Điều kiện tự nhiên

Điều kiện tự nhiên - xã hội


1. Vị trí địa lý


 Cà Mau là tỉnh tận cùng phía Nam của nước Việt Nam, được tách ra từ tỉnh Minh Hải tháng 11 năm 1996. Vị trí lãnh thổ: điểm cực Nam 8030' vĩ độ Bắc (thuộc xã Viên An huyện Ngọc Hiển), điểm cực Bắc 9033' vĩ Bắc (thuộc xã Biển Bạch An huyện Thới Bình), điểm cực Đông 105024' kinh Đông (thuộc xã Tân Thuận huyện Đầm Dơi), điểm cực Tây 104043' kinh Đông (thuộc xã Đất Mũi huyện Ngọc Hiển). Hình dạng tỉnh Cà Mau giống chữ V, có 3 mặt tiếp giáp với biển. Phía Bắc giáp tỉnh Kiên Giang (63 km), phía Đông Bắc giáp tỉnh Bạc Liêu (75 km), phía Đông và Đông Nam giáp với Biển Đông, phía Tây giáp với vịnh Thái Lan. Bờ biển dài 254 km.
 Diện tích tự nhiên tỉnh Cà Mau 5.211 km2, bằng 13,1% diện tích vùng đồng bằng sông Cửu Long và bằng 1,58% diện tích cả nước. Ngoài phần đất liền, Cà Mau có đảo Hòn Khoai, Hòn Chuối, Hòn Bương và Hòn Đá Bạc, diện tích các đảo xấp xỉ 5 km2. Địa hình toàn tỉnh thuần nhất là đồng bằng, có nhiều sông rạch, độ cao bình quân 0,5 mét so với mặt nước biển. Hàng năm ở vùng Mũi Cà Mau bồi ra biển trên 50 mét; bờ biển phía Đông từ cửa sông Gành Hào đến vùng cửa sông Rạch Gốc bị sói lở, có nơi mỗi năm trên 20 mét. 
 Địa giới hành chính tỉnh Cà Mau có 8 huyện và một thành phố trực thuộc tỉnh. Thành phố Cà Mau là trung tâm kinh tế, hành chính, văn hoá của tỉnh, cách thành phố Hồ Chí Minh 370 km về hướng Tây Nam. 
 Vùng biển Cà Mau rộng trên 71.000 km2, tiếp giáp với vùng biển của các nước: Thái Lan, Malaysia, Indonesia. Biển Cà Mau có vị trí nằm ở trung tâm vùng biển các nước Đông Nam Á nên có nhiều thuận lợi giao lưu, hợp tác kinh tế bằng đường biển, phát triển kinh tế biển, khai thác dầu khí và tài nguyên khác trong lòng biển. (A.U).

 

