhất miền Bắc Việt nam đã bị phá huỷ hoàn toàn cùng với các bệnh nhân và bác sĩ, y tá bên trong. Số dân thường bị thiệt mạng trong chiến dịch là 2.200 người, trong đó con số tại Hà Nội được thống kê là 1.318 người. Chiến dịch này đã phá hoại nặng nề nhiều cơ sở vật chất, kinh tế, giao thông, công nghiệp và quân sự ở miền Bắc Việt Nam nhưng đã không làm thay đổi được lập trường của lãnh đạo Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Về mặt quân sự, Hoa Kỳ đã đánh giá thấp lực lượng phòng không của đối phương. Không lực Hoa Kỳ quá tin tưởng vào các biện pháp kỹ thuật gây nhiễu điện tử để bịt mắt radar và tên lửa phòng không của đối phương. Để đáp lại, các lực lượng tên lửa phòng không Quân đội nhân dân đã giải quyết vấn đề bằng những biện pháp chiến thuật sáng tạo và hợp lý. Dù Hoa Kỳ sử dụng các thiết bị gây nhiễu rada mạnh, phòng không Việt Nam đã tìm ra cách dò dấu vết B-52 trong dải nhiễu, bắn các máy bay B-52 theo xác suất và đã thành công vượt xa mức trông đợi. Cũng trong chiến dịch này, lần đầu pháo đài bay B-52 bất khả chiến bại bị hạ bởi một máy bay tiêm kích MiG-21, do Phạm Tuân điều khiển.

anh 2

Danh sách các đơn vị phòng không và không quân VNDCCH đã hạ máy bay B52 được công khaitại Bảo tàng Phòng không Không quân, Hà Nội.

 

Trong đó ngày 20 tháng 12 chứng kiến nỗ lực phòng thủ mãnh liệt nhất của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chống lại các máy bay B-52, đó là ngày B-52 phải chịu tổn thất cao nhất trong toàn chiến dịch. Trong đêm đó, lực lượng phòng không Bắc Việt Nam đã đã phóng 36 tên lửa SAM trong suốt 3 đợt tấn công. Lưới lửa được tổ chức và điều khiển rất khôn ngoan. Đôi khi quân đội nhân dân Việt Nam không tấn công biên đội đầu tiên trên vùng trời mục tiêu mà dùng nó để xác định đường bay và các điểm lượn vòng, tiếp đó các biên đội sau phải chịu hỏa lực mạnh ở gần các điểm thả bom, nơi mà họ phải bay ổn định, và trên đường rút khỏi mục tiêu. Trong đêm đó, 4 máy bay B-52G và 2 máy bay B-52B bị bắn rơi, một máy bay B-52D bị bắn hỏng.

Thiệt hại của không quân Mỹ theo phía Mỹ công bố là 10 chiếc B-52 đã bị bắn rơi trên lãnh thổ Bắc Việt Nam, 5 chiếc khác rơi tại Lào hoặc Thái Lan, 1 chiếc rơi ngay tại căn cứ quân sự. 26 phi công B-52 được cứu thoát, 33 người khác bị chết hoặc mất tích, 33 bị bắt làm tù binh chiến tranh. Đồng thời không quân chiến thuật Mỹ mất 12 máy bay (2 F-111, 3 F-4, 2 A-7, 2A-6, 1 EB-66, 1 trực thăng cứu hộ HH-53 và 1 máy bay RA-5C), 10 phi công chiến thuật bị chết, 8 bị bắt, và 11 được cứu thoát. Trong số 28 máy bay cả B-52 và chiến thuật bị bắn rơi, 17 trường hợp do trúng tên lửa SA-2, 3 trường hợp do bị máy bay MiG tấn công vào ban ngày, 3 do pháo phòng không, và 3 trường hợp không rõ nguyên nhân. 4 chiếc B-52 khác bị trúng đạn hư hại nặng nhưng lết về được sân bay và 5 chiếc khác bị hỏng mức trung bình.Theo số liệu của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tổng cộng trong 12 ngày đêm có 81 máy bay bị bắn rơi, trong đó có 34 chiếc B-52 (có 16 chiếc rơi tại chỗ), 5 chiếc F-111 (có 2 chiếc rơi tại chỗ).

Phía Mỹ chỉ công nhận các trường hợp bị bắn rơi có nhân chứng, vật chứng rõ ràng. Nếu tính tỷ lệ những máy bay trúng đạn cố bay ra biển rồi bị rơi (hầu hết máy bay B-52 bị bắn tại Hải Phòng đều cố thoát ra biển nhảy dù để được Hải quân Mỹ cứu) hoặc rơi tại Lào, Thái Lan thì số liệu của phía Việt Nam là đáng tin cậy và có cơ sở hơn, nó phù hợp với thống kê của hãng thông tấn AP.

Theo ước tính của Hoa Kỳ, sau 12 ngày đêm thì lượng đạn tên lửa của Quân đội Nhân dân Việt Nam đã sắp cạn kiệt, có những ý kiến cho rằng nếu Hoa Kỳ kiên trì thêm vài ngày thì có thể đã giành được chiến thắng. Tuy nhiên theo số liệu của Quân đội Nhân dân Việt Nam, trong toàn chiến dịch họ đã phóng 334 đạn tên lửa SA-2, bằng 60% dự trữ số đạn tốt của Hà Nội, Hải Phòng, đồng thời cũng phục hồi được hơn 300 tên lửa cũ để tái sử dụng. Cùng với đó là 2.036 viên đạn pháo 100mm, 15.669 viên đạn 57mm, 19.454 viên đạn 37mm, 1.147 viên đạn 14.5mm, chiếm 66% lượng dự trữ của Hà Nội và Hải Phòng. Như vậy nếu tiếp tục duy trì cường độ này, Quân đội Nhân dân Việt Nam vẫn có đủ đạn dược để chiến đấu thêm 20 ngày nữa. Chưa kể 2 hệ thống tên lửa SA-3 mới có năng lực cao hơn SA-2 cùng 100 tên lửa được dự kiến sẽ đưa vào chiến đấu vào ngày 2 tháng 1 năm 1973. Trên thực tế, khi các cuộc không kích của Hoa Kỳ tiếp diễn tại Khu 4 trong tháng 1 năm 1973, các đơn vị tên lửa của Việt Nam vẫn đủ sức tiếp tục chiến đấu, bắn rơi và bắn hỏng thêm 4 chiếc B-52.

Sách báo Việt Nam gọi chiến dịch Linebacker II này là trận Điện Biên Phủ trên không, như một cách nêu bật thắng lợi của lực lượng phòng không Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong chiến dịch.

