Fulton Oursler

CHUỖI NGỌC LAM - Nguyễn hiến Lê dịch ...

* Chuỗi ngọc lam

* Hai bác mì bò

* Những viên đá lớn

* Mẹ tôi

* Cô bé bán diệm

* Chiếc chuông của ông

* Một bài học của biển cả

Chuỗi Ngọc Lam (Fulton Oursler- Nguyễn hiến Lê dịch)


Ngày cô bé Joan Grace đẩy cửa bước vào tiệm của Pierre Richard thì Pierre là con người cô độc nhất thành phố. Có lẽ hồi ấy bạn đã được nghe phong phanh câu chuyện đó. Nhưng báo chí không nêu tên mà cũng không kể chi tiết nên hôm nay tôi xin thuật lại tường tận.
 Pierre đã được ông nội để lại cho một cửa tiệm bán đồ cổ. Trong cái tủ kính nhỏ xíu nhất anh chất đủ các thứ đồ kỳ cục : vòng, mề đay đeo và dây chuyền có từ thế kỷ trước, nhẫn vàng, hôp bạc, ngọc thạch hoặc ngà chạm trổ, tượng nhỏ bằng sứ.
 Buổi chiều, mùa đông hôm đó, một em gái đứng áp trán vào tủ kính, trố mắt ngó kỹ từng vật cổ lỗ đó như muốn tìm môt vật gì. Bỗng em ngững đầu lên, vẻ khoan khóai rồi đẩy cửa bước vào tiệm.
 Em hỏi :
 - Thưa ông, con có thể coi chuỗi ngọc lam bày ở tủ kính không ạ?
 Pierre kéo tấm màn, lấy chuỗi ngọc ra đưa cho cô bé xem. Những viên ngọc lam chiếu rực rỡ trong bàn tay xanh xao của anh. Em đỡ lấy, thốt lên lời khen :
 - Đẹp quá ! Xin ông gói lại thành một gói đẹp cho con.
 Pierre lạnh lùng ngó em :
 - Có ai sai em đi mua hả ?
 - Thưa không, con mua cho chị Hai con. Chị đã nuôi nấng con từ khi má mất. Đây là lễ Noel đầu tiên chị em con được ở gần nhau. Con muốn tặng chị con một món quà đẹp.
 Pierre nghi ngờ hỏi :
 - Em có bao nhiêu tiền ?
 Em mở khăn tay ra, đổ lên bàn một nắm bạc xu, bảo :
 - Con đã đập con heo của con ra đấy.
 Pierre Richard ngó em, vẻ trầm tư. Rồi em ý tứ cầm chuỗi ngọc lên, sợ em trông thấy giá tiền. Nói thẳng cách nào cho em biết được ? Cặp mắt xanh đầy tin tưởng của em gợi cho anh nhớ lại vết thương lòng thời trước.
 Quay lưng lại em, anh bảo :
 - Em đợi một chút nhé.
 Rồi vừa lúi húi làm một việc gì đó, anh vừa quay lại hỏi :
 - Em tên gì ?
 - Thưa, Joan Grace.
 Khi quay lại thì trong tay anh đã cầm một gói nhỏ bao bẳng giấy lụa đỏ và cột bằng một bãng lụa màu xanh lá cây. Anh đưa cho em bé và bảo:
- Này, coi chừng em đừng đánh rơi nhé.
Em Joan mĩm cười rạng rỡ, chạy vụt về nhà. Anh nhìn theo, một nổi buồn mênh mông dâng lên trong lòng. Em nhỏ đó và chuổi ngọc lam khêu gợi lại một vết thương lòng không bao giờ lành hẳn của anh. Tóc em vàng nhý lúa chín, mắt em xanh như nước biển; mới mấy nãm trướcc, anh đã yêu một thiếu nữ cũng có mớ tóc đó, cặp mắt đó. Chuỗi ngọc đã tính để tặng nàng.

 Nhưng một chiếc xe cam nhông trượt bánh trên con đường trơn trợt một đêm mưa đã làm tiêu tan ước mơ.
 Từ đó anh sống cô độc, ôn lại hòai nỗi khổ tâm. Anh ân cần lễ độ tiếp khách, nhưng ngòai công việc ra, anh thấy đời trống rỗng vô nghĩa một cách khủng khiếp. Lầm lì, không giao thiệp với ai, anh rán quên mà không quên được, nỗi thất vọng như sương mù cứ mỗi ngày mỗi dày đặc.
 Cặp mắt xanh của em Joan Grace gợi cho anh hình ảnh người yêu. Vào dịp lễ này, khách hàng tới đông, ai cũng bộc lộ niềm vui làm cho anh càng đau lòng. khách qua đường bước vào tiệm, chuyện trò, sờ mó các món đồ, trả giá lăng xăng. Đêm Noel đã khuya rồi, khi người khách cuối cùng bước ra, Pierre Richard thở phào nhẹ nhàng. Thôi thế là qua được năm nay. Nhưng anh đã lầm.
 Cửa thình lình mở ra, một thiếu nữ xông vào. Anh thấy nhói ở tim : thiếu nữ có vẻ mặt quen quen nhưng anh không nhớ rõ đã găp ở đâu, hồi nào. Tóc cô vàng hoe, mắt xanh thăm thẳm. Cô im lặng lấy trong túi xách ra một gói nhỏ bao vội vàng một thứ giấy lục đỏ, lại có cả cái băng lụa màu xanh lá cây đã mở ra rồi. Và những viên ngọc lam chiếu rực rỡ trên bàn :
 - Chiếc chuỗi ngọc lam này có pảhi của tiệm ông không ?
 Pierre ngước mắt lên nhìn cô, nhẹ nhàng trả lời :
 - Phải.
 - Phải ngọc thật không ?
 - Nhất định rồi. Không phải là thứ ngọc quý nhất nhung ngọc thật đó.
 - Ông có nhớ đã bán cho ai không ?
 - Bán cho một cô bé. tên em là Joan. Em mua để tặng qùa Noel cho chị Hai của em.
 - Giá bao nhiêu ?
 Pierre nghiêm mặt đáp :
 - Tôi không khi nào nói giá tiền khách hàng đã trả cho tôi.
 - Em Joan chỉ có ít đồng tiền tiêu vặt làm sao em có đủ tiền mua chuỗi ngọc này ?
 Trong lúc đó, Pierre vuốt kỹ lại tờ giấy lụa, gói lại chuỗi ngọc. Anh bảo :
 - Em đã trả đắt hơn hết thảy các người khác. Có bao nhiêu tiền em đưa tôi hết.
 Hai người làm thinh. Cửa hàng bỗng tĩnh mịch lạ thường. Tiếng chuông từ một giáo đường ở gần đó bắt đầu đổ, văng vẳng đưa lại. cái gói nhỏ đặt trên bàn, vẻ thắc mắc dò hỏi trong cặp mắt thiếu nữ và cảm giác hồi sinh kỳ dị dồn dập dâng lên trong lòng Pierre, tất cả những cái đó đều là do tình yêu của một em nhỏ.
 - Nhưng sao ông lại làm như vậy ?
 Pierre vừa đưa gói nhỏ đó cho cô vừa trả lời :
 - Hôm nay là ngày Noel. Tôi bất hạnh không có ai để tặng quà. Cô cho phép tôi đưa cô về nhà và chúc cô một lễ Noel vui vẻ với gia đình nhé !
 Thế là trong tiếng chuông đổ hồi, giữa một đám đông vui vẻ, Pierre Richard và một thiếu nữ mà anh chưa từng biết tên, cùng nhau bước qua một ngày mới đem lại nguồn hy vọng tràn trề trong lòng mọi người.

