Báo cáo toàn văn



PHẦN I

 

NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ GIAI CẤP

CÔNG NHÂN VÀ TỔ CHỨC CÔNG ĐOÀN

 

1- Khái niệm về công nhân, viên chức, lao động:

            Giai cấp công nhân là một phạm trù lịch sử. Cùng với sự tiến triển của lịch sử, sự phát triển của nền đại công nghiệp, của công nghệ thông tin, giai cấp công nhân cũng luôn phát triển, có thêm những đặc trưng mới.

            Ở nước ta sau khi giai cấp công nhân và nhân dân lao động giành được chính quyền về tay mình, giai cấp công nhân đã trở thành giai cấp cầm quyền, giai cấp lãnh đạo toàn thể xã hội và là người làm chủ những tư liệu sản xuất chủ yếu.

            Đến nay vẫn còn những ý kiến khác nhau về khái niệm giai cấp công nhân, nhất là nước ta đang ở thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; sự tồn tại của nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần với nhiều hình thức sở hữu khác nhau, song căn cứ vào ý kiến của các nhà kinh điển của chủ nghĩa xã hội khoa học; vào các văn bản qui phạm pháp luật và thực tiễn hiện nay ở nước ta. Ở đề tài này chúng tôi nêu khái niệm về công nhân, viên chức, lao động để giới hạn đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài:

            - Công nhân bao gồm những người lao động công nghiệp và dịch vụ mà lao động của họ có tính chất lao động công nghiệp; những kỹ sư, kỹ thuật viên, nghiên cứu viên áp dụng những thành tựu của khoa học kỹ thuật - công nghệ vào sản xuất; những người lao động trong các xí nghiệp quốc doanh, quốc phòng, công tư hợp doanh, tư bản tư nhân, hợp tác liên doanh với nước ngoài, xí nghiệp cổ phần và một bộ phận lao động công nghiệp trong khu vực kinh tế tập thể và tư nhân.

            - Viên chức là những cán bộ, công chức, nhân viên hưởng lương từ ngân sách Nhà nước, làm việc ở các cơ quan Nhà nước, đơn vị sự nghiệp, cơ quan Đảng, đoàn thể.

            - Lao động là những người lao động phi nông nghiệp, làm nghề tự do được tập hợp thành nghiệp đoàn như vận tải, khuân vác, người lao động giúp việc trong gia đình.

            Với cách hiểu như vậy, ở đề tài này nhiều chỗ chúng Tôi dùng từ "giai cấp công nhân" cũng có nghĩa là "công nhân, viên chức, lao động" với lý do thuật ngữ này đã từng được dùng trong các văn bản, văn kiện trước đây.

2- Những quan điểm và chính sách của Đảng và Nhà nước ta đối với công nhân, viên chức, lao động:

Những quan điểm về lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng và Nhà nước ta đối với giai cấp công nhân và tổ chức Công đoàn là sự kế thừa có tính nhất quán, liên tục, xuyên suốt tư tưởng của Đảng và Hồ Chủ tịch ngay từ những năm tháng đầu tiên xây dựng chính quyền cách mạng nhân dân. Sự nhất quán đó thể hiện tư tưởng trước sau như một của Đảng, Nhà nước ta về vai trò và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân - giai cấp lãnh đạo cách mạng và toàn thể dân tộc.

Bác dạy: “Kiến thiết cần có nhân tài”. Hiện nay công cuộc đổi mới đất nước đang bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, con người là nguồn lực chủ yếu và quyết định cho sự nghiệp cách mạng này thành công. Đất nước đang và sẽ cần nhiều những nhà khoa học giỏi, những nhà doanh nghiệp, những nhà tư tưởng và chính khách tầm cỡ. Để đáp ứng yêu cầu thực tế này, chúng ta tin tưởng vào việc phát huy, phát triển đội ngũ công nhân, viên chức, lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

            2.1- Giai cấp công nhân Việt Nam từ khi ra đời đến nay đã trải qua hơn 100 năm trưởng thành và phát triển, lịch sử đã chứng minh giai cấp công nhân Việt Nam luôn là giai cấp tiên phong cách mạng trong xã hội Việt Nam; là lực lượng nòng cốt trong khối liên minh công nông và tầng lớp trí thức, nền tảng của khối đại đoàn kết toàn dân. Giai cấp công nhân Việt Nam đã góp phần to lớn vào công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. “Chỉ có giai cấp công nhân là dũng cảm nhất, cách mạng nhất, luôn gan góc đương đầu với bọn đế quốc thực dân. Với lý luận cách mạng tiên phong và kinh nghiệm của phong trào vô sản quốc tế, giai cấp công nhân ta đã tỏ ra là người lãnh đạo xứng đáng nhất và đáng tin cậy nhất của nhân dân Việt Nam[1].

            Ngày nay, trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” giai cấp công nhân Việt Nam tiếp tục vai trò sứ mệnh lịch sử, khẳng định vị trí lãnh đạo trong giai đoạn mới của sự nghiệp cách mạng. Nghị quyết Đại hội lần thứ VIII của Đảng chỉ rõ bản chất giai cấp công nhân là: “kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và vận dụng sáng tạo vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, trên cơ sở đó xây dựng đường lối, chủ trương, chính sách đúng đắn; giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ; thường xuyên giáo dục, bồi dưỡng lập trường, quan điểm, ý thức tổ chức kỷ luật, xây dựng đội ngũ cán bộ và Đảng viên theo quan điểm của giai cấp công nhân”.

2.2- Trong suốt quá trình cách mạng, Đảng ta luôn quan tâm đến xây dựng và phát huy vai trò của giai cấp công nhân. Đặc biệt trong thời kỳ đổi mới Đảng đã nhận thức rõ vai trò vị trí giai cấp công nhân, đã có nghị quyết về xây dựng giai cấp công nhân. Quan tâm lãnh đạo đề ra đường lối đổi mới, hoàn thiện các chính sách, khơi dậy tiềm năng to lớn của giai cấp công nhân cống hiến cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đảng luôn quan tâm đến giáo dục Đảng viên, nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, trình độ, tay nghề, có lối sống lành mạnh, có ý thức kỷ luật cao, có tác phong công nghiệp để làm gương cho quần chúng noi theo. Không ngừng đổi mới công tác lãnh đạo, chăm lo đến công tác cán bộ, đến phát huy vai trò của bộ máy Nhà nước, mặt trận và các đoàn thể; thường xuyên quan tâm công tác xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.

2.3- Với vai trò là lực lượng đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến nhất trong xã hội, ở nước ta, ngay sau cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công cùng với sự hình thành nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á, vị trí của giai cấp công nhân được xác lập trong chế độ xã hội mới và là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, đồng thời là lực lượng lãnh đạo xã hội “Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội[2]. “Công đoàn là tổ chức chính trị - xã hội của giai cấp công nhân và của người lao động cùng với cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội chăm lo và bảo vệ quyền lợi của cán bộ, công nhân, viên chức và những người lao động khác; tham gia quản lý Nhà nước và xã hội, tham gia kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, giáo dục cán bộ, công nhân, viên chức và những người lao động khác xây dựng và bảo vệ Tổ quốc[3].

            Nhất quán với các quan điểm ghi nhận trong Hiến pháp - văn bản pháp lý cao nhất, trong các văn bản Luật, dưới Luật, Nhà nước ta đã thể chế, ban hành các chính sách nhằm phát huy vai trò giai cấp công nhân, xây dựng Công đoàn vững mạnh góp phần bảo đảm duy trì sự ổn định chính trị và tồn tại của Nhà nước.  Đó cũng chính là bảo vệ quyền và lợi ích của nhân dân lao động.

2.4- Quán triệt đường lối chính sách của Đảng, những năm qua trong hoạt động thực tiễn của mình Nhà nước ngày càng thể hiện rõ hơn là Nhà nước của dân, do dân, vì dân. Các chính sách kinh tế xã hội của Nhà nước ban hành đã thể hiện lập trường, lợi ích và quyền lợi của giai cấp công nhân. Các cơ quan Nhà nước đã thể chế hoá quan điểm của Đảng về xây dựng giai cấp công nhân thành cơ chế chính sách và pháp luật như Luật Lao động, chính sách tiền lương, bảo hiểm, bảo hộ lao động ...

- Nhà nước đã chú trọng chỉ đạo kiểm tra các cấp, các doanh nghiệp triển khai thực hiện Luật Lao động, Luật Công đoàn, tôn trọng, bảo vệ quyền lợi của người lao động, phát huy vai trò của Công đoàn và các tổ chức chính trị - xã hội trong việc tham gia quản lý Nhà nước, quản lý xã hội. Nhà nước đã từng bước tạo điều kiện để công nhân phát huy quyền làm chủ, góp tiếng nói xứng đáng của mình trong hoạch định đường lối, chính sách, trong quản lý Nhà nước và xã hội. Với trách nhiệm quản lý điều hành, Nhà nước đã quan tâm giải quyết mối quan hệ giữa huy động mọi nguồn lực để phát triển kinh tế với việc bảo vệ lợi ích hợp pháp của công nhân.

            2.5- Bộ luật Lao động ban hành năm 1994, xác định lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người, tạo ra của cải vật chất và các giá trị tinh thần của xã hội. Bộ luật đã thể chế hóa đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam và cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 1992 về lao động, về sử dụng và quản lý lao động. Nội dung chính của Bộ luật Lao động điều chỉnh quan hệ lao động giữa người lao động làm công ăn lương (công nhân, viên chức, người lao động) với người sử dụng lao động và các quan hệ xã hội liên quan trực tiếp với quan hệ lao động.

            Để tổ chức thực hiện Bộ luật Lao động, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành 01 Pháp lệnh, Chính phủ ban hành 16 Nghị định; Thủ tướng Chính phủ ban hành 3 Quyết định; các Bộ, ngành ban hành 47 thông tư và thông tư liên tịch nói về các lĩnh vực: việc làm, tiền lương, học nghề, hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể, thời gian làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, an toàn vệ sinh lao động, bảo hiểm xã hội, giải quyết tranh chấp lao động, kỷ luật và xử phạt vi phạm pháp luật lao động. Với số lượng các văn bản quy phạm pháp luật nêu trên thể hiện khá đầy đủ các chính sách của Nhà nước đối với công nhân, viên chức, lao động.

            Ngoài Bộ luật Lao động Nhà nước còn ban hành luật và các văn bản quy phạm pháp luật khác như: Luật Doanh nghiệp, các Pháp lệnh: Thực hành tiết kiệm, Chống tham nhũng, Pháp lệnh Cán bộ công chức, Nghị định thực hành dân chủ ở cơ quan và trong doanh nghiệp, v.v…  đối tượng điều chỉnh đều liên quan cơ bản đến đội ngũ công nhân, viên chức và người lao động.

            2.6- Luật Công đoàn ban hành năm 1990, mà trước đó đã được ban hành năm 1957 thể hiện sự quan tâm của Đảng, Nhà nước đối với Công đoàn và là số ít tổ chức ở nước ta được Nhà nước ban hành Luật. Công đoàn được Luật xác định là tổ chức chính trị - xã hội rộng lớn của giai cấp công nhân và của người lao động Việt Nam tự nguyện lập ra dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; là thành viên trong hệ thống chính trị của xã hội Việt Nam; là trường học chủ nghĩa xã hội của người lao động. Công đoàn từ cấp cơ sở trở lên có tư cách pháp nhân, Công đoàn đại diện và bảo vệ các quyền lợi ích hợp pháp chính đáng của người lao động, có trách nhiệm tham gia với Nhà nước phát triển sản xuất, giải quyết việc làm, cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của người lao động. Công đoàn đại diện và tổ chức người lao động tham gia quản lý cơ quan, đơn vị, tổ chức, quản lý kinh tế - xã hội, quản lý Nhà nước; trong phạm vi chức năng của mình, thực hiện quyền kiểm tra giám sát hoạt động của cơ quan, đơn vị, tổ chức theo quy định của pháp luật. Luật cũng quy định cơ quan Nhà nước, thủ trưởng đơn vị, tổ chức tôn trọng quyền độc lập về tổ chức và các quyền khác của Công đoàn. Công đoàn còn có trách nhiệm tổ chức, giáo dục, động viên người lao động phát huy vai trò làm chủ đất nước, thực hiện nghĩa vụ công dân, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

 

 

 

PHẦN II

THỰC TRẠNG VỀ CÔNG NHÂN, VIÊN CHỨC, LAO ĐỘNG

VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG ĐOÀN TỈNH CÀ MAU

 

I- Vài nét về thực trạng công nhân, viên chức, lao động.

