Lịch sử, văn hóa tỉnh Cà Mau

Trở về trang trước

 

Lịch sử hình thành tỉnh Cà Mau

1. Quá trình khẩn hoang đất Cà Mau
Cà Mau là tỉnh được khai khẩn muộn màng so với các tỉnh trong khu vực. Đến đầu thế kỷ XVII, vùng đất Cà Mau dân cư vẫn thưa thớt, đất đai còn hoang vu.
Sách Gia Định Thành Thông Chí của Trịnh Hoài Đức có chép: “Thời Gia Long, những giồng đất cao ráo ở ven sông Ông Đốc, sông Gành Hào, sông Bảy Háp và một vài phụ lưu mới có người khai khẩn, lập thành xóm, ấp. Tuy vậy, đến thời Tự Đức Cà Mau vẫn là vùng rừng đước, vẹt, tràm, không mấy ai đến lập nghiệp vì thiếu nước ngọt và ruộng quá nhiều phèn”.
Thuở xa xưa vùng đất Cà Mau thuộc vương quốc cổ Phù Nam, Chân Lạp. Khi vương quốc này tiêu vong vào khoảng thế kỷ thứ VI thì vùng đất khu vực đồng bằng sông Cửu Long trở thành hoang vu. Cuối thế kỷ XVII, Mạc Cửu là tướng của nhà Minh (Trung Quốc) chạy nạn bởi triều đình Mãn Thanh đã dẫn một số người Trung Hoa đến vùng Hà Tiên sinh sống. Sau khi Mạc Cửu dâng toàn bộ phần đất này thần phục nhà Nguyễn, Mạc Thiên Tứ con của Mạc Cửu đã vâng lệnh triều đình chúa Nguyễn lập ra đạo Long Xuyên (ở vùng đất Cà Mau ngày nay), tố chức mang tính chất quân sự.
Đến Gia Long thứ 7 (1808), đạo Long Xuyên được đổi ra huyện Long Xuyên, thuộc trấn Hà Tiên (lúc đó đất Nam Bộ có 3 dinh: dinh Trấn Biên, dinh Phiên Trấn, dinh Long Hồ và một trấn Hà Tiên). Năm Minh Mạng thứ 6 (1825), nhà Nguyễn đã đặt ra một quan tri huyện để cai trị.
Cùng với sự phát triển của lịch sử, Nam Bộ được chia thành 6 tỉnh (lục tỉnh Nam Kỳ): Gia Định, Biên Hoà, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên. Riêng tỉnh Hà Tiên có 3 phủ, 7 huyện, Cà Mau thuộc huyện Long Xuyên, phủ An Biên (Hà Tiên), tỉnh Hà Tiên.

 2. Sự thành lập tỉnh Cà Mau qua các thời kỳ lịch sử

Để ổn định về hành chính trong việc khai thác thuộc địa lần thứ nhất, Pháp chia Nam Kỳ thành 20 tỉnh. Ngày 18/2/1882, một phần đất Bạc Liêu thuộc tỉnh Sóc Trăng, một phần đất Cà Mau thuộc Rạch Giá được họp thành tỉnh Bạc Liêu.
Ngày 9/3/1956, theo sắc lệnh 32/VN, chính quyền Sài Gòn lấy quận Cà Mau, quận Quảng Xuyên và 4 xã của quận Giá Rai: Định Thành, Hoà Thành, Tân thành, Phong Thạnh Tây lập thành tỉnh Cà Mau.
Ngày 22/10/1956, chính quyền Sài Gòn ra sắc lệnh 143/VN đổi tên tỉnh Cà Mau thành tỉnh An Xuyên.
Về phía chính quyền cách mạng thì thành lập 2 tỉnh Cà Mau và Bạc Liêu dựa theo sự phân định địa giới hành chính của địch để thuận tiện cho lãnh đạo phong trào cách mạng ở mỗi nơi.

Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, tháng 2/1976, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam ra nghị định hợp nhất một số tỉnh ở miền Nam. Hai tỉnh Cà Mau (An Xuyên) và Bạc Liêu thành tỉnh Minh Hải. Tỉnh Minh Hải có thị xã Cà Mau, thị xã Minh Hải và 7 huyện: Vĩnh Lợi, Hồng Dân, Gía Rai, Châu Thành, Thới Bình, Trần Văn Thời, Ngọc Hiển.
Ngày 11/7/1977, Hội đồng Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra quyết định số 181-CP giải thể huyện Châu Thành. Các xã của huyện này được nhập vào các huyện Giá Rai, Trần Văn Thời và Thới Bình.
Ngày 29/12/1978, Hội đồng Chính phủ ra quyết định số 326-CP lập thêm 6 huyện mới: Phước Long, Cà Mau, U Minh, Phú Tân, Cái Nước, Năm Căn. Số huyện trong tỉnh tăng lên 12 huyện.
Ngày 30/8/1983, Hội đồng Bộ trưởng ra quyết định số 94-HĐBT giải thể huyện Cà Mau, các xã của huyện này được sáp nhập vào thị xã Cà Mau và các huyện Giá Rai, Thới Bình, Cái Nước, tỉnh còn lại 2 thị xã và 11 huyện.
17/5/1984, Hội đồng Bộ trưởng ra nghị định số 75-HĐBT đổi tên thị xã Minh Hải thành thị xã Bạc Liêu. Hợp nhất huyện Hồng Dân và huyện Phước Long lấy tên là huyện Hồng Dân. Hợp nhất huyện Cái Nước và huyện Phú Tân thành huyện Cái Nước.
Ngày 17- 18/12/1984, với hai quyết định của Hội đồng Bộ trưởng đổi tên huyện Năm Căn (cũ) thành huyện Ngọc Hiển (mới). Đổi tên huyện Ngọc Hiển (cũ) thành huyện Đầm Dơi (mới). Chuyển tỉnh lỵ Minh Hải từ thị xã Bạc Liêu về thị xã Cà Mau. Thời diểm này tỉnh Minh Hải có 2 thị xã (thị xã Cà Mau, thị xã Bạc Liêu) và 9 huyện: Vĩnh Lợi, Hồng Dân, Giá Rai, Thới Bình, U Minh, Cái Nước, Trần Văn Thời, Đầm Dơi, Ngọc Hiển.

Ngày 6/11/1996, tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khoá IX đã phê chuẩn việc tách tỉnh Minh Hải ra làm 2 tỉnh Cà Mau và Bạc Liêu, thực hiện từ ngày 1/1/1997. Tỉnh Cà Mau có diện tích 5.211 km2, dân số 1.133.747 người, gồm một thị xã (Cà Mau) và 6 huyện (Thới Bình, U Minh, Trần Văn Thời, Cái Nước, Đầm Dơi, Ngọc Hiển).
Ngày 14/4/1999 Chính phủ ban hành Nghị định số 21 thành lập thành phố Cà Mau trực thuộc tỉnh Cà Mau.
Ngày 17/11/2003 Chính phủ ban hành Nghị định số 138 thành lập huyện Năm Căn và Phú Tân trên cơ sở điều chỉnh địa giới hành chính huyện Ngọc Hiển và huyện Cái Nước.
Cà Mau là vùng đất mới khai phá nên còn nhiều tiềm năng: tiềm năng của biển, của rừng, của đất. Con người Cà Mau hào hiệp, nghĩa khí như Thủ tướng Võ Văn Kiệt phát biểu tại đại hội Đảng bộ tỉnh Minh Hải tháng 7/1983: “Là một tỉnh có rất nhiều bè bạn. Mảnh đất hào hiệp và phóng khoáng này đã tiếp hàng vạn người phiêu bạt đi tìm cuộc sống trước đây. Trong hai cuộc kháng chiến, hàng vạn người khắp nước đã về đây chiến đấu và ngã xuống tại đây, để lại đây biết bao là kỷ niệm”. (A.U).


