chiến dịch Điện Biên Phủ

1. Chiến dịch Điện Biên Phủ chấn động địa cầu

Cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công chưa được bao lâu, quân Pháp quay lại xâm lược Việt Nam, buộc nhân dân Việt Nam đứng lên chiến đấu dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao Động Việt Nam (nay là Đảng cộng sản Việt Nam) do Hồ Chí Minh sáng lập.

Cuộc kháng chiến chống quân Pháp của nhân dân Việt Nam đã bước sang năm thứ 8. Trên chiến trường, quân Pháp đã ở thế phòng ngự. Từ nhận định không thể thắng được cuộc chiến tranh này, như mục tiêu đã đề ra, bộ chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp ở Đông Dương đã đề ra kế hoạch Nava, nhằm bình định Việt Nam trong 18 tháng để tiến đến một giải pháp thương lượng trên thế mạnh có lợi cho Pháp. Về phía Việt Nam, trên khắp các chiến trường, đặc biệt vùng Tây Bắc, duyên hải miền Trung, Tây Nguyên, Thượng Hạ Lào quân đội Việt Nam dồn dập phản công quyết liệt, buộc đối phương phải phân tán lực lượng cơ động.

Nhận rõ ý đồ chiến lược của Việt Nam, Bộ chỉ huy quân đội Pháp ra sức tập trung quân, xây dựng lòng chảo Điện Biên Phủ thành một tập đoàn cứ điểm mạnh, nhằm hút chủ lực của quân đội Việt Nam vào cuộc chiến.

Bộ chính trị Đảng Lao động Việt Nam, nhận định đây là thời cơ để tiêu diệt sinh lực địch. Bộ chỉ huy quân đội Việt Nam, quyết định mở chiến dịch tấn công tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.

Điện Biên Phủ là một thung lũng rộng xung quanh là núi đá vôi ở phía Tây Bắc Việt Nam rất lợi hại cho quân phòng ngự. Quân đội Pháp đã xây dựng ở đây nhiều công sự kiên cố liên hoàn, rải trên một diện tích rộng có cả sân bay, hầm ngầm và lập cầu không vận... với một lực lượng gồm 21 tiểu đoàn bộ binh, 3 tiểu đoàn pháo (24 khẩu 105mm, 20 khẩu 120mm và 4 khẩu 155mm), một đại đội tăng 10 chiếc, lực lượng không quân chi viện chiến đấu 150 - 250 lần chiếc/ngày.

Để đối phó với tình hình trên, Việt Nam cũng tập trung một lực lượng quân sự khá mạnh gồm các sư đoàn bộ binh 308, 312, 316, trung đoàn bộ binh 57 của sư 304, đại đoàn công pháo gồm 15 khẩu 75mm, 36 khẩu 82mm, 24 khẩu cao xạ 24mm, 24 khẩu 105mm và 16 khẩu 120mm.

Sau khi hoàn thành công tác chuẩn bị, ngày 13 tháng 3 năm 1954, quân đội Việt Nam nổ súng tấn công tuyến phòng ngự vòng ngoài gồm các cao điểm: Him Lam, Độc Lập, Bản Kéo. Ngay ngày đầu, các trung đoàn 41, 209 (sư 312) đã tiêu diệt cụm cứ điểm Him Lam. Ngày 14 tháng 3, các trung đoàn 88 (sư 308) và 165 (sư 312) phối hợp san bằng cứ điểm Độc Lập.

Ngày 17 tháng 3, trung đoàn 36 (sư 308) làm chủ cứ điểm Bản Kéo. Thế là sau 5 ngày, quân đội Việt Nam đã đập tan tuyến phòng ngự vòng ngoài, mở thông cửa vào khu phòng ngự trung tâm, diệt và bắt sống trên 2000 quân viễn chinh Pháp.

Từ ngày 30 tháng 3 và suốt cả tháng 4, giữa quân Việt Nam và Pháp giành đi, giật lại từng khu vực trên các cao điểm có ý nghĩa chiến thuật quan trọng nhằm khống chế phân khu trung tâm đồi A1, C1. Trung tuần tháng 4, quân đội Việt Nam đánh chiếm sân bay Mường Thanh, cắt đứt đường tiếp tế quan trọng nhất của đối phương, khiến quân Pháp lâm vào cảnh nguy khốn, thiếu thốn vật chất, thuốc men, thương vong ngày càng nhiều, tinh thần quân Pháp hoang mang, dao động cao độ.

Theo lệnh của Bộ chỉ huy chiến dịch, rạng sáng 1 tháng 5, từ 3 hướng Đông, Tây, Đông - Bắc, các sư đoàn của quân đội Việt Nam đồng loạt mở đợt tấn công cuối cùng vào trung tâm cứ điểm Điện Biên Phủ. Ngay từ ngày 1 tháng 5 sư 316 chiếm đồi C1, sáng 7 tháng 5 diệt các cứ điểm phòng ngự kiên cố cuối cùng của quân Pháp là C2 đồi A1 và 507. Trưa ngày 7 tháng 5 quân đội Việt Nam dồn lực lượng tổng công kích trên toàn bộ mặt trận. Đến chiều, Điện Biên Phủ hoàn toàn được giải phóng. Quân đội Việt Nam cầm giữ tại chỗ trên một vạn lính Pháp và bắt sống toàn bộ bộ chỉ huy tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ của quân đội Pháp do tướng Đờ Ca-stri chỉ huy.

Thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ có một ý nghĩa lịch sử to lớn có tác động quyết định đối với cả hai phía mà không một chiến dịch nào đạt tới trong lịch sử cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam chống Pháp. Nó là tác nhân quan trọng đưa đến ký Hiệp nghị Giơ-ne-vơ, lập lại hòa bình ở Việt Nam. Thắng lợi Điện Biên Phủ không chỉ cổ vũ nhân dân Việt Nam, nó còn là khâu đột phá mở đầu, cổ vũ các dân tộc ở các nước thuộc địa trên thế giới đứng lên giành độc lập.

(Almanach Kiến thức văn hóa - NXB Văn hóa Thông tin)

2. Điện Biên Phủ - Biểu tượng của tinh thần quyết chiến, quyết thắng


QĐND - Ngày này cách đây 57 năm, lá cờ Quyết chiến Quyết thắng của Quân đội nhân dân Việt Nam tung bay trên nóc hầm Đờ Cát báo hiệu Chiến dịch Điện Biên Phủ - đỉnh cao của Chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954 toàn thắng. Trong dòng chảy lịch sử dân tộc, chiến thắng Điện Biên Phủ là một trong những mốc son chói lọi, một kỳ tích vẻ vang như Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa của thời đại mới.

Chiến thắng Điện Biên Phủ là kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố, trong đó cần khẳng định sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân, khả năng huy động tổng lực của toàn dân, toàn quân và của cả dân tộc. Đây cũng là bài học hết sức thời sự với chúng ta hiện nay trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, sức mạnh của toàn quân, toàn dân, từ hậu phương đến tiền tuyến được động viên ở mức cao nhất. Đây là lần đầu tiên chúng ta huy động 5 đại đoàn chủ lực mạnh tập trung cho một trận quyết chiến chiến lược. Một khối lượng khổng lồ sức người, sức của từ vùng tự do và cả những vùng bị địch tạm chiếm khắp từ Nam đến Bắc đã được huy động. Khoảng 230.000 thanh niên xung phong, dân công tình nguyện vượt hàng trăm cây số trong điều kiện giao thông vô cùng khó khăn, phương tiện thô sơ, lại thường xuyên bị địch đánh phá… để mở đường, vận chuyển lương thực, thực phẩm, đạn dược... phục vụ cho chiến dịch. Đó chính là thắng lợi của đường lối “kháng chiến toàn dân, toàn diện, dựa vào sức mình là chính…” của Đảng ta.

Kỷ niệm 57 năm chiến thắng Điện Biên Phủ là dịp chúng ta khơi dậy niềm phấn khởi, tự hào, kế thừa và phát huy những bài học quý báu của chiến thắng, trong đó có bài học phát huy sức mạnh đại đoàn kết, động viên sức mạnh của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Phát huy tinh thần Điện Biên Phủ để huy động được mọi nguồn lực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, khơi dậy niềm tự hào dân tộc, lòng yêu nước, chúng ta phải đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục để mọi người dân hiểu rõ những thuận lợi, khó khăn của đất nước, đường lối phát triển KT-XH gắn với củng cố QP-AN của Đảng, từ đó ý thức rõ trách nhiệm, nghĩa vụ của mình. Trong cơ chế thị trường, đòi hỏi Đảng ta phải luôn bám sát thực tiễn, tìm tòi sáng tạo, kịp thời sửa đổi, bổ sung những chủ trương, chính sách phù hợp để động viên sức lực của toàn dân vào sự nghiệp đổi mới.

Một trong những nhân tố khơi nguồn tinh thần xả thân của quần chúng góp phần làm nên chiến thắng, đó là tính tiên phong của các đảng viên. Thực tiễn Điện Biên Phủ đã chứng minh, hoàn cảnh càng khó khăn, gay go, quyết liệt, thì hành động gương mẫu của cán bộ, đảng viên càng có sức cổ vũ mạnh mẽ. Trước những khó khăn, thách thức mới hiện nay, đặc biệt khi mà các thế lực thù địch tăng cường thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá nước ta thì vai trò lãnh đạo của Đảng, tính tiền phong gương mẫu của cán bộ, đảng viên càng có ý nghĩa quyết định. Chúng ta sẽ không thể động viên được quần chúng, không thể huy động được các nguồn lực trong dân cho sự nghiệp đổi mới nếu đội ngũ cán bộ, đảng viên không hết lòng vì nước, vì dân, không gương mẫu đi đầu. Những năm qua, một bộ phận cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất, quan liêu, tham nhũng, tiêu cực gây ảnh hưởng không nhỏ đến vai trò lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng. Thực tế đòi hỏi, đi đôi với thực hiện có hiệu quả nghị quyết chuyên đề về xây dựng và chỉnh đốn Đảng, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta phải tích cực hưởng ứng Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Sự nghiệp đổi mới của chúng ta chỉ thành công khi Đảng ta thực sự TSVM, niềm tin của nhân dân vào Đảng thường xuyên được củng cố.

Bài học từ Điện Biên Phủ đòi hỏi chúng ta phải quan tâm xây dựng các khu vực phòng thủ vững chắc, trong đó cần chú ý khả năng huy động nguồn lực hậu cần, kỹ thuật từ trong dân cho quốc phòng. Cán bộ, chiến sĩ quân đội phải thường xuyên được xây dựng theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại thực sự là nòng cốt của nền quốc phòng toàn dân. Quân đội ta phải được giáo dục, huấn luyện có bản lĩnh chính trị vững vàng; trung thành vô hạn với Đảng, Tổ quốc và nhân dân; có tinh thần cảnh giác cách mạng và trình độ kỹ thuật, nghệ thuật quân sự đủ sức hoàn thành mọi nhiệm vụ. Đặc biệt, để chiến sĩ luôn sẵn sàng xả thân vì sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, cùng với công tác giáo dục, đội ngũ cán bộ, sĩ quan, đảng viên trong quân đội càng phải nêu cao tính tiền phong gương mẫu. Bộ đội phải được rèn luyện thường xuyên để có thể lực tốt, có sức cơ động bền bỉ, dẻo dai, đủ khả năng tác chiến dài ngày trong mọi điều kiện hoàn cảnh.

Dẫu phía trước còn nhiều khó khăn, thách thức nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng và hào khí 57 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, chúng ta tin tưởng chắc chắn rằng sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của quân và dân ta sẽ tiếp tục đạt được những thành tựu to lớn hơn nữa. Điện Biên Phủ mãi mãi trở thành biểu tượng của tinh thần quyết chiến, quyết thắng và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân.

3. Chiến dịch Điện Biên Phủ 1954 - Bước ngoặt của cuộc kháng chiến chống Pháp

Điện Biên Phủ là một chiến dịch chiến lược mà tầm vóc tác động của nó đến cục diện hai bên đã không một chiến dịch nào đạt tới trong lịch sử cuộc kháng chiến chống Pháp (1946 - 1954)

Bước sang năm thứ 8 của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp tái xâm lược, giặc Pháp đã ở vào thế phòng ngự, nhất là trên chiến trường Bắc Bộ. Nhận thấy không thể thắng trong cuộc chiến tranh này, giặc Pháp đã đưa ra kế hoạch Nava nhằm bình định Việt Nam trong 18 tháng, để tạo thế mạnh tiến tới một giải pháp thương lượng có lợi cho chúng.

Về phía ta, với những đòn tiến công và phản công trên các hướng Tây Bắc, Tây Nguyên - Duyên hải Trung Bộ, Thượng Lào, Trung Lào, Hạ Lào, trong Đông Xuân 1953-1954, ta đã buộc địch phải phân tán lực lượng cơ động trên khắp chiến trường, trong khi đó ta tập trung chủ lực về hướng Tây Bắc.

Nhạy cảm trước ý đồ chiến lược của ta, địch liền tăng cường lực lượng, biến Điện Biên Phủ thành một tập đoàn cứ điểm mạnh, buộc ta phải chấp nhận chiến đấu nếu muốn giải phóng Tây Bắc. Nhận định đây là một cơ hội lớn để tiêu diệt sinh lực địch, ta quyết định mở chiến dịch tiến công Điện Biên Phủ. Trong bối cảnh đó, chiến trường này đã trở thành điểm quyết chiến chiến lược nóng bỏng của cả hai bên.

Ta chủ trương chuẩn bị kỹ lưỡng, đánh chắc, tiến chắc, vì sau khi địch đã kịp thời tăng cường lực lượng, thiết kế phòng ngự vững chắc, khả năng đánh nhanh, thắng nhanh trở nên hạn chế.


Lược đồ diễn biến chiến dịch Điện Biên Phủ. Nguồn: Đoàn Thị Hồng Điệp

Sau khi hoàn thành các công tác chuẩn bị, ngày 13/3, ta nổ súng tiến công tuyến phòng ngự vòng ngoài, bao gồm các cụm cứ điểm Him Lam, Độc Lập, Bản Kéo. Ngày 13/3, các Trung đoàn 141 và 209 (Đại đoàn 312) đã tiêu diệt các cụm cứ điểm Him Lam; ngày 14/3, các Trung đoàn 88 (Đại đoàn 308) và 165 (Đại đoàn 312) đã tiêu diệt cụm cứ điểm Độc Lập; ngày 17/3, kết hợp tiến công với lực lượng địch phản chiến, Trung đoàn 36 (Đại đoàn 308) làm chủ cứ điểm bản Kéo. Sau 5 ngày, ta đập tan tuyến phòng ngự vòng ngoài, mở thông cửa vào khu phòng ngự trung tâm, diệt và bắt sống hơn 2.000 tên địch.

Từ ngày 30/3, ta mở đợt tiến công lần thứ hai, nhằm vào các cao điểm phía Đông Mường Thanh (phân khu trung tâm). Các đại đoàn của ta đã nhanh chóng chiếm được một số cứ điểm, nhưng những trận chiến đấu quyết liệt giành giật giữa đôi bên đã diễn ra tại khu vực tác chiến của Đại đoàn 316 trên các điểm cao A1, C1. Suốt trong tháng 4, ta và địch đã giành đi giật lại từng khu vực trên các điểm cao có ý nghĩa chiến thuật quan trọng khống chế phân khu trung tâm. Giữa tháng 4, ta tiến chiếm sân bay Mường Thanh, cắt đứt cầu hàng không là đường tiếp tế quan trọng nhất của địch. Chúng lâm vào thế nguy khốn, bị tiến công trong tình trạng hậu cần ngày càng trở nên khó khăn.

Từ l/5, có ba hướng: Đông, Tây, Đông Bắc, các đại đoàn của ta mở cuộc tiến công cuối cùng vào Điện Biên Phủ. Ngày l/5, Đại đoàn 316 chiếm đồi C1; sáng 7/5, ta diệt các cứ điểm C2, A1, 507, là những cứ điểm kiên cố cuối cùng của địch. Chiều 7/5, ta tổng công kích trên toàn bộ mặt trận và đến chiều, ta đã hoàn toàn giải phóng Điện Biên Phủ, cầm giữ tại chỗ hơn 10 nghìn tên địch cùng với tướng chỉ huy De Castries của chúng.

Những phát triển của nghệ thuật quân sự

Điện Biên Phủ là một chiến dịch chiến lược mà tầm vóc tác động của nó đến cục diện hai bên đã không một chiến dịch nào đạt tới trong lịch sử cuộc kháng chiến chống Pháp. Đó trước hết là do quyết tâm chiến lược sáng suốt trong việc lựa chọn hướng tiến công với một tinh thần quyết chiến rất cao. Đó cũng là nghệ thuật tài giỏi trong việc tiến hành các bước chuẩn bị và trong sử dụng lực lượng. Về nghệ thuật tác chiến, đột phá lần lượt cụm cứ điểm địch là một phương pháp kinh điển, cũng đồng thời là giải pháp đúng đắn trong chiến dịch tiến công để giải quyết một tập đoàn cứ điểm. Ta đã trưởng thành vượt bậc trong đánh công sự vững chắc, trong đó sự chỉ đạo chiến thuật là rất linh hoạt, cụ thể và sáng tạo. Cách đánh trong chiến dịch tiến công này đã dẫn đến thắng lợi từng bước, tất yếu, không thể đảo ngược.


4. NGHỆ THUẬT CHỌN ĐỊA HÌNH, SỬ DỤNG VÀ KIẾN TẠO ĐỊA HÌNH TRONG CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN PHỦ

LƯƠNG THỊ TIÊN - Đại học Văn hóa Hà Nội

Tóm tắt

Năm 1954, dân tộc Việt Nam đã làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ. Đó là đỉnh cao chói lọi của chiến công giữ nước giải phóng dân tộc, một lần nữa biểu hiện tài năng trí tuệ và nghệ thuật quân sự Việt Nam. Một trong những sự kế thừa và phát huy truyền thống của tổ tiên ta xưa thể hiện rõ nét trong chiến công này là việc chọn địa hình Điện Biên Phủ, sử dụng và kiến tạo địa hình nơi đây để tạo ra ưu thế vượt trội, tìm ra cách đánh phù hợp dẫn tới chiến thắng.

1. Chọn địa hình Điện Biên Phủ

Mỗi trận đánh, mỗi chiến dịch đều diễn ra trong một không gian nhất định. Bởi vậy, việc chọn địa hình, nghiên cứu địa hình để tìm ra cách đánh phù hợp, chắc thắng là điều rất cần thiết. Năm 938, để chặn đánh đoàn thuyền của quân Nam Hán do Hoằng Thao chỉ huy vào xâm lược nước ta, Ngô Quyền đã chọn vùng cửa biển sông Bạch Đằng là nơi có những cồn bãi, đầm lầy, kênh rạch, đặt điểm quyết chiến diệt gọn quân Hoằng Thao. Đến cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông lần 3, sông Bạch Đằng lại một lần nữa được chọn làm trận địa mai phục quy mô lớn, chôn vùi đạo quân của Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông.

Trong thế kỷ XX, địa danh Điện Biên Phủ đã từng khiến cho nhân loại hướng về dải đất hình chữ S trên bán đảo Đông Dương, một nước nguyên là thuộc địa bị các thế lực thực dân xoá tên gần 100 năm trên bản đồ thế giới.

Điện Biên Phủ là một thung lũng lòng chảo rộng lớn nằm ở phía tây vùng núi rừng Tây Bắc, cách thủ đô Hà Nội khoảng 300km đường chim bay. Thung lũng này có chiều rộng khoảng 8km, chiều dài khoảng 18km, nằm gần biên giới Việt Lào, trên một ngã ba của nhiều tuyến đường quan trọng: phía đông bắc giáp với Lai Châu; phía đông nam giáp Tuần Giáo, Sơn La, Nà Sản; phía tây thông với LuôngPhabang; phía nam thông với Sầm Nưa.

Xung quanh thung lũng là một vùng núi rừng trùng điệp bao bọc. Núi có độ cao trung bình 500m, có mỏm đột xuất cao tới 1461m. Thung lũng Điện Biên  là cánh đồng bằng phẳng, đồng ruộng khô ráo về mùa khô. Nhưng ngay sát thung lũng về phía đông bắc có một dải địa hình đặc biệt gồm một số điểm nổi lên cao hơn mặt cánh đồng trên dưới 30m và hình thành một bức bình phong che chở cho thung lũng trên hướng Tuần Giáo - Điện Biên Phủ. Trong thung lũng còn có sông Nậm Rốm  chảy theo hướng bắc nam đổ xuống sông Nậm Hu.

Thời tiết Điện Biên Phủ chia làm 2 mùa rõ rệt. Mùa khô từ tháng 10 đến tháng 3, mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 9. Vào mùa khô sương mù dày đặc từ 3 giờ chiều hôm trước tới 9 giờ sáng hôm sau. Về mùa mưa, mưa kéo dài, nhiều lũ, độ ẩm lớn.

Với vị trí địa lí và điều kiện thời tiết như vậy nên ngay khi quân Pháp nhảy dù xuống Điện Biên Phủ chúng ta đã nhận thấy những điểm yếu của địch và những thuận lợi cho ta ở địa hình này:

            Nằm cô lập giữa núi rừng trùng điệp mênh mông của Tây Bắc và thượng Lào, Điện Biên Phủ rất xa những căn cứ hậu phương của địch. Mọi việc tăng viện hoặc tiếp tế đều do đường hàng không đảm nhiệm. Nếu đường hàng không bị cắt đứt thì quân Pháp ở đây sẽ lâm vào thế bị động, phòng ngự trong những điều kiện khó khăn và nếu lâm nguy cũng khó rút quân được toàn vẹn.

            Bên cạnh đó, địa hình rừng núi vốn rất quen thuộc, thuận lợi trong tác chiến của ta. Những dãy núi trùng điệp xung quanh thung lũng Điện Biên trở thành vũ khí lợi hại cho quân đội ta khi đặt pháo ở những sườn núi để khống chế các căn cứ của địch tại cánh đồng Điện Biên.

            Về phía quân Pháp, trong đông xuân 1953-1954 đã có kế hoạch tập trung binh lực, tăng cường khối lực lượng cơ động chiến lược với 84 tiểu đoàn thiện chiến, trong đó 44 tiểu đoàn tập trung ở đồng bằng Bắc Bộ nhằm giành lại thế chủ động trên chiến trường. Nhưng chúng ta đã sử dụng một bộ phận bộ đội chủ lực tiến công vào những điểm mà địch tương đối sơ hở như Luông Phabang, Antôpơ, Tây Nguyên... buộc chúng phải phân tán lực lượng, phá sản kế hoạch quân sự Nava đã từng được chính giới Pháp và Mỹ đánh giá cao.

            Trong tình thế bị động đó thực dân Pháp đã buộc phải “ném” quân chủ lực xuống núi rừng Tây Bắc, điều mà trước đó trong kế hoạch Nava chưa từng đề cập tới.

Mặc dù vậy, quân Pháp vẫn nhận định rằng: Điện Biên Phủ là một địa bàn quan trọng, một vị trí chiến lược cơ động giữa miền Bắc Việt Nam, thượng Lào và miền tây nam Trung Quốc. Nơi đây có thể trở thành một căn cứ lục  quân và không quân có tác dụng lợi hại trong âm mưu bá quyền tại Đông Nam Á. Chúng lại dựa vào thế mạnh về hoả lực, về không quân để cho rằng quân của Việt Minh không thể tiến hành các hoạt động quân sự ở Điện Biên Phủ, một nơi quá xa hậu phương, rất khó khăn cho việc duy trì những tuyến chi viện hậu cần.

Rõ ràng, với cách nhìn của những nhà quân sự tư sản, các tướng lĩnh trong quân đội Pháp lúc bấy giờ đã không thể thấy hết được những khả năng của một quân đội nhân dân, của cả một dân tộc đang chiến đấu vì độc lập tự do; và càng không thể hiểu được tinh thần đấu tranh bất khuất, quyết chiến quyết thắng của con người Việt Nam với truyền thống hào hùng qua hàng ngàn năm lịch sử.

Với những nhận định như vậy, quân đội Pháp, đứng đầu là H.Nava đã chọn Điện Biên Phủ để xây dựng tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương. Sự lựa chọn này của địch đã trở thành một cơ hội tốt cho chúng ta để tiêu diệt sinh lực tinh nhuệ của địch và kết thúc chiến tranh. Tháng 12 năm 1953, Bộ chính trị đã hạ quyết tâm mở chiến dịch Điện Biên Phủ

Sau khi quyết định chọn địa hình Điện Biên Phủ, quân và dân cả nước đã dốc sức cho chiến dịch với một quyết tâm cao độ, tạo nên sức mạnh tổng lực đánh thắng kẻ thù trong một thế trận hiểm hóc, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến trường kỳ.

2. Kiến tạo địa hình Điện Biên Phủ

Nếu như dân tộc ta đã từng vót nhọn cọc gỗ cắm xuống sông Bạch Đằng tạo thành một bãi chướng ngại vật lớn để cản đường tháo chạy của địch; bộ binh và pháo binh ta cũng đã từng bí mật đào công sự mai phục hai bên bờ và trên cù lao giữa sông Rạch Gầm, Xoài Mút... thì một lần nữa những khéo léo trong nghệ thuật quân sự của tổ tiên lại được sử dụng thành công tại núi rừng Tây Bắc vào giữa thế kỷ XX.

Tại đây, quân Pháp đã xây dựng và củng cố hệ thống phòng ngự thành một tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương lúc bấy giờ. Lực lượng phòng ngự ở đây có 12 tiểu đoàn và 7 đại đội, 2 tiểu đoàn lựu pháo 105mm, 2 tiểu đoàn súng cối 120mm, 1 đại đội trọng pháo 155mm, 1 tiểu đoàn công binh, 1 đại đội xe tăng, 1 đại đội xe vận tải, 1 phi đội máy bay thường trực. Tổng số quân lên tới 16.200 tên, chủ yếu là lính Âu, Phi tinh nhuệ, đặt dưới quyền chỉ huy của tướng Đờcátxtơri.

Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ có 49 cứ điểm, mỗi cứ điểm đều có hệ thống công sự, hàng rào vật cản, hoả lực để độc lập chiến đấu, đồng thời những cứ điểm gần nhau lại được tổ chức thành trung tâm đề kháng. Địch đã xây dựng 8 trung tâm đề kháng chia làm 3 phân khu:

Phân khu trung tâm ở ngay giữa cánh đồng Mường Thanh, tập trung gần 2/3 lực lượng của địch, có nhiều trung tâm đề kháng ủng hộ lẫn nhau và bao bọc lấy cơ quan chỉ huy. Chúng có sẵn một lực lượng pháo binh và cơ giới đủ sức đánh chặn mọi cuộc tiếp cận qua cánh đồng bằng phẳng; có sẵn một hệ thống công sự, dây thép gai và hào chiến đấu đủ sức tiêu hao và đánh lui mọi lực lượng tiến công; có sẵn một lực lượng pháo binh cơ giới và không quân đủ sức ngăn chặn và tiêu diệt các căn cứ pháo binh dễ phát hiện của quân ta.

Phân khu bắc gồm các trung tâm đề kháng là: đồi Độc lập và bản Kéo. Đồi độc lập có nhiệm vụ  án ngữ phía bắc, ngăn chặn cuộc tiến công của quân ta từ hướng Lai Châu vào Điện Biên Phủ.

Phân khu nam còn gọi là phân khu Hồng Cúm, có nhiệm vụ  ngăn chặn quân ta tiến công từ phía nam lên, đồng thời giữ đường liên lạc với Lào

Ngoài ra Điện Biên Phủ có 2 sân bay: sân bay chính ở Mường Thanh, sân bay dự bị ở Hồng cúm. Hai sân bay này được nối liền với Hà Nội, Hải Phòng bằng một cầu hàng không. Trung bình hàng ngày khoảng 100 lần máy bay vận tải tiếp tế từ 200 đến 300 tấn hàng và thả dù khoảng 100-150 tấn hàng xuống Điện Biên. Các tướng lĩnh Pháp rất tự hào về cầu hàng không này và đã từng huênh hoang rằng: “chỉ cần một lính Pháp ở đây bị đau răng thì buổi sáng có thể lên máy bay về Hà nội chữa răng, ăn trưa ở khách sạn Mêtrôpôn và buổi chiều quay trở lại Điện Biên Phủ để tiếp tục chiến đấu!”*.

Với lực lượng hùng hậu và cơ cấu phòng ngự như vậy, Điện Biên Phủ đã thực sự trở thành một tập đoàn cứ điểm khổng lồ mạnh nhất Đông Dương, cho phép quân đội Pháp, chính khách cấp cao tự hào, đặt niềm tin vào chiến thắng. Trong và sau thời gian xây dựng, tập đoàn cứ điểm này đã đón nhận được sự quan tâm và viếng thăm của khá nhiều chính khách phương Tây: Nava, CôNhi (Bộ trưởng quốc phòng Pháp); Plêven (Bộ trưởng các quốc gia liên kết); M.Giắckê (Bộ trưởng chiến tranh Pháp); Đơsovinhê (chỉ huy lực lượng bộ binh Mỹ ở Thái Bình Dương); Đanhien (tư lệnh quân đội Anh Ấn ở Viễn Đông) v.v...tất cả đều rất tâm đắc và cho rằng Điện Biên Phủ là một “pháo đài bất khả xâm phạm”, một “con nhím” giữa núi rừng Tây Bắc, thậm chí là “chiếc cối xay thịt” đối với quân đội Việt Minh.

Thực tế, cách thức phòng ngự mới này của địch đã trở thành một thách thức lớn đối với quân đội ta. Nhưng nếu chúng ta không tiêu diệt được tập đoàn cứ điểm này thì không đánh bại được hình thức đối phó mới nhất, cao nhất của địch, không đánh bại được sự cố gắng lớn nhất của chúng và không thể tiến tới kết thúc chiến tranh. Chiến trường Điện Biên Phủ lại ở cách xa hậu phương 400 - 500 km, các tuyến đường chi viện hết sức khó khăn nguy hiểm; không quân địch đánh phá, thời tiết không thuận lợi, mùa mưa đến gần nên việc chi viện cho mặt trận càng khó khăn hơn.

Nhưng với quyết tâm cao độ, quân và dân ta đã phân tích những điểm mạnh, yếu của địch, cải tạo những khó khăn về mặt địa hình, lợi dụng địa thế để bố trí thế trận tiến công:

Trước hết chúng ta đã gấp rút mở con đường Tuần Giáo - Điện Biên đi qua những đồi núi liên tiếp, nhiều dốc cao và vượt qua gần 100 con suối lớn nhỏ để vận chuyển pháo vào trận địa.

Lúc đầu khi địch còn sơ hở, pháo binh của ta đã được di chuyển bằng xe hơi đến vùng phụ cận Điện Biên Phủ, rồi từ đó cho tới trận địa lâm thời, bộ đội ta đã dùng sức người để kéo pháo suốt bảy ngày đêm. Khi địch phát hiện và đánh phá ác liệt, chúng ta phải dùng sức người để kéo pháo trên con đường này dài tới 18km, qua nhiều núi đèo, nơi cao nhất là 1000m và thấp nhất là 600m so với mặt biển. Trong mười ngày đêm, những khẩu pháo 150 mm và pháo cao xạ 37 mm vượt đèo cao suối sâu một cách bí mật vào trận địa.

Tiếp đó, chúng ta đã mở năm con đường mới để vận chuyển pháo binh bằng xe hơi. Đây là những con đường được mở qua các sườn núi và ngọn đèo ở xung quanh Điện Biên Phủ, trong tầm hoả lực pháo binh của địch. Những con đường này được ngụy trang kín đáo, giữ được bí mật trong suốt chiến dịch góp phần tạo nên yếu tố bất ngờ.

Địch vẫn dự đoán quân và dân ta sẽ không thể có cách nào để chuyển pháo binh đến gần các tập đoàn cứ điểm của chúng. Nếu vận chuyển bằng đường bộ thì không thể sử dụng xe cơ giới vì địa hình quá nhiều dốc núi hiểm trở. Hơn nữa, nếu quân ta có hành động di chuyển pháo bằng xe cơ giới thì chúng hoàn toàn có khả năng sử dụng các phương tiện quan sát hiện đại để phát hiện và dùng pháo binh, không quân để oanh tạc ngay lập tức. Chúng không thể ngờ đến việc chúng ta dùng sức người để thực hiện công việc kéo pháo.

Thế nhưng chúng ta đã xây dựng được những trận địa pháo kiên cố một cách bất ngờ. Pháo được bố trí phân tán trên các điểm cao thành một đường vòng cung bao vây tập đoàn cứ điểm và có thể ngắm bắn trực tiếp các mục tiêu ở dưới lòng chảo. Các trận địa này được xây dựng sâu vào sườn núi của dãy Tà Lèng và Pú Hồng Mèo, lại được ngụy trang rất kín đáo nên máy bay trinh sát địch rất khó phát hiện. Ngoài những trận địa thật, chúng ta lại tổ chức những trận địa nghi binh để làm lạc hướng quân địch.

Khi chiến trường bắt đầu nổ súng, pháo binh ta từ ba bốn hướng bắn vào một trung tâm, pháo lại được đặt trong hầm, khoét sâu ở triền núi có nắp ngụy trang. Còn pháo binh của địch từ một trung tâm phải quay vòng bắn ra bốn phía nên đã buộc phải phơi mình bộc lộ trên trận địa dã chiến. Vậy là ngay từ đầu, cuộc tập kích bằng pháo của ta đã rất bất ngờ và biến điểm mạnh của địch thành điểm yếu. Trong suốt 55 ngày đêm pháo binh ta ở trận địa che khuất được an toàn, trong khi 80% số bom đạn của địch đã đánh vào trận địa giả của ta. Có thể thấy việc tận dụng địa hình để ngụy trang và nghi binh của quân ta đã thành công lớn.

Bên cạnh việc xây dựng trận địa pháo ở sườn núi và những nơi địch không ngờ tới, chúng ta đã hình thành một hệ thống chiến hào, giao thông hào vượt qua thung lũng từ nhiều hướng, tạo thành thế trận ngày càng vây chặt cả tập đoàn cứ điểm của địch.

Những tuyến chiến hào dài khoảng hơn 100 km và việc đào công sự được thực hiện liên tục thường xuyên. Dựa trên những yêu cầu về chiến thật, chúng ta đã xây dựng 2 loại đường hào: đường hào trục dùng cho việc cơ động pháo, vận chuyển thương binh, điều động bộ đội với số lượng lớn và đường hào tiếp cận địch của bộ binh.