            1- Lịch sử phát triển của Công đoàn và công nhân, viên chức, lao động tỉnh Cà Mau.

- Cùng với cả nước trong những năm chống thực dân Pháp và xâm lược Mỹ, dưới sự lãnh đạo của Đảng, giai cấp công nhân đã vận động tập hợp đông đảo quần chúng vào tổ chức “Công hội đỏ”, “Nông hội đỏ” để đấu tranh chống kẻ thù.

Những năm sau cách mạng tháng Tám, Hội cứu quốc phát triển nhanh, đặc biệt là Liên hiệp Công đoàn tổ chức khá rộng rãi ở nhiều nơi như ở thị xã Bạc Liêu, Cà Mau, một số thị trấn và vùng giải phóng đã có 6.900 đoàn viên.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, tổ chức Công đoàn còn gọi là “Hội lao động giải phóng”, tuy hội viên chưa nhiều, đối tượng vân động chưa lớn nhưng hoạt động của Hội đã góp phần vào thắng lợi của cách mạng, đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc Việt Nam đến toàn thắng.

Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, ngày 30/8/1976 lần đầu tiên Công đoàn Minh Hải (nay là Cà Mau, Bạc Liêu) tổ chức hội nghị thành lập BCH Liên hiêp Công đoàn lâm thời gồm 18 đồng chí. Từ hội nghị này Công đoàn tỉnh đã thông qua Nghị quyết về phương hướng nhiệm vụ, thành lập hệ thống tổ chức Công đoàn các cấp và phát triển đoàn viên; chỉ đạo tổ chức Công đoàn đi vào hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ nhằm phát huy vai trò của công nhân, viên chức, lao động trong việc thiết lập lại quan hệ sản xuất và kiến thiết đất nước sau chiến tranh.

Từ ngày thành lập đến nay Công đoàn tỉnh Cà Mau trải qua 6 lần Đại hội và đổi tên cho phù hợp với từng giai đoạn cách mạng. Mỗi giai đoạn, mỗi thời kỳ Công đoàn tỉnh nhà không ngừng được củng cố và phát triển về số lượng, chất lượng cũng như các phong trào hành động và xây dựng cơ sở vững mạnh.

Đại hội lần thứ nhất năm 1977 có 13.158 đoàn viên Công đoàn. Hầu hết các cơ quan, xí nghiệp, bệnh viện, trường học, nông, lâm, trường đều có thành lập tổ chức Công đoàn.

Đại hội lần thứ hai năm 1981, toàn tỉnh có 25 Công đoàn ngành, huyện, thị và có 341 Công đoàn cơ sở với 21.682 đoàn viên Công đoàn /35.000 công nhân, viên chức, lao động. Lực lượng cán bộ Công đoàn ngày càng được tăng cường cả về số và chất lượng, có 131 cán bộ chuyên trách và 3.122 cán bộ bán chuyên trách.

Các kỳ đại hội lần thứ III, IV, V (từ năm 1983 đến năm 1993), chất lượng hoạt động và tổ chức Công đoàn ngày càng được kiện toàn và phát triển, đến cuối nhiệm kỳ V phát triển 22.000 đoàn viên Công đoàn, xây dựng Công đoàn cơ sở vững mạnh đạt gần 44% (147/355).

Năm 1997 thực hiện việc chia tách tỉnh Minh Hải thành tỉnh Cà Mau và Bạc Liêu; tổ chức Công đoàn tỉnh Cà Mau được sắp xếp lại và tiến hành Đại hội lần thứ VI vào tháng 7 năm 1998. Hiện nay hệ thống tổ chức bộ máy Công đoàn tỉnh gồm có: Ban Chấp hành Liên đoàn Lao động tỉnh 35 đ/c (8 nữ), Ban Thường vụ 10 đồng chí, có 7 Liên đoàn Lao động huyện, thành phố; 08 Công đoàn ngành. Có tổng số 728 Công đoàn cơ sở, nghiệp đoàn; 28.534 đoàn viên Công đoàn; cán bộ chuyên trách 76 người (tỉnh 25 đ/c, huyện, thành phố 32, ngành 12 và cơ sở 7); bán chuyên trách (không tính ngành Giáo dục) từ cơ sở đến huyện, thành phố, tỉnh có: 2.088 cán bộ.

Những phong trào nổi bật của Công đoàn trong những năm qua như "Thi đua lao động giỏi”, “Phục vụ nông nghiệp” và nhiều phong trào khác được các cấp Công đoàn phát động thường xuyên và đạt nhiều thành tích. Tính từ đầu năm 1993 - 1999 Liên đoàn Lao động tỉnh tặng 8.020 bằng khen cho đơn vị và cá nhân; ngoài ra các cấp Công đoàn còn cấp hàng nghìn giấy khen qua các phong trào với số tiền thưởng hàng năm trên 1 tỷ đồng.

Công tác tuyên truyền giáo dục từ năm 1993 - 2000 đã có 1.412.479 lượt công nhân, viên chức, lao động tham gia học tập, bình quân 08 lượt/người/năm. Công tác xây dựng Công đoàn cơ sở vững mạnh đến nay đạt 80,34%, có nhiều Công đoàn cơ sở đạt vững mạnh từ 5-7 năm liền.

            2- Công nhân, viên chức, lao động trong cơ cấu lao động xã hội và ngành nghề.

            - Năm 2000, công nhân, viên chức, lao động tỉnh Cà Mau có 38.594 người, tỷ lệ nữ 46,28% (17.865 người) bằng 6,40% lao động xã hội và bằng 3,36% dân số. Trong số 38.594 người có 17.865 (46,28%) là công nhân, 18.152 (47,03%) là viên chức, 2.868 (7,43%) là lao động; có 28.534 (73,93%) là đoàn viên Công đoàn. (Xem biểu số I).

            Trong quá trình phát triển của nền sản xuất công nghiệp, nhất là chính sách phát triển các thành phần kinh tế theo cơ chế thị trường; sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh đã tác động mạnh đến sự phân bố lao động, ngành nghề. Xuất hiện một số ngành, lĩnh vực phát triển nhanh như chế biến thuỷ sản xuất khẩu, điện, dịch vụ.v.v... Bên cạnh thành phần kinh tế quốc doanh, các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh có xu hướng phát triển mạnh, điều đó phản ánh tỷ trọng sản lượng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp ngoài quốc doanh năm 1997 chỉ bằng 16,25% đến năm 2000 chiếm 47,74%.

 

Biểu I

BẢNG THỐNG KÊ SỐ LIỆU CÔNG NHÂN, VIÊN CHỨC, LAO ĐỘNG TỈNH CÀ MAU 

(điều tra thời điểm năm 2000).

 

 

TT

 

Tên đơn vị

Tổng số công nhân, viên chức, lao động

 

Chia ra

Tổng số

Nữ

Công nhân

Viên chức

Lao động

 

01

 

Thành phố Cà Mau

 

2.796

 

1.352

 

8

 

2.325

 

463

 

02

 

Huyện Thới Bình

 

1.963

 

751

 

-

 

1.663

 

300

 

03

 

Huyện U Minh

 

1.159

 

476

 

-

 

1 099

 

60

 

04

 

Huyện Trần Văn Thời

 

3.361

 

1.326

 

-

 

2 396

 

965

 

05

 

Huyện Cái Nước

 

3.186

 

1003

 

-

 

2.707

 

479

 

06

 

Huyện Đầm Dơi

 

2.153

 

634

 

-

 

1.959

 

194

 

07

 

Huyện Ngọc Hiển

 

1.717

 

527

 

-

 

1.310

 

407

 

08

 

Cơ quan Nhà nước cấp tỉnh

 

4.320

 

1.550

 

33

 

4.287

 

-

 

09

 

Cơ quan Đảng, Đoàn thể cấp tỉnh

 

526

 

204

 

120

 

406

 

-

 

10

 

Doanh nghiệp

 

17.413

 

10.042

 

17.413

 

-

 

 

 

 

 

Cộng

 

 

38.594

 

17.865

 

17.574

 

18.152

 

2.868

 

            Xu hướng hiện nay cơ cấu kinh tế của tỉnh đang tăng dần tỷ trọng công nghiệp từ 16,1% năm 1996 lên 20,73% năm 2000, phấn đấu đến năm 2005 đạt tỷ trọng 29%. Trong phương hướng phát triển công nghiệp của tỉnh đến năm 2005 xác định: "Chú trọng phát triển công nghiệp chế biến xuất khẩu, công nghiệp đóng tàu phục vụ đánh bắt thủy sản và vận tải, sản xuất vật liệu xây dựng, phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp phục vụ nông nghiệp, nông thôn... Khôi phục các ngành nghề thủ công truyền thống sản xuất hàng tiêu dùng gắn với vùng nguyên liệu tại chỗ. Thực hiện tốt chương trình điện khí hóa, bảo đảm chuyển tải điện an toàn, ổn định phục vụ sản xuất, đời sống. Đẩy mạnh thực hiện cơ giới hóa, điện khí hóa trong sản xuất, đời sống. Phát triển và nâng cao trình độ, năng lực trong công tác quy hoạch, kiến trúc và xây dựng, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới của tỉnh. Tăng cường công tác quản lý Nhà nước về xây dựng. Tích cực công tác chuẩn bị, phối hợp với Trung ương và tạo mọi điều kiện thuận lợi trong quá trình triển khai dự án đầu tư cụm công nghiệp khí, điện, đạm"[4].

Sự chuyển dịch cơ cấu ngành nghề gắn liền và thúc đẩy sự chuyển dịch về số lượng công nhân trong các nhà máy, xí nghiệp và trong các thành phần kinh tế, so với năm 1997, công nhân, viên chức, lao động tỉnh Cà Mau tăng 20% (8.000 người), chủ yếu ở lĩnh vực kinh tế ngoài quốc doanh, giáo viên và công nghiệp chế biến. Hiện nay công nhân lao động trong khu vực kinh tế quốc doanh có 14.225 người (bằng 37%), ngoài quốc doanh 6.217 (16,19%) tập trung nhiều ở ngành công nghiệp chế biến, xây dựng, giao thông, thương mại - dịch vụ. Xu hướng tới công nhân lao động khu vực ngoài quốc doanh còn tăng nhanh do kinh tế tư nhân phát triển và chủ trương cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước.

Biểu IV

CÔNG NHÂN, VIÊN CHỨC, LAO ĐỘNG TRONG CƠ CẤU LAO ĐỘNG VÀ NGÀNH NGHỀ

 

TT

 

Tên ngành nghề (phân theo ngành kinh tế)

 

Tổng số CN,VC,LĐ

 

Tỷ lệ

 

Ghi chú

1

Quản lý Nhà nước

1.707

4,42

 

2

Giáo dục và đào tạo

11.027

28,58

 

3

Y tế - xã hội

2.316

6,00

 

4

Văn hóa, thể thao

689

1,79

 

5

Khoa học công nghệ

16

0,04

 

6

Tài chính, thuế, ngân hàng

1.397

3,62

 

7

Dịch vụ tư vấn

191

0,50

 

8

Giao thông, bưu điện

2.121

5,50

 

9

Đảng, đoàn thể

833

2,16

 

10

Phục vụ công cộng

142

0,37

 

11

Nông, lâm nghiệp

942

2,44

 

12

Thủy sản

873

2,26

 

13

Công nghiệp chế biến

12.269

31,79

 

14

Phân phối điện nước

465

1,20

 

15

Xây dựng

727

1,88

 

16

Thương mại, dịch vụ

2.038

5,28

 

17

Ngành nghề khác

847

2,19

 

 

Cộng

38.594

100%

 


Nguồn: Điều tra thực tế năm 2000.