_____________

____________

 

Truyền thống đấu tranh cách mạng của nhân dân Cà Mau

1- Phong trào đấu tranh của nhân dân Cà Mau trước khi có Đảng
Cùng với tiếng súng chống Pháp của nhân dân cả nước, nhân dân Cà Mau ngay từ năm 1861 đã chặn đánh tàu địch tại các cửa sông Bồ Đề, cửa Rạch Tàu, ngăn quân xâm lược. Năm 1873, nhân dân vùng đất mũi Cà Mau đã cùng anh em ông Đỗ Thừa Luông, Đỗ Thừa Tự đứng lên chống Pháp ở vùng sông Cái Tàu. Ủng hộ và tham gia nghĩa quân Nguyễn Trung Trực, Nguyễn Hữu Huân chiến đấu chống xâm lược của thực dân Pháp. Trong thời gian này, nhân dân Cà Mau đã nổi dậy giết chết tên thực dân Pháp Escamye và tri huyện Phan Tử Long. Đây là những tên cướp nước và bán nước đầu tiên bị trừng trị nơi mảnh đất cuối cùng của Tổ quốc.
Năm 1924, nhân dân Cà Mau dưới sự lãnh đạo của Trần Văn Nghĩa và Trần Văn Thời đã chống lại sự cướp đất của Patisti, tên Patisti bị thương, tên Hương quản phải quì gối xin lỗi bà con. Người nông dân đã bảo vệ được ruộng vườn của mình.
Những cuộc đấu tranh của nhân dân Cà Mau nổ ra từ những ngày đầu Pháp xâm lược và liên tiếp suốt thời gian cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX đã thể hiện tinh thần yêu nước của nhân dân Cà Mau cùng cả nước chống giặc ngoại xâm và phong kiến.

2. Sự ra đời của Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng Hội ở Cà Mau
Cuối năm 1927, ông Đào Hưng Long được Kỳ bộ Nam Kỳ Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí Hội cử về hoạt động, tuyên truyền tinh thần yêu nước cho những thanh niên có ý thức cách mạng lúc bấy giờ, qua đó tuyển chọn những người ưu tú kết nạp vào Hội.
Tháng 1/1929, Chi hội Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí Hội thị trấn Cà Mau được thành lập, gồm các ông: Lâm Thành Mậu, Nguyễn Văn Chánh (Tư Rạch), Trần Hải Thoại (Năm Thoại), Tân Văn Hai (Hai Tân) và một số người khác, do ông Đào Hưng Long làm Bí thư.
Chi hội mở một cửa hiệu bán sách, báo lấy tên là “Hồng Anh thư quán”, một quán bán cơm và cà phê “Đồng Tâm” vừa làm cơ sở để giáo dục, vận động nhân dân yêu nước, vừa là nơi trao đổi, hội họp của Chi hội. Hoạt động của Chi hội ngày càng gây được ảnh hưởng rộng rãi trong dân nghèo ở thị trấn và nhân dân ở các xã xung quanh.

3. Sự ra đời của Chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên ở tỉnh Cà Mau
Cùng với sự phát triển của cách mạng Việt Nam, ở Cà Mau lúc bấy giờ (1/1930), Đặc uỷ Hậu Giang do ông Ung Văn Khiêm làm Bí thư đã trực tiếp xuống Cà Mau kết nạp 4 hội viên ưu tú của Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí Hội là các ông: Lâm Thành Mậu, Nguyễn Văn Chánh, Tân Văn Hai và Phạm Ngọc Cừ vào An Nam Cộng sản Đảng và thành lập Chi bộ Cà Mau do ông Lâm Thành Mậu làm Bí thư. Đây là Chi bộ Cộng sản đầu tiên ở tỉnh Cà Mau. Sau đó chi bộ đã tổ chức lễ chào mừng Đảng ra đời bằng các hình thức treo cờ, băng khẩu hiệu và rải truyền đơn ở nhiều nơi công cộng để giác ngộ nhân dân lao động, nhất là tầng lớp thanh niên.
Cũng trong thời gian này, tại Tân Thành, do phong trào đấu tranh của nhân dân lên cao, ông Lâm Thành Mậu, Bí thư Chi bộ thị trấn Cà Mau đã đến đây tìm hiểu và gây dựng cơ sở. Khoảng tháng 10/1930, bà Hồng Liên được cấp trên phái về Tân Thành hoạt động và đã kết nạp được Tăng Hồng Phúc, Phan Khắc Nhượng, Huỳnh Đề Thám, Hồng Lạc Bông vào Đảng và lập được Chi bộ xã Tân Thành do ông Tăng Hồng Phúc làm Bí thư.
Sau đó có nhiều Chi bộ Đảng ra đời hoạt động mạnh mẽ đã lãnh đạo nhân dân đấu tranh sôi nổi. Để kịp thời lãnh đạo phong trào cách mạng trong tỉnh, ngày 26/10/1938 Tỉnh ủy lâm thời được thành lập, đồng chí Bùi Thị Trường được cử làm bí thư, đồng chí Trần Văn Đại phó bí thư .
Ngày 02/02/1939 Đại hội tỉnh Đảng bộ lần thứ nhất, bầu ra 9 ủy viên chính thức, 2 dự khuyết, đ/c Trần Văn Đại được bầu làm bí thư.
 

4. Cuộc khởi nghĩa Hòn Khoai (13 –12 – 1940)
Cùng với cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ, lệnh khởi nghĩa của Xứ uỷ được chuyển đến tỉnh Bạc Liêu (nay là tỉnh Cà Mau - Bạc Liêu) đêm 23/11. Hội nghị Tỉnh uỷ ngày 26/11/1940 tại Lung Lá Nhà Thể nhất trí thông qua khởi nghĩa ở ba khu vực: Bạc Liêu, Cà Mau, Năm Căn. Ngày 12/12, Thường vụ Tỉnh uỷ nhận được lệnh của Liên Tỉnh uỷ Hậu Giang đình cuộc khởi nghĩa. Tỉnh uỷ đã kịp thời chỉ thị cho các khu vực ngừng khởi nghĩa, phân tán lực lượng, không được bạo động. Riêng Chi bộ ngoài đảo không có cách nào chuyển lệnh ngừng khởi nghĩa đến được.
Đúng như kế hoạch, 23 giờ 15 phút ngày 13/12, cuộc nổi dậy ở Hòn Khoai do Phan Ngọc Hiển lãnh đạo nổ ra giành được thắng lợi nhanh chóng trọn vẹn và bí mật. Lực lượng khởi nghĩa tiêu diệt tên xếp đảo Ôliviê, thu vũ khí về đất liền để kịp thời cùng với lực lượng đánh chiếm Năm Căn.
 Lực lượng khởi nghĩa về đất liền trong khí thế của đoàn quân chiến thắng, cờ đỏ sao vàng, khẩu hiệu “Mặt trận dân tộc thống nhất phản đế muôn năm”. Nhân dân Rạch Gốc vô cùng phấn khởi, kẻ thù hoảng sợ bỏ chạy vào rừng. Do có lệnh đình khởi nghĩa ở đất liền, lực lượng khởi nghĩa Hòn Khoai đã chờ đợi suốt đêm 14 vẫn không thấy hiệu lệnh tấn công và cũng không liên lạc được với chỉ huy khu vực I. Để phát huy thắng lợi, 9 giờ sáng ngày 15/12, Phan Ngọc Hiển hạ lệnh cho lực lượng tấn công vào nhà Quận Kiểm Lâm, tên Đốc Đông khiếp sợ giao nộp toàn bộ vũ khí cho quân khởi nghĩa.
 Trưa hôm đó, bọn thực dân ở Cà Mau đưa hai tàu chở đầy lính, mã tà tiến vào Rạch Gốc. Trước lực lượng đông đảo của Địch, các chiến sĩ khởi nghĩa đã rút vào rừng, bảo toàn lực lượng.
 Thực dân Pháp cay cú cho quân bao vây bắt bớ tra tấn đồng bào, truy bắt chiến sĩ khởi nghĩa. Địch bám theo ráo riết, sau 4 ngày, đến 22/12, chúng đã bắt được các chiến sĩ khởi nghĩa Hòn Khoai tại bãi Khai Long.
  Sau những ngày bị giam cầm tra tấn dã man nhưng các đồng chí vẫn giữ khí tiết người cộng sản. Ngày 12/7/1941 thực dân Pháp xử bắn 8 chiến sĩ Hòn Khoai và 2 cán bộ của Tỉnh uỷ, lưu đày Côn Đảo 27 người, tù ở các nhà lao khác 12 người để hòng tiêu diệt mầm mống cách mạng còn non trẻ của ta.
 Cuộc khởi nghĩa Hòn Khoai bị kẻ thù dìm trong biển máu, nhưng không dập tắt được tinh thần yêu nước của nhân dân. Cuộc khởi nghĩa đã đánh dấu bước trưởng thành vượt bậc của Đảng bộ và chứng minh tinh thần dũng cảm kiên trung bất khuất của chiến sĩ, của nhân dân đất Mũi. Tỉnh Cà Mau lấy ngày khởi nghĩa Hòn Khoai 13/12 làm ngày truyền thống. Hòn Khoai ngày nay đã trở thành di tích lịch sử - cách mạng của cả nước; là biểu tượng tự hào về truyền thống cách mạng vẻ vang của Đảng bộ và nhân dân Cà Mau.