Loại đường hào thứ nhất chạy một vòng rộng bao quanh toàn bộ trận địa địch ở phân khu trung tâm. Loại đường hào thứ hai chạy từ những vị trí trú quân của đơn vị trong rừng đổ ra cánh đồng cắt ngang đường hào trục, tiến vào vị trí địch mà ta sẽ tiêu diệt.

Các loại đường hào này đều có chiều sâu 1,7m và  không quá rộng để bảo đảm an toàn trước bom đạn địch, giữ bí mật cho bộ đội khi di chuyển. Đáy của đường hào bộ binh rộng 0,5m, đáy hào trục rộng 1,2m. Dọc đường hào, bộ binh có hố phòng pháo, hầm trú ẩn, chiến hào và ụ súng để đối phó với những  cuộc tiến công của địch.

 Trận địa hào được xây dựng vào ban đêm, nguỵ trang rất kỹ và triển khai cùng một lúc trên toàn thể mặt trận nên đã phân tán được sự chống phá của địch. Việc đào hào, xây dựng trận địa thực sự đã là một cuộc chiến đấu. Bộ đội ta đã phải lao động cật lực từ 14 đến 18 tiếng mỗi ngày với những công việc liên tục như chuẩn bị vật liệu, đốn gỗ, chặt lá ngụy trang. Thời tiết lại không thuận lợi: mưa dầm, gió bấc, công sự lầy lội bùn nước,...thậm chí mỗi tấc đất công sự đào được phải đổi bằng máu dưới làn mưa bom bão đạn của địch.Và cuối cùng bộ đội ta đã đưa trận địa chiến hào vào sát khu trung tâm tập đoàn cứ điểm, tạo ra một vòng vây siết chặt quân địch.

Thành công của trận địa bao vây là đã giải quyết được vấn đề tiếp cận địch trên địa hình bằng phẳng, vận chuyển lực lượng, giữ vững trận địa, tiến hành chiến đấu liên tục ngày đêm, hạn chế tới mức cao tác dụng của pháo binh và không quân địch.

Theo từng đợt tiến công, trận địa chiến hào bao vây của ta đã ngày càng thắt chặt, hoả lực bộ binh và pháo binh đã khống chế các khu trung tâm, đặc biệt là sân bay Mường Thanh được coi là “con át chủ bài” trong việc chi viện tiếp tế. Khi sân bay bị thất thủ, đồng thời với việc cầu hàng không bị cắt đứt hoàn toàn (đây có thể coi là một thành công lớn của quân ta), hàng vạn quân Pháp bị đẩy vào chỗ nguy khốn nghiêm trọng: thiếu lương thực, thuốc men, đạn dược trong một thung lũng lầy lội, rừng thiêng nước độc. “Lúc này Điện Biên Phủ thực sự trở thành một địa ngục đối với kẻ địch. Ở một địa thế trũng, những trận mưa đầu mùa đã làm rữa nát các công sự của chúng. Trời mưa bọn chúng sống trên mặt nước. Trời nắng cũng chẳng hơn gì, chúng vẫn nằm trên bùn và bùn dưới ánh mặt trời trở nên thật ngột ngạt”(1, tr.178).

Và như vậy những cơn mưa rừng của Điện Biên, những ngọn núi, những dải đất ở thung lũng Mường Thanh cũng đã trở thành vũ khí lợi hại để uy hiếp địch, buộc quân Pháp phải kéo cờ trắng đầu hàng.

Có thể thấy rằng, yếu tố “thiên thời, địa lợi” đã đóng vai trò quan trọng vào chiến thắng oanh liệt ở Điện Biên Phủ, chiến thắng đã ghi dấu vào lịch sử của dân tộc Việt Nam như “một Bạch Đằng, một Chi Lăng, một Đống Đa giữa thế kỷ XX”. Tuy nhiên dân tộc Việt Nam vẫn thường có câu “thiên thời, địa lợi, nhân hoà”, có “nhân hoà” mới tác động, phát huy được “thiên thời” và “địa lợi”. Đó cũng là quá trình biểu hiện sự nỗ lực chủ quan rất lớn của dân tộc. Nhờ sự nhất trí đồng lòng của toàn dân mà chúng ta đã khắc phục được những khó khăn nhược điểm, thiếu thốn; dựa vào địa hình, địa thế để sáng tạo cách đánh địch phong phú, hạn chế  chỗ mạnh và khoét sâu chỗ yếu của địch để chiến thắng.

Trong chiến thắng Điện Biên Phủ, chúng ta đã lợi dụng được địa hình hiểm trở của núi rừng để đề ra các phương thức tác chiến trong mỗi trận đánh: cách thức kéo pháo vào trận địa, dấu pháo ở sườn núi, đào công sự, hầm hào,... Nhưng tất cả những yếu tố đó đều được đặt trên một nền tảng quan trọng là sự đồng lòng đồng sức của tinh thần “tất cả cho tiền tuyến và tất cả để chiến thắng”.

 Nhân dân ở vùng tự do Thanh - Nghệ tĩnh, vùng mới giải phóng Tây Bắc cũng như vùng sau lưng địch đều hăng hái tham gia phục vụ trận tuyến. Chúng ta đã tổ chức những tuyến cung cấp dài 400 - 500 km từ Thanh Hóa, Phú Thọ đến Tây Bắc. Chúng ta đã huy động mọi phương tiện hiện đại và thô sơ có thể huy động được để vận chuyển lương thực, đạn dược ra mặt trận. Các đoàn xe ôtô đi không đèn trong suốt nhiều đêm, hàng vạn xe đạp thồ, xe đẩy thô sơ, hàng ngàn thuyền mảng, đoàn lừa, ngựa được sử dụng để vận chuyển lương thực, đạn dược qua đường lớn, đường nhỏ, suối sâu, đèo cao, chi viện cho tiền tuyến. Cả dân tộc Việt Nam đã đảm bảo công việc hậu cần cho một lực lượng bộ đội lớn, tác chiến trên một mặt trận rất xa hậu phương, trong một thời gian dài; một việc làm mà quân Pháp không thể lường trước được, nằm ngoài sức tưởng tượng của chúng.

Rõ ràng tinh thần quyết chiến, quyết thắng, đoàn kết đồng lòng, đồng sức của dân tộc ta và nghệ thuật phát huy yếu tố “thiên thời, địa lợi” đã là những nhân tố quyết định tạo nên sức mạnh tổng lực làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ.

Chú thích:

* Theo cuốn hồi ký của Henri Navarre

Tài liệu tham khảo

1. Chiến thắng Điện Biên Phủ (Hồi ký), NXB QĐND, Hà nội, 1971.

2. Hồ Đệ, Góp phần tìm hiểu đặc điểm nghệ thuật quân sự Việt Nam trong lịch sử giữ nước,NXB QĐND, Hà nội, 2000.

3. Nguyễn Thế Vị, Nhân tố văn hoá trong truyền thống quân sự Việt Nam, NXB QĐND, Hà Nội, 1999.

4. Phạm Hồng Sơn, Nghệ thuật đánh giặc giữ nước của dân tộc Việt Nam, NXB QĐND, Hà Nội, 2004.

5. Võ Nguyên Giáp, Điện Biên Phủ 50 năm nhìn lại, NXB QĐND, Hà Nội, 2004.

6. Đại tướng Võ Nguyên Giáp với chiến dịch Điện Biên Phủ, NXB QĐND, Hà Nội, 2004.

7. Viện Lịch sử quân sự, Tóm tắt các chiến dịch trong kháng chiến chống Pháp.

5. Hiểu thêm về một quyết định quan trọng trong chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954 

Gần 60 năm đã trôi qua nhưng âm hưởng của bài ca chiến thắng vẫn ngân vang. Thật tự hào khi chiến thắng Điện Biên Phủ “được ghi vào lịch sử dân tộc như một Bạch Đằng, một Chi Lăng, hay một Đống Đa trong thế kỷ XX và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công chói lọi đột phá thành trì của hệ thống nô dịch thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc”1. Điên Biên Phủ mãi làm vẻ vang dân tộc Việt Nam. Chiến thắng ấy gắn liền với tên tuổi những người con đất Việt hữu danh và khuyết danh, gắn với sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, gắn với tên tuổi Chủ tịch Hồ Chí Minh và đặc biệt gắn với tên tuổi của vị tướng huyền thoại - Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Ông đã có một quyết định táo bạo và khó khăn trong cuộc đời binh nghiệp của mình khi quyết định chuyển phương án tác chiến trong chiến dịch Điện Biên Phủ từ đánh nhanh thắng nhanh sang “đánh chắc tiến chắc”. Ông quyết định “kéo pháo ra” khi mọi lực lượng đã sẵn sàng chỉ còn chờ hiệu lệnh tiến công. Nhưng ít ai biết rằng còn có một người có cùng suy nghĩ đó với ông - Tướng Phạm Kiệt. 

Hoan hô chiến sỹ Điện Biên
Hoan hô đồng chí Võ Nguyên Giáp
Sét đánh ngày đêm xuống đầu giặc Pháp!
Vinh quang Tổ quốc chúng ta
Nước Việt Nam dân chủ cộng hoà!
Vinh quang Hồ Chí Minh
Cha của chúng ta ngàn năm sống mãi
Quyết chiến quyết thắng, cờ đỏ sao vàng vĩ đại!
Kháng chiến ba ngàn ngày
Không đêm nào vui bằng đêm nay
Đêm lịch sử, Điện Biên sáng rực
Trên đất nước, như huân chương trên ngực
Dân tộc ta, dân tộc anh hùng!
(Thơ Tố Hữu)
Phạm Kiệt (1910-1975) tên thật là Phạm Quang Khanh, xuất thân trong một gia đình nông dân lao động tại xã An Phú, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi. Sớm giác ngộ cách mạng, năm 1925 ông hoạt động trong phong trào yêu nước ngay tại quê hương, sau đó tham gia Hội Việt Nam cách mạng thanh niên. Ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương đầu năm 1931. Tháng 6-1931, ông bị đế quốc Pháp bắt, kết án tù chung thân, rồi đưa đi giam giữ ở các nhà lao: Sơn Tịnh, Quảng Ngãi, Buôn Ma Thuột. Trong nhà tù đế quốc, ông đã cùng các đồng chí trong chi bộ lãnh đạo tù nhân đấu tranh bên trong và tổ chức các hội quần chúng phối hợp đấu tranh bên ngoài.
Năm 1943, đế quốc Pháp đã đày ông đi Ba Tơ (Quảng Ngãi). Tại đây, ông cùng các đồng chí tổ chức chi bộ Đảng trong nhà tù, xây dựng lực lượng cách mạng chuẩn bị vũ trang khởi nghĩa. Ngày 11-3-1945, ông trực tiếp chỉ huy cuộc khởi nghĩa chiếm đồn Ba Tơ, rồi ngày hôm sau cùng các đồng chí lãnh đạo nhân dân huyện Ba Tơ nổi dậy giành chính quyền.
Sau đó, ông tiếp tục xây dựng đội du kích Ba Tơ lớn mạnh - tiền thân của lực lượng vũ trang miền Trung Trung bộ, tổ chức các hoạt động vũ trang tuyên truyền  mở rộng căn cứ địa vùng Bắc Quảng Ngãi, góp phần to lớn vào thắng lợi của nhân dân tỉnh Quảng Ngãi trong cuộc khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945.
Từ năm 1945-1959, ông được Đảng và Chính phủ giao nhiều chức vụ quan trọng như: Chỉ huy trưởng Ủy ban Quân chính Nam phần Trung bộ, Ủy trưởng quốc phòng miền Nam Trung bộ, Đại đoàn trưởng Đại đoàn 31, Cục phó rồi Cục trưởng Cục bảo vệ Quân đội nhân dân Việt Nam…
Tháng 8 năm 1960, ông được cử giữ chức Thứ trưởng Bộ Công an, tháng 4 năm 1961 ông được thăng quân hàm Thiếu tướng và Trung tướng năm 1974. Trên cương vị lãnh đạo ngành, ông cùng các đồng chí của mình ra sức xây dựng ngành Công an lớn mạnh để đảm nhiệm trọng trách giữ gìn an ninh chính trị và đảm bảo an toàn trật tự xã hội. Ông còn tham gia công tác Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và là đại biểu Quốc hội các khóa III và IV.
Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, ông đã đóng góp to lớn vào thắng lợi của các chiến dịch Biên Giới, Hòa Bình và đặc biệt là chiến dịch Điên Biên Phủ năm 1954.
Năm 1953, những thất bại liên tiếp của đội quân viễn chinh Pháp trên chiến trường Đông Dương đã đẩy quân Pháp vào thế bị động. Nhằm cứu vãn tình thế, đảo ngược thế trận trên chiến trường, chính phủ Pháp đã quyết định thay đổi tướng tá và kế hoạch tác chiến. Tháng 5 năm 1953, Hăng-ri Nava, Tham mưu tưởng lục quân của khối NATO được cử làm Tổng chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp ở Đông Dương. Nava vạch ra kế hoạch tác chiến gồm 2 bước:
Bước 1: Phòng ngự chiến lược ở chiến trường miền Bắc, bình định miền Nam, xóa bỏ vùng tự do Liên khu V (Từ Thu Đông 1953 - Xuân 1954)
Bước 2: Tiến công chiến lược miền Bắc, từ thắng lợi quyết định về quân sự, buộc ta đàm phá theo điều kiện có lợi cho Pháp (từ mùa thu năm 1954)
Đây là một kế hoạch có quy mô rộng lớn, địch tập trung binh lực nhằm trong vòng 18 tháng, tiêu diệt phần lớn chủ lực của ta, giành lấy một thắng lợi quyết định, làm cơ sở cho một giải pháp chính trị cho chúng.
Từ mùa hè 1953, Nava bắt đầu thực hiện bước thứ nhất. Quân địch đã mở liên tiếp nhiều cuộc hành quân trên các chiến trường và ra sức tập trung quân cơ động. Đến cuối năm 1953, Nava đã tập trung ở đồng bằng Bắc Bộ 44 tiểu đoàn.
Trước âm mưu của địch, tháng 9 năm 1953 tại Tỉn Keo, Định Hóa, Thái Nguyên, Bộ Chính trị đã họp dưới sự chủ tọa của Chủ tịch Hồ Chí Minh bàn kế hoạch tác chiến Đông Xuân 1953-1954. Trước đó, trong báo cáo tại Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu ra phương hướng chiến lược của ta là: “Tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu để phân tán lực lượng địch và tiêu diệt sinh lực địch, mở rộng vùng tự do"2. Tại Hội nghị Tỉn Keo, một lần nữa Người khẳng định phương hướng chiến lược không thay đổi. Người nêu rõ chủ trương của ta: Địch muốn đẩy ta vào thế bị động thì ta sẽ buộc chúng phải lâm vào thế bị động, địch muốn tập trung quân cơ động để tạo nên sức mạnh thì ta sẽ có kế sách phân tán địch ra mà đánh thì sức mạnh ấy sẽ không còn. Trên tinh thần ấy, sau khi nghe Đại tướng Võ Nguyên Giáp báo cáo tình hình địch, Bộ Chính trị đã phê chuẩn phương án tác chiến của Bộ Tổng tham mưu với hướng tiến công chiến lược là Tây Bắc, Tây Nguyên và Trung - Hạ Lào là những nơi địch yếu nhưng không thể bỏ. Bộ Chính trị nhấn mạnh phương châm tác chiến của ta là “tích cực, chủ động, cơ động, linh hoạt” và nguyên tắc về chỉ đạo chiến lược và chỉ đạo tác chiến là: tiêu diệt sinh lực địch, bồi dưỡng lực lượng của ta; đánh ăn chắc, đánh chắc thắng; chọn nơi sơ hở và tương đối yếu của địch để đánh, giữ vững chủ động, kiên quyết buộc địch phải phân tán.
Với phương châm tác chiến này, ta đã khiến quân địch phải thụ động đối phó theo cách đánh của ta. Trong khi chúng tập trung lực lượng ở đồng bằng Bắc Bộ để uy hiếp lực lượng ta thì ta chủ trương tiến công nhiều hướng ở phía Tây để buộc chúng phải phân tán lực lượng.
 Giữa tháng 11 năm 1953, bộ đội chủ lực của ta theo kế hoạch tiến lên Tây Bắc giải phóng Lai Châu, phối hợp với bộ đội Pathét Lào tiến công địch ở Trung và Hạ Lào. Nava buộc phải điều quân lên Điện Biên Phủ để bảo vệ Lai Châu và Thượng Lào. Kế hoạch của Nava hoàn toàn bị đảo lộn, chúng phải căng lực lượng ra để đối phó với ta. Tuy vậy, dù trong thế bị động nhưng với sự trợ giúp của Mỹ, Pháp đã nhanh chóng xây dựng Điện Biên Phủ trở thành tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương. Quân số địch ở Điện Bên Phủ lên tới 16.200 quân, bao gồm lực lượng bộ binh tương đương 14 tiểu đoàn, 3 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn công binh, 1 đại đội xe tăng, 1 đại đội xe vận tải, một liên đội 12 máy bay. Tập đoàn Điện Biên Phủ có 49 cứ điểm đề kháng mạnh với 3 phân khu liên hoàn. Chính tướng Mỹ O.Daniel khi lên kiểm tra Điện Biên phủ đã xác nhận đây là một “pháo đài bất khả xâm phạm”. Với một tập đoàn cứ điểm như vậy địch hy vọng sẽ nghiền nát chủ lực Việt Minh ở thung lũng Mường Thanh.
Ngày 6-12-1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Bộ Chính trị thông qua kế hoạch tác chiến của Bộ Tổng Tư lệnh, quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ. Như vậy cả ta và địch đều chọn Điện Biên Phủ làm trận đánh then chốt để kết thúc chiến tranh.
Trong Chỉ thị gửi Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh:“Chiến dịch này là một chiến dịch rất quan trọng không những về quân sự mà cả về chính trị, không những đối với trong nước mà còn đối với quốc tế. Vì vậy, toàn quân, toàn dân, toàn Đảng phải tập trung hoàn thành cho kỳ được3. Bộ chỉ huy Mặt trận Điện Biên Phủ được thành lập do Đại tướng Võ Nguyên Giáp, ủy viên Bộ Chính trị trung ương Đảng trực tiếp làm bí thư đảng ủy và Chỉ huy trưởng mặt trận.
Ngày 22-12-1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh trao cờ “Quyết chiến,quyết thắng” cho quân đội, động viên các đơn vị thi đua lập công. Trước khi Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp kiêm Tổng chỉ huy chiến dịch lên đường ra mặt trận, Chủ tịch Hồ Chí Minh trao toàn quyền quyết định cho Đại tướng, Người ân cần căn dặn: "Trao cho chú toàn quyền quyết định. Trận này quan trọng, phải đánh cho thắng! Chắc thắng mới đánh, không chắc thắng không đánh".
Ngày 12-1-1954, Đại tướng Võ Nguyên Giáp lên Sở Chỉ huy tiền phương thị sát mặt trận. Lúc này chủ trương của ta là đánh nhanh thắng nhanh, dự kiến bắt đầu vào ngày 26-1 và kết thúc sau 3 ngày 2 đêm. Trực tiếp thị sát Mặt trận, nhận thấy tình hình không được thuận lợi, sau nhiều ngày đêm trăn trở suy tính, Đại tướng đã đề nghị lên Đảng ủy Mặt trận và các chuyên gia chuyển phương án tác chiến từ “đánh nhanh, thắng nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc”. Và có một người đã có cùng suy nghĩ đó với ông. Điều này đã được Đại tướng ghi lại trong thư gửi Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, ngày 19-1-1995. Thư Đại tướng viết:
 Tôi có may mắn làm được biết và làm việc với anh Phạm Kiệt. Tôi đã gặp anh lần đầu tại Ninh Hòa, trong chuyến được Bác Hồ phái vào mặt trận miền Nam. Lúc bấy giờ anh Kiệt đang chỉ huy đánh địch từ phía Ma Drak, đã tổ chức cho tôi nói chuyện bằng điện thoại với đồng chí Nam Long. Ở mặt trận anh tỏ ra là một người chỉ huy kiên quyết và linh hoạt.
Đặc biệt tại mặt trận Điện Biên Phủ, cũng với nhiệm vụ phụ trách công tác bảo vệ, anh đã được tôi cử đi kiểm tra công tác chuẩn bị chiến trường ở phía Đông Bắc. Anh đã đến tận nơi, kiểm tra trận địa pháo binh, phát hiện sự nguy hiểm bố trí pháo binh dã chiến tại một địa bàn tương đối bằng phẳng. Lúc bấy giờ, toàn thể cán bộ và chiến sĩ đang hăng hái triển khai kế hoạch đánh nhanh. Bản thân tôi thì đang khẩn trương theo sát tình hình củng cố của địch và suy nghĩ về quyết định thay đổi phương châm. Chính vào lúc đó thì nhận được ý kiến của anh Phạm Kiệt phát biểu bằng điện thoại. Anh trình bày vắn tắt tình hình và là người duy nhất lúc đó đã đề nghị tôi xem lại kế hoạch đánh nhanh.
Lúc bấy giờ là lúc toàn quân đang nô nức thực hiện quyết tâm tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Điện Biên phủ trong 2 đêm 3 ngày; sau này mới biết có cán bộ lo ngại, nhưng khi đó không một ai nói lên suy nghĩ thật của mình vì ngại cho là dao động. Tôi đánh giá rất cao ý kiến của anh Phạm Kiệt: ý kiến ấy cùng với những tin tức trinh sát từ nhiều mặt gửi về đã cung cấp cho tôi căn cứ quan trọng để đề ra với Đảng ủy thay đổi phương châm tác chiến, rút quân ra, chuyển sang kế hoạch mới “đánh chắc, tiến chắc”.4
Như thế, tướng Phạm Kiệt là người trực tiếp thị sát và đã phân tích thế trận với Đại tướng để Đại tướng suy nghĩ chuyển phương châm tác chiến.
Theo phương châm “đánh chắc, tiến chắc”, khi đã hoàn tất công tác chuẩn bị chiến dịch Điện Biên Phủ được mở màn vào ngày 13-3-1954. Sau 3 đợt tiến công, 55 ngày đêm chiến đấu ngoan cường, vượt mọi hy sinh, gian khổ “khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt”, Quân đội ta đã tiêu diệt hoàn toàn tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Ngày 7-5-1954, là cờ “Quyết chiến, quyết thắng” của ta tung bay trên nóc hầm Đờ-Cát-xtơ-ri, kết thúc cuộc kháng chiến 9 năm trường kỳ của nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. 
Gần 60 năm trôi qua, vết tích chiến tranh đã được hàn gắn, Điện Biên giờ đã khác xưa, “Hoa mơ lại trắng, vườn cam lại vàng”, nhưng lớp lớp con cháu vẫn sẽ nhớ mãi về chiến công oai hùng của thế hệ cha ông. Tên tuổi những người đã làm nên chiến thắng mãi được ghi danh vào sử sách. Bên cạnh vị tướng huyền thoại Võ Nguyên Giáp, giờ chúng ta còn biết thêm một con người đã có cùng quyết định sáng suốt và táo bạo với ông - Tướng Phạm Kiệt.
Theo Nguyễn Thị Hằng - Bảo tàng Hồ Chí Minh
Thu Hiền (st)
 _________
1) Lê Duẩn: Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, vì độc lập, vì tự do, vì chủ nghĩa xã hội, tiến lên giành những thắng lợi mới, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1976, tr.55-56
 2) Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1994, tr.373
3) Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam, Sđd, tr.405
4) Phạm Kiệt (Hồi ký): Từ núi rừng Ba Tơ, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2006, Trích trong Lời nói đầu

6. “Điện Biên Phủ 1954 - thất bại có tính chất quyết định của thực dân Pháp ở Đông Dương”
Thu Hằng - Thông tấn xã Việt Nam

Đó là lời của Giáo sư Tiến sĩ sử học Vin-phrít Lu-lai (Wilfried Lulei), một người được coi là nhà Việt Nam học có uy tín nhất ở Đức hiện nay khẳng định lại với tôi ở nhà riêng của ông ở Béc-lin, khi ông tìm và đưa cho tôi xem một bài báo có tiêu đề như vậy của ông đăng trên tạp chí “Lịch sử Quân sự” của CHDC Đức năm 1984 nhân kỷ niệm 30 năm chiến thắng Điện Biên Phủ và bài đó đã được ông dịch ra tiếng Việt đăng trên tạp chí “Lịch sử Quân sự” của Việt Nam số tháng 5-1989.

Trong một bài báo khác viết về Mặt trận nhân dân ở Việt Nam đăng trên tuần báo “Chân trời” (CHDC Đức) số 17 năm 1969, dưới  bức ảnh lá cờ quyết chiến quyết thắng tung bay trên nóc hầm sở Chỉ huy Pháp ở Điện Biên Phủ, Giáo sư Lu-lai viết: “Chiến thắng của Quân đội nhân dân Việt Nam trước pháo đài gồm 16.000 quân của Pháp đánh dấu sự sụp đổ hoàn toàn của chính quyền thực dân Pháp ở Đông Dương”.

Dành hầu như suốt cả cuộc đời mình cho công tác nghiên cứu, viết sách và giảng dạy các vấn đề về Việt Nam, đặc biệt là lịch sử Việt Nam, Giáo sư Tiến sĩ Lu-lai rất am hiểu lịch sử, văn hóa, đất nước và con người Việt Nam. Ông đã từng nghiên cứu và viết đề án về Hiệp định Giơ-ne-vơ, trong đó ông nhấn mạnh tác động của chiến thắng, Điện Biên Phủ tới kết quả đàm phán trên bàn hội nghị. Giáo sư Lu-lai cho rằng nếu không có chiến thắng Điện Biên Phủ, Hội nghị Giơ-ne-vơ không  thể dẫn tới việc ký kết Hiệp định như ta đã biết. Giáo sư giải thích thêm, Việt Nam đã giành chiến thắng vang dội trong chiến dịch Điện Biên Phủ không phải chỉ vì quân đội và nhân dân Việt Nam quyết chiến, quyết thắng, không sợ hy sinh, gian khổ, mà Bộ chỉ huy chiến dịch của Việt Nam xung quanh Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã có một chiến lược sáng suốt, tài tình. Ngoài chiến lược quân sự, điều đó còn được thể hiện qua chính sách hậu phương và sách lược vận động quần chúng. Những chiếc xe đạp thồ đã trở thành biểu tượng của sự vận chuyển, tiếp tế cho chiến dịch Điện Biên Phủ với hàng vạn dân công tham gia, thể hiện sự hậu thuẫn vững mạnh của hậu phương cho tiền tuyến. Để có được điều đó, ngoài tinh thần yêu nước của nhân dân Việt Nam, chính phủ kháng chiến đã đề ra những chính sách kịp thời với khẩu hiệu “Người cày có ruộng”.

Giáo sư cũng cho rằng chiến thắng Điện Biên Phủ thể hiện tính ưu việt về đạo lý của những người Việt Nam chiến đấu để giải phóng Tổ quốc. Nhiều lính lê dương đóng quân tại Điện Biên Phủ khi đó, sau này kể lại với ông rằng ban ngày, khi tiếng súng nổ, họ không sợ bằng khi đêm đêm nghe tiếng đào đất của quân đội Việt Minh đang đào hào tiến tới bao vây quanh vị trí của họ. Họ hình dung một gọng kìm đang bóp lại, vì vậy tinh thần chiến đấu của họ ngày càng sa sút. Theo giáo sư Lu-lai, sự sáng tạo, uyển chuyển trong chiến đấu của Việt Nam đã làm đảo lộn tư duy quân sự của những tướng lĩnh bên kia chiến tuyến.

Giáo sư Lu-lai cho rằng chiến thắng Điện Biên Phủ ngoài tác động rất lớn về mặt quân sự, thì tác động chính trị, tâm lý của nó còn lớn hơn nhiều, vì Pháp đã đặt toàn bộ hy vọng của họ vào trận đánh này. Vì vậy, sau khi Điện Biên Phủ thất thủ, Chính phủ ở Pháp cũng bị đổ theo và Chính phủ mới lên buộc phải ký Hiệp định Giơ-ne-vơ về đình chiến ở Đông Dương. Giáo sư cũng cho biết, khi đó ông còn nhỏ và rất ít người biết tới cuộc chiến tranh Đông Dương. Chỉ sau chiến thắng Điện Biên Phủ, người ta mới biết tới Việt Nam và nhận thức rằng đây cũng là một cuộc chiến tranh thực sự chứ không phải là một xung đột nho nhỏ mà Pháp chỉ cần huy động lực lượng cảnh sát đi dẹp như họ tuyên truyền. Giáo sư nhận định Hiệp định Giơ-ne-vơ đã mở ra một cơ hội đi tới hòa bình, thống nhất đất nước của Việt Nam, nhưng tiến trình này đã bị Mỹ ngăn cản và phá hoại để gần 20 năm sau, năm 1973, Mỹ buộc phải ký Hiệp định Pa-ri, trong đó có những điểm giống như Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954.

Năm nay, Giáo sư Tiến sĩ Lu-lai 66 tuổi, và đã có hơn 40 năm nghiên cứu, quan tâm, gắn bó với Việt Nam. Ban đầu, ông Lu-lai theo học môn lịch sử và Đức học ở trường Đại học Tổng hợp Các Mác ở Lai-xích. Năm 1963, ông đề nghị đi phục vụ cho một đoàn du lịch để được sang Việt Nam. Bị cuốn hút bởi đất nước này, một năm sau đó (năm 1964), ông tìm cách xin sang Việt Nam bằng được để theo học đại học tại Việt Nam. Tại đây, ông học tiếng Việt, lịch sử, chính trị học và có nhiều dịp gặp gỡ những nhà sử học nổi tiếng của Việt Nam như Giáo sư Trần Văn Giàu, Giáo sư Trần Huy Liệu, Giáo sư Phan Huy Lê... Nhưng sau khi Mỹ tiến hành chiến tranh phá hoại, leo thang ra miền Bắc và chiến tranh trở nên ác liệt, cũng như toàn bộ các sinh viên nước ngoài khác, ông phải bỏ dở việc học để trở về Đức. Từ đó, ông bắt đầu làm công tác khoa học, nghiên cứu về Việt Nam và năm 1970, khi khoa Việt Nam học được mở tại Trường Đại học Hum-bôn ở Béc-lin, ông chuyển lên Béc-lin và phụ trách công việc mới mẻ này. Năm 1998, ông về hưu nhưng vẫn tham gia thỉnh giảng và dành thời gian tiếp tục nghiên cứu, hoàn thành những tác phẩm mà ông hằng ấp ủ, nhưng chưa có thời gian thực hiện. Ngoài ra, ông còn tham gia Hội Đức - Việt từ năm 1990 và nay là Phó chủ tịch Hội.

Giáo sư Lu-lai đưa cho tôi xem tờ báo “Thủ đô” ngày 16-5-1965, trong đó có ảnh ông cùng các sinh viên nước ngoài tham dự mít tinh tại Hà Nội phản đối đế quốc Mỹ dùng hơi độc hóa học ở miền Nam Việt Nam và hào hứng kể, hôm đó ông đã rất may mắn được gặp Bác Hồ. Thấy ông là một sinh viên nước ngoài mang theo biểu ngữ “Đả đảo đế quốc Mỹ”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cho người mời ông tới gặp để hỏi chuyện. Ông rất xúc động khi được nói chuyện với Bác Hồ lúc bằng tiếng Đức, lúc bằng tiếng Việt. Vì vậy, trong phòng làm việc của ông giờ đây luôn luôn treo một bức ảnh của Bác Hồ. Ông cho biết cũng đã có một số lần vinh dự được gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp, trong đó có lần vào năm 1990, khi ông tới Can-cút-ta (ấn Độ) tham dự Hội thảo quốc tế về danh nhân văn hóa thế giới Hồ Chí Minh nhân kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của  Người.

Trong phòng làm việc của ông, tôi nhìn thấy trên giá vô số sách và tài liệu liên quan tới Việt Nam bằng tiếng Đức cũng như tiếng Việt. Giáo sư Lu-lai cho biết ông đang gấp rút hoàn thành một cuốn sơ lược lịch sử Việt Nam cho các độc giả Đức để giới thiệu cho mọi người biết rằng Việt Nam là một dân tộc có nền văn hiến lâu đời, trí tuệ cao chứ không chỉ có truyền thống chiến đấu chống giặc ngoại xâm. Dự kiến, bản thảo cuốn lịch sử Việt Nam đó sẽ được hoàn tất vào năm nay và ra mắt bạn đọc vào năm tới. Ông cũng đã dịch Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam ra tiếng Đức, sưu tầm, biên soạn và dịch một phần cuốn tuyển tập những bài nói và viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh ra tiếng Đức...

Năm nay, nhân kỷ niệm 50 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, Hội Đức - Việt dự định sẽ tổ chức một cuộc hội thảo về chiến thắng Điện Biên Phủ và Hiệp định Giơ-ne-vơ về đình chiến ở Đông Dương tại Béc-lin.

Vì những công lao trong việc tăng cường hiểu biết và vun đắp tình hữu nghị giữa hai dân tộc Đức - Việt Nam, Giáo sư, Tiến sĩ Vin-phrít Lu-lai đã hai lần được Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam tặng thưởng Huân chương Hữu nghị.

7. Bài học thắng lợi Điện Biên Phủ với công cuộc đổi mới hôm nay

TCCSĐT - Nhìn từ chiến thắng Điện Biên Phủ, có thể thấy, đoàn kết một lòng phát huy nội lực và tính dân chủ, kết hợp với nắm chắc tình hình thực tế để kịp thời đề ra giải pháp hợp lý... là bài học kinh nghiệm quý báu đối với sự lãnh đạo của Đảng ngày nay, nhằm góp phần làm nên một “Điện Biên Phủ” mới trong công cuộc đổi mới.

Cách đây hơn nửa thế kỷ, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân ta đã làm nên chiến thắng lịch sử “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”. Kỷ niệm 10 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đánh giá: “Điện Biên Phủ như là một cái mốc chói lọi bằng vàng của lịch sử. Nó ghi rõ nơi chủ nghĩa thực dân lăn xuống dốc và tan rã, đồng thời phong trào giải phóng dân tộc khắp thế giới đang lên cao đến thắng lợi hoàn toàn”. “Đó là thắng lợi vĩ đại của nhân dân ta mà cũng là thắng lợi chung của tất cả các dân tộc bị áp bức trên thế giới”(1) .