(www.viendu.com

 
Hai bát mì bò

Vào một buổi chiều mùa xuân lạnh lẽo, trước cửa quán xuất hiện hai vị khách rất đặc biệt, một người cha và một người con. Nói đặc biệt là bởi vì người cha bị mù. Người con trai đi bên cạnh cẩn mẫn dìu người cha. Cậu con trai trạc mười tám mười chín tuổi, quần áo đơn giản, lộ rõ vẻ nghèo túng, nhưng từ cậu lại toát lên nét trầm tĩnh của người có học, dường như cậu vẫn đang là học sinh...

Cậu con trai tiến đến trước mặt tôi: "Cho hai bát mì bò!", cậu nói to. Tôi đang định viết hoá đơn, thì cậu ta hướng về phía tôi và xua xua tay. Tôi ngạc nhiên nhìn cậu ta, cậu ta nhoẻn miệng cười biết lỗi, rồi chỉ tay vào bảng giá treo ở trên tường, phía sau lưng tôi, bảo tôi rằng chỉ làm một bát mì cho thịt bò, bát kia chỉ cần rắc chút hành là được. Lúc đầu, tôi hơi hoảng, nhưng sau đó chợt hiểu ra ngay. Hoá ra, cậu ta gọi to hai bát mì thịt bò như vậy là cố tình để cho người cha nghe thấy, thực ra thì tiền không đủ, nhưng lại không muốn cho cha biết. Tôi cười với cậu ta tỏ vẻ hiểu ý.

Nhà bếp nhanh nhẹn bê lên ngay hai bát mì nóng hổi. Cậu con trai chuyển bát mì bò đến trước mặt cha, ân cần chăm sóc: "Cha, có mì rồi, cha ăn đi thôi, cha cẩn thận kẻo nóng đấy ạ!". Rồi cậu ta tự bưng bát mì nước về phía mình. Người cha không vội ăn ngay, ông cầm đũa dò dẫm đưa qua đưa lại trong bát. Mãi lâu sau, ông mới gắp trúng một miếng thịt, vội vàng bỏ miếng thịt vào bát của người con. "Ăn đi con, con ăn nhiều thêm một chút, ăn no rồi học hành chăm chỉ, sắp thi tốt nghiệp rồi, nếu mà thi đỗ đại học, sau này làm người có ích cho xã hội." Người cha nói với giọng hiền từ, đôi mắt tuy mờ đục vô hồn, nhưng trên khuôn mặt đầy nếp nhăn lại sáng lên nụ cười ấm áp. Điều khiến cho tôi ngạc nhiên đó là, cái cậu con trai đó không hề cản trở việc cha gắp thịt cho mình, mà cứ im như thóc đón nhận miếng thịt từ bát của cha, rồi lại lặng lẽ gắp miếng thịt đó trả về.

Cứ lặp đi lặp lại như vậy, dường như thịt trong bát của người cha cứ gắp lại đầy, gắp mãi không hết. "Cái quán này thật tử tế quá, một bát mì mà biết bao nhiêu là thịt." Ông lão cảm động nói. Kẻ đứng ngay bên cạnh là tôi, chợt toát hết cả mồ hôi, trong bát chỉ có vài mẩu thịt tội nghiệp, quắt queo bằng móng tay, lại mỏng chẳng khác gì xác ve. Người con trai nghe vậy vội vàng tiếp lời cha: "Cha à, cha ăn mau ăn đi, bát của con đầy ắp không biết để vào đâu rồi đây này". "Ừ... ừ, con ăn nhanh lên, ăn mì bò thực ra cũng có chất lắm đấy."

Hành động và lời nói của hai cha con đã làm chúng tôi rất xúc động. Chẳng biết từ khi nào, bà chủ cũng đã ra đứng cạnh tôi, lặng lẽ nhìn hai cha con họ. Vừa lúc đó, cậu Trương đầu bếp bê lên một đĩa thịt bò vừa thái, bà chủ dẩu dẩu môi ra hiệu bảo cậu đặt lên bàn của hai cha con nọ. Cậu con trai ngẩng đầu tròn mắt nhìn một lúc, bàn này chỉ có mỗi hai cha con cậu ngồi, cậu ta vội vàng hỏi lại: "Anh để nhầm bàn rồi thì phải, chúng tôi không gọi thịt bò." Bà chủ mỉm cười bước lại chỗ họ: "Không nhầm đâu, hôm nay chúng tôi kỉ niệm ngày mở quán, đĩa thịt này là quà biếu khách hàng. " Cậu con trai cười cười, không hỏi gì thêm.

Cậu lại gắp thêm vài miếng thịt vào bát người cha, sau đó, bỏ phần còn thừa vào trong một cái túi nhựa. Chúng tôi cứ im lặng chờ cho hai cha con ăn xong, rồi lại dõi mắt tiễn hai cha con ra khỏ quán. Mãi khi cậu Trương đi thu bát đĩa, đột nhiên kêu lên khe khẽ. Hoá ra, đáy bát của cậu con trai đè lên mấy tờ tiền giấy, vừa đúng giá tiền của một đĩa thịt bò, được viết trên bảng giá của cửa hàng. Cùng lúc, tôi, bà chủ, và cả cậu Trương chẳng ai nói lên lời, chỉ lặng lẽ thở dài, mỗi người theo đuổi một ý nghĩ riêng.

 

Những viên đá lớn


Một nhà hùng biện về đề tài "quản lý thời gian" ngày kia được mời đến thuyết trình cho một nhóm sinh viên ngành quản trị kinh doanh. Ông mở đầu bài thuyết trình bằng một minh họa mà mọi người không bao giờ quên được. Ông đặt trên bàn một cái bình lớn, sau đó lấy những viên đá to bằng nắm tay bỏ vào trong bình cho tới khi bình đầy và không thể bỏ thêm đá vào nữa. Lúc bấy giờ ông hỏi nhóm sinh viên : "Các em thấy cái bình này đã đầy chưa ?" Mọi người nhao nhao nói lớn rằng bình đã đầy rồi. Người thầy bèn lấy từ dưới bàn một bịch sỏi và bỏ vào trong bình. Những viên sỏi len lỏi giữa những cục đá lớn và từ từ lọt hết vào bình. Nhìn đám sinh viên, ông hỏi: "Đầy chưa?" Một vài sinh viên nói lí nhí: "Chắc là chưa đâu". "Giỏi lắm !" - Người thầy nói và liền giơ cho cả lớp thấy một bịch cát. Ông đổ hết bịch cát vào bình và những hạt cát lại nhanh chóng len lỏi giữa những viên đá, viên sỏi rồi cuối cùng nằm gọn hết trong bình. Một lần nữa ông lại hỏi: "Đầy chưa?" Lần này hơn nửa lớp la lên: "Chưa !" Cười cười, ông bưng một xô nước đổ vào trong bình cho đến khi nước dâng ngập bình. Nhìn cả lớp, người thầy từ tốn hỏi: "Ý nghĩa của minh họa này là gì?". Một sinh viên mạnh dạn trả lời: "Thưa thầy, bài học là cho dù thời khóa biểu của chúng ta có bận rộn đến như thế nào, nếu như cố thêm chút nữa thì chắc chắn thế nào chúng ta cũng có thể làm thêm được vài việc khác nữa". "Không đúng ! - Người thầy nói - đó không phải là điểm chính của minh họa vừa rồi. Điều chúng ta học được ở đây là nếu như không để những viên đá lớn vào trước thì chúng ta sẽ chẳng bao giờ bỏ chúng vào trong bình được”. Những "viên đá lớn" trong cuộc sống của bạn là gì? Những nguyện vọng, ước mơ của bạn là gì? Là dành thời gian với gia đình? Là bạn bè? Là sự nghiệp?... Hãy nhớ những viên đá lớn này trong cuộc sống và hãy hành động vì những viên đá này trước hết. (nguồn dpctam.netfirms)

MẸ TÔI
 
        Suốt thời thơ ấu và cả khi lớn lên, lúc nào tôi cũng ghét mẹ tôi. Lý do chính có lẽ vì bà chỉ có một con mắt. Bà là đầu đề để bạn bè trong lớp chế giễu, châm chọc tôi
 
         Mẹ tôi làm nghề nấu ăn để nuôi tôi ăn học. Một lần bà đến trường để kiếm tôi làm tôi phát ngượng. Sao bà lại có thể làm như thế với tôi? Tôi lơ bà đi, ném cho bà một cái nhìn đầy căm ghét rồi chạy biến.
 