5. Cách Mạng tháng Tám ở Cà Mau
 Sau sự kiện Nhật đảo chính Pháp, quán triệt Chỉ thị của Đảng “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”, ngày 5/5/1945 tại Tân Bằng, Ban vận động tái lập Đảng bộ Nam Kỳ triệu tập Hội nghị đại biểu các chi bộ khu vực Cà Mau để thành lập cơ quan lãnh đạo lâm thời của Tỉnh Đảng bộ gồm 5 người, do ông Trần Văn Đại làm Bí thư.
 Sau khi có chủ trương khởi nghĩa, Tỉnh uỷ càng đẩy mạnh công tác tổ chức Đảng và tổ chức quần chúng, xây dựng lực lượng vũ trang tự vệ. Phong trào cách mạng phát triển sôi nổi vượt bậc ở nông thôn và thị trấn Cà Mau.
Được tin Nhật đầu hàng Đồng minh không điều kiện, chính quyền Nhật ở Đông Dương và bọn tay sai hoang mang rệu rã. Hoà nhịp chung với Bạc Liêu và cả nước, Tỉnh uỷ lâm thời Cà Mau do ông Thái Ngọc Sanh vận động và tổ chức cuộc mít tinh lớn ở thị trấn Cà Mau để chào mừng ngày Mặt trận Việt Minh ra đời và biểu dương lực lượng quần chúng tại sân vận động Cà Mau. Cuộc mít tinh sau đó chuyển thành cuộc biểu tình vũ trang thị uy kéo đến dinh Đốc phủ Kế, Quận trưởng Cà Mau, đòi giao chính quyền cho nhân dân, nhưng ông Kế xin ta cho hoãn lại vài hôm.
 Quyết không trì hoãn việc giành chính quyền, ngày 26/8, Tỉnh uỷ huy động lực lượng quần chúng gây áp lực với chính quyền bù nhìn. Trước thái độ kiên quyết của ta, Đốc phủ Kế phải bàn giao chính quyền cho uỷ ban dân tộc giải phóng quận Cà Mau. Cùng lúc đó ông Tào Văn Tỵ - uỷ viên quân sự của Uỷ ban giải phóng dân tộc tỉnh khu vực Bạc Liêu cũng đưa một trung đội Cộng hoà vệ binh đến chi viện.
 Ngay sau thắng lợi ở tỉnh lỵ, nhân dân khắp vùng nông thôn trong tỉnh dưới sự lãnh đạo của các Chi bộ Đảng đã nhất tề đứng lên đập tan bộ máy chính quyền tay sai ở xã, thành lập chính quyền nhân dân và các đoàn thể quần chúng cách mạng.
Ngày 30/08/1945 Chính quyền Cách mạng tỉnh Cà Mau - Bạc Liêu được thành lập do đồng chí Tô Thúc Rịch làm bí thư Tỉnh ủy.

6. Chín năm kháng chiến chống Pháp
 Pháp trở lại xâm lược Việt Nam, Chính quyền cách mạng chỉ đạo nhiều trận đánh chặn địch, nổi tiếng như mặt trận Tân Hưng vào đầu năm 1946 quân ta đã chiến đấu hơn 3 tháng chặn bước tiến của địch vào vùng căn cứ; năm 1946 đánh chìm tàu Henri Mariette ở Mây Dốc; Năm 1947 đánh chìm tàu Lơtoanăng tại kênh Mương Điều, tiêu diệt hơn một đại đội Pháp và 2 tàu khác ở Vàm Đình và Ao Kho thu nhiều vũ khí.
Tháng 9 năm 1949, phần lớn đất đai thuộc tỉnh Cà Mau được chọn làm căn cứ chính của Nam Bộ. Tháng 10 năm 1949, Xứ uỷ, Uỷ ban kháng chiến hành chính Nam Bộ chuyển bộ máy và cơ quan lãnh đạo từ Đồng Tháp Mười về căn cứ U Minh. Suốt thời gian kháng chiến chống Pháp, Cà Mau là khu căn cứ, cung cấp nguồn sống cho cả miền Tây Nam Bộ và liên tiếp giành được nhiều thắng lợi to lớn trên chiến trường.
Trong những năm 1951-1952, lực lượng vũ trang của ta đã đánh thắng trên 40 trận lớn nhỏ, diệt hàng ngàn tên địch, thu nhiều vũ khí. Năm 1953 chiến thắng Nhị Nguyệt, đánh chiếm 5 tàu địch, tiêu diệt và loại khỏi vòng chiến đấu 500 tên địch, thu nhiều vũ khí. Từ cuối năm 1953 đến giữa năm 1954, quân ta đã liên tiếp tân công địch từ mọi phía, tiêu diệt một lực lượng lớn của địch, bức rút, bức hàng nhiều đồn bót và tháp canh, vùng giải phóng không ngừng được mở rộng, nhân dân được sống tự do.
Trong chống Pháp quân và dân ta tiêu diệt 6.996 tên địch, phá hủy và thu nhiều vũ khí. Những tấm gương hy sinh anh dũng cho công cuộc đấu tranh cách mạng giải phóng quê hương như Phan Ngọc Hiển, Trần Văn Thời, Châu Văn Đặng, Lương Thế Trân, Quách Văn Phẩm v.v...

7. Hai mươi năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước
 Sau năm 1954, Mỹ phá hoại hiệp định Giơ-ne-vơ, sang xâm lược Việt Nam, Cà Mau tiếp tục là căn cứ địa kiên cường của cách mạng. Nhiều đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta đã từng được nhân dân Cà Mau che chở nuôi giấu như đồng chí Lê Duẩn, Phạm Hùng, Võ Văn Kiệt. Sự kiện 200 ngày tập trung chuẩn bị cho ngày lên tàu tập kết ra Bắc đầu năm 1955; sự kiện ta xây dựng "Làng rừng" để chống lại kế hoạch gom dân, đàn áp của chính quyền Ngô Đình Diệm.
 Sau Đồng khởi năm 1960, quân dân ta tiến lên đánh địch giành nhiều thắng lợi như năm 63 trong hai tháng ta diệt chi khu Cái Nước, Đầm Dơi và cứ điểm Chà Là, giải phóng vùng nông thôn rộng lớn. Năm 1968 ta đánh vào thị xã Cà Mau và giải phóng hoàn toàn huyện Ngọc Hiển. Năm 72 ta tấn công đồng loạt, bao vây 200 đồn bót giặc buộc chúng phải đầu hàng hoặc bị tiêu diệt. Cùng với chiến dịch mùa xuân 1975, 10h ngày 01/05/1975 thị xã Cà Mau hoàn toàn giải phóng.
 Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước quân và dân Cà Mau đã tác chiến 73.500 trận, loại khỏi vòng chiến đấu 310.907 tên ngụy và 1.764 tên Mỹ, bắn rơi và bị thương 1.029 máy bay, bắn chìm và phá hủy 1.365 tàu chiến, phá hủy 821 xe quân sự, thu 31.000 súng, trong đó thu và phá hủy 89 khẩu pháo 105 và 155 ly v.v.. Với những chiến công ấy tỉnh có 20 cá nhân và 45 tập thể được phong tặng danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, 507 bà mẹ Việt Nam anh hùng; 10.836 thương binh và 16.000 liệt sỹ đã anh dũng hy sinh trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Đặc biệt Mũi Cà Mau là bến tiếp nhận vũ khí, đạn dược cuả đường mòn Hồ Chí Minh trên biển, đến nay còn để lại sự huyền bí về ý chí oai hùng và sứ mệnh lịch sử của những “con tàu không số”... Những tấm gương tiêu biểu trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ như Bông Văn Dĩa, Nguyễn Việt Khái, Lý Văn Lâm, Dương Thị Cẩm Vân, Hồ Thị Kỷ, Huỳnh Phi Hùng, Hồ Trung Thành, Đặng Tấn Triệu, Danh Thị Tươi v.v... Những chiến công và tấm gương đó đi vào lịch sử là niềm tự hào mãi mãi của quê hương Cà Mau. (A.U).
________________________