Chiến thắng Điện Biên Phủ có ý nghĩa to lớn, có sức lan tỏa vượt không gian và thời gian, không chỉ trong lĩnh vực chiến tranh, quân sự, xây dựng quân đội... mà cả trong nhiều lĩnh vực khác. Điều này đã được nhiều sách báo đề cập ở các mức độ khác nhau. Bài viết này mong muốn tìm hiểu nguyên nhân, cũng có thể coi là bài học thắng lợi của chiến thắng Điện Biên Phủ, vận dụng vào công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hôm nay.

Bài học đầu tiên và quan trọng nhất là sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cho đến cuối năm 1953, dưới sự lãnh đạo, chèo lái của Đảng, cuộc kháng chiến của nhân dân ta đã trải qua 8 năm, ngày càng thu được thắng lợi to lớn, đứng trước triển vọng sớm giành được thắng lợi hoàn toàn. Trong cuộc họp bàn định kế hoạch tác chiến Đông Xuân 1953-1954, cuối tháng 9-1953, Bộ Chính trị xác định chủ trương: kiên quyết giữ vững thế chủ động, mở các cuộc tiến công trên khắp các chiến trường, buộc Pháp phải bị động phân tán lực lượng đối phó, làm thất bại kế hoạch Na-va ngay từ đầu. Phương châm hoạt động đề ra là “Tích cực, chủ động, linh hoạt, vững chắc”.

Khi đề cập đến sự lãnh đạo đúng đắn, kiên quyết, táo bạo, có cơ sở khoa học của Đảng trong chiến dịch Điện Biên Phủ, chúng ta thấy có hai điểm thể hiện nổi bật:

Thứ nhất, nhanh chóng, kịp thời thay đổi việc chọn hướng tác chiến chủ yếu, chọn mục tiêu tác chiến phù hợp nhưng có ý nghĩa quyết định giành thắng lợi. Ban đầu, chủ trương của Đảng trong tác chiến Đông Xuân 1953-1954 chỉ là sử dụng một bộ phận chủ lực, mở những cuộc tiến công vào những hướng địch sơ hở, đồng thời tranh thủ tiêu diệt địch trong vận động ở những hướng địch có thể đánh sâu vào vùng tự do của ta, trong lúc đó đẩy mạnh chiến tranh du kích ở khắp các chiến trường địch hậu và tích cực chuẩn bị mọi sự cần thiết cho bộ đội chủ lực rảnh tay làm nhiệm vụ. Cụ thể là sử dụng một bộ phận chủ lực mở cuộc tiến công lên hướng Tây Bắc, tiêu diệt quân địch chiếm đóng Lai Châu, giải phóng hoàn toàn Tây Bắc. Khi tình báo Pháp phát hiện một đơn vị quân ta - Đại đoàn 316 (thiếu 1 trung đoàn), đang hành quân lên hướng Tây Bắc, Tổng chỉ huy Na-va đã vội vã điều một lực lượng lớn binh lực cơ động tinh nhuệ lên chốt giữ Điện Biên Phủ, xây dựng nơi đây thành một tập đoàn cứ điểm mạnh, nhằm bảo vệ Tây Bắc, thượng Lào và thu hút, tiêu diệt chủ lực ta tại đó. Nhận thấy đây là cơ hội lớn để đánh bại quân thù, Bộ Chính trị và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quyết định tập trung mọi lực lượng mở chiến dịch Điện Biên Phủ.

Như vậy, từ chỗ Điện Biên Phủ không có trong kế hoạch tác chiến của cả ta và địch, đã trở thành nơi diễn ra trận quyết chiến chiến lược.

Thứ hai, khi tình hình thực tế chiến trường thay đổi, Đảng ủy Mặt trận đã họp khẩn cấp và quyết định thay đổi phương châm tác chiến chiến dịch, từ “Đánh nhanh, giải quyết nhanh” sang “Đánh chắc, tiến chắc”, chỉ ít giờ đồng hồ trước khi chiến dịch nổ súng mở màn; từ chỗ ta chỉ xác định nhằm vào nơi địch yếu, sơ hở, đã tiến lên chọn chỗ địch mạnh nhất để tiến công tiêu diệt chúng. Đây là một quyết định đúng đắn, táo bạo, được báo cáo về Trung ương ngay sau đó và được Bộ Chính trị và Chủ tịch Hồ Chí Minh đồng ý. Sự thay đổi phương châm tác chiến vào phút chót đó đã đưa lại thắng lợi hoàn toàn cho trận đánh lịch sử Điên Biên Phủ.

Vì thế, bài học về phát huy tinh thần thực tiễn, sáng tạo, dám nghĩ, dám chịu trách nhiệm trong tình hình hiện nay cần được quán triệt sâu sắc trong quá trình Đảng lãnh đạo, chỉ đạo. Hơn lúc nào hết, việc thấm nhuần quan điểm coi thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý, luôn theo dõi, bám sát thực tiễn, bám sát những nhu cầu cấp bách của thực tiễn đời sống kinh tế, xã hội; phân tích, nắm bắt những phát triển mới của tình hình thế giới và trong nước để có những quyết sách đúng, là thực sự cần thiết, đòi hỏi bản lĩnh, tính sáng tạo và tinh thần trách nhiệm của mỗi cán bộ, đảng viên. Kiên định mục tiêu, con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội do Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân đã lựa chọn nhằm xây dựng dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, đó là nguyên tắc cần giữ vững. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, nếu phát hiện thấy những chủ trương, biện pháp, cách thức tuy đã được thông qua và trở thành quyết định, nghị quyết, nhưng không còn phù hợp với thực tế, tỏ ra không hiệu quả, thì cần kiên quyết thay đổi, loại bỏ. Chủ quan, duy ý chí hay bảo thủ, giáo điều đều là vật cản trong quá trình Đảng lãnh đạo thực hiện công cuộc đổi mới.

Sự lãnh đạo của Đảng đã làm nên thắng lợi trong chiến dịch Điện Biên Phủ và trong toàn bộ cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Có được thành công đó là do Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã biết phát huy sức mạnh của lòng yêu nước, ý chí quyết chiến, quyết thắng của cả dân tộc, đưa cả nước ra trận, thực hiện toàn dân kháng chiến, đánh địch toàn diện, vì mục tiêu cuối cùng là độc lập, tự do cho Tổ quốc. Khẩu hiệu “Tất cả vì Điện Biên Phủ”, “Tất cả để chiến thắng” đã nói lên điều đó. Ngày nay, trong công cuộc xây dựng, bảo vệ đất nước, sức mạnh của ý chí quyết tâm cần được Đảng động viên và khơi dậy ở tầm mức mới, cao hơn, nhằm tạo ra sự đồng thuận cao nhất của toàn dân đối với mọi chủ trương, quyết sách lớn của Đảng và Nhà nước. Muốn được như vậy, từ lãnh đạo đến mỗi đảng viên cần nêu cao tinh thần gương mẫu, chống quan liêu, mệnh lệnh, chống tham ô, lãng phí, tham nhũng và các bệnh tiêu cực khác; đồng cảm hơn với những bức xúc chính đáng của người dân. Đây chính là sức mạnh, là động lực to lớn nhất, quyết định nhất bảo đảm sự thành công trong hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng.

Bài học thứ hai là đề cao tinh thần độc lập, tự chủ, tự tôn dân tộc, tự lực, tự cường; thực hiệntriệt để nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân chịu trách nhiệm, dám nghĩ, dám làm, tin vào đảng viên, cán bộ, chiến sĩ khi giao việc cho họ. Ví dụ sinh động nhất, có sức thuyết phục nhất là sự kiện Chủ tịch Hồ Chí Minh gặp, giao nhiệm vụ cho Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam kiêm Chỉ huy trưởng chiến dịch, Bí thư Đảng ủy Mặt trận Điện Biên Phủ, trước khi lên đường ra trận. Người nhấn mạnh: Trận này phải thắng, không chắc thắng không đánh, chắc thắng mới đánh. Giao cho Đại tướng “toàn quyền tướng quân tại ngoại” – có nghĩa là trong tình huống khẩn cấp, người chỉ huy có toàn quyền quyết định, trên cơ sở đã bàn bạc trao đổi tập thể, sau đó báo cáo với Bộ Chính trị, với Chủ tịch Hồ Chí Minh những việc hệ trọng liên quan đến sự thành bại của trận đánh và kết quả cuối cùng phải là chắc thắng.

Những ngày đầu chuẩn bị chiến dịch, một bộ phận chỉ huy, tham mưu chiến dịch và Đoàn cố vấn Trung Quốc đi trước đã đề xuất phương án “Đánh nhanh, giải quyết nhanh”, nghĩa là dốc toàn lực đánh tiêu diệt tập đoàn cứ điểm của Pháp trong hai ngày, ba đêm, khi địch còn đứng chân chưa vững, đang xây dựng, củng cố trận địa. Tuy nhiên, tình hình đã thay đổi nhanh chóng. Bộ chỉ huy Pháp tăng cường cho Điện Biên Phủ thêm nhiều lực lượng, phương tiện, vũ khí, đồng thời gia cố hệ thống trận địa phòng ngự. Trong khi đó, hình thức phòng ngự cao nhất của Pháp là tập đoàn cứ điểm; bộ đội ta lại chưa quen đánh tập đoàn cứ điểm. Việc kéo pháo vào vị trí của bộ đội ta cũng gặp nhiều khó khăn và chậm so với thời gian quy định...

Với tinh thần thực sự cầu thị, căn cứ vào thực tế chiến trường, Đảng ủy Mặt trận đã họp, tranh luận và cuối cùng đi tới quyết định thay đổi phương châm tác chiến sang “Đánh chắc, tiến chắc”. Đây là một quyết định rất khó khăn vì toàn mặt trận đã chuẩn bị và sẵn sàng nổ súng theo phương châm “Đánh nhanh, giải quyết nhanh”. Thắng lợi của chiến dịch theo phương châm “Đánh chắc, tiến chắc” đã thể hiện rõ tính độc lập, tự chủ, tự lập, tự cường của Đảng ta, cụ thể là của Đảng ủy Mặt trận và Bộ chỉ huy chiến dịch. Khi thấy tình hình đã thay đổi, thì kiên quyết thay đổi cách đánh cho phù hợp - vẫn là nhằm thực hiện mục tiêu tiêu diệt hoàn toàn tập đoàn cứ điểm. Bài học này được Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp đánh giá là “bài học sâu sắc nhất về lãnh đạo, chỉ huy trong chiến dịch Điện Biên Phủ”. Kinh nghiệm từ đây chỉ ra rằng: Trước những vấn đề mới nảy sinh trong thực tiễn, cần hết sức bình tĩnh, không nóng vội, đánh giá tình hình cho sát đúng, kịp thời và thẳng thắn chỉ ra những sai lầm, khuyết điểm để khắc phục. Đó chính là phẩm chất cần có của người lãnh đạo, của người cộng sản chân chính.

Bài học đó đã góp phần giúp quân và dân ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và đang phát huy ý nghĩa và tác dụng trong tình hình hiện nay. Trong điều kiện đất nước vừa ra khỏi hàng thập kỷ bị chiến tranh tàn phá, hậu quả rất nặng nề, chúng ta bắt tay vào khôi phục, xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh thế giới chưa có mô hình, tiền lệ thành công để học hỏi, sự giúp đỡ, viện trợ quốc tế gần như không còn, điều đó đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta phải có quyết tâm cao, vững tin vào sức lực và khả năng của mình, tôn trọng thực tiễn và luôn sáng tạo, độc lập tự chủ về chủ trương, đường lối. Trong chính sách đối ngoại, trên cơ sở phát huy cao nhất tinh thần độc lập, tự chủ, cần hết sức tạo ra và tận dụng những thuận lợi và thời cơ mới để đối thoại, hợp tác, tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ từ bên ngoài, kết hợp với nguồn nội lực để tạo sức mạnh phát triển đất nước.

Bài học thứ ba là phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc, của toàn dân, của cả nước. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp nói chung, trong chiến dịch Điện Biên Phủ nói riêng, nhờ có đường lối đúng, chủ trương, chính sách phù hợp, Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã động viên được sức mạnh của cả nước vào kháng chiến. Chỉ riêng con số hơn 260.000 dân công tham gia phục vụ trong suốt 5 tháng, kể từ khi Bộ Chính trị quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ đến khi toàn thắng, từ các tỉnh Khu 4, đồng bằng Khu 3, miền núi Việt Bắc, Tây Bắc, đã nói lên tác dụng và hiệu quả của việc huy động toàn lực cho trận đánh quyết định. Đây là minh chứng có sức thuyết phục nhất cho việc Đảng ta huy động và phát huy được sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân. Có được điều đó chính là do Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã biết khơi dậy lòng yêu nước, quyết tâm chiến đấu ở mỗi người dân, và có chủ trương, chính sách đem lại quyền lợi thiết thực cho người dân.

Ngày nay, sức mạnh để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc vẫn là sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc, của toàn dân. Nghị quyết Đại hội IX của Đảng cũng đã nhấn mạnh ý nghĩa, tầm quan trọng của việc phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc. Để quan điểm xây dựng một nhà nước của dân, do dân và vì dân ngày càng thấm nhuần và trở thành hành động của các cấp ủy, bộ, ban, ngành trong bộ máy Đảng và Nhà nước, điều quan trọng là phải thực sự mở rộng dân chủ, lắng nghe ý kiến, nguyện vọng của nhân dân, tránh dân chủ hình thức. Mọi chủ trương, biện pháp, quyết sách lớn cần có sự đóng góp ý kiến, sự phản biện của người dân để đi đến sự nhất trí, đồng thuận, tạo nên sự tin tưởng, gắn bó chặt chẽ giữa nhân dân với Đảng, chính quyền, với chế độ xã hội.

Giữ vững được lòng dân, tạo được sự tin tưởng của nhân dân - đó chính là điều cốt yếu để giữ vững sự ổn định chính trị, tạo nên động lực và sức mạnh đưa công cuộc đổi mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đến thắng lợi. Đoàn kết các dân tộc anh em, đoàn kết giữa đồng bào trong nước với đồng bào định cư ở nước ngoài, làm thất bại âm mưu chia rẽ, phá hoại khối đoàn kết dân tộc của các thế lực thù địch, thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với đồng bào các dân tộc, vùng sâu, vùng xa về phát triển kinh tế, văn hóa và đời sống... vừa là phương hướng, vừa là hành động cần nghiêm túc thực hiện nhằm tạo được sự hậu thuẫn của mọi tầng lớp nhân dân trong xây dựng và phát triển đất nước hiện nay./.  
(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H. 2000, tr 261, 266 

Nguyễn Mạnh Hà - Tạp chí Cộng sản


8. Công tác bảo đảm kỹ thuật trong chiến dịch Điện Biên Phủ Chuẩn bị chu đáo - một trong những yếu tố quyết định thắng lợi 

Theo Tạp chí Công an tỉnh Hải Dương

Điểm nổi bật trong công tác bảo đảm kỹ thuật (BĐKT) phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ-cuộc tiến công chiến lược với quy mô lớn diễn ra trong thời gian dài, địa bàn tác chiến ở xa hậu phương... là đã huy động được sức mạnh toàn dân. Đặc biệt, ngành kỹ thuật đã có sự chuẩn bị rất chu đáo, đồng thời nêu cao tính chủ động, sáng tạo trong suốt thời gian diễn ra chiến dịch để giành thắng lợi cuối cùng.

Chuẩn bị cho chiến dịch, cùng với 628 xe ô-tô vận tải, Trung ương Đảng và Chính phủ đã huy động lực lượng gồm hơn 260.000 dân công, hơn 20.000 xe đạp thồ, 17.000 ngựa thồ, hơn 4000 thuyền các loại... tham gia vận chuyển kịp thời hơn 1.458 tấn vũ khí, đạn cho chiến dịch. VKTBKT được Tổng cục Cung cấp hậu phương vận chuyển lên Ba Khe rồi giao cho Tổng cục Cung cấp tiền phương để vận chuyển lên Điện Biên Phủ. Để kịp thời phục vụ chiến đấu, các kho vũ khí đạn được bố trí hợp lý, bí mật, an toàn. Tổng kho được đặt ở hang đá Bản Lầu (Sơn La). Các kho trung tuyến, kho dã chiến đặt ở các vị trí gần đường, lợi dụng địa hình đồi núi, hang sâu. Các loại đạn dược được phân theo lô, loại và để ở từng hầm riêng biệt, vừa tiện cấp phát, vừa tiện kiểm tra, bảo quản. Thực hiện phương châm “đánh chắc, tiến chắc”, chiến dịch cần một lượng vũ khí trang bị rất lớn. Cục Quân khí phải huy động tất cả lượng dự trữ ở các kho. Đặc biệt, do tình hình khẩn trương, nhiều loại vũ khí nhận từ nguồn viện trợ không nhập về kho mà được gửi thẳng ra mặt trận.

Bộ đội nhồi bộc phá chuẩn bị đánh cụm cứ điểm Him Lam.
Ảnh tư liệu.

Việc tổ chức sửa chữa, bảo đảm xe ô tô vận chuyển phục vụ chiến dịch được tổ chức chu đáo. Ngành xe máy đã tổ chức một hệ thống sửa chữa từ hậu phương ra tiền tuyến. Hai xưởng ở hậu phương là Tiền Phong và Chiến Thắng có nhiệm vụ tập trung BĐKT cho các xe tham gia chiến dịch. Trên đường ra mặt trận, ta tổ chức xưởng sửa chữa AZ11 nhằm BĐKT cho các xe vận chuyển vũ khí trang bị từ hậu phương ra các kho trung tuyến. Ngành kỹ thuật còn tổ chức các đội sửa chữa lưu động gồm nhiều thợ giỏi sẵn sàng sửa chữa, BĐKT cho các xe bị hỏng hóc dọc đường.

Trong quá trình tiến công tiêu diệt địch, ngoài VKTBKT được chi viện từ hậu phương, ngay tại mặt trận, các cán bộ quân khí đã bám sát chiến trường sửa chữa, bảo đảm kịp thời vũ khí trang bị cho các đơn vị. Cán bộ, chiến sĩ ngành quân giới còn tích cực nghiên cứu, sáng chế ra nhiều vũ khí; chi tiết, phụ tùng thay thế, kịp thời sửa chữa súng pháo tại mặt trận. Đặc biệt, bộ đội công binh đã tự nghiên cứu chế tạo ngay tại trận địa khối bộc phá nặng 1000kg dùng để đánh đồi A1. Để giải quyết tình trạng thiếu đạn, nhất là đạn pháo 105mm, bên cạnh việc tổ chức tốt việc vận chuyển đạn từ hậu phương và sử dụng tiết kiệm đạn, các đơn vị kịp thời xử lý và đưa vào sử dụng các loại vũ khí, đạn chiến lợi phẩm. Khắc phục tình trạng thiếu xe, Tổng cục Cung cấp tiền phương có chủ trương “triệt để phát huy hiệu suất của xe, mượn xe của pháo”. Theo đó, phong trào giữ gìn xe tốt, chủ động sửa chữa nhanh xe hư hỏng được phát động. Các đơn vị được phép sử dụng một số xe của pháo (pháo đã vào trận địa kiên cố) để phục vụ nhiệm vụ vận tải… Quá trình chiến đấu, lực lượng bảo đảm thông tin đã tích cực bám sát đơn vị, kịp thời nối dây, sửa chữa, thay thế máy hỏng bảo đảm thông tin liên lạc thông suốt…

Điện Biên Phủ là chiến dịch tiến công địch phòng thủ. Những kinh nghiệm BĐKT trong chiến dịch, nhất là sự tích cực, chủ động trong công tác chuẩn bị đã được áp dụng thành công ở nhiều chiến dịch trong cuộc kháng chiến chống Mỹ sau này. Ngày nay, bài học kinh nghiệm đó vẫn còn nguyên giá trị.

Trong điều kiện chiến tranh công nghệ cao (nếu xảy ra), địch sẽ sử dụng nhiều loại vũ khí công nghệ cao có thể trinh sát, phát hiện từ xa trong cả điều kiện đêm tối, đồng thời có khả năng tiến công chính xác với cường độ cao. Mặt khác, quân đội ta cũng được trang bị các loại VKTBKT ngày càng hiện đại như không quân, tên lửa, pháo binh, tăng-thiết giáp… Trong bối cảnh ấy, tiến công địch phòng thủ là quá trình tiến công tổng lực có sự tham gia của nhiều quân, binh chủng, nhiều loại VKTBKT hiện đại. Do vậy công tác BĐKT cũng đa dạng và khó khăn hơn.

Công tác BĐKT phục vụ chiến đấu tiến công trong điều kiện chiến tranh công nghệ cao đòi hỏi phải có sự chuẩn bị thật sự chu đáo, kỹ lưỡng ngay từ giai đoạn chuẩn bị chiến dịch. Phải tổ chức bảo đảm đầy đủ VKTBKT, chú trọng nâng cao hệ số kỹ thuật trước khi bước vào mỗi trận đánh. Làm tốt việc tạo nguồn vật tư kỹ thuật dự phòng theo trang bị và theo đơn vị để chủ động trong bảo đảm. Phải tổ chức được lực lượng sửa chữa mang tính tổng hợp cao để có đủ khả năng sửa chữa hiệu quả các loại VKTBKT tích hợp nhiều công nghệ hiện đại. Khả năng cơ động của các cơ sở kỹ thuật, kho tàng, trạm xưởng, đội sửa chữa… cũng cần được nâng cao để tránh sự tiến công bằng hỏa lực chính xác của đối phương. Mặt khác, từ bài học thành công trong BĐKT phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ cho thấy cần phải làm tốt việc huy động sức mạnh toàn dân, động viên lực lượng tại chỗ tham gia công tác BĐKT. Theo đó, cần phải tiếp tục tổ chức xây dựng các trạm sửa chữa, lực lượng sửa chữa, kho tàng kỹ thuật… trên các khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố ngay từ thời bình một cách khoa học; tổ chức tốt lực lượng động viên công nghiệp trong công tác BĐKT…


9. Quyết định khó khăn nhất trong đời chỉ huy của Đại tướng Võ Nguyên Giáp


Nguyễn Hưng
"Hơn chục ngày đêm suy nghĩ để theo dõi tình hình trước quyết định, Đại tướng hầu như không ngủ được. Ông suy nghĩ liên miên đến mức đầu bốc hỏa bừng bừng, làm cho đồng chí y sĩ phải buộc nắm ngải cứu lên trán cho nhẹ bớt. Về sau, Đại tướng có kể lại việc này trong cuốn "Điện Biên Phủ - điểm hẹn lịch sử" ở chương "Quyết định khó khăn". Và tôi biết, đây là quyết định khó khăn nhất trong đời chỉ huy của ông." Trung tướng Phạm Hồng Cư kể về quyết định có tính chất bước ngoặt của chiến dịch Điện Biên. Bài đăng trên trang VnExpress 

Trong căn phòng làm việc rộng chưa tới 6m2, Trung tướng Phạm Hồng Cư say sưa kể, vẽ sơ đồ chiến dịch Điện Biên Phủ. Chốc chốc, vị tướng đã ngoài 80 phải ngừng lại lấy sức. 

- Thực dân Pháp đã có sự chuẩn bị và tổ chức rất kỹ lưỡng với mục tiêu lôi kéo quân chủ lực của ta vào trận địa Điện Biên Phủ để tiêu diệt. Tại sao nắm rõ ý đồ của địch mà quân ta vẫn quyết đánh, thưa trung tướng?



Đại tướng Võ Nguyên Giáp báo cáo về chiến dịch Điện Biên Phủ. Ảnh tư liệu. 

- Việc xây dựng "tập đoàn cứ điểm" ở Điện Biên Phủ là hình thức cuối cùng của Pháp nhằm chống lại quân Việt Minh sau những thất bại liên tiếp trên chiến trường. Có 2 lý do khiến quân ta quyết tâm đánh và tiêu diệt cứ điểm Điện Biên. Thứ nhất, với kế hoạch này, thực dân Pháp đặt ta vào thế buộc phải đánh. Nếu không, địch sẽ dần chiếm lại những địa bàn mà ta hi sinh bao nhiêu xương máu giành giật được trước đó. Thứ hai, toàn Đảng, toàn quân ta lúc đó xác định, muốn thắng lợi trong cuộc kháng chiến thì chỉ bằng cách tiêu diệt được tập đoàn cứ điểm, tạo cán cân có lợi trên bàn đàm phán Geneva.

Tuy được nhiều chuyên gia quân sự đánh giá bất khả xâm phạm nhưng việc Pháp xây dựng cứ điểm ở Tây Bắc lại chính là thời cơ cho ta. Với đặc điểm là một lòng chảo nằm biệt lập trên vùng núi cao Tây Bắc, nếu bao vây và cắt được đường tiếp tế hàng không, Điện Biên Phủ sẽ bị cô lập. Lúc đó, quân ta hoàn toàn có khả năng tiêu diệt cứ điểm này. Thực ra, nếu có một Điện Biên Phủ ở đồng bằng, tình thế sẽ khó khăn hơn cho quân ta nhiều. Sau khi nhận định rõ tình hình, Bộ Chính trị và Bác Hồ đã hạ quyết tâm phải đánh.

- Suốt nhiều tháng trời chúng ta xây dựng phương án "đánh nhanh thắng nhanh". Vậy tại sao đến thời điểm quyết định, 50.000 quân đã dàn trận, đạn đã lên nòng chỉ chờ hiệu lệnh tấn công, ta lại chuyển sang "đánh chắc thắng chắc"?

- Ban đầu chúng ta vạch ra kế hoạch "đánh nhanh", nghĩa là lợi dụng lúc quân địch đứng chân chưa vững ập vào tấn công cả 4 mặt và có một mũi thọc sâu. Đây là gọi là "oa tâm chiến thuật", đánh thẳng vào trung tâm - sở chỉ huy của tướng De Castries. Vào thời điểm thay đổi phương án, kế hoạch "đánh nhanh thắng nhanh" đã được chuẩn bị sẵn sàng.

Tuy nhiên, sau khi thị sát nắm rõ tình hình thực địa, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã quyết định thay đổi. Lý do là đánh nhanh không chắc thắng. Chỉ trong thời gian ngắn, địch đã tăng cường không phải là lâm thời phòng ngự nữa mà đã trở thành tập đoàn cứ điểm kiên cố. Trong khi đó, trình độ thực tế của bộ đội Việt Nam lúc bấy giờ chưa thể áp dụng được cách đánh nhanh thắng nhanh.


Hàng chục khẩu pháo vượt đèo lôi suối sẵn sàng nhả đạn đã được rút trở ra sau khi phương án tấn công thay đổi. Ảnh tư liệu. 

Hơn nữa, lực lượng của ta xây dựng trong những năm kháng chiến, lúc đó bước vào năm thứ 8 mới có sáu đại đoàn, trừ Đại đoàn 320 ở đồng bằng và Đại đoàn 325 ở Trung bộ, còn lại bốn đại đoàn bộ binh 304, 308, 312, 316 tập trung hết ở Điện Biên Phủ và một Đại đoàn công pháo mới thành lập, lúc này ta được chi viện 24 khẩu pháo 105 và 24 khẩu cao xạ. Toàn bộ chủ lực xây dựng trong 8 năm kháng chiến đều dồn hết vào trận đánh này. Nếu trận này ta thua thì coi như hết vốn.

- Khi thay đổi cách đánh vào thời khắc cuối cùng đó, chắc hẳn áp lực sẽ là rất lớn đối với người ra quyết định?

- Đây là một quyết định dũng cảm và sáng suốt. Đại tướng gần như đã đi ngược lại quan điểm của cố vấn nước bạn và Đảng ủy lúc đó. Ông dám nghĩ, dám quyết định và dám chịu trách nhiệm.

Theo tôi, đưa ra quyết định này trước hết bắt nguồn từ lời dặn, cũng là tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh. Trước khi lên đường ra mặt trận, Bác dặn Đại tướng: "Trận này rất quan trọng, chắc thắng thì đánh, không chắc thắng thì không đánh". Các nhà sử học sau này bình luận, lời dặn của Bác rất có ý nghĩa bởi thời điểm lúc đó sắp họp hội nghị Geneva, nếu thắng trận này sẽ tác động lớn đến tình hình và hội nghị.

Tôi biết, hơn chục ngày đêm suy nghĩ để theo dõi tình hình trước quyết định, Đại tướng hầu như không ngủ được. Ông suy nghĩ liên miên đến mức đầu bốc hỏa bừng bừng, làm cho đồng chí y sĩ phải buộc nắm ngải cứu lên trán cho nhẹ bớt. Về sau, Đại tướng có kể lại việc này trong cuốn "Điện Biên Phủ - điểm hẹn lịch sử" ở chương "Quyết định khó khăn". Và tôi biết, đây là quyết định khó khăn nhất trong đời chỉ huy của ông.

- Với thay đổi như vậy, các vấn đề khác như lương thực, vận chuyển vũ khí... được xử lý như thế nào?

- Đây là điểm thể hiện rõ nhất tính chất của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, một cuộc chiến tranh nhân dân. Toàn bộ sức dân gần như đã được huy động vào thời điểm đó. Vùng tự do Thanh Hóa, Thái Bình... hay bà con ở Tây Bắc đã vét sạch gạo, ngô cho bộ đội, đến nỗi trong nhà không còn một hạt. Hàng vạn người dân đi dân công hỏa tuyến, hỗ trợ đắc lực cho bộ đội ta...

Quả thực, nếu không có sức dân, chiến dịch không thể nào tiến hành chứ chưa nói đến việc giành thắng lợi.



Với Trung tướng Phạm Hồng Cư, Đại tướng Võ Nguyên Giáp là người anh cả mẫu mực của Quân đội nhân dân Việt Nam. Ảnh: Nguyễn Hưng. 

- Theo ông, nếu lúc đó Đại tướng Võ Nguyên Giáp không thuyết phục được cố vấn, Đảng ủy và kế hoạch "đánh nhanh" vẫn được thực hiện thì liệu kết quả trận đó như thế nào?

- (cười) Nói một cách dễ hiểu, nếu vẫn theo phương án ban đầu, thế hệ tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ như chúng tôi chắc không còn ai sống đến ngày hôm nay. Với hỏa lực mạnh và thế trận chủ động phòng ngự của địch, nếu cố đánh nhanh, giải quyết nhanh thì chúng ta sẽ gánh lấy kết cục bi thảm. Điện Biên Phủ sẽ trở thành cái "cối xay thịt" thực sự với quân ta. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp chưa biết lúc nào mới kết thúc.

Sau này, nhân dịp 10 kỷ niệm chiến thắng Điện Biên Phủ, một số tư lệnh đại đoàn mới dám bày tỏ với với Đại tướng Võ Nguyên Giáp ý nghĩ của mình. Đại đoàn trưởng 312 Lê Trọng Tấn nói rằng, nếu không có quyết định chuyển phương châm ngày đó thì phần lớn chúng tôi không có mặt trong kháng chiến chống Mỹ. Còn đại đoàn trưởng 308 Vương Thừa Vũ bộc bạch: "Tôi nghĩ, nếu lần đó cứ đánh nhanh, giải quyết nhanh thì cuộc kháng chiến có thể phải kéo dài thêm 10 năm".

- Vậy theo ông, điểm mấu chốt làm nên thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ là gì?

- Các nhà nghiên cứu đưa ra nhiều yếu tố dẫn đến thắng lợi lịch sử này như sự đoàn kết toàn dân, đoàn kết quốc tế... Nhưng tất cả đều đồng ý với nhau ở một điểm, yếu tố quyết định chính là cách đánh, là phương án "đánh chắc thắng chắc" mà ta kịp thời áp dụng. Nói một cách chính xác thì điểm mấu chốt nằm ở quyết định thay đổi khó khăn của Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

- Là một trong không nhiều những nhân chứng còn lại của chiến dịch Điện Biên Phủ, điều gì khiến ông cảm nhận rõ nhất cho đến ngày hôm nay?

- Bất cứ người cựu chiến binh nào đến dịp kỷ niệm như thế này đều trào dâng niềm vui, phấn khởi và cả nỗi nhớ. Như tôi, những ngày này, tôi nhớ người anh trai hi sinh ngay trước khi ta bắt sống tướng De Castries chỉ vài giờ, nhớ những gương mặt đồng đội đã không còn... Một niềm vui chiến thắng đi liền với nỗi đau mất mát. Chiến tranh là thế...

Sinh năm 1926, lúc tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ, trung tướng Phạm Hồng Cư là Phó chính ủy Trung đoàn 36 thuộc Đại đoàn 308, trấn giữ cánh đồng phía tây Điện Biên. Ông cũng vinh dự được tham gia vào chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975 với tư cách Cục trưởng Cục Văn hoá, Phái viên Tổng cục Chính trị. 
  10. Nghệ thuật vây hãm kết hợp đột phá trong chiến dịch Điện Biên Phủ

QĐND - Sau những thất bại liên tục trong chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954, kế hoạch Na-va nguy cơ bị phá sản, tháng 12-1953, Na-va quyết định rút lực lượng khỏi Lai Châu về Điện Biên Phủ, đồng thời gấp rút tăng cường lực lượng, phương tiện chiến tranh xây dựng Điện Biên Phủ thành tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương, nhằm ngăn chặn lực lượng của ta từ Đồng bằng Bắc Bộ lên và khống chế lực l­ượng từ Thư­ợng Lào xuống, thu hút lực lượng ta lên giao chiến theo quy ­ước mà Pháp đã tính sẵn.

Về phía ta, sau khi phân tích tình hình Bộ Chính trị, Trung ương Đảng quyết định tập trung lực lượng mở chiến dịch tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, đánh bại hình thức phòng ngự cao nhất của địch, giành thắng lợi quyết định cho chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954, giải phóng toàn bộ Tây Bắc. Thực hiện quyết tâm của Bộ Chính trị, ta mở Chiến dịch Điện Biên Phủ. Sau 55 ngày đêm chiến đấu dũng cảm (từ 13-3 đến 7-5-1954), quân và dân ta đã đập tan toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, giành thắng lợi quyết định dẫn đến Pháp buộc phải ký Hiệp định Giơ-ne-vơ lập lại hòa bình ở miền Bắc Việt Nam

Chiến dịch Điện Biên Phủ thắng lợi đã thể hiện sâu sắc nghệ thuật phát huy sức mạnh của tác chiến hiệp đồng binh chủng, tập trung ưu thế binh hỏa lực tiêu diệt từng bộ phận sinh lực địch, phá vỡ từng mảng phòng ngự, tiến tới tiêu diệt toàn bộ quân địch. Đó là nghệ thuật vận dụng linh hoạt các hình thức chiến thuật, chủ động khắc phục khó khăn bảo đảm hậu cần kỹ thuật… Một trong những điển hình là nghệ thuật thực hiện cách đánh hiểm, nhằm phát huy thế mạnh của ta, khoét sâu chỗ yếu của địch.

