Thành tựu kinh tế - xã hội

 

Thành tựu 20 năm phát triển kinh tế-xã hội tỉnh Minh Hải
(Cà Mau-Bạc Liêu) giai đoạn 1975-1995

Sau ngày miền Nam giải phóng năm 1975, Đảng bộ và nhân dân tỉnh Minh Hải bắt tay vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, suốt 20 năm đã giành được những thành tựu quan trọng là:

1- Thành tựu có ý nghĩa hàng đầu là khôi phục, cải tạo, xây dựng và phát triển nền kinh tế theo định hướng xã hội chủ nghĩa với tốc độ tăng trưởng tương đối nhanh, chất lượng, hiệu quả ngày càng cao.
Sau ngày giải phóng, từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, mất cân đối nghiêm trọng và bị tàn phá trong chiến tranh, hai mươi năm Đảng bộ và nhân dân Minh Hải đã đưa nền kinh tế tăng trưởng và đi dần vào thế ổn định. Những chính sách kinh tế theo đường lối đổi mới của Đảng đi vào cuộc sống, đã khơi dậy động lực phát triển mạnh mẽ toàn diện nền kinh tế, tạo những tiền đề quan trọng cho thời kỳ phát triển mới.
- Tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) hàng năm đều tăng, bình quân giai đoạn 1991-1995 tăng 8,2%, các giai đoạn trước chỉ đạt ở mức 4- 6%.
- Cơ cấu kinh tế đang chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng kinh tế công nghiệp và dịch vụ. Đến năm 1994, cơ cấu kinh tế của tỉnh đạt ở mức: nông, ngư, lâm nghiệp: 54%; công nghiệp 19%, dịch vụ 27%. So với năm 1976 theo thứ tự trên là 73% - 12% - 15%; năm 1990 là 63,4% -12,8% - 23,8%. Cơ cấu kinh tế quốc doanh trong công nghiệp, chiếm tỷ trong 71% và vươn lên giữ vai trò chủ đạo. Minh Hải đang hình thành và phát triển theo cơ cấu lãnh thổ 3 vùng kinh tế phù hợp với định hươngd phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh:
Vùng kinh tế nội địa: là vùng kinh tế nông nghiệp đa canh, hình thành hệ sinh thái nước ngọt trù phú gắn với công nghiệp chế biến.
Vùng kinh tế ven biển: là vùng kinh tế động lực, phát triển tổng hợp ngư- lâm- nông nghiệp gắn với công nghiệp chế biến xuất khẩu để tích luỹ lớn cho nền kinh tế.
Vùng kinh tế biển: phát triển kinh tế biển là chiến lược của đất nước trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Đây là vùng khai thác nuôi trồng thuỷ sản, vận tải biển, du lịch, dịch vụ…

Đi đôi với khắc phục hậu quả chiến tranh, Minh Hải bắt tay ngay vào việc xây dựng một số cơ sở vật chất kỹ thuật quan trọng, từ đó đã làm tăng tổng sản phẩm trong tỉnh lên 3 lần so với năm 1976, năng lực một số ngành tăng lên đáng kể. Từ năm 1991, Minh Hải đã có lưới điện quốc gia với tổng chiều dài trên 600km đường dây cao, trung thế. Điện đã đến toàn bộ các trung tâm huyện lỵ và các cụm kinh tế quan trọng; 59 xã phường, thị trấn và một số cụm công nghiệp ven biển. Sản lượng điện tăng từ 4 triệu KW lên 82 triệu KWh. Điện thương phẩm bình quân đầu người 46KWh. Với số vốn đầu tư 500 tỷ đồng theo phương châm  “Nhà nước và nhân dân cùng làm”, hệ thông thuỷ lợi được xây dựng bao gồm 670 km đê biển, đê sông khép kín ngăn mặn cho gần 400.000 ha đất nông nghiệp, 3.700 km kênh trục và hàng trăm cống giải quyết tiêu úng, xổ phèn, giữ ngọt tại chỗ cho 70% diện tích canh tác. Khai hoang phục hoá được 158.000 ha đưa vào sản xuất nông nghiệp, thuỷ sản. Toàn tỉnh đã làm mới được 420 km đường bộ các loại và gần 200 cầu lớn, đến nay xe 4 bánh đã đến được 7/9 thị trấn huyện lỵ vào mùa khô, giao thông nông thôn phát triển khá. Cảng biển Năm Căn có thể đón tàu trọng tải 2000 – 3000 tấn vào lấy hàng tương đối thuận tiện. Sân bay dân dụng Cà Mau được khôi phục và mở tuyến bay thành phố Hồ Chí Minh – Cà Mau và ngược lại. Hệ thống viễn thông được đầu tư hiện đại hoá với tổng đài tự động trên 10.000 số, đảm bảo liên lạc thuận tiện trong nước và quốc tế, 100% số xã, phường, thị trấn có máy điện thoại. Hệ thống phát thanh truyền hình đảm bảo phủ sóng trong toàn tỉnh. Hạ tầng đô thị từng bước được nâng cấp, khang trang sach đẹp hơn. Hệ thống cấp nước đô thị ở hai thị xã đang được đầu tư nâng cấp, công xuất 15.000m3/ngày.
 Thực hiện đổi mới cơ chế, nhiều nhà doanh nghiệp và cá nhân mạnh dạn bỏ vốn đầu tư chiều sâu và mở rộng các lĩnh vực sản xuất, thương mại, dịch vụ, nhà ở làm tăng năng lực nền kinh tế. Chỉ tính từ năm 1991 – 1995, tổng vốn đầu tư toàn xã hội khoảng 2.510 tỷ đồng, trong đó vốn Nhà nước khoảng 20%.
 Những thành tựu về sự tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu và tăng năng lực của nền kinh tế là kết quả tổng hợp của sự phấn đấu vươn lên trong tất cả các lĩnh vực, các ngành và cơ sở.