Những tấm gương tiêu biểu

  1- Đồng chí Lâm Thành Mậu, sinh năm 1898 tại Cà Mau trong một gia đình nhà nho nghèo yêu nước (bố là Lâm Mẫn Huệ làm nghề thuốc Đông y). Tiếp thu tư tưởng yêu nước qua sách báo của Nguyễn Ái Quốc gửi về, tháng 01/1928 đồng chí gia nhập “Hội Việt Nam thanh niên cách mạng” và thành lập Chi bộ Hội thị trấn Cà Mau. Chi bộ có mở một nhà sách lấy tên “Hồng Anh Thư Quán”, chuyên bán sách báo yêu nước để tuyên truyền cho thanh niên. Ngày 01/01/1930 Chi bộ Đảng đầu tiên ở tỉnh ta được thành lập do đồng chí Lâm Thành Mậu làm bí thư, từ đó trở đi đồng chí hoạt động rất tích cực, tham gia viết báo ký tên là Bình Dân. Năm 1941 trên đường đi công tác đồng chí bị địch bắt, chúng tra tấn dã man, kết án 15 năm tù, đày ra Côn Đảo. Tháng 7/42 vì bị tra tấn nặng đồng chí hy sinh tại nhà tù Côn Đảo.

 2- Đồng chí Phạm Hồng Thám, sinh năm 1902 ở xã Bách Thuận, huyện Vũ Thư  tỉnh Thái Bình trong gia đình nông dân nghèo. Năm 17 tuổi đi làm phu cho Pháp ở mỏ than Quảng Ninh, năm 1920 Pháp tuyển anh đi lính và đưa sang Pháp năm 1921. Thời gian ở Pháp anh đọc báo “Người cùng khổ” của Nguyễn Ái Quốc và được nghe Nguyễn Ái Quốc diễn thuyết ở câu lạc bộ. Lòng yêu nước, căm thù đế quốc của anh được nhen nhóm lên từ đó. Năm 1925 anh về nước, năm 1926 bắt liên lạc với chi bộ “Hội Việt Nam thanh niên cách mạng” ở thị xã Bắc Ninh, sau đó được  kết nạp vào Hội. Năm 1929 anh được kết nạp vào Chi bộ đặc biệt của Đông dương Cộng sản Đảng, tháng 2/1930 đồng chí bị địch bắt kết án 20 năm tù, đày Côn Đảo. Năm 1935 đồng chí vượt ngục về đất liền cập vào bờ biển Vĩnh Châu (Sóc Trăng). Đồng chí được tổ chức phân công về Năm Căn hoạt động lấy bí danh là Thanh Phong. Tháng 8/1935 đồng chí đến Rạch Gốc xã Tân Ân gặp Phan Ngọc Hiển; gặp đồng chí Lâm Thành Mậu ở Cà Mau và đi một số nơi khác để phát triển tổ chức cơ sở Đảng. Năm 1937 đồng chí được chỉ định vào liên Tỉnh ủy Hậu Giang phụ trách ba tỉnh: Bạc Liêu, Rạch Giá, Sóc Trăng. Năm đó đồng chí thành hôn với Trần Thị Bướm (bí danh Hồng Điệp - là em ruột của Trần Văn Thời). Năm 1940 đồng chí được bổ sung vào Xứ ủy Nam kỳ sau đó vào Ban thường vụ Xứ ủy, từ đó cho đến năm 1950 đồng chí hoạt động mạnh ở Rạch Giá, Bạc Liêu, Cà Mau, Sóc Trăng, Cần Thơ, Long Xuyên, xây dựng căn cứ kháng chiến và xây dựng lực lượng vũ trang. Năm 1951 đồng chí về làm phó giám đốc sở Thương binh Nam bộ.
 Sau năm 1954 đồng chí tiếp tục ở lại miền Nam chiến đấu và tổ chức bảo vệ đồng chí Lê Duẩn. Năm 1971 vì bệnh nặng, tuổi cao sức yếu đồng chí ra miền Bắc và đi nước ngoài trị bệnh. Năm 1978 đồng chí từ trần. Đồng chí Phạm Hồng Thám qua đời để lại cho đồng bào, cán bộ, chiến sĩ tỉnh ta tình thương vô hạn. Cuộc đời hoạt động của đồng chí gắn chặt qua nhiều thời kỳ cách mạng vẻ vang với vùng đất Cà Mau kiên cường.

 3- Đồng chí Trần Văn Thời, sinh năm 1902 ở xã Phong Lạc nay là xã Lý Văn Lâm - Cà Mau, trong một gia đình nông dân yêu nước. Năm 1936 đồng chí cùng các em của mình được đồng chí Phạm Hồng Thám tuyên truyền giác ngộ cách mạng đã tích cực tham gia hoạt động. Năm 1937 đồng chí được kết nạp vào Đảng, sau đó đồng chí hoạt động rất mạnh ở vùng Cà Mau, Cái Nước. Năm 1940  đồng chí được cử làm bí thư Tỉnh ủy Bạc Liêu, được xứ ủy chỉ định vào Liên Tỉnh ủy Hậu Giang. Bọn mật thám Pháp biết đồng chí là một cán bộ lãnh đạo của Đảng nên chúng ráo riết truy lùng nhưng với tinh thần cảnh giác, mưu trí, đồng chí nhiều lần thoát khỏi tay giặc.
 Năm 1940 đồng chí cùng Tỉnh ủy chỉ đạo khởi nghĩa Hòn Khoai tiến lên giải phóng toàn tỉnh. Để thi hành nghị quyết này, Tỉnh ủy thành lập Ban chỉ huy quân sự tỉnh do đồng chí phụ trách. Sau khởi nghĩa Hòn Khoai địch khủng bố và truy lùng những chiến sĩ cách mạng, đồng chí tập hợp lực lượng vào rừng U Minh xây dựng căn cứ lập xưởng sản xuất vũ khí tiếp tục chiến đấu. Năm 1941 đồng chí được cấp trên điều về xây dựng lực lượng ở Châu Đốc (lấy tên là Nguyễn Văn Chất), tháng 05/1941 đồng chí bị địch bắt tra tấn dã man nhưng đồng chí quyết bảo vệ tổ chức Đảng kể cả tên thật của mình. Đế quốc Pháp đã kết án đồng chí 20 năm tù, đày Côn Đảo.
 Vì bị tra tấn dã man cộng với nhà tù khắc nghiệt, năm 1942 đồng chí đã hy sinh tại nhà tù Côn Đảo.
 Để ghi nhớ công lao to lớn của đồng chí với cách mạng, Tỉnh ủy đã lấy tên đồng chí đặt tên huyện Trần Văn Thời. Ngày 03/02/1997 tượng Trần Văn Thời đã được long trọng khánh thành đặt tại công viên Hùng Vương thành phố Cà Mau.