Tại Điện Biên Phủ, địch bố trí 49 cứ điểm, khoanh thành 8 cụm cứ điểm, được chia thành 3 phân khu: Trung tâm, Bắc và Nam, mỗi cứ điểm, phân khu vừa có sức đề kháng độc lập, vừa có thế chi viện hỗ trợ cho nhau khi bị tiến công. Để đánh bại tập đoàn phòng ngự của địch với quân số đông, hỏa lực mạnh, hệ thống trận địa phòng ngự liên hoàn vững chắc và rộng lớn, ta đã thay đổi phương châm “từ đánh nhanh, thắng nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc” với cách đánh sáng tạo. Trong chiến dịch, ta dựa vào hệ thống trận địa, thực hành vây hãm kết hợp với đột phá lần lượt có trọng điểm từ ngoài vào trong; kết hợp đánh chính diện với các mũi thọc sâu, luồn sâu, tạo thế chia cắt; kết hợp các đợt đánh lớn và thường xuyên vây lấn ngày càng siết chặt vòng vây từng cụm cứ điểm và tập đoàn cứ điểm, chia cắt thế trận liên hoàn của chúng, tiêu diệt từng bộ phận, làm suy yếu, tạo thời cơ thực hành tổng công kích tiêu diệt toàn bộ quân địch.

Ngay từ tháng 12-1953, ta đã thực hành bao vây địch về chiến dịch, chốt trên các ngả đường Lai Châu - Điện Biên, Tuần Giáo - Điện Biên, Điện Biên - Sốp Nao, Thượng Lào; chốt chặn cả hai đầu con đường độc đạo Bắc-Nam dọc cánh đồng Mường Thanh, từ Bản Tấu đến Pom Lót, đào hàng trăm ki-lô-mét giao thông hào và công sự bao quanh phân khu, ngày càng siết chặt tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, khống chế không phận, triệt đường tiếp tế của địch.

Trong chiến dịch, ta mở ba đợt tiến công. Đợt 1 từ ngày 13-3 đến 17-3-1954, ta tiến công địch ở phân khu phía Bắc, đã tiêu diệt 2 cứ điểm đồi Độc Lập, Him Lam, làm tan rã địch ở Bản Kéo, phá vỡ hệ thống phòng ngự của địch ở phía Bắc, đưa chủ lực ta áp sát trung tâm tập đoàn cứ điểm Mường Thanh. Chuẩn bị cho đợt tiến công tiếp theo, các lực lượng của ta thực hành vây lấn, đào hàng trăm cây số giao thông hào và chiến hào, hình thành một thế trận bao vây vững chắc và tiến công hoàn chỉnh, quy mô từ cấp đại đoàn đến các đại đội và ngày càng phát triển vào khu trung tâm Mường Thanh siết chặt yết hầu quân địch, cắt rời từng cứ điểm, cụm cứ điểm quân địch. Trong quá trình thực hành vây lấn, kết hợp với đột phá đánh chiếm từng cứ điểm, cụm cứ điểm, ta tổ chức lực lượng đột phá trên chính diện, bên sườn, sử dụng các phân đội thọc sâu đánh chiếm các mục tiêu bên trong, tạo thành thế xen kẽ với địch. Đợt 2 từ ngày 30-3 đến 30-4-1954, các đại đoàn chủ lực của ta tiến công một số điểm cao ở phía đông và phía bắc sân bay Mường Thanh và một số điểm cao khác. Sau khi ta làm chủ một số điểm cao D1, D2, E, 311, 106…, để tạo điều kiện phát triển vào khu trung tâm Mường Thanh, Bộ chỉ huy chiến dịch chủ trương tổ chức các lực lượng nhỏ, hoạt động rộng rãi dưới hình thức đánh lấn, lần lượt đánh chiếm từng ụ đề kháng, tiêu diệt thêm một số vị trí của địch, tổ chức các đội dũng sĩ luồn sâu vào bên trong đánh phá kho tàng, bắt tù binh, tập kích các vị trí địch. Ta còn tổ chức các tổ bắn tỉa, tổ đoạt dù tiếp tế, những đội hỏa lực cơ động hoạt động rộng khắp, thường xuyên tiêu hao sát thương sinh lực địch, làm cho chúng luôn lo sợ, căng thẳng, tinh thần suy sụp, tuyệt vọng. Đồng thời, ta cơ động một số phân đội hỏa lực phòng không tiến sâu vào cánh đồng Mường Thanh khống chế không phận, sử dụng các loại hỏa lực bắn máy bay địch bay thấp, buộc chúng phải thả dù từ độ cao xuống nên không chính xác, phần lớn số dù tiếp tế rơi vào trận địa của ta. Từ trung tuần tháng 4-1954, ta đã từng bước làm thay đổi cục diện chiến trường, sân bay Mường Thanh bị ta cắt đứt từ hai hướng đông và tây, tiến đến hoàn toàn khống chế sân bay, khu trung tâm đã nằm trong tầm bắn các loại súng của ta. Đợt 3 từ ngày 1-5 đến 7-5-1954, ta tiếp tục phát triển trận địa bao vây tiến công, chia cắt, thu hẹp khu trung tâm Mường Thanh của địch còn khoảng 2km2, các đại đoàn 308, 312, 316 lần lượt tiêu diệt các cứ điểm C1, 505, 505A, 311A, 311B, C2, A1. Ngày 7-5-1954 ta thực hành tổng công kích, đúng 17 giờ 30 phút ta chiếm sở chỉ huy của địch, tướng Đờ Cát cùng toàn bộ Bộ tham mưu và binh lính tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ ra hàng.

Thắng lợi của Chiến dịch Điện Biên Phủ, nghệ thuật thực hiện cách đánh vây hãm kết hợp với đột phá vẫn còn nguyên giá trị, chúng ta tiếp tục nghiên cứu, kế thừa và phát triển. Vận dụng bài học Chiến dịch Điện Biên Phủ vào tổ chức trong tác chiến phòng thủ, xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân trong điều kiện mới có ý nghĩa đặc biệt trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Đại tá Đào Văn Đệ

11. Điện Biên Phủ và bản lĩnh Võ Nguyên Giáp: Quyết định lịch sử của Đại tướng

Pháo binh đã vào vị trí, các đại đoàn đều có mặt ở tuyến xung phong, nhưng Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã quyết định hoãn trận đánh, dù biết rằng sẽ tác động đến tinh thần bộ đội. Đây thực sự là lúc thể hiện bản lĩnh của một nhà cầm quân lớn.

Kế hoạch bị lộ

"Tôi nhận thấy phải cho các đơn vị rút khỏi trận địa để nghiên cứu một cách đánh khác dù bộ đội có thắc mắc. Phải chuyển từ phương án "đánh nhanh thắng nhanh" sang "đánh chắc tiến chắc", Đại tướng hồi tưởng (Tổng tập Hồi ký, Sđd, tr.924, 925).

Cần nói thêm, mặc dù ta đã kéo hết pháo vào trận địa, nhưng ngày dự định nổ súng (chiều 25.1.1954) được quyết định lùi thêm 24 tiếng nữa, lý do là một chiến sĩ của ta bị địch bắt trước đó, sợ khai ra giờ nổ súng. Sau này, trong quá trình đọc các sách, hồi ký của phía Pháp, chúng tôi thấy đối phương đã nắm rõ ngày, giờ nổ súng của ta.




Về việc này, ông Lê Trọng Nghĩa, nguyên Cục trưởng Cục Quân báo trong thời gian diễn ra chiến dịch, kể lại: "Đêm 22.1, tôi nhận được tin "Địch biết rất rõ kế hoạch của ta đánh Điện Biên Phủ". Sáng 23.1, sau khi tập hợp tin tức tình báo cả đêm, tôi đến trực tiếp báo cáo với Tổng tư lệnh về việc địch đã có được kế hoạch cụ thể của ta, đánh ở đâu, ngày giờ nào, cách đánh như thế nào. Việc làm của tôi là rất nguy hiểm, vì trong kỷ luật chiến trường, khi Bộ Tổng tư lệnh đã hạ quyết tâm, khi mệnh lệnh đã ban ra thì ở dưới nhất nhất thi hành, cấm tất cả các tướng sĩ không được nói khác đi, làm người chỉ huy nao núng.

Đại tướng nghe báo cáo, không phải đã tin ngay. Một cái rất đặc biệt là ông ra lệnh kiểm tra lại tin này. Trực tiếp tôi phải xác định lại tin này, không được qua báo cáo nữa... Ông Giáp cũng trực tiếp xuống tận lán của tình báo kỹ thuật, yêu cầu nguồn thu được tin địch biết động thái của ta giải thích. Trong các chiến dịch lớn, không bao giờ Tổng tư lệnh lại đi kiểm tra trực tiếp một chuyện nhỏ như thế. Tôi ra sát Điện Biên Phủ, dùng ống nhòm và tai nghe để kiểm tra tình hình, thấy nó vẫn đang nhảy dù xuống. Lúc bấy giờ các tướng lĩnh đã được phái đi đốc chiến hết, ở sở chỉ huy chẳng còn mấy người. Đến chiều, tôi tổng hợp và báo cáo lại Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Tôi lại khẳng định là địch biết rất rõ kế hoạch của ta và có kế hoạch cụ thể để đối phó... Tôi cứ nhấn mạnh về việc kế hoạch của ta đã bị lộ, Đại tướng không kết luận gì, chỉ nói: "Báo cáo thế là được rồi", nhưng ra lệnh cho tôi không được báo tin đó với bất kỳ ai, nhất là với cố vấn. Các ông cố vấn vẫn luôn xuống chỗ tôi hỏi han tình hình" (Chuyện những người làm nên lịch sử, NXB Chính trị quốc gia, H, 2009, tr.68).

Lui quân

Đại tá Hoàng Minh Phương kể lại: "Sáng 26.1, Đại tướng cho liên lạc gọi tôi lên gặp lúc 5 giờ. Lên đến nơi, thấy ông quấn đầu, ngồi trầm ngâm bên bàn tre. Tôi hỏi: "Anh nhức đầu hay sao mà quấn ngải cứu?". Ông nói: "11 ngày đêm qua mình trăn trở, suốt đêm qua không ngủ, chiều nay trận đánh bắt đầu, nhưng những yếu tố thắng lợi không nắm chắc". Ông bảo tôi báo với Trưởng đoàn cố vấn Vi Quốc Thanh là ông sang làm việc sớm".

Cuộc làm việc sáng sớm ngày 26.1 với ông Vi Quốc Thanh được Đại tướng nhớ lại: "Ông Vi Quốc Thanh ngạc nhiên nhìn nắm ngải cứu trên trán tôi. Đồng chí ân cần hỏi thăm sức khỏe, rồi nói: Trận đánh sắp bắt đầu. Đề nghị Võ Tổng cho biết tình hình tới lúc này ra sao? Tôi đáp: Đó cũng là vấn đề tôi muốn trao đổi với đồng chí Trưởng đoàn. Qua theo dõi tình hình, tôi cho rằng địch không còn trong trạng thái lâm thời phòng ngự, mà đã trở thành một tập đoàn cứ điểm phòng ngự kiên cố. Vì vậy không thể đánh theo kế hoạch đã định... Tôi nói tiếp ba khó khăn lớn của bộ đội, rồi kết luận:

- Nếu đánh là thất bại

- Vậy nên xử trí thế nào?

- Ý định của tôi là ra lệnh hoãn cuộc tiến công ngay chiều hôm nay, thu quân về vị trí tập kết, chuẩn bị lại theo phương châm "đánh chắc tiến chắc".

Sau giây lát suy nghĩ, đồng chí Vi nói: Tôi đồng ý với Võ Tổng, tôi sẽ làm công tác tư tưởng với các đồng chí trong đoàn cố vấn.

- Thời gian gấp. Tôi cần họp Đảng ủy để quyết định. Và đã có dự kiến cho 308 tiến về phía Luông Pha Băng, bộc lộ lực lượng chừng nào, kéo quân địch về hướng đó, không để chúng gây khó khăn khi quân ta kéo pháo ra...

Cuộc trao đổi giữa tôi với đồng chí Vi diễn ra khoảng hơn nửa giờ. Tôi nghĩ đồng chí Vi sẽ không dễ dàng thuyết phục các chuyên gia đã cho rằng chỉ có đánh nhanh thắng nhanh mới giành thắng lợi". (Tổng tập Hồi ký, Sđd, tr.925, 926).

Cuộc họp bất thường của Đảng ủy Mặt trận Điện Biên Phủ được triệu tập ngay sáng 26.1.1954, chỉ trước giờ dự định nổ súng chừng 10 tiếng đồng hồ. Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết: "Khi tôi quay về sở chỉ huy, các đồng chí trong Đảng ủy đã có mặt đông đủ. Tôi trình bày những suy nghĩ đã có từ lâu chung quanh cách đánh tập đoàn cứ điểm, những thay đổi quan trọng về phía địch từ sau hội nghị Thẩm Púa tới nay, ta vẫn giữ quyết tâm tiêu diệt địch ở Điện Biên Phủ, nhưng phải thay đổi cách đánh.

Mọi người im lặng một lúc. Anh Lê Liêm, Chủ nhiệm Chính trị, phát biểu:

- Đã động viên sâu rộng bộ đội về nhiệm vụ rồi, anh em đều rất tin tưởng, quyết tâm chiến đấu rất cao. Giờ nếu thay đổi thì giải thích cho bộ đội làm sao?

Anh Đặng Kim Giang, Chủ nhiệm Cung cấp, nói:

- Tôi thấy cứ giữ vững quyết tâm. Hậu cần chuẩn bị tới bây giờ đã khó khăn. Nếu không đánh ngay, sau này lại càng không đánh được.

Tôi nói: Tinh thần bộ đội là rất quan trọng, nhưng quyết tâm phải có cơ sở... Hậu cần là điều kiện tiên quyết, nhưng cuối cùng, quyết định là phải có cách đánh đúng.

Đồng chí Hoàng Văn Thái nói:

- Anh Văn cân nhắc cũng phải... Nhưng lần này ta có ưu thế về binh lực, pháo 105 và pháo cao xạ xuất hiện lần đầu sẽ tạo bất ngờ lớn, lại có kinh nghiệm của bạn, tôi thấy nếu đánh vẫn có khả năng giành thắng lợi.

Trao đổi một hồi chưa đi tới kết luận, cuộc họp tạm dừng một lát. Khi cuộc họp tiếp tục, tôi nói:

- Tình hình khẩn trương. Cần sớm có quyết định. Vô luận tình hình nào, chúng ta vẫn phải nắm nguyên tắc cao nhất là: Đánh chắc thắng. Trước khi tôi ra đi, Bác trao nhiệm vụ: "Trận này rất quan trọng, phải đánh cho thắng. Chắc thắng mới đánh, không chắc thắng không đánh". Với tinh thần trách nhiệm trước Bác và Bộ Chính trị, tôi đề nghị các đồng chí trả lời câu hỏi: "Nếu đánh có chắc thắng trăm phần trăm không?".

Anh Lê Liêm nói: Anh Văn nêu câu hỏi thật khó trả lời. Ai dám bảo là sẽ chắc thắng trăm phần trăm!

Anh Đặng Kim Giang nói tiếp: Làm sao dám đảm bảo như vậy!

Tôi nghĩ với trận này, ta phải đảm bảo chắc thắng trăm phần trăm.

Bây giờ anh Hoàng Văn Thái mới nói: Nếu yêu cầu chắc thắng trăm phần trăm thì khó...

Lát sau, Đảng ủy đi tới nhất trí là trận đánh có thể gặp nhiều khó khăn mà ta chưa có biện pháp cụ thể để khắc phục.

Tôi kết luận: Để đảm bảo nguyên tắc cao nhất là "đánh chắc thắng", cần chuyển phương châm tiêu diệt địch từ "Đánh nhanh thắng nhanh" sang "Đánh chắc tiến chắc". Nay quyết định hoãn cuộc tiến công. Ra lệnh cho bộ đội trên toàn tuyến lui về địa điểm tập kết, và kéo pháo ra. Công tác chính trị bảo đảm triệt để chấp hành mệnh lệnh lui quân như mệnh lệnh chiến đấu. Hậu cần chuyển sang chuẩn bị theo phương châm mới.

Sau đó, tôi phân công cho anh Hoàng Văn Thái ra lệnh cho các đơn vị bộ binh, tôi ra lệnh cho pháo binh và trao nhiệm vụ mới cho 308.

Tôi gọi điện thoại cho pháo binh: Tình hình địch đã thay đổi.

Quyết tâm tiêu diệt Trần Đình (bí danh của Điện Biên Phủ trong chiến dịch) vẫn giữ vững. Nay thay đổi cách đánh. Vì vậy, ra lệnh cho các đồng chí từ 17 giờ hôm nay, kéo pháo ra khỏi trận địa, lui về địa điểm tập kết, chuẩn bị lại. Triệt để chấp hành mệnh lệnh". (Tổng tập Hồi ký, Sđd, tr.927, 928).

Đại đoàn chủ công của đồng chí Vương Thừa Vũ cũng nhận được lệnh của Đại tướng nhanh chóng tiến sang hướng Luông Pha Băng (Lào) ngay 4 giờ chiều hôm đó, không được hỏi lý do hoãn nổ súng. Các chỉ huy đơn vị đều triệt để chấp hành mệnh lệnh. Đại tướng kể lại: "Tình hình lúc này không cho phép dùng điện đài báo cáo với Trung ương, ngay tối hôm đó tôi viết thư hỏa tốc đề nghị Bộ Chính trị và Bác cho chuyển sang phương châm "Đánh chắc tiến chắc" quyết giành thắng lợi nhưng chiến dịch sẽ phải kéo dài, cần khắc phục những khó khăn lớn về hậu cần. Đồng chí Nguyễn Công Dinh, một cán bộ tác chiến, được lệnh dùng chiếc xe Jeep duy nhất của cơ quan tham mưu, mang thư đi gấp suốt ngày đêm về khu căn cứ. Trong ngày hôm đó, tôi đã thực hiện được một quyết định khó khăn nhất trong cuộc đời chỉ huy của mình". (Tổng tập Hồi ký, Sđd, tr.929).

Theo PGS-TS Nguyễn Mạnh Hà - Báo điện tử tỉnh Bạc Liêu


 

12. Người kiến tạo Sở chỉ huy Chiến dịch Điện Biên Phủ


Là thanh niên Hà Nội, con của một công chức ngành giao thông công chính, được gia đình cho học tại Trường trung học Văn Lang, ông Thành Xuân Thi đã sớm theo mặt trận Việt Minh, tham gia cướp chính quyền, gia nhập tự vệ chiến đấu trong những ngày thủ đô khói lửa rồi lên đường kháng chiến.

Sau khi tốt nghiệp khóa IV Trường Lục quân Trần Quốc Tuấn, ông được chuyển sang học khóa I của Trường Công binh Bộ Tổng tham mưu. Kể từ đây cuộc đời ông gắn với những công trình quân sự và điều đặc biệt ông là người đã tham gia xây dựng sở chỉ huy của các chiến dịch Biên giới, Trần Hưng Đạo, Hoàng Hoa Thám, Quang Trung - những chiến dịch lớn của quân đội ta trong thời kỳ phản công đánh Pháp.

Vinh dự cuộc đời quân ngũ lại đến với ông khi đơn vị do ông chỉ huy được tham gia xây dựng sở chỉ huy Chiến dịch Điện Biên Phủ, chiến dịch quyết định thắng lợi của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

Chúng tôi gặp ông vào một ngày đầu tháng 5 lịch sử tại số 18, ngách 21, ngõ 158 phố Ngọc Hà, Hà Nội. Đã ngoài tuổi bát tuần, nhưng ông vẫn còn giữ được vẻ nhanh nhẹn, những sự kiện xảy ra trong cuộc đời vẫn như nguyên vẹn trong ông. Ông dần dẫn chúng tôi quay lại với ký ức về những ngày đầu của Chiến dịch Điên Biên Phủ:

"Đầu năm 1953, Đại đội 250 thuộc Tiểu đoàn 333 công binh Bộ Tổng tham mưu do tôi làm đại đội trưởng được sáp nhập với đơn vị xây dựng khác, gọi là Đội 53 xây dựng ATK, thuộc Bộ Tổng tham mưu. Anh Nguyễn Kiêm Toàn, một công nhân xe lửa, cán bộ cấp tiểu đoàn thuộc Ban xây dựng căn cứ địa về làm đội trưởng. Đồng chí Nguyễn Trịnh Kiểm, quê Nước Hai, Cao Bằng, làm chính trị viên, tôi làm đội phó. Một hôm sau bữa cơm chiều của một ngày đầu đông 1953, đồng chí Toàn bảo tôi: "Tổng quân ủy đã quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ. Kỳ này cậu đi. Chiều mai cậu lên Cục Tác chiến nhận kế hoạch hành quân cùng đội tiền trạm. Báo cho Trung đội đồng chí Uẩn, Trung đội đồng chí Thốn chuẩn bị".

Vẫn như những lần trước, đội tiền trạm gồm các tổ trinh sát, tổ mộc, tổ rèn và có thêm tổ phá dỡ bom, đạn địch. Sau một cuộc hành quân đêm đi ngày nghỉ từ Việt Bắc sang Tây Bắc, đơn vị đã đến nơi tập kết ở cây số 62 đường Tuần Giáo, Điện Biên Phủ.

Tại đây, đội tiền trạm chia thành hai bộ phận, một đi làm sở chỉ huy chiến dịch ở Thẩm Púa và Nà Tấu. Còn tôi dẫn bộ phận còn lại đi Mường Phăng. Dựng sở chỉ huy ở phía đông chân núi Pú Đồn, nơi mà Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái cùng các chiến sĩ đi thị sát đã chọn địa điểm đặt đài quan sát.

Mường Phăng trong tiếng Thái có nghĩa là "bản lạnh", quanh năm có sương mây, khí hậu mát mẻ trong lành, cách Điện Biên Phủ 10km đường chim bay. Nơi đây rừng nguyên sinh rậm rạp, từ trên đỉnh núi cao 1.700m có thể quan sát trận địa của địch ở cánh đồng Mường Thanh. Trên đường hành quân vào vị trí cũng như khi từ Việt Bắc sang Tây Bắc, chúng tôi luôn phải tránh máy bay địch. Nhìn lên bầu trời Điện Biên, địch tiếp tục đổ quân và máy bay trinh sát thăm dò động tĩnh của quân ta càng thôi thúc chúng tôi quyết tâm phải xây dựng sở chỉ huy sao cho thật bí mật, an toàn, vững chắc.

Sau khi nhận vị trí, tôi cho đơn vị triển khai làm lán chỉ huy. Vẫn là những lán nhỏ như đã từng làm ở các chiến dịch trước. Vật liệu gồm cây, tre, luồng, lá móc, lá gồi sẵn có ở khu rừng. Ở giữa đặt một chiếc bàn đủ rộng để trải bản đồ. Hai bên là hai chiếc ghế dài, mặt ghế là những cây vầu bổ đôi. Hai đầu lán bố trí hai giát giường dành cho chỉ huy và chiến sĩ cảnh vệ. Lán nằm kín dưới tán rừng, vào mùa xuân hoa lan nở, đưa mùi hương thoang thoảng. Tiếp đó chúng tôi làm lán cho các đơn vị dọc theo con suối dưới chân đồi. Ngày 31/1/1954, sở chỉ huy chiến dịch đã chuyển từ Nà Tấu vào Mường Phăng.

Điều quan trọng nhất là tìm vị trí để đào hầm cho anh Văn, anh Thái và cố vấn. Các chiến dịch trước hầm được làm đơn giản, chỉ chống được đạn pháo cối của địch, nhưng đây là chiến dịch lớn, phải có hầm hào chắc chắn. Khi bộ phận làm lán đã bắt đầu san nền dựng cột, chất đất lộ ra, tôi nhận thấy đất ở đây cũng tương tự như đất ở núi Hồng, căn cứ địa Tân Trào, nơi chúng tôi đã đào nhiều hầm hào. Tôi chợt nghĩ, có thể ứng dụng cách làm đường hầm của Chính phủ ở núi Hồng, Tân Trào được không? Rồi chỉ thị tổ đo đạc chọn và dọn mặt cắt khẩu độ để đào đường hầm cho Tổng tư lệnh và Tham mưu trưởng chiến dịch.

Mới đầu khoét thành hàm ếch để thăm dò. Đào sâu 2m rồi 3m không thấy đất sụt và gặp đá tảng. Tôi cho mở rộng khẩu độ đoạn đã đào. Một cuộc trao đổi dân chủ đã đi đến quyết tâm đào đường hầm xuyên sơn. Gần trăm con người gồm lực lượng của Đội 53 và của Đại đội Cảnh vệ 425 do đồng chí Đỗ Hải phụ trách thay nhau đào liên tục. Những kinh nghiệm của việc đào hầm ở chân núi Hồng trước đây được đem ra áp dụng. Rất may có đồng chí Đinh Văn Điền, trước đây từng làm thợ mỏ cũng rất có kinh nghiệm trong việc đào hầm.

Thấy anh em làm việc vất vả, Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái đã chỉ thị hậu cần tăng khẩu phần ăn cho các chiến sĩ để đường hầm mau chóng hoàn thành. Vào một buổi sáng Tổng Tư lệnh đến thăm, chia cho mỗi người một điếu thuốc mang theo từ hội nghị về. Anh nói: Phương châm của chúng ta là đánh chắc tiến chắc, nếu các cậu làm thật chắc chắn, vững vàng thì chỉ xong cái hầm này là ta thắng. Nếu không phải đào vài ba cái nữa".

Ông Thành Xuân Thi (thứ tư từ phải sang) cùng đồng đội trở lại thăm Sở chỉ huy Mường Phăng.

Đường hầm được đào cả hai phía từ đông và tây và thông nhau giữa lòng đồi. Cứ 5m lại chống cây rừng và kê đòn tay đỡ trần hầm. Càng vào sâu càng thiếu ánh sáng, phải khoét những hốc sâu để đèn dầu. Hơi người, hơi dầu thật ngột ngạt, do thiếu dưỡng khí nên cứ 25 đến 40 phút lại thay ca một lần.

Ngoài cuốc xẻng, chúng tôi không có một công cụ nào khác. Thiếu thước lấy tay ướm từng gang để làm chừng, lấy dây buộc viên sỏi làm quả dọi, lấy ống bương, ống tiêm làm thủy bình… Tính toán thể nào để nối liền hai cửa hầm là một vấn đề lớn. Mặt đồi không bằng phẳng, cây cối lại che lấp tầm nhìn…

Để giải quyết vấn đề này, chúng tôi đã quan sát kỹ mặt đồi, tìm ra cách lấy đường thẳng ngắn nhất giữa hai cửa hầm, nơi chúng tôi đã cắm hai cột chuẩn. Dùng dây rừng buộc cố định hai cột chuẩn này rồi kéo về hướng đỉnh đồi. Từ giữa đỉnh đồi chúng tôi cắm cọc xác định vị trí rồi từ đó điều chỉnh cho ba cọc thẳng hàng với nhau.

Tuy vậy, khi đào sâu vào 20m, việc định hướng để thông nhau cũng không hề dễ dàng. Trong điều kiện không có la bàn. Các chiến sĩ áp tai vào vách để lắng nghe âm thanh dội về từ phía bên kia. Nhưng chỉ khi cách nhau 10m mới áp dụng được phương pháp này. Sau khi phát hiện đào lệch về tay phải gần 1m, các chiến sĩ quyết định chuyển sang hướng mới.

Tiếp tục đào dũi, tiếng thình thịch của cuốc xẻng ngày càng gần. Tất cả các chiến sĩ dồn sức mạnh, phá vỡ khoảng đất còn lại. Khi khoảng trống lộ ra. Qua ánh sáng lờ mờ của không gian chật hẹp, hai nhóm chiến sĩ ào sang ôm chầm lấy nhau reo hò vang dậy cả đường hầm. Vậy là sau 28 ngày lao động liên tục, khi bàn tay các chiến sĩ đã phồng rộp chai sần, những chiếc xẻng mòn vẹt như hình trăng khuyết, chúng tôi đã hoàn thành đường hầm chiều dài 69m, cao 1,7m, rộng từ 1 đến 3m. Chỗ chệch hướng được sửa thành một phòng họp có diện tích 18m2 có lỗ thông hơi.

Đường hầm không chỉ là nơi trú ẩn mà còn là nơi nghỉ ngơi, làm việc trong những lúc cần thiết, vì vậy các chiến sĩ phải đào thêm một số ngách phụ nữa cho bộ phận thông tin. Đường hầm của sở chỉ huy đã hình thành, đây là thành quả của tập thể đơn vị Đội 53 xây dựng ATK và Đại đội Cảnh vệ 425. Trong quá trình thi công, anh em đã có sáng kiến đan phên nứa lót lá cây để chống thấm dột, đào rãnh và hố bên vách hầm để thoát nước, ghìm phên vào vách hầm để chống sụt, nền được lát các thân cây rừng có đường kính khoảng 10cm, liên kết với nhau bằng những đinh cầu hết sức chắc chắn…

Đường hầm chính thức được sử dụng từ ngày 15/4/1954, giữa đợt tấn công thứ 2 đang diễn ra hết sức quyết liệt. Sau đó chúng tôi còn được lệnh đào thêm một đường hầm mới để chuyển cơ quan. Nhưng khi vừa phát quang, dọn chỗ thì nhận được tin bắt sống tướng Đờcát, chiến dịch Điện Biên phủ đã toàn thắng"



13. Trả lại tên cho người cắm cờ trên cứ điểm Him Lam
1

QĐND - Đại tá Trịnh Thanh Phi, nguyên Đoàn trưởng Đoàn kịch nói Quân đội, từng đọc nhiều kịch bản viết về đề tài Điện Biên Phủ và phát hiện ra một chuyện đặc biệt: ở quê ông, có người thương binh nặng từng cắm lá cờ “Quyết chiến, quyết thắng” được Bác Hồ tặng đơn vị trên cứ điểm Him Lam nhưng sử sách lại chưa ghi đúng điều này.

 “Người hùng” của làng

Ông Phi kể chuyện: Năm 2002, với chức danh là Đoàn trưởng Đoàn kịch nói Quân đội, do yêu cầu chuẩn bị kịch bản đề tài về Điện Biên Phủ cho Đoàn, tôi đã tìm đọc nhiều sách báo viết về Chiến dịch Điện Biên Phủ. Nhờ đó, tôi biết thêm về lịch sử Đại đoàn 312, đơn vị của anh thương binh Nguyễn Hữu Oanh quê tôi, người đã tham gia chiến đấu trong Chiến dịch Điện Biên Phủ.  Làng tôi ở xã Yên Trung, huyện Yên Định -Thanh Hóa, cạnh nhà tôi có anh Nguyễn Hữu Oanh thương binh nặng hạng 1/4, bị mù hai mắt, cụt tay trái vì bị vướng mìn địch khi anh tham gia chiến đấu. Hòa bình, anh Oanh về quê và lấy chị Nguyễn Thị Thanh làm vợ…

Đại tá Trịnh Thanh Phi (đứng đầu từ phải sang trái) và Trung tướng Trần Linh (đứng thứ ba từ phải sang trái) cùng gia đình ông Nguyễn Hữu Oanh.

Nhà bà Thanh ở cạnh bãi cỏ mênh mông bên bờ sông Cầu Chày, nơi ngày bé lũ trẻ cùng lứa với ông Phi thường đến chăn trâu. Chính vì sự xuất hiện hằng ngày của người thương binh đeo chiếc kính đen to che mắt, tay cầm cây gậy dò đường, trên ngực áo đeo lấp lánh chiếc huy hiệu “Chiến sĩ Điện Biên” ngày đó đã tạo nên sức hút rất mạnh cho lũ trẻ chăn trâu trong làng. Được nghe người thương binh kể lại chuyện chiến đấu đánh cứ điểm Him Lam, bọn trẻ trong làng lấy làm tự hào và hãnh diện về quê hương mình có một người lính chiến đấu dũng cảm và cắm được lá cờ trên nóc lô cốt địch tại cứ điểm Him Lam.

Phát hiện ghi chép sai

Trong thời gian tham gia dàn dựng vở kịch về Điện Biên Phủ, ông Phi đọc cuốn “Lịch sử Sư đoàn 312” và nhiều sách khác ghi lại sự kiện trận đánh cứ điểm Him Lam ngày 13-3-1954, đều thấy ghi chép là người Tiểu đội trưởng xung kích nhảy lên nóc lô cốt địch và cắm cờ là Trần Oanh.

Đối chiếu với chuyện kể người thương binh ở quê mình, ông thấy có người thật việc thật rõ ràng. Tại sao sách “Lịch sử Sư đoàn 312” lại ghi tên người cắm cờ là Trần Oanh! Từ trước đến nay, ông Phi và dân làng vẫn tin chắc rằng, người cắm cờ cứ điểm Him Lam là ông thương binh mù hai mắt Nguyễn Hữu Oanh người quê mình. ông nghĩ, mình phải có trách nhiệm, góp phần vào việc làm rõ sự thật.

Đầu năm 2002, ông Phi tìm đến nhà vợ chồng ông Oanh và bà Thanh, hỏi lại chuyện trận đánh cứ điểm Him Lam ngày ấy. Với giọng nói xúc động, ông Oanh kể lại: “Tôi thuộc Tiểu đội 1, Trung đội 4, Đại đội 243, Tiểu đoàn 11, Trung đoàn 141, Đại đoàn 312. Trưa ngày 13-3-1954, trước khi hành quân chiếm lĩnh trận địa đánh trận mở màn chiến dịch, Chi bộ Đại đội 243 họp công bố quyết định công nhận tôi là đảng viên chính thức. Người chính trị viên Tiểu đoàn 11 khi đánh trận Him Lam thời ấy, nay là Trung tướng Trần Linh, nguyên Phó tư lệnh Chính trị Bộ đội Biên phòng…”.

Ông Phi đã tìm gặp được Trung tướng Trần Linh và được xác nhận thông tin trên hoàn toàn đúng sự thật. Đến năm 2004, ông Phi và Trung tướng Trần Linh thống nhất, đến báo tin cho gia đình ông Nguyễn Hữu Oanh biết về việc ghi chép tên ông Oanh không chính xác trong sách “Lịch sử Sư đoàn 312”. ông Phi mang theo cuốn sách “Lịch sử Sư đoàn 312” do NXB Quân đội nhân dân in năm 2000, đọc lại đoạn ghi chép về trận đánh Him Lam cho ông Oanh nghe. Khi nghe hết đoạn đó, ông Oanh ngồi lặng người đi và sau đó nhẹ nhàng nói: “Các chú sáng mắt, các chú đọc được. Tôi mù, tôi không đọc được. Chuyện về tiểu đội xung kích, sách sử ghi thế là đúng, nhưng tên người thì lại ghi sai! Mình là người thực tham gia trong trận đánh, nhưng không được ghi đúng tên. Tuy mình bị mù hai mắt, mất một cánh tay, nhưng vẫn còn may mắn hơn rất nhiều anh em khác đã hy sinh trong chiến dịch...”.