Về cơ cấu ngành nghề: Ngành công nghiệp chế biến phát triển (nổi trội là chế biến thuỷ sản với 19 nhà máy, xí nghiệp) có 12.269 công nhân, chiếm 31,79%, công nhân, viên chức, lao động; sản phẩm làm ra chiếm gần 90% giá trị sản lượng công nghiệp toàn tỉnh và chiếm 96% giá trị xuất khẩu - đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế. Vì vậy có thể nói đặc trưng ngành công nghiệp Cà Mau là chế biến thuỷ sản xuất khẩu. Theo đó các ngành dịch vụ sản xuất như: Giao thông, bưu điện có 2.121 (5,50%); xây dựng có 727 (1,88%); phân phối điện, nước có 465 (1,20%); nông, lâm nghiệp có 942 (2,24%);

            Lĩnh vực không sản xuất vật chất gồm ngành thương mại, dịch vụ có 2.038 (5,28%); ngành tài chính - ngân hàng có 1.397 (3,62%). Đông nhất là đội ngũ viên chức với 18.152 người, tương đối ổn định về số lượng trong mấy năm qua; sự biến đổi diễn ra chủ yếu tăng số lượng giáo viên cho ngành giáo dục đào tạo, đồng thời tinh giản biên chế lĩnh vực các cơ quan hành chính sự nghiệp. Hiện nay ngành giáo dục đào tạo có số lượng đông nhất 11.027 người (bằng 28,58%), ngành y tế - xã hội 2.316 (6,00%); văn hoá thể thao 689 (1,79%), quản lý Nhà nước 1.707 (4,42%), Đảng và đoàn thể 833 (2,16%); (xem biểu số IV).

Như vậy đội ngũ công nhân có mặt trong tất cả các thành phần, các ngành kinh tế, có vai trò quan trọng trong việc góp phần làm cho các thành phần kinh tế phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa như Quốc doanh, tập thể, tư bản tư nhân; trong các ngành: Công nghiệp, nông nghiệp, lâm ngư trường, thương mại - dịch vụ … Phạm vi hoạt động của công nhân ngày càng mở rộng cùng với sự phát triển của nền kinh tế nhiều thành phần. Trong thành phần kinh tế Quốc doanh, đội ngũ công nhân đã và đang có vai trò quan trọng góp phần làm cho kinh tế quốc doanh từng bước thực hiện được vai trò chủ đạo. Khu vực kinh tế ngoài quốc doanh, đội ngũ công nhân có vai trò quan trọng trong việc kiểm tra, giám sát hoạt động sản xuất, kinh doanh, phát hiện kịp thời những hiện tượng làm ăn phi pháp của các cơ sở sản xuất, góp phần quan trọng định hướng XHCN, đảm bảo thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trong khu vực kinh tế này.

 

            3- Trình độ học vấn, tay nghề và chất lượng lao động:

            3.1- Trình độ và tay nghề:

- Tình hình hiện nay trình độ học vấn, tay nghề của công nhân, viên chức, lao động từng bước được nâng lên, đó là kết quả của quá trình đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ, viên chức và dạy nghề cho người lao động trong những năm qua. Chỉ riêng năm 2000, tỉnh Cà Mau mở các lớp đào tạo, bồi dưỡng cho 4.200 lượt người, hiện nay có 2.540 người đang theo học các lớp đại học và 42 người học các lớp sau đại học.

            Qua điều tra về trình độ của 31.389 công nhân, viên chức, lao động được thể hiện qua biểu số III, thì có 19.888 người có trình độ chuyên môn kỹ thuật bằng 63,36% gồm: thạc sĩ 23 người bằng 0,07%; đại học 2.907 người bằng 9,26%; cao đẳng 1.760 người bằng 5,61%; trung học chuyên nghiệp 11.566 người bằng 36,85%, sơ cấp 3.623 người bằng 11,54%; còn lại 11.501 người bằng 36,64% không có chuyên môn nghiệp vụ gì. (Xem biểu số III).

Biểu III

BẢNG THỐNG KÊ TRÌNH ĐỘ LAO ĐỘNG CÔNG NHÂN VIÊN CHỨC TỈNH CÀ MAU

(Điều tra thực tế số liệu nắm được năm 2000)

 

 

TT

 

 

Tên cơ quan, đơn vị

Công nhân

Viên chức

 

Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ

 

 

Tổng số

Nữ

Thạc sĩ

Đại học

Cao đẳng

Trung cấp

Sơ cấp

Còn lại

1

Thành phố Cà Mau

425

96

0

81

6

145

45

148

2

Huyện Thới Bình

303

67

0

43

11

100

30

119

3

Huyện U Minh

263

60

0

44

4

75

10

130

4

Huyện Trần Văn Thời

359

56

0

60

9

124

25

141

5

Huyện Cái Nước

392

69

0

59

6

154

35

138

6

Huyện Đầm Dơi

309

53

0

55

10

88

25

131

7

Huyện Ngọc Hiển

376

79

0

59

10

106

28

173

8

CQ Nhà nước cấp tỉnh

1.930

472

13

637

52

508

554

166

9

CQ Đảng, đoàn thể tỉnh

476

158

0

105

1

121

38

211

10

Doanh nghiệp

13.730

10.038

5

832

119

1.250

1.358

10.166

11

Ngành Giáo dục

10.962

5.469

4

581

1.532

7.921

919

5

12

Ngành Y tế

1.864

906

1

351

0

947

565

0

 

Cộng

31.389

17.551

23

2.907

1.760

11.566

3.632

11.528


 

 

TT

 

 

Tên cơ quan, đơn vị

Công nhân

Viên chức

 

Tỷ lệ trình độ chuyên môn

 

 

Tổng số

Tỷ lệ nữ (%)

Th sĩ

(tỷ lệ)

Đại học

(tỷ lệ)

Cao đẳng

(tỷ lệ)

Trung cấp

(tỷ lệ)

Sơ cấp

(tỷ lệ)

Còn lại

(tỷ lệ)

1

Thành phố Cà Mau

425

22,58

0,00

19,05

1,41

34,11

10,58

34,82

2

Huyện Thới Bình

303

22,11

0,00

14,19

3,63

33,00

9,90

39,27

3

Huyện U Minh

263

22,81

0,00

16,73

1,67

28,51

8,80

49,42

4

Huyện Trần Văn Thời

359

15,59

0,00

16,71

2,50

34,54

6,96

39,27

5

Huyện Cái Nước

392

17,60

0,00

15,05

1,53

39,28

8,92

35,20

6

Huyện Đầm Dơi

309

17,15

0,00

17,79

3,23

28,47

8,09

42,39

7

Huyện Ngọc Hiển

376

21,01

0,00

15,69

2,65

28,19

7,44

46,01

8

CQ Nhà nước cấp tỉnh

1.930

24,45

0,67

33,00

2,69

26,32

28,70

8,60

9

CQ Đảng, đoàn thể tỉnh

476

33,19

0,00

22,05

0,21

25,42

7,98

44,32

10

Doanh nghiệp

13.730

73,10

0,03

6,05

0,86

9,10

9,89

74,00

11

Ngành Giáo dục

10.962

49,89

0,03

5,30

13,97

72,25

8,38

0,04

12

Ngành Y tế

1.864

48,60

0,05

18,83

0,00

50,80

30,31

0,00

 

Cộng

31.389

55,91

0,07

9,26

5,60

36,84

11,57

36,72


            - Nghiên cứu đối tượng là công chức khối cơ quan Nhà nước toàn tỉnh có 15.065 người được phân theo ngạch, trình độ và độ tuổi (xem biểu số VI, phần Phụ lục) thấy rằng: số người có trình độ thạc sĩ thấp (12 người), đại học và cao đẳng 3.083 người (20,46%), trung học 9.496 (63,03%), số người không có bằng cấp gì 1.288 người (8,55%). Qua 3 năm tỉnh đã bổ sung lực lượng trẻ bằng 5 đợt thi tuyển công chức cho 3.068 người và bồi dưỡng đào tạo các hình thức cho 6.991 lượt người. Chất lượng công chức được phản ánh qua việc thống kê theo ngạch gồm chuyên viên chính và tương đương 147 người (0,97%); chuyên viên và tương đương 3.184 người (21,13%); cán sự và tương đương 9.834 người (65,27%); số công chức có trình độ ngoại ngữ cơ sở rất thấp, khoảng 2% và khoảng 4% có trình độ A, B vi tính.

            - Tiến hành điều tra xã hội học đối với công nhân, viên chức, lao động. Về trình độ văn hoá ở chỉ tiêu số 9.1 với 396 người thì 62,12% tốt nghiệp lớp 12; 28,03% tốt nghiệp lớp 9; 9,85% tốt nghiệp tiểu học. Về chuyên môn nghiệp vụ ở chỉ tiêu số 9.2 với 243 người thì trình độ thạc sĩ 0,41%; đại học 30,04%; cao đẳng 11,11%; trung học chuyên nghiệp 41,56%, sơ cấp 16,05%. Về tay nghề, bậc thợ ở chỉ tiêu số 9.3 thì không có công nhân bậc 6, bậc 7; ở bậc 5 có 44,11%; bậc 4 là 11,76% và bậc 3 trở xuống 44,11%. Về trình độ chính trị ở chỉ tiêu số 9.5 với 115 người thì cao cấp 10,43%, trung cấp 50,43%; sơ cấp 39,13%. Khi hỏi 433 người ở chỉ tiêu 9.4 thì có 48,04% đã qua lớp bồi dưỡng, đào tạo; 51,96% chưa qua lớp đào tạo bồi dưỡng nào.

            Như vậy về trình độ lao động của công nhân, viên chức, lao động còn thấp so với yêu cầu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Khả năng bổ sung lực lượng lao động trẻ có trình độ để đáp ứng yêu cầu này trong tương lai cũng đang gặp khó khăn, điều đó phản ánh qua việc số lượng học sinh, sinh viên của tỉnh hiện nay như sau: cấp III có 20.400 bằng 25% trong độ tuổi; trung học chuyên nghiệp có 1.680 bằng 2,9% trong độ tuổi; cao đẳng và đại học có 2.754 bằng 3,83% trong độ tuổi. Các hình thức đào tạo tỉnh mới hình thành được các trường: Trung tâm Giáo dục thường xuyên, trung học Sư phạm, trung học Y tế, trung học Văn hóa nghiệp vụ, trung học Kinh tế kỹ thuật và một số trung tâm dạy nghề. Trên thực tế các trường này mới tuyển sinh đào tạo từ vài năm nay, đồng thời phải tích cực phối hợp với các trường đại học, cao đẳng khác mở các lớp riêng cho tỉnh và lớp tại chức bằng nhiều hình thức học như tập trung từng đợt, đào tạo từ xa, chủ yếu cho đối tượng cán bộ, công chức. Phương thức này tỏ ra có hiệu quả, hiện tại đang có trên 3.000 người theo học.

            - Khi hỏi về nguyện vọng học tập của công nhân, viên chức, lao động ở chỉ tiêu số 20 thì sự lựa chọn được ưu tiên xếp thứ tự như sau:

            + Học để có 1 nghề chuyên môn vững 56,58%.

            + Tạm hài lòng với kiến thức đã có 45,49%.

            + Học nâng cao về trình độ chính trị 27,02%.

            + Học vi tính 25,40%.

            + Học ngoại ngữ 25,17%.

            + Học đại học, cao đẳng 23,09%.

            Có 25,63 trả lời không có điều kiện để học và 6,46% cảm thấy khó trả lời.

            Qua đó chúng ta thấy rằng đa số công nhân, viên chức lao động có nguyện vọng học tập nâng cao trình độ về mọi mặt, đặc biệt là cần học để có 1 tay nghề chuyên môn nghiệp vụ được lựa chọn bức thiết hàng đầu.