Thượng tá Việt Anh, Đại học Văn hóa và Nghệ thuật Quân đội.


23. Điện Biên Phủ trên không – Chiến thắng của tinh thần quốc tế vô sản cao đẹp

(VOV5) - Chiến thắng lịch sử của trận “Điện Biên phủ trên không” là một chiến công rạng ngời không chỉ của quân và dân Việt Nam, mà đó còn là biểu tượng của tình hữu nghị, tình đoàn kết cao đẹp của tinh thần quốc tế vô sản. Trong cuộc đấu tranh chính nghĩa này, Việt Nam đã nhận được sự giúp đỡ to lớn, chí tình và đầy hiệu quả của nhiều bạn bè quốc tế, trong số đó phải kể đến sự giúp đỡ của Liên bang cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô Viết, nay là Liên bang Nga. 


Phòng không giáng trả quyết liệt không quân Mỹ ném bom Hà Nộ trong 12 ngày đêm lịch sử - Ảnh tư liệu


Có mặt tại Hà Nội cách đây 4 thập niên, Trung tướng Victor Ivanovich Filippov, cựu chuyên gia quân sự Nga, từng công tác tại Trung đoàn 263, Sư đoàn 4, Quân khu 4 và mặt trận ngoại thành Hà Nội năm 1972, vẫn nhớ kỷ niệm những ngày đầu đặt chân tới Việt Nam. 

Trong ký ức của vị Trung tướng, người dân Việt Nam là những con người chan hòa, thân thiện, bộ đội Việt Nam là những người ham học hỏi, có tinh thần sẵn sàng hy sinh, chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Trong những năm tháng chiến tranh chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam, Liên Xô đã giúp đỡ Việt Nam về kinh tế, vũ khí khí tài… Với tinh thần vô tư, hào hiệp, nhân dân Liên Xô thông qua Chính phủ đã viện trợ không hoàn lại cho Việt Nam để giúp nhân dân Việt Nam đấu tranh, bảo vệ Tổ quốc. Nhưng theo Trung tướng Victor Ivanovich Filippov, không có bất kỳ một yếu tố bên ngoài nào đóng vai trò quyết định trong chiến thắng này, mà chính là nhân dân Việt Nam đã anh dũng bảo vệ đất nước Việt Nam. 

Là một chuyên gia quân sự của Nga, Trung tướng Victor Ivanovich Filippov cho rằng:“Dân tộc Việt Nam là một dân tộc anh hùng và quân đội Mỹ đã không rút ra được các bài học khi vẫn âm mưu khuất phục ý chí quật cường của dân tộc các bạn bằng bom đạn. Thứ hai, cuộc đấu tranh của các bạn là chiến đấu vì độc lập, tự do của chính dân tộc mình, còn cuộc chiến của Mỹ là cuộc chiến xâm lược. Thứ ba, nhân dân Việt Nam bảo vệ Tổ quốc của mình và sự nghiệp chính nghĩa ấy đã nhận được sự ủng hộ của nhân loại tiến bộ trên thế giới cũng như ở Mỹ. Nhân dân yêu chuộng hòa bình đã ủng hộ quân giải phóng chống Mỹ, đã có nhiều cuộc biểu tình chống Mỹ can thiệp, chống không quân Mỹ ném bom tàn phá miền Bắc. Sự trợ giúp về kinh tế của các nước anh em như Liên Xô, Trung Quốc và một số nước khác, sự ủng hộ của nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới cũng đóng góp một phần nhất định trong chiến thắng này của Việt Nam. Việt Nam đã trở thành biểu tượng của cuộc chiến tranh giành độc lập, là tấm gương để các nước noi theo trong cuộc chiến thống nhất đất nước.”

Chiến thắng Điện Biên Phủ trên không đã đập tan cuộc tập kích chiến lược bằng máy bay B52 và các vũ khí tối tân của không lực Hoa Kỳ. Chiến thắng này đã một lần nữa cho thấy sức mạnh đoàn kết của nhân dân Việt Nam và bạn bè quốc tế./.

Đoan Hải – Phóng viên Đài TNVN thường trú tại LB Nga

24.Hé mở bí mật trận Điện Biên Phủ trên không








__________________

25. “Điện Biên Phủ trên không” qua dư luận Mỹ

Cuộc tập kích chiến lược 12 ngày đêm của không quân Mỹ vào các thành phố miền Bắc Việt Nam cuối năm 1972 thất bại đã để lại những dấu ấn sâu đậm trong nhiều người Mỹ…

“Lai- nơ-bếch-cơ II, cuộc tập kích 12 ngày đêm chống Bắc Việt Nam tháng 12-1972 là một trong những chiến dịch sử dụng không quân tập trung nhất trong lịch sử chiến tranh, chống lại hệ thống phòng không mạnh nhất thế giới… nhiệm vụ là làm suy yếu khả năng tấn công của Bắc Việt Nam ở Miền Nam Việt Nam. Mục đích cuối cùng là nhằm hoàn thành các mục tiêu của Mỹ: buộc Hà Nội trở lại bàn hội nghị ở Pa-ri, giành “hòa bình trong danh dự” và bảo đảm sự trở về của các tù binh chiến tranh của chúng ta.

Trích bài “Lai - nơ - bếch - cơ II: đánh giá của một phi công” của Um-phơ (một phi công B-52 tham gia chiến dịch này) - Tạp chí “Airforce”, tháng 9-1979 

Đran Cao-xki trong bài “Thảm kịch của cuộc hành quân Lai-nơ -bếch- cơ II” đăng trên tập san của lực lượng không quân Mỹ viết: “Trong chiến tranh Việt Nam, ít có cuộc hành quân nào gây xúc động mạnh mẽ, thậm chí bi thảm hơn chiến dịch ném bom kéo dài 12 ngày mang tên “Hành quân Lai- nơ-bếch- cơ II”. Cuộc hành quân này nhằm vào các mục tiêu ở khu vực Hà Nội - Hải Phòng và lần đầu tiên được thực hiện bằng máy bay ném bom hạng nặng B-52 để buộc Bắc Việt Nam phải ký Hiệp định hòa bình Pa-ri. Chiến dịch hầu như hoàn toàn do Bộ chỉ huy Không quân chiến lược Hoa Kỳ thực hiện, là một thảm họa cho những người lái và phục vụ trên máy bay và một tiền lệ nguy hiểm cho tương lai. Hậu quả của một cuộc hành quân Lai- nơ- bếch-cơ II là một số lớn máy bay B-52 bị bắn hạ một cách không cần thiết và những nhân viên lái và phục vụ trên máy bay này bị thương tật, chết hoặc bị bắt”.