          Ngày hôm sau, một trong những đứa bạn học trong lớp la lên: “Ê, tao thấy rồi, Mẹ mày chỉ có một mắt!”.  Tôi xấu hổ chỉ muốn chôn mình xuống đất. Tôi chỉ muốn bà biến mất khỏi cuộc đời tôi. Ngày hôm đó đi học về tôi nói thẳng với bà: “Mẹ chỉ muốn biến con thành trò cười!”.  Mẹ tôi không nói gì. Còn tôi, tôi chẳng để ý gì đến những lời nói đó, vì lúc ấy lòng tôi tràn đầy giận dữ. Tôi chẳng để ý gì đến cảm xúc của mẹ. Tôi chỉ muốn thoát ra khỏi nhà không còn liên hệ gì với mẹ tôi. Vì thế tôi cố gắng học hành thật chăm chỉ và sau cùng tôi có đựợc một học bổng để đi học ở Singapore.

Sau đó, tôi lập gia đình, mua nhà và có mấy đứa con. Vợ tôi là con nhà gia thế, tôi giấu nàng về bà mẹ của mình, chỉ nói mình mồ côi từ nhỏ. Tôi hài lòng với cuộc sống, với vợ con và những tiện nghi vật chất tôi có được ở Singapore. Tôi mua cho mẹ một căn nhà nhỏ, thỉnh thoảng lén vợ gởi một ít tiền về biếu bà, tự nhủ thế là đầy đủ bổn phận. Tôi buộc mẹ không được liên hệ gì với tôi.

Một ngày kia, mẹ bất chợt đến thăm. Nhiều năm rồi bà không gặp tôi, thậm chí bà cũng chưa bao giờ nhìn thấy các cháu. Khi thấy một bà già trông có vẻ lam lũ đứng trước cửa, mấy đứa con tôi có đứa cười nhạo, có đứa hoảng sợ. Tôi vừa giận vừa lo vợ tôi biết chuyện, bèn hét lên: “Sao bà dám đến đây làm con tôi sợ thế? Ði khỏi đây ngay!”. Mẹ tôi chỉ nhỏ nhẹ trả lời “Ồ, xin lỗi tôi nhầm địa chỉ!” và lặng lẽ quay đi. Tôi không thèm liên lạc với bà trong suốt một thời gian dài.  Hồi nhỏ, mẹ đã làm con bị chúng bạn trêu chọc nhục nhã, bây giờ mẹ còn định phá hỏng cuộc sống đang có của con hay sao?

Một hôm, nhận được một lá thư mời họp mặt của trường cũ gởi đến tận nhà, tôi nói dối vợ là phải đi công tác. Sau buổi họp mặt, tôi ghé qua căn nhà của mẹ, vì tò mò hơn là muốn thăm mẹ. Mấy người hàng xóm nói rằng mẹ tôi đã mất vài ngày trước đó và do không có thân nhân, sở an sinh xã hội đã lo mai táng chu đáo.

Tôi không nhỏ được lấy một giọt nước mắt. Họ trao lại cho tôi một lá thư mẹ để lại cho tôi:

“Con yêu quý,

Lúc nào mẹ cũng nghĩ đến con. Mẹ xin lỗi về việc đã dám qua Singapore bất ngờ và làm cho các cháu phải sợ hãi. Mẹ rất vui khi nghe nói con sắp về trường tham dự buổi họp mặt,  nhưng mẹ sợ mẹ không bước nổi ra khỏi giường để đến đó nhìn con. Mẹ ân hận vì đã làm con xấu hổ với bạn bè trong suốt thời gian con đi học ở đây.

Con biết không, hồi con còn nhỏ, con bị tai nạn và hỏng mất một bên mắt. Mẹ không thể ngồi yên nhìn con lớn lên mà chỉ có một mắt, nên mẹ đã cho con con mắt của mẹ. Mẹ đã bán tất cả những gì mẹ có để bác sĩ có thể thay mắt cho con, nhưng chưa bao giờ mẹ hối hận về việc đó. Mẹ rất hãnh diện vì con đã nên người và mẹ kiêu hãnh vì những gì mẹ đã làm được cho con. Con đã nhìn thấy cả một thế giới mới, bằng con mắt của mẹ, thay cho mẹ..

Mẹ yêu con lắm,

Mẹ...".