            3.2 Chất lượng lao động:

Mặc dù trình độ, tay nghề của công nhân, viên chức, lao động còn thấp so với mặt bằng chung của cả nước và còn những mặt chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Song công nhân, lao động vẫn là lực lượng sản xuất chủ yếu, có vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Số lượng chỉ khoảng 3,36% dân số, 6,40% lực lượng lao động, nhưng đang nắm giữ những cơ sở vật chất và các phương tiện sản xuất hiện đại nhất của xã hội, chi phối chủ yếu sự phát triển của nền kinh tế. Hàng năm tạo ra khối lượng sản phẩm công nghiệp chiếm tới 40% tổng sản phẩm xã hội, nộp ngân sách Nhà nước trên 50%, đồng thời vẫn luôn lao động sáng tạo, cần cù, tinh thần chịu đựng gian khổ để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Ở tất cả các lĩnh vực công tác, sản xuất công nhân viên chức lao động đều hoàn thành tốt nhiệm vụ thể hiện qua việc tăng trưởng các chỉ tiêu kinh tế - xã hội những năm qua từ 8 đến 15%, tăng trưởng GDP bình quân 9%/năm giai đoạn 1997 - 2000.

Thực tế hiện nay nhiều công nhân, viên chức, lao động họ không chỉ làm việc trong cơ quan, đơn vị sự nghiệp hay doanh nghiệp mà họ còn tham gia vào nhiều loại hình lao động khác tạo ra sức phát triển kinh tế gia đình, kinh tế hợp tác hoặc tư nhân và làm dịch vụ cho xã hội. Ở nhiều lĩnh vực họ lại có tín nhiệm cao với khách như xây dựng, giao thông, điện gia dụng, sửa chữa xe máy, may mặc, khám chữa bệnh v.v..

            4- Tình hình việc làm, thu nhập và đời sống:

            4.1- Về việc làm: Những năm qua thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước, trong điều kiện nền kinh tế thị trường việc làm đã được quan niệm khác trước, mọi hoạt động tạo ra nguồn thu nhập không bị pháp luật ngăn cấm đều được thừa nhận là việc làm. Vấn đề đảm bảo cho người lao động đều có cơ hội có việc làm là trách nhiệm của Nhà nước, của các doanh nghiệp và của toàn xã hội, vì vậy việc làm của công nhân lao động đã được cải thiện rõ rệt. Mặt khác qua qúa trình thực hiện rộng rãi cơ chế khoán, cổ phần hóa doanh nghiệp và khuyến khích làm kinh tế gia đình, một bộ phận công nhân lao động đã đầu tư phát triển sản xuất, góp phần thu hút lao động, giải quyết việc làm cho khá đông lao động. Tính từ năm 1997 đến nay trung bình mỗi năm toàn xã hội giải quyết cho 14.000 người có việc làm, trong đó mỗi năm có 2.500 được tuyển vào các cơ quan, doanh nghiệp, cơ sở sản xuất tư nhân. Điều tra ở chỉ tiêu số 7 có 49,63% ý kiến cho rằng hài lòng với công việc đang làm; 49,39% cho là tạm được, chỉ có 0,69% không hài lòng. Qua đó đã phản ánh công nhân, viên chức, lao động yên tâm với ngành nghề, công việc của mình. Khi hỏi về những thuận lợi, khó khăn chính trong công việc ở chỉ tiêu số 10 và số 11, các ý kiến lựa chọn sự thuận lợi là có việc làm ổn định, công việc phù hợp với khả năng, được tập thể giúp đỡ; còn khó khăn là việc làm không ổn định, thu nhập thấp, trình độ văn hóa, chuyên môn, tay nghề thấp, làm việc nặng nhọc; chỉ có 7,6% cho rằng phân công không phù hợp và 12% cho rằng sức khỏe yếu.

Yếu tố có tính chi phối việc làm là ngành nghề. Qua danh sách các doanh nghiệp và công nhân trong doanh nghiệp cho thấy hầu hết công nhân lao động thủ công kết hợp với máy móc, điển hình là các ngành chế biến thủy sản, chế biến đường, sản xuất nước đá, xây dựng, bốc xếp, đưa rước khách - đó là những công việc giản đơn nhiều hơn là vận hành máy móc. Các ngành nghề đòi hỏi tay nghề kỹ thuật cao như cơ khí, điện tử, đóng tàu, hóa-dược, sản xuất vật liệu mới, chế biến thực phẩm đóng hộp … là những ngành có thể phát triển được ở Cà Mau nhưng còn nhỏ bé. Số công nhân có tay nghề bậc thợ cao rất ít. Vì vậy khả năng đào tạo và sử dụng công nhân kỹ thuật vẫn còn hạn chế bởi chưa mở ra được ngành nghề mới.

Tuy nhiên vấn đề việc làm, thu nhập vẫn đang đặt ra là vấn đề bức xúc do tốc độ phát triển dân số nhanh của tỉnh trong những năm qua. Hàng năm nguồn lao động trẻ của tỉnh bổ sung cho xã hội khoảng 23.000 người, nhưng hầu hết chưa qua đào tạo, trong khi đó nền kinh tế phát triển còn chậm và chưa vững chắc; nhu cầu về thị trường lao động đang đòi hỏi lao động có kỹ thuật và đa dạng về ngành nghề. Đối với các cơ quan, đơn vị hành chính sự nghiệp đã thừa biên chế, chỉ tiếp nhận số ít được đào tạo để đổi mới chất lượng lao động; bên cạnh đó một số doanh nghiệp làm ăn thua lỗ phải thu hẹp sản xuất hoặc giải thể; sự phát triển ngành nghề trong tỉnh cũng eo hẹp, càng làm khó khăn thêm tình trạng thiếu việc làm, thất nghiệp ở các cơ sở sản xuất. Qua điều tra lao động và việc làm của ngành Lao động năm 1999, công nhân lao động khu vực Nhà nước có việc làm thường xuyên từ 80 - 85%, thiếu việc làm từ 15 - 20%. Ở biểu số 11.1 cho kết qủa công nhân có việc làm ổn định lâu dài chỉ chiếm 23,46%; hợp đồng từ 1 đến 3 năm 42,18%; hợp đồng ngắn hạn dưới 1 năm 34,35%, chưa kể số hợp đồng theo mùa vụ. Ở các doanh nghiệp tư nhân, việc làm của công nhân hầu như hợp đồng lao động ngắn hạn. Tình hình này đang lan ra các doanh nghiệp nhà nước như công ty Chế biến thủy sản và xuất nhập khẩu Cà Mau có 100% lao động hợp đồng ngắn hạn dưới 3 năm (xem Phần phụ lục, Biểu I - số 10a). Vấn đề này không phải việc làm ở cơ sở thiếu và không ổn định mà nó có những nguyên nhân khác. Nhiều doanh nghiệp chỉ chú ý đến lợi nhuận kinh tế đơn thuần, chưa thực sự quan tâm đến lợi ích lâu dài của công nhân lao động; điều này sẽ được chứng minh sâu hơn ở mục thực hiện chế độ bảo hiểm cho công nhân theo Luật định. Hàng năm số con em công nhân viên chức đến tuổi lao động cần có việc làm khoảng 1.000 người càng làm cho sức ép về việc làm và nỗi lo đối với công nhân và gia đình họ. Việc làm đã trở thành mối quan tâm hàng đầu của mọi người, mỗi gia đình và toàn xã hội.

4.2- Điều kiện làm việc: Những năm gần đây điều kiện làm việc của công nhân, viên chức được cải thiện và hơn hẳn những năm trước. Điều tra ở chỉ tiêu 15 có 67,07% ý kiến cho rằng điều kiện làm việc khá hơn so với vài năm trước. Nhưng nhìn chung vẫn trong tình trạng khó khăn thấp kém. Trình độ công nghệ, phương tiện làm việc, tổ chức lao động chưa đáp ứng được yêu cầu cho làm việc và sản xuất kinh doanh. Điều kiện và môi trường lao động trong nhiều cơ sở sản xuất còn rất xấu, chưa bảo đảm an toàn và vệ sinh lao động. Nhiều nơi còn để xảy ra tai nạn lao động.

Ở lĩnh vực sản xuất vật chất do trình độ cơ giới hoá, tự động hoá thấp, làm ra sản phẩm thô là chủ yếu nên lao động thủ công nặng nhọc còn nhiều, chiếm đa số trong các ngành sản xuất, có nơi chiếm trên 90%. Đó là các ngành chế biến thủy sản, xây dựng. Nghiên cứu ở các nhà máy chế biến thủy sản mặc dù dây chuyền công nghệ từng bước được đổi mới nhưng vẫn phải sử dụng 80% lao động nữ làm các công việc thủ công; số nam công nhân chủ yếu làm công việc khuân vác, bốc xếp. Do điều kiện lao động trong môi trường ẩm lạnh, các phương tiện bảo vệ cá nhân chưa bảo đảm đã ảnh hưởng không nhỏ tới sức khoẻ công nhân, đặc biệt là công nhân nữ. Khi hỏi về thời gian làm việc của công nhân ở lĩnh vực này ở chỉ tiêu 14 thì đa số chịu đựng được khoảng 5 đến 10 năm phải nghỉ việc để chuyển làm nghề khác. Như vậy chỉ ngoại trừ công nhân làm việc ở lĩnh vực Bưu điện, ngân hàng, thương mại - dịch vụ, điều kiện và môi trường làm việc có thuận lợi hơn, còn hầu hết phải tiếp xúc với môi trường nóng, lạnh, ngoài trời. v.v…

Ở lĩnh vực cơ quan hành chính sự nghiệp điều kiện, phương tiện làm việc được trang bị tốt hơn, đầy đủ hơn như phòng làm việc, máy điện thoại, máy fax, vi tính, điện, nước, vệ sinh … đã giúp cho khả năng làm việc của cán bộ, công chức đạt hiệu qủa cao hơn. Nhưng trong tình hình hiện nay những trang thiết bị làm việc để nâng cao hiệu suất còn nhiều thiếu thốn. Điều tra ở chỉ tiêu số 5 cho thấy chỉ có 7,23% lao động làm việc bằng máy móc (kể cả máy văn phòng, xe hơi), còn lại là làm việc thủ công, dịch vụ và công văn giấy tờ. Điều đó lại phản ánh trong trường học giáo viên lên lớp thiếu giáo cụ trực quan, nhà trường thiếu phòng thí nghiệm, phòng đọc sách, bãi tập, sân chơi. Tỷ lệ máy vi tính - phương tiện làm việc số 1 của văn phòng, trong tỉnh mới được trang bị trên 3.000 máy, số cán bộ, công chức có thêm trình độ tin học B còn qúa thấp (156 người).

Về thời giờ làm việc: đối với viên chức từ khi thực hiện tuần làm việc 40 giờ đã có nhiều thời gian rảnh dỗi để nghỉ ngơi và phụ giúp công việc nhà. Ở một số doanh nghiệp Nhà nước cũng từng bước sắp xếp giảm giờ làm việc trong tuần, đồng thời tạo điều kiện cho công nhân đi tham quan du lịch như ở công ty Thương nghiệp Cà Mau. Điều tra ở chỉ tiêu số 17 cho thấy công nhân, viên chức sử dụng thời gian còn lại vào những công việc có ích được xếp theo thứ tự: xem ti vi, đọc sách báo, làm thêm công việc nhà, nuôi dạy con cái, chơi thể thao, học thêm. Song ở một số doanh nghiệp công nhân không những lao động với cường độ cao ở trong nhà máy, xí nghiệp mà ngoài giờ họ còn phải làm thêm để giải quyết đời sống cho cá nhân và gia đình. Theo tài liệu báo cáo của sở Lao động thương binh và xã hội vẫn còn tình trạng doanh nghiệp sử dụng thời gian làm việc liên tục từ 12 đến 16 giờ, lại chưa thực hiện đúng chế độ trả lương làm thêm giờ, phụ cấp ca 3, sổ lương không ghi chép đầy đủ chi tiết các khoản thu nhập trong tháng của người lao động.