Trang đen tối trong lịch sử nước Mỹ (Quân đội nhân dân. 19-12-1982, tr.3)

Trong cuốn “Cuộc chiến tranh Việt Nam”, J.T.Grin-út đã viết: “Trong 12 ngày liên tục, chúng ta đã tiến hành cuộc ném mà sự tàn phá lớn hơn cuộc ném bom trong suốt cuộc chiến tranh từ trước cho tới bây giờ. Chúng ta đã tung pháo đài bayB-52 vào các trung tâm của đối phương và đã gặp phải mạng lưới phòng không bảo vệ mục tiêu dày đặc và mạnh nhất trong lịch sử chiến tranh xưa nay. Tổn thất của chúng ta rất nặng nề”.

Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954 - 1975: những sự kiện quân sự - (Viện Lịch sử Quân sự. 1998, tr: 270)

“Lai-nơ-bếch-cơ II đã làm cô lập chính quyền Mỹ về mặt chính trị và đặt nó vào thế phòng ngự. Đa số báo chí Mỹ xem cuộc ném bom này là kinh tởm trong Lễ Giáng sinh. Phản ứng trong nước Mỹ cũng rất nghiêm trọng… 47 trong số 73 thượng nghị sĩ Mỹ được hỏi ý kiến sau khi cuộc ném bom bắt đầu đã chống lại nó, 45 người tuyên bố sẵn sàng ủng hộ đạo luật chấm dứt chiến tranh. Trước sức ép ngày càng mạnh của Quốc hội, ngày 30-12-1972, Tổng thống Ních-xơn không còn cách nào hơn là ra lệnh chấm dứt ném bom bắc vĩ tuyến 20… Cuộc thương lượng được nối lại tại Pa-ri ngày 2-1-1973, chính quyền Mỹ ở thế yếu hơn rất nhiều… Mỹ rút được quân và được trao trả tù binh mà không phải “Thừa nhận” thất bại quân sự của hai thập kỷ nỗ lực - “một thắng lợi đắng cay”.

G. Côncô. Giải phẫu một cuộc chiến tranh – (Tạp chí Quốc phòng toàn bộ dân, số 12, 1997-tr: 107)

Chiến dịch Lai-nơ-bếch-cơ II là thất bại chính trị - quân sự của Mỹ, vì nó không buộc được đối phương đầu hàng, nghĩa là có những nhượng bộ mới. Bắc Việt Nam về thực chất, đã kết thúc cuộc chiến tranh với một hiệp định có lợi cho họ…Mỹ phải thừa nhận một điều khoản khiến các lực lượng Bắc Việt Nam ở miền Nam Việt Nam được hợp pháp hóa… Sự kiện sau đó đã chứng minh, chỉ hơn 2 năm sau cái gọi là “rút quân trong danh dự” của Mỹ, Bắc Việt Nam đã hòan thành cái việc mà họ muốn là giải phóng miền Nam và thống nhất đất nước”.

G. Levy. Mỹ ở Việt Nam – (Tạp chí Quốc phòng tòan dân, số 12, 1997 - tr: 106)

“Hệ thống phòng không của Bắc Việt Nam hiện đại, rộng khắp và hiệu quả đến nỗi trong bất cứ một trận đánh phá nào, 90% máy bay của không quân Mỹ phải lo bảo vệ các máy bay ném bom để chống lại MIG tiến công, đồng thời khống chế súng phòng không và tên lửa từ mặt đất”.

Trích báo “Tin Mỹ và thế giới” ngày 21-12-1972 – (Tạp chí Quốc phòng toàn dân, số 12, 1997 - tr: 108)

“Hiện nay Bắc Việt Nam có hệ thống phòng không lớn nhất và mạnh nhất thế giới. Các pháo thủ Việt Nam là những tay súng giỏi nhất vì họ có rất nhiều kinh nghiệm”.

Trích tin của tạp chí “Tin Mỹ hàng tuần” – (Tạp chí Quốc phòng toàn dân, số 12. 1997 - tr: 108)

“Trong bom đạn mờ mịt, tôi đã thấy những phụ nữ trên những ụ súng lia súng trường theo các máy bay phản lực Mỹ đang bay trên trời. Họ tin rằng, có thể bắn rơi máy bay phản lực bằng một khẩu súng trường. Đây là một ý chí có tính chất truyền thống trong những người dân mà tôi đã gặp”.

Trích ý kiến của nhà báo Mỹ - ( Tạp chí Quốc phòng toàn dân, số 12, 1997 - tr: 108)

“Chúng tôi kêu gọi mạnh mẽ các nghị sĩ Quốc hội sử dụng mọi quyền lực hợp pháp và tinh thần để đem lại hòa bình. Chúng tôi hiểu rằng chiến tranh kéo dài chỉ làm tăng thêm nỗi đau khổ, kéo dài sự giam cầm của chúng tôi và tăng thêm những tổn thất của đất nước chúng ta”.

Trích tuyên bố của 30 giặc lái Mỹ ngày 2-1-1973 – (Nhân dân, ngày 8-1-1973, tr:4)

“Lòng dũng cảm của Việt Nam sẽ sống mãi trong ký ức mọi người. Việc đánh bại B-52 cho thấy tinh thần kháng chiến của các bạn còn mạnh hơn mọi sức mạnh kỹ thuật thuộc bất cứ loại nào”.

Trích điện của 2 nghệ sĩ Mỹ nổi tiếng trong phong trào chống chiến tranh xâm lược Việt Nam ở Mỹ là chị Giên Phôn-đa và anh Tôm Hay-đơn ngày 24-12-1722. – (Nhân dân, ngày 28-12-1972, tr: 3)

“Tổng thống Mỹ lại một lần nữa quay về với sức mạnh thô bạo để tìm cách giành lấy những mục tiêu rộng lớn hơn nữa của ông ta ở Đông Nam Á, những mục tiêu không bao giờ là hiện thực và cần thiết cho lợi ích an ninh của nước Mỹ. Giá như Hà Nội có chịu trách nhiệm đến đâu đi nữa về việc làm gián đoạn cuộc thương lượng - giả thuyết này là rất đáng nghi ngờ - thì việc sử dụng một lực lượng không quân hùng hậu nhất để thẳng tay tấn công một cách tàn bạo vào một nước nhỏ châu Á là một sự lạm dụng sức mạnh của chủ nghĩa nhân đạo… Trong quá trình này, chính nước Mỹ đang đứng trước nguy cơ bị đẩy trở lại chế độ dã man của thời kỳ đồ đá, có thể tiêu diệt những gì đáng giá nhất cần giữ gìn trong nền văn minh Mỹ”.