treelife19@yahoo.com Sưu tầm

THE LITTLE MATCH-SELLER
Hans Christian Andersen

Đêm giáng sinh năm ấy trời thật lạnh. Đã mấy ngày liền tuyết rơi liên miên, như hối hả điểm trang cho thành phố vẻ thánh khiết để đón mừng ngày kỷ niệm Chúa Cứu Thế ra đời.
Em bé tay ôm bao giấy đầy những hộp diêm, vừa đi vừa cất giọng rao mời. Lạnh thế mà bé phải lê đôi chân trần trên hè phố. Đôi dép cũ rích của bé sáng nay bị lũ nhóc ngoài phố nghịch ngợm dấu đi mất. Trời lạnh như cắt. Hai bàn chân của bé sưng tím cả lên. Bé cố lê từng bước sát dưới mái hiên cho đỡ lạnh, thỉnh thoảng đôi mắt ngây thơ ngước nhìn đám đông hờ hững qua lại, nửa van xin, nửa ngại ngùng. Không hiểu sao bé chỉ bán có một xu một hộp diêm như mọi ngày mà đêm nay không ai thèm hỏi đến.
Càng về đêm, trời càng lạnh. Tuyết vẫn cứ rơi đều trên hè phố. Bé bán diêm thấy người mệt lả. Đôi bàn chân bây giờ tê cứng, không còn chút cảm giác. Bé thèm được về nhà nằm cuộn mình trên chiếc giường tồi tàn trong góc để ngủ một giấc cho quên đói, quên lạnh. Nhưng nghĩ đến những lời đay nghiến, những lằn roi vun vút của người mẹ ghẻ, bé rùng mình hối hả bước mau. Được một lát, bé bắt đầu dán mắt vào những ngôi nhà hai bên đường. Nhà nào cũng vui vẻ, ấm cúng và trang hoàng rực rỡ. Chỗ thì đèn màu nhấp nháy, chỗ có cây giáng sinh với những quà bánh đầy mầu. Có nhà dọn lên bàn gà tây, rượu, bánh trái trông thật ngon lành. Bất giác bé nuốt nước miếng, mắt hoa lên, tay chân run bần bật, bé thấy mình lạnh và đói hơn bao giờ hết. Đưa tay lên ôm mặt, bé thất thểu bước đi trong tiếng nhạc giáng sinh văng vẳng khắp nơi và mọi người thản nhiên, vui vẻ, sung sướng mừng Chúa ra đời...
Càng về khuya, tuyết càng rơi nhiều. Bóng tối, cơn lạnh lẫn cơn đói như phủ lên, như quấn vào hình hài nhỏ bé ốm yếu. Bé vào núp bên vỉa hè giữa hai dẫy nhà cao để tránh cơn gió quái ác và tìm chút hơi ấm trong đêm. Ngồi nghỉ một lát, chợt nhớ ra bao diêm, bé lấy ra một cây, quẹt lên để sưởi cho mấy ngón tay bớt cóng. Cây diêm cháy bùng lên thật sáng, thật ấm, nhưng chỉ một lát thì tắt mất, làm bé càng bực mình hơn trước. Bé thử quẹt lên một cây diêm thứ hai. Khi cây diêm cháy bùng lên, bé thấy trước mặt mình một bàn đầy thức ăn, những món đặc biệt của ngày lễ giáng sinh. Bé mừng quá, đưa tay ra chụp lấy thì ngay lúc ấy cây diêm tắt, để lại bé trong bóng tối dầy đặc, với cái lạnh bây giờ càng khủng khiếp hơn. Bé sợ quá, sợ lạnh, sợ tối, vội vàng lấy bao giấy đổ diêm ra hết, rồi cứ quẹt lên từng cây một, hết cây này đến cây khác. Trong ánh sáng của mỗi cây diêm bé thấy mình được về nhà, được gặp lại người mẹ thân yêu. Mẹ âu yếm bế bé đến gần bên lò sưởi, mặc cho bé chiếc áo choàng dài thật ấm, thật đẹp, xong nhẹ nhàng đút cho bé từng miếng bánh ngon. Mẹ trìu mến ôm bé vào lòng, vuốt ve, hỏi han đủ chuyện. Mồi lần que diêm tắt, hình ảnh người mẹ thân yêu tan biến, bé hoảng sợ, vội vàng quẹt lên một que khác, mẹ lại hiện ra. Cứ như thế, tay bé cứ say sưa quẹt hết mớ diêm này đến mớ diêm khác. Rồi như người điên, bé lấy que diêm châm vào cả hộp diêm. Khi ánh lửa bùng lên, bé thấy mẹ cúi xuống bế bé lên, mang bé bay bổng về nơi đầy tiếng hát, đầy những người thân yêu, bé không còn thấy lạnh, thấy đói gì nữa.
Sáng hôm sau, những người trong phố tìm thấy em bé đáng thương nằm chết bên cạnh đống diêm vãi tung tóe trong ngõ hẻ
m

Chiếc chuông của ông

Phyllis CaldwellDịch giả: Nghiêm Chi Phương

Pappy là một ông già vui tính. Ông có mái tóc bạc trắng luôn được cắt và chải gọn gàng. Mắt ông xanh, tuy đã phai màu vì năm tháng vẫn tỏa ra một hơi ấm từ bên trong. Gương mặt ông rất buồn rầu, nhưng khi ông cười, ngay cả những nếp nhăn cũng dịu đi và cùng mỉm cười theo ông.
Ông có tài huýt sáo và thường vui vẻ huýt sáo mỗi ngày trong khi phủi bụi hay quét cửa tiệm cầm đồ của ông. Mọi người quen ông đều tôn trọng và kính nể ông. Không ai biết được ông có một nỗi buồn bí mật đằng sau sự vui vẻ đó.
Đa số khách hàng của ông không trở lại để lấy lại món đồ của mình, và ông không bán được nhiều, nhưng ông không quan tâm. Với ông, cửa hàng là một sự giải trí đem lại niềm vui nhiều hơn là một phương tiện kiếm sống.
Ông có một căn phòng nhỏ ở phía sau cửa tiệm nơi ông bỏ thời gian để vụng về sửa chữa những món đồ quý của riêng ông.
Ông gọi căn phòng phía sau này là “phòng kỷ niệm”. Trong đó có những chiếc đồng hồ bỏ túi, đồng hồ để bàn, và những chiếc xe lửa chạy điện. Cũng có cả những đầu máy xe lửa chạy bằng hơi nước nhỏ xíu, những món đồ chơi đã lỗi thời bằng gỗ, thiếc hay gang và nhiều món trang sức cổ lỗ khác. Việc bỏ thời gian trong căn phòng kỷ niệm làm ông vui khi nhớ lại nhiều khoảnh khắc đáng trân trọng trong quá khứ của ông. Ông cẩn thận xem từng món đồ, đôi khi ông nhắm mắt, dừng tay lại để sống lại một kỷ niệm thời thơ ấu đơn giản, ngọt ngào.