 Nông nghiêp: luôn được coi là mặt trận hàng đầu và có tính chất quyết định đối với sự ổn định và tăng trưởng nền kinh tế của tỉnh. Giá trị tăng thêm của ngành bình quân hàng năm trong suốt thời kỳ là 3,5%.
 Sản xuất lương thực đã đạt được kết quả quan trọng. Năm 1991 đã trở thành điểm mốc của tỉnh về sản lượng lúa: gấp 2 lần sản lượng năm 1976, Minh Hải đã đứng vào câu lạc bộ các tỉnh đạt 1 triệu tấn lúa trở lên, năm 1993 đạt 1,2 triệu tấn. Năng suất bình quân tăng từ 2,3 tấn/ hănm 1976 lên 3,6 tấn/ha năm 1994, có 4 huyện đạt bình quân 4,2- 5 tấn, có nhiều xã đạt 6- 7 tấn/ha.
 Diện tích cây công nghiệp từ 2% năm 1976 tăng lên 10% diện tích đất nông nghiệp. Cây công nghiệp, cây ăn trái như, dừa, khóm, mía, chuối… được phát triển thành những vùng chuyên canh lớn, tạo cơ sở cho việc đầu tư công nghiệp chế biến xuất khẩu và tiêu dùng nội địa.
 Đàn heo năm 1994 so với năm 1976 tăng gấp 1,4 lần, đàn gia cầm tăng gấp đôi. Giá trị sản lượng chăn nuôi (gồm cả nuôi tôm) chiếm 21% trong cơ cấu nông nghiệp năm 1976 đã tăng lên 39%. Những kết quả trong sản xuất nông nghiệp đã đảm bảo được nhu cầu lương thực, thực phẩm của nhân dân trong tỉnh, góp phần với cả nước tạo ra sự ổn định về lương thực, thực phẩm và tham gia xuất khẩu.
 Là ngành kinh tế mũi nhọn, thuỷ sản có vai trò quan trọng tạo động lực phát triển cho nền kinh tế của tỉnh. Sản lượng thuỷ sản năm 1994 đạt 152.000 tấn, gấp 1,5 lần sản lượng năm 1976, riêng tôm tăng gấp 2,4 lần. Chế biến tôm đông tăng từ 25 tấn năm 1997 lên 18.000 tấn; giá trị xuất khẩu thuỷ sản đạt 114 triệu USD (bằng mức xuất khẩu thuỷ sản của cả nước đầu những năm 1980).
 Nuôi tôm phát triển nhanh cả về diện tích và sản lượng, phương thức nuôi quảng canh cải tiến và bán thâm canh đang được quan tâm áp dụng. Cá đồng, cá ao hồ từng bước được khôi phục; nghề nuôi cua, sò huyết đang phát triển ở một số nơi và bước đầu có hiệu quả. Khai thác biển tương đối ổn định qua các năm, công suất tàu thuyền và cơ cấu nghề nghiệp từng bước được chuyển đổi theo hướng tiến dần ra đánh bắt tuyến giữa, tuyến khơi. Hình thành các mô hình liên doanh thuỷ sản 3 cấp để đầu tư vốn, phương tiện cho ngư dân, đầu tư công nghiệp chế biến. Nhờ đó, từ năm 1984 đến 1994 nghề cá Minh Hải phát triển với tốc độ nhanh, cơ sở vật chất tăng lên đáng kể, phương tiện đánh bắt phát triển với gần 4.000 tàu thuyền các loại, tổng công suất gần 100.000 cv, tăng gấp 1,5 lần về tàu thuyền, 3 lần về công suất so với năm 1976.
 Rừng Minh Hải là một trong những yếu tố đảm bảo cho sự phát triển bền vững các tài nguyên khác và có ý nghĩa quan trọng về môi trường, an ninh quốc phòng. Diện tích lâm phần được qui hoach là 176.100 ha. Diện tích trồng rừng hằng năm tăng bù đắp đáng kể diện tích rừng bị cháy và bị chặt phá. Trong 20 năm, đã trồng mới và khoanh nuôi tái sinh trên 130.000 lượt ha rừng và 158 triệu cây phân tán. Giao đất, khoán rừng cho 10.600 hộ dân với tổng diện tích 67.000 ha. Công tác phòng chống cháy rừng được tăng cường đã hạn chế số vụ cháy và mức độ thiệt hại.
 Từ một nền công nghiệp nhỏ bé, sau giải phóng được cải tạo, tổ chức lại và đầu tư mới, hướng vào phục vụ ba thế mạnh, nông, ngư, lâm nghiệp (giá thực tế) năm 1994 đạt 1340 tỷ đồng. Tốc độ tăng bình quân hàng năm giai đoạn 1991 – 1994 đạt 15% (các giai đoạn trước từ 11- 12 %). Công nghiệp quốc doanh chiếm tỷ trọng 70% trong ngành công nghiệp; có năm đạt mức tăng trưởng 22%. Từ khi thực hiện chủ trương mở rộng quyền tự chủ sản xuất kinh doanh, các đơn vị sản xuất đã đẩy mạnh đầu tư chiều sâu, chiều rộng thích nghi dần với cơ chế mới, làm ăn có hiệu quả hơn.
 Năng lực sản xuất công nghiệp ngày càng tăng, nhất là công nghiệp chế biến thuỷ sản, nông sản. Số nhà máy, cơ sở sản xuất từ 1.360 năm 1976, đã tăng lên trên 8.000 cơ sở, trong đó số DNNN tăng gấp 8 lần. Riêng nhà máy chế biến thuỷ sản xuất khẩu từ không đến có 15 cơ sở, với tổng công suất gần 30.000 tấn/ năm, đã đóng vai trò quan trọng tăng nhanh tỷ trọng công nghiệp trong cơ cấu nền kinh tế.
 Lưu thông hàng hoá và dịch vụ phát triển, góp phần tích cực trong quá trình tăng trưởng nề kinh tế - xã hội và chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Giá trị tăng thêm bình quân 15%/năm. Từ đổi mới cơ chế lưu thông phân phối, xoá bỏ tình trạng ngăn sông cấm chợ, tạo điều kiện cho thị trường xã hội thông thoáng, năng động, thương mại dịch vụ phát triển, vật tư hàng hoá đa dạng phong phú, cơ bản đáp ứng nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của dân cư, góp phần kích thích sản xuất phát triển. Hệ thống thương nghiệp quốc doanh vẫn giữ được vai trò chi phối các mặt hàng chiến lược quan trọng như: xăng, dầu, phân bón, xi măng… và đảm trách vai trò buôn bán là chủ yếu. Thương nghiệp ngoài quốc doanh được tổ chức lại, mạng lưới bán lẻ và chợ nông thôn được mở rộng. Dịch vụ du lịch có bước chuyển biến mới.
 Hoạt động kinh tế đối ngoại từng bước mở rộng quan hệ hợp tác, tiếp nhận thị trường mới, thu hút sự quan tâm của một số nhà đầu tư. Kim ngạch xuất khẩu năm 1994 đạt 123 triệu USD, tăng gấp 34 lần năm 1976.
 Hoạt động ngân hàng – tín đụng được đổi mới về phương thức hoạt động và chất lượng phục vụ, hỗ trợ nguồn vốn quan trọng cho sản xuất nông nghiệp, thuỷ sản và các hoạt động kinh tế khác.
 Về cải tạo quan hệ sản xuất, phong trào hợp tác hoá trong những năm đầu giải phóng đã có những tác động tích cực nhất định, huy động được lực lượng lớn lao động làm thuỷ nông, giao thông nông thôn đưa nhanh tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, phân công lại lao động và các ngành nghề, tương trợ nhau trong sản xuất, đời sống và huy động làm nghĩa vụ cho Nhà nước. Một số nơi nông dân đã tự nguyện hợp tác lại theo các hình thức đa dạng, có tác dụng tốt trong việc sử dụng giống mới, khuyến nông, áp dụng kỹ thuật, bảo vệ sản xuất và vay vốn tín dụng ngân hàng.
Chuyển sang thực hiện cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN đang là động lực và môi trường thuận lợi cho các thành phần kinh tế cùng phát triển. Các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau trong khuôn khổ pháp luật đã góp phần thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng nhanh và năng động hơn.
 Qua 20 năm kinh tế Minh Hải đã đạt được những kết quả quan trọng với tốc độ tăng trưởng tương đối nhanh, sức sản xuất xã hội tiếp tục được giải phóng, kết cấu hạ tầng được đầu tư đáng kể, một số lĩnh vực có tiến bộ vượt bậc. Nền kinh tế phát triển là điều kiện quan trọng để từng bước cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân.
 