4.3- Về thu nhập: những năm gần đây thu nhập của công nhân, viên chức, lao động được nâng lên một bước do sản xuất kinh doanh phát triển và làm thêm kinh tế gia đình, nhiều người đã có thu nhập khác cao hơn lương, một số trở thành giầu có. Song bên cạnh đó là khoảng cách giàu nghèo đang doãng ra ngay trong nội bộ công nhân, làm cho đời sống, sinh hoạt cũng đang hình thành sự khác biệt. Hiện trạng xã hội đã tạo cơ hội cho một số người có thu nhập "chìm", chủ yếu là viên chức đảm trách ở lĩnh vực hoặc công việc gắn với quyền lực - kinh tế - tài chính - nhà đất cùng các đặc lợi khác, đối tượng này có những tài sản, đất đai nhưng họ thường không chứng minh được đó là nhờ những thu nhập từ đâu. Đó là “một phần gía trị của công nhân tạo ra lại bị kẻ tham nhũng mua sắm phung phí, ăn chơi sa đọa... chiếm đoạt. Đó cũng là thủ đoạn bóc lột công nhân[1]. Đối với ngành nghề thì qua biểu số V chúng ta thấy rằng cùng khu vực nhà nước nhưng nhóm có thu nhập cao nhất là ngành phân phối điện, nước, bưu điện, vận tải cao gấp 2,5 đến 3 lần các ngành lĩnh vực hành chính sự nghiệp như y tế, khoa học, giáo dục, văn hóa, quản lý Nhà nước, Đảng, đoàn thể; trong khi đó tỷ lệ trí thức, cán bộ khoa học kỹ thuật lại thấp hơn 2 đến 3 lần. Qua nghiên cứu chế độ lương, thưởng thấy rằng đó là do cơ chế đặc quyền của ngành đem lại. Họ đã biến độc quyền Nhà nước thành độc quyền doanh nghiệp một cách hợp pháp.

Biểu V

LAO ĐỘNG VÀ THU NHẬP THUỘC KHU VỰC NHÀ NƯỚC NĂM 2000

 

TT

 

Tên ngành nghề (phân theo ngành kinh tế)

Tổng số lao động

(thời điểm 31/12/2000)

Thu nhập bình quân (người/tháng)

Tỷ lệ trí thức so với tổng số lao động

1

Nông, lâm nghiệp

953

390.600đ

9,39

2

Giáo dục và đào tạo

11.677

489.000

19,80

3

Y tế và hoạt động cứu trợ

2.332

449.000

18,88

4

Văn hóa, thể dục thể thao

316

770.000

23,09

5

Hoạt động Khoa học và công nghệ

35

462.000

56,09

6

Tài chính, tín dụng

606

674.200

40,04

7

Hoạt động liên quan đến tài sản và dịch vụ tư vấn

71

693.300

22,72

8

Vận tải kho bãi và thông tin liên lạc

829

1.330.600

9,46

9

Các hoạt động Đảng, đoàn thể, hiệp hội

913

398.400

22,26

10

Phục vụ cá nhân và cộng đồng

110

1.291.000

4,22

11

Quản lý Nhà nước & an ninh quốc phòng

2.512

417.200

36,37

12

Thủy sản

503

650.000

11,45

13

Công nghiệp chế biến

7.583

663.600

2,78

14

Sản xuất và phân phối điện nước

324

1.422.100

10,08

15

Xây dựng

550

1.117.500

9,62

16

Thương mại, sửa chữa xe có động cơ

797

923.900

8,54

17

Khách sạn, nhà hàng

492

527.800

5,31

 

Cộng

30.603

585.900

 

 Nguồn: Niên Giám Thống kê tỉnh Cà Mau năm 2000.


Ở chỉ tiêu số 16 có 52,29% ý kiến cho rằng đời sống gia đình hiện nay khá hơn những năm trước. Đánh giá về mức thu nhập ở chỉ tiêu số 18 có 50,85% cho rằng vừa đủ sống, 30,56% có dư chút ít, số trả lời không đủ sống 4,46%. Nhưng thực tế cho thấy các khoản chi phí lớn hàng tháng như học tập của con cái, chữa bệnh, đi lại, tiền điện, điện thoại, ga (chất đốt) ... đang là gánh nặng đối với mỗi gia đình. Nếu chỉ trông vào thu nhập từ tiền lương sẽ khó đảm bảo cho việc nâng cao đời sống, tái tạo sức lao động cho công nhân.

Nhìn nhận một cách toàn diện hơn thì trong nền kinh tế thị trường cường độ lao động của công nhân cao hơn, tiền lương và thu nhập của công nhân có tăng lên, song do thiếu việc làm, số người ăn theo trong một gia đình tăng lên, cùng với sự tăng lên của giá cả và các khoản đóng góp nên vẫn còn một số công nhân, viên chức đời sống, phương tiện sinh hoạt chưa đảm bảm, nhiều dụng cụ tối thiểu phục vụ đời sống vẫn chưa có, số này phần lớn là rơi vào các gia đình công nhân việc làm không ổn định, thu nhập thấp, có con còn nhỏ và đang tuổi đi học. Hơn nữa hệ thống thanh bảng lương chưa hợp lý, do áp dụng nhiều hình thức trả lương và vai trò điều tiết của Nhà nước còn hạn chế nên chưa thoả đáng trong phân phối, có những chênh lệch cao về thu nhập ngay trong một ngành nghề, một địa phương.

4.4- Về nhà ở sinh hoạt: điều tra xã hội học ở chỉ tiêu số 8 về nhà ở thì 54,83% có nhà ở, 24,06% thuê nhà ở. Về tình trạng nhà ở: nhà cấp 4 có 48,70%, nhà bình thường 33,16%, nhà tạm 9,84%, chỉ có 8,29% nhà cấp 3 trở lên. Khi phỏng vấn về chuyện nhà ở chúng tôi nhận được thông tin cho rằng có nhiều bất hợp lý, sơ hở và chưa công bằng về chính sách nhà ở cho công nhân, viên chức. Nhiều gia đình công nhân lao động còn phải ở chật hẹp và chưa có nhà ở trong khi một số cán bộ công chức có nhiều đất, nhiều nhà. Cho đến nay chưa có văn bản nào qui định tiêu chuẩn để cấp đất, phân phối nhà, cho thuê, bán trả góp cho công nhân viên chức mà duy trì tình trạng "xin - cho", rồi nay lại phó thác cho kinh tế thị trường. Tình trạng nhảy từ thái cực này sang thái cực khác nên ta dễ nhận thấy có nhân viên hợp đồng chưa được 3 năm còn đang độc thân vẫn được mua nhà, cấp nhà trong khi đó nhiều gia đình 2 vợ chồng trí thức có thời gian công tác 15 năm, 20 năm chưa có nhà ở. Nhiều doanh nghiệp hiện nay không hề quan tâm đến nhà ở cho công nhân lao động (kể cả công nhân chưa có gia đình). Chính vì vậy ở khu công nghiệp phường 8 đã xuất hiện nhà nhà dựng lều cho thuê hoặc ngăn phòng nhỏ ra để cho công nhân ở trọ, với gía từ 60 đến 100.000 đồng một tháng/ người với diện tích 2 đến 4 m2. Ở kiểu này về mặt xã hội không ai quản lý công nhân, đã có các tệ nạn xã hội xảy ra. Như vậy đã đến lúc các doanh nghiệp lớn trong phương hướng phát triển sản xuất của mình cần có kế hoạch về xây dựng ký túc xá công nhân, tạo điều kiện cho công nhân được an toàn về mặt xã hội, yên tâm làm việc lâu dài cho doanh nghiệp. Song để giải quyết được vấn đề này cần phải có chính sách về nhà ở của Nhà nước, trên cơ sở đó các doanh nghiệp mới hình thành, xây dựng và phát triển được nhà ở cho công nhân lao động.

Về sinh hoạt: như trình bày ở trên, ngay trong công nhân, viên chức, lao động đang có sự phân hóa giầu nghèo và khả năng tích lũy khác nhau giữa người làm việc lâu năm và người mới vào nghề nên các tiện nghi sinh hoạt cũng khác nhau. Điều tra ở chỉ tiêu 8.4 cho thấy hộ công nhân có điện 80,83%, có nước máy 73,44%. Đây là tỷ lệ thấp hơn cả khu vực dân cư một số tỉnh trong khu vực, do tình hình đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng của tỉnh chưa theo kịp với mặt bằng chung của toàn vùng nên số hộ có ti vi cũng thấp: 69,51% (chỉ tiêu 8.5). Nhưng đáng phấn khởi hơn số hộ có điện thoại 36,72%, có bếp ga 39,72%, có tủ lạnh 26,78%, có máy giặt 8,55%; tỷ lệ này cao hơn nhiều lần tỷ lệ chung của tỉnh. Chứng tỏ rằng các điều kiện sinh hoạt trong gia đình công nhân đang tăng lên và cao hơn nhiều lần so với mức sinh hoạt chung của cộng đồng dân cư.

4.5 Về xu hướng nghề nghiệp: công nhân, viên chức, lao động rất có ý thức đối với giá trị sức lao động của mình, thực tế đó càng tăng lên khi xã hội thừa nhận sức lao động là hàng hóa, chịu sự điều tiết cung - cầu của thị trường lao động, vì vậy tính hiệu qủa, năng động được đánh giá cao. Nếu như trước đây nhiều người không dám xin chuyển công tác, dời bỏ xí nghiệp vì sợ bị đặt vấn đề về tư tưởng không an tâm công tác, họ cũng ngại nói từ "làm mướm", "làm thuê", hoặc trước kia quan niệm "việc làm" thường đồng nhất với biên chế nhà nước, cứ học khi ra trường, cứ xin được vào làm việc đã có Nhà nước phân công nhiệm vụ... thì nay đã hoàn toàn thay đổi. Tình trạng học ngành này làm ngành khác hoặc phân công trái nghề đang giảm đi rất rõ. Điều dễ nhận thấy các cơ quan, doanh nghiệp tuyển người theo tiêu chuẩn chức danh, bằng cấp đồng thời qua thi tuyển sát hạch. Công nhân, viên chức, lao động ngày nay có xu hướng quan tâm nhiều đến sản xuất kinh doanh, đến vấn đề thu nhập, đến nơi làm việc. Đặc biệt khi kinh tế tri thức được đặt ra gần như đồng nghĩa với sự thành đạt và là xu thế tất yếu của sự phát triển thì phong trào học ngoại ngữ, tin học phát triển mạnh. Nhiều công nhân, viên chức, lao động vừa làm vừa học, mạnh dạn đầu tư cho con, em mình học tập. Điều tra ở chỉ tiêu 8.5 đã có 3% hộ sắm máy vi tính, trong đó một số người đã bắt đầu bước vào ngưỡng cửa của thông tin Internet. Hiện tại số đông công nhân lao động ở các doanh nghiệp đã hình thành ý thức mới trong lao động tự tìm kiếm việc làm, tự học tập, rèn luyện để thích nghi với môi trường lao động; có đầu óc thực tế, năng động hơn trong công việc, họ đã tự chủ trong lao động sản xuất, kinh doanh bằng chính tiềm năng lao động của mình, sống bằng bàn tay, trí óc của chính mình, nhanh chóng tiếp thu những thành tựu khoa học kỹ thuật và công nghệ hiện đại trong sản xuất. Từ đó đã bắt đầu hình thành ý thức về “giá trị kinh tế” của bản thân thông qua lao động ở doanh nghiệp. Chính vì vậy mà ranh giới giữa người công nhân “quốc doanh” và công nhân “ngoài quốc doanh” không có cách biệt nhiều nữa.

Qua khảo sát về việc làm của Đoàn Thanh niên năm 1999 thì tiêu chuẩn về công việc ổn định có thu nhập cao được 70% thanh niên lựa chọn; có 15% quan niệm làm việc trong cơ quan biên chế nhà nước; 10% quan niệm làm việc gì cũng được và 5% muốn làm công việc nhẹ nhàng. Tìm hiểu số học sinh đăng ký thi vào đại học những năm qua bắt đầu có sự chuyển hướng nhiều em thi vào ngành Sư phạm, toán - tin, tiếng Anh (có lẽ do học Sư phạm không phải đóng học phí) nhưng điều đáng lưu ý tỷ lệ thi vào các trường đã có sự cân bằng hơn chứ không qúa chênh lệch như trước đây tập trung nhiều vào ngành y khoa, kinh tế…  Quan sát các lớp học nghề (ở đây chỉ nêu người học nghề thực sự chứ không nêu số lượng học nghề, do phần đông học sinh học nghề để cộng thêm điểm thi tốt nghiệp) người học chủ yếu tập trung vào các nghề như cắt may, sửa chữa máy nổ, điện cơ, điện lạnh … các nghề này khi học xong có thể về nhà hoặc thuê mướn địa điểm để mở tiệm riêng; còn việc học nghề để xin vào doanh nghiệp làm việc lại rất ít mà chủ yếu là hình thức truyền nghề như chế biến thủy sản, xây dựng. Đối chiếu lại giữa tỷ lệ công nhân, viên chức, lao động trong cơ cấu ngành nghề với xu hướng nguyện vọng về nghề nghiệp có sự chênh lệch khá rõ. Khi phỏng vấn về 10 ngành nghề để chọn thì thứ tự được xếp từ cao xuống thấp như sau: Bưu điện 26,9%; Tài chính Ngân hàng 20%; Y tế 9,40%; Thương mại du lịch 8,93%; Hải sản 7%; Xây dựng 7; Giao thông 7%; Giáo dục 3,6%; Nông nghiệp 2,35% và ngành khác 8,2%.