2. Khí hậu, thủy văn

Khí hậu tỉnh Cà Mau mang đặc trưng của khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo. Nhiệt độ trung bình 26,50C. Nhiệt độ trung bình cao nhất trong năm vào tháng 4, khoảng 27,60C; nhiệt độ trung bình thấp nhất vào tháng 1, khoảng 250C. Biên độ nhiệt độ trung bình trong 1 năm là 2,70C. 
Khí hậu Cà Mau có 2 mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11; mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau.
Thời gian nắng trung bình 2.200 giờ/năm, bằng 52% giờ chiếu sáng thiên văn. Từ tháng 12 đến tháng 4, số giờ nắng trung bình 7,6 giờ/ ngày; từ tháng 5 đến tháng 11, trung bình 5,1 giờ/ ngày. Lượng bức xạ trực tiếp cao, với tổng nhiệt khoảng 9.500 đến 10.0000C.
Lượng mưa trung bình ở Cà Mau có 165 ngày mưa/năm, với 2.360 mm. Lượng mưa tập trung chủ yếu vào mùa mưa, chiếm trên 90% tổng lượng mưa cả năm. Tháng có lượng mưa cao nhất trong năm thường từ tháng 8 đến 10. Cà Mau nằm ngoài vùng ảnh hưởng của lũ lụt ở hệ thống sông Cửu Long.
Lượng bốc hơi trung bình khoảng 1.022 mm/năm; mùa khô có lượng bốc hơi cao. Độ ẩm trung bình năm 85,6%, mùa khô độ ẩm thấp, thấp nhất vào tháng 3, khoảng 80%.
Chế độ gió thịnh hành theo mùa. Mùa khô hướng gió thịnh hành theo hướng Đông Bắc và Đông, với vận tốc trung bình khoảng 1,6 - 2,8m/s. Mùa mưa gió thịnh hành theo hướng Tây - Nam hoặc Tây, với tốc độ trung bình 1,8 - 4,5m/s. Vào mùa mưa, thỉnh thoảng có giông hay lốc xoáy lên đến cấp 7 - cấp 8.  Cà Mau ít bị ảnh hưởng của bão, cơn bão số 5 đổ bộ vào Cà Mau cuối năm 1997 là một hiện tượng đặc biệt sau gần 100 năm qua ở đồng bằng sông Cửu Long.  
Chế độ thủy triều ở khu vực tỉnh Cà Mau chịu tác động trực tiếp của chế độ bán nhật triều không đều biển Đông và chế độ nhật triều không đều biển Tây. Biên độ triều biển Đông tương đối lớn, khoảng 3,0 – 3,5 m vào các ngày triều cường, và từ 180 - 220 cm vào các ngày triều kém; tại cửa sông Gành Hào, biên độ từ 1,8 - 2,0 m. Triều biển Tây yếu hơn, biên độ triều lớn nhất 1,0 m. Tại cửa sông Ông Đốc mực nước cao nhất + 0,85 m đến + 0,95 m, xuất hiện vào tháng 10, tháng 11; mực nước thấp nhất – 0,4 đến 0,5 m, xuất hiện vào tháng 4, tháng 5.
Chế độ thủy văn của hệ thống sông rạch chịu ảnh hưởng trực tiếp của  triều quanh năm, với nhiều cửa sông rộng thông ra biển. Phía ngoài cửa sông, ảnh hưởng của thủy triều mạnh; càng vào sâu trong nội địa biên độ triều càng giảm, vận tốc lan triều trên sông rạch nhỏ dần. Thông qua hệ thống sông ngòi, kênh rạch nối liền nhau tạo thành những dòng chảy đan xen trong nội địa, hình thành nên những vùng đất ngập nước và môi sinh rất đặc trưng, phù hợp cho phát triển nuôi trồng thuỷ sản. (A.U).

3. Dân số, lao động

Dân số trung bình năm 2004 của tỉnh Cà Mau là 1.200.000 người. Có 20 dân tộc khác nhau sinh sống trên địa bàn, gồm người Kinh chiếm 97,16%, người Khơ Me chiếm 1,86%, còn lại là người Hoa và các dân tộc ít người khác.
Mật độ dân số trung bình của tỉnh Cà Mau là 230 người/km2, thấp hơn mật độ dân số trung bình cả nước và các tỉnh trong khu vực. Tốc độ tăng dân số trung bình 1,6%/năm; tỷ lệ nữ giới chiếm 50,9% dân số. Thành phố Cà Mau có mật độ dân số cao nhất, với 797 người/km2 , kế đến là huyện Cái Nước 357 người/km2 và Trần Văn Thời 273 người/km2; mật độ dân cư thấp là huyện U Minh 120 người/km2 và Ngọc Hiển 109 người/km2. Dân số đô thị toàn tỉnh hiện nay là 20%; trong đó thành phố Cà Mau có tỷ lệ dân đô thị 65%. 
Số người trong độ tuổi lao động là 730.000 người, chiếm 60% dân số; trong đó lực lượng lao động (LLLĐ) hoạt động trong nền kinh tế có 610.000 người, chiếm 50,83% dân số và chiếm 83,56% lao động trong độ tuổi. Lao động giản đơn chiếm 82% lực lượng lao động.
Chất lượng lao động của tỉnh xét theo học vấn và chuyên môn kỹ thuật còn thấp. Số lao động được đào tạo và lao động có tay nghề, kỹ thuật khoảng 110.000 người, chiếm 18 % so với lực lượng lao động; trong đó sơ cấp, học nghề 30.000 người; trung học chuyên nghiệp 15.000 người; cao đẳng, đại học, trên đại học 6.500 người, còn lại là lao động có kỹ thuật, tay nghề. Tỷ lệ lao động ở khu vực I:  74%; khu vực II: 11% và khu vực III: 15%.

_______________________

 



Comments