Dân số - lao động

 

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DÂN SỐ  - LAO ĐỘNG -

VIỆC LÀM ĐỐI VỚI  THANH NIÊN TỈNH CÀ MAU




I. Đặt vấn đề

Đảng và Nhà nước ta từng khẳng định “Con người là vốn quý nhất”. Chăm lo hạnh phúc cho con người là mục tiêu phấn đấu cao nhất của chế độ ta. Suốt mấy chục năm qua Đảng, Nhà nước ta đã cố gắng làm nhiều việc theo hướng đó. Song những kết quả đạt được còn thấp so với yêu cầu phát triển của đất nước và nguyện vọng của nhân dân.

Nói đến phát triển con người là nói đến dân số, lao động của quốc gia, cũng có nghĩa nói đến vai trò của con người trong sự phát triển. Vai trò đó thể hiện hai mặt: thứ nhất con người với tư cách là người tiêu dùng sản phẩm, dịch vụ và kho tàng văn hóa; thứ hai với tư cách là người lao động tạo ra tất cả các sản phẩm đó với sức lực và óc sáng tạo vô tận.

Với tư cách là người sản xuất, con người có vai trò quyết định đối với sự phát triển. Tất cả các kho tàng vật chất và văn hóa đã có và còn được tiếp tục sáng tạo thêm làm phong phú sản phẩm lao động của con người. Trong bất kỳ một trình độ văn minh sản xuất nào, lao động của con người vẫn đóng vai trò quyết định. Vấn đề chỉ là: cùng với sự phát triển của văn minh sản xuất dẫn đến sự thay đổi vị trí lao động trí tuệ, trong đó lao động trí tuệ ngày càng có vai trò quyết định.

Như vậy, vai trò hai mặt của con người được tập hợp trong dân số và nguồn lao động có mối quan hệ biện chứng qua lại và là một nhân tố quyết định của sự phát triển.

Tuy nhiên, sự việc lại không luôn diễn ra thuận chiều như vậy, thường xảy ra mất cân đối giữa dân số, nguồn lao động của kinh tế, sự mất cân đối đó diễn ra phổ biến là: sự tăng trưởng dân số và kéo theo đó là nguồn nhân lực diễn ra với tốc độ quá nhanh so với trình độ và tốc độ phát triển kinh tế. Hậu quả của sự mất cân đối đó nhất là các nước đang phát triển khó có thể bảo đảm và nâng cao mức sống cho dân cư, thậm chí nạn đói, rét diễn ra nhiều nơi; không giải quyết được việc làm, làm cho tình trạng thiếu việc làm và thất nghiệp trầm trọng.

Ngày nay, hầu như tất cả các quốc gia đều thống nhất quan điểm cần phải điều tiết có ý thức vào sự tăng trưởng dân số đồng thời với việc thúc đẩy sự phát triển. Chỉ riêng có chính sách dân số - KHHGĐ hoặc chỉ riêng sự phát triển đều không đủ. Chính sách dân số - KHHGĐ và chính sách phát triển hỗ trợ cho nhau, tác động lẫn nhau, chứ không tách biệt hoặc thay thế nhau.

Để phát huy vai trò của dân số và nguồn nhân lực là nhân tố quyết định nhất của sự phát triển, Nhà nước coi trọng việc hoạch định và thực thi các chính sách điều tiết vĩ mô:

(1)- Chính sách dân số-KHHGĐ hướng vào cả 3 nội dung : qui mô và tốc độ tăng trưởng dân số;  cơ cấu dân số; sự phân bố dân số.

 (2)- Chính sách phát huy nguồn nhân lực gồm: phân bố lại nguồn nhân lực; đào tạo bồi dưỡng nguồn nhân lực; phát triển thị trường sức lao động.

 (3)- Chương trình và chính sách sử dụng nguồn nhân lực trẻ, giải quyết việc làm cho lao động xã hội và thanh niên.

II. Mục tiêu phương hướng

Mục tiêu: từ nay đến năm 2010 tập trung giải quyết hàng năm  giảm tỷ suất sinh từ 0,07% đến 0,1% để đến năm 2010 dân số Cà Mau có qui mô 1,4 triệu người. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 1,1%.

- Từ nay đến năm 2010 sẽ có thêm 270.000 lao động cần có việc làm, chưa kể số lao động thiếu việc làm do thời gian nông nhàn cần được thu hút vào sản xuất xã hội.