Nhờ Báo Quân đội nhân dân

Ngày 10-2-2007, do vết thương tái phát, thương binh Nguyễn Hữu Oanh đã từ trần. Trước khi đi xa, ông chỉ bộc bạch một điều giản dị: “Nếu có điều kiện, tôi đề nghị đơn vị ghi đúng tên trong cuốn sử vì Đại đội 243 đánh Him Lam không có ai tên là Trần Oanh!”.

Ông Phi lặng lẽ đi tìm tư liệu ở Thư viện Trung ương quân đội, ông tìm đọc sách, báo cũ viết về Điện Biên Phủ, hiện lưu trữ nhiều ở Thư viện Quân đội. Nhờ sự giúp đỡ nhiệt tình và có trách nhiệm của cán bộ và thủ thư, ông đã tìm thấy tập Báo Quân đội nhân dân năm 1950-1954. ông ngồi đọc, dò tra cẩn thận và sững người khi đọc tờ báo số 131 ra ngày 20 tháng 7năm 1954, trang 3 đã đăng bài viết về Đại hội mừng công Đại đoàn 312, kèm theo một bản danh sách Đại hội bầu được 13 Chiến sĩ thi đua của đại đoàn, trong đó có các anh hùng Trần Can, Phan Đình Giót và ở số thứ tự thứ tư có in tên: Nguyễn Hữu Oanh, Tiểu đội trưởng xung kích.

Ông còn tìm được tập san “Thành tích chiến sĩ thi đua Điện Biên Phủ chiến thắng” được phát hành trong dịp Đại hội mừng công toàn đoàn, trong đó có bài viết: “Nguyễn Hữu Oanh nêu cao lá cờ của Hồ Chủ tịch trên đồi Him Lam”. Có thêm những tài liệu rất quý này, ông Phi đã tìm gặp Trung tướng Trần Linh, đề nghị ông làm nhân chứng để làm hồ sơ đề nghị Đảng ủy, Chỉ huy Sư đoàn 312 xem xét và chỉnh sửa sai sót trên.

Tháng 7-2008, nhân dịp kỷ niệm 60 năm ngày truyền thống Tiểu đoàn 11-Tiểu đoàn Phủ Thông anh hùng -Ban liên lạc tiểu đoàn đã chỉnh sửa, ghi lại đúng tên Nguyễn Hữu Oanh trong sách “Lịch sử tiểu đoàn” theo ý kiến chỉ đạo của Trung tướng Trần Linh.

Ngày 3-12-2008, gia đình bà Nguyễn Thị Thanh nhận được Công văn số 327/CV-SĐ do Đại tá, Chính ủy Lương Đình Hồng ký, thông báo quyết định của Đảng ủy, Chỉ huy Sư đoàn về đính chính đoạn văn liên quan tới hành động chỉ huy, chiến đấu của đồng chí Nguyễn Hữu Oanh trong trận đánh Him Lam trong sách “Lịch Sư đoàn 312” trong cuốn “Lịch sử Sư đoàn 312”.

Bài và ảnh: Hoàng Hiển



Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954 của nhân Việt Nam đã làm tan vỡ một kế hoạch đầy tham vọng của quân viễn chinh Pháp tại Đông Dương, là chiến thắng của đỉnh cao trí tuệ Việt Nam.


 Sau gần 8 năm kháng chiến, nhân dân và quân đội ta đã từng bước đẩy giặc Pháp vào thế co cụm lại ở các vùng thành thị và một số vùng đồng bằng; vùng giải phóng và vùng tự do của cách mạng không ngừng được mở rộng. Để cứu vãn tình thế, mùa hè năm 1953, Chính phủ Pháp đã cử tướng Na Va sang làm tổng chi huy quân đội viễn chinh tại Đông Dương. Na Va đã đề ra một chiến lược nhằm dập tắt cuộc kháng chiến của nhân dân ta trong vòng 18 tháng, bằng việc tập trung một lực lượng cơ động lớn, tinh nhuệ với 84 tiểu đoàn để bình định đồng bằng Bắc Bộ, Bình Trị Thiên, Nam Trung Bộ, Nam Bộ, mở rộng vùng chiếm đóng, thu hẹp vùng tự do Liên khu 5 của ta...


Về phía ta, tuy càng đánh càng mạnh, nhưng cần phải đánh cho địch một đòn chí mạng, đi đến kết thúc cuộc chiến có lợi cho ta. Nhưng giành thắng lợi bằng cách nào, mở mặt trận nào chúng ta vẫn chưa xác định được. Tháng 10 năm 1953, Đại đoàn 316 được lệnh hành quân lên Tây Bắc để uy hiếp địch ở Lai Châu và Thượng Lào vừa để thăm dò phản ứng của địch. Ngay lập tức, quân Pháp đã cho 6 tiểu đoàn quân tinh nhuệ nhảy dù xuống Điện Biên Phủ, cộng với việc điều động các lực lượng ở các vùng phụ cận đã xây dựng nên một tập đoàn cử điểm lớn với hơn 10 tiểu đoàn lính, được trang bị hiên đại. Sau khi nghiên cứu tình hình, Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã quyết định mở chiến dịch tiêu diệt quân địch ở Điện Biên Phủ. Bên cạnh đó, chúng ta còn chủ trương mở nhiều mặt trận phụ ở các vùng miền núi trên toàn chiến trường Đông Dương nhằm phân tán lực lượng cơ động của địch, làm cho chúng từ thế mạnh, chuyển sang thế yếu. Theo chủ trương đó, trước khi chiến dịch Điện Biên Phủ khai cuộc, ta lần lượt mở các cuộc tấn công ở Lào và Tây Nguyên, làm cho các chiến trường trở nên sôi động trong chiến dịch Đông Xuân 1953 - 1954; bên cạnh đó, chiến tranh du kích được đẩy mạnh ở vùng đồng bằng Bắc Bộ và Nam Bộ. Trong thời gian này, trên cả nước, chúng ta đã tiêu diệt bức giặc rút khỏi hơn 3.000 đồn bót. Đến đầu năm 1954, các tiểu đoàn cơ động của địch còn không đầy một nửa, lại mất hết khả năng cơ động và phải tản ra để bảo vệ các đường giao thông quan trọng. Với những hoạt động này, chúng ta đã phá một phần rất quan trọng trong kế hoạch của Na Va.


Việc chọn Điện Biên Phủ làm điểm quyết chiến chiến lược trong chiến dịch Đông Xuân 1953 - 1954 đã thể hiện rõ trí tuệ Việt Nam trong chỉ đạo chiến tranh. Đó là về chiến lược. Còn về phương châm tác chiến, lúc đầu, bộ phần tiền phương của Bộ Chỉ huy chiến dịch đề ra là "đánh nhanh, thắng nhanh", thời điểm mở màn chiến dịch Điện Điên Phủ là tối ngày 26 tháng 1 năm 1954, và kết thúc chiến dịch trong một thời gian ngắn (một ngày, hai đêm). Nhưng khi nghiên cứu chiến trường, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã chuyển phương châm tác chiến thành "đánh chắc, tiến chắc". Mệnh lệnh hoãn cuộc tiến công, rút bộ đội khỏi các vị trí sẵn sàng xuất kích được ban ra chỉ vài giờ trước thời điểm khai hoả trận đánh và đã được chấp hành triệt để. Đây là một quyết định vô cùng quan trọng đã dòn đường cho chiến thắng Điện Biên Phủ, thể hiện tinh thần trách nhiệm rất cao của người chỉ huy và trí tuệ tuyệt vời của con người Việt Nam.


Sau gần hai tháng chuẩn bị thêm, ngày 13 tháng 3 năm 1954, bộ đội ta bắt đầu mở cuộc tiến công vào cứ điểm Him Lam ở ngọn đồi phía bắc và đã giành được thắng lợi trận đầu. Và cứ thế, theo phương châm "đánh chắc, tiến chắc", chúng ta lần lượt tiêu diệt phân khu Bắc, đánh vào các cứ điểm ở các ngọn đồi phía đông, uy hiếp, cô lập sân bay Mường Thanh... Sau 55 ngày đêm liên tục chiến đấu, mặc dầu địch điên cuồng chống, chúng ta đã giành thắng lợi hoàn toàn, tiêu diệt và bắt sống hơn 16 ngàn quân địch, bắt sống tướng Đờ-cát. Chiến thắng Điện Biên Phủ theo phương châm "đánh chắc, tiến chắc", một lần nữa đã chứng tỏ sức sáng tạo của trí tuệ Việt Nam.


 Trí tuệ Việt Nam không những được thể hiện rõ nét trong chiến thắng Chiến thắng Điện Biên Phủ thông qua chiến lược chiến tranh và phương châm tác chiến được hoạch định từ trung ương và cơ quan chỉ huy đầu não, mà còn phát huy một cách sáng tạo trong diễn biến cụ thể của cuộc chiến đấu, làm cho địch hết bị bất ngờ này đến bị bất ngờ khác. Chung quanh Điện Biên Phủ không có đường đi cho xe kéo pháo, để đưa được pháo 105 li vị trí chiến đấu, quân ta đã dùng sức người mở các con đường xuyên qua đồi núi. Cánh đồng Mường Thanh bằng phẳng, mênh mông, để tiếp cận địch và tiêu diệt chúng giữa ban ngày dưới sự uy hiếp của may bay và trọng pháo địch, quân ta đã sáng tạo nên trận địa tấn công. Đó là tổ chức cho bộ đội đào một hệ thống giao thông hào chi chít dài hàng trăm cây số, bao quanh các vị trí đóng quân của địch, hình thành một trận địa tiến công làm giảm thương vong cho ta trong chiến đấu. Trận địa này cứ ngày một phát triển, kéo dài, áp sát bao vây và chia cắt các vị trí của địch, triệt đường tiếp tế cứu viên và tạo cơ hội tốt để bộ đội tiến lên tổng công kích, đánh vào sở chỉ huy của địch. Bếp Hoàng Cầm, thuyền độc mộc, xe đạp thồ, v.v... trong công tác hậu cần là những sáng tạo của trí tuệ Việt Nam đã góp phần làm nên chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ.


58 năm đã qua đi, chiến thắng Điện Biên Phủ - chiến thắng của trí tuệ Việt Nam vẫn ngời sáng chân lý. Đó là thắng lợi của sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam, của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tài cầm quân của các tướng lĩnh Quân đội Nhân dân Việt Nam ngoài mặt trận; tinh thần quyết chiến, quyết thắng của các chiến sĩ; sự chi viện sức người sức của cho tiền tuyến của cả một hâu phương lớn. Tất cả những nhân tố đó được nhân lên bởi trí tuệ Việt Nam và đã làm nên thắng lợi vang dội bốn biển, năm châu, chấn động địa cầu. Và trí tuệ đó không ngừng được phát huy và giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và trong công cuộc xây dựng đất nước, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam thân yêu./.


                                    Đặng Vũ Quang

15. Tình báo Pháp trong chiến dịch Điện Biên Phủ


Lần đầu tiên tại Đông Dương, trong chiến dịch Điện Biên Phủ, tất cả các lực lượng tình báo Pháp cùng nhau phối hợp tác chiến. Nhiệm vụ của họ lần này không chỉ là tìm diệt các đơn vị du kích hay các lực lượng chính quy, mà còn xác định thông tin về hoạt động của đối phương.

Tình báo Pháp vốn có lợi thế hơn đối phương, và đây là lần đầu tiên, họ được sử dụng đầy đủ mọi phương tiện để phục vụ các hoạt động. Tướng De Castries, tổng chỉ huy các lực lượng không lục Pháp tại Điện Biên Phủ, có trong tay thông tin từ 2 nguồn: nguồn trực tiếp từ Phòng nhì Nhóm Tác chiến Tây Bắc (GONO)

GONO có nhiệm vụ khai thác các thông tin mà họ tiếp nhận được để làm thành các nguồn tin có ích cho tổng chỉ huy, theo dõi các đơn vị Việt Minh, xác định và nắm thông tin về các loại vũ khí được sử dụng, đặc biệt phải xác định càng chính xác càng tốt vị trí các đội du kích chiến đấu và ụ pháo. Tất cả những thông tin liên quan đến hoạt động và dự định của quân Việt Minh đều được đưa đến phòng nhì của lực lượng lục quân Bắc Việt Nam. GONO không có quyền quyết định trong mọi trường hợp, mà chỉ đóng vai trò là một đơn vị tham vấn.

GONO sử dụng rất nhiều nguồn nhân sự, gồm nhân viên tình báo, người đưa tin và một số thường dân (trong số 8.000-15.000 người không được sơ tán khỏi trận địa). Để thu thập được thông tin, phòng nhì có một "nguồn tài chính đặc biệt", ban đầu là 20.000 franc/tháng, đến cuối tháng 4 tăng lên 50.000 franc/tháng. Khoản này được chi cho các nhân viên tình báo và những người cung cấp thông tin, tuỳ theo giá trị thông tin mà họ cung cấp.

Những người cung cấp thông tin đóng giả làm phu và trà trộn vào các đơn vị. Tuy nhiên, rất hiếm khi họ cung cấp được số hiệu, mà chỉ đưa ra được số lượng binh lính, trang phục, dân tộc và loại vũ khí được sử dụng. Thông tin về ý đồ hoạt động của đối phương cũng rất hiếm. Đến tháng 2/1954, Việt Minh đề phòng nhiều, khiến những người cung cấp tin không hoạt động nổi nữa.

Một nguồn khác là lực lượng tình báo chuyên đi gặp gỡ tìm kiếm thông tin tại các khu vực chung quanh các cứ điểm. Nhóm này thu thập thông tin tù binh hay các tư liệu thu thập được.

Chỉ huy phòng nhì tại Điện Biên Phủ còn có thể có thông tin từ các đơn vị đặc biệt là Đơn vị Tình báo Tác chiến (SRO) và Nhóm đặc biệt bay hỗn hợp (GCMA), sau đổi tên thành Nhóm Can thiệp hỗn hợp (GMI).

SRO, có nhiệm vụ thu thập thông tin trong khu vực phi kiểm soát tại Đông Dương thông qua nhân viên tình báo, nằm dưới quyền của Tổng chỉ huy quân đội. GCMA, sau này là GMI, gồm những người địa phương đi theo Pháp. Cũng như các nguồn tin khác mà Pháp sử dụng, các nhóm dân tộc ít người và gia đình của họ không còn tác dụng sau khi các cứ điểm bị bao vây và trong giai đoạn đầu cuộc tổng tấn công.

Một nguồn thông tin dồi dào khác là do tù binh và quân đảo ngũ cung cấp. Đội ngũ này cung cấp rất nhiều tin tức quý giá về vị trí đóng quân của đối phương. Tuy vậy, số lượng tù binh và quân đảo ngũ rất thấp. Trong khi các trận đánh diễn ra, chỉ có khoảng hơn 10 lính Việt Minh đảo ngũ, trong khi quân Việt Minh có tới 50.000 người. Hơn nữa, không phải tất cả số lính đảo ngũ này đều quy hàng theo Pháp. Tù binh là một nguồn cung cấp thông tin quý, nhưng số lượng cũng rất ít. Thường tù binh cung cấp vị trí các đơn vị Việt Minh và đặc điểm nhận dạng.

Phòng nhì GONO cũng nắm các phương tiện đạn pháo. 5 đài quan sát của lực lượng tình báo pháo binh được thiết lập, trong đó 3 trạm quan sát pháo binh có tầm nhìn tốn nhất ở đồi Him Lam (phía đông), Độc Lập (phía bắc) và Bản Kéo (phía tây). Ngày 17/3/1954. 3 trạm quan sát tốt nhất này bị đánh gục. Chỉ còn lại 2 đài quan sát không quân (phụ) ở hầm chỉ huy và đồi Claudine.

Máy móc quan sát cùng các sĩ quan của lực lượng quan sát pháo binh không quân số 21 (GAOA 21) có nhiệm vụ xác định tất cả các dấu hiệu đào bới xây dựng hoặc lắp đặt ụ pháo. Hàng đêm, các sĩ quan GAOA 21 đứng từ trạm quan sát, cố gắng xác định vị trí đặt khẩu pháo của đối phương mà trước đó họ chưa xác định được.

Căn cứ không lục Điện Biên Phủ có 5-7 máy bay Morane 500 của GAOA 21, tuỳ thuộc vào nhu cầu và đơn vị bảo dưỡng. Nhiệm vụ của các phương tiện này thường bắt đầu lúc 10 giờ sáng, khi sương mù tan. Pháp sử dụng các phương tiện thăm dò này để bổ sung và hỗ trợ cho lực lượng lục quân. Ngoài ra, 2 chiếc F8F thuộc phi đội trinh sát hoạt động hỗ trợ.

Lực lượng tình báo từ bên ngoài gồm nhiều đơn vị, trong đó có lực lượng làm nhiệm vụ chụp ảnh trinh thám từ trên cao thuộc 2 phi đội đang hoạt động tại Đông Dương là EROM 80 và các máy bay Bearcat và phi đội Armagnac có các máy bay RB26. Những máy bay này có ưu thế hơn vì khả năng hoạt động độc lập, nhưng vào tháng 2/1954, chỉ có 4 phương tiện loại này. Chúng được sử dụng để chụp ảnh trinh thám và ít hoạt động được phía trên khu vực lòng chảo.

Chụp ảnh trinh thám có nhiệm vụ thăm dò và phát hiện các phương tiện của quân Việt Minh, theo dõi hành quân của các đơn vị, xác định kho và đường băng. Thông thường, các phi đội này khẳng định lại thông tin mà các nguồn khác đã có được. Mỗi ngày có 1-2 chuyến đi chụp ảnh trinh thám. Việc phóng và phân tích ảnh sẽ do lực lượng phân tích ảnh không quân (SIPA) đảm nhiệm tại căn cứ. Sau khi phân tích, báo cáo được gửi về phòng nhì FTNV và bản copy được gửi cho phòng nhì GONO.

Công việc trinh thám gặp nhiều khó khăn do địa hình tự nhiên và khí hậu của khu vực này. Các đỉnh núi có thể cao trên 1.000 mét gây khó khăn cho máy bay. Sương mù buổi sáng cũng che lấp các thung lũng, khiến việc chụp ảnh không thể thực hiện được. Những cơn mưa rào như trút nước trong mùa mưa vô hiệu hoá trinh thám. Vì vậy, có những ngày quân Pháp không chụp được một bức ảnh nào. Ngoài ra, rừng rậm nhiệt đới dày đặc đến tận độ cao 700 mét và rừng á nhiệt đới làm các quan sát từ máy bay không thể phát hiện được gì tại khu vực, trừ các đường băng và đường bộ. Thêm vào đó, nghệ thuật nguỵ trang tài tình của Việt Minh khiến ảnh trinh thám không thể phát hiện ra dấu vết gì khác ngoài các tuyến đường hay được sử dụng, các tuyến đường hay công sự mới mở. Bên cạnh đó, Việt Minh có các quy định chặt chẽ trong việc bảo mật nơi trú quân, không có một sơ hở nào. Để phát hiện sự nguỵ trang của đối phương, bộ chỉ huy Pháp cho thử nghiệm các phương tiện kỹ thuật mới như chụp ảnh bằng tia hồng ngoại.

Lực lượng không quân cũng được huy động, nhằm phát hiện tất cả các dấu hiệu nguỵ trang và trận địa pháo của quân Việt Minh. Phim chụp do Mỹ cung cấp với một chuyên gia phân tích người Mỹ có mặt tại chỗ - đại uý Hickey, thuộc lực lượng tình báo Mỹ. Các phi vụ này đã không đạt kết quả vì theo dự định, các phi vụ có nhiệm vụ phát hiện ra các chỗ nguỵ trang nhân tạo bằng cành cây. Nhưng trong rừng rậm, Việt Minh không cần chặt cây để nguỵ trang các kho hàng, đại bác hay các loại vũ khí khác. Tất cả được cất giấu dưới tán cây khiến Pháp không thể phát hiện ra.

Một nguồn thông tin từ xa khác nữa là thông tin kỹ thuật. Hệ thống kiểm soát vô tuyến điện gồm các phương tiện xác định phương bằng vô tuyến điện, hoạt động dự theo nguyên tắc 3 góc, trong đó có 2 điểm cố định và một điểm di động thường nằm trên một tàu thuỷ, xe tải hoặc máy bay. Máy bay định góc là phương tiện hiệu quả duy nhất để theo dõi việc chuyển quân của Việt Minh trong điều kiện địa hình hiểm trở.

Điểm yếu của hệ thống này là không có độ chính xác cao. Nó có thể phát huy tác dụng trong việc phát hiện chuyển quân cũng như xác định các hướng chuyển quân. Tuy nhiên, nó có thể nhầm lẫn kỹ thuật trong phạm vi khoảng 3 km bên ngoài khu vực đồng bằng và chỉ cung cấp được các vị trí áng chừng để dựa vào đó xác định đơn vị Việt Minh. Việc xác định cũng còn gặp khó khăn nữa vì bộ phận điện đài của Việt Minh thường nằm cách các cứ điểm 1-2 km. Điều đó có nghĩa chỉ có thể định vị tương đối trong phạm vi 3-5 km. Chính vì vậy, thông tin thu thập được vẫn cần phải thẩm định lại dựa vào các nguồn khác.

Nghe trộm và giải mã thông tin nghe được về Việt Minh do Hệ thống Kỹ thuật tìm kiếm đảm nhiệm. Đơn vị này có vai trò nghe tất cả các cuộc đàm thoại của Việt Minh và giải mã trong trường hợp chúng bị mã hoá. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, nghe trộm mang lại nhiều thông tin quý giá để theo dõi tình hình hậu cần bên phía Việt Minh. Chỉ có bộ phận này của Việt Minh là bị phát hiện mật mã. Tuy nhiên, do bộ phận tác chiến của Việt Minh sử dụng mật mã mới theo kiểu Trung Quốc nên phía Pháp đã không thể phá.

Đơn vị Kỹ thuật tìm kiếm (STR) giải mã phần lớn các cuộc đàm thoại của các ban chỉ huycác đại đoàn Việt Minh đã thu thập được. Nhưng một phần lớn thông tin cũng không thu được vì Việt Minh không có các phương tiện vô tuyến điện. Dù sao, thông tin thu được từ nghe trộm qua hệ thống vô tuyến điện cũng là nguồn chính của tình báo Pháp và trong chiến dịch Điện Biên Phủ, những thông tin đó đóng vai trò quan trọng.

Trên thực tế, trong chiến dịch Điện Biên Phủ, tình báo Pháp hay nghi ngờ. Các sĩ quan phụ trách thường thích nghe lời cấp dưới hoặc những người xung quanh, thay vì nghe các lý lẽ đúng đắn. Đó là một trong những nhân tố dẫn đến thất bại của họ ở Điện Biên Phủ.


16. Dư luận thế giới nói về chiến thắng Điện Biên Phủ

Về chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ của quân và dân ta, báo Sao Đỏ - Liên Xô ngày 8 tháng 5 năm 1954 viết: “Việc giải phóng tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ đã chứng tỏ sức mạnh của quân đội nhân dân Việt Nam và ý chí không gì lay chuyển nổi của nhân dân Việt Nam kiên quyết bảo vệ nền độc lập, tự do của mình”.

Trong cuộc mit-tinh kỉ niệm 10 năm chiến thắng Điện Biên Phủ ở La-ha-ba-na, đại diện Bộ Tổng tham mưu quân đội Cu-ba nói: “Điện Biên Phủ và Hi-rôn là những dòng chữ ghi đậm trên mồ chủ nghĩa đế quốc”.

Ngày 24-5-1954, ông U.Phao-xtơ, Chủ tịch Đảng Cộng sản Mỹ nói: “Điện Biên Phủ được giải phóng đã lộ rõ sự phá sản của chính sách của phố U-ôn hòng chinh phục các nước vùng Đông Nam Á. Tất cả những nhà tuyên truyền của đế quốc Mỹ không thể không thừa nhận sự phá sản nhục nhã của chính sách Đa-lét”.

Trong lời chào mừng của Trung ương Đảng Cộng sản Pháp nhân kỉ niệm 15 năm ngày thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, có đoạn: “Điện Biên Phủ là “nơi mà 80 năm cướp bóc của bọn thực dân đã bị kết liễu một cách đáng đời, nơi đó đánh dấu một chặng đường mới trên con đường giải phóng của các dân tộc châu Á, châu Phi, châu Mỹ”.

Báo Quân đội Nhân dân Bun-ga-ri ngày 7-5-1969 bình luận về sự kiện Điện Biên Phủ như sau: “Với thắng lợi giành được trong cuộc chiến đấu chống thực dân Pháp tại Điện Biên Phủ, quân và dân Việt Nam lần đầu tiên đã đánh bại chủ nghĩa đế quốc, trước hết là đế quốc Mỹ, thắng lợi đã chứng tỏ hùng hồn sức mạnh vô địch của nhân dân Việt Nam”.

Báo L’Observateur (Người quan sát) ra ngày 13-5-1954 viết: “... binh lính Pháp không thể chiến đấu được nữa, họ đã bị kiệt sức trong cuộc chiến đấu..., nếu người ta nói đến sự “thất thủ” của Điện Biên Phủ thì phải gọi đúng tên nó: Đó là một sự đầu hàng”.

Báo Com-bat (Chiến đấu) của Pháp ngày 8-5-1954 viết: “Trên toàn thế giới, việc thất thủ Điện Biên Phủ xuất hiện như một sự kiện hàng đầu trong những năm gần đây, làm cho những nước đồng minh phương Tây buồn rầu và những nước cộng sản vui mừng”.

Thủ tướng Anh Sớc-xin thực sự lo lắng, Điện Biên Phủ không những là tiếng pháo khởi đầu cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc trong hệ thống thuộc địa của Pháp, mà còn là tiếng pháo cổ vũ cả cuộc đấu tranh của các dân tộc thuộc địa của đế quốc Anh.

Giới hiếu chiến Mỹ lúc đó đã chính thức nêu ra yêu cầu Chính phủ Ai-xen-hao cho phép lực lượng không quân Mỹ ném bom vào Bắc Việt Nam, làm giảm sức ép Điện Biên Phủ và sau đó, sẽ tiến hành bất kể những biện pháp nào mà họ thấy là cần thiết để ủng hộ cho thực dân Pháp. Tuy nhiên, mưu đồ trả đũa của Mỹ đã gặp phải cản trở từ nhiều phía, trong đó có cả sức ép tâm lí nặng nề từ sự thất bại ở Điện Biên Phủ. Tổng thống Pháp Đờ Gôn cảnh báo: “Ngày hôm qua, người Mỹ các ngài muốn thay thế chúng tôi ở Đông Dương... Tôi báo trước cho các ngài biết rằng, các ngài sẽ từng bước lún sâu vào một bãi sình lầy không đáy, cả về quân sự lẫn chính trị”.

Những nhà chính trị và quân sự của nước Đức thì cho rằng, thất thủ của Pháp ở Điện Biên Phủ như một “Xta-lin-grat núi rừng”, và coi thất bại của quân Pháp ở Điện Biên Phủ tiêu biểu cho sự thất bại của cả phương Tây.

Mãi mãi Điện Biên Phủ là bản anh hùng ca vang dội của nhân dân Việt Nam, là niềm tự hào và nguồn cổ vũ lớn lao đối với các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới đấu tranh cho hoà bình độc lập, tự do.

Nguyễn Xuyến

17. Thảm bại của Pháp qua cái nhìn của nước ngoài


Việc lựa chọn lòng chảo Điện Biên làm căn cứ là sai lầm lớn nhất, biến nơi đây thành tử địa đối với quân Pháp

Thất bại của Pháp ở Điện Biên Phủ là một thất bại làm giảm uy tín của Pháp trong chiến tranh thuộc địa, khiến cho Pháp phải từ bỏ thuộc địa này ở Đông Dương - nơi mà Pháp đã bỏ nhiều công sức để giữ. Trận Điện Biên Phủ đồng thời làm thay đổi cục diện ở Đông Dương và lan rộng ra cả thế giới mấy chục năm sau, nhất là các thuộc địa của Pháp ở châu Phi.

Lá cờ Quyết Thắng tung bay trên nóc hầm De Castries ngày 7/5/1954

Nhiều nhà quân sự, chính trị, ngoại giao, nhà báo… nhiều tướng tá của cả bên thắng cũng như bên thua, những người trong cuộc cũng như những người quan sát… đều viết để đi tìm câu trả lời cuối cùng: Vì sao Pháp lại có thể thất bại cay đắng ở Điện Biên Phủ?

Lòng chảo Điện Biên - sự lựa chọn của những sai lầm

Điện Biên Phủ là một lòng chảo rộng 9km2, dài 16km2 trên vùng Tây Bắc của Việt Nam. Đó là nóc nhà của Đông Dương. Nơi đó có một vị thế chiến lược quan trọng có thể chế ngự được cả Đông Dương và một phần phía Nam Trung Quốc. Nhưng ban đầu cả H. Navare và Tướng Giáp đều chưa xác định chiến trường chính là thung lũng Điện Biên. Chỉ đến khi đánh hơi thấy một lực lượng lớn của Việt Minh di chuyển lên Tây Bắc, H. Navare mới quyết định biến Điện Biên Phủ thành nơi “nghiền nát chủ lực Việt Minh”.

Điện Biên Phủ đã được xây dựng thành một tập đoàn cứ điểm mạnh nhất lúc bấy giờ tại Đông Dương với quân số lúc cao nhất lên tới hơn 16.200 người. H. Navare đã nuôi ý đồ tiêu diệt quân chủ lực của Việt Minh tại đây hòng giành được chiến thắng trên toàn bộ chiến trường Đông Dương với các kế hoạch tiếp sau đó. Điện Biên Phủ đã được xây dựng để trở thành “một pháo đài bất khả chiến bại”, được coi như con “át chủ bài”, là “miếng mồi nhử” cho Tướng Giáp sa bẫy, dùng nó làm “cái cối xay thịt”. Nhưng vì sao một tập đoàn cứ điểm mạnh đến như vậy, với những binh đoàn cơ động thiện chiến nhất, được sự tăng viện của xe tăng và pháo binh và không quân mà đối phương không hề có lại trở thành tử địa đối với quân Pháp?

Việc đặt những tiểu đoàn cơ động trong một thế phòng ngự dưới một thung lũng bị bao vây bốn bề, chỉ có thể được chi viện bằng đường hàng không là một sai lầm lớn của những người chỉ đạo tại Đông Dương. Và cuối cùng, nó đã trở thành một nghĩa địa lớn của sỹ quan và binh lính Pháp, mặc dù họ đã cố gắng chiến đấu và chịu đựng những nỗi kinh hoàng ghê gớm cả về vật chất và tinh thần trong lịch sử chiến tranh hiện đại.

Mầm mống của những sai lầm

Sự phán đoán và đánh giá thấp đối phương là căn bệnh cố hữu của tướng tá và binh lính Pháp. Chẳng ai nghĩ rằng, Việt Minh có thể vận chuyển lên đây một khối lượng lớn những vũ khí hạng nặng như pháo 105, pháo cao xạ… với đạn pháo dồi dào, lương thực và xăng dầu đủ dùng trong nhiều tháng trên con đường 41 độc đạo mà máy bay ném bom quần thảo suốt ngày đêm.

Pháp đánh giá thấp đối phương trong việc vận chuyển lương thực và vũ khí bằng một sự tính toán rất khoa học của phương Tây. Rằng với một chiếc xe đạp thồ chỉ có thể chở được một khối lượng gấp 2 - 2,5 lần trọng lượng của người châu Á nhỏ bé. Tuy nhiên, dân công của Tướng Giáp với lực lượng hàng vạn người đã nâng khối lượng lên 10 - 12 lần. Đó là điều mà Pháp không thể nào ngờ được. Máy bay do thám của Pháp đã không thể phát hiện được gì khi những “lùm cây di động” ấy vẫn ùn ùn đi ngày đêm trong rừng già tiến về mặt trận.

Sự phá sản của hệ thống tình báo quân sự khi đánh giá thấp khả năng của đối thủ dẫn tới sự phá sản của cả kế hoạch tác chiến sau này. Đó là sự phán đoán và đánh giá sai về pháo binh và pháo phòng không của Việt Minh mà Tướng Giáp có thể đưa vào Điện Biên Phủ. Điều này được biểu hiện qua sự huênh hoang, kiêu ngạo và khiêu khích của Trung tá Piroth - Tư lệnh pháo binh, Chỉ huy phó tập đoàn cứ điểm khi tuyên bố: “Không một khẩu pháo nào của Việt Minh bắn đến phát thứ ba mà không bị phản pháo”, và rằng: “Pháo của tôi ở Điện Biên Phủ sợ không dùng tới hết”, hay: “Pháo của Việt Minh có thể gây chút ít phiền phức, nhưng các pháo thủ của tôi sẽ khiến cho họ phải câm họng”, hoặc: “Họ bắn ư? Tôi sẽ đội trên đầu tôi chiếc mũ calô đỏ này để họ nhìn cho rõ hơn…”.

Những tuyên bố này cũng dễ hiểu bởi suốt thời gian giao tranh trước đó, chưa hề thấy Tướng Giáp cho pháo hạng nặng 105 xuất trận. Và từ biên giới Trung Quốc đến Điện Biên Phủ, chưa một lần nào thấy dấu hiệu bị pháo hạng nặng của Việt Minh uy hiếp cả. Phía Pháp còn bắt được một “bản đồ trận địa pháo” của một tù binh Việt Minh, và từ trên không, họ dùng phim đen trắng, phim màu, phim hồng ngoại để kiểm tra nhưng không thấy có gì lạ.

Tướng tá Pháp nhận định, giả dụ Tướng Giáp đưa được lên đây vài khẩu pháo hạng nặng, ông ta có thể vác được bao nhiêu đạn? Liệu có đủ bắn trong mười phút đồng hồ hay không? Đó là những nhận định trước khi Việt Minh nổ súng.

Về nghệ thuật dùng pháo của quân đội viễn chinh Pháp, Piroth rất tin tưởng vào các pháo thủ của mình. Ông ta cũng tin tưởng rằng, không có người chỉ huy nào điên rồ tới mức đặt pháo trên sườn dốc 450 của lòng chảo Điện Biên như thế này để tấn công quân đội với lực lượng pháo binh mạnh trong đồn trú, ngoại trừ Napoleon. Và không biết liệu Tướng Giáp đã đọc, đã nghiên cứu cách đặt pháo của Napoleon hay chưa thì Piroth không quan tâm lắm.