 4- Đồng chí Phan Ngọc Hiển, sinh năm 1910 trong một gia đình nghèo ở  xã Thới Bình, Cái Khế, Cần Thơ, bị mồ côi cha mẹ từ nhỏ.
 Năm 1926 anh tham gia phong trào để tang Phan Chu Trinh nên sau khi ra trường Trung học Sư Phạm, nhà trường đưa anh đi dạy ở vùng xa cách biệt với thành thị. Đó là mùa hè 1931 thầy giáo Phan Ngọc Hiển đã tới Rạch Gốc - Tân ân - Năm Căn .
 Năm 1935 Phan Ngọc Hiển được gặp đồng chí Phạm Hồng Thám - cán bộ của Đảng từ Côn Đảo vượt ngục trở về. thầy giáo Hiển được Phạm Hồng Thám giao nhiệm vụ xây dựng tổ chức cơ sở quần chúng để chuẩn bị đón các đồng chí vượt ngục từ Côn Đảo về vùng này. Đồng chí hăng hái hoạt động và viết báo tuyên truyền chống giặc, nên bị địch cấm không cho dạy học. Năm 1936 đồng chí được gặp Phạm Hồng Thám, Lâm Thành Mậu và nhiều đồng chí khác và được kết nạp vào chi bộ Đảng thị xã Cà Mau.
 Năm 1937 đồng chí trở về Rạch Gốc tổ chức tập hợp thanh niên tuyên truyền cách mạng, khi phong trào quần chúng lên cao cần có Đảng lãnh đạo thế là một chi bộ Đảng ở Rạch Gốc ra đời .
 Cuối năm 1937 đồng chí được xứ ủy Nam kỳ điều về ban biên tập báo Lao Động đóng tại Sài Gòn. Năm 38 đồng chí được đưa về Bạc Liêu phụ trách tờ báo của tỉnh nhàứ nhưng chiến tranh thế giới bùng nổ đồng chí trở về hoạt động bí mật ở Rạch Gốc.
 Giữa năm 1940  Tỉnh ủy quyết định đồng chí ra hoạt động ở Hòn Khoai, tại đây đồng chí cùng tập thể những chiến sĩ cách mạng đã làm nên cuộc khởi nghĩa Hòn Khoai đi vào lịch sử .
 Đồng chí Phan Ngọc Hiển và các chiến sĩ khởi nghĩa Hòn Khoai đã anh dũng hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, tinh thần trung kiên của đồng chí sống mãi trong lòng nhân dân với niềm tiếc thương vô hạn. Sau ngày cách mạng tháng tám thành công một phần đất mũi Cà Mau nơi anh hoạt động đặt tên huyện Ngọc Hiển và tỉnh đã lấy ngày khởi nghĩa Hòn Khoai 13/12 làm ngày truyền thống của tỉnh Cà Mau.

 5- Anh hùng Bông Văn Dĩa, sinh năm 1905, tại ấp Rạch Gốc xã Tân Ân huyện Ngọc Hiển tỉnh Cà Mau trong gia đình dân nghèo vùng biển. Được thầy giáo Phan Ngọc Hiển giúp đỡ, đồng chí sớm giác ngộ cách mạng và được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1940. Từ khi vào Đảng đồng chí hoạt động rất tích cực ở vùng Rạch Gốc, được cấp trên giao nhiệm vụ đưa thư cho Phan Ngọc Hiển tổ chức cuộc khởi nghĩa Hòn Khoai vào cuối năm 1940 giành thắng lợi. Khi cuộc khởi nghĩa bị khủng bố, đồng chí bị thực dân Pháp kết án khổ sai đày đi Côn Đảo. Suốt những năm lưu đày chịu nhiều cực hình tra tấn dã man, đồng chí vẫn luôn giữ vững khí tiết cách mạng, cùng với chi bộ nhà tù đấu tranh và tổ chức nhiều cuộc vượt ngục đưa các chiến sỹ của ta về đất liền hoạt động. Cách mạng tháng Tám thành công, đồng chí cùng các chiến sỹ tù Côn Đảo được rước trở về tiếp tục hoạt động cách mạng.
 Lúc đầu cuộc kháng chiến chống Pháp ở Nam bộ rất cần vũ khí đánh giặc, đồng chí được phân công chở hàng qua Thái Lan đổi lấy vũ khí. Chuyến đi này được sự trợ giúp cuả chị Nguyễn Thị Hoài - là vợ đồng chí Bông Văn Dĩa nên công việc được cải trang chu đáo bí mật. Đến Thái Lan mặc dù bị nhà cầm quyền bắt giam 4 tháng nhưng khi vưà ra tù đồng chí chở ngay chuyến vũ khí từ Thái Lan về Rạch Gốc Năm Căn. Lần thứ 2 do vận chuyển bằng đường biển khó khăn nên phải tổ chức bằng đường bộ từ Thái Lan qua Căm Pu Chia về Việt Nam và phải chuyển từng đoạn hết sức vất vả; trên đường vận chuyển bị địch ngăn chặn, đồng chí cùng đơn vị chiến đấu 10 trận để bảo toàn vũ khí, chiến sỹ ta có 10 đồng chí phải hy sinh. Sau đó đồng chí được bổ sung vào đơn vị Cửu Long, tham gia nhiều trận đánh Pháp. Năm 1953 đồng chí được biệt phái sang Căm Pu Chia công tác, làm huyện uỷ viên tỉnh Kô Kông cho đến khi chuyển quân tập kết năm 1954.
 Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, vào năm 1961 đồng chí được trung ương bố trí giao nhiệm vụ rất quan trọng là tổ chức thăm dò tuyến đường biển từ Cà Mau ra miền Bắc để chở vũ khí vào miền Nam đánh giặc. Qua 2 chuyến đi, về vượt sóng gío và tầu tuần tra của địch, đồng chí báo cáo tỉ mỉ tình hình thăm dò và xây dựng bến bãi tiếp nhận vũ khí cho Trung ương và Bác Hồ nghe. Ngày 14 tháng 9 năm 1962 đồng chí trực tiếp chỉ huy chở chuyến vũ khí 28 tấn đầu tiên từ miền Bắc về tới Cà Mau ngày 20/9/1962 cập vào bến Vàm Lũng (quê hương đồng chí) an toàn. Đồng chí Bông Văn Dĩa đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, trở thành người chiến sỹ đầu tiên mở đường mòn Hồ Chí Minh trên biển. Từ đó trở đi vũ khí liên tiếp được đưa từ miền Bắc vào cập bến khu vực mũi Cà Mau. Lúc này đồng chí lại làm nhiệm vụ chuyên chở vũ khí luồn lách qua nhiều đồn bốt địch phân phối cho chiến trường.
 Với những thành tích và công lao cống hiến đặc biệt, năm 1967 đồng chí được phong danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang.
 Đồng chí Bông Văn Dĩa là một tấm gương trong sáng, hiến cả cuộc đời vì sự nghiệp cách mạng - đấu tranh giải phóng dân tộc, đồng chí luôn thể hiện đức tính cần kiệm liêm chính chí công vô tư. Ngày 30 tháng 5 năm 1983 đồng chí từ trần, thọ 78 tuổi, mai táng ở Rạch Gốc xã Tân Ân quê hương  đồng chí.

 6- Anh hùng liệt sĩ Nguyễn Việt Khái, sinh năm 1940 tại xã Tân Hưng Tây, Cái Nước. Năm 1954 làm liên lạc xã, sau chuyển sang công tác thanh niên. Năm 1961 là ấp đội trưởng, năm 1962 là bí thư Chi bộ trực tiếp chỉ huy lực lượng du kích xã.
 Năm 1962 bọn địch ở chi khu Bình Hưng, tập trung 600 quân đánh vào vùng giải phóng, anh chỉ huy du kích đánh trả quyết liệt, 10 đồng chí du kích hy sinh nhưng anh vẫn tổ chức nhóm còn lại chặn đánh bẻ gãy cuộc càn của địch. Sáng ngày 08/12/1962 địch đi càn cho đổ bộ bằng máy bay xuống vùng giải phóng, anh tổ chức chiến đấu, diệt địch để bảo vệ mình. Với 8 viên đạn cạc bin anh đã hạ 04 máy bay địch làm hàng trăm tên chết và bị thương, bẻ gãy cuộc đổ bộ của địch. Tháng 10/1963 trong trận quyết chiến đánh đồn Vàm Cái Tàu, anh đã anh dũng hy sinh (lúc đó là Trung đội phó tiểu Đoàn U Minh II).
 Suốt quá trình chiến đấu anh đã lập nhiều chiến công xuất sắc, tham gia đánh địch 50 trận. Với 8 phát đạn hạ 04 máy bay, đồng chí Nguyễn Việt Khái trở thành thần kỳ mở ra khả năng đánh bại chiến thuật trực thăng vận của Mỹ, cổ vũ phong trào diệt máy bay địch trong toàn chiến trường miền Nam.
 Năm 1965 anh được truy tặng danh hiệu anh hùng. Quê hương anh đã đặt tên xã Nguyễn Việt Khái.