- Tổ chức đào tạo, dạy nghề, nâng tỷ lệ lao động có tay nghề và kỹ thuật lên 50% lao động, đảm bảo cho số lao động mới có đủ điều kiện  tham gia  thị trường lao động xã hội.

Phương hướng chung: hoạch định dự án phát triển, phân bổ dân số, lao động và các vấn đề xã hội trong chương trình khai thác bán đảo Cà Mau, đáp ứng mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nhằm giải phóng mọi năng lực sản xuất, tạo thêm nhiều nguồn việc làm, tạo ra  môi trường và điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế phát triển.

III. Các giải pháp lớn

Đi vào cơ chế kinh tế thị trường phải đẩy mạnh thực hiện thống nhất quản lý lao động xã hội trên 3 mặt : phân bổ, bồi dưỡng và sử dụng sức lao động đáp ứng yêu cầu các mục tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu  của nền kinh tế  thị trường.

1. Dân số - Kế hoạch hoá gia đình

Dân số là tiền đề hình thành nguồn lao động và là căn cứ xác định các mục tiêu kinh tế - xã hội, cũng như việc tính toán các nhu cầu  đời sống xã hội, ăn ở, đi lại, chữa bệnh, học hành.

Muốn bảo đảm việc làm và ổn định đời sống của nhân dân cần phải giảm nhịp độ tăng dân số bằng cách hạ tỷ xuất sinh đẻ theo dự  kiến  như sau:

Chỉ tiêu                        Năm 1990          Năm 1995          Năm 2000      Năm 2010

- Tỷ lệ sinh                              3,06                 2,78                 2,35                 1,75

- Tỷ lệ chết                              0,77                 0,72                 0,68                 0,65

- Tỷ lệ tăng tự nhiên                2,29                 2,06                 1,75                 1,10

- Biến động cơ học                  0,03                 0,02                 0,03                 0,01

- Tỷ lệ tăng dân số                  2,32                 2,08                 1,78                 1,11    

- Qui mô dân số                      843.000      1.067.925      1.180.000         1.360.000

Để đạt mục tiêu trên toàn xã hội mỗi năm phải phấn đấu vận  động 50.000 cặp vợ chồng trẻ đang độ tuổi sinh đẻ áp dụng các biện pháp tránh thai. Đẩy mạnh công tác truyền thông, tuyên truyền; mở rộng mạng lưới dịch vụ kế hoạch hoá gia đình; tăng chi ngân sách cho công tác dân số kế hoạch hoá gia đình bình quân là 10.000 đồng/người/năm; khuyến khích và có chính sách ưu đãi đối với cặp vợ chồng có 1 con. Có biện pháp ngăn ngừa, cam kết đối với cặp vợ chồng không để sinh con thứ ba. Phấn đấu xây dựng qui mô gia đình có 1 đến 2 con, hạnh phúc, giàu có.

2. Về Lao động

Nhà nước tiếp tục đầu tư phát triển kinh tế xã hội, xây dựng hạ tầng  cơ sở, cải tạo môi trường, tạo mặt bằng và hành lang  pháp lý cho các doanh nghiệp, các thành phần kinh tế được bình đẳng để phát triển thu hút hơn 200.000 lao động vào làm việc.

Tranh thủ sự hỗ trợ của TW và các nguồn vốn đầu tư tạo động lực thúc đẩy nhanh quá trình phân bổ lại lao động dân cư, thu hút lao động vào lĩnh vực : chăn nuôi gia súc, gia cầm, trồng cây công nghiệp, đánh bắt hải sản, nuôi trồng thủy sản, chế biến nông thủy sản, phục hồi các ngành nghề truyền thống. Tăng tỷ lệ cơ cấu lao động ở lĩnh vực thủy sản, công nghiệp - xây dựng và dịch vụ để giảm tỷ lệ lao động nông nghiệp xuống 45%.

* Cân đối phân bố lao động xã hội vào các ngành kinh tế quốc dân

- Tổ chức sắp xếp điều chỉnh sản xuất kinh doanh theo hướng chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi đa dạng hoá ngành nghề và thâm canh tăng vụ để kết hợp tốt lao động với đối tượng lao động, giải phóng mọi năng lực sản xuất của trên 200.000 lao động mới; tăng thêm việc cho lao động có thời gian nhàn rỗi, đồng thời bổ sung lao động cho các ngành kinh tế - xã hội có yêu cầu.