Một ngày kia, Pappy đang vui thích gắn lại một chiếc đèn xách cũ kỹ của ngành đường sắt. Ông vừa làm vừa huýt sáo một điệu nhạc du dương của ngành đường sắt và hồi tưởng lại quá khứ của chính mình khi còn là một người bẻ ghi. Đó là một ngày điển hình của cửa tiệm. Bên ngoài mặt trời chiếu sáng bầu trời trong trẻo. Một cơn gió nhẹ lướt qua cánh cửa lưới phía trước. Mỗi khi thời tiết đẹp như vậy, Pappy để cửa bên trong mở. Ông thích không khí trong lành - cũng gần bằng thích mùi đặc biệt của đồ cổ và mùi dầu máy cũ. Trong khi đang đánh bóng chiếc đèn mới sửa lại, ông nghe tiếng leng keng của chiếc chuông trên cánh cửa tiệm. Chiếc chuông phát ra âm thanh thu hút độc đáo đó đã ở trong gia đình Pappy hơn một trăm năm rồi. Ông yêu quý nó vô cùng và thích chia sẻ bài hát của nó với mọi người đến cửa tiệm. Mặc dù chiếc chuông được treo bên trong cánh cửa chính, Pappy đã buộc một sợi dây vào cửa lưới để nó kêu dù cánh cửa trong mở hay đóng.
Nghe tiếng chuông nhắc nhở, ông rời khỏi căn phòng kỷ niệm để ra gặp người khách hàng. Lúc đầu ông không nhìn thấy cô bé. Những lọn tóc quăn ngắn sáng ngời của cô gần như không cao bằng mặt quầy hàng. “Cô cần gì nào, thưa tiểu thư bé bỏng?”, Pappy vui vẻ hỏi. “Chào ông”. Cô bé nói nhỏ gần như thì thầm. Một cô bé xinh xắn. E lệ. Ngây thơ. Cô nhìn Pappy với cặp mắt to màu nâu , rồi chậm chạp nhìn lướt quanh phòng để tìm một món đồ đặc biệt. Cô rụt rè nói với ông: “Thưa ông, cháu muốn mua một món quà”. “À, chúng ta xem nào”, Pappy nói, “món quà này cho ai?”.”Ông ngoại cháu. Một món quà cho ông ngoại cháu. Nhưng cháu không biết mua món gì”. Pappy bắt đầu gợi ý. “Một chiếc đồng hồ bỏ túi nhé? Nó còn rất tốt. Tự tay ông sửa nó đấy”. Ông nói với vẻ tự hào. Cô bé không trả lời. Cô đi đến cánh cửa vào tiệm và đặt bàn tay bé nhỏ lên cửa. Cô đẩy nhẹ cánh cửa để rung chuông. Gương mặt Pappy dường như sáng bừng lên khi ông nhìn cô bé mỉm cười vì xúc động. “Đúng nó rồi”, cô bé vui mừng nói lắp bắp. “Mẹ nói ông ngoại yêu âm nhạc lắm”. Ngay lúc đó, Pappy đổi nét mặt. Sợ làm cô bé đau khổ, ông bảo cô: “Ông rất tiếc , cháu ạ. Chiếc chuông đó không phải để bán. Có lẽ ông ngoại cháu sẽ thích chiếc radio nhỏ này”. Cô bé nhìn chiếc radio, cúi thấp đầu và buồn rầu thở dài: “Không, cháu nghĩ là không”. Pappy kể cô nghe chiếc chuông đã ở trong gia đình ông rất nhiều năm như thế nào, và đó là lý do ông không muốn bán nó.
Cô bé ngước nhìn ông, và cùng với một giọt lệ lớn trong mắt, dịu dàng nói, “Cháu nghĩ là cháu hiểu rồi. Dù sao cháu cũng cám ơn ông”.
Đột nhiên, Pappy nghĩ đến tất cả những người còn lại trong gia đình ông đã mất như thế nào, ngoại trừ cô con gái đã bất hòa với ông mà ông không gặp gần mười năm nay. Tại sao lại không, ông nghĩ. Tại sao lại không chuyển nó cho một người khác, một người sẽ chia sẻ nó với một người thân? Dù sao cũng chỉ có trời mới biết nó sẽ kết thúc ở nơi nào.
”Đợi một chút... tiểu thư bé bỏng ạ”. Pappy nói đúng lúc cô bé đang bước ra cửa - cũng là lúc ông nghe tiếng chiếc chuông reo lần cuối cùng. “Ông quyết định bán chiếc chuông đấy. Khăn tay đây. Cháu hỉ mũi đi”.
Cô bé vỗ tay vì vui mừng. “Ồ, cám ơn ông. Ông ngoại sẽ vui lắm”.
“Đúng vậy, tiểu thư bé bỏng ạ. Đúng vậy”. Pappy cảm thấy dễ chịu về việc giúp cô bé, tuy ông biết ông sẽ nhớ chiếc chuông. “Cháu phải hứa sẽ chăm sóc kỹ chiếc chuông cho ông ngoại cháu - và cũng cho cả ông nữa, được chứ?”. Ông cẩn thận bỏ chiếc chuông vào một túi giấy nâu.
“Ồ, cháu xin hứa”. Cô bé nói. Rồi cô bất ngờ trở nên rất nghiêm trang và yên lặng. Cô đã quên không hỏi một điều. Cô ngước mắt lên nhìn Pappy với vẻ rất lo lắng và một lần nữa gần như thì thầm hỏi: “Nó giá bao nhiêu?”.
“À, để xem nào. Cháu có bao nhiêu tiền?”.
Pappy hỏi với một nụ cười thật tươi. Cô bé rút trong túi ra một gói tiền nhỏ và đổ lên quầy hàng: hai đô la và bốn mươi bảy xu. Sau câu hỏi nhanh lý trí của mình, Pappy nói: “Thưa tiểu thư bé bỏng, hôm nay là ngày may mắn của cô. Chiếc chuông đó đáng giá đúng hai đô la và bốn mươi bảy xu”.
Tối hôm ấy khi Pappy chuẩn bị đóng cửa tiệm, ông thấy mình đang nghĩ về chiếc chuông. Ông quyết định không nhớ tới nó nữa. Ông nghĩ đến cô bé và tự hỏi không biết ông ngoại cô có thích món quà của mình không. Chắc chắn ông ấy phải nâng niu bất cứ món gì nhận được từ một đứa cháu ngoại đáng yêu và quý giá như vậy.
Ngay lúc ấy, đúng lúc ông sắp tắt đèn trong phòng kỷ niệm, Pappy nghĩ ông nghe tiếng chiếc chuông của ông. Một lần nữa, ông hỏi lại lý trí của mình; ông quay về phía cửa: Cô bé đang đứng đó. Cô đang lắc chiếc chuông và cười thật duyên dáng. Pappy bối rối hỏi trong khi bước về phía cô bé: “Chuyện gì vậy, tiểu thư bé bỏng? Cháu đổi ý rồi sao?”.
“Không đâu ạ”, cô cười toét miệng. “Mẹ nói nó là của ông đấy”. Trước khi Pappy kịp nói thêm tiếng nào, mẹ cô bé đã bước qua cửa và vừa nuốt một giọt nước mắt vừa dịu dàng nói: “Chào ba”.
Cô bé giật đuôi áo sơ mi của ông ngoại mình.
“Đây, ông ngoại ơi. Khăn tay của ông đây. Ông hỉ mũi đi
(nguồn vnthuquan.net)