Sau đợt bắn pháo chuẩn bị của Việt Minh và bị phản pháo, tướng tá Pháp vẫn vui đùa và cho rằng: “Ông Giáp chỉ có mấy khẩu pháo cổ lỗ hôm nay đem ra dùng và đã bị đập nát tan tành…”. Chỉ đến khi Việt Minh bắn dữ dội vào đội hình cứ điểm, người Pháp mới kinh hoàng nhận ra sai lầm của mình. Piroth đã phải đem cả tính mạng của mình ra để trả giá cho sự huênh hoang và coi thường đối thủ của mình.

Những rạn nứt từ trong nội bộ chỉ huy

H. Navare thay De Lattre de Tassigny, nhưng Tướng Cogny chỉ huy Bắc bộ không phục vì những ấn tượng với vị chỉ huy cũ, và luôn coi mình là đại diện duy nhất khả dĩ có thể để thay De Lattre, và cũng bởi Navarre quá trịch thượng với cấp dưới. Những cử chỉ và thái độ của Cogny khiến cho Navare nghĩ rằng,  ông ta không thực tâm hợp tác với mình. Và như thế, những báo cáo của Cogny về tình hình Việt Minh thường bị Navare bỏ qua. Navare tin vào mạng lưới mật thám của mình hơn tin vào người có nhiều hiểu biết về Việt Minh là Cogny. Chính vì vậy, khi tiến hành chiến dịch ở Điện Biên Phủ, Navare không nắm rõ đuợc tình hình thực chất về quân lực của Tướng Giáp.

Khi Điện Biên Phủ trong giai đoạn nguy ngập, mâu thuẫn nội bộ giữa hai vị chỉ huy gay gắt tới mức họ chỉ trao đổi với nhau bằng công văn dù chỉ cách nhau có một chiếc cầu thang trong một biệt thự ở bên cạnh Hồ Tây. Cùng với đó, sự không tin nhau giữa các tướng tá chỉ huy khác cũng là nguyên nhân để không nhận được những báo cáo chính xác về tình hình Điện Biên Phủ.

Dự đoán rằng, Tướng Giáp không đánh lớn ở Điện Biên Phủ cũng là một nguyên nhân. Các tướng tá Pháp không nghĩ rằng, Tướng Giáp lại có thể chỉ huy được một trận lớn như ở Điện Biên Phủ, với một số quân đông đảo đến vậy. Navare không tin cả chiến thuật của Tướng Giáp cũng như khả năng tiếp tế cho đạo quân hùng hậu hơn 40.600 người đang bao vây ở Điện Biên Phủ của Việt Minh trong điều kiện địa hình hiểm trở như vậy. Điều đó chỉ có quân Pháp với những ưu việt về không quân mới có thể làm đuợc.

Tướng tá Pháp ở Điện Biên Phủ - “những con chuột chỉ huy”

Từ khi Điện Biên Phủ trở thành “cái rọ” hứng đạn pháo của quân Việt Minh, điều rõ ràng với binh lính Pháp là De Castries không thích hợp để chỉ huy một tập đoàn cứ điểm như thế này. Vào thời điểm đó, De Castries gần như không làm việc gì mà chỉ giam mình trong hầm trú ẩn suốt ngày đêm dưới lòng đất, gần như không hề ló mặt ra để gặp gỡ các sỹ quan dưới quyền. Từ tổng kết chiến sự, đến mệnh lệnh, điều quân hành động đều giao cho 2 Phó chỉ huy tập đoàn là Lenken và Bigia. Việc của De Castries là ngồi nhẩm lại các mệnh lệnh của ông ta và báo cáo về Hà Nội.

Cả Navare và Cogny đều biết việc đó, nhưng Cogny thì coi đó không phải là việc “trực tiếp” của ông ta, còn Navare thì không hành động vì ông coi De Castries là “người hầu” của mình. Hơn nữa, dù có thay De Castries bằng ai đó thì cũng không thể nào cứu vẫn nổi tình thế đã tới mức quá mức nguy hiểm.

Chiều 7/5, vẫn cái giọng đanh gọn, De Castries gọi điện cho Cogny để xin rời bỏ căn cứ quan trọng bậc nhất này. Cogny đã đồng ý và dặn: “Vì danh dự của quân đội viễn chinh Pháp, không được kéo cờ trắng!”, nhưng cờ trắng vẫn mọc lên khắp nơi trên trận địa Điện Biên Phủ.

“Điện Biên Phủ đã thất bại”, khắp cả thế giới đã thốt lên những từ ấy. Nhiều người mừng vui, nhưng cũng lắm kẻ đau đầu. Đó là biểu hiện của chiến thắng không chỉ của một dân tộc, mà của cả các dân tộc bị áp bức, là biểu hiện của sự thắng lợi chung của các dân tộc thuộc địa.

Dù có lý do gì để trút bỏ trách nhiệm đi chăng nữa, việc các tướng chỉ huy quân đội Pháp đưa gần 2 vạn quân vào thung lũng lòng chảo Điện Biên, đó là một tội ác chính trị, nơi mà chỉ cần đến mùa mưa, quân Pháp không bị chết đuối thì cũng sẽ đầu hàng./.

Bùi Hữu Cường

Tài liệu tham khảo:

- Phan Ngọc Liên. Chiến thắng Điện Biên Phủ toàn thư. Nxb Từ Điển Bách Khoa. 2004.
- Davile – Lacantuya. Từ cuộc chiến tranh của người Pháp đến cuộc chiến tranh của người Mỹ. NXB Seul. Paris. 1969. trg68.
- Hoàng Minh Phương. Điện Biên Phủ - những trang vàng lịch sử. NXB Trẻ. 2004.
- R. Laffont. Dien Bien Phu – Un Coin D’enfer. Paris. 1968. (Điện Biên Phủ - Một góc của địa ngục.)
- Henry Navare. Agonie de L’indochine Plon. Paris. 1958 (Đông Dương hấp hối).
- Jean Renald. L’enfer de Dien Bien Phu. Flemmarion. Paris. 1955. (Địa ngục Điện Biên Phủ).
- Roy Jules. Labaill de Dien Bien Phu. Rene’ Jullcard. Paris. 1963. (Trận Điện Biên Phủ).
- Lê Huy Hoà. Điện Biên Phủ qua con mắt người nước ngoài. NXB Lao động. 2004.

18. Viên tướng Pháp muốn rắc tàn tro xác mình xuống lòng chảo Điện Biên Phủ
Đại tướng Marcel Bigeard.

Ngày 18/6/2010, Đại tướng Pháp Marcel Bigeard đã qua đời tại nhà riêng. Gia đình ông quyết định tuân theo di chúc của người quá cố: Rắc tro xác của ông xuống lòng chảo Điện Biên Phủ. Vì sao?

Sinh năm 1916 tại vùng Toul, Pháp, sang Việt Nam tham chiến giữa thập niên 40 của thế kỷ trước, Bigeard nguyên khởi đường binh nghiệp từ lính nhảy dù, vốn được coi là lực lượng thiện chiến nhất của quân đội viễn chinh Pháp.

Cuốn Lịch sử cách mạng Yên Bái, không cụ thể chi tiết, ghi nhận: Ngày 18/10/1952, quân Pháp nhảy dù xuống Tú Lệ nhằm ứng cứu cho Nghĩa Lộ bị thất thủ, đội du kích Cao Phạ đã phối hợp với bộ đội chủ lực của ta chốt chặn và chiến đấu quyết liệt với quân địch ở đèo Khau Phạ… Bigeard chính là viên sĩ quan đã thực hiện cuộc nhảy dù xuống vựa lúa nếp nổi tiếng, cánh đồng Tú Lệ, nhằm giải cứu cho lực lượng Pháp còn sót lại, sau thất bại thảm hại của Pháp tại Nghĩa Lộ, Văn Chấn. 

Thực sự, số quân Pháp trong chiến dịch này, đã không bị bộ đội Việt Namtiêu diệu hoàn toàn. Bigeard từ chỗ nhảy xuống Tú Lệ nhằm giải cứu, chuyển thành cầm cự rồi tháo lui cứu vãn lực lượng. Cuộc tháo chạy trong trùng điệp vòng vây của địa hình hiểm trở và lực lượng kháng chiến ViệtNam kéo dài hơn 100 cây số. Bigeard vượt qua được phục kích của du kích và quân chủ lực Việt Nam, qua được đèo Cao Phạ đầy nguy hiểm.

Với nhãn quan quân sự thuần tuý, đây là một sở đoản đáng khâm phục của Bigeard khi ở tư cách một sĩ quan chỉ huy phá vây. Điểm nhấn lịch sử cá nhân của ông và quân đội Pháp trong thất bại này, thực sự vừa là bi kịch của chiến tranh, vừa nói lên tính can trường của người lính Bigeard... Tỏ ra là một sĩ quan giàu kinh nghiệm chiến đấu, Bigeard cùng cánh tàn quân làm cuộc hành quân dài hơn 120 cây số.

120 cây số là đơn vị chiều dài không giản đơn, khi ông dẫn một đoàn quân tháo chạy, vừa bị đánh tơi bời, phải lui binh giữa vùng núi non hiểm trở, luôn bị đối phương bao vây bằng sức mạnh tổng hợp của bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương là người dân địa phương Yên Bái, những người vốn rất quen thuộc địa hình. Điều đó thực quả không hề dễ dàng thoát hiểm. Song Bigeard đã tổ chức cuộc rút lui khá an toàn tính mạng về phía Tây - Tây Bắc…

Sau cuộc tháo chạy thảm bại này của tiểu đoàn lính dù Pháp do Bigeard cầm quân, về phía kháng chiến quân Việt Nam là sự giải phóng hoàn toàn vùng Yên Bái, lấy đó làm khu hậu cần khổng lồ, đường tiếp vận chủ yếu cho chiến dịch Điện Biên Phủ ngay sau đó 1 năm.

Trên thao trường như trong chiến trận.

Song về phía Pháp, lại là cơ hội để giới chính trị sa-lon ở chính quốc và giới quân sự Đông Dương Pháp, lên dây cót cho tinh thần quân đội Pháp và lính đánh thuê Lê Dương đang hết sức lúng túng và bị động trước sự điều binh khiển tướng chiến lược của Việt Minh trên toàn chiến trường Đông Dương nói chung và trên mặt trận chính là miền Bắc Việt Nam. Bigeard lập tức được báo giới chính quốc bấy giờ thổi phồng, tuyên truyền, coi như việc tháo chạy khỏi Yên Bái như hành vi anh hùng của quân đội Pháp tại Đông Dương…

Nhưng quá khứ quan trọng nhất, có lẽ thực sự gây ám ảnh suốt đời Bigeard sau này, để ông về cuối đời đã 7 lần qua lại Việt Nam và xác lập nguyện vọng đốt xác, rắc nắm tro của ông xuống cánh đồng, lòng chảo Điện Biên Phủ, chính là nơi ông thực hiện cuộc nhảy dù cuối cùng trong chiến tranh tại Việt Nam, khi bộ đội Việt Nam đã khép chặt vòng vây và Điện Biên Phủ đang ở thời điểm giao tranh khốc liệt nhất trong chiến tranh Pháp - Việt và Bộ chỉ huy quân đội Pháp do Nava chỉ huy hết sức lúng túng, bị nhiều bất ngờ khi đối phó với các lực lượng quân sự chính quy của Việt Nam ở điểm trọng yếu này.

Phía Pháp phải ném vào lòng chảo đang ngun ngút khói lửa vị sĩ quan tài ba nhất của họ tại Đông Dương. Thiếu tá là cấp bậc của Bigeard trước khi ông nhảy dù xuống Điện Biên.

Hồi kí của nhiều nhân chứng Pháp và Việt, kể cả người của chính quyền bù nhìn Bảo Đại, hồi kí của chính Bigeard đều mô phỏng hết sức chi tiết và không khác nhau lắm về giai đoạn này. Đặc biệt ở lịch sử Yên Bái, tuy không ghi chi tiết về cá nhân sĩ quan Bigeard, song hồi kí của Đại tướng Võ Nguyên Giáp lại ghi nhận rõ từng thời kì, nhiều điểm cuộc đời binh nghiệp Bigeard.

Giai đoạn Bigeard chiến đấu tại Điện Biên, thực hiện cuộc nhảy dù với hai khẩu pháo 105 li và sau đó lập tức chiến đấu hết sức liều lĩnh, cùng lính dù Pháp và Thái do ông ta chỉ huy ngày 16-3-1954, để tăng cường và khích lệ lực lượng phòng thủ đã suy yếu, gần như tuyệt vọng. Hồi ký của Đại tướng Võ Nguyên Giáp ghi nhận sự xuất hiện của Bigeard đã mang lại một chút phấn chấn cho quân đồn trú...

Bigeard ngay sau khi nhảy dù được thăng cấp trung tá, lập tức chỉ huy lực lượng phản kích, gồm năm tiểu đoàn với sự yểm trợ của tối đa không quân và pháo binh. Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng ghi nhận ở hồi ký của ông về trận phản kích của Bigeard được quân viễn chinh coi là thắng lợi, một chiến thắng hầu như duy nhất tại Điện Biên Phủ trong suốt thời gian này.

Các nhà chiến lược quân sự Pháp hẳn có nhiều dụng tâm khi ở giai đoạn gay cấn nhất trên trận Điện Biên Phủ, lại thả con xe điều xuống Điện Biên, lò lửa Đông Dương này. Và đáng buồn thay, sự kiện trên - theo tài liệu của chính Lịch sử quân lực của chính quyền Sài Gòn ghi rằng: Đêm hôm 15 tháng 3 đã có một số binh sĩ Thái trốn khỏi cứ điểm, và vào ngày 17 tháng 3 đại bộ phận của Tiểu đoàn 3 Thái, một phần đào ngũ theo Việt Minh, một phần bỏ ngũ về với gia đình.

Mặc dù đã có Tiểu đoàn Dù thuộc địa số 6 dưới sự chỉ huy của Thiếu tá Marcel Bigeard, một sĩ quan thuộc loại cừ khôi vào bậc nhất của Pháp ở Đông Dương. Như vậy dù Bigeard có mặt, cũng không lên được dây cót cho một đội quân ở Điện Biên lâm vào cái thế không thể thay đổi, đã hoảng sợ trước sức mạnh như bão táp của các sư đoàn quân Việt Nam.

Bigeard đã bị bắt làm tù binh và sau năm 1954, đã được chính phủ Việt Nam trao trả cho chính phủ Pháp. Paris mặc dầu vậy vẫn đánh giá cao, thừa nhận, coi ông là sĩ quan có tài, nên lại tiếp tục ném Bigeard vào cuộc chiến mới tại Algeria, để ông tiếp tục bảo vệ quyền lợi của nhà nước thực dân Pháp.

Nhưng chính ông, ở hồi ký của mình, đã nhận ra rằng, mọi cố gắng khi đó, của ông và quân đội đồn trú ở Điện Biên chả có tính anh hùng ca bất tử. Sự hồi tưởng ám ảnh của Bigeard trên cánh đồng Mường Thanh năm đó, là sự thức tỉnh có tính giác ngộ, khi chính người anh hùng Bigeard đã coi chiến công này chỉ là: Ngọn lửa rơm (Bigeard, 1975, tr. 167).

Chỉ ba từ Ngọn lửa rơm, Bigeard đã nhìn ra sự thật, cái tất yếu của chiến cuộc, mà phần thắng không gì cưỡng nổi thuộc về người Việt. Chi tiết tự nhận ra bản chất thật ý nghĩa đời sống binh nghiệp này của Bigeard, phần nào lí giải cho ý nguyện của ông, khi năm 1988 quyết định ở di chúc: sau khi chết, tro bụi xác thân được rải xuống Điện Biên Phủ. Về nghĩa đen, tức là ông muốn xác ông quay lại nơi ông từng tham chiến. 

Nếu theo như truyền thống văn hoá Pháp và luật Pháp nước Pháp: là Đại tướng, Bigeard phải được danh dự tang lễ và chôn xác ở tổ quốc. Việc mong ước mang chính tro xác mình ra đi, ở hẳn nơi xứ người, có nghĩa là ông không chỉ trở về với nơi đã rút lui, bỏ lại hơn 100 xác chết mà còn là việc ông từ chối sự vinh danh mà nước Pháp dành cho ông, tức là chối bỏ điều ông tin tưởng ngày xưa.

Sự quay trở lại nơi ông đã từng đồng cam cộng khổ với đồng đội - theo cá nhân tôi, cũng là một người lính - còn là sự tự đánh giá hành vi cá nhân ở mỗi giai đoạn lịch sử mang tính ngộ (chữ theo ý nghĩa nhà Phật) thừa nhận một lần nữa, một cách khách quan nhất, tài năng địch thủ của ông, những người chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam.

Có câu “Con người sinh ra từ cát bụi lại trở về cát bụi”. Nhưng sự kiện Đại tướng bốn sao Marcel Bigeard, từng là cựu Thứ trưởng Quốc phòng (1975), với sở nguyện cuối cùng của mình (mà chính phủ Pháp ở quá khứ không muốn như ông di chúc - Tổng Thống Pháp Giscard d'Estaing trước kia khi được báo giới hỏi ý kiến về di chúc "rải tro" đã trả lời là không đồng ý).

Và, hôm nay, sau khi viên Đại tướng Marcel Bigeard qua đời, chính phủ Pháp là F. Fillon lại yên lặng trước quyết định của gia đình ông. Như vậy, hẳn thời đại, lịch sử thế giới đã và đang sang trang rất mới, trong đó con người ta, tuy không thể làm lại lịch sử, song có thể hàn gắn nó, những vết thương cũ của lịch sử còn lại, để cho các dân tộc tiến bộ trên địa cầu này có thể hiểu nhau mà xích lại gần nhau hơn nữa.

Nó cũng là lời cảnh báo cho các lực lượng hiếu chiến rằng, ở một thời điểm nào đó, ai có thể lừa bịp được dân chúng, đẩy họ đi vào các cuộc chiến trên thế mạnh về vật chất, song sự thật của lịch sử, thì không thể nào lừa bịp được các dân tộc, khi những chứng nhân có danh dự, lương tri sẽ có một ngày cất tiếng…

Sở cầu của viên Đại tướng Pháp hẳn trùng với câu ngạn ngữ của người Việt: Tiếng chim hót trước khi chết là tiếng chim khôn.



 Khánh Trình - Ban Chỉ huy quân sự tỉnh Thanh Hoá
(THO) - Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Thanh Hóa cùng với 2 tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh hợp thành hậu phương Thanh – Nghệ - Tĩnh, trong đó Thanh Hóa là địa đầu, là hậu phương lớn trực tiếp chiến đấu, phục vụ chiến đấu, chi viện sức người, sức của cho chiến trường Liên khu III, Bắc bộ và Tây Bắc.
Ngày 6-12-1953, Bộ Chính trị Trung ương Đảng thông qua quyết tâm mở Chiến dịch Điện Biên Phủ và cũng bắt đầu huy động lực lượng dồn sức cho chiến dịch lịch sử này. Đáp ứng yêu cầu của chiến dịch, Đảng bộ và nhân dân Thanh Hóa đã bổ sung nhiều đơn vị ra chiến trường như Tiểu đoàn 275 bộ đội địa phương tỉnh cho Trung đoàn 53, các Đại đội 150, 160 cho Tiểu đoàn 541 phòng không, 2 trung đội trinh sát cho Đại đoàn 304. Cùng với đó, Thanh Hóa còn điều động hàng ngàn cán bộ, chiến sĩ của Đại đội 128 bộ đội huyện Bá Thước, Đại đội 112 bộ đội huyện Tĩnh Gia, các đơn vị của Hoằng Hóa, Hà Trung, Quảng Xương, Thạch Thành cho các đơn vị tham gia chiến đấu tại Điện Biên Phủ.

Ngày 13-3-1954, bộ đội ta bắt đầu nổ súng tiêu diệt cứ điểm Him Lam và Độc Lập, mở màn Chiến dịch Điện Biên Phủ. Phối hợp với chiến trường chính Điện Biên Phủ, tại Nga Sơn, quân và dân Thanh Hóa ra sức đẩy mạnh tiến công quân sự để kìm chân tiêu diệt sinh lực địch. Các tổ dân vận, địch vận tăng cường tuyên truyền làm lung lay tinh thần và làm tan rã hàng ngũ địch.
Từ cuối tháng 3 đến đầu tháng 5-1954, tại Nga Sơn, các đơn vị bộ đội địa phương huyện phối hợp cùng dân quân du kích các xã Điền Hộ, Liên Sơn (thuộc các xã Nga Điền, Nga Liên, Nga Thái ngày nay)... khống chế tiêu diệt nhiều sinh lực địch, không cho chúng di chuyển quân bổ sung cho chiến trường Điện Biên Phủ. Ngày 5-5-1954, Đại đội 109 bộ đội địa phương huyện Nga Sơn cùng dân quân du kích thôn Chính Đại, xã Điền Hộ đánh chặn 4 đại đội địch khi chúng đang hành quân, diệt 29 tên, làm bị thương 17 tên...

Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, Thanh Hóa đã thể hiện rõ vai trò hậu phương chiến lược quan trọng, huy động 1 tiểu đoàn, 2 đại đội, 2 trung đội và hàng ngàn cán bộ, chiến sĩ trực tiếp tham gia chiến đấu, đồng thời cung cấp đầy đủ, kịp thời mọi yêu cầu về sức người, sức của phục vụ chiến dịch. Mở đầu đợt vận chuyển, Trung ương giao Thanh Hóa huy động và vận chuyển 1.352 tấn gạo (giao tại Hồi Xuân), 100 tấn thực phẩm (giao tại Sơn La). Đợt 2, đầu tháng 3-1954 Trung ương giao Thanh Hóa huy động và vận chuyển 1.000 tấn gạo và 165 tấn thực phẩm giao tại Km số 22 đường 41, Thanh Hóa hoàn thành trước thời hạn 3 ngày.

Khi chiến dịch chuyển sang giai đoạn kết thúc, do yêu cầu khẩn cấp của chiến trường, Trung ương giao Thanh Hóa huy động đợt 3 với chỉ tiêu 2.000 tấn gạo và 282 tấn thực phẩm. Lúc này thóc dự trữ của tỉnh không còn, mùa cũng chưa đến kỳ thu hoạch, nhân dân đã “dốc bồ, thổ thúng” cung cấp cho tiền tuyến những hạt thóc cuối cùng, nhiều gia đình phải ăn ngô non, khoai sắn thay cơm để dành gạo cho tiền tuyến.

Thực hiện quyết tâm của Trung ương, để có đủ lương thực cho bộ đội “ăn no đánh thắng”, tỉnh chủ trương huy động nhân dân ra đồng cắt tỉa từng dé lúa, bông lúa đã chín; kết quả được 5.000 tấn thóc cung cấp kịp thời cho mặt trận.

Vụ hè năm 1954, trên giao 28.000 tấn thóc thuế, Thanh Hóa đã huy động tới 34.927 tấn 44 kg, đồng thời huy động hàng vạn dân công và mọi phương tiện vận chuyển như xe đạp, ô tô, thuyền nan, thuyền ván, ngựa thồ vận chuyển lương thực cung cấp cho chiến trường. Những đoàn thuyền vượt hàng trăm thác ghềnh hiểm trở, tránh máy bay địch đánh phá, ngược dòng sông Mã, vận chuyển hàng lên Việt Bắc. Anh em lái xe ô tô đã đưa mức vận chuyển lên gấp đôi, gấp 3 và gấp 4 lần chuyến trong một tháng; trọng tải từ 2,5 tấn lên 3 tấn mỗi xe.

Những đoàn xe đạp thồ, dân công gánh bộ từ miền Tây Thanh Hóa qua suối Rút, Mộc Châu sang Cò Nòi đến Sơn La, vượt hơn 500 km xuyên rừng, lội suối, trèo đèo an toàn và bí mật đưa hàng tới đích.

Chiến sĩ xe đạp thồ Cao Văn Tỵ (thị xã Thanh Hóa), đạt kỷ lục thồ từ 160 kg lên 195 kg rồi lên 250 kg và 300 kg, sau thường xuyên đạt 320 kg một chuyến. Đồng chí Đới Sỹ Trầu (Quảng Xương) liên tục gánh 60 kg hàng, dẫn đầu về gánh bộ...

17 giờ 30 phút ngày 7-5-1954 tin Chiến dịch Điện Biên Phủ toàn thắng lan nhanh đến với quân và dân Thanh Hóa. Lực lượng vũ trang tỉnh tích cực khuyếch trương chiến thắng, các tổ dân vận, địch vận đẩy mạnh công tác tuyên truyền đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, kêu gọi binh lính địch đóng tại các đồn Điền Hộ, Mai An Tiêm hạ vũ khí đầu hàng. Với khí thế chiến thắng, các đơn vị bộ đội địa phương tổ chức các đợt tấn công truy quét. Ngày 29-6, thực dân Pháp phải rút khỏi Điền Hộ và Mai An Tiêm về Kim Sơn (Ninh Bình). Ngay đêm hôm đó, Đại đội 109 và Đại đội 57 cùng dân quân du kích nhanh chóng phối hợp với lực lượng vũ trang huyện Kim Sơn (Ninh Bình) truy quét địch đến bến Kim Đài, tiêu diệt và bắt sống 160 tên, thu 500 súng các loại và nhiều phương tiện chiến tranh khác.

Tại Thanh Hóa, các địa phương ven biển Nga Sơn, Quảng Xương, Tĩnh Gia, các đơn vị bộ đội địa phương đã phối hợp với dân quân du kích các xã Quảng Nham (Quảng Xương), Hải Thanh (Tĩnh Gia) đánh trả địch quyết liệt, làm thất bại cuộc hành quân “Con bồ nông” của địch vào vùng biển Thanh Hóa.
Thất bại trên chiến trường chính Điện Biên Phủ, buộc địch phải rút khỏi các địa phương của Thanh Hóa. Ngày 7-8-1954 phải rút khỏi đảo Hòn Mê - điểm cuối cùng, chấm dứt sự có mặt của quân Pháp ở Thanh Hóa.

Kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Thanh Hóa có 5 đồng chí được Đảng và Nhà nước tuyên dương danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, tiêu biểu là Anh hùng liệt sĩ Tô Vĩnh Diện, đã lấy thân mình cứu pháo không để rơi xuống vực thẳm. Đối với nhiệm vụ phục vụ chiến dịch, Thanh Hóa đã cung cấp 4.361 tấn gạo (chiếm 30% số gạo cả nước phục vụ cho chiến dịch), vượt mức Trung ương giao 9 tấn; 1.300 con bò, 2.000 con lợn, 250.000 quả trứng, 150 tấn đậu các loại, 450 tấn cá khô, 20.000 lọ mắm kem cùng với hàng trăm tấn rau các loại. Huy động 102.254 dân công dài hạn và 76.670 dân công ngắn hạn. Tổng số dân công phục vụ chiến dịch là 1.061.593 lượt người với 27 triệu 227 ngày công, cùng với 11.000 xe đạp thồ, 1.300 thuyền ván và thuyền nan, 42 ngựa thồ, 31 ô tô và nhiều phương tiện vận chuyển khác.

Âm vang Điện Biên Phủ lan tỏa trong mạch sống của nhân dân Thanh Hóa, Chiến thắng Điện Biên Phủ tạo nên nguồn lực tiếp sức cho lực lượng vũ trang Thanh Hóa cùng quân và dân cả nước chiến thắng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN hôm nay. Thành tích mà quân và dân Thanh Hóa giành được mãi mãi xứng đáng với lời biểu dương khen ngợi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, khi Người về thăm Thanh Hóa năm 1957 “Bây giờ tiếng Việt Nam đến đâu, tiếng Điện Biên Phủ đến đó. Tiếng Điện Biên Phủ đến đâu, đồng bào Thanh Hóa cũng có một phần vinh dự đến đó”.

20. Ý ĐỒ CHÍNH TRỊ VÀ KẾ HOẠCH QUÂN SỰ CỦA MỸ TRONG TRẬN ĐIỆN PHỦ

TS. Phan Văn Hoàng - Đại học Sư phạm Tp. Hồ Chí Minh

Ngay sau khi bước vào Nhà Trắng (20-1-1953), viên tổng thống thứ 34 của nước Mỹ Dwight D.Eisenhower đã tỏ ra quan tâm một cách đặc biệt đến Đông Dương (trong đó có Việt Nam)

   Vào lúc đó, quân viễn chinh Pháp đang liên tiếp thất bại trên chiến trường Đông Dương, trong khi phong trào phản đối cuộc “chiến tranh bẩn thỉu” (la sale guerre) của dân chúng Pháp không ngừng phát triển. Trong bối cảnh đó, ngày càng có nhiều chính khách Pháp muốn đàm phán với Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa để sớm rút khỏi vũng lầy chiến tranh Đông Dương.

   Mỹ sợ Pháp thương thuyết trong thế yếu, tất phải chấp nhận nhiều nhượng bộ, dẫn đến việc thất thủ Đông Dương. Theo Eisenhower, “nếu Đông Dương sụp đổ, thì không chỉ Thái Lan mà cả Miến Điện [nay là Myanmar] và Mã Lai sẽ bị đe doạ, rồi Đông Pakistan [nay là Bangladesh] và Nam Á cũng như toàn thể Indonesia sẽ gặp thêm nguy cơ”(If Indochina fell, not only Thailand but Burma and Malaysia would be threatened, with added risks to East Pakistan and South Asia as well as to all Indonesia)[1]. Ông ví sự sụp đổ dây chuyền đó với trò chơi làm ngã con cờ đô-mi-nô, từ đó xuất hiện thuật ngữ “thuyết đô-mi-nô” (the domino theory).

   Cuối tháng 3 năm 1954, Eisenhower yêu cầu thủ tướng Pháp René Mayer phải vạch ra một kế hoạch chiến tranh mới ở Đông Dương, xem đó như điều kiện cần thiết để được Mỹ gia tăng viện trợ. Một tác giả Pháp chua chát nhận xét: “Nếu Mỹ bỏ ra những đồng đô-la, đó là để trả cho việc người Pháp phải đổ máu” nhiều hơn nữa ở Đông Dương(If America gave dollars, that was to pay for the blood which France shed)[2].

   Trong hai tháng 3 và 4 năm 1953, Eisenhower gửi hai đoàn quân sự cao cấp, lần lượt do tướng Mark W. Clark, tư lệnh quân đội Mỹ ở Viễn Đông (đến Sài Gòn ngày 19-3-1954) và đô đốc Arthur W. Radford, chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng liên quân (đến Sài Gòn ngày 25-4-1953) cầm đầu, sang Việt Nam để nắm tình hình tại chỗ.

    Trong thư gửi René Mayer vào đầu tháng 5-1953, Eisenhower thúc giục Pháp cử  một  tổng chỉ huy mới sang Đông Dương(Eisenhower urged Mayer to appoint a new commander in chief for Indochina)[3] để thay tướng Raoul Salan, người chịu trách nhiệm về những thất bại ở Tây Bắc và ở Thượng Lào trong mấy năm qua. Để làm vừa lòng Mỹ-- người đang chi tiền cho chiến tranh Đông Dương – Mayer chọn trung tướng Henri Navarre, lúc đó đang là tham mưu trưởng Lực lượng NATO ở Trung Âu.

   Ngày 28-5, Navarre chính thức nhậm chức thì ba tuần lễ sau, ngày 20-6, một đoàn quân sự do trung tướng John W. O’Daniel (1894 - 1975), tư lệnh quân đội Mỹ ở Thái Bình Dương, cầm đầu đến Sài Gòn để -  theo lời của Eisenhower – “tăng cường sự hữu hiệu của nỗ lực quân sự của những người bạn [Pháp] của chúng ta”(in order to increase the efficiency of the military effort by our friends)[4]


   Với sự thúc giục của O’Daniel, Navarre soạn ra một kế hoạch tác chiến cho mấy năm trước mắt, được gọi là Kế hoạch Navarre.

   Chỉ cần Pháp không còn ý định bỏ cuộc nửa chừng thì Mỹ đã hài lòng rồi. Dù chưa biết Kế hoạch Navarre có đem lại kết quả gì không, những viên chức cao cấp Mỹ đã hết lời ca ngợi kế hoạch này là “một khái niệm chiến lược rộng rãi sẽ bảo đảm một bước ngoặc thuận lợi trong tiến trình chiến tranh trong vài tháng nữa” (a broad strategic concept which within a few months should insure a favorable turn in the course of the war) (Radford) [5], tin tưởng rằng kế hoạch này “có thể làm thay đổi chiều hướng [của chiến tranh] và dẫn đến thắng lợi quyết định đối với Việt Minh” (capable of turning the tide and leading to a decisive victory over the Vietminh) (O’Daniel)[6], “bẻ gãy tổ chức của công cuộc xâm lăng cộng sản vào cuối mùa chiến đấu 1955”(break  the organized body of Communist aggression by the end of the 1955 fighting season) (Dulles)[7]… Eisenhower kết luận: Cái gọi là Kế hoạch Navarre “đã hình dung một chiến thắng quan trọng vào mùa hè 1955”(The so-called Navarre Plan visualized substantial victory by summer of 1955)[8]


    Eisenhower cho lập Ủy ban đặc biệt về Đông Dương (The Special Committee on Indochina) do tướng Walter B. Smith (1895 - 1961), thứ trưởng Bộ Ngoại giao, làm trưởng ban để -- theo lời Eisenhower – “nghiên cứu nhiều biện pháp khả thi hơn nữa đặng ủng hộ Kế hoạch Navarre”(to study further feasible steps for supporting the Navarre Plan)[9] và Nhóm công tác đặc biệt về Đông Dương (The Special Working Group onIndochina) do tướng Grave B. Erskine cầm đầu, để “đánh giá nỗ lực quân sự của Pháp, đưa ra các khuyến cáo liên quan đến những đóng góp trong tương lai của Mỹ cho nỗ lực đó, và lưu ý tới những tình huống bất ngờ nếu Mỹ trực tiếp can thiệp vào chiến tranh”(to evaluate the French effort, to make recommendations concerning future U.S. contributions to it, and to devote attention to the various contingencies under which the U.S. might be called upon to intervene directly in the war)[10]


    Ngày 30- 7 năm đó, Quốc hội Mỹ chuẩn chi 400 triệu đô-la để Pháp theo đuổi chiến tranh ở Đông Dương. Hai tháng sau, 30-9, Chính phủ Mỹ cấp thêm 385 triệu đô-la nữa. Như vậy, Mỹ đã trang trải đến 2/3 chi phí chiến tranh Đông Dương (payant les deux tiers de la guerre)[11]

   Có tiền trong tay, Navarre trở nên năng nổ hơn. Chỉ trong 5 tháng (từ tháng 7 đến tháng 11-1953), Navarre mở một loạt cuộc hành quân mang tên Chim Én, Camargue, Tarentaise, Claude, Cá Măng, Hải Âu…


   Để động viên Pháp, Eisenhower cử phó tổng thống Richard Nixon sang Việt Nam. Ngày 4-11-1953 tại Hà Nội, Nixon tuyên bố: “Không thể hạ vũ khí cho đến khi nào đạt được chiến thắng hoàn toàn”(It is impossible to lay down arms until victory is completely won)[12]. Nixon lặn lội đến tận Ghềnh (Ninh Bình) để thăm quân Pháp đang tiến hành cuộc hành quân Hải Âu.