2- Thành tựu quan trọng thứ hai là việc giải quyết công ăn việc làm, cải thiện đời sống nhân dân cả về vật chất, tinh thần và thực hiện các chính sách xã hội ngày càng tốt hơn.
Nhiệm vụ giải quyết công ăn việc làm cho nhân dân cả vùng căn cứ và vùng mới giải phóng đặt ra rất bức xúc. Trước hết tỉnh quan tâm giải quyết việc làm tại chỗ là chủ yếu bằng cuộc vận động nhân dân hồi hương hơn 25.000 người, cung cấp 215.000 lao động cho yêu cầu xây dựng kinh tế, củng cố an ninh, quốc phòng.
 Tỉnh đã nêu cao ý thức trách nhiệm tham gia tích cực vào chiến lược phân bố lại lao động dân cư trong cả nước. Tiếp nhận sử dụng hàng chục tỷ đồng để tổ chức, đào đắp kênh mương, xây dựng trường học, trạm y tế, tạo địa bàn điều động phân bố lại 28.060 hộ với 63.000 lao động từ các tỉnh, huyện lân cận và phía Bắc tới khai khẩn đất hoang, phục hoá đưa vào sản xuất hơn 100.000 ha; hàng ngàn cơ sở công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp được khôi phục và xây dựng mới đã giải quyết công ăn việc làm cho hàng vạn lao động ở thành thị và nông thôn. Chương trình vay vốn từ quỹ quốc gia, quỹ xoá đói, giảm nghèo và nguồn vay tài trợ tái hoà nhập của cộng đồng Châu Âu, đã giải quyết vốn gần 2000 dự án cho 15.000 hộ vay, tạo việc làm ổn định cho 14.400 lao động.
Mức sống của nhân dân so với thời gian đầu mới giải phóng được nâng lên rõ rệt. Hàng năm số hộ khá tăng lên, số hộ nghèo giảm bớt. Năm 1993: hộ khá chiếm 32%, hộ đủ ăn 46,4%, cơ bản khắc phục được nạn thiếu đói giáp vụ ở nông thôn. Nhà tường, nhà bán kiên cố phát triển khá, có nhiều nhà kiến trúc đẹp, hiện đại; tiện nghi sinh hoạt gia đình tăng đáng kể, nhất là thị xã, thị trấn và những nơi phát triển ngành nghề và chuyển đổi cơ cấu cây con phù hợp. Năm 1975, tivi chỉ có ở một số thị xã, thị trấn. Ngày nay, ở nông thôn Minh Hải cứ 100 hộ có 35 hộ có máy thu thanh, 32 hộ có máy thu hình (tỷ lệ này ở thị xã, thị trấn còn cao gấp nhiều lần). Điện lưới bắt đầu được kéo về một số vùng nông thôn, mang ánh điện đến với nông dân, khởi đầu sự nghiệp điện khí hoá ở nông thôn Minh Hải. Với hàng chục ngàn máy điện thoại, bình quân gần 200 người có một máy đã giúp cho việc giao lưu tình cảm, thông tin kinh tế trong nhân dân nhanh chóng, hiệu quả hơn. Nhu cầu về nước sạch sinh hoạt của nhân dân ngày càng đáp ứng tốt hơn. Hiện có khoảng 27.000 cây nước ngầm, bình quân gần 10 hộ có một cây nước. Việc đi lại của nhân dân, nhất là đường thuỷ tương đối thuận tiện. Hệ thống đường bộ ở nông thôn được xây dựng theo phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”; phong trào xoá “cầu khỉ” ở nhiều địa phương thực hiện khá tốt, từng bước thực hiện xã liền xã, ấp liền ấp.
Sự nghiệp giáo dục, đào tạo được củng cố, cải cách và có bước phát triển khá. Mạng lưới trường lớp phát triển đến các xóm ấp đáp ứng yêu cầu học tập của con em nhân dân. Toàn tỉnh có 423 trường với 5.451 phòng học (50% kiên cố, bán kiên cố). 100% xã, phường có trường cấp II, huyện có từ 2 đến 2 trường cấp III. Đã huy động 360.000 học sinh đạt 80% số trẻ em trong độ tuổi đến trường; gấp 3 lần so với năm 1975. Đội ngũ giáo viên các cấp có 10.400 người, tăng gấp 3 lần năm 1976.
 Hệ thống giáo dục chuyên nghiệp và dạy nghề có bước tiến bộ đáng kể. Trung tâm Đại học tại chức, các trường sư phạm, kinh tế, các trường đào tạo cán bộ quản lý và dạy nghề đã vươn lên đáp ứng phần lớn yêu cầu đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên, y tế, cán bộ quản lý khoa học kỹ thuật cho các ngành kinh tế tỉnh nhà. Những năm qua đã đào tạo được hơn 11.000 người có trình độ trung, đại học và công nhân kỹ thuật.
Phong trào phổ cập giáo dục tiểu học và chống mù chữ dần dần được xã hội hoá; đã huy động 40.000 người mù chữ và trẻ nghèo thất học vào các lớp phổ cập, có 19 xã phường được công nhận phổ cập giáo dục tiểu học và xoá mù chữ.
 Công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân ngày càng được quan tâm, chất lượng khám, chữa bệnh có chuyển biến khá. Mạng lưới y tế được củng cố, phát triển đến các xã, thị trấn. Đa dạg hoá các tổ chức, hoạt động chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ cho nhân dân. Cơ sở vật chất thiết bị khám, chữa bệnh được tăng cường gấp nhiều lần so với ngày mới giải phóng. Hiện có 2 bệnh viện tỉnh với quy mô gần 1.000 giường bệnh; có 10 trung tâm y tế cấp huyện, thị; 20 phòng khám đa khoa khu vực và 100 trạm y tế xã, phường (năm 1975 mới có 82 trạm y tế).
 Đội ngũ thầy thuốc ngày càng tăng về số lượng và chất lượng. Năm 1975 toàn tỉnh mới có 33 bác sĩ, 179 y sĩ (18 xã có y sĩ). đến nay đã có hơn 1.500 y bác sĩ, trong đó có 422 bác sĩ, một số bác sĩ đạt trình độ chuyên khoa cấp I, II, 40 dược sĩ đại học, 100% xã có y sĩ, 48 xã có bác sĩ phục vụ khám, chữa bệnh cho dân. Bình quân có 8,5 y bác sĩ trên 1 vạn dân, tăng 7,5 lần so với năm 1976.
 Các hoạt động văn hoá văn nghệ, thông tin, thể dục thể thao đều có bước phát triển khá, phong phú hơn về nội dung, đa dạng hơn về hình thức, góp phần nâng cao đời sống tinh thần và trình độ dân trí trong các tầng lớp nhân dân.
 Đến nay 11 huyện, thị xã đều có nhà văn hoá và xây dựng được đội văn nghệ nghiệp dư; hơn 100 xã phường, cơ quan, xí nghiệp, trường học có tổ đội văn nghệ, tổ thông tin lưu động. Các đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp hoạt động tương đối thường xuyên, làm nòng cốt cho phong trào văn hoá, văn nghệ quần chúng.
 Tỉnh đã đầu tư trùng tu, tôn tạo, bảo vệ các di tích lịch sử được bộ văn hoá xếp hạng như đảo Hòn Khoai, tháp Vĩnh Hưng, đình Tân Hưng, Hồng Anh Thư Quán, sự kiện Đồng Nọc Nạn, cụm tượng đài khởi nghĩa Hòn Khoai, khu tưởng niệm Bác Hồ, cùng một số bia kỷ niệm truyền thống ở một số huyện, xã anh hùng… Lâm viên 19/5, công viên Hùng Vương, Trung tâm Văn hoá hướng nghiệp (Cà Mau), vườn hoa ở một số huyện thị…được xây dựng, là những tụ điểm sinh hoạt văn hoá, thể thao thu hút đông đảo mọi tầng lớp nhân dân, nhất là thanh tiêu niên, nhi đồng, đến vui chơi giải trí.
 Đài phát thanh truyền hình tỉnh được đầu tư nâng công suất bảo đảm phủ sóng trong toàn tỉnh. Các huyện thị có đài truyền thanh và nhiều trạm truyền thanh xã phường với hàng ngàn loa công cộng, bảo đảm phục vụ nhiệm vụ tuyên truyền chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng , pháp luật của Nhà nước đến nhân dân.
 Báo Minh Hải, Báo ảnh Đất Mũi ra đều các kỳ, nội dung ngày càng được cải tiến phong phú, thiết thực hơn, cùng với nhiều tác phẩm văn học, nghệ thuật khác và hoạt động của hệ thống 9 thư viện tỉnh, huyện… đã thu hút sự quan tâm theo dõi của đông đảo bạn đọc trong các tầng lớp nhân dân.
 Hoạt động thể dục thể thao phát triển với nhiều hình thức đa dạng được quần chúng nhân dân, nhất là học sinh các trường, hưởng ứng tham gia, như phong trào thể dục dưỡng sinh, cầu lông đối với người cao tuổi; chạy bộ, thể dục thẩm mỹ, thể dục nhịp điệu, bóng chuyền, quần vợt, bóng bàn, võ thuật…đối với các đô thị; phong trào bóng đá, bóng chuyền của thanh thiếu niên ở vùng nông thôn.