Nhìn chung, xu hướng nghề nghiệp của số đông muốn làm việc ở những nơi ổn định, có thu nhập cao, công việc nhẹ nhàng, điều kiện làm việc thuận lợi. Các doanh nghiệp cũng đang tìm các biện pháp như mời gọi, trả lương hậu hĩnh để thu hút người tài. Tình hình và điều kiện mới đã tác động đến công nhân, viên chức, lao động có quan niệm lựa chọn nghề nghiệp thực tế hơn, phù hợp với năng lực, bằng cấp, tay nghề và xu hướng cá nhân, mặt khác họ đang phấn đấu tự trang bị cho mình kiến thức, năng lực đủ để đáp ứng yêu cầu ấy, đồng thời thể hiện tính tích cực, chủ động hơn chuẩn bị khả năng làm việc, tự tìm kiếm và tạo việc làm. Vì vậy Nhà nước cần phải có qui hoạch đào tạo bồi dưỡng nguồn nhân lực phù hợp với khả năng phát triển kinh tế và ngành nghề của tỉnh.

4.6 Về vị thế lao động: Việc chuyển sang nền kinh tế thị trường và phát triển nhiều thành phần kinh tế làm thay đổi một cách căn bản về quan hệ xã hội, trong đó có người sử dụng lao động và người lao động trong các doanh nghiệp Nhà nước, chủ - thợ trong các doanh nghiệp tư nhân và có đầu tư từ nước ngoài. Qua số liệu điều tra thực tế vị thế của công nhân, viên chức, lao động tỉnh Cà Mau như sau: làm việc ăn lương Nhà nước 46,78%; lao động trong doanh nghiệp nhà nước 37,04%; lao động trong các cơ sở sản xuất, doanh nghiệp tư nhân 8,72%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 0,20%; lao động tự do 7,47%; là tiểu chủ, doanh nghiệp nhỏ không thuê lao động 7,8%. Trong các chủ doanh nghiệp tư nhân nhiều người trước đây từng là công nhân, viên chức, lao động, ý thức làm giàu đã thôi thúc họ sản xuất kinh doanh và trở nên thành đạt. Do doanh nghiệp tư nhân mới phát triển, chưa tạo thế ổn định và còn bị mặc cảm của xã hội nên tâm lý công nhân muốn làm ở doanh nghiệp nhà nước hơn, mặc dù thu nhập có khi thấp hơn.

Từ kết quả trên và qua tình hình thực tế ở địa phương vị thế lao động của công nhân, viên chức, lao động Cà Mau chủ yếu trong cơ quan và doanh nghiệp Nhà nước, một số là lao động tự do gắn với kinh tế hộ gia đình. Số doanh nghiệp tư nhân mới phát triển chưa ổn định, đa số mới sử dụng lao động là người thân trong gia đình. Nói một cách tổng thể công nhân lao động là những người làm công ăn lương, là người làm thuê nên vai trò làm chủ gặp nhiều khó khăn, điều đó đã được chứng minh trong thực tế. Nếu so với nông dân thì chính hiện nay nông dân làm chủ rõ hơn, họ có quyền quyết định việc sản xuất kinh doanh trên mảnh đất của mình. Tuy nhiên do vị trí chính trị và đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến, nắm giữ khoa học công nghệ hiện đại thì công nhân lao động luôn ở tư thế làm chủ, điều này đã được thể hiện ở những văn bản pháp luật về bảo đảm quyền hạn của tập thể lao động, về thỏa ước lao động tập thể, về thực hiện dân chủ ở cơ quan và trong doanh nghiệp v.v.. Đại diện cho công nhân lao động, các cấp Công đoàn với tư thế người làm chủ, vừa tham gia hợp tác với cơ quan, với doanh nghiệp tạo thuận lợi cho sản xuất kinh doanh, vừa đấu tranh bảo vệ quyền lợi và nhân cách của người lao động đúng pháp luật. 

 5- Đời sống văn hóa, gia đình.

5.1- Đời sống văn hóa tinh thần: Ngày nay công nhân, viên chức, lao động được sống trong môi trường văn hóa phong phú và đa dạng, sử dụng các tiện nghi hiện đại mà trước đây chưa có được, đã tác động mạnh đến đời sống văn hóa tinh thần và lối sống của công nhân, viên chức, lao động. Với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, của thời đại Internet và các phương tiện thông tin đại chúng cùng với sự tăng cường giao lưu trong nước, khu vực và thế giới, giúp cho công nhân, viên chức, lao động tiếp nhận thông tin nhiều chiều một cách nhanh chóng, mở mang tri thức cả về chiều rộng, chiều sâu, tạo điều kiện cho họ tiếp cận với trình độ văn hóa hiện đại và đa màu sắc của các dân tộc trên thế giới. Mặt khác dưới tác động của cơ chế thị trường công nhân lao động có những chuyển biến rõ rệt về tâm lý, không còn trông chờ, ỷ lại như thời bao cấp. Người công nhân coi trọng các hợp đồng kinh tế có hiệu quả, coi trọng khách hàng, chất lượng sản phẩm, lấy chữ tín làm trọng. Qua thực tế trao đổi, tiếp xúc với công nhân trong các doanh nghiệp người công nhân yêu cầu dân chủ hơn, muốn được bàn bạc, cùng giải quyết những vấn đề về phương hướng sản xuất, kinh doanh, tiền lương, tiền công và phúc lợi của doanh nghiệp có liên quan đến việc làm và đời sống công nhân. Về cán bộ, viên chức tâm lý băn khoăn nhất vẫn là tiền lương, thưởng thấp; không khí dân chủ, mô hình - cách thức sinh hoạt đoàn thể thường bị lãng quên.

Nhu cầu sinh hoạt văn hóa, tinh thần của công nhân, viên chức, lao động hiện nay thích tiếp cận các thông tin mới về thời sự, kinh tế, khoa học kỹ thuật, các loại hình nghệ thuật mới, hiện đại và nội dung thiên về các vấn đề xã hội, nhân văn và trữ tình. Kết quả khảo sát ở chỉ tiêu 17, ngoài giờ làm việc chính họ sử dụng thời gian còn lại chủ yếu vào việc xem ti vi 70,67%, đọc sách báo 66,67%. Qua đó cho thấy, dù thời gian nhàn rỗi công nhân, viên chức, lao động vẫn sử dụng vào việc hoạt động có ích như sinh hoạt văn hóa, thể thao, giao lưu tình cảm là nét nổi bật. Qua các kết quả nghiên cứu, nhu cầu thông tin có vai trò quan trọng trong đời sống hàng ngày của công nhân, viên chức, lao động, trình độ văn hóa càng cao thì nhu cầu càng tăng, loại hình cũng phong phú đa dạng hơn.

Trong cuộc sống giao tiếp xã hội, công nhân, viên chức, lao động tỏ rõ sự tự tin và chủ động, tích cực tham gia vào các phong trào của các tổ chức, đoàn thể phát động; phong cách ứng sử cũng được rèn luyện thể hiện nét văn hóa, lịch sự. Những gía trị truyền thống, đạo lý được phát huy, hướng tới cái đẹp, cái thiện, tham gia ngày càng nhiều vào các hoạt động xã hội nhân đạo như đền ơn đáp nghĩa, chăm sóc gia đình thương binh liệt sĩ, phụng dưỡng bà mẹ Việt Nam anh hùng, giúp đỡ đồng bào bị thiên tai, giúp đỡ và chăm sóc trẻ em nghèo; tật nguyền v.v...

Công nhân, viên chức, lao động thực sự có khả năng sáng tạo trong sản xuất và đời sống xã hội; hàng nghìn trí thức, công nhân kỹ thuật, thợ lành nghề đã năng động sáng tạo, cố gắng thích ứng với cơ chế mới, tiếp cận nhanh với khoa học tiên tiến, công nghệ hiện đại. Chỉ tính 5 năm qua đội ngũ trí thức đã nghiên cứu và ứng dụng trên 30 đề tài dự án khoa học cấp tỉnh, hàng trăm đề tài, sáng kiến cấp sở; có nhiều đề tài, sáng kiến được áp dụng vào sản xuất đem lại giá trị kinh tế - xã hội cao. Trong quá trình đổi mới công nhân lao động đã phát hiện và đề xuất nhiều giải pháp, nhiều kinh nghiệm quý báu cho Đảng và Nhà nước đúc kết thành các nghị quyết và chính sách quan trọng để chỉ đạo, tổ chức thực hiện trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội.

Tuy nhiên phải thấy rằng đời sống văn hóa, tinh thần của công nhân, viên chức, lao động còn nhiều khó khăn. Đa số công nhân lao động trình độ văn hóa thấp; những phương tiện, trang thiết bị cho sinh hoạt văn hóa thể thao ở cơ sở còn nghèo nàn, nhiều nơi chưa có.

5.2- Gia đình: Trong tình yêu, hôn nhân - gia đình, công nhân, viên chức, lao động nhận thức rõ hơn về mô hình gia đình ít con, giàu có, hạnh phúc. Tính tự lập của gia đình trẻ được thể hiện khá rõ bằng việc sớm ở riêng ngay sau khi kết hôn để tạo lập cuộc sống độc lập về kinh tế và sở hữu. Hiện nay các cặp vợ chồng tích cực hưởng ứng cuộc vận động dân số kế hoạch hóa gia đình được thể hiện qua chỉ tiêu 28: số người có 1 con là 30,36%, có 2 con là 38,94%, có 3 con là 13,20%. Khảo sát ở chỉ tiêu 28 có 66,51% người có gia đình; 33,48% còn độc thân. Số nữ còn độc thân trong độ tuổi thanh niên không đáng ngại, hoặc một số quan tâm đến chuyện học hành, nghề nghiệp. Cần lưu ý hiện nay có 12% nữ công nhân trên 35 tuổi chưa lập gia đình; số nữ trong các nhà máy chế biến thủy sản do tính chất công việc làm theo ca, thời gian dài, tập trung đông nên ít có điều kiện và cơ hội giao lưu, tìm hiểu chuyện tình yêu; tương tự đối với nữ giáo viên đa số công tác ở địa bàn nông thôn vì vậy tuổi kết hôn của nữ công nhân, viên chức đang tăng lên.

 6- Về sức khỏe và thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hộ lao động.