Từ nay đến năm 2.010 vẫn phải tăng lao động kỹ thuật cho nông  nghiệp đáp ứng yêu cầu thâm canh tăng vụ, cải tạo vườn tạp, trồng cây công nghiệp vùng mía, vùng dừa, nuôi cá đồng, cá nước ngọt với trên 180.000 ha của đất sản xuất nông nghiệp khi dự án ngọt hoá Bán đảo Cà Mau và dự án vùng U Minh Hạ hoàn thành, đảm bảo tỷ trọng lao động nông nghiệp 45%.

Xác định thuỷ sản và kinh tế biển là kinh tế mũi nhọn, hướng phát triển đi lên lâu dài của tỉnh. Chuyển dịch 30.000 lao động trẻ để nâng tỷ trọng lao động đánh bắt, chế biến, nuôi trồng thủy sản lên 22,4% tăng  6% đến 8% để đưa hầu hết diện tích nuôi tôm quảng canh thành quảng canh cải tiến, thâm canh và bán thâm canh. Đầu tư 1.000 tỷ đến 2.000 tỷ đồng để nâng cấp đóng mới tăng thêm phương tiện có công suất lớn đánh bắt hải sản xa bờ để thu hút lao động ngư dân, gắn liền với chương trình biển Đông và bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển.

Trong lâm nghiệp tiếp tục ổn định và hoàn thành việc giao đất khoán rừng, phát triển lâm nghiệp xã hội nghề rừng, tăng thêm 7.000 lao động lâm nghiệp để giữ rừng tạo môi trường sinh thái cho sự phát triển bền vững toàn khu vực.

Tiếp tục đầu tư để nâng cấp, mở rộng các nhà máy chế biến thủy sản xuất khẩu, chế biến sản phẩm nông sản thực phẩm để thu hút thêm 10.000 lao động và tăng tỷ trọng lao động công nghiệp chế biến lên 6,5%.

- Coi trọng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ thuộc các thành phần kinh tế; tiếp tục nghiên cứu để đề nghị sửa đổi và hoàn thiện các chính sách để doanh nghiệp tư nhân thực sự bình đẳng với doanh nghiệp Nhà nước. Khuyến khích phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, kinh tế hộ gia đình để giải quyết lao động tại chỗ và thu thêm 10.000 lao động vào làm việc.

- Lĩnh vực không sản xuất vật chất chủ yếu tăng lực lượng giáo viên ở các cấp học đáp ứng yêu cầu phổ cập giáo dục tiểu học, phổ cập trung học cơ sở và dạy đủ môn học ở các cấp, bảo đảm tiêu chuẩn định biên giáo viên cho mỗi lớp theo qui định. Từ nay đến năm 2005, mỗi năm phải tăng 800 giáo viên và 100 y, bác sĩ để nâng tỷ trọng lao động giáo dục, văn hoá, y tế, thể thao từ 2,1% lên 3%.

- Tăng tỷ trọng ngoài ngành kinh tế quốc dân năm 2.000 lên 9,5% đến năm 2010 lên 20%, chủ yếu học sinh phổ thông trung học, trung học chuyên nghiệp, Cao đẳng, Đại học và dạy nghề đang trong độ tuổi lao động để đổi mới chất lượng lao động trong tương lai.

3. Giải quyết việc làm

Như phần trên đã trình bày, giải quyết việc làm gắn với nhiệm vụ thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, phát huy tiềm năng các thành phần kinh tế, gắn lao động với đất đai, tài nguyên; kết hợp giữa giải quyết việc làm tại chỗ là chính với mở rộng điều tiết chuyển dịch cơ cấu kinh tế và theo yêu cầu thị trường lao động. Khả năng của các cơ quan Nhà nước và các DNNN mỗi năm chỉ tiếp nhận mới được khoảng 1.000 đến 1.500 lao động mới. Vì vậy bài toán giải quyết việc làm của tỉnh tập trung vào hướng sau:

- Tiếp tục sử dụng có hiệu quả nguồn vốn vay từ quỹ quốc gia giải quyết việc làm; tiết kiệm chi ngân sách để chuyển vào vốn xoá đói giảm nghèo và giải quyết việc làm của tỉnh mỗi năm từ 2,5 đến 3 tỷ đồng. Hiện nay tỉnh đang quản lý nguồn vốn giải quyết việc làm trên 10 tỷ đồng, dự kiến đến năm 2000 sẽ tăng lên 16 tỷ đồng, đến năm 2010 sẽ có 40 tỷ đồng và thêm 10 tỷ vốn của các chương trình khác. Bằng nguồn vốn này, hàng năm đầu tư từ 5.000 đến 8.000 lao động được vay vốn giải quyết việc làm tăng thu nhập, tương đương với 30% số lao động  gia tăng.