 Với truyền thống “uống nước nhớ nguồn”, tỉnh đã tổ chức thực hiện có hiệu quả các chính sách của Đảng, Nhà nước đối với thương binh, gia đình liệt sĩ, những người có công với nước. Minh Hải đã căn bản hoàn thành việc tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ, đã đưa 17.100 hài cốt liệt sĩ vào hệ thống 13 nghĩa trang. Hầu hết các nghĩa trang đều được xây dựng tượng đài, gần 80% mộ liệt sĩ được xây cơ bản, gắn bia đá, đảm bảo thuận tiện cho việc thăm viếng của nhân dân.
Toàn tỉnh đã xét duyệt công nhận 52.000 đối tượng chính sách, gồm 18.000 thương binh, bệnh binh, 27.500 liệt sĩ, gần 7.000 người và gia đình có công giúp đỡ cách mạng. Nhân dân Minh Hải trân trọng và ghi ơn trên 24.000 gia đình có người thân hy sinh cho Tổ quốc, trong đó có 3.500 gia đình có từ 2 liệt sĩ trở lên. Đến thời điểm này có 720 bà mẹ chịu đựng nhiều hy sinh mất mát trong chiến tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc đã được Nhà nước phong tặng danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”.
 Phong trào ngôi nhà tình nghĩa theo phương châm “Nhà nước, nhân dân và đối tượng cùng lo” đã được triển khai sớm duy trì thường xuyên và mở rộng. Đến nay, toàn tỉnh đã cấp cây gỗ và xây dựng 4.520 ngôi nhà tình nghĩa giá trị khoảng 15 tỷ đồng, cấp hơn 2.000 sổ tiết kiệm giá trị 700 triệu đồng cho các đối tượng chính sách, tạo điều kiện tổ chức đưa hết anh chị em thương binh nặng ở khu điều dưỡng về ổn định cuộc sống tại địa phương, hoà nhập vào sự chăm lo gia đình và cộng đồng xã hội.
 Tuy nhiên, so với yêu cầu mục tiêu đặt ra và điều kiện khả năng mà ta đang có, tỉnh thực sự chưa hài lòng với mức sống hiện nay của nhân dân. Còn gần 20% hộ dân cư nghèo; đời sống gia đình chính sách còn nhiều khó khăn. Cơ sở vất chất cho dạy và học còn nhiều thiếu thốn, 50% lớp học là tạm bợ; số lớp học 3 ca còn nhiều. Cơ sơ văn hoá, phúc lợi công cộng ở vùng nông thôn còn rất thiếu.