 7- Anh hùng liệt sĩ Lý Văn Lâm, (tức Lý Ngọc Báu) sinh năm 1941 (có tư liệu ghi 1938) trong gia đình nông dân nghèo ở thị xã Cà Mau. Năm 1959 anh tham gia vào du kích xã, năm 1960 anh được kết nạp vào Đoàn thanh niên, năm 1961 được kết nạp vào Đảng sau đó làm Trung đội phó du kích xã Lợi An. Trong một trận đánh năm 1961 anh bị thương cụt tay phải và mờ cả hai mắt, nhưng anh vẫn kiên trì tập luyện kéo cò súng bằng cùi tay và trở thành xạ thủ bắn tỉa rất giỏi (21 viên đạn diệt 22 tên địch).
 Trong 8 năm đồng chí tham gia chiến đấu 56 trận, luôn thể hiện tinh thần dũng cảm, mưu trí đã diệt và làm bị thương 101 tên, bắt sống 04 tên và thu nhiều vũ khí.
 Năm 1967 Lý Văn Lâm được phong tặng danh hiệu anh hùng. Năm 1969 trên đường công tác bị địch phục kích, đồng chí chiến đấu dũng cảm đã hy sinh trong tư thế chiến đấu.
 Lý Văn Lâm là tấm gương anh hùng tiêu biểu của tuổi trẻ, sau khi anh hy sinh, trên quê hương Cà Mau đã đặt tên một xã Lý Văn Lâm và một đường phố Lý Văn Lâm tại thành phố Cà Mau.

 8- Anh hùng liệt sĩ Hồ Thị Kỷ, sinh năm 1949 ở ấp Cây Khô xã Tân Lợi huyện Thới Bình, trong một gia đình nông dân nghèo. Năm 10 tuổi Hồ Thị Kỷ đã được hướng dẫn biết đưa thư bí mật, đưa tin; năm 12 tuổi được kết nạp vào Đội TNTP, sau đó tiếp tục làm giao liên ở ấp, xã. Năm 1968 chị được kết nạp vào Đoàn thanh niên.
 Năm 1969 chị tổ chức nhiều trận đánh biệt động vào thị xã Cà Mau diệt ác ôn và phá hủy kho tàng vũ khí, xe của địch. Với những thành tích xuất sắc chị được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam.
 Ngày 03/04/1970  chị đưa 10 kg mìn vào đánh ty Cảnh sát nhưng tình huống diễn ra ngoài ý định, không bỏ lỡ thời cơ chị giả giờ làm quen với địch và kịp ấn kíp mìn, một tiếng nổ long trời từ chị phát ra diệt 27 tên ác ôn (trong đó có 1 sĩ quan Mỹ)  3 xe quân sự và bốt gác địch bị phá sập.
 Là trận đánh mà Hồ Thị Kỷ đã anh dũng hy sinh trong tiếng nổ, chị là biểu tượng của tuổi trẻ anh hùng trên quê hương cách mạng Cà Mau. Chị hy sinh để lại muôn vàn tình thương của nhân dân với người con gái 21 tuổi vì nước quên mình. Trong mấy năm làm chiến sĩ biệt động chị đã đánh 6 trận diệt 46 tên địch, phá hủy nhiều xe, đạn dược, kho tàng của địch, Với thành tích đó năm 1972 chị được truy tặng danh hiệu anh hùng.
 Để ghi nhận chiến công oanh liệt của nữ tuổi trẻ anh hùng, xã Tân Lợi quê hương chị đã mang tên Hồ Thị Kỷ; một trường cấp 3, một đường phố Cà Mau cũng được mang tên Hồ Thị Kỷ.
(A.U).
____________________

 
Tập thể, cá nhân anh hùng

Danh sách đơn vị anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân tỉnh Cà Mau

1. Lực lượng vũ trang nhân dân tỉnh Cà Mau
2. Tiểu đoàn U Minh tỉnh Cà Mau
3. Xưởng quân giới tỉnh Cà Mau
4. Đội biệt động Hồ Thị Kỷ thị xã Cà Mau
5. Đồn biên phòng 692 Bộ đội biên phòng tỉnh Cà Mau
6. Nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân huyện Trần Văn Thời, Cà Mau
7.  Nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân huyện Đầm Dơi, Cà Mau
8. Nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân huyện Thới Bình, Cà Mau
9. Nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân huyện Ngọc Hiển, Cà Mau
10.  Lực lượng vũ trang huyện Cái Nước, Cà Mau
11.  Dân quân du kích xã Phú Mỹ, huyện Phú Tân, Cà Mau
12.  Dân quân du kích xã Tân Thành, thành phố Cà Mau
13.  Dân quân du kích xã Khánh Lâm, huyện U Minh, Cà Mau
14.  Dân quân du kích xã Trần Phán, huyện Đầm Dơi, Cà Mau
15.  Dân quân du kích xã Lương Thế Trân, huyện Cái Nước, Cà Mau
16.  Nhân dân và lực lượng vũ trang xã Tân Ân, huyện Ngọc Hiển, Cà Mau
17.  Nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân xã Hưng Mỹ, Huyện Cái Nước, Cà Mau
18.  Nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân xã Biển Bạch, huyện Thới Bình, Cà Mau
19.  Nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân xã Tạ An Khương, huyện Đầm Dơi, Cà Mau
20. Nhân dân và lực lượng vũ trang nhân xã Tân Tiến, huyện Đầm Dơi, Cà Mau
21. Nhân dân và lực lượng vũ trang nhân xã An Xuyên, thành phố Cà Mau
22.  Nhân dân và lực lượng vũ trang nhân xã Tân Lộc, huyện Thới Bình, Cà Mau
23.  Nhân dân và lực lượng vũ trang nhân xã Hàm Rồng, huyện Năm Căn, Cà Mau
24.  Nhân dân và lực lượng vũ trang nhân xã Tân Hưng Tây, huyện Phú Tân, Cà Mau
25.  Nhân dân và lực lượng vũ trang nhân xã Phong Lạc, huyện Trần Văn Thời, Cà Mau
26.  Nhân dân và lực lượng vũ trang nhân xã Nguyễn Phích, huyện U Minh, Cà Mau
27.  Nhân dân và lực lượng vũ trang nhân xã Tân Duyệt, huyện Đầm Dơi, Cà Mau
28.  Nhân dân và lực lượng vũ trang nhân xã Khánh Bình Tây, huyện Trần Văn Thời, Cà Mau
29.  Nhân dân và lực lượng vũ trang nhân xã Khánh An, huyện U Minh, Cà Mau
30.  Nhân dân và lực lượng vũ trang nhân xã Hồ Thị Kỷ, huyện Thới Bình, Cà Mau
31.  Nhân dân và lực lượng vũ trang nhân xã Quách Văn Phẩm, huyện Đầm Dơi, Cà Mau
32.  Nhân dân và lực lượng vũ trang nhân xã Tân Hưng Đông, huyện Cái Nước, Cà Mau
33.  Nhân dân và lực lượng vũ trang nhân xã Trí Phải, huyện Thới Bình, Cà Mau
34.  Nhân dân và lực lượng vũ trang nhân xã Trần Hợi, huyện Trần Văn Thời, Cà Mau
35.  Nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân xã Tam Giang, huyện Ngọc Hiển, Cà Mau
36.  Nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau
37.  Lực lượng giao bưu – thông tin liên lạc, Cà Mau (Bưu điện Cà Mau)
38.  Nhân dân và lực lượng vũ trang nhân xã Hoà Thành, thành phố, Cà Mau
39.  Nhân dân và lực lượng vũ trang nhân xã Khánh Bình Đông, huyện Trần Văn Thời, Cà Mau
40.  Nhân dân và lực lượng vũ trang nhân xã Thanh Tùng, huyện Đầm Dơi, Cà Mau
41.  Nhân dân và lực lượng vũ trang nhân xã Tân Thuận, huyện Đầm Dơi, Cà Mau
42.  Nhân dân và lực lượng vũ trang nhân xã Viên An, huyện Ngọc Hiển, Cà Mau