Trích xã luận “Thời báo New York (Mỹ) số ra ngày 20-12-1972 – (Nhân dân, ngày 21-12-1972, tr: 4)

“12 ngày ném bom trở lại vùng Hà Nội, Hải Phòng được coi là cuộc ném bom dữ dội nhất trong lịch sử chiến tranh, đã làm cho Mỹ bị thiệt hại nặng nề nhất về người và trang bị. Từ 18 đến 30 tháng 12, 76 phi công Mỹ đã bị mất ở Bắc Việt, có lẽ là bị bắt. Nhiều người khác chết và bị thương”.

Trích tin của hãng UPI (Mỹ) ngày 31-12-1972: - (Nhân dân, 1-1-1973, tr:3)

“Tôi có thể khẳng định rằng nếu B-52 còn vào nữa thì còn bị bắn rơi nhiều nữa. Các ông chiến đấu dũng cảm, mưu trí, có chính nghĩa. Tôi tin chắc rằng nhất định các ông sẽ thắng vì lịch sử ở phía các ông, đạo lý ở phía các ông”.

Trích lời khai của Uy-li-am Cô-lin, trung tá điều khiển điện tử, máy bay B-52 – (Quân đội nhân dân, ngày 24-12-1972, tr: 3)

“Trong đời tôi, chưa bao giờ tôi vấp phải một trận chiến như thế…Đối phương chiến đấu phối hợp chặt chẽ và đánh rất hay”

Giên Cát, thiếu tá phi công B-52 Mỹ bị bắt làm tù binh – (Tạp chí Quốc phòng toàn dân, số 12, 1997, tr: 108)

“Nói đúng ra, súng phòng không nào của họ cũng nguy hiểm .. Mỗi lần bay là một lần khiếp sợ… tưởng như mình lọt vào một lưới thép vì không biết cơ man nào là tay súng đang nhằm bắn vào mình”.

Điu Crúc, phi công Mỹ - (Tạp chí Quốc phòng toàn dân, số 12, 1997 - tr: 108)

NGUYỄN ĐĂNG VINH (Thư viện Quân đội)

26. Tên lửa SAM-2, vũ khí chủ lực tiêu diệt B-52


QĐND - Máy bay ném bom chiến lược B-52 được quân đội Mỹ ngạo mạn tuyên bố là “bất khả xâm phạm”. Thế nhưng, trong 12 ngày đêm chiến dịch “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không” tháng 12-1972, bằng tên lửa SAM-2, bộ đội tên lửa của ta đã bắn rơi 29 “siêu pháo đài bay” B-52 (trong tổng số 193 chiếc tham chiến). SAM-2 đã thực sự trở thành nỗi khiếp sợ của phi công địch.

SAM-2 (tên lửa đất đối không kiểu 2) là tên gọi mà các quốc gia phương Tây đặt cho loại tên lửa S-75 Đvi-na do Liên Xô (trước đây) chế tạo và viện trợ cho ta. Đây là tổ hợp tên lửa đất đối không tầm cao, được điều khiển bằng hệ thống ra-đa ba tác dụng. Đạn tên lửa dùng trong hệ thống SAM-2 là V-750. Đạn V-750 có hai tầng: Động cơ đẩy sử dụng nhiên liệu rắn; động cơ hành trình sử dụng nhiên liệu tên lửa lỏng để duy trì quỹ đạo bay. Tầm bắn của tên lửa SAM-2 có thể lên đến gần 40km và độ cao bắn lên đến 25km. Độ cao bắn này giúp tên lửa hoàn toàn có khả năng “hạ gục” máy bay B-52. Đầu đạn của SAM-2 là loại tạo mảnh, chứa gần 200kg thuốc nổ và có tốc độ bay đạt Mach 3. Bán kính tiêu diệt mục tiêu của đạn tên lửa V-750 khoảng 65m (ở độ cao lớn, khí quyển loãng, bán kính tiêu diệt mục tiêu có thể lên đến 250m). Các đầu nổ của đạn tên lửa đều được lắp hai hệ thống ngòi nổ: Hệ thống ngòi nổ sát thương và hệ thống ngòi nổ tự hủy. Khi cách mục tiêu khoảng 60m, hiệu ứng vô tuyến sẽ kích hoạt ngòi nổ sát thương gây nổ đạn. Ngòi nổ tự hủy của đạn tên lửa hoạt động ở chế độ tự động và chỉ được kích hoạt ở độ cao hơn 23km khi ngòi nổ sát thương không hoạt động (trường hợp bắn trượt mục tiêu). Khi đầu đạn được kích nổ sẽ sinh ra nhiệt lượng rất lớn, sóng xung kích mạnh và tạo ra hàng chục nghìn mảnh đạn để tiêu diệt mục tiêu.

Tên lửa SAM-2 trong chiến dịch “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”.

Ngoài yếu tố quyết định là sự mưu trí, dũng cảm của quân và dân ta thì sự giúp đỡ của các chuyên gia quân sự Liên Xô trong lĩnh vực tên lửa phòng không có vai trò rất quan trọng làm nên chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”. Ngay từ tháng 4-1965, các chuyên gia quân sự thuộc Binh chủng Tên lửa phòng không của Liên Xô đã tới Việt Nam để huấn luyện kỹ thuật cho bộ đội tên lửa Việt Nam. Nội dung huấn luyện gồm: Cấu tạo, tính năng, cách vận hành, bảo dưỡng, sửa chữa tên lửa SAM-2; huấn luyện trắc thủ, tổ chức khẩu đội chiến đấu… Đầu tháng 7-1965, sau khi tiếp nhận đầy đủ vũ khí, khí tài tên lửa và được huấn luyện thuần thục, hai Tiểu đoàn 63 và 64 thuộc Trung đoàn Tên lửa phòng không 236 (trung đoàn tên lửa phòng không đầu tiên của quân đội ta) đã đủ điều kiện để SSCĐ. Tiếp theo, các chuyên gia quân sự Liên Xô tiếp tục giúp ta huấn luyện Trung đoàn Tên lửa phòng không 238, Trung đoàn Tên lửa phòng không 285, Trung đoàn Tên lửa phòng không 263… Năm 1968, bạn còn đưa các chuyên gia về lĩnh vực ra-đa sang giúp bộ đội Việt Nam nghiên cứu, đưa ra những biện pháp nâng cao hiệu quả tác chiến của tên lửa trong điều kiện địch sử dụng các biện pháp gây nhiễu mới.