    O’Daniel được cử sang Việt Nam lần thứ hai (6-11). Trong báo cáo ngày 19-11, ông nhận xét: “Pháp đã thiết lập được một tình hình tốt hơn nhiều so với mùa khô năm ngoái” (The French have established a far better situation than existed during the last dry season) và đề nghị: “Chúng ta phải hoàn toàn ủng hộ tướng Navarre, thành công của ông ta có sự đóng góp to lớn của chúng ta”(We should fully support General Navarre, in whose success we have such a large stake)[13]



 

Tổng thống Mỹ

Dwight Eisenhower


 

Phó Tổng thống Mỹ Nixon qua thị sát

tình hình Việt Nam vào tháng 11/1953

 

     Sáng 20-11, Navarre bắt đầu thực hiện cuộc hành quân Hải Ly: lần lượt 16.000 quân Pháp được những máy bay vận tải C.47 (do Mỹ viện trợ) thả dù hay chở đến thung lũng Điện Biên Phủ, dựng lên ở đây tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương.


      Mỹ cử đến Điện Biên Phủ “một ủy ban thanh tra, gồm nhiều chuyên gia Mỹ có đầy kinh nghiệm trong chiến tranh Triều Tiên, tự xưng là biết những khả năng chiến thuật của súng đại bác phòng không của Nga” (une commission d’inspection composée d’experts américains, soi-disant au courant, grâce a leur expérience de la guerre de Corée, des possibilités tactiques des canons anti-aériens russes). Sau khi kiểm tra toàn bộ tập đoàn cứ điểm, ủy ban Mỹ “khẳng định rằng các vị trí của Pháp cùng những liên lạc bằng đường không sẽ không bị phòng không đối phương quấy rối nghiêm trọng. Ủy ban Mỹ tuyên bố rằng, dù thế nào đi nữa, pháo binh và máy bay [Pháp] sẽ bắn trả, tất cả những nơi thả dù đều được lựa chọn một cách khôn khéo, tất cả những điều đó sẽ cho phép duy trì việc tiếp tế cho tập đoàn cứ điểm mà không sợ bị tổn thất quá nghiêm trọng (…). Trong trường hợp xấu nhất, luôn luôn có thể tiếp tế cho tập đoàn cứ điểm bằng cách thả dù vào ban đêm” (affirma que les positions françaises et les liaisons aériennes ne risquaient pas d’être sérieusement gênées par la D.C.A. ennemie! La commission américaine déclara qu’en tout état de cause, des tirs de contre-batterie de l’artillerie et de l’aviation, et un ensemble de drop zones judicieusement choisies permettraient de maintenir le ravitaillement du camp retranché, sans que des pertes trop importantes soient à redouter (…) Au pire, il sera toujours possible de ravitailler le camp grâce a des parachutages de nuit)[14].


      Ngày 26-1-1954, Eisenhower cử O’Daniel sang Việt Nam lần thứ ba. Chiều ngày 3-2, O’Daniel  lên Điện Biên Phủ. Đại tá De Castries, chỉ huy tập đoàn cứ điểm, đích thân lái xe jeep chở O’Daniel đi thăm các công sự, nhưng viên chỉ huy tập đoàn cứ điểm giấu không cho viên tướng Mỹ biết rằng 2 giờ trước đó, bộ đội Việt Nam vừa nã vào đây 103 loạt đạn 72 li. Navarre kể: “Sau chuyến đi thăm, O’Daniel đã đến gặp riêng tôi để bày tỏ sự phấn khởi. Ông khẳng định rằng: nếu tiến công, Việt Minh chắc chắn sẽ bị đè bẹp. Ông cho rằng: bằng cách xây dựng các tập đoàn cứ điểm kiểu Điện Biên Phủ ở nhiều nơi, đó chính là giải pháp để có thể thắng được cuộc chiến tranh”[15]. Trong báo cáo đề ngày 5-2 gửi về Mỹ, O’Daniel khẳng định rằng Điện Biên Phủ có thể “chịu đựng bất kỷ loại tiến công nào mà Việt Minh có thể tung ra”(withstand any kind of attack the Viet Minh are capable of launching), quân Pháp “đang tăng thêm sức mạnh và tin rằng họ có thể chiến đấu đến kết thúc thắng lợi”(they are gaining strength and confidence in their ability to fight the war to a successful conclusion)[16].


      Thiếu tướng Thomas J. H. Trapnell (1902 - 2002), chỉ huy Phái bộ cố vấn Viện trợ quân sự Mỹ ở Đông Dương (MAAG Indochina) cũng đến quan sát Điện Biên Phủ. Ba sĩ quan Mỹ (trung tá Richard F.Hell, trung tá John M.Wohner và đại úy Robert M.Lloyd) ở lại Điện Biên Phủ một thời gian để giúp đỡ bộ chỉ huy tập đoàn cứ điểm.

      Niềm lạc quan lan sang tận Mỹ. Ngày 9-2, bộ trưởng quốc phòng Charles Edwin Wilson (1890 - 1961) tuyên bố : "Tôi nghĩ rằng các lực lượng của Pháp và của Việt Nam [tức Bảo Đại] ở Đông Dương có lẽ và có thể đạt được một chiến thắng quân sự" (Je pense qu’une victoire militaire des forces franco-vietnamiennes en Indochine reste possible et probable)[17].

      Ngày 20-2, Mỹ viện trợ cho Pháp 40 máy bay các loại, từ máy bay ném bom B.26 đến máy bay vận tải C.47, C.119... Cũng trong tháng 2, Mỹ gửi sang Việt Nam 200 lính kỹ thuật thuộc Đơn vị phục vụ Không quân số 81 (81st Air Service Unit) để giúp Pháp bảo trì và sửa chữa các máy bay mà Mỹ đã cung cấp.

      Ngày 13-3, bộ đội Việt Nam bắt đầu nổ súng tiến công Điện Biên Phủ. Chưa đầy 5 ngày (từ 13 đến 17-3), ba trung tâm đề kháng (Him Lam, Độc Lập, Bản Kéo) lần lượt sụp đổ, 2 tiểu đoàn tinh nhuệ của Pháp bị diệt gọn, một tiểu đoàn khác bị tan rã.

      Mỹ hết sức lo lắng. Eisenhower cho biết : "Tình báo của chúng ta ước đoán Pháp chỉ còn khoảng 50-50 cơ may đứng vững"(Our Intelligence people estimated that the French had only about a fifty-fifty chance of holding out)[18]. Trong thực tế, tình hình của quân Pháp trong tập đoàn cứ điểm xấu hơn nhận định của tình báo Mỹ. "Từ sáng 15-3, tướng Navarre, tổng ủy Dejean cũng như hai bộ tham mưu tại Hà Nội và Sài Gòn đều không còn nghi ngờ gì nữa : họ đã thua trong trận Điện Biên Phủ"(Dès le 15 Mars au matin, au plus profond de leur conscience, le général Navarre, M. Dejean, les États-majors de Hanoi et de Saigon n’ont plus de doute : la bataille est perdue)[19].


      Mỹ vội vàng giúp Pháp lập cầu hàng không từ Hà Nội lên Điện Biên Phủ. Báo U.S News and World Report ngày 15-3-1953 tường thuật : "Mỗi ngày, gần 100 máy bay vận tải DC-3 đã hạ xuống sân bay [Điện Biên Phủ] trong tầm súng cối của Cộng sản, vận chuyển từ 200 đến 300 tấn hàng tiếp tế. Thêm vào đó là 30 máy bay vận tải cỡ lớn C.119 mỗi sáng thả dù từ 100 đến 150 tấn hàng tiếp tế khác. Tất cả các máy bay của cầu hàng không đều do Mỹ giúp".

      Không chỉ giúp máy bay, Mỹ còn cung cấp cả người lái. Một số phi công Mỹ tham gia cầu hàng không thừa nhận "hỏa lực phòng không của Việt Minh dày đặc giống như ở vùng Ruhr trong Chiến tranh thế giới thứ hai"(Vietminh flak was as dense as anything encountered during World War II over the Ruhr)[20]. Trong một phi vụ chở vũ khí cho Điện Biên Phủ, đại úy James McGovern và trung úy Wallace Buford tan xác khi máy bay của hai phi công Mỹ nay bị súng phòng không làm nổ tung[21].


       Nhưng chỉ tăng viện không thôi thì không cứu được Điện Biên Phủ. Mỹ phải trực tiếp can thiệp quân sự vào Việt Nam.

       Đô đốc Arthur W.Radford (1894 - 1973), chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân Mỹ, soạn ra kế hoạch can thiệp (được biết dưới mật danh "Cuộc hành quân Chim Kên Kên" – Operation Vulture) theo đó Mỹ dùng 60 máy bay ném bom hạng nặng B.29 Superfort (mỗi chiếc có thể chở 8 tấn bom) cất cánh từ căn cứ không quân Clark Field (ở Philippines) để ném bom rải thảm, mỗi đợt khoảng 450 tấn bom, xuống các vị trí của bộ đội Việt Nam ở Điện Biên Phủ, đồng thời dùng 150 máy bay chiến đấu (từ các hàng không mẫu hạm của Hạm đội số 7 hoạt động trong Vịnh Bắc Bộ) để hộ tống các máy bay ném bom nói trên. Để che giấu bàn tay can thiệp của Mỹ, Radford đề nghị xoá bỏ phù hiệu của không quân Mỹ trên thân máy bay để "không ai biết máy bay đó là của ai và từ đâu đến"(no one would know where they came from or who they were)[22] và lập một phi đoàn tình nguyện quốc tế (international volunteer air corps) bằng cách thuê phi công thuộc nhiều quốc tịch khác nhau.


        Ngoài loại bom thường (mỗi quả nặng 2 tấn), Radford còn đề nghị sử dụng 3 quả bom nguyên tử chiến thuật (tactical atomic bombs). Theo một nhóm nghiên cứu của Lầu Năm Góc, "chỉ cần 3 quả bom nguyên tử chiến thuật sử dụng cho đúng thì cũng đủ nghiền nát lực lượng Việt Minh ở Điện Biên Phủ" (Three tactical atomic weapons, « properly employed», would suffice to smash the Vietminh forces at Dienbienphu)[23]


 

Máy bay Vận tải C119 của Mỹ mang phù hiệu

Pháp để tiếp tế quân trang vũ khí tại Điện Biên Phủ


 

Pháo đài bay B29 dự kiến sử dụng trong chiến

dịch “Chim Kên Kên” tại Điện Biên Phủ


       Kế hoạch của Radford được Eisenhower, Nixon, Dulles, tướng Nathan F.Twining (1897 - 1982, tham mưu trưởng Không quân Mỹ) v.v... tán thành.

       Riêng Nixon không dừng lại ở việc ném bom. Ngày 16-4, tại Hội nghị các chủ báo Mỹ, ông ta đề nghị gửi bộ binh sang Việt Nam. Eisenhower không bác bỏ ngay ý kiến của ông ta, mà còn cho rằng : "Lẽ dĩ nhiên, đó luôn luôn là một khả năng: vấn đề đó lúc nào cũng được nghiên cứu đến"(Naturally this was always a possibility ; the question was under constant study)[24]

       Giữa lúc đó, đại tướng Paul Ély, tổng tham mưu trưởng quân đội Pháp, bay thẳng từ Việt Nam sang Mỹ, với lời cầu cứu : "Nếu Mỹ không can thiệp, Đông Dương sẽ mất" (Unless the United States intervened, Indochina would be lost)[25]. Sáng 22-3, Eisenhower tiếp Ély với sự hiện diện của Radford. "Tổng thống chỉ thị cho đô đốc phải khẩn trương làm mọi thứ để đáp ứng những nhu cầu của tướng Navarre, đặt ưu tiên cho những gì có thể góp phần tạo nên thắng lợi cho trận đánh đang diễn ra"(Le Président donne instruction à l’amiral que tout soit fait d’urgence pour répondre aux demandes du Général Navarre, en mettant la priorité sur tout ce qui pourrait contribuer au succès de la bataille en cours)[26]. Thực hiện chỉ thị của Eisenhower, Radford nói với Ély rằng Mỹ sẵn sàng thực hiện Cuộc hành quân Chim Kên Kên để cứu quân Pháp trong tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.

        Ngày 25-3, Eisenhower triệu tập Hội đồng an ninh quốc gia Mỹ. Buổi họp đi tới quyết định: Mỹ phải can thiệp quân sự để ngăn chặn việc Đông Dương rơi vào tay Cộng sản. Cùng ngày, báo The New York Times đưa tin và đăng ảnh về Điện Biên Phủ trên suốt 6 cột. Bài viết mang tựa đề : "Anh hùng chiến tranh [chỉ đại tá De Castries] được Eisenhower hoan hô" (War Hero Hailed by Eisenhower).


 

Đại tá Christian de Castries, Tổng Chỉ huy quân đội Pháp tại Điện Biên Phủ


 

Cứ điểm Éliane trong hệ thống bố phòng của mặt trận

Điện Biên Phủ (những cứ  điểm kia là Huguette, Dominique, Claudine, Anne-Marie, Gabrielle, …)

       Vào lúc đó, nước Mỹ vừa bước ra khỏi chiến tranh Triều Tiên chưa đầy một năm[27] nên dân chúng và một bộ phận nghị sĩ Mỹ sẽ phản đối mạnh mẽ nếu chính phủ Eisenhower đưa nước Mỹ dính líu vào một cuộc chiến tranh khác ở châu Á. Thượng nghị sĩ William F.Knowland, thủ lĩnh Đảng Cộng Hòa tại Thượng viện, khuyên Eisenhower tranh thủ sự ủng hộ của Quốc hội trước khi can thiệp quân sự vào Việt Nam.


      Vì vậy, Eisenhower cho soạn sẵn một bản dự thảo Nghị quyết chung của lưỡng viện Quốc hội cho phép tổng thống sử dụng Hải quân và Không quân chống lại xâm lược ở Đông Nam Á, bảo vệ an ninh của Mỹ, đồng thời ủy quyền cho Dulles và Radford gặp 8 nghị sĩ chủ chốt của 2 đảng (Cộng hòa và Dân chủ) ở Thượng viện và Hạ viện vào sáng 3-4 để vận động họ ủng hộ chủ trương của Chính phủ. Sau hai tiếng đồng hồ thảo luận, các nghị sĩ đặt điều kiện : "Quốc hội sẽ không ủng hộ việc Mỹ can thiệp quân sự vào Việt Nam chừng nào Chính phủ không được các đồng minh – đặc biệt là nước Anh – cam kết có hành động chung" (Congress would not support American military intervention in Vietnam until the Administration had obtained commitments for joint action from its allies, the British in particular)[28].


      Một số nghị sĩ, tướng lãnh Mỹ phản đối việc dính líu quân sự vào Việt Nam, vì theo họ, cái giá về người và của mà Mỹ phải trả sẽ "cao bằng hay cao hơn cái giá mà Mỹ đã trả ở Triều Tiên" (as great as, or greater than, that we paid in Korea)29 (nhận định của tướng Matthew B. Ridgway, tham mưu trưởng Lục quân Mỹ, nguyên tư lệnh quân Mỹ trong chiến tranh Triều Tiên).


      Eisenhower thừa nhận : "Tình hình [của quân Pháp] ở Điện Biên Phủ xấu đi nhanh chóng trong tháng 4"(The situation at Dien Bien Phu had degenerated rapidly during the month of April)30. Mặt khác, Hội nghị Genève31 sẽ khai mạc vào cuối tháng ấy. Do đó, trong 3 tuần lễ (từ 4 đến 25 tháng 4), những người cầm đầu nước Mỹ dành phần lớn thời gian và công sức cho kế hoạch can thiệp quân sự vào Việt Nam.


      Tối chủ nhật 4-4, bộ ba Eisenhower – Dulles – Radford hy sinh dịp nghỉ cuối tuần để bàn hai việc: chuẩn bị cho việc can thiệp quân sự vào Việt Nam và vận động các nước đồng minh – chủ yếu là Anh – tham gia vào "hành động thống nhất" (united action) với Mỹ.

      Các tướng lãnh Mỹ và Pháp qua lại gặp nhau để chuẩn bị cho việc triển khai Cuộc hành quân Chim Kên Kên khi có thể. Ngày 13-4, bộ trưởng Không quân Pháp Christians được mời sang Mỹ. Ngày hôm sau, 14-4, tướng Earle E.Partridge, tư lệnh Không quân Mỹ ở Viễn Đông, được cử sang Sài Gòn gặp tổng ủy Maurice Dejean, tướng Navarre, sau đó ra Hà Nội gặp tướng René Cogny, chỉ huy quân Pháp ở Bắc Việt Nam. Ngày 19-4, tướng Joseph Caldara, chỉ huy máy bay ném bom của Không quân Mỹ ở Viễn Đông, lại được gửi sang Việt Nam. Caldara bay trên bầu trời Điện Biên Phủ để quan sát toàn cảnh tập đoàn cứ điểm. Cùng ngày, hai hàng không mẫu hạm Essex và Boxer thuộc Hạm đội số 7 của Hải quân Mỹ, mỗi chiếc tải trọng 31.000 tấn, cả hai đếu trang bị vũ khí nguyên tử, được lệnh tiến vào Vịnh Bắc Bộ. Đô đốc Hopwood, tham mưu trưởng Hạm đội số 7, đến Việt Nam gặp tướng Navarre và đô đốc Auboyneau, chỉ huy Hải quân Pháp ở Đông Dương. Sau đó, một sĩ quan Pháp được mời sang căn cứ Clark Field (ở Philippines) để bàn việc phối hợp hành động. 

      Nhưng việc can thiệp vào Đông Dương chỉ có thể thực hiện nếu Anh chịu tham gia.

      Ngày 4-4, Eisenhower viết thư cho thủ tướng Anh Winston Churchill đề nghị Anh cùng Mỹ "ngăn chặn Cộng sản bành trướng"(checking of Communist expansion) vì "nếu Đông Dương rơi vào tay Cộng sản, hậu qủa cuối cùng sẽ tai hại cho thế chiến lược toàn cầu của các Ngài và của chúng tôi với hậu quả là sự đổi thay trong cán cân lực lượng trên toàn châu Á và Thái Bình Dương" (if ...Indochina passes into the hands of  the Communists, the ultimate effect on our and your global strategic position with the consequent shift in the power ratios throughout Asia and the Pacific could be disastrous)32.

       Ngày 7-4, Churchill triệu tập các bộ trưởng đến họp để thảo luận đề nghị của Mỹ. Lâu nay, Anh không muốn gây căng thẳng trong bang giao với Trung Quốc, vì thuộc địa Hong Kong của Anh nằm trong lãnh thổ Trung Quốc, một bộ phận cư dân của thuộc địa Mã Lai là người gốc Hoa v.v... Chỉ 3 tháng sau khi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ra đời, nước Anh đã nhanh chóng công nhận chính phủ Bắc Kinh (6-1-1950), trở thành nước đầu tiên trong phe NATO làm như vậy33. Do đó Anh không muốn can thiệp quân sự vào Việt Nam, mà chỉ mong chiến tranh Đông Dương sớm kết thúc thông qua đàm phán ở Genève. Lập trường của Anh là "không định làm gì hết ở Đông Dương trước khi Hội nghị Genève có kết quả" (Britain was not prepared to give any undertakings...in Indochina in advance of the results of Geneva)34.


       Sợ thư từ không diễn đạt được đầy đủ các ý, Eisenhower cử Dulles sang London. Trong ba ngày (11 đến 13-4), Dulles đưa ra mọi lý lẽ nhằm thuyết phục Churchill và ngoại trưởng Anthony Eden, nhưng vẫn không lay chuyển được giới lãnh đạo nước Anh. Thất vọng, Dulles bay sang Paris gặp thủ tướng Joseph Laniel và ngoại trưởng Georges Bidault (14-4) trước khi về lại Mỹ.

       Ngày 15-4, Dulles gửi thư mời đại sứ các nước Anh, Pháp, Australia, New Zealand... đến dự cuộc họp vào ngày 20-4 để thảo luận vấn đề Đông Nam Á. Nhận được báo cáo của đại sứ Anh tại Mỹ Roger M.Makins, Eden chỉ thị cho Makins không được tham dự cuộc họp ấy. Ngày 18-4, Makins gọi điện đến nhà ngoại trưởng Dulles. "Ngoại trưởng hết sức tức giận"(the Secretary of State was extremely angry)35. Để giữ thể diện, Dulles phải thay đổi chủ đề của cuộc họp: bàn về Triều Tiên, chứ không phải về Đông Nam Á. Đến lúc đó, Eden mới cho phép Makins đến dự, nhưng chỉ được ngồi nghe chứ không được phát biểu ý kiến.


        Ngày 23-4, các ngoại trưởng Mỹ, Anh, Pháp sang Paris để tham dự một hội nghị của NATO. Bidault đưa cho Dulles xem bản sao bức điện của tướng Navarre gửi Laniel, trong đó Navarre mô tả "tình hình ở Điện Biên Phủ là tuyệt vọng"(situation at Dien Bien Phu is desperate), yêu cầu Mỹ khẩn trương can thiệp quân sự, nếu không ông sẽ đề nghị ngưng bắn (request for cease fire)36.


Tướng René Cogny (trái), Đại tá Christian de Castries 
(đầu trần) và Tướng Henri Navarre (ngồi giữa) 
thảo luận kế hoạch tại chiến trường

Tướng Võ Nguyên Giáp báo cáo kế hoạch tiến công

Điện Biên Phủ cho Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng,

 Chủ tịch Hồ Chí Minh và Tồng Bí thư Trường Chinh

 

 


        Sáng 24-4, trong một công hàm gửi cho Mỹ, Bidault nhấn mạnh :

            « 1. Các chuyên gia quân sự Pháp cho rằng một cuộc can thiệp ồ ạt của Không quân Mỹ còn có thể cứu được đạo quân ở Điện Biên Phủ (Les experts militaires français estiment qu’une intervention massive de l’aviation americaine peut encore sauver la garnison du camp).

               2. Bộ tư lệnh Pháp cho rằng Việt Minh đang tập trung phần chủ yếu của quân đội họ xung quanh     tâp đoàn cứ điểm này. Đây có lẽ là cơ hội duy nhất để chúng ta tiêu diệt phần lớn họ bằng Không quân, giáng một đòn có lẽ là quyết định đối với Việt Minh (Le commandement français estime que le Viet Minh ayant concentre autour du camp retranche l’essentiel de son corps de bataille, une occasion peut-etre unique nous est offerte d’en detruire, par l’action de l’aviation, une grande partie. Un coup peut-etre decisif pourrait ainsi etre porté au Viet Minh)37


         Nhận được công hàm, Eisenhower cử Radford sang Paris tiếp sức cho Dulles trong việc thuyết  phục Anh. Trong buổi gặp ngày 24-4, Dulles và Radford trình bày với Eden kế hoạch của Mỹ. Chỉ cần Anh tham gia với một máy bay độc nhất  tượng trưng cho sự đoàn kết nhất trí của phương Tây, thì :

         -  Ngày 26-4 (đúng vào ngày Hội nghị Genève khai mạc), Eisenhower sẽ ra trước Quốc hội để yêu cầu các nghị sĩ thông qua Nghị quyết chung của hai viện (mà chính phủ Mỹ đã dự thảo sẵn) cho phép Chính phủ can thiệp quân sự vào Việt Nam.

         -  Ngày 27-4, Mỹ sẽ mời đại sứ các nước đồng minh ký tên vào Tuyên bố chung (mà Bộ ngoại giao Mỹ cũng đã dự thảo) ủng hộ "hành động thống nhất" ở Việt Nam.

         -  Từ 28-4, hàng trăm máy bay (chủ yếu là của Mỹ) bắt đầu triển khai cuộc hành quân Chim Kên Kên.

         Eden cho biết sẽ quay về London trong tối 24-4 để xin ý kiến của Nội các.


         Chiều 24-4, ba ngoại trưởng lại gặp nhau tại trụ sở Bộ Ngoại giao Pháp (Quai d’Orsay). Dulles gặp riêng Bidault, hỏi : "Ông tính sao nếu chúng tôi cho các ông hai quả bom nguyên tử ?" (Et si nous vous donnions deux bombes atomiques ?38

         Ngày 25-4 là chủ nhật, nhưng Churchill vẫn triệu tập các bộ trưởng và tham mưu trưởng của 3 quân chủng đến dự hai cuộc họp khẩn vào buổi sáng và buổi chiều để thảo luận đề nghị của Mỹ. Churchill tuyên bố : "Điều mà người ta [Mỹ] yêu cầu chúng ta làm là giúp vào việc đánh lừa Quốc hội [Mỹ] để phê chuẩn một cuộc hành quân ; cuộc hành quân ấy sẽ không có hiệu quả, nhưng có thể dẫn thế giới đến bờ một cuộc chiến tranh lớn" (What we are being asked to do is to assist in misleading the Congress into approving a military operation which would be in itself ineffective, and might well bring the world to the verge of a major war)39. Sau một ngày thảo luận, Nội các Anh quyết định bác bỏ đề nghị của Mỹ. Theo lời giải thích của Eden, quyết định đó được căn cứ trên 3 lý lẽ sau :

        "Một là chúng ta hiểu rằng chỉ có hoạt động của Không quân không thôi thì sẽ không thể có hiệu quả (Firstly,we were advised that air action alone could not have been effective );

         Hai là một sự can thiệp quân sự như thế có thể sẽ phá hoại mọi cơ may đạt được một cuộc dàn xếp ở [Hội nghị] Genève(Secondly, any such military intervention could have destroyed  the chances of a settlement at Geneva)

        Ba là điều đó có thể dẫn tới một cuộc chiến tranh toàn diện ở châu Á (Thirdly, it might well have led to a general war in Asia)40.


        Radford không nản chí, tiếp tục sang Anh ngày 25-4 để thuyết phục 3 tham mưu trưởng Hải, Lục và Không quân của nước này, sau đó gặp Churchill. Thủ tướng Anh trả lời một cách thẳng thừng: "Làm sao người ta lại có thể yêu cầu dân Anh phải chiến đấu cho Đông Dương khi họ đã bỏ Ấn Độ mà không chiến đấu ? " (How could British citizens be asked to fight for Indochina when they had let India go without a fight ?)41.


        Không còn gì để nói, tối hôm ấy Radford đáp máy bay về Mỹ.


        Không thuyết phục được Anh, Mỹ quay sang lôi kéo Australia và New Zealand vì hai nước này đã ký Hiệp ước an ninh tay ba ANZUS với Mỹ ngày 1-9-1951. Nhưng Chính phủ hai nước này từ chối can thiệp quân sự vào Việt Nam, vì – theo lời ngoại trưởng Australia là Casey – "nó không được Liên Hiệp Quốc hậu thuẫn; nó khiến cho dư luận thế giới, đặc biệt là châu Á, ghét bỏ chúng ta; nó làm cho chúng ta xung đột với Trung Hoa cộng sản; nó làm thất bại Hội nghị Genève" (It would not have the backing of the United Nations; it would put us in wrong with world opinion, particularly in Asia; it would embroil us with Communist China; it would wreck the Geneva Conference)42.


       Vào giữa tháng 4, Eisenhower viết thư để "kính chào lòng dũng cảm và sức chịu đựng của viên chỉ huy và các chiến sĩ đang bảo vệ Điện Biên Phủ"(salute the gallantry and stamina of the commander and soldiers who are defending Dien Bien Phu), bày tỏ "lòng ngưỡng mộ sâu sắc nhất đối với cuộc chiến đấu gan dạ và tháo vác mà quân Pháp, quân Việt Nam [quân của Bảo Đại] và quân các thành viên khác của Liên hiệp Pháp đang tiến hành ở đó"(the most profound admiration for the brave and resourceful fight being waged there by troops from France, Vietnam, and other parts of the French Union), ca ngợi "những chiến sĩ này, trung thành với những truyền thống vĩ đại của họ, đang bảo vệ chính nghĩa tự do của con người và chứng minh bằng cách đúng đắn nhất những phẩm chất mà sự sống còn của Thế giới tự do tuỳ thuộc vào đó" (those soldiers, true to their own great traditions, are defending the cause of human freedom and are demonstrating in the truest fashion qualities on which the survival of the Free World depends)43


Sau 55 ngày đêm chiến đấu, ngày 7 tháng 5

năm 1954, quân đội Việt Nam dựng cờ

chiến thắng tại Điện Biên Phủ

 

Thất thủ Điện Biên Phủ, 11.721 lính Pháp bị bắt

làm tù binh tại chiến trường.

Sau đó, họ được trao trả lại cho chính quyền Pháp

        Vòng vây của bộ đội Việt Nam ngày càng siết chặt. "Các thủ lĩnh quân sự Mỹ cảm thấy đã quá trễ để có thể cứu Điện Biên Phủ" (the American military leaders felt it was too late to save Dienbienphu)44. Kế hoạch can thiệp quân sự vào Việt Nam phá sản. Con Chim Kên Kên của Mỹ chưa kịp bay lên thì đã gãy cánh.


        Eisenhower viết trong Hồi ký : “Ngày 7-5, tập đoàn cứ điểm sụp đổ…Mặc dù chúng tôi thấy trước kết quả sẽ tới, nhưng việc quân đồn trú ở Điện Biên Phủ cuối cùng đầu hàng vẫn khiến chúng tôi buồn rầu”(On May 7 the fortress fell...Though we could see the end coming, the final capitulation of the garrison of Dien Bien Phu was saddening)45.

 

Tài liệu tham khảo:


1 , 4, 8, 9, 18, 24, 30, 32, 36, 43, 45. Dwight D. Eisenhower, Mandate for Change – The White House Years 1953-1956, Nxb The New American Library, New York, 1965, tr.404, 218, 416, 413, 180, 417, 427, 422, 419, 423, 430, 430.

2 , 35. Jules Roy, The Battle of Dienbienphu, bản dịch của Robert Baldick, Nxb Pyramid Books, New York, 1966, tr.35, 37, 292.

3 , 13, 16. Ronald H. Spector, Advice and Support – The Early Years of the U.S. Army in Vietnam 1941-1960, Nxb The Free Press, New York, 1985, tr.172, 180, 187.

5, 6, 10. The Pentagon Papers (ấn bản của thượng nghị sĩ Gravel), Nxb Beacon Press, Boston, 1971, tập I, tr.96, 77, 90.

7 Bernard B. Fall, The Two Vietnams – A Political and Military Analysis, Nxb Frederick A.Praeger, New York, 1963, tr.122.

11, 19, 26, 37. Jean Lacouture và Philippe Devillers, La fin d’une guerre – Indochine 1954, Nxb Seuil, Paris, 1960, tr.42, 68, 71,89.

12. Báo The New York Times, ngày 5-11-1953.

14. Bernard B. Fall, Indochine 1946-1962 – Chronique d’une guerre révolutionnaire, Nxb Robert Laffont, Paris, 1962, tr.331.

15. Henri Navarre, Le temps des vérités (Thời điểm của những sự thật), bản dịch của Nguyễn Huy Cầu, Nxb Công an nhân dân và Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Hà Nội, 1994, tr.195.

17. Báo Le Monde, Paris (Pháp), ngày 11-2-1954.

20. Bernard B. Fall, « Dienbienphu: A Battle to Remember », The New York Times Magazine, 3-5-1964

22, 28. George McT. Kahin, Intervention – How America Became Involved in Vietnam, Nxb Alfred A.Knopf, New York, 1986, tr.447, 48.

21, 23, 34. Stanley Karnow, Vietnam A History, Nxb Penguin Books, New York, 1987, tr. 11,197, 198.

25, 44. Chalmers M. Roberts, “The Day We Didn’t Go to War”, báo The Reporter số XI, 14-9-1954.

27. Hiệp ước đình chiến ở Triều Tiên ký ngày 27-7-1953 tại Bàn Môn Điến (Panmunjom)

29. Bernard B. Fall, Last Reflections on a War, Nxb Doubleday, New York, 1967, tr.139

31. Hội nghị Genève 1954 có hai nội dung: bàn về một giải pháp hòa bình cho vấn đề Triều Tiên (khai mạc ngày 26-4) và về việc lập lại hòa bình ở Đông Dương (khai mạc ngày 8-5).

33. Gần 30 năm sau, Mỹ mới thiết lập quan hệ ngoại giao với Trung Quốc (1-1-1979).

38. Georges Bidault, D’une résistance à l’autre, Nxb Les Presses du siècle, Paris, 1965, tr.198.

39. Arthur M.Schlesinger Jr., The Bitter Heritage – Vietnam and American Democracy 1941-1966, Nxb Andre Deutsch, London, 1967, tr.15.

40. George McT. Kahin và John W.Lewis, The United States in Vietnam, Nxb The Dial Press, New York, 1967, tr.39.

41. Marilyn B. Young, The Vietnam Wars 1945-1990, Nxb Harper Perennial, New York, 1991, tr 34.

42. Australian Parliamentary Debates, House of  Representatives, tập 4, 1957, tr.128.


21. Tướng De Castries nói gì về Đại tướng Võ Nguyên Giáp khi bị hỏi cung?

Tôi hân hạnh được làm đối thủ của Tướng Giáp, để được làm kẻ chiến bại trực tiếp của một người tài giỏi như Tướng Giáp. Tôi ngưỡng mộ và kính phục ông (lời De Castries).