Danh sách anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân tỉnh Cà Mau

1. Liệt sĩ Nguyễn Việt Khái, xã Tân Hưng Tây, huyện Phú Tân, Cà Mau.
2. Liệt sĩ Lý Ngọc Báu (Lý Văn Lâm) phường 4, thành phố Cà Mau.
3. Liệt sĩ Huỳnh Phi Hùng, xã Khánh Bình Tây, huyện Trần Văn Thời, Cà Mau.
4. Liệt sĩ Hồ Thị Kỷ, xã Tân Lợi (xã Hồ Thị Kỷ), huyện Thới Bình, Cà Mau.
5. Liệt sĩ Lê Công Nhân, xã Thới Bình, huyện Thới Bình, Cà Mau.
6. Liệt sĩ Lê Hoàng Thá, xã Biển Bạch, huyện Thới Bình, Cà Mau.
7. Đồng chí Bông Văn Dĩa, xã Tân Ân, huyện Ngọc Hiển, Cà Mau.
8. Đồng chí Nguyễn Trung Thành, phường 4, thành phố Cà Mau.
9. Đồng chí Trần Văn Phú, xã Tân Thuận, huyện Đầm Dơi, Cà Mau.
10. Đồng chí Nguyễn Thị Nho, xã Trần Hợi, huyện Trần Văn Thời, Cà Mau.
11. Đồng chí Phạm Thị Đẹt, xã Tân Thuận, huyện Đầm Dơi, Cà Mau.
12. Đồng chí Phạm Thị Bay, xã Hưng Mỹ, huyện Cái Nước, Cà Mau.
13. Đồng chí Đặng Tấn Triệu, xã Phú Mỹ, huyện Phú Tân, Cà Mau.
14. Đồng chí Dương Văn Thà, xã Trần Hợi , huyện Trần Văn Thời, Cà Mau.
15. Đồng chí Trần Văn Ngôn, xã Nguyễn Việt Khái, huyện Phú Tân, Cà Mau.
16. Đồng chí Nguyễn Văn Tiết, xã Hưng Mỹ, huyện Cái Nước, Cà Mau.
17. Đồng chí Hồ Trung Thành, xã Phú Mỹ, huyện Phú Tân, Cà Mau.
18. Đồng chí Trương Thị Mỹ, xã Đông Thới, huyện Cái Nước, Cà Mau.
19. Liệt sĩ Danh Thị Tươi, xã Khánh Bình Đông, huyện Trần Văn Thời, Cà Mau.
20. Liệt sĩ Dương Thị Cẩm Vân, xã Quách Văn Phẩm, huyện Đầm Dơi, Cà Mau.
21. Đồng chí Trần Phương Thế, xã Quách Văn Phẩm, huyện Đầm Dơi, Cà Mau.
(A.U)
____________________________________

Những bài thơ hay

 

Nguyễn Bá

  Đất Viên An


Chắc bây giờ ở Viên An
Mùa đông đã rải lá vàng trong cây
Nước sông đã ngập bãi lầy
Từng đàn sóng vượt biển đầy hát ca…

Ơi vùng trời nước bao la
Tháng mười một ngày hăm ba đây rồi!

- Nghe không? Có tiếng ai cười
Búa liềm cuộn gió Bốn mươi bay về
Hòn Khoai dựng đá làm bia
Nhớ thương hoa lý đã lìa cành cao…
Ơi người anh mất rồi sao?
Mấy mươi năm, vết chân nào còn đây?
Lời thề nào khắn trong cây?
Máu nào ứa mặn đất này Viên An?

Ta còn gửi lửa trong than
Gửi người trong đất, đất mang tên người
Đất này là đất bốn mươi
Phan Ngọc Hiển! Đất sáng ngời tên anh!
Đất này đất của màu xanh
Cây xanh màu đước, nước xanh màu trời
Áo xanh, xanh bóng cuộc đời
Ngôi sao xanh ánh mắt người mình thương
Biển xanh, xanh sắc đại dương
Rừng xanh, xanh sắc quê hương anh hùng.

Đường ta ngày một thêm đông
Biển lường thêm nước, rừng trồng thêm cây
Bãi dài thêm cánh cò bay
Bao nhiêu năn đó đổi thay cũng nhiều…

Hỡi người anh rất kính yêu
Một đời bão táp không xiêu cánh buồm
Sống vui nên chết không buồn
Tấm gương lọc nước trăm nguồn trong veo
- Hình như có bóng ai chèo
Mà rừng rứt lá bay theo vội vàng…
Chắc bây giờ ở Viên An
Nắng đùa bóng nước ngã ngang mũi Cồn
Cắc ca  về lượn quanh hòn
Có nghe ngọn gió thơm hồn người xưa?

_______________

Dương Trọng Dật

  Khúc hát về một miền đất

Ở đây trời nước bao la
Sóng ru ngày tháng câu ca mặn nồng
Hương tràm thơm đến mênh mông
Nhịp chèo khua nắng, bến sông đỏ cờ
Xôn xao sóng dậy hai bờ
Triều lên, sương trắng, cánh cò trao nghiêng
thuyền em rẽ nước bình yên
Yêu sao tiếng hát con tim bồi hồi:
Sắt son, núi Thuý, Hòn Khoai
Nghĩa trăm năm chẳng đơn sai tấc lòng…
Ôi người chín đợi mười trông
Thương đau một trái tim hồng thuỷ chung
Quân thù nay đã sạch không
Của ta đây, cả núi sông, biển trời
Thuyền ai đi lộng đi khơi
Gian lao kết một nụ cười hôm nay
Mênh mông đước dựng rừng dầy    
Hát đi em, hát cho say lòng người
Nắng xanh là nắng biển khơi
Tâm tư xanh, ngọt một trời tiếng chim
Con thuyền bơi gữa bình minh
Tóc em bay, gió U Minh mượt mà
Máu hồng nên đất đơm hoa 
Thương nhau bởi biết căm thù sục sôi
Bỗng thêm yêu quá cuộc đời
muốn ôm hôn cả đất trời Cà Mau

Xa xôi xin chớ quên nhau
Ở đây nghĩa nặng, tình sâu hỡi người.

______________

Xuân Quỳnh

  Đêm trăng trên Đất Mũi

“Anh cùng em đi hết ánh trăng nầy
Một thành phố mới, một bờ bến mới”
Thái Bình Dương vời vợi
Vỗ ru hoài mũi đất xanh
Mũi đất xanh trên biển mênh mông
Đang rẽ sóng lao về phía trước
Ánh trăng chiếu dải dầu rừng đước
Bao giờ đi hết ánh trăng đây?

“Anh cùng em đi hết ánh trăng nầy
Một thành phố mới, một bến bờ mới”
Nghe lời hát của vị bùn còn ngái
Thôi thúc hoài trên mũi đất xanh
Em muốn đi mãi mãi cùng anh
Trên mảnh đất cuối cùng Tổ quốc
Theo rừng mắm tiến về phía biển
Đi đi hoài chưa hết ánh trăng đây.

“Anh đi cùng em hêt ánh trăng nầy
Một thành phố mới, một bến bờ mới”
Nghe tha thiết những lời gió gọi
Suốt đêm dài mũi đất chẳng nguôi yên
Đất cùng với những con thuyền
Trong tiếng gió gọi hoài không ngớt
Ánh trải mênh mông phía trước
Bao giờ đi hết ánh trăng đây?

“Anh đi cùng em hết ánh trăng nầy…”

________________

Nguyễn Trọng Tín

  Trước Mũi Cà Mau

…cứ thế đất đi về phía biển
mũi Cà Mau không ngớt đắp bồi

nghiêng ngửa trước mắt tôi
những thân mắm tơ non
những thân đước lầm lì kiệt sức
sóng lừng lững quất vào bờ không ngớt
đâu phải lúc nào biển cũng hát tình ca
hạt phù sa chụm vào rồi lại tan ra
 lặn xuống đất sâu rễ mắm lại ngoi lên hứng sóng
đước trụ mình dang thêm tay tìm chỗ đứng
cứ thế đất nhích dần phía biển
mũi Cà Mau nhẫn nại đắp bồi

vốc một vốc biển lên môi
nước thì mặn và phù sa thì đỏ
chẳng hiểu vì sao tôi cứ nghĩ
đến máu mình.