3- Thành tựu quan trọng thứ ba là góp phần cùng cả nước thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN, làm tròn nghĩa vụ quốc tế, tiếp tục giữ vững và củng cố sự ổn định về chính trị.
Thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc và đấu tranh chống phản cách mạng, giữ gìn an ninh, trật tự xã hội, Minh Hải đã góp phần quan trọng vào việc bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN, luôn nêu cao ý thức cảnh giác trước âm mưu và hoạt động “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch; giữ vững và củng cố sự ổn định về chính trị. Nổi bật là Minh Hải lập nên chiến công CM 12 vào năm 1984, phá tan kế hoạch xâm nhập của tổ chức phản động ở nước ngoài do bọn Lê Quốc Túy, Mai Văn Hạnh cầm đầu. Lực lượng vũ trang Minh Hải được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh và nhiều Huân chương khác. Tuyên dương 20 đơn vị anh hùng, 26 cá nhân anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Lực lượng công an nhân dân được Nhà nước phong tặng một đơn vị và 2 cá nhân anh hùng.

4- Thành tựu quan trọng thứ tư là xây dựng hệ thống chính trị bảo đảm thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị trong từng thời kỳ
Những thành quả 20 năm phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, củng cố và giữ vững an ninh, quốc phòng của tỉnh nhà gắn liền với quá trình xây dựng, củng cố và phát triển hệ thống chính trị trong tỉnh. Vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý điều hành của chính quyền và quyền làm chủ của nhân dân lao động được phát huy, thể hiện ngày càng rõ nét sự thống nhất, gắn bó chặt chẽ với nhau để hoàn thành nhiệm vụ. Các thành viên trong hệ thống chính trị vừa ra sức xây dựng, củng cố và phát triển tổ chức của mình vừa dồn sức khắc phục khó khăn, tập trung thực hiện các nhiệm vụ, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, củng cố và giữ vững an ninh, quốc phòng. Kết quả đó thể hiện đời sống nhân dân từng bước được cải thiện, bộ mặt xã hội ngày càng thay đổi tốt đẹp, dân chủ ngày càng được mở rộng, nhiều phong trào được nhân dân hưởng ứng và xã hội hoá các hoạt động. Lòng tin của nhân dân đối với Đảng, chính quyền được nâng lên.

 Với sự phấn đấu hy sinh to lớn của Đảng bộ và quân dân Minh Hải trong 2 cuộc kháng chiến, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Nhà nước đã tặng thưởng cho Đảng bộ và quân dân tỉnh Minh Hải Huân chương Sao Vàng.

(A.U).

_______________________

 


Thành tựu phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Cà Mau giai đoạn 1996-2005

1- Tăng trưởng kinh tế:
Trong thập kỷ qua, nền kinh tế của tỉnh Cà Mau liên tục tăng nhanh, những năm giai đoạn sau cao hơn giai đoạn trước. Tốc độ tăng GDP bình quân 7,75%/năm giai đoạn 1992 - 2000; trong đó, giai đoạn 1996 - 2000 tăng bình quân 8,0%/năm; đến giai đoạn 2001 - 2004, tốc độ tăng trưởng đạt 10,2%/năm. Lĩnh vực nông-lâm-ngư nghiệp (các ngành khu vực I) giai đoạn 1992-2000 tăng 4,60%/năm; giai đoạn 2001-2004 tăng bình quân 5%/năm. Các ngành công nghiệp - xây dựng (khu vực II) liên tục tăng nhanh, giai đoạn 2002 - 2000 tăng bình quân 11,85%/năm; giai đoạn 2001 - 2004 tăng 19%. Các ngành dịch vụ (khu vực III) giai đoạn 2002 - 2000 tăng bình quân 17,65%/năm, giai đoạn 2001-2004 tăng 14,5%/năm.

2- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế:
Cơ cấu kinh tế tỉnh Cà Mau đang chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng các ngành khu vực II và khu vực III, giảm nhanh tỷ trọng các ngành khu vực I trong tổng GDP, nhất là từ năm 2000 tỉnh đẩy mạnh thực hiện chủ trương chuyển dịch theo tinh thần Nghị quyết 09 của Chính phủ. Đó là sự chuyển dịch đúng hướng, phát huy tiềm năng, lợi thế của tỉnh, làm tiền đề đi lên công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Năm 1991, các ngành khu vực I chiếm 73,26% giảm xuống 68,24% năm 1995, giảm còn 59,27% năm 2000, đến năm 2004 còn 54,12%. Tỷ trọng các ngành khu vực II tăng từ 13,21% năm 1991 lên 16,70% năm 1995, lên 20,49% năm 2000 và 23,74% năm 2004; trong đó ngành công nghiệp chế biến chiếm tỷ trọng lớn, quyết định sự tăng trưởng của công nghiệp. Tỷ trong các ngành khu vực III tăng từ 13,53 % năm 1991 lên 15,05% năm 1995, lên 20,24% năm 2000 và 22,14% năm 2004.
Cơ cấu các thành phần kinh tế đang chuyển đổi tích cực, sắp xếp lại, cổ phần hóa và đổi mới khu vực kinh tế nhà nước, phát huy tiềm lực của các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh. Kinh tế Nhà nước giữ vai trò chi phối trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, bưu chính viễn thông. Kinh tế tư nhân được đầu tư và phát triển mạnh trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ và chế biến hàng thủy sản xuất khẩu. Kinh tế hợp tác tiếp tục được củng cố và phát triển theo hướng đổi mới trong một số lĩnh vực. Cơ cấu thành phần kinh tế đã hình thành trong lĩnh vực công nghiệp: quốc doanh 48%, ngoài quốc doanh 52%; lĩnh vực xây dựng: quốc doanh 30%, ngoài quốc doanh 70%; lĩnh vực vận tải: quốc doanh 10%, ngoài quốc doanh 90%; thương mại, dịch vụ: quốc doanh 25%, ngoài quốc doanh 75%.

Cơ cấu các vùng, tiểu vùng kinh tế theo quy hoạch ngày càng được xác định rõ và được đầu tư có trọng điểm, khai thác chiều sâu, từng bước nâng giá trị thu nhập trên một đơn vị diện tích đất, gắn với bảo vệ môi trường, sinh thái.

Trong quá trình thực hiện quy hoạch và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tỉnh phối hợp chặt chẽ với các ngành Trung ương nghiên cứu khai thác tiềm năng, thế mạnh của tỉnh. Chủ trương của Trung ương đầu tư xây dựng cụm công nghiệp khí, điện, đạm Cà Mau với quy mô lớn; xây dựng âu thuyền Tắc Thủ nhằm ổn định vùng ngọt hóa; chấp thuận chuyển đổi qui hoạch sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp của tỉnh theo hướng phát triển mạnh thủy sản, tạo điều kiện cho Cà Mau phát huy tiềm năng sẵn có, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng trưởng kinh tế-xã hội trong những năm tới.

3- Thu nhập dân cư:
Trong thập kỷ qua, từ sau khi đổi mới, tăng trưởng kinh tế nhanh đã góp phần nâng cao thu nhập dân cư trong tỉnh. Thu nhập bình quân đầu người năm 2000 tương đương 350USD, năm 2004 đạt 520USD. Mức sống dân cư thời điểm 1/07/2001 toàn tỉnh có 26.428 hộ giàu, chiếm 11,53 số hộ; 59.628 hộ có mức sống khá, chiếm 26,03%; tỷ lệ số hộ đủ ăn 47%; tỷ lệ hộ nghèo 15,5%. Đến cuối năm 2004 số hộ giàu và hộ khá tăng nhanh, tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 7,8%; tỷ lệ chênh lệch giàu/nghèo giữa nhóm cao nhất với nhóm thấp nhất 11,34 lần.
Về nhà ở của dân cư, theo số liệu điều tra thời điểm năm 2004: nhà ở kiên cố 13,96%, nhà bán kiên cố 52,33%, nhà đơn sơ và nhà tạm 33,72%. So với năm 1999 tỷ lệ nhà kiên cố tăng 3,5 lần, giảm 15% nhà đơn sơ, nhà tạm.

4- Các chỉ tiêu cơ bản khác:

Những chỉ tiêu cơ bản của tỉnh Cà Mau đạt được đến năm 2004 đều có mức tăng trưởng cao ở giai đoạn 2001-2004: Thu ngân sách tăng bình quân 20% năm. Sản lượng tôm đạt 91.100 tấn, tăng 85% so với năm 2000; kim ngạch xuất khẩu đạt 456 triệu USD, so với năm 2000 tăng 96,55%.
Hạ tầng cơ sở được quan tâm đầu tư phát triển như đường giao thông, hệ thống thủy lợi, xây dựng trường học, bệnh viện, lưới điện, cung cấp nước sạch, vệ sinh môi trường v.v.. góp phần làm thay đổi đáng kể bộ mặt đô thị và nông thôn. Tỷ lệ hộ sử dụng điện đạt 72%; số máy điện thoại/100 người dân đạt 10 máy, tăng nhiều lần so với 5 năm trở lại đây.
Tỉnh tích cực áp dụng các chính sách thông thoáng, khuyến khích ưu đãi đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế phát triển. Đến nay trong tỉnh đã có trên 2.100 doanh nghiệp với số vốn đăng ký kinh doanh trên 2.000 tỷ đồng; kinh tế tập thể, kinh tế trang trại cũng đang phát triển, mở rộng mô hình hoạt động. Các thành phần kinh tế đã đóng góp đáng kể vào tăng trưởng của nền kinh tế, góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động. Năm 2004, tổng vốn đầu tư toàn xã hội lên đến 2.650 tỷ đồng, tăng trung bình 15%/năm; dự án Khí-điện-đạm và một số dự án khác của Trung ương được xây dựng trên địa bàn tỉnh với quy mô lớn đang là động lực thu hút vốn đầu tư của nhiều doanh nghiệp trong nước, nước ngoài.
Cùng với phát triển kinh tế, lĩnh vực văn hóa - xã hội có nhiều tiến bộ, nhân dân hăng hái tham gia phong trào xã hội hóa về giáo dục-đào tạo, y tế, văn hóa, thể dục thể thao; những hộ nghèo, gia đình chính sách, đồng bào dân tộc được chăm lo. Tỷ lệ người biết chữ đạt 95%, có 18% lực lượng lao động được đào tạo và có tay nghề. Hàng năm có gần 20.000 lao động được tạo việc, tỷ lệ lao động thiếu việc làm giảm đáng kể. Hiện nay tỉnh duy trì 100% số xã có bác sĩ; trên 80% gia đình được công nhận đạt chuẩn văn hóa. Các tệ nạn xã hội từng bước được đẩy lùi, an ninh, quốc phòng được giữ vững, trật tự an toàn xã hội và bảo đảm an toàn giao thông được quan tâm thực hiện. Môi trường của Cà Mau đang là mảnh đất an toàn cho nhân dân và các nhà đầu tư yên tâm phát triển sản xuất kinh doanh. (A.U).


