Về tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh

Năm 1990, toàn thế giới kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Hồ Chí Minh. Người trở thành danh nhân được toàn nhân loại thừa nhận bởi Người là vị anh hùng lỗi lạc của dân tộc Việt Nam đồng thời là nhà văn hóa lớn (Nghị quyết của UNESCO). Chúng tôi muốn nhấn mạnh tới vế sau khi nghĩ về Người. Đã là nhà văn hóa lớn phải là nhà nhân văn lớn. Cốt lõi của tinh thần văn hóa đích thực bao giờ cũng là phẩm chất nhân đạo sâu sắc. Đối với một dân tộc là vậy, đối với một con người cũng vậy. Hồ Chí Minh quả là nhà nhân văn lớn. Mỗi  người Việt Nam yêu nước bao giờ cũng thấm thía, xúc động khi nhắc tới câu nói tự đáy lòng của Hồ Chí Minh vào tháng 1-1946: “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bực, là làm sao cho nước ta được độc lập, dân ta được tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”.

Phải khẳng định rằng, chủ nghĩa nhân văn ở Người luôn gắn bó với chủ nghĩa yêu nước vốn là đặc điểm nổi bật trong suốt cuộc đời hoạt động oanh liệt của Người. Hãy ngược dòng lịch sử trở về với những năm tháng đen tối hồi đầu thế kỷ. Cách mạng Việt Nam đứng trước bế tắc về đường lối. “Sông Hồng chảy về đâu và lịch sử?” (Chế Lan Viên). Thật sự chưa có câu trả lời xác đáng. Hồi ấy không thiếu những nhà yêu nước giàu nhiệt huyết. Cụ Phan Bội Châu, cụ Phan Chu Trinh là những người tiêu biểu. Tiếc rằng cụ Phan Bội Châu chỉ tập trung vào mục tiêu độc lập cho dân tộc và đã hướng sang đất nước Nhật “đồng chủng, đồng văn” để mưu tìm con đường giải phóng. Đó là một lầm lạc lịch sử. Cụ Phan Chu Trinh có ý định dựa vào Pháp để mưu cầu tự do cho nhân dân mình, lại rơi vào một bi kịch khác. Nhà yêu nước Nguyễn Ái Quốc tìm đến với chủ nghĩa Lênin, và trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể khi ấy Người đã có công chấm dứt sự bế tắc về đường lối của cách mạng Việt Nam. Bằng cuộc Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, lần đầu tiên trong lịch sử nước ta, Người đã cùng với các đồng chí của mình kết hợp một cách có ý thức hai mục tiêu độc lập cho dân tộc và tự do cho nhân dân trong phong trào cách mạng của quần chúng.

Thật ra, ngay từ những năm lênh đênh đi tìm đường cứu nước ở phương Tây, Người đã sớm tiếp cận với chân lý này. Tại Đại hội Tua, Người nói : “Chủ nghĩa đế quốc Pháp đã vào Đông Dương từ nửa thế kỷ nay: Vì lợi ích của nó, nó đã dùng lưỡi lê để chinh phục đất nước chúng tôi”. Và vì vậy, Người nói tiếp : “Chúng tôi không có quyền tự do báo chí và tự do ngôn luận. Ngay cả quyền tự do hội họp và lập hội cũng không có... Chúng tôi phải sống trong cảnh ngu dốt tăm  tối vì chúng tôi không có quyền tự do học tập” (1). Ở một nước thuộc địa vấn đề dân quyền, nhân quyền chỉ có điều kiện giải quyết triệt để khi đã giải quyết về căn bản vấn đề độc lập dân tộc. Nhưng các quyền tự do và bình đẳng về quyền lợi của con người như cách nói của Người vốn là “điều kiện tối thiểu đối với chúng ta”, vốn là “điều kiện sơ đẳng nhất của hành động” (2) phải được tiếp tục giải quyết khi chúng ta giành được độc lập cho dân tộc.

Để giành và giữ nền độc lập của dân tộc, trong quá trình lãnh đạo nhân  dân ta tiến hành cách mạng và kháng chiến chống mọi kẻ thù, Hồ Chí Minh và Đảng của Người bao giờ cũng tranh thủ biện pháp mềm mỏng nhất, đi bằng con đường ít đổ máu nhất để dẫn tới thắng lợi cuối cùng. Người luôn tha thiết với hòa bình. Phải cầm súng tự vệ, đó là điều bất đắc dĩ. Tư tưởng ấy nổi bật trong mọi suy nghĩ và hành động của Người.

Vào năm 1946 đầy sóng gió, dưới sự chỉ đạo của Người, chúng ta đã nhân nhượng ký Hiệp định sơ bộ 6/3, rồi Tạm ước 14/9. Chỉ khi thực dân Pháp trắng trợn xâm lược nước ta, Hồ Chí Minh mới kêu gọi toàn quốc kháng chiến vào ngày 19/12 lịch sử. Tháng 11-1953, khi thế và lực của chúng ta đã đủ mạnh để đẩy nhanh cuộc kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn, một số chính khách Pháp có ý muốn thương lượng để chấm dứt xung đột ở Việt Nam. Trả lời câu hỏi về vấn đề này của nhà báo Thụy Điển, Người khẳng định: “Cuộc chiến tranh ở Việt Nam là do Chính phủ Pháp gây ra. Nhân dân Việt Nam phải cầm vũ khí anh dũng chiến đấu... để bảo vệ nền độc lập và quyền tự do được sống hòa bình. Nếu chính phủ Pháp đã rút được bài học trong cuộc chiến tranh mấy năm nay, muốn đến đình chiến ở Việt Nam bằng cách thương lượng và giải quyết vấn đề Việt Nam theo lối hòa bình thì nhân dân và Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa sẵn sàng tiếp ý muốn đó”.(3)