Được sự giúp đỡ tận tình của các chuyên gia Liên Xô, bộ đội tên lửa Việt Nam nhanh chóng làm chủ vũ khí, khí tài phòng không hiện đại. Tên lửa SAM-2 nhanh chóng được đưa vào chiến đấu đạt hiệu quả cao. Bộ đội tên lửa với vũ khí SAM-2 đã trở thành một trong những lực lượng nòng cốt bảo vệ bầu trời Tổ quốc. Ngay trận đầu ra quân (ngày 24-7-1965), Tiểu đoàn 63 và 64 thuộc Trung đoàn Tên lửa phòng không 236 đã hiệp đồng chặt chẽ, mỗi tiểu đoàn phóng 2 quả đạn tên lửa, bắn rơi tại chỗ một chiếc máy bay F-4C, làm nên chiến thắng trận đầu của bộ đội tên lửa. Kể từ trận đầu xuất quân ngày 24-7-1965, trong hai cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng không quân của đế quốc Mỹ (từ năm 1965 đến năm 1968 và năm 1972), các đơn vị tên lửa SAM-2 của quân đội ta đã đánh tổng cộng hơn 3.540 trận (trong đó có 588 trận đánh đêm), phóng hơn 5.880 quả đạn, bắn rơi 788 máy bay Mỹ (có 366 chiếc rơi tại chỗ), trong đó có 43 máy bay B-52. Tính trung bình cứ hơn 7 quả đạn tên lửa thì tiêu diệt một máy bay. Trong 12 ngày đêm chiến dịch “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không” cuối tháng 12-1972, các đơn vị tên lửa SAM-2 bảo vệ Hà Nội, Hải Phòng và một số tỉnh phía Bắc đã bắn rơi 29 chiếc máy bay B-52 (trên tổng số 34 chiếc bị bắn rơi). Cho đến nay, Việt Nam là quốc gia duy nhất trên thế giới đã sử dụng tên lửa SAM-2 để đánh thắng máy bay ném bom chiến lược B-52, hạ bệ “thần tượng” của không lực Hoa Kỳ.

NGUYỄN TRUNG

27. Bộ khí tài tên lửa diệt B-52 đầu tiên trên bầu trời Hà Nội

QĐND Online – Mặc dù đã nhuốm màu thời gian, song bộ khí tài tên lửa hạ gục tại chỗ chiếc B-52 đầu tiên trong Chiến dịch “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không” vẫn kiêu hãnh hiện diện giữa Thủ đô, như lời khẳng định hùng hồn tinh thần dám đánh, quyết đánh, biết đánh và đánh thắng của quân, dân Hà Nội, trước cuộc tập kích chiến lược bằng B-52 của đế quốc Mỹ vào Thủ đô và các tỉnh, thành phố lân cận, trong tháng 12-1972.

Đêm 18-12-1972, đêm đầu tiên của Chiến dịch “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”, kíp chiến đấu của Tiểu đoàn 59, Trung đoàn 261 (Sư đoàn 361, Quân chủng Phòng không-Không quân), do Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Thăng chỉ huy, đã sử dụng bộ khí tài này diệt gọn chiếc B-52 đầu tiên, làm nức lòng quân, dân Thủ đô và đồng bào, chiến sĩ cả nước.



Bệ phóng tên lửa được sử dụng bắn rơi tại chỗ chiếc B-52 đầu tiên trong Chiến dịch “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”.

Vào hồi 20 giờ 13 phút hôm đó, Trung đoàn 261 lệnh cho Tiểu đoàn 59 sục sạo, bắt mục tiêu. Đến 20 giờ 16 phút, kíp ra-đa bắt được dải nhiễu và xác định đây là tốp B-52 đang bay từ phía Tam Đảo vào đánh Đông Anh.

Sau lệnh phóng của Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Thăng, quả 1 được phóng ở cự ly 36km; sau 6 giây, quả 2 tiếp tục được phóng ở cự ly 34km; chế độ bám sát bằng tay và phương pháp điều khiển 3 điểm.

Sau khi đạn nổ, mất nhiễu. Vọng quan sát báo mục tiêu cháy to, rơi xuống cánh đồng Chuôm, Phù Lỗ, Đông Anh (Hà Nội), cách trận địa tên lửa chưa đầy 10km. Đây là chiếc B-52 đầu tiên bị bắn rơi tại chỗ trong Chiến dịch “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”.



81 máy bay các loại của không quân Mỹ đã bị tiêu diệt trong Chiến dịch “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”, trong đó có 34 máy bay B-52. Phía trước đống xác máy bay này (có xác B-52), là bệ phóng tên lửa đã từng hạ gục tại chỗ chiếc B-52 đầu tiên-cái được coi là “niềm kiêu hãnh của không lực Hoa Kỳ”

Chiếc B-52 đầu tiên bị bắn rơi tại chỗ có ý nghĩa quan trọng về nhiều mặt, đặc biệt khi địch dùng B-52 đánh Hà Nội, Hải Phòng để gây sức ép cho ta tại Hội nghị Pa-ri. Bắn rơi B-52 tại chỗ, ta không chỉ đánh bại âm mưu, ý đồ của chúng, mà còn tạo nguồn cổ vũ lớn lao cho quân, dân Thủ đô và củng cố niềm tin đối với bộ đội phòng không-không quân nói chung và bộ đội tên lửa nói riêng trong việc đối phó với B-52 của địch.

Ngay sau khi chiếc B-52 đầu tiên bị bắn hạ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã gọi điện biểu dương thành tích của Sư đoàn 361 và nhắc nhở: Cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 361 cần phát huy thành tích đã lập được, tiếp tục bắn rơi tại chỗ nhiều B-52 hơn nữa…

Bài, ảnh: PHẠM HOÀNG HÀ

28. Vô hiệu hóa tên lửa sơ-rai

QĐND - Kể từ khi chính thức được đưa vào chiến đấu, tên lửa SAM-2 đã chứng tỏ được sự lợi hại khi “hạ gục” nhiều máy bay, trong đó có máy bay B-52 của địch. Để chống lại tên lửa SAM-2, ngoài thủ đoạn gây nhiễu, không quân Mỹ còn sử dụng tên lửa sơ-rai (Shrike) hòng phá hoại trận địa tên lửa của ta.

Sơ-rai là loại tên lửa chống ra-đa, thường trang bị cho máy bay F105F, F105G hoặc F4D và có thể phóng từ cự ly 48km (loại cải tiến có thể phóng từ cự ly 72km). Tên lửa Sơ-rai có đầu tự dẫn, hoạt động theo nguyên tắc tự động điều khiển theo bức xạ sóng điện từ. Khi thu được tín hiệu của nguồn bức xạ (phát ra từ đài ra-đa điều khiển tên lửa), tên lửa sơ-rai sẽ được tự động điều khiển lao vào trận địa để phá hủy mục tiêu. Thời gian đầu, loại tên lửa này đã gây nhiều tổn thất cho bộ đội ta. Có lúc, bộ đội xuất hiện tâm lý ngại mở ra-đa vì sợ tên lửa sơ-rai tấn công, ảnh hưởng đến hiệu quả tác chiến.