________________________________

 

Cà Mau trên đường hội nhập

· Hội nhập kinh tế quốc tế

 - Chủ trương của Trung ương về hội nhập kinh tế quốc tế, được tỉnh Cà Mau tổ chức hội nghị triển khai đến các ngành, các huyện, các doanh nghiệp và các thành phần kinh tế; phân công các ngành chức năng xây dựng kế hoạch cụ thể để thực hiện.
Công tác thông tin, tuyên truyền được quan tâm. Các cơ quan thông tin đại chúng, báo, đài đã giành thời lượng đáng kể giới thiệu Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ. Các khóa đào tạo cho cán bộ cũng giành tiết học giới thiệu chuyên đề về hội nhập kinh tế. Từ đó tạo sự chuyển biến tích cực về nhận thức và xu hướng tất yếu của việc tham gia hội nhập kinh tế quốc tế trong cán bộ và nhân dân.

- UBND tỉnh Cà Mau đã xây dựng Chương trình thực hiện hội nhập kinh tế quốc tế của tỉnh; tiến hành điều chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội dài hạn. Trong chương trình xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ đã xác định hàng thủy sản chế biến xuất khẩu, sản phẩm du lịch sinh thái, du lịch biển đảo là mặt hàng chiến lược có lợi thế cạnh tranh, hội nhập. Hiện nay thuỷ sản được xem là thế mạnh của tỉnh, trong đó tôm đông là sản phẩm hàng đầu có lợi thế cạnh tranh.

- Về cơ cấu sản xuất có sự thay đổi từ nông-lâm-ngư sang ngư- nông-lâm nghiệp. Từ năm 2000 đến nay, tỉnh đã chuyển một diện tích lớn trồng lúa kém hiệu quả sang nuôi tôm nâng diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản của tỉnh lên gần 280.000 ha, trong đó có 248.000 ha nuôi tôm. Phương thức nuôi tôm theo hướng nuôi sinh thái bằng các mô hình như rừng tôm kết hợp, tôm luân canh trồng lúa, tôm kết hợp dưới mương vườn. Việc nuôi sinh thái vừa thích nghi với điều kiện tự nhiên ở Cà Mau, giảm gía thành chi phí, ít rủi do, tạo ra sản phẩm sạch. Về chế biến, các nhà máy đổi mới dây chuyền công nghệ sản xuất tiên tiến giảm tỷ trọng sơ chế, nâng sản lượng tinh chế tạo sản phẩm có gía trị gia tăng.

- Về du lịch, chủ yếu là du lịch sinh thái, du lịch làng rừng, du lịch biển được xem là lợi thế cạnh tranh về du lịch của tỉnh. 

- Tổng sản lượng thủy hải sản năm 2004 đạt 241.000 tấn, trong đó có 91.000 tấn tôm; riêng sản lượng tôm nuôi đạt 81.000 tấn. Tỉnh hiện có 22 nhà máy chế biến thủy sản xuất khẩu với công suất trên 100.000 tấn thành phẩm/năm. Năm 2004 chế biến thủy sản đạt 67.000 tấn, trong đó hàng thủy sản xuất khẩu đạt 55.000 tấn. Đây là năm thứ tư liên tiếp chế biến thủy sản đạt được tốc độ tăng trưởng ở mức cao. Giá trị hàng hóa xuất khẩu năm 2004 đạt 490 triệu USD, tăng 28% so năm 2003, trong đó xuất khẩu trực tiếp 450 triệu USD.

 - Công nghệ chế biến được đầu tư nâng cấp tạo ra bước phát triển mới, đưa công suất tăng gấp 2 lần so với năm 2001. Các doanh nghiệp đã áp dụng chương trình quản lý chất lượng quốc tế vào sản xuất. Các mặt hàng đã đạt tiêu chuẩn được thâm nhập vào thị trường Mỹ, Nhật, Úc, EU.

 - Chế biến thủy sản của tỉnh theo hướng: lớn về số lượng, tốt về chất lượng, phong phú về mẫu mã, đa dạng về chủng loại với giá thành thấp, có sức cạnh tranh với các sản phẩm cùng loại trong khu vực. Xem chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm, giá cả là yếu tố hàng đầu quyết định sự duy trì và phát triển mặt hàng xuất khẩu.

Việc phát triển các sản phẩm trên góp phần cho kinh tế tỉnh Cà Mau không ngừng tăng lên qua các năm. Tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) giai đoạn 2001-2004 tăng 10,2%, trong đó ngư nông lâm nghiệp tăng 5%; công nghiệp xây dựng tăng 19% và dịch vụ tăng 14,5%.

- Để phát triển các sản phẩm có lợi thế cạnh tranh, tỉnh Cà Mau đã đề ra những biện pháp:
+ Khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư chiều sâu, đổi mới thiết bị công nghệ các nhà máy chế biến thủy sản, tăng tỷ lệ sản xuất hàng giá trị gia tăng. Từng bước nâng cao tỷ lệ sản phẩm tinh chế.
+ Nâng cao chất lượng sản phẩm chế biến xuất khẩu, trước hết là đảm bảo sản phẩm đủ tiêu chuẩn xuất khẩu sang các thị trường, thực hiện các giải pháp nâng cao chất lượng sản phẩm thủy sản xuất khẩu như: Phát triển vùng nguyên liệu thủy sản xuất khẩu theo mô hình nuôi sinh thái, kiểm soát thuốc kháng sinh thú y thủy sản, ngăn chặn đưa tạp chất vào tôm nguyên liệu.
+ Đầu tư xử lý chất thải, nước thải, vệ sinh các nhà máy chế biến xuất khẩu.
+ Đầu tư kết cấu hạ tầng du lịch Mũi Cà Mau, rừng ngập mặn, du lịch sinh thái ven biển, du lịch biển.
+ Đào tạo nguồn nhân lực.