MỘT BÀI HỌC CỦA BIỂN CẢ

Arthur Gordon (Nguyễn hiến Lê dịch)       

Một số người có được một thiên tư kỳ diệu. Tôi không biết nên gọi là gì cho đúng: tinh thần bình thản, sức mạnh nội tâm hay tinh thần đại độ, khoáng đạt? Dù sao thì mỗi khi gặp những nỗi thắc mắc đau khổ là tự nhiên chúng ta hướng về những người đó. Họ có một cái gì thu hút chúng ta như đá nam châm hút sắt. Tôi có một ông bạn thân thuộc hạng người ấy. Cho nên buổi tối hôm nọ, có một nỗi ưu tư đè nặng trong lòng, tôi kêu ngay điện thoại hỏi anh. Anh đáp:
     - Mời anh lại chơi. Alma đã đi ngủ rồi, tôi sắp pha cà phê cho tôi đây.     Tôi bèn lại nhà anh và một giờ sau, y như tôi đã đoán, tinh thần tôi phấn khởi hẳn lên. Không phải là nỗi khó khăn của tôi đã giải quyết được đâu, nhưng không hiểu tại sao, tôi không thấy nó ghê gớm như trước nữa. Ngồi trước mặt anh Ken, thấy anh thoải mái dựa lưng vào cái ghế bành, hai chân gác lên bàn viết, tay chắp sau gáy, ít nói nhưng chăm chú nghe... và tỏ thiện cảm với tôi, thì làm sao mà tâm hồn tôi chẳng bình tĩnh lại?     Bỗng tôi thấy cần phải tỏ ít lời cảm ơn anh và tấm lòng tôi quí mến anh. Tôi bảo:
    - Anh Ken, tôi chưa thấy ai có tài làm cho tinh thần người khác phấn khởi lên được như anh. Anh làm cách nào vậy?
    Nụ cười của anh nở một cách chậm chạp, cơ hồ như lần nào cũng hiện lên ở khóe mắt trước hết.
    Anh đáp:
    - Có gì đâu! Tôi hơi lớn tuổi hơn anh, thế thôi.
    Tôi lắc đầu:
    - Tuổi tác mà ăn nhập gì tới cái đó. Anh có cái đức bình tĩnh mà tôi cảm thấy rất thâm trầm. Nhờ đâu vậy, anh? Anh ngó tôi vài giây, có vẻ suy tư, như do dự không biết có nên kể cho tôi nghe không. Sau cùng anh lấy đầu mũi giày móc kéo một hộc tủ bàn viết, rồi lấy ra một hộp giấy, đặt lên tấm bìa lót tay trên mặt bàn. Anh trỏ hộp giấy đó, bảo:
    - Nếu tôi có được một chút xíu cái đức mà anh khen tôi đó thì có lẽ là nhờ cái hộp này.
    Tôi đợi anh giảng giải. Phòng rất tĩnh mịch, tôi nghe thấy tiếng tích tắc của chiếc đồng hồ quả lắc đặt trên mặt lò sưởi.
    Anh lựa một ống điếu cũ, thuốc đã đóng dày một lớp, rồi nhồi thuốc.
    - Chúng mình quen nhau từ bao lâu rồi nhỉ? Mười năm, mười hai năm? Cái hộp này có từ lâu hơn nhiều. Trên ba chục năm rồi. Chỉ có Alma và tôi là biết trong đó có gì thôi, nhưng lâu quá, có lẽ nhà tôi quên rồi. Còn tôi thì cứ thỉnh thoảng lại mở ra ngắm nghía vật chứa trong đó.
    Ngọn lửa ở đầu cây quẹt chập chờn, khói thuốc tỏa lên thành những cuộn xanh phản chiếu ánh đèn.
    Anh Ken bắt đầu kể, giọng như văng vẳng từ dĩ vãng.
    - Năm 1920, tôi ở trên đường thành công. Một sự thành công kỳ dị. Tiền vô như nước, mỗi ngày mỗi nhiều mà tiêu pha còn nhiều hơn nữa. Đúng là hạng thanh niên được trời cưng, tôi suy nghĩ tính toán mau hơn ai, mà tửu lượng thì cũng vô địch. Tôi cưới nhà tôi vì thấy nàng đẹp, làm cho nhà cửa, cuộc đời thêm tươi, chứ không phải vì tình. Nói thực ra, tôi không yêu nàng chút nào cả. Tôi chỉ yêu tôi, tự cao tự đại, thế thôi.
    Tôi ngạc nhiên ngó anh. Anh tự vẽ cho anh bức chân dung tàn nhẫn như vậy, làm sao tôi có thể tin được là đúng.
    Anh nói tiếp:
    - Chắc anh đoán được rằng số phận đâu có chịu thua tôi, phải quật lại chứ? Mà nó quật lại một cách ghê gớm làm sao! Những người nào không trải qua cuộc kinh tế đại khủng hoảng năm 1929, thì khó tưởng tượng được nó bi đát tới mức nào. Mới tuần lễ trước, tôi còn là một nhà triệu phú - trên giấy tờ - mà tuần sau đã nhẵn túi. Phản ứng của tôi dễ đoán được: tôi say sưa tối ngày, có lần ba ngày liền say mèm, không còn biết trời đất gì cả.
    Anh cười gằn một tiếng ngắn, đứng dậy, lùa ngón tay vào mớ tóc rối bù.
- Nơi mà tôi lựa để thỏa tình than thân trách phận là một biệt thự của chúng tôi trên bờ biển, nhưng từ khi đất sụp ở dưới chân, nó không còn thuộc về chúng tôi nữa. Alma muốn theo tôi ra đó, tôi bảo đừng. Tôi chỉ muốn mỗi một điều: uống rượu tới say bí tỉ để quên hết mọi sự. Và nốc hết ve này tới ve khác.
    Nhưng rồi cũng tới một lúc tinh thần người ta bình tĩnh lại. Lúc đó tôi sắp thành một thằng nghiện rượu, điều đó thực ghê gớm quá. Tôi tởm cho cái con người tôi, tôi tuyệt vọng. Tôi soi gương: cặp mắt đỏ ngầu, râu ria ba ngày chưa cạo, tôi thấy rằng mình hoàn toàn là một thằng bỏ đi. Tôi hoàn toàn là một con người hư hỏng, một người chồng hư hỏng, một công dân hư hỏng. Tôi nghĩ rằng chỉ có cách tôi từ bỏ cõi đời này là có lợi cho nhà tôi, cho xã hội hơn cả.
    Tôi đã kiếm được một cách chắc chắn rồi. Gió thổi ào ào. Biển động mạnh. Tôi sẽ bơi ra thật xa, tới khi đuối sức mới thôi, thế là vô phương trở vô bờ được và bao nhiêu nỗi ưu tư sẽ trút được hết.
    Cối thuốc đã tắt, anh nhỏm dậy đặt nó lên bàn giấy. Khi ngồi xuống, chiếc ghế bành cũ kỹ của anh kêu rắc rắc.
    - Khi đã có một quyết định như vậy thì chỉ còn nghĩ tới cách thực hiện cho mau. Tôi không chần chừ nữa vội vàng xuống các bực thềm, tiến ra bãi biển. Tôi còn nhớ lúc đó trời hừng đông, đỏ rực, dưới ngọn cuồng phong, sóng nổi cao ngất. Tôi bước thẳng lại mí nước. Khi tới nơi, tôi để ý thấy cái gì lấp lánh trên mặt cát. Anh mở hộp giấy ra, bảo:
    - Đây, vật này đây. Hộp chứa một vỏ sò. Không phải là thứ vỏ sò hiếm thấy, vì tôi cũng đã gặp nhiều vỏ như vậy, chỉ là một thứ vỏ hình bầu dục dài, có rạch màu lợt coi khá đẹp. Anh Ken nói tiếp:
    - Tôi đứng lại ngắm nghía nó. Sau cùng lượm nó lên. Nó ướt, bóng loáng và chỉ khẽ bóp một chút cũng bể liền. Mặc dầu vậy, nó còn nguyên, không sứt mẻ gì cả.
    Trong khi gió gào, sóng gầm ở chung quanh, tôi tự hỏi: "Làm sao mà có thể như vậy nhỉ? Cả tấn nước dập dồn cuốn nó, tung nó lên trên lớp cát cứng này, mà sao nó không bể ra, tan tành ra từng mảnh vụn nhỉ? Cái gì làm cho nó còn nguyên vẹn không hề rạn nứt như vầy nhỉ? Tôi ráng suy nghĩ rồi bỗng nhiên tôi hiểu. Nó đã chấp nhận cơn dông tố như chấp nhận sự an tĩnh ở đáy biển, nơi nó phát sinh. Nhờ vậy nó không bị tiêu diệt. Bỗng nhiên tôi thấy mình đã vô lý chiến đấu với một biến cố không thể tránh được.
    Tôi không nhớ tôi đã đứng như vậy bao nhiêu lâu, sau cùng tôi lượm vỏ sò đó lên rồi trở về biệt thự. Tôi giữ vỏ sò đó cho tới bây giờ.     Tôi đỡ cái hộp anh chìa cho tôi, nhấc vỏ sò lên. Thật đều đặn, không sứt mẻ chút nào cả mà nhẹ như lông chim.
    Tôi hỏi anh:
    - Anh có biết tên nó không?
    Anh đáp:
    - Có. Người ta gọi nó là "cánh thiên thần".       

Arthur Gordon (Nguyễn hiến Lê dịch)

Một mình trên biển suốt một ngày.

 Arthur Gordon

Mới rồi tôi bị một cơn chán nản mà nhiều người cứ lâu lâu lại trải qua một lần: bỗng nhiên nguyên khí hạ thấp xuống, thấy cái gì cũng ảm đạm, vô vị, sinh lực giảm thiểu, hết hăng hái. Công việc làm ăn của tôi bị ảnh hưởng tai hại. Buổi sáng nào tôi cũng nghiến răng càu nhàu: "Hôm nay thì nhất định phải tìm lại được cái ý nghĩa trước kia của cuộc sống; thế nào cũng phải thoát khỏi cái tâm trạng này mới được".

     Nhưng rồi những ngày vô nghĩa cứ kéo dài ra và sự tê liệt về tinh thần mỗi ngày một tăng. Sau cùng tôi thấy rằng phải nhờ một người nào cứu giúp mới được.

    Tôi kiếm một y sĩ không chuyên môn, không phải là một nhà phân tâm học, một y sĩ thường thôi, lớn tuổi hơn tôi, tuy bề ngoài có vẻ quạu quọ nhưng lòng rất nhân từ.