6.1- Về thể lực, sức khỏe: Qua điều tra khảo sát về chiều cao, cân nặng của công nhân, viên chức, lao động Cà Mau được tiến hành ở chỉ tiêu 29 thì đối với nam có chiều cao trung bình là 160cm; đối với nữ chiều cao trung bình là 154 cm. Về cân nặng của nam trung bình là 55 kg; đối với nữ trung bình 50 kg. Kết quả này cho thấy tầm vóc cơ thể của công nhân, viên chức, lao động cả nam lẫn nữ đều trội so với mức trung bình của cả nước. Có được ưu điểm này bởi Cà Mau có nguồn lương thực thực phẩm dồi dào, điều kiện môi trường, khí hậu thuận lợi - đó là nguồn dinh dưỡng tốt giúp cơ thể con người phát triển. Trong tình hình hiện nay, đời sống kinh tế của nhân dân từng bước được nâng lên, ngành y tế phát triển nên khả năng các chỉ số thể lực của công nhân sẽ còn phát triển. Nhưng thực tế hiện nay theo báo cáo của sở Lao động thương binh và xã hội có tới 25% công nhân sức khoẻ dưới mức trung bình, 30% công nhân nữ mắc bệnh phụ khoa, 40% công nhân mắc bệnh nghề nghiệp. Qua khảo sát ở chỉ tiêu 30 và tìm hiểu nghiên cứu các số liệu, báo cáo của ngành y tế, công nhân, viên chức, lao động thường mắc các bệnh cảm sốt thông thường 44,11%; tai mũi họng 24,48%; răng lợi 5,54%, đường ruột 4,62%. Đây là các bệnh đặc trưng ở vùng khí hậu nhiệt đới, nóng ẩm, gió mùa, điều kiện vệ sinh chưa đảm bảo, ý thức giữ gìn sức khỏe chưa tốt. Việc khám sức khỏe định kỳ cho công nhân, viên chức, lao động chưa được quan tâm đúng mức. Hiện nay chỉ một số doanh nghiệp hàng năm có tổ chức khám sức khỏe định kỳ, còn đa số - kể cả các cơ quan Nhà nước từ nhiều năm nay không tổ chức khám sức khỏe định kỳ, chỉ khi nào bệnh mới đi khám và điều trị. Điều đó phản ánh ở chỉ tiêu 27 có 36,19% ý kiến trả lời không được cơ quan, đơn vị tổ chức khám sức khỏe định kỳ; 23,86% trả lời rất ít khi.

6.2- Việc mua bảo hiểm y tế ở các cơ quan, các doanh nghiệp nhà nước khá tốt, nhưng ở các doanh nghiệp tư nhân mua chưa đủ so với số lượng công nhân hoặc không mua. Việc khám và điều trị bệnh cho đối tượng mua bảo hiểm y tế cũng chưa được thực hiện công bằng; khi phỏng vấn có tới 84,6% đối tượng mua bảo hiểm y tế bày tỏ sự không hài lòng về phương pháp và tinh thần phục vụ khám chữa bệnh như hiện nay. Số bị thiệt thòi như giáo viên, công nhân lâm nghiệp, vì địa bàn công tác ở nông thôn, xa bệnh viện. Ở các ngành, các doanh nghiệp có đông người mua bảo hiểm nhưng ngành bảo hiểm Y tế chưa thực hiện việc trích 10% để lại cho cơ sở mua thuốc thông thường.

6.3- Việc thực hiện chế độ bảo hộ lao động, an toàn vệ sinh lao động-phòng chống cháy nổ tại các cơ sở sản xuất đã có nhiều tiến bộ, nhưng hiện nay tình hình tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp có chiều hướng gia tăng do chưa được quan tâm đúng mức, chưa tuân thủ nghiêm ngặt qui trình đã ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe công nhân, thậm chí đã gây tai nạn chết người như tai nạn do điện giật làm chết người Công ty Xây dựng Việt Cường, vụ ngạt hơi độc làm chết và bị thương ở Công ty Khai thác và dịch vụ thuỷ sản. Qua khảo sát thấy hầu hết công nhân nghề xây dựng, giao thông, bốc xếp ở các bến, ở các nhà máy nước đá không mang bảo hộ lao động như quần áo, mũ, giày, gang tay, do người sử dụng lao động không trang cấp phương tiện cá nhân. Công nhân trong nhà máy chế biến thủy sản phải làm việc trong môi trường ẩm lạnh, chân đi ủng đứng liên tục nhiều giờ thường bị nước ăn ở bàn tay, tê bàn chân và bị xoang mũi nhưng vẫn phải làm việc theo ca, theo chế độ khoán sản phẩm nên có nhiều công nhân làm việc trên 10 giờ/ngày. Vấn đề trên cộng với tình hình ô nhiễm môi trường của các nhà máy cũng đáng báo động; qua kiểm tra thực tế ở 18 xí nghiệp chế biến thủy sản thì nhiều xí nghiệp đều vi phạm luật Bảo vệ môi trường. Một số xí nghiệp chưa lập báo cáo đánh giá tác động môi trường, một số đã lập báo cáo nhưng vẫn không thực hiện, thải chất thải trực tiếp xuống sông, không những gây ô nhiễm nguồn nước mà còn làm ô nhiễm cả khu vực dân cư quanh nhà máy. Khi khảo sát nơi làm việc (giảng dạy) của giáo viên, thấy rằng các trường học ở phường 4, phường 6, phường 7, phường 8, phường 9 là những phường trung tâm thành phố Cà Mau chúng tôi chứng kiến cảnh nữ giáo viên mặc áo dài thật đẹp đi guốc trên vũng nước trước cửa lớp - sân trường. Các trường học ở đây đều cũ nát, chật hẹp, lầy lội, thấp nóng xây dựng từ những năm sáu mươi - bảy mươi, không bảo đảm an toàn lao động chứ chưa nói tới yêu cầu nâng cao chất lượng dạy và học. Thật khó nói khi chúng ta trú trọng phát triển kinh tế, qui hoạch đô thị nâng Cà Mau từ thị xã lên thành phố nhưng lại quên đi những mái trường - nơi làm việc, học tập của hàng nghìn giáo viên, học sinh.

Từ tình hình trên cần quan tâm đến công tác bảo hộ lao động, an toàn vệ sinh lao động, khám sức khỏe định kỳ, trang bị phương tiện cá nhân, giảm giờ làm việc cho nữ công nhân trong các nhà máy chế biến thủy sản (vì phải đứng nhiều), khẩn trương qui hoạch xây dựng lại các trường học, tổ chức các hoạt động tập luyện thể dục thể thao, vui chơi lành mạnh. Đó là vấn đề có tính pháp lý và lâu dài góp phần bảo vệ và nâng cao thể lực của công nhân, viên chức, lao động.

6.4- Việc thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội:

Theo qui định có 2 loại hình bảo hiểm xã hội là: bảo hiểm xã hội bắt buộc và bảo hiểm xã hội tự nguyện, ở Cà Mau gần như chưa có loại hình bảo hiểm xã hội tự nguyện. Hiện nay tỉnh Cà Mau có 504 cơ quan, đơn vị sử dụng lao động có tham gia bảo hiểm xã hội cho 28.222 người gồm: khối hành chính sự nghiệp 439 cơ quan, đơn vị mua bảo hiểm cho 18.454 người đạt xấp xỉ 100%; khối doanh nghiệp nhà nước, công ty cổ phần, liên doanh với nước ngoài, doanh nghiệp tư nhân lớn 58/64 đơn vị mua bảo hiểm cho 9.798 công nhân, bằng 60,45%; khối doanh nghiệp nhỏ ngoài quốc doanh 7/53 đơn vị mua bảo hiểm cho 76 công nhân, bằng 6,41% (xem Phụ lục Biểu I - số 10a, 10b).

Qua điều tra số liệu đã phát hiện có doanh nghiệp chỉ có khoảng 60 công nhân nhưng đã khai lên gấp đôi. Sở dĩ khai như vậy là vì lợi nhuận của doanh nghiệp qúa cao, họ lấy đầu lương dôi ra ấy để chia lại một lần nữa hoặc thanh toán vào khoản khác nhằm né tránh khung trần trả lương của doanh nghiệp. Ngược lại nhiều doanh nghiệp khai ít hơn nhiều so với công nhân hiện có, lại có nhiều doanh nghiệp chỉ khai dưới 10 công nhân, cái chính là để không phải chi 15% lương của người lao động để mua bảo hiểm xã hội. Từ tình hình trên chúng ta thấy rõ phần đông các doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần chưa thực hiện đủ việc mua bảo hiểm xã hội cho công nhân, trong đó có một số doanh nghiệp nhà nước. Đây là vấn đề quan trọng cần đặt ra nhằm bảo vệ quyền lợi cho công nhân theo pháp luật.

Việc thực hiện các chế độ bảo hiểm xã hội nhất là trợ cấp ốm đau, bệnh nghề nghiệp chưa thực hiện đầy đủ. Nguyên nhân chính là cán bộ Công đoàn cơ sở nắm chưa vững các chế độ để tư vấn hướng dẫn, có khi ngại việc dẫn đến sự thiệt thòi của người lao động. 

            7- Về chính trị và xu hướng giá trị.

Cà Mau là vùng căn cứ địa cách mạng kiên cường suốt hai thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ; nhân dân Cà Mau giàu lòng yêu nước, cần cù lao động, luôn lấy tình thương, lẽ phải, sự công bằng làm mục đích sống. Truyền thống quý báu đó luôn khơi dậy lòng tự hào của lớp công nhân, viên chức, lao động ngày nay. Công cuộc đổi mới đất nước hơn 10 năm qua, nhất là những năm gần đây đã đem lại những thay đổi tích cực về đời sống kinh tế, tinh thần trong xã hội, có ảnh hưởng mạnh mẽ đến tư tưởng chính trị của công nhân, viên chức, lao động và họ ngày càng tin tưởng vào công cuộc đổi mới đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng. Sự ổn định chính trị của đất nước, khả năng, vai trò và vị trí của Việt Nam trên trường quốc tế càng củng cố lòng tin và niềm tự hào của công nhân, viên chức, lao động đối với Đảng với Bác Hồ kính yêu. Điều đáng quý là họ rất quan tâm tình hình thời sự trong tỉnh, trong nước và quốc tế. Trong thực tế có rất nhiều công nhân, viên chức, lao động vừa làm vừa học, tự rèn luyện nâng cao nhận thức chính trị, phẩm chất đạo đức để trở thành người công dân tốt, người cán bộ gương mẫu được quần chúng nhân dân tín nhiệm.

Theo số liệu hiện tại, toàn tỉnh có 15.259 đảng viên (nữ 2.269) thì đảng viên là công nhân, viên chức 3.130 người bằng 20,51% so tổng số đảng viên và bằng 8,11% so tổng số công nhân, viên chức lao động, (trong đó 1.837 là viên chức, 838 là công nhân, 455 là cán bộ trong cơ quan Đảng, đoàn thể). Đây là lực lượng đang giữ cương vị chủ chốt trong cơ quan Đảng, Nhà nước, đoàn thể ở các cấp và trong các doanh nghiệp Nhà nước, đơn vị sự nghiệp. Tỷ lệ phát triển Đảng hàng năm trong công nhân, viên chức từ 34 đến 42% so với tổng số đảng viên mới được kết nạp. Kết quả khảo sát ở chỉ tiêu 21 có 74,27% ý kiến của công nhân, viên chức, lao động ngoài Đảng có nguyện vọng phấn đấu trở thành Đảng viên.

Công nhân, viên chức, lao động đã và đang là cơ sở chính trị xã hội - chỗ dựa vững chắc của Đảng và Nhà nước, là lực lượng kiên quyết ủng hộ và đi đầu trong công cuộc đổi mới. Số đông công nhân vững vàng về chính trị, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội - phù hợp với nguyện vọng và lợi ích của giai cấp công nhân. Họ cũng là lực lượng tích cực, kiên quyết và tiên phong trên mặt trận chống tiêu cực, tham nhũng và các biểu hiện tượng tiêu cực khác trong đời sống kinh tế - xã hội. Thực tế ở nhiều cơ sở, địa phương công nhân tích cực tham gia các lực lượng kiểm tra, kiểm soát, giám sát các hoạt động kinh tế, phân phối lưu động thông, phát hiện nhiều vụ tham ô, ức hiếp trù dập, vi phạm quyền làm chủ của nhân dân lao động, làm sai chế độ chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

            Từ thực trạng trên cho thấy: trước muôn vàn khó khăn, thử thách, công nhân, viên chức, lao động vẫn luôn giữ vững truyền thống cách mạng, xứng đáng là giai cấp tiên phong, lãnh đạo cách mạng, là lực lượng chính trị cơ bản, đội quân chủ lực trong công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Tuy nhiên cũng còn một số công nhân, viên chức thiếu ý chí rèn luyện, sa sút về phẩm chất đạo đức, vi phạm dân chủ, ít tham gia sinh hoạt đoàn thể, xã hội.

Nhu cầu và định hướng giá trị.