- Công tác xúc tiến thương mại và đầu tư được quan tâm:
Ngành Thương mại, Thủy sản, Trung tâm xúc tiến thương mại và đầu tư, Hiệp hội chế biến thủy sản xuất khẩu và các doanh nghiệp trong tỉnh đã chủ động thâm nhập mở rộng thị trường xuất khẩu, đã căn bản khắc phục được việc lệ thuộc vào một thị trường cố định, giảm đáng kể các thị trường trung gian. Nhiều doanh nghiệp đã cử cán bộ ra nước ngoài khảo sát tìm hiểu thị trường, tham dự các hội chợ quốc tế, tích cực hoạt động xúc tiến thương mại, chủ động tìm kiếm thị trường. Đến nay đã có trên 50 đối tác thuộc 20 quốc gia mua hàng hóa của tỉnh Cà Mau; một doanh nghiệp đã mở chi nhánh tại Hoa Kỳ, Nhật Bản. Nhờ đó cơ cấu thị trường xuất khẩu hàng hóa của tỉnh có sự thay đổi theo hướng tích cực.

 Nhằm tạo điều kiện xúc tiến thương mại, xúc tiến đầu tư, tỉnh đã thành lập Trung tâm xúc tiến thương mại và Đầu tư trực thuộc UBND tỉnh nhằm nghiên cứu dự báo và định hướng phát triển thị trường xuất khẩu các sản phẩm của địa phương; cung cấp thông tin thương mại, đầu tư cho các doanh nghiệp, tìm kiếm đối tác đầu tư.

 Tỉnh thường xuyên tổ chức hội chợ triễn lãm tại địa phương và tham gia các hội chợ triển lãm ngoài tỉnh nhằm giới thiệu sản phẩm địa phương với các doanh nghiệp ngoài tỉnh, củng cố thị trường trong tỉnh, giúp các doanh nghiệp trong tỉnh tìm đối tác trao đổi mua bán, tìm thị trường mới.

 Xây dựng trang web sàn giao dịch điện tử (http://camau.com); thực hiện nối mạng thông tin với Trung tâm thông tin Bộ Thương mại, Trung tâm xúc tiến Thương mại Cần Thơ để thu thập, cập nhật thông tin, nắm bắt kịp thời những diễn biến về tình hình kinh tế trong nước và trên thế giới để tăng cường công tác chỉ đạo và quản lý.

 Ban hành chính sách ưu đãi thu hút đầu tư vào địa bàn tỉnh.

- Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức để đáp ứng yêu cầu hội nhập:
 Tỉnh đã triển khai thực hiện chương trình đào tạo bồi dưỡng và thu hút nguồn nhân lực của tỉnh đến 2010. Trong đó chú trọng đào tạo đội ngũ cán bộ làm công tác kinh tế đối ngoại, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, ngoại ngữ, pháp luật thương mại... để đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế.

Tỉnh đã cử cán bộ tham gia các khoá tập huấn do Bộ Thương mại tổ chức về công tác xúc tiến thương mại, xây dựng thương hiệu, giới thiệu tìm hiểu thị trường Châu Âu, tổ chức tham gia Hội chợ thương mại nước ngoài. (A.U).


__________________________________


 Thương mại Cà Mau
Vươn lên hội nhập cùng khu vực

Năm 2004, tổng mức lưu chuyển hàng hoá xã hội tỉnh Cà Mau đạt 14.400 tỷ đồng tăng 14,9% so với cùng kỳ, mức bán lẻ là 6.200 tỷ đồng tăng 11,29% và tổng kim ngạch xuất khẩu là 456 triệu USD tăng 10,7 %. Kết quả này cho thấy sự tăng trưởng mạnh mẽ của ngành thương mại Cà Mau.

Xuất khẩu tăng trưởng mạnh
So với tỉnh trong cả nước, Cà Mau có ưu thế về nuôi trồng và khai thác thuỷ sản, đặc biệt là sản lượng tôm nuôi. Đây chính là nguồn nguyên liệu chủ lực cho công nghiệp chế biến hàng xuất khẩu và cũng là điều kiện giúp cho lĩnh vực xuất khẩu phát triển mạnh. Trong cơ cấu xuất khẩu, tỷ trọng xuất trực tiếp chiếm hơn 85% với mặt hàng chủ yếu là nông thuỷ sản (thuỷ sản chiếm từ 90% trở lên). Một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực của tỉnh như: tôm đông lạnh, gạo đã có thi trường và khách hàng tương đối ổn định. Kim ngạch xuất khẩu của tỉnh Cà Mau trong giai đoạn 1991 – 1996 đạt 565,02 triệu USD, tốc đọ tăng bình quân 16,3%/ năm. Giai đoạn 1997 – 2000, tuy mới chia tách tỉnh nhưng kim ngạch xuất khẩu của tỉnh vẫn có bước tăng trưởng rất cao. Tổng kim ngạch xuất khẩu giai đoạn này đạt 583,5 triệu USD, bình quân đầu người đạt 155 USD/người/ năm, tăng gần gấp 2 lần gai đoạn trước. Riêng trong năm 2004, kim ngạch xuất khẩu đã lên tới 456 triệu USD. Nếu tính từ năm 1991 đến năm 1998, toàn tỉnh Cà Mau không có doanh nghiệp tư nhân nào thì đến năm 2000 có 5 doanh nghiệp tham gia xuất khẩu trực tiếp và cho đến nay đã có 22 xí nghiệp chế biến hàng xuất khẩu. Bên cạnh đó, chất lượng hàng xuất khẩu được nâng lên đáng kể, có uy tín trên thị trường thế giới trong đó có một số sản phẩm thủy sản như: hàng đông block, đông rời IQF (tôm luộc, tôm nguyên con bỏ đầu, cá filê, chả cá…).

Năm 2010: Hội nhập cùng khu vực
Từ nay tới năm 2010, tỉnh Cà Mau đặc biệt chú trọng tới phát triển thị trường trên cả 2 mặt. Thứ nhất là thị trường cung ứng vật tư, nguyên liệu, thiết bị và dịch vụ cho nhu cầu sản xuất tiêu dùng. Thứ hai là phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm hàng hóa do tỉnh sản xuất và thị trường xuất khẩu. Đồng thời từng bước hình thành và phát triển các thị trường khác như: lao động, vốn, công nghệ để tạo ra một môi trường kinh doanh đồng bộ tiến tới hoà nhập cùng khu vực và thế giới (A.U).