Trước tình hình đó, các cán bộ thuộc Viện Kỹ thuật quân sự (nay là Viện Khoa học và Công nghệ quân sự) đã chủ động nghiên cứu cách chống lại tên lửa sơ-rai. Một câu hỏi đặt ra là sơ-rai bám mục tiêu theo cánh sóng, vậy khi tắt ra-đa, tên lửa có “nhớ” được tọa độ mục tiêu để tiếp tục bay đến vị trí đài ra-đa nữa không? Giải đáp câu hỏi này sẽ giúp bộ đội có cách phòng tránh tên lửa sơ-rai hiệu quả. Có ý kiến cho rằng, trong trường hợp này, tên lửa vẫn “nhớ” được tọa độ và tiếp tục lao đến mục tiêu. Tuy nhiên, qua nghiên cứu chiến lợi phẩm gồm một đầu điều khiển của tên lửa và một quả tên lửa sơ-rai còn nguyên vẹn thu được của địch, các nhà khoa học đã tìm ra nguyên lý điều khiển của tên lửa. Từ kết quả nghiên cứu, Viện Kỹ thuật quân sự kết luận: “Khi tắt đài ra-đa, tên lửa sơ-rai sẽ không nhớ được mục tiêu và sẽ bay theo quỹ đạo của vật rơi tự do”. Khẳng định này có ý nghĩa quan trọng trong tìm kiếm biện pháp đối phó với tên lửa. Khi phát hiện địch phóng tên lửa sơ-rai vào đài điều khiển, nếu tắt phát xạ, tên lửa sẽ bị rơi tự do. Thời gian mất tín hiệu càng dài, tên lửa cách đài ra-đa càng xa, từ đó bộ đội có thể tính toán được thời gian thích hợp để tắt đài ra-đa nhằm tạo khoảng cách an toàn.

Trong 12 ngày đêm Chiến dịch “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”, máy bay Mỹ đã phóng rất nhiều tên lửa sơ-rai xuống các trận địa tên lửa ở Hà Nội, Hải Phòng, nhưng với bản lĩnh, sự mưu trí, lòng dũng cảm, hầu hết các sĩ quan điều khiển đều xử trí hết sức thông minh và táo bạo, đã tính toán thời điểm tắt đài ra-đa hợp lý để vừa vô hiệu hóa được tên lửa, vừa bắn hạ được nhiều máy bay B-52 của Mỹ.

PHƯƠNG HIỀN

30. Mig 21 “hạ đo ván” B-52

QĐND Online – Chiếc Mig 21 đó mang số hiệu 5121, hiện đang được đặt tại một vị trí trang trọng trong khu trưng bày ngoài trời của Bảo tàng Phòng không-Không quân (số 171 Trường Chinh, Thanh Xuân, Hà Nội).



“Én bạc” 5121

Trong Chiến dịch “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”, tháng 12-1972, phi công Phạm Tuân (khi đó thuộc biên chế của Trung đoàn 921, Sư đoàn 371, Quân chủng Phòng không-Không quân), đã cùng chiếc Mig 21 này xuất kích, tiêu diệt một “siêu pháo đài bay” B-52 cùng toàn bộ kíp “giặc lái” Mỹ.

Thực hiện quyết tâm của Bộ tư lệnh Quân chủng Phòng không-Không quân là phải tạo điều kiện cho không quân bắn rơi bằng được máy bay B-52, đúng 22 giờ 20 phút đêm 27-12-1972 (ngày thứ 10 của Chiến dịch), Bộ tư lệnh Binh chủng Không quân lệnh cho phi công Phạm Tuân xuất kích bất ngờ từ sân bay Yên Bái.



Chiếc Mig 21 này đã được nhiều phi công sử dụng, hạ nhiều máy bay của không quân và hải quân Mỹ. Mỗi ngôi sao là một chiến công của máy bay. 

Được sở chỉ huy trung tâm của Binh chủng, sở chỉ huy trung đoàn và ra-đa dẫn đường theo dõi, Phạm Tuân liên tục nhận được thông báo dẫn dắt về cự ly và hướng.

Đến vùng trời Sơn La, anh phát hiện mục tiêu B-52 và xin phép vào công kích. Sở chỉ huy ra lệnh: Bắn 2 tên lửa, thoát ly nhanh!

Do địch chưa phát hiện Mig 21 của ta “bám đuôi”, Phạm Tuân nhanh chóng vượt qua hàng rào máy bay tiêm kích yểm hộ của địch, bám được B-52, công kích bằng 2 quả tên lửa. Một quầng lửa trùm lên chiếc B-52 thứ hai trong đội hình B-52 của địch. Ngay sau đó, Phạm Tuân điều khiển máy bay thoát ly, quay về sân bay Yên Bái hạ cánh anh toàn.

Đây là chiếc B-52 đầu tiên bị bộ đội Không quân bắn rơi.



Sau chiến công bắn rơi B-52 của Phạm Tuân, phi công Vũ Xuân Thiều cũng đã lái máy bay Mig 21, tiêu diệt một B-52 của địch vào đêm 28-12 và anh dũng hy sinh trong trận đánh này.

Ngay trong đêm 27-12-1972, Đại tướng Võ Nguyên Giáp điện khen bộ đội Không quân đã lập công xuất sắc, bắn rơi máy bay chiến lược B-52 của địch.

Bài, ảnh: Phạm Hoàng Hà

31. Khoét sâu điểm yếu của B52

QĐND - Trong chiến dịch “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không” năm 1972, bộ đội ta đã chủ động, sáng tạo nghiên cứu, nắm vững quy luật, thủ đoạn chiến thuật của máy bay B52 để bắn hạ.

Theo lý thuyết máy bay B52 được bảo vệ kỹ lưỡng bằng hệ thống nhiễu rất mạnh và hàng rào máy bay bảo vệ nhiều tầng, nhiều lớp. Tuy nhiên, qua trực tiếp chiến đấu, bộ đội ta đã khẳng định: Máy bay B52 có nhiều điểm yếu, ta hoàn toàn có thể tiêu diệt bằng vũ khí trang bị hiện có. Nghiên cứu tính năng kỹ thuật, chiến thuật của máy bay B52, bộ đội ta nhận thấy, loại máy bay này, bên cạnh những điểm mạnh, còn có những điểm yếu có thể khoét sâu như trọng lượng nặng, khả năng cơ động kém, đường bay, tốc độ và tọa độ theo quy luật ổn định và luôn có “dải nhiễu đặc biệt” đi cùng; luôn bật đèn tín hiệu khi bay đêm. Để tập kích Hà Nội, máy bay B52 bắt buộc phải bay ổn định qua vùng hỏa lực của ta, độ cao ném bom nằm trong tầm bắn hiệu quả của tên lửa phòng không SAM-2 (SA-75) và tầm hoạt động của máy bay Mig 21.