Khi nước nhà giành được độc lập thì theo Hồ Chí Minh mục đích tự do, hạnh phúc cho mỗi người dân phải được đặt lên hàng đầu, phải quán xuyến trong mọi hoạt động của Nhà nước nếu không thì mọi ý định tốt đẹp của người cộng sản chỉ là ảo tưởng, mọi hứa hẹn của người cộng sản chỉ là lời nói suông. Vào những ngày vừa giành được chính quyền, Người khẳng định: “Ngày nay chúng ta đã xây dựng nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Nhưng nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do thì độc lập cũng không có nghĩa lý gì” (4). Điều kỳ lạ là khi mới giữ cương vị Chủ tịch nước, Người đã nhạy bén nhận ra nguy cơ ngăn cách chính quyền với nhân dân do những “lỗi lầm rất nặng nề” của càn bộ điều hành từ Trung ương đến các địa phương. Trong thư gửi Ủy ban nhân dân các bộ, tỉnh, huyện và làng tháng 10-1945, Người phê phán những thói hư tật xấu của một số cán bộ chính quyền như: trái phép, cậy thế, hủ hóa, chia rẽ, kiêu ngạo, và Người kêu gọi: “Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm, việc gì hại cho dân, ta phải hết sức tránh” (5). Ngày 3-11-1946 được sự nhất trí của Quốc hội, Người đứng ra thành lập Chính phủ mới. Ngay sau đấy, Người viết chỉ thị bằng tay về “Công việc khẩn cấp bây giờ” trong đó có đoạn nói về đảng viên: “Cần phải rửa sạch những thói: hẹp hòi, phô diễn, tự đại, ỷ lại, lười biếng, nhút nhát, hủ hóa” (6). Giờ đây, càng đọc những dòng này, càng thấy thấm thía! Giá như mỗi cán bộ đảng viên đều thực hiện nghiêm túc những lời căn dặn này của Người thì chắc không dẫn tới tình trạng xói mòn lòng tin của nhân dân vào Đảng cộng sản như có lúc có nơi đã xảy ra.

Cuộc kháng chiến 9 năm chống thực dân Pháp kết thúc vào năm 1954, một nửa nước đi lên chủ  nghĩa xã hội làm hậu thuẫn vững chắc cho công cuộc đấu tranh thống nhất đất nước, hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc trong phạm vi cả nước. Tìm đến với chủ nghĩa xã hội, Hồ Chí Minh chưa bao giờ coi đó là mục đích cuối cùng. Người khẳng định: “Cách mạng xã hội chủ nghĩa là nhằm xóa bỏ mọi chế độ người bóc lột người ở nước ta nhằm đưa lại đời sống no ấm cho toàn dân ta” (7). Vậy mục đích cuối cùng mà cách mạng xã hội chủ nghĩa phải hướng tới chính là sự phồn vinh của đất nước, cuộc sống hạnh phúc của mỗi người. Những lời sau Người để lại trước lúc đi xa cũng chính là ước nguyện nhất quán ấy: “Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp Cách mạng thế giới” (Di chúc).

Sinh thời, Hồ Chí Minh rất coi trọng đạo đức cách mạng. Kẻ thù của đạo đức cách mạng theo Người chính là chủ nghĩa cá nhân. Thế nhưng, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, như Người từng dạy, không phải là “giày xéo lên lợi ích cá nhân” vì “mỗi người đều có tính cách riêng, sở trường riêng của bản thân và gia đình” (8). Người trước sau khẳng định: “Bọn tư sản thường bịa đặt rằng: chế độ xã hội chủ nghĩa của chúng ta không tôn trọng quyền lợi cá nhân của người công dân. Nhưng thực tế thì chỉ có chế độ chúng ta mới thật sự phục vụ lợi ích của nhân dân... đảm bảo mọi quyền lợi của nhân dân” (9). Chủ nghĩa xã hội đích thực mà chúng ta đang phấn đấu nhằm tạo ra trên thực tế mối quan hệ hài hòa giữa lợi ích cá nhân và tập thể, giữa cái chung và cái riêng, nghĩa là một xã hội nhân đạo nhất, công bằng nhất, dân chủ nhất.

Hướng tới Di chúc lịch sử của Hồ Chí Minh, chúng ta - những trí thức mới cần học tập, thấm nhuần tư tưởng lớn lao trong đó có tư tưởng nhân văn của Người, thiết thực đóng góp vào công cuộc Đổi mới đang diễn ra ngày một sâu rộng và triệt để trên đất nước thân yêu của chúng ta. Đóng góp chủ yếu của giới trí thức bao giờ cũng ở phương diện khai trí khai minh. Hãy ghi nhớ lời dặn của Hồ Chí Minh: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu” (10). Muốn thoát khỏi tình trạng dốt nát phải học, học mãi, nhưng với thái độ ra sao? “Phải nêu cao tác phong độc lập suy nghĩ và tự do tư tưởng” (11). Người đã yêu cầu như vậy khi khai mạc lớp lý luận Khóa I trường Nguyễn Ái Quốc Trung ương ngày 7/9/1957.

................................................................................................................................................

(1), (3), (4), (5), (6), (10) - Hồ Chí Minh tuyển tập, Tập I, Sự thật, Hà Nội - 1980 - tr.3 và tr.4, tr.541, tr.369, tr.370, tr.371, tr.398, tr.356.

(2) Tạp chí Cộng sản - Số 2/1990.

(7), (8), (11) - Hồ Chí Minh tuyển tập, Tập II, Sự thật, Hà Nội 1980, tr.88, tr.104, tr.136,

tr.77.