    Tôi rầu rĩ thú thật:

     - Tôi không biết bị cái chứng gì, nhưng tôi có cảm tưởng rõ rệt rằng tôi không có lối thoát. Ông có thể trị cho tôi được không?

     Ông ta chậm rãi đáp:

    - Tôi không dám quyết.

     Ông chắp tay, đầu ngón tay bên này chống đầu ngón tay bên kia, ngó tôi một hồi lâu, rồi thình lình hỏi tôi:

     - Hồi nhỏ, ông ở đâu thấy thích nhất

     - Hồi nhỏ ư?… Có lẽ tôi thích bờ biển nhất.

     Chúng tôi có một căn nhà nhỏ ở bờ biển, cứ mùa hè ra đó nghỉ mát, thú lắm.

     Ông ta ngó qua cửa kính nhìn những lá vàng lả tả, cuốn theo chiều gió.     - Ông có thể theo đúng lời tôi chỉ bảo, chỉ trong một ngày thôi, được không?

     Tôi đáp:

     - Tôi xin sẵn sàng thử bất kỳ cái gì.

     - Được. Đây, ông nghe tôi dặn. Sáng mai ông lái xe ra bờ biển, phải ráng tới bờ biển trước chín giờ. Mang theo bữa trưa đi, nhưng cấm ngặt không được đọc sách báo, viết lách, nghe máy thâu thanh hoặc nói chuyện với bất kỳ ai. Tôi cho ông mấy toa thuốc, cứ ba giờ thì làm theo đúng như tôi dặn.

     Ông ta xé bốn tờ giấy, viết lên mỗi tờ vài chữ, gấp lại, đánh số rồi chìa cho tôi:

     - Uống những thuốc này lúc 9 giờ, giữa trưa, 3 giờ và 6 giờ chiều.

     Tôi hỏi:

     - Ông không đùa đấy chứ?

     Ông ta khẽ cười:

     - Ông sẽ phải trả tiền coi mạch đấy, không phải chuyện đùa đâu.

        *     *    *

     Sáng hôm sau, tôi lái xe ra bờ biển mà lòng hơi hoài nghi. Chỗ đó thật vắng vẻ. Gió bấc thổi và mặt biển xám như cau mày lại; ngồi trong xe tôi chán ngán nghĩ tới cái nông nỗi phải ở bờ biển đó suốt một ngày dài. Tôi lấy miếng giấy thứ nhất ra đọc: Lắng tai nghe.

     Tôi tưởng tôi đọc lộn chứ! Tôi nghĩ bụng: "Ông này điên thật tình rồi. Ông ấy cấm mình đủ thứ: nhạc, tin tức đài phát thanh, nói chuyện với người khác; như vậy thì còn cái gì để nghe nữa mà bảo mình phải lắng tai nghe?"

     Tôi ngẩng đầu lên, lắng tai. Không có một tiếng động nào cả, trừ tiếng sóng gầm đều đều, tiếng kêu the thé của một con hải âu, tiếng vù vù của một phi cơ bay rất cao, mà tất cả những tiếng đó đều quen tai quá rồi.     Tôi bước ra khỏi xe, một luồng gió sập mạnh cánh cửa xe. Tôi tự hỏi: "Mình phải lắng nghe tất cả những của nợ đó sao?"

     Rồi tôi leo lên một động cát ngồi ngắm bờ biển hoang vắng. Ở đây, biển gầm lên dữ dội tới nỗi át hơn mọi tiếng khác. Bỗng tôi nghĩ bụng: "Vậy mà nếu lắng tai, gí sát tai vào thì tất cũng vẫn nghe được tiếng cát di động sạo sạo nhè nhẹ và tiếng gió lào sào khi thổi lên động cát".

     Rồi như có một cái gì thúc đẩy tôi cúi xuống, rúc đầu vào một đám cỏ ong ở bờ biển, mà không thấy vậy là kỳ cục. Và tôi phát kiến được điều này: nếu ta chú ý nghe thì sẽ thoáng có một lúc mà mọi sự sinh hoạt như ngưng đọng lại, chờ đợi, mọi tư tưởng bỗng hết quay cuồng trong đầu óc, không thể nào chú ý nghe một cái gì ở ngoại giới mà không làm cho tiếng động của nội tâm phải im bặt. Óc lúc đó được nghỉ ngơi.

     Tôi trở về xe, ngồi sau tay lái. Lắng tai nghe. Tôi lại nghe tiếng gầm của biển và nghĩ tới sự mênh mông của biển, những tiết điệu lạ lùng của nó, tới mặt biển đẹp như nhung dưới ánh trăng nhưng lừa gạt ta, nguy hiểm như một cái bẫy, tới những làn sóng viền bọt trong dông tố, tới những bài học nó dạy cho chúng ta hồi nhỏ: bài học kiên nhẫn, vì không thể bắt thủy triều xuất hiện mau hơn được; bài học thận trọng, vì không nên đùa với biển cả; bài học về sự liên quan bí mật và mênh mông giữa mọi vật; gió, thủy triều, luồng nước, trời lặng, mưa hoặc bão, tất cả những cái đó hòa hợp với nhau mà quyết định con đường di thê của cá và chim. Và bài học sạch sẽ nữa: không có một bãi biển nào không được ngọn chổi mênh mông của biển quét sạch mỗi ngày hai bận.

     Tóm lại, tôi trầm tư về những cái vượt ra khỏi bản thân nhỏ bé của tôi, nhờ vậy, làm nhẹ được gánh nặng ưu tư của tôi.     Nhưng thời gian đi chậm quá: đã bao lâu nay tôi có thói quen gặp vấn đề gì thì sấn vào giải quyết, bây giờ ở không, tôi thấy bơ vơ. Trong khi tôi tiếc rẻ nhìn cái máy thâu thanh trong xe thì bỗng một câu của Carlyle hiện ra trong óc: "Các tác phẩm lớn lao thành hình trong sự yên lặng".

        *     *    *

    Tới giữa trưa, gió đã làm tan hết các đám mây, và mặt biển nhấp nhô vui vẻ lấp lánh: tôi mở ra coi "toa thuốc" thứ nhì, và lại ngồi xuống: nửa thấy ngộ nghĩnh nửa bực mình. Toa này gồm sáu chữ: Ráng trở lui về dĩ vãng. Trở lui về dĩ vãng? Làm sống lại dĩ vãng? Tạisao? Tôi ưu tư là ưu tư về hiện tại và tương lai kia mà!

    Tôi rời xe, trầm ngâm đi bách bộ theo các động cát. Ông y sĩ đó bảo tôi ra bờ biển vì bờ biển nhắc nhở tôi những hồi ký đẹp đẽ thời nhỏ: có lẽ vì vậy mà phải làm sống lại kho tàng hạnh phúc đã chìm trong sương mù của thời gian chăng?

     Tôi kiếm một chỗ khuất, nằm dài trên lớp cát ấm ánh nắng. Ráng trở ngược lên nguồn của dĩ vãng, tôi thấy lấp ló những hồi ký sung sướng nhưng mơ hồ: những vẻ mặt mờ mờ, xa xăm, những hình ảnh đã chôn kỹ từ lâu.