Tiểu đoàn 77 (Trung đoàn tên lửa 257) cơ động chiếm lĩnh trận địa. Ảnh tư liệu.

Đối với nhiễu điện tử của không quân Mỹ, mặc dù có cường độ rất mạnh, hỗn tạp, nhưng cũng có quy luật về thông số kỹ thuật, hoạt động trên các dải tần nhất định. Mặt khác, địch chỉ chú trọng phát nhiễu che chắn phía trước đội hình tiến công, rất sơ hở bên sườn, phía sau và phía dưới bụng máy bay khi ở trạng thái bay chếch, bay ngang, bay ra, hoặc lúc vào gần…

Trên cơ sở đó, các đơn vị phòng không-không quân từng bước điều chỉnh cách đánh và đội hình chiến dịch, chú trọng bố trí ở hướng địch có sơ hở, tận dụng khả năng mọi loại khí tài, tạo thế trận liên hoàn đánh cả phía trước, bên sườn, phía sau, đánh trúng các điểm yếu của địch. Nhờ nắm chắc quy luật của “dải nhiễu đặc biệt” và đặc điểm đường bay tiến công của máy bay B52 kết hợp với các hình thức chiến thuật “kiểm tra” độc đáo, các trắc thủ ra-đa nhiều lần phân biệt các tốp nghi binh giả B52 của địch. Trận đánh ngày 20-12, ta cơ động Tiểu đoàn 77 (Trung đoàn 257) chốt tại trận địa Chèm (Từ Liêm, Hà Nội), phục kích bên sườn đường bay tiến công trên hướng chủ yếu của B52 từ phía tây bắc vào Hà Nội. Lúc 4 giờ 39 phút, ra-đa phát sóng và bắt tín hiệu B52 gọn và rõ, chớp thời cơ, đơn vị tổ chức đánh ở cự ly 36km, bắn rơi tại chỗ một chiếc máy bay B-52D. Đối với không quân, khi ra-đa chỉ thị mục tiêu trên máy bay Mig-21 bị nhiễu nặng, lợi dụng việc B52 bật đèn, đêm 26 và 27-12-1972, các phi công Phạm Tuân, Vũ Xuân Thiều nhanh chóng xác định và tiếp cận mục tiêu, phóng tên lửa, bắn rơi 2 máy bay B52. 


32. Chuyên gia Mỹ nói về thất bại trong chiến dịch "Điện biên phủ trên không"

Mỹ đã sai lầm trong chiến thuật cũng như xem thường khả năng phòng không của Không quân Việt Nam.

TS John Prados.

Tiến sĩ (TS) John Prados, Giám đốc các dự án tư liệu Việt Nam và Tình báo thuộc Trung tâm Lưu trữ An ninh Quốc gia Mỹ, có cuộc phỏng vấn liên quan đến thất bại của Mỹ trong chiến dịch 12 ngày đêm “Điện Biên Phủ trên không”.

Thưa TS Prados, lý do nào khiến Chính phủ Mỹ quyết định ném bom tàn phá miền Bắc Việt Nam vào cuối tháng 12/1972?

Vào đầu năm 1965, Chính phủ Mỹ bắt đầu hình thành ý tưởng ném bom khu vực Hà Nội, nhưng không nhất thiết phải sử dụng B-52. Tuy nhiên, trong giai đoạn 1965-1966, Tham mưu trưởng liên quân Mỹ lên tiếng đề xuất cái gọi là một “đòn nặng” vào thủ đô của Việt Nam.

Mặc dù không được cụ thể hóa bằng văn bản nhưng đề xuất này có thể được hiểu hoặc suy luận rằng, họ đang ám chỉ các vụ tấn công bằng B-52.

Dù phương án này bị bác bỏ vào thời điểm đó nhưng ý định ném bom Hà Nội, Hải Phòng luôn bất biến trong các quyết định của Chính phủ Mỹ, thể hiện qua chiến dịch không kích mang tên “Sấm rền” xuống miền Bắc Việt Nam kéo dài cho đến năm 1968.

Sau chiến dịch “Nguyễn Huệ” của quân giải phóng miền Nam đầu năm 1972, Tổng thống Mỹ Richard Nixon đã lần đầu tiên đề cập đến kế hoạch ném bom Hà Nội.

Ông Nixon nêu vấn đề này vào đầu tháng 4/1972, thời điểm giao tranh trên bộ ở miền Nam Việt Nam đang lên đến đỉnh điểm.

Lúc này cũng đang diễn ra tiến trình đàm phán giữa Mỹ và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với một loạt cuộc thảo luận giữa Cố vấn An ninh Quốc gia Mỹ Henry Kissinger và phái đoàn Việt Nam do ông Lê Đức Thọ dẫn đầu.

Vào mùa thu năm 1972, cuộc đàm phán này gần như đã mang lại một thỏa thuận, trong đó bao gồm một lệnh ngừng bắn, chấm dứt giao tranh ở miền Nam Việt Nam.

Thời điểm đó, người Mỹ đang ở trong tình thế vừa đang tiến gần tới một hiệp định với miền Bắc Việt Nam, vừa bất đồng với đồng minh ở miền Nam Việt Nam. Trong bối cảnh đó, kế hoạch ném bom Hà Nội bằng B-52 được khôi phục lại.

Trong chiến dịch ném bom miền Bắc Việt Nam, Không quân Mỹ đã thiệt hại nặng với hàng chục “Pháo đài bay” B-52 bị bắn rơi - điều chưa từng xảy ra đối với loại máy bay này cho đến thời điểm đó. Ông có thể đánh giá những nguyên nhân dẫn đến thất bại của phía Mỹ?

Tôi cho rằng, miền Bắc Việt Nam đã đánh giá một cách hợp lý về những hành động mà người Mỹ có thể thực hiện. Họ đã chuẩn bị phòng thủ khu vực Hà Nội và tiến hành sơ tán dân thường, góp phần hạn chế thương vong trong chiến dịch ném bom cuối năm 1972.

Lực lượng phòng không miền Bắc Việt Nam đã luyện tập kỹ lưỡng với tình huống Mỹ có thể sẽ đánh phá khu vực Hà Nội, Hải Phòng.

Ngoài ra, hệ thống phòng không của miền Bắc khá mạnh vào thời điểm đó và ứng phó hiệu quả với máy bay Mỹ.