Để giúp Bộ Tham mưu chiến dịch Điện Biên Phủ, Cục Quân báo mặt trận đảm nhiệm phần nắm địch cả trước, trong và sau chiến dịch để bảo đảm cho bộ chỉ huy hạ quyết tâm tác chiến. Đồng chí Cao Pha lúc đó là Phó Cục trưởng Cục Quân báo – Bộ Tổng Tham mưu được phân công đặc trách công tác tình báo, quân báo, trinh sát nắm địch suốt cả chiến dịch này, trong đó đặc biệt là khai thác tù hàng binh. Gần đây tôi được ông tiếp chuyện và kể cho nghe nhiều điều thú vị về hoạt động nắm địch ở Điện Biên Phủ, trong đó có phần khai thác tù hàng binh. Ông kể:

Ngày 10/5/1954, chúng tôi nhận được chỉ thị của Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Trước khi ta trao trả tù binh cho đối tượng, cần tranh thủ khai thác ngay số tù binh sĩ quan cấp cao, nhất là tướng Đờ Cátxtơri, Đại tá Langlais – Phó chỉ huy và Trung tá Keller – Tham mưu trưởng của De Castries, để phục vụ ngay cho phát triển chiến đấu tiếp tục tấn công địch trên các mặt trận. Đồng thời tìm hiểu ý đồ của Pháp, Mỹ để ta chuẩn bị kế hoạch chiến lược lâu dài của cách mạng.

Sau khi trao đổi với anh Lê Trọng Nghĩa – Cục trưởng, tôi đã giao nhiệm vụ cho một số cán bộ tình báo như các anh Mạc Lâm, Hùng Châu, Mạnh Thái cùng khẩn trương đến ngay trại tù binh ở Tuyên  Quang để khai thác số tù binh ta vừa bắt được ở Điện Biên Phủ đưa về đấy.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp đi thị sát chiến trường Điện Biên Phủ sau khi quân ta đại thắng.

Qua thời gian gần một tháng thực hiện nhiệm vụ đặc biệt này, các đồng chí đã khai thác và chọn lọc, tổng hợp được nhiều vấn đề rất có giá trị về tác chiến lúc bấy giờ và cả về chiến lược lâu dài qua ý đồ của địch đối với Đông Dương sau Điện Biên Phủ. Ngoài ra, đồng chí Mạnh Thái còn báo cáo trong quá trình hỏi cung, tướng De Castries đã đề nghị cho ông ta được phát biểu vài cảm nhận về Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Ông ta nói: “Tướng Giáp là một người thông minh, dũng cảm, một người giỏi chỉ huy du kích. Ông ấy cũng giỏi về chính trị, về chủ nghĩa cộng sản. Chúng tôi đã thấy rõ điều đó. Nay qua trận Điện Biên Phủ, tôi thấy Tướng Giáp không những giỏi về chỉ huy đánh du kích, mà còn giỏi cả về chỉ huy trận địa chiến, chỉ huy tác chiến hiệp đồng binh chủng, và cả về nghi binh đánh lừa tình báo đối phương.

Điều làm tôi hết sức ngạc nhiên là không biết Tướng Võ Nguyên Giáp đã tốt nghiệp từ những trường, học viện võ bị cao cấp nào. Ông Giáp đã bí mật đi nghiên cứu ở Nga Xô chăng? Đôi khi tôi nghĩ rằng hay Tướng Giáp là một trong số ít người trước đây đã được đào tạo ở Trường Võ bị Saint Cyr của chúng tôi và nay ông đi làm Việt Minh? Hay là Tướng Giáp đã tốt nghiệp học viện quân sự ở Mỹ?

Quân đội viễn chinh Pháp và các tướng tá Pháp chúng tôi là một đội quân nhà nghề, thiện chiến và trang bị hiện đại. Sự kiện Tướng Giáp thắng chúng tôi ở Điện Biên Phủ làm chúng tôi ngạc nhiên về tài năng của ông ấy. Chúng tôi biết Đại tướng Võ Nguyên Giáp là một trí thức và là một giáo sư đã từng dạy học ở Hà Nội. Nhưng không phải nguồn kiến thức nào cũng biến được thành tri thức quân sự, không phải người trí thức nào cũng biến được thành vị tướng giỏi đâu.

Nhất định Tướng Giáp đã tốt nghiệp tại học viện quân sự cấp cao ở Nga Xô hoặc ở Mỹ. Là chỉ huy trưởng tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, tôi đã làm tất cả những gì để bảo vệ nó suốt 56 ngày đêm trước áp lực ghê gớm của quân đội Tướng Giáp, có thể nói tôi đã làm hết sức mình trên chiến trường, còn thua cuộc ở đó là do nhiều nguyên nhân. Nhưng tôi thừa nhận Tướng Giáp rất sành sỏi binh nghiệp và khôn ngoan hơn, tài giỏi hơn tôi đã đành, mà còn hơn cả tướng Cogny và Đại tướng Navarre. Tôi hân hạnh được làm đối thủ của Tướng Giáp, được làm kẻ chiến bại trực tiếp của một người tài giỏi như Tướng Giáp. Tôi ngưỡng mộ và kính phục ông”.

Thiếu tướng Cao Pha còn cho biết ông cũng đã được trực tiếp khai thác và hỏi cảm nhận của tướng De Castries đối với trận Điện Biên Phủ. De Castries đã không ngần ngại trả lời có vẻ đau xót: Các ông có biết không, Điện Biên Phủ phiên âm ra Pháp ngữ là Devien fou có nghĩa là tôi trở thành thằng điên

(Theo “Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp, người Anh cả của Quân đội nhân dân Việt Nam”, NXB QĐND năm 2010)


22. Báo Pháp: Tướng Giáp, nhà chiến lược của tự do”

Tạp chí Nhân đạo của Pháp số cuối tuần gần đây đã dành đặc biệt 6 trang in màu để viết về cuộc đời và sự nghiệp của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của ông.
 
Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Bài viết có tiêu đề “Tướng Giáp, nhà chiến lược của tự do” do nhà báo, đạo diễn người Pháp Daniel Roussel - nguyên là phóng viên thường trú báo Nhân đạo tại Việt Nam trong thập kỷ 80 của thế kỷ XX, viết.

Tác giả cũng đã sử dụng những bức ảnh tư liệu quý giá về cuộc làm việc của Đại tướng Võ Nguyên Giáp với Bác Hồ; về đoàn xe đạp thồ với “khoảng 260.000 chiếc" vượt qua rừng rậm đi dưới làn bom napal của thực dân Pháp để tiếp viện chiến dịch Điện Biện Phủ, rồi hình ảnh các chiến sỹ quân đội nhân Nam vẫy cờ chiến thắng trên nóc hầm tướng De Castries, ngày 7/5/1954, tại chiến dịch Điên Biên Phủ; ảnh xe tăng Việt Nam đâm đổ cánh cổng của Dinh Độc lập, ngày 30/4/1975 tại Sài Gòn giành chiến thắng kết thúc chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử thống nhất đất nước… để minh họa cho cuộc đời hoạt động cách mạng của Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Cuộc đời ông gắn liền với hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ của dân tộc Việt Nam trước đây.

Trong bài báo của mình, Daniel Roussel thuật lại cuộc đời và sự nghiệp của nhà chiến lược quân sự tài ba của Việt Nam, từ sinh trưởng cho tới khi trở thành vị Đại tướng, chỉ huy cuộc đấu tranh của quân đội và nhân Nam giành thắng lợi trước thực dân Pháp với trận Điện Biên Phủ vang dội địa cầu.

Tác giả cũng nêu bật vai trò của Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong cuộc chiến tranh chống Mỹ, thống nhất đất nước cũng như những đóng góp của ông đối với công cuộc Đổi mới ở Việt Nam.

Tác giả viết: "Năm 1986, ông ủng hộ cho chính sách đổi mới về kinh tế đất nước, chính sự đổi mới này đã đưa Việt Nam đi lên trên con đường phát triển. Ông luôn gần gũi nhân dân và thấy được mọi khó khăn của người dân."

Bài báo cũng có đoạn: "Đại tướng Võ Nguyên Giáp sinh ngày 25/8/1911 tại một làng nhỏ ở miền Trung Việt Nam, trong một gia đình trồng lúa. Nhưng rồi lần lượt ông đã trở thành giáo sư, nhà báo, nhà lãnh đạo chính trị và Đại tướng của quân đội nhân Nam. Ông sinh ra không hề được báo trước là sẽ trở thành một thiên tài về quân sự. Nhưng năm 1940, khi lần đầu tiên ông gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Trung Quốc, ông bắt đầu nghiên cứu các vấn đề quân sự và những thao lược quân sự trong sách giáo khoa của Pháp. Ông nghiên cứu nghệ thuật chiến tranh trong như từng nghiên cứu chủ nghĩa Mác…"

Tác giả cũng cho biết, bài viết này là kết quả của hàng chục lần tác giả được gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp với tất cả tình cảm quý mến và sự kính trọng.

Theo ông, Đại tướng là con người rất dễ chịu, thạo nói tiếng Pháp, có cái nhìn trực diện và cái bắt tay chắc nịch. Đây cũng chính là những biểu hiện của người lãnh đạo.

Kể lại những kỷ niệm của tác giả khi gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp khi ông ở tuổi 30, tác giả Daniel Roussel cho biết trong những cuộc gặp này không bao giờ có vấn đề gì bị coi là cấm kỵ không được đề cập đến. Nhưng khi gặp một vấn đề khó chịu, giọng Đại tướng trở nên đanh lại. Ông là con người của sự nhiệt huyết và là "vị tướng của hòa bình.”

Daniel Roussel viết: “Đại tướng Võ Nguyên Giáp, huyền thoại sống ở Việt Nam - nhà chiến lược đã làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, kết thúc cuộc chiến tranh của Thực dân Pháp; năm 1973 buộc đế quốc Mỹ phải chấm dứt sự xâm lược Việt Nam và năm 1975, làm tan rã quân đội “bù nhìn” miền Nam Việt Nam thống nhất đất nước. Ông được công nhận là một trong các nhà quân sự tài giỏi nhất và một nhà chiến lược chiến tranh nhân dân.”

Nhưng theo Daniel Roussel, trước hết đối với nhân Nam, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đại diện cho một trong những người trung thành với tư tưởng Hồ Chí Chí Minh - người đã khai sinh ra nền độc lập cho dân tộc Việt Nam.


23. Điện Biên Phủ - nơi hội tụ sức mạnh của cả nước 

Trần Trọng Đạo - Bộ môn Mác-Lênin - Trường Đại học Nha Trang


Chiến thắng Ðiện Biên Phủ là sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, sức mạnh của cả nước ra trận

Có thể nói, một trong những yếu tố quan trọng làm nên chiến thắng Ðiện Biên Phủ là sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, sức mạnh của cả nước ra trận.
Sức mạnh này được tổ chức, thực hiện dưới ánh sáng chủ nghĩa Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh. Chiến thắng ấy không chỉ là thể hiện, là kết tinh sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân, mà cao hơn, còn là biểu tượng sáng ngời của sức mạnh đại đoàn kết.
Tư tưởng đại đoàn kết toàn dân luôn thấm nhuần trong các đường lối, chủ trương, chính sách của Ðảng. Trong thời kỳ vận động Cách mạng Tháng Tám, Ðảng Cộng sản Việt Nam và lãnh tụ Hồ Chí Minh đã xây dựng được khối đại đoàn kết toàn dân trong Mặt trận Việt Minh. Sau Cách mạng Tháng Tám và suốt cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, thông qua những hình thức của mặt trận dân tộc thống nhất như: Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam, Mặt trận Liên hiệp quốc dân Việt Nam...khối đại đoàn kết toàn dân ấy không ngừng được củng cố và phát triển. 
 Chiến dịch Ðiện Biên Phủ, sức mạnh của khối đại đoàn kết
Chiến cuộc Ðông Xuân 1953-1954, nhất là chiến dịch Điện Biên Phủ, sức mạnh của khối đại đoàn kết được huy động ở mức cao nhất. Ðể phục vụ chiến dịch, ta đã huy động lực lượng dân công của đồng bào  các  dân  tộc  trên  nhiều miền của Tổ quốc. Trong các chiến dịch trên Việt Nam đã huy động 1.298.930 dân công với 29.485.900 ngày công, 4.750 tấn lương thực, thực phẩm.
Ðến chiến dịch Điện Biên Phủ, tổng quân số tham gia lên tới 53.830 người. Do vậy, chúng ta phải huy động một lượng vật chất kỹ thuật, lương thực, thực phẩm rất lớn. Trong khi đó, chiến trường Điện Biên Phủ ở cách xa hậu phương, có nơi tới 500-600 km. Ðịa thế hiểm trở. Quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ, Bộ Chính trị, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã  phân tích rất kỹ để tìm ra phương án thích hợp huy động sức mạnh của toàn quốc chi viện cho chiến dịch, bảo đảm chắc thắng.
Nắm vững nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin về vai trò của hậu phương trong chiến tranh cách mạng, Ðảng khẳng định tất cả những khó khăn to lớn về cung cấp tiếp tế ấy sẽ được giải quyết vì nhân dân ta có lòng yêu nước và quyết tâm rất cao, cuộc kháng chiến đang trên đà thắng lợi và đặc biệt là toàn dân ta đoàn kết chung quanh Ðảng, Chính phủ do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu. Từ nhận định trên, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ Chính trị  hạ quyết tâm: “Toàn dân, toàn Ðảng và Chính phủ nhất định đem toàn lực chi viện chiến dịch Điện Biên Phủ và nhất định làm mọi việc cần thiết để giành toàn thắng cho chiến dịch này"(1).
Một cuộc vận động nhân dân chi viện Điện Biên Phủ đã được triển khai rầm rộ, với quy mô lớn chưa từng có. Hội đồng cung cấp Mặt trận được thành lập để chỉ đạo các địa phương, các ngành kinh tế, tài chính, tổ chức động viên nhân tài vật lực của cả nước. Hậu phương đã dốc hết sức chi viện cho chiến trường Điện Biên Phủ. Chỉ trong một thời gian ngắn ta đã huy động được một khối lượng lớn sức người, sức của từ nhiều vùng miền, từ nhiều giai cấp, tầng lớp trong cả nước. Tổng kết chiến dịch Điện Biên Phủ, nhân dân đã đóng góp 25.560 tấn gạo, 266 tấn muối, 1.909 tấn thực phẩm, 26.453 lượt dân công với 18.301.507 ngày công, 20.991 xe đạp thồ, 1.800 mảng nứa, 756 xe thô sơ, 914 con ngựa thồ và 3.130 chiếc thuyền(2).
Trong bối cảnh đất nước còn nghèo nàn, lạc hậu, lại trải qua tám năm kháng chiến, những con số trên có một ý nghĩa hết sức to lớn. Ðó chính là sự đóng góp của toàn dân... Trung ương Ðảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương huy động nguồn hậu cần tại chỗ. Ðây là một nguồn rất quan trọng, không tốn nhiều công sức vận chuyển, vừa nhanh chóng, vừa đỡ lộ bí mật. Tuy nhiên, đồng bào các dân tộc ở đây còn nghèo, nên việc huy động cũng bị hạn chế. Nhân dân Tây Bắc vốn giàu truyền thống yêu nước, biết ơn Ðảng, ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh, dù còn bao khó khăn thiếu thốn nhưng vẫn tích cực đóng góp lương thực, thực phẩm và dân công phục vụ chiến dịch.
Ở miền Tây Bắc, nhân dân nghe tin bộ đội truy kích địch, thiếu gạo ăn, đã rủ nhau từ rừng sâu về nơi ở cũ để giúp bộ đội. Ðồng bào nhiều nơi còn rủ nhau đi đào củ mài, đồ xôi, hái rau, bắt cá ủng hộ bộ đội... Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, nhân dân Tây Bắc đã tiếp tế cho bộ đội 7.311 tấn gạo (vượt mức huy động 1.311 tấn), 389 tấn thịt và 800 tấn rau tươi(3)... Ðó là chưa kể số lương thực, thực phẩm nhân dân các bản, mường trực tiếp giao cho bộ đội. Nhân dân Tây Bắc còn đóng góp cho chiến dịch 31.818 dân công và hàng nghìn ngày công, ngựa thồ... Tại Lai Châu, khắp các địa phương trong tỉnh, từ vùng thấp đến vùng cao, từ vùng tự do đến vùng mới giải phóng, đồng bào các dân tộc Thái, Kinh, Mông, Hà Nhì, Mảng, Khơ Mú... đã nô nức tham gia tiếp lương, tải đạn phục vụ chiến dịch...
Trước khi mở chiến dịch, Trung ương Ðảng và Tổng Quân ủy đã chỉ đạo bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương, cùng nhân dân cả nước tích cực mở các hoạt động phối hợp cùng mặt trận chính là Điện Biên Phủ. Ðó là các đòn hoạt động ở các hướng chiến lược để căng kéo quân địch dàn trải ra các chiến trường theo ý định của ta như Tây Bắc, Thượng Lào, Trung-Hạ Lào, Tây Nguyên..., tập kích Ðường 5 - tuyến đường vận tải chiến lược của địch từ Hà Nội về Hải Phòng; tập kích các sân bay Gia Lâm và Cát Bi để phá tuyến vận tải đường không chi viện cho Điện Biên Phủ của địch. Kết quả là ta đã điều một bộ phận quan trọng lực lượng địch, buộc chúng phải căng sức đối phó, bị giam chân ở nhiều chiến trường... Ngay trong đợt 1 của chiến cuộc Ðông Xuân 1953-1954, quân ta đã tiêu diệt hơn 20.000 tên địch, giải phóng nhiều vùng đất có ý nghĩa chiến lược và điều quan trọng là buộc địch phải điều 51% lực lượng cơ động của chúng từ đồng bằng lên giam chân trong các tập đoàn cứ điểm trên chiến trường rừng núi như: Điện Biên Phủ, Luông Pha Băng, Mường Sài, Sê Nô, Pleiku, An Khê..., và 49% lực lượng cơ động còn lại bị chiến tranh du kích kìm chân, không còn cơ động nữa mà bị căng mỏng ra nhiều nơi. Do đó, khi bị ta vây đánh ở Điện Biên Phủ, Pháp không còn đủ lực lượng lớn để lên ứng cứu. Ở chiến trường Nam Bộ, theo chủ trương của Bộ Chính trị, Trung ương Cục cũng đã chỉ đạo dốc toàn lực đẩy nhanh nhịp độ tiến công để phối hợp với chiến dịch Điện Biên Phủ. Các đơn vị chủ lực của Khu và các tỉnh đã kết hợp với LLVT địa phương tiến công vào vùng địch hậu các tỉnh. Với nhiều hình thức như phục kích, tập kích, công đồn, các LLVT Nam Bộ đã diệt nhiều sinh lực địch, phá nhiều đồn bốt. Trong cả nước, nhân dân từ nam chí bắc, từ thành thị đến nông thôn liên tiếp mở nhiều cuộc đấu tranh, vùng lên diệt ác, phá tề, giành quyền làm chủ. Những cuộc đấu tranh chính trị, đấu tranh kinh tế, văn hóa liên tiếp nổ ra, làm cho hậu phương của kẻ thù luôn bị náo động.
Ðại tướng Võ Nguyên Giáp viết trong hồi ức của mình: "Chưa bao giờ, người dân Việt Nam đi ra trận nhiều như vậy. Chưa bao giờ người thanh niên ta đi đến nhiều nơi như vậy, biết thêm nhiều địa phương xa lạ của đất nước như vậy. Từ đồng bằng đến rừng núi, trên con đường lớn và các đường con, trên các dòng sông, các ngọn suối, đâu đâu cũng rộn rịp hẳn lên: cả một hậu phương đang tuôn người, tuôn của ra mặt trận để cùng quân đội ra mặt trận tiêu diệt địch, giải phóng đất nước. Hàng nghìn thư từ, điện từ các địa phương gần xa ngày ngày gửi đến trận địa Điện Biên Phủ... Toàn dân ta, giai cấp công nhân, nông dân lao động, anh chị em thanh niên, trí thức, mỗi người dân Việt Nam yêu nước đều đã đáp lời kêu gọi của Ðảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh..."(4).
 Ðiện Biên Phủ mãi mãi tiêu biểu cho tinh thần quật cường của dân tộc Việt Nam
Chiến thắng Điện Biên Phủ là chiến thắng của sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, là kết quả của sự đóng góp của tất cả những người Việt Nam yêu nước trên nhiều vùng của đất nước. Chiến thắng đó cũng là kết tinh của sức mạnh cả nước ra trận, của một sự chung sức chung lòng và quyết tâm của các giai cấp, tầng lớp trên đất nước Việt Nam, của đồng bào các dân tộc từ miền xuôi đến miền ngược... Điện Biên Phủ mãi mãi tiêu biểu cho tinh thần quật cường của dân tộc ta, đem sức mạnh đoàn kết muôn triệu người như một, đem tinh thần anh dũng của một dân tộc chiến đấu vì độc lập, tự do; của một Quân đội nhân dân non trẻ nhưng đầy sức mạnh chiến đấu mà chống lại một quân đội hùng mạnh của một nước đế quốc. Khối đại đoàn kết toàn dân đó vẫn mãi là nguồn sức mạnh cho dân tộc ta lập nên những chiến công mới, cho đất nước ta trường tồn và phát triển.

24. Điện Biên Phủ dưới mắt các nhà nghiên cứu lịch sử quốc tế: Lòng quyết tâm của cả một dân tộc

Thu Hồng

Trong 2 ngày 27 và 28/4 tại Hà Nội đã diễn ra một cuộc hội thảo quốc tế có chủ đề "50 năm chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ" với sự tham gia đông đảo của giới nghiên cứu lịch sử trong và ngoài nước. Ủy viên Bộ Chính trị - Thường trực Ban Bí thư Phan Diễn; Phó thủ tướng Phạm Gia Khiêm; Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã dự lễ khai mạc hội thảo.

Điều đặc biệt ở cuộc hội thảo này là số lượng bài tham luận của các nhà nghiên cứu lịch sử nước ngoài chiếm tới 2/3 cuộc hội thảo. Và điều đáng mừng, theo các nhà khoa học Việt Nam và các nhân chứng lịch sử từng có mặt trong cuộc chiến Điện Biên Phủ, là những bài tham luận đó đều đưa ra những câu trả lời chân xác, toàn diện và rất đầy đủ về chiến dịch Điện Biên Phủ.

Rõ ràng, với không ít những người đã từng biết đến một Điện Biên Phủ chấn động địa cầu, "trận bão" Điện Biên Phủ vẫn chưa lắng lại trên con đường nửa thế kỷ lịch sử đã đi qua. Trong bài tham luận có tựa đề đáng chú ý "Điện Biên Phủ nhìn từ nước Pháp: từ lạc quan cuồng nhiệt đến chấn thương vì thất bại", Chủ tịch Trung tâm Thông tin và tài liệu về Việt Nam hiện đại Pháp - tiến sĩ Alain Ruscio thừa nhận: "Năm 1953. Đó là sự sa lầy. Ở Pháp, dư luận xen lẫn những lúc thờ ơ, những khi bực tức, giận dữ".

Nhà Việt Nam học nổi tiếng, Giáo sư tiến sĩ Charles Fourniau là người Pháp cuối cùng được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh trước ngày Người từ trần một tuần. Với cách nhìn rất sâu sắc về Việt Nam, ông cho rằng chiến thắng Điện Biên Phủ được giải thích trước hết bởi cuộc chiến đấu anh hùng của dân tộc Việt Nam, bởi sự tài tình trong chỉ huy chính trị và quân sự, bởi sự ủng hộ mang tính quốc tế của các lực lượng tiến bộ trên toàn thế giới, nhưng theo ông có lý do về phía nước Pháp - đó là "sự mù quáng của thế giới thuộc địa muốn được áp đặt sức mạnh và lợi ích của nó đối với một dân tộc".

"Vừa qua, một số sinh viên đại học Italy đề nghị tôi giải thích hai cuộc chiến tranh Việt Nam, nhất là trận chiến Điện Biên Phủ. 50 năm đã qua, sự kiện đã từng làm rung chuyển dư luận Italy và châu Âu đã đi vào quá khứ. Những sinh viên đang phải học về những năm tháng đó luôn đặt ra câu hỏi như trên, bởi trong nhiều giáo trình lịch sử quan trọng, người ta thấy nhiều câu trả lời, nhưng ít khi tìm được "câu trả lời" viết hoa. Câu trả lời đúng nhất, đầy đủ nhất phải là: Dân tộc Việt Nam đã chiến thắng vì lòng quyết tâm của cả một dân tộc". -Nhà nghiên cứu người Italy Pino Tagliazucchi

Trong bài tham luận của mình, giáo sư sử học người Pháp Benjamin Stora thừa nhận có một sự "ám ảnh" Điện Biên Phủ: "Trong tập đại album mang tên Thế kỷ (Century) lưu giữ những hình ảnh tiêu biểu của thế kỷ 20, có 2 bức họa đen trắng minh họa cho năm 1954. Bức ảnh thứ nhất là hình hai người lính Pháp đang nằm dài, mệt mỏi, chờ quân đội Việt Nam của tướng Giáp tấn công. Bức ảnh thứ hai, một người lính trẻ như đang bị lạc trên một con đường ở châu Á, đầy hốt hoảng, bồng trên tay một đứa bé. Lời thuyết minh đề: Điện Biên Phủ là một thảm họa của quân đội Pháp".

Dựa vào nguồn tư liệu từ hai cuốn sách Chiến dịch Điện Biên Phủ của Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Những nhân tố quyết định của 20 chiến dịch lớn trên thế giới của nhà sử học quân sự người Anh William Simo, ông Li Zhenwu (Viện Khoa học xã hội Quảng Đông, Trung Quốc) lý giải khá chân xác những nguyên nhân giành chiến thắng của quân đội Việt Nam với 3 yếu tố cơ bản: chiến lược, chiến thuật rõ ràng; quân đội anh dũng thiện chiến; công tác hậu cần được bảo đảm vững chắc. Ông Li Zhenwu nhấn mạnh: "Chiến dịch Điện Biên Phủ không chỉ có ý nghĩa về chính trị, mà còn là chiến dịch kinh điển trong lịch sử quân sự thế giới...".

Cuộc hội thảo đã để lại nhiều xúc cảm khó quên không chỉ đối với giới sử học Việt Nam, các nhân chứng đã từng có mặt trong cuộc chiến đầy hào hùng của dân tộc, mà còn để lại trong tâm thức và tình cảm các nhà nghiên cứu đến từ nhiều nước những dấu ấn đáng nhớ, khi họ được cùng ngồi với chính những người con của một đất nước đã làm nên một "Điện Biên Phủ - thiên sử vàng". Và điều có ý nghĩa hơn cả cuộc hội thảo này sẽ khép lại trang sử 50 năm Điện Biên Phủ để mở ra một trang sử mới giữa nhân dân hai nước Việt Nam và Pháp cùng đoàn kết, hợp tác, phát triển, như câu nói của nhà Việt Nam học Charles Fourniau.






25. Điện Biên Phủ: Những điều chưa từng có trong lịch sử chiến tranh

Mai Trọng Tuấn - Báo Thanh niên

Muôn đời sau các thế hệ người Việt Nam sẽ còn nhắc đến chiến thắng vĩ đại Điện Biên Phủ, không chỉ là niềm tự hào về ông cha của mình mà còn như là của chính mình.

Xe đạp lên ngôi vua vận tải

Thời ấy các gia đình khá giả mới có được một chiếc xe đạp, đó cũng là tài sản quý nhất của mỗi nhà. Thế mà dân đem xe ra trận, sáng kiến, cải tiến, gia cố chiếc xe đạp của mình thành xe thồ, phương tiện vô cùng lợi hại vận chuyển tiếp tế cho mặt trận mà không có bất cứ phương tiện nào sánh kịp; trên địa hình hiểm trở, đường hẹp, dốc trơn, vừa phát cây san đường, chỉ cần 1 mét chiều ngang là đi được.

"Xe đạp thồ" là một danh từ ra đời từ mặt trận Điện Biên Phủ. Nó đã góp phần quan trọng vào chiến thắng, trở thành ngôi vua vận tải cho trận đánh lớn này. Có lẽ vì thế mà chiếc tay cầm nối dài được gọi là "tay ngai" (chỉ có vua mới có ngai).

Đại tướng Võ Nguyên Giáp nói: "Mỗi xe thồ lúc đầu chở được 100 kg sau đó nâng lên 200 kg, 300 kg. Có một dân công ở Phú Thọ, anh Ma Văn Thắng chở được 352 kg. Năng suất xe thồ gấp 10 lần dân công gánh bộ. Gạo ăn dọc đường cho người chuyên chở cũng giảm đi 10 lần". Như vậy 1 dân công với chiếc xe đạp thồ bằng 100 dân công gánh bộ.

Đội quân xe đạp thồ xuất hiện ở Điện Biên là một sự kỳ diệu chưa từng có trong lịch sử chiến tranh, không chỉ ở Việt Nam mà cả lịch sử chiến tranh thế giới.

Giặc liên tục tiếp tế cho ta, biết mà vẫn phải làm

Trong lịch sử chiến tranh đánh giặc ngoại xâm của dân tộc Việt Nam từ xưa tới nay chưa hề có trận đánh nào dài ngày như trận đánh Điện Biên Phủ. Chỉ tính từ lúc nổ súng cho đến khi quân giặc đầu hàng, tướng giặc bị bắt, trọn 56 ngày đêm giao tranh không ngừng tiếng súng.

Đây là chuyện rất hy hữu chưa từng có trong chiến tranh, kể cả trên thế giới.

Khi trận Điện Biên Phủ diễn ra được 3 tuần lễ, vòng vây khép chặt, ta và địch kề cận nhau, có nơi xen kẽ, có điểm lúc này thuộc bên này, lúc khác lại thuộc bên kia, đêm quân ta đào giao thông hào, ban ngày địch cho xe ra san lại.

Hàng vạn quân địch chỉ trông chờ vào phương tiện tiếp tế duy nhất là đường hàng không cách xa trên 360 km. Sân bay Mường Thanh liên tục bị ta pháo kích. Chỉ còn lại một biện pháp duy nhất là thả dù. Máy bay Pháp, phi công Pháp huy động 100% vẫn không đủ. Phải nhờ đến cả máy bay vận tải Mỹ, phi công của Mỹ mặc thường phục để thả dù tiếp tế cho Điện Biên Phủ.

Về nguyên lý máy bay thả dù, muốn thả cho chính xác cần phải xuống thấp và tính được gió. Lòng chảo Điện Biên hướng Đông - Tây hẹp, chung quanh núi cao, chỉ có chiều dài theo hướng Bắc - Nam. Mà ở cả hai đầu hướng Bắc Nam, cao xạ pháo và súng phòng không của ta sẵn sàng nghênh đón. Vậy là chỉ còn hai cách bay trên cao và thả ban đêm. Với hai cách này mà ở vùng lòng chảo lại thường có gió quẩn, dù rơi không chính xác và không theo chiều nhất định. Hàng thả dù rất khó trúng đích, rơi rất nhiều sang phía quân ta. Địch biết rõ nhưng không có cách nào khắc phục được.

Cố Đại tướng Hoàng Văn Thái kể lại rằng: "Có đến trên một phần ba đồ tiếp tế của chúng rơi vào trận địa quân ta, có những thứ ta đang rất cần, đã hết hoặc không có như: huyết thanh khô, đạn súng cối, đạn đại bác... Có lần anh em nhặt được những bao tải, tưởng là bao cát định đem làm công sự. Tiểu đoàn trưởng thấy ngoài bao có chữ "Sucre" liền thọc lưỡi lê vào rút ra toàn là đường trắng, một thứ rất quý, cần tăng sức cho bộ đội ta. Có những thứ không ai nghĩ tới như nước đá cây, xà lách, hành tây. Các chiến binh 312 còn nhặt được cả một thùng hàng trong đó có rượu sâm-banh và quân hàm cấp tướng của DeCastries mới được phong. Anh em quẳng quân hàm đi và mở rượu ra liên hoan. Trong vòng một tuần lễ có trung đoàn thu được 776 dù hàng của địch đủ các loại: gạo, sữa, đường, sô-cô-la, đạn pháo... (địch đã thả dù sang trận địa ta, tổng cộng 5.000 viên đạn đại bác 105 ly).

Tất cả hàng tiếp tế rơi vào quân ta. Bộ Chỉ huy Pháp biết rất rõ, biết từng ngày, biết cả số liệu cụ thể nhưng không có cách nào khác là từng ngày vẫn cứ phải tiếp tế nhiều hơn, càng tiếp tế thì tập đoàn cứ điểm càng thêm nguy cơ "tắt thở".

Trận đánh của cả nước

Các tư liệu được sử dụng trong bài viết:

- “Đường tới Điện Biên Phủ” - Hồi ức của Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

- “Điện Biên Phủ - Điểm hẹn lịch sử” - Hồi ức của Đại tướng Võ Nguyên Giáp do Hữu Mai thể hiện. NXB QĐND.

- “Điện Biên Phủ - Chiến dịch lịch sử”- Hồi ức của Đại tướng Hoàng Văn Thái - do Trần Trọng Trung thể hiện. NXB QĐND.

Lần đầu tiên và cũng là sự kiện có một không hai trong lịch sử đánh giặc ngoại xâm của dân tộc ta, dân ra mặt trận nhiều hơn quân đội. Chỉ tính riêng đội quân xe đạp thồ (hơn 2 vạn) đã đông hơn số quân chủ lực. Chưa tính và không thể nào tính hết được biết bao nhiêu dân công tiếp lương, tải đạn, làm đường suốt biên giới trở về, từ đồng bằng khu 3, khu 4, Trung Du ngược lên, trên mọi nẻo đường. Dân nuôi quân, che chở, chăm lo từng bước quân đi.

Trung ương Đảng và Chính phủ động viên toàn dân dốc sức chi viện cho trận Điện Biên Phủ. Một tổ chức đặc biệt được thành lập là Hội đồng cung cấp trung ương do đồng chí Phạm Văn Đồng làm Chủ tịch. Thời gian này ở lại hậu phương phần lớn chỉ là người già yếu và trẻ em. Chưa bao giờ khát vọng vì độc lập tự do, ý chí, tinh thần của dân tộc Việt Nam "quyết tâm đánh thắng giặc, tất cả cho tiền tuyến" lại trở thành sức mạnh vật chất một cách cụ thể, hùng hậu đến như vậy.

Trên mọi mặt trận từ đồng bằng, khu 3, khu 4, Bình Trị Thiên, miền Trung, khu 5, Tây Nguyên cho đến Nam Bộ - ở đâu đâu, bất cứ trận đánh lớn nhỏ, đánh sân bay, kho tàng, đánh thật hoặc đánh nghi binh... tất cả đều đặt lên hàng đầu một mục tiêu là: phối hợp với mặt trận Điện Biên Phủ.

Có thể nói rằng: mùa xuân năm 1954 - cả nước Việt Nam đánh trận Điện Biên Phủ.







Comments