- Tăng cường vốn vay từ ngân hàng nông nghiệp, ngân hàng  phục vụ người nghèo và các Ngân hàng khác để nâng nhịp độ cho vay hàng năm lên 20%, đến năm 2.000 cho vay 800 tỷ đồng trong kỳ, tương ứng với 80.000 hộ được vay, đến năm 2010 cho vay 2.000 tỷ, tương ứng với 200.000 lao động được vay.

- Khuyến khích và giảm thuế thời gian đầu đối với doanh nghiệp tư nhân, cá nhân đầu tư vào phát triển sản xuất, đóng mới phương tiện  đánh bắt xa bờ, những ngành nghề thu hút đông lao động và tiêu thụ sản phẩm nội địa. Đầu tư có chiều sâu và mở rộng ngành nghề cho nhân dân, đặc biệt chú trọng phát triển ngành nghề mới theo hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đồng thời với khôi phục ngành nghề truyền thống như dệt chiếu, thảm, đan lát, thủ công mỹ nghệ, chế biến lương thực thực phẩm... để giải quyết lao động tại chỗ, tăng thu nhập, giảm bớt lao động nông nhàn.

- Đầu tư  vốn, thủy lợi để khai hoang cải tạo 5.000 ha đất phèn, mặn ở Thới Bình, U Minh, điều động 2.000 lao động đến vùng kinh tế mới. Giao đất khoán rừng cho 5.000 lao động lâm nghiệp kết hợp với nuôi trồng thủy sản ở Ngọc Hiển, Cái Nước, Đầm Dơi. Quy hoạch lại cụm dân cư ở các khu kinh tế trọng điểm cửa biển như Sông Đốc, Khánh Hội, Cái Đôi Vàm, ông Trang, Rạch Tàu, Tam Giang, Rạch Gốc, Hố Gùi, Gành Hào để chuyển dịch và tái định cư cho 25.000 lao động làm dịch vụ nghề biển. Chuyển dịch vùng nguyên liệu trồng mía khi nhà máy đường Thới Bình hoàn thành, đồng thời mở ra khả năng sản xuất sản phẩm từ mía đường.

4. Tăng cường công tác đào tạo nâng cao, dạy nghề và thực hiện các chính sách, chương trình xã hội

- Từ nay đến năm 2.007 nhịp độ thanh niên đến tuổi lao động trung bình hàng năm 4,2% so với tổng nguồn lao động, nhưng các trường chuyên nghiệp, dạy nghề thuộc Nhà nước và các thành phần kinh tế mỗi năm chỉ tiếp nhận được hơn 3.000 thanh niên vào học nghề; còn lại 18.000 đến 20.000 chưa được  đào tạo, trong  khi đó nhu cầu lao động của nền kinh tế thị trường đòi hỏi rất cao, rất đa dạng và tổng hợp về trình độ, nghề nghiệp. Vì vậy phải coi trọng việc đổi mới chất lượng đào tạo, có nghĩa phải đào tạo và đào tạo lại, đồng thời mở rộng hệ thống, qui mô trường lớp, nâng cấp đào tạo và đa dạng hoá loại hình đào tạo, dạy nghề, truyền nghề, phổ biến kinh nghiệm, chuyển giao công nghệ.v.v...

- Chương trình nội dung đào tạo phải gắn với nhu cầu thị trường  lao động và yêu cầu nâng cao chất lượng lao động, ứng dụng công nghệ mới. Thay cho đào tạo một lần bằng đào tạo học tập suốt đời để thu hút mọi lao động đều phải tham gia học tập, đồng thời khi học xong có thể dễ tìm được việc làm trong xã hội.