Về phía Mỹ, các chỉ huy quân đội đã phạm nhiều sai lầm trong chiến dịch ném bom Hà Nội. Họ đã không xây dựng được một kế hoạch thấu đáo, không tính toán được khả năng phòng thủ mạnh đến như vậy của miền Bắc Việt Nam.

Một vấn đề nữa là việc sử dụng lẫn lộn các loại máy bay chiến đấu. Mỹ đã sử dụng hai loại máy bay B52 và một trong số đó dễ bị tổn thương trước mạng lưới phòng không của Việt Nam hơn loại kia. Ngoài việc sử dụng lẫn lộn các loại máy bay thì phía Mỹ còn để đối phương dễ đoán được ý đồ khi không thay đổi phương thức tấn công trong các vụ oanh kích.

Dù thiệt hại nặng nhưng phía Mỹ khi đó vẫn cho rằng chiến dịch ném bom Hà Nội đã thành công. Ông nhận xét thế nào về quan điểm này?

Người Mỹ cho rằng, chiến dịch ném bom miền Bắc là một thắng lợi quân sự của họ. Một số quan chức và nhà quan sát quân sự Mỹ còn lập luận rằng, hệ thống phòng không của miền bắc Việt Nam đã tự hủy hoại mình bằng cách sử dụng toàn bộ kho tên lửa đất đối không.

Tôi cho rằng, việc miền bắc Việt Nam đã sử dụng toàn bộ tên lửa SAM hay chưa thì cũng không quan trọng vì ném bom Hà Nội không phải là điều mà người Mỹ có thể dễ dàng lặp lại hoặc tiến hành trong một khoảng thời gian dài như đã làm trong giai đoạn 1965-1968.

Ngoài ra, Mỹ không có đủ dữ liệu cụ thể để chứng tỏ rằng lực lượng phòng không miền Bắc Việt Nam đã sử dụng hết tên lửa trong chiến dịch ném bom Giáng sinh (Linebacker II).

Một điểm đáng chú ý nữa là hành động mang tính chiến lược của Quân đội Nhân dân Việt Nam trong việc chuyển nhiều máy bay chiến đấu xuống miền Nam trước khi chiến dịch ném bom xảy ra cũng có nghĩa là Hà Nội vẫn còn các nguồn lực dự phòng để có thể sử dụng trong trường hợp cần thiết. Vì vậy, chiến dịch ném bom này chỉ mang lại một hiệu quả hạn chế về chiến thuật chứ không tạo ra một tác động lớn về chiến lược.

Ông có thể cho biết về phản ứng của dư luận Mỹ đối với chiến dịch ném bom Hà Nội khi đó?

Không lâu trước khi qua đời, ông Alexander Haig, cấp phó kỳ cựu của Henry Kissinger và cũng là người rất gần gũi với Tổng thống Nixon đã nói rằng, ông ta nhận thấy triển vọng thắng lợi tại Việt Nam vào thời điểm chiến dịch ném bom Giáng sinh.

Theo ông Haig, lúc đó, Hà Nội đang gục ngã và sẽ bị khuất phục hoàn toàn nếu Mỹ tiếp tục kéo dài chiến dịch này cho đến mùa Xuân năm 1973.

Lập luận của ông Haig là không khả thi chút nào trong bối cảnh nước Mỹ khi đó, chưa nói đến sức mạnh của miền Bắc Việt Nam.

Quốc hội Mỹ đã bắt đầu quay lưng lại với cuộc chiến tranh Việt Nam và đang chuẩn bị cắt giảm ngân sách cho cuộc chiến.

Hơn nữa, chiến dịch ném bom Hà Nội, Hải Phòng đã châm ngòi cho một làn sóng chỉ trích chính quyền Nixon trong giới truyền thông Mỹ. Cơn bão chỉ trích ngày càng mạnh và ảnh hưởng tới dư luận Mỹ vốn đang phản đối cuộc chiến ở Việt Nam và ủng hộ thỏa thuận ngừng bắn.

Công chúng Mỹ đang rất hy vọng vào một hiệp định hòa bình khi Kissinger tuyên bố “Hòa bình đã ở trong tầm tay” nên chiến dịch ném bom chính là cái tát thẳng vào mặt người dân Mỹ.

Chiến dịch ném bom Hà Nội đã gây ra hai luồng ý kiến trái chiều về ảnh hưởng của chiến dịch này đối với Hiệp định Paris năm 1973. Một số người cho rằng cuộc không kích đã buộc Hà Nội trở lại bàn đàm phán trong khi một số khác lại có quan điểm trái ngược, ông nhận xét thế nào về vấn đề này?

Đây là vấn đề trọng tâm của lịch sử trong giai đoạn này. Phần lớn các sử gia Mỹ cho rằng chiến dịch ném bom B-52 đã buộc miền Bắc Việt Nam quay trở lại bàn đàm phán.

Nhưng theo quan điểm của tôi, trước khi vụ ném bom xảy ra, Washington và Hà Nội đã khá thống nhất với nhau về những bước đi tiếp theo đối với Hiệp định hòa bình.

Nếu nhìn vào nội dung bản dự thảo thỏa thuận mà hai bên đã thống nhất vào tháng 10/1972 và Hiệp định được ký kết tại Paris vào tháng 1/1973, chúng ta có thể thấy rằng chúng khá giống nhau.

Tôi nghĩ chính sự cần thiết phải củng cố lòng tin của chính quyền Sài Gòn đối với Mỹ đã dẫn đến việc Washington quyết định ném bom miền Bắc để chứng tỏ sức mạnh mà họ sẵn sàng sử dụng nếu Hà Nội vi phạm thỏa thuận ngừng bắn mà hai bên đang thúc đẩy.

Vì vậy, ảnh hưởng thực chất của chiến dịch ném bom Giáng sinh đối với phương thức tiếp cận của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong vấn đề hiệp định hòa bình là rất nhỏ, nếu không muốn nói là không hề có.

TS John Prados là Giám đốc các dự án tư liệu Việt Nam và Tình báo thuộc Trung tâm Lưu trữ An ninh Quốc gia Mỹ. Ông bắt đầu nghiên cứu về Việt Nam vào năm 1967 và là tác giả của nhiều cuốn sách viết về cuộc chiến tranh tại Việt Nam như “In Country: Remembering the Vietnam War”, “Vietnam: The History of an Unwinnable War”, “The Hidden History of the Vietnam War”, “Valley of Decision: The Siege of Khe Sanh”.

Theo VOV

TRẦN VĂN TOẢN


Phim v
ề trận Điện Biên Phủ trên không:
Comments