     Và tôi nảy ra ý tô cho những ấn tượng mơ hồ đó thêm rõ, như một họa sĩ sửa lại màu, vẽ lại nét trên một bức tranh. Tôi chọn một việc đặc biệt nào đó đã xảy ra, ôn lại được càng nhiều chi tiết càng tốt, tưởng tượng những người đã dự vào trong việc đó, một cách thật đầy đủ: từ y phục, cử động, giọng nói, tiếng cười (y sĩ đã khuyên tôi phải lắng tai nghe mà).     Thủy triều đã hạ, nhưng sóng còn gầm ở những chỗ đá ngầm. Tôi trở lại hai chục năm trước, nhớ buổi câu cá cuối cùng với em tôi. Tôi nhận thấy rằng nhắm mắt lại và chú hết tinh thần vào thì tôi có thể làm sống lại một cách rõ rệt lạ lùng hình ảnh người em yêu quí, trông thấy lại được cái khóe mắt vui vẻ, hăng hái của chú ấy trong buổi sáng xa xăm đó nữa.

     Thực ra, tôi trông thấy lại được tất cả khung cảnh bãi biển hình vòng cung màu ngà, nơi chúng tôi câu, mặt trời mọc làm cho nền trời ở phương Đông như lem luốc, những lớp sóng cao viền bọt đập vào bờ; tôi cảm thấy nước âm ấm cuồn cuộn rút ra, buồn buồn ở đầu gối tôi; tôi thấy cần câu của em tôi uốn cong lại mỗi khi em tôi giật cá, tôi nghe thấy tiếng la hét mừng rỡ của em tôi khi bắt được cá. Tôi xây dựng lại hoạt cảnh đó, từng khúc từng khúc một, rõ ràng mà không sai, dưới lớp sơn trong suốt của thời gian. Rồi hình ảnh biến mất.

     Tôi chậm chạp đứng lên. Ráng trở lui về dĩ vãng. Những người sung sướng thường rất tự tin. Cố ý tiếp xúc lại với hạnh phúc đã qua, chính là một cách giải thoát những tia nghị lực, nguồn li ti sinh khí của ta đấy.     Phần thứ nhì của ngày hôm đó trôi qua mau hơn. Trong khi mặt trời chầm chậm bắt đầu hạ xuống, tôi tham lam cố ôn lại nhiều dĩ vãng, sống lại giai đoạn này, tìm lại được giai đoạn khác đãhoàn toàn quên từ lâu. Một hôm, hồi đó tôi vào khoảng mười ba tuổi, em tôi mười tuổi - thân phụ tôi đã hứa dắt chúng tôi đi coi xiếc, nhưng rồi trong bữa trưa, có người kêu điện thoại bảo có việc gấp, thân phụ tôi phải lại hãng ngay. Anh em tôi đã sẵn sàng nhận nỗi thất vọng rồi, nhưng thân phụ tôi bình tĩnh bảo:

     - Không, tôi không tới được: việc gấp gì thì cũng để đó.

     Người trở về bàn ăn, thân mẫu tôi mỉm cười bảo:

    - Gánh xiếc đó thường trở lại mà.

     Thân phụ tôi đáp:

     - Phải, nhưng tuổi thơ không trở lại nữa.

     Đã bao nhiêu năm trôi qua rồi, tôi còn nhớ chuyện đó, và thấy lòng tôi ấm áp lên, tôi hiểu rằng không có một việc thiện nào mà hoàn toàn mất bao giờ cả.

        *     *    *

    Khoảng ba giờ chiều, lúc nước ròng, tiếng sóng chỉ còn văng vẳng, đều đều từ xa đưa vào, như hơi thở của một người khổng lồ. Tôi nằm trên cát, sung sướng, thoải mái, và hơi tự đắc nữa: những toa ông ấy cho mình, có khó theo chút nào đâu.

     Nhưng tôi không ngờ được nội dung trong toa thứ ba: không phải là một lời gợi ý nữa mà là một mệnh lệnh nghiêm nhặt: Xét lại các động cơ thúc đẩy ông hành động.

     Phản ứng đầu tiên của tôi hoàn toàn có tính cách tự vệ: mình có làm cái gì bậy đâu mà phải xét lại.

     Tôi muốn thành công: ai chẳng muốn thành công? Tôi muốn có chút danh vọng: mọi người cũng mong như tôi.

     Có tiếng thì thầm trong thâm tâm tôi: "Có thể rằng động cơ của mình không được cao thượng lắm chăng? Có thể rằng vì vậy mà tinh thần của mình mất quân bình chăng?"

     Tôi vốc lên một nắm cát rồi để cho nó chảy qua kẽ tay. Hồi xưa, mỗi khi tôi làm được một việc gì hoàn hảo thì là tự ý làm, vui vẻ làm, không chút bó buộc. Ít lâu nay tôi làm theo một lối "thông thái", tính toán, lạnh lùng. Tại sao? Tại tôi còn nhắm cái gì khác ở ngoài công việc, nhắm phần thưởng mà tôi mong được hưởng: sự làm việc không còn là cứu cánh nữa mà thành một phương tiện để kiếmtiền.

     Tôi bừng tỉnh, giác ngộ được chân lý này: khi động cơ của ta xấu thì không có gì tốt được cả, dù ta làm người phát thư, người hớt tóc, nhân viên hãng bảo hiểm hay bất kỳ một nghề gì khác. Hễ ta còn cái cảm tưởng rằng ta phụng sự xã hội thì công việc ta làm còn được hoàn hảo; nếu ta chỉ nghĩ đến tư lợi thôi thì công việc hóa kém, tồi đi: luật đó cũng nghiêm khắc như luật trọng lực vậy, không ai thoát khỏi nó.

     Tôi ngồi đó trầm tư trong một hồi lâu. Ở ngoài xa, trên chỗ đá nổi, tôi nghe thấy tiếng sóng nhào ì ầm biến thành tiếng gầm; thủy triều đã dâng; sau lưng tôi, ánh tà chiếu gần như ngang ngang trên cảnh vật: sắp tới lúc rời bãi biển rồi. Tôi không thể không phục y sĩ đó: toa thuốc của ông tài tình thật mà ông có vẻ chép ra một cách dễ dàng, chẳng cần suy nghĩ gì nhiều. Lúc đó tôi mới nhận ra rằng lối trị bệnh tuần tự đó có thể giúp được mọi người trong mọi nỗi khó khăn.

     Lắng tai nghe: để tinh thần dịu xuống, thắng nó lại, không cho nó thắc mắc, ưu tư về những vấn đề nội tâm nữa mà hướng về thế giới bên ngoài.     Ráng trở lui về dĩ vãng: óc con người cùng một lúc chỉ có thể nghĩ tới một ý thôi; nghĩ tới những lúc vui đã qua thì tự nhiên quên hết các ưu tư hiện tại.

     Xét lại các động cơ thúc đẩy ta hành động: lệnh nghiêm khắc đó chính là điểm cốt yếu của phương pháp: đánh giá lại động cơ để cho nó hòa hợp với khả năng và lương tâm của mình. Nhưng muốn làm được như vậy, thì trí óc phải sáng suốt và dễ thụ cảm, cho nên cần được chuẩn bị trước trong sáu giờ hoàn toàn im lặng.

        *     *    *

    Khi mặt trời đỏ rực như một bầu lửa lớn ở chân trời, tôi lấy ra nốt miếng giấy cuối cùng. Lần này cũng chỉ có sáu chữ. Tôi tiến chậm chậm lại phía biển, khi còn cách mí nước lớn vài thước, tôi ngừng và đọc lại: Viết ưu tư lên trên cát.

     Tôi tung cho tờ giấy bay theo gió, bước vài bước, lượm một vỏ sò rồi quì xuống, viết lên trên cát mấy chữ, chữ nọ đè lên chữ kia.

    Sau cùng tôi về xe mà không quay lại ngó ở phía sau: tôi đã viết những ưu tư của tôi lên cát và thủy triều đương dâng.

Arthur Gordon (Nguyễn hiến Lê dịch - Ý cao tình đẹp)