- Đa dạng hóa các loại hình dạy nghề, tuyên truyền, hướng dẫn kỹ thuật như thông qua các Trung tâm khuyến nông, khuyến ngư, khuyến lâm, Trung tâm chuyển giao khoa học công nghệ... Khuyến khích và qui định cho các thành phần kinh tế, các tổ chức đoàn thể xã hội tham gia vào công tác dạy nghề . Mở rộng chỉ tiêu đào tạo cho đối tượng lao động trong các doanh nghiệp tư nhân, bảo đảm cho mỗi năm có 10.000 lượt lao động được học tập nâng cao kiến thức quản lý kinh doanh, nâng cao tay nghề và 20.000 lượt người được tập huấn tiếp thu kỹ thuật nghề nghiệp, được truyền nghề. Phấn đấu đến năm 2010 nâng tỷ lệ lao động được đào tạo và thông qua chương trình học nghề lên 50 đến 70% tổng số lao động.

- Tranh thủ các nguồn vốn tài trợ dạy nghề của các tổ chức Quốc tế và sự hỗ trợ của TW để trang bị cơ sở vật chất cho đào tạo dạy nghề phục vụ yêu cầu trước mắt và lâu dài. Mạnh dạn mở ra các chương đào tạo đón đầu cho lớp lao động mới để có thể tiếp nhận, sử dụng chuyển giao được công nghệ hiện đại của thế giới, thay thế công nghệ cũ lạc hậu.

- Tiến hành quy hoạch, xây dựng đề án về đào tạo cán bộ, tập trung vào đào tạo chuyên sâu, đào tạo nâng cao, đào tạo lại và đào tạo sau đại học để có đội ngũ trí thức đầu ngành trên mọi lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân. Mặt khác tăng cường vận động và trích từ ngân sách để lập quỹ hỗ trợ tài năng trẻ. Có chính sách đầu tư, hỗ trợ, bồi dưỡng đúng mức cho năng khiếu, tài năng trẻ phát triển, coi đó là khâu đột phá đón đầu cho thế hệ tương lai.

- Đẩy mạnh tổ chức thực hiện chương trình quốc gia xoá đói giảm nghèo nhằm tạo thêm việc làm, thu hút lao động vào guồng máy chung của nền kinh tế. Năm năm qua tỉnh cho vay 12 tỷ đồng, thông qua các đoàn thể như Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Hội Nông dân... nhân dân tự giúp nhau 15 tỷ, đã góp phần xoá đói giảm nghèo, tạo thêm việc và ổn định cuộc sống cho hàng nghìn hộ. Vì vậy tiếp tục mở rộng vận động lập quỹ xóa đói giảm nghèo; quỹ hỗ trợ nông dân nghèo; quỹ tiết kiệm vì phụ nữ nghèo; quỹ thanh niên lập nghiệp...

- Quan tâm chăm lo đến các đối tượng thuộc gia đình chính sách, thanh niên tật nguyền, thanh niên có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, ưu tiên xét duyệt vay vốn, giảm thuế, vận động toàn xã hội có trách nhiệm giúp đỡ, các đối tượng trên có việc làm, thu nhập để nâng lên cuộc sống trung bình trong xã hội.

- Chuyển từ 60% đến 80% lợi nhuận thu được qua xổ số kiến thiết để đầu tư xây dựng các công trình phúc lợi xã hội phục vụ cộng đồng như trường học, bệnh viện, công viên, nước sạch, vệ sinh môi trường, thư viện, nơi vui chơi sinh hoạt, thể thao cho nhân dân.

- Dành một nguồn vốn nhất định cho công tác phòng chống tệ nạn xã hội và các bệnh, dịch bệnh nguy hiểm (như gái mại dâm, xì ke, ma tuý, bệnh AIDS) giúp cho những người lầm lỡ có việc làm, trở về làm ăn lương thiện.

 

Dân số - lao động - việc làm là vấn đề quan trọng trong các chính sách xã hội. Không riêng ở tỉnh Cà Mau mà cả nước và các nước phát triển trên thế giới đều rất quan tâm đến vấn đề việc làm, vì nó rất nhạy cảm và liên quan đến mỗi người, mỗi gia đình và tương lai của đất nước; chứng tỏ mối quan hệ ấy có ảnh hưởng trực tiếp và lâu dài đến chính sách quốc gia. Vì vậy, nhiệm vụ bao trùm nhất của công tác quản lý  Nhà nước trên lĩnh vực này phải xuất phát từ lợi ích của nhân dân để xây dựng chủ trương chính sách, hoạch định chương trình phát triển, làm cho nhân dân thấy được lợi ích của mình gắn liền với lợi ích của đất nước, tự giác thực hiện theo pháp luật và quản lý của Nhà nước, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trên quê hương tỉnh Cà Mau./.

 


Comments