__________________

Lê Chí

  Về đất Mũi

Đâu phải bây giờ mới đến
mũi đất này
Cà Mau

Hàng Vịnh, Năm Căn, Ông Trang, Rạch Tàu
tuổi nhỏ mình nhảy chuyền chang đước
bãi bùn nhẩm dấu chân tôi bước
rượt còng, thụt cá bóng sao

Thời gian
tiếng sóng rì rào
da diết vỗ hoài thương nhớ
đêm đêm vẳng nghe đất lở
bâng khuâng, se sắt tâm hồn
trời tím dài năm tháng hoàng hôn

dòng sông quen mênh mông nắng trải
“nước ròng chảy xuống Tam Giang…”
câu hát đưa người gặp biển
hai mươi năm con nước vơi đầy
hai mươi năm tôi trở về đây
Cửa Lớn bồi hồi trăm bến
biết bao lần đưa tiễn
người ra đi bốn phương trời
rặng đước tơ dòn tiếng ai cười
gió lộng qua rừng bát ngát
chuôi đáy nước đùa gõ nhạc
biển phập phồng như có trái tim

Lòng rất vui
vẫn muốn lặng im
sáng đất Mũi trời xanh mơ mộng
Hòn Khoai đứng bình yên trên sóng
chim lượn là quanh xuồng lưới xuồng câu
đã xa rồi cái đêm rất sâu
giờ chi chít ánh đèn xanh đỏ
em canh nước tiếng đánh vần nho nhỏ
bếp nhà sàn khói toả hương thơm
những con tàu khẳm mẹp cá tôm
về hối hả theo cuộc đời vui đến…
 
Ơi Đất Mũi trăm thương ngàn mến
một hạt phù sa lấn biển thêm rừng
cùng giục người đi nhanh nhanh bàn chân
nhanh nhanh những suy nghĩ và ước vọng
về Đất Mũi thấy trời đất thêm rộng…

____________________

Lê Chí

   Mũi Cà Mau

Bên eo xanh là vịnh Ông Trang
bên này vịnh mũi Cà Mau xanh biếc
mũi đất nhọn dài mũi viết
viết cần cù trên sóng đại dương

nơi chót cùng điểm tựa yêu thương
ai chẳng có trong lòng mình một góc
giữa Trường Sơn những năm khó nhọc
nhiều đêm mơ chạm bãi bùn

có gì đâu chỉ một dải rừng
những cây mắm, cây dà, cây đước
những con rạch ngoằn ngồe, xuôi ngược
những con còng, con cá, con tôm

Mũi đất lạ kỳ như chiếc sao hôm
cứ lấp loáng trong mắt người năm tháng
trọn lòng thuỷ chung với Đảng
thuỷ chung sông nước, đất đai
biết mình gánh nặng hai vai
đi suốt đường xa không mỏi
giữ từng hạt phù sa rắn rỏi
cho rừng thêm tầng cây xanh

Đối mặt với những ngày chiến tranh
sống chất là điều rất thực
thuốc độc giết rừng
nhưng người không chết được
người như cây đước mọc lên
ngọn đèn dầu trong hầm pháo chao nghiêng
đêm anh Dĩa  mở đường Hồ Chí Minh trên biển
máu thịt gặp nhau: hậu phương - tiền tuyến
ai hay đâu xuôi ngược những con tàu?

ai hay đâu những ngày tháng lao đao
giặc phong toả khắp cùng sông rạch
nước ngọt hết sạch và gạo hết sạch
mà chúng ta vẫn đánh thắng quân thù
Những con người trong trắng vô tư
cười trên sóng giữa ngày toàn thắng
đất nước qua mưa, tới nắng
những bàn chân bỡ ngỡ bước qua cầu
khúc hát lo toan, trăn trở bắt đầu
sự bắt đầu như là đơn giản
như là buổi chiều buổi sáng
chuyện áo cơm, rừng biển, học hành
giữ cho con người ánh mắt long lanh
giữ cho con người bình yên trong dạ

Mọi cái có thể rồi sẽ lạ
với nhân dân đừng để lạ bao giờ
đo những tấm lòng sắt son, bền bỉ
như mặt trận với người chiến sĩ
rừng đước ơi, ngày ấy vẫn xanh ngời
rừng đước ơi, tôi gặp những con người
những tay thợ rừng, thợ đáy
tóc đen láy và mắt đen láy
ngực căng vồng  như con sóng bò ngang
các anh bước tới lẹ làng
như chưa biết có lần do dự
đất nước còn ngổn ngang trăm thứ
vượt qua gai góc mà đi
rất thông minh và rất kiên trì
như mũi đất âm thầm lao tới…

__________________

Xuân Sách

  Với Cà Mau

 
  
 Cửa sông bồ Đề

Có phải nơi này xưa cửa Phật
Chỉ thấy mênh mông đất lẫn trời
Thuyền tôi xé sóng nghe như hát
Lồng ngực căng tròn uống gió khơi.


  Về Mũi

Tới đây Đất Mũi - dừng chân
Đường xa tưởng chỉ đến ngần này thôi
Thương ta đất lại tiến bồi
Yêu nhau, cuối đất, cùng trời còn đi.


  Mưa

Tôi đi thuyền dưới mưa Cà Mau
Trắng xoá rừng và trắng xoá mặt nhau
Mưa vỗ xuống một mặt bằng kỳ lạ
Sông bằng với bờ, rừng bằng với cỏ
Nền nhà bằng với sân trước vườn sau
Những con người dường như cũng bằng nhau
Đất màu mỡ đắp bồi bao thế hệ
Như món quà thiên nhiên dành cho con trẻ
Cái mênh mông của đất của trời
Cái hoang sơ còn rất thơm tươi
Trái mắm rụng nuôi đàn cá dứa
Con ong hút sương tràm làm nên giọt sữa
Rễ đước xếp thành lớp lớp chấn song
Dấu toà lâu đài bí mật ở bên trong
Là rừng ư? Chim đôi bờ xây tổ
Chú tôm càng vác cái đầu to
Từ biển vào rừng đi buổi chợ đường xa.
Tôi chợt thấy tâm hồn mình trẻ lại
Với bàn tay là có mùa gặt hái
Đất nước mình giàu có vậy em ơi
Chứa chan mưa và chứa chan mặt trời
Mênh mông đất ta chưa tìm hiểu hết…

Cơn mưa tạnh lá rừng đang trở biếc
Một cánh cò bay mỏi vẫn chưa thôi
Làm cánh buồm hướng dẫn chiếc thuyền tôi.

_______________


Trần Nhuận Minh

      Đất Mũi

  Hạt mưa li ti, lao vào rát mặt
  Gió ù tai, phải nói bằng tay
  Sông Cửa Lớn, xuồng chồm như ngựa trận.
  Đồn biên phòng đỏ một sắc cờ bay.
  Tôi nâng giọt phù sa vạn dặm
  Phiêu bạt ngàn năm trong kênh rạch mỡ màu
  Để một thoáng đất trời mộng ảo
  Sinh thành cho Tổ quốc Mũi Cà Mau.
  Sinh thành cho Tổ quốc Mũi Cà Mau
  Bao căn lều buộc ngang rừng ẩm ướt
  Những chiếc ghe vượt mưa bão bời bời
  Cây đước sống choãi toàn thân giữ đất
  Chết nhô lên phơi xương trắng như người.
  Sóng biển đỏ ngầu ngổn ngang hoang dại
  Cuồn cuộn táp vào tôi khi tôi đứng dầm chân như cây đước   cuối cùng
  Chợt thấy người xưa giành lại giang sơn trên yên ngựa
  Cuối trời, dựng kiếm, nhớ Thăng Long…

(A.U sưu tầm).
______________________