Các nhà nghiên cứu khoa học điều thống nhất đánh giá trong thập kỷ 90 của thế kỷ XX là thập kỷ đầy biến động trên tòan cầu và trên đất nước ta đã diễn ra những biến đổi sâu sắc về mọi mặt trong tiến trình đổi mới, phát triển. Những sự kiện đó đã ảnh hưởng đến đời sống tinh thần của các tầng lớp xã hội, đặc biệt là công nhân, viên chức, lao động và được biểu hiện rõ trong định hướng giá trị. Qua kết quả khảo sát ở chỉ tiêu 19 về những yếu tố giá trị được cho là quan trọng thì thứ tự xếp như sau:

+ Có việc làm ổn định                                               91,22%

+ Có sức khỏe tốt                                                       90,06%

+ Có cuộc sống gia đình hạnh phúc                            86,60%

+ Có nhiều bạn bè tốt                                                 55,89%

+ Có dân chủ, công bằng                                            49,19%

+ Có trình độ học vấn cao                                           37,41%

+ Có thu nhập cao, giàu có                                         48,46%

+ Có điều kiện vui chơi giải trí, du lịch                      15,01%

+ Có vị trí trong xã hội                                               12,47%           

+ Có tài năng được nhiều người biết đến                   1,15%

Việc lựa chọn giá trị trên cho thấy nhóm giá trị về việc làm, sức khỏe, gia đình, bạn bè được đánh giá cao nhất, tiếp đến là yếu tố dân chủ, công bằng, học vấn và cuối cùng mới là yếu tố vật chất, địa vị. Như vậy ngược với ý kiến cho rằng công nhân, viên chức, lao động hiện nay sống thực dụng, coi yếu tố vật chất lên hàng đầu, xem nhẹ các yếu tố tinh thần. Điều đó chỉ đúng một phần cho một nhóm đối tượng hoặc nhất thời không phải là vấn đề có tính phổ biến, còn đa số định hướng giá trị của công nhân coi trọng hơn tính nhân bản như việc làm, sức khỏe, gia đình là những yếu tố thiết thực, gắn với đời sống của mỗi người. Khi nhu cầu vật chất đã tạm đủ, các yếu tố về đạo đức, văn hóa-tinh thần càng được đề cao và coi đó là giá trị bền vững. Nhóm các yếu tố như trở thành người nổi tiếng, có địa vị lại ít được lựa chọn.

Từ những giá trị định hướng mà công nhân, viên chức, lao động lựa chọn, nhu cầu nguyện vọng trong nhận thức và biểu hiện cũng tương tự để đáp ứng giá trị đó. Những nhu cầu cấp bách và cần thiết nhất vẫn là việc làm, thu nhập, bảo đảm an toàn vệ sinh lao động, xây dựng hạnh phúc gia đình, quan hệ tình bạn, tình yêu, hôn nhân và hạnh phúc gia đình; học tập và về dân chủ, công bằng xã hội. Sự lựa chọn những nhu cầu trên phản ánh rất đúng về phẩm chất của giai cấp công nhân - giai cấp lao động và đấu tranh thúc đẩy sự phát triển xã hội, đem lại tự do, hạnh phúc cho xã hội. Tuy nhiên giới hạn nhận thức và từng đối tượng có mức chênh lệch khác nhau nhưng chung quy những nhu cầu thiết thực, chính đáng dựa trên chính sức lực, trí lực, khả năng của mỗi người đều được ưu tiên lựa chọn.

Nhìn chung tâm tư nguyện vọng của công nhân, viên chức, lao động hiện nay quan tâm hàng đầu là việc làm, thu nhập tương xứng với lao động. Mong đất nước ổn định và phát triển, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo, dân chủ công bằng xã hội được thực hiện. Người lao động muốn được học tập nâng cao trình độ văn hoá, tay nghề, được đảm bảo các quyền, lợi ích hợp pháp chính đáng. Muốn được sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật. Bất bình về tình trạng mất dân chủ, tham nhũng, gian lận thương mại và các tệ nạn xã hội không được ngăn chặn, xử lý kịp thời và nghiêm minh. Lo lắng con em không có điều kiện học hành, khó tìm việc làm khi đến tuổi lao động.

 

II- Tình hình tổ chức và hoạt động của Công đoàn Cà Mau

Năm những năm qua, tình hình kinh tế-xã hội tỉnh Cà Mau đã có những biến đổi sâu sắc; đó là sự chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu sản xuất và ngành nghề; sự điều chỉnh sau khi chia tách tỉnh và phải khắc phục hậu quả do thiên tai và các mặt khó khăn, yếu kém khác. Song, nhìn chung tình hình kinh tế-xã hội vẫn ổn định và phát triển. Trong bối cảnh ấy, hoạt động của Công đoàn và phong trào công nhân, viên chức, lao động ngày càng lớn mạnh, khẳng định được vị thế của mình, góp phần tích cực vào thắng lợi chung của tỉnh được thể hiện trên các lĩnh vực sau: 

1- Xây dựng Công đoàn vững mạnh:

Trong tỉnh hiện có 6 Liên đoàn Lao động huyện, 1 Liên đoàn Lao động thành phố, 8 Công đoàn ngành; với 728 Công đoàn cơ sở, nghiệp đoàn, trong đó có 62 Công đoàn cơ sở trực thuộc Liên đoàn Lao động tỉnh (có 2 Công đoàn ngoài quốc doanh), 189 Công đoàn cơ sở trực thuộc các huyện, thành phố (trong đó có 43 Công đoàn, Nghiệp đoàn ngoài quốc doanh) và 477 Công đoàn cơ sở trực thuộc ngành, (trong đó có 3 Công đoàn, nghiệp đoàn ngoài quốc doanh và 382 Công đoàn cơ sở thuộc ngành Giáo dục). So với năm 1996 số Công đoàn cơ sở tăng 41 đơn vị - do tách từ các Công đoàn cơ sở ghép với nhiều cơ quan trước đây. Hàng năm, số Công đoàn vững mạnh đều tăng với xu hướng năm sau cao hơn năm trước, đến nay số Công đoàn cơ sở vững mạnh chiếm 80,34%, so với năm 1996 tăng 10,6%. (Xem biểu số II, Phần Phụ lục).

Toàn tỉnh có 28.534 đoàn viên Công đoàn (nữ 12.725 bằng 44,60%), chiếm tỷ lệ 73,95% so với tổng số công nhân, viên chức, lao động. Trong 5 năm qua, các cấp Công đoàn đã kết nạp mới trên 10.000 Đoàn viên, trong đó có 5.962 người thuộc khu vực kinh tế ngoài quốc doanh. Số đòan viên được làm thẻ tính tới thời điểm này là 27.821 đạt tỷ lệ 97,5%. Nhiều năm nay, mặc dù các địa phương, ngành đã có cố gắng trong việc tuyên truyền phát triển đòan viên, nhất là khu vực kinh tế ngoài quốc doanh nhưng kết quả đạt còn hạn chế so với yêu cầu, vẫn còn nhiều hợp tác xã, doanh nghiệp tư nhân, một số ngành nghề tự do đủ điều kiện nhưng chưa thành lập Công đoàn. Hoạt động Công đoàn ở khu vực ngoài quốc doanh nhìn chung còn yếu do đa số cán bộ Công đoàn chưa được tào tạo cơ bản về chuyên môn, nghiệp vụ, một số cán bộ Công đoàn sợ mất việc nên không mạnh dạn thực hiện chức năng đại diện, bảo vệ lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động.

- Hoạt động của tổ chức Công đoàn trong những năm vừa qua đã góp phần xây dựng được cơ sở công đoàn rộng khắp thu hút được công nhân viên chức, lao đông tham gia vào công đoàn. Công đoàn đã khẳng định niềm tin và sự nhất trí với đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam và xây dựng mối quan hệ đúng đắn giữa công đoàn với Nhà nước. Công đoàn đã thực hiện chức năng đại diện và bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động; đã tập hợp ý kiến của công nhân viên chức, lao động để tham mưu cho Đảng, Quốc hội, Chính phủ, xây dựng Nghị quyết, Luật pháp, ban hành các chính sách nhằm tháo gỡ khó khăn, phát triển kinh tế xã hội, chăm lo, bảo vệ lợi ích cho công nhân lao động.

            2- Công tác tuyên truyền giáo dục trong công nhân, viên chức, lao động được tiến hành thường xuyên, phương thức được đổi mới, nội dung đa dạng, phong phú và từng bước đi vào chiều sâu, góp phần nâng cao nhận thức chính trị, trình độ văn hóa, tay nghề cho người lao động. Hệ thống tổ chức Công đoàn từ tỉnh đến cơ sở đã bám sát các Nghị quyết của Đảng, của Công đoàn, các sự kiện chính trị, phối hợp tốt với các ngành đoàn thể để tuyên truyền. Các nội dung giáo dục tập trung vào phổ biến pháp luật, Nghị quyết, về tình hình kinh tế xã hội, thời sự chính trị, về chủ nghĩa Mác-Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam, truyền thống và lịch sử Công đoàn Việt Nam; lịch sử truyền thống của ngành-địa phương, về dân số - kế hoạch hóa gia đình, phòng chống ma túy, HIV/AIDS và các tệ nạn xã hội. Công tác giáo dục chính trị tư tưởng được tiến hành bằng nhiều hình thức đa dạng, phong phú; các cấp Công đoàn đã tổ chức các cuộc hội thi, sinh hoạt câu lạc bộ, sinh hoạt chuyên đề, hội thảo… được đông đảo cán bộ, đoàn viên tham gia. Tờ thông tin Công đoàn đã được đổi mới về nội dung và hình thức được các cấp Công đoàn và công nhân, viên chức, lao động tiếp nhận và đánh giá cao.

Việc nâng cao trình độ văn hóa, tay nghề cho công nhân, viên chức, lao động có chuyển biến, các cấp Công đoàn đã tranh thủ với chính quyền, thủ trưởng đơn vị tạo điều kiện cho công nhân, viên chức, lao động học bổ túc văn hóa, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và học tin học, ngoại ngữ.

Phong trào xây dựng đời sống văn hóa trong công nhân, viên chức, lao động được thực hiện lồng ghép với cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư; ở các khu phố cơ bản các hộ công nhân viên chức được công nhận gia đình văn hóa. Các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao được công nhân, viên chức, lao động thường xuyên luyện tập và tham gia các giải thi đấu sôi nổi, góp phần nâng cao đời sống tinh thần.

- Công đoàn đã có nhiều cố gắng đổi mới, đa dạng hoá các hình thức hoạt động tuyên truyền giáo dục góp phần tạo nên sự thống nhất ý trí và hành động của người lao động với đường lối, quan điểm của Đảng và chính sách của Nhà nước. Công tác tuyên truyền đã từng bước thực hiện công khai, dân chủ góp phần tác động có hiệu quả vào sản xuất kinh doanh, tham gia quản lý, bảo vệ lợi ích của công nhân lao động và góp phần xây dựng giai cấp công nhân vững mạnh, làm nòng cốt trong khối liên minh công nhân, nông dân, trí thức và khối đoàn kết toàn dân. 

3- Việc chăm lo, bảo vệ quyền lợi cho công nhân, viên chức, lao động luôn được Công đoàn các cấp quan tâm chỉ đạo thực hiện; hoạt động xã hội được đẩy mạnh. Liên đoàn Lao động tỉnh thường xuyên kiến nghị với Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam, Chính phủ xây dựng, bổ sung, sửa đổi các văn bản liên quan đến chế độ chính sách. Chỉ đạo các cấp Công đoàn tích cực phối hợp với chính quyền tham gia vào việc xây dựng, ban hành và thực hiện các chủ trương, chính sách liên quan đến việc sắp xếp doanh nghiệp, ký kết hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể, xây dựng quy chế dân chủ cơ quan, doanh nghiệp nhằm đảm bảo lợi ích hài hòa của Nhà nước, doanh nghiệp và người lao động để vừa thực hiện hoàn thành kế hoạch sản xuất kinh doanh, vừa đảm bảo thực hiện tốt các chính sách đối với người lao động như việc làm, tiền lương, tiền thưởng, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hộ lao động, chăm lo trợ cấp khó khăn, hoạn nạn, giải quyết các khiếu nại, tố cáo…

            Với sự tham gia tích cực của các cấp Công đoàn, công tác chăm lo đời sống cho nữ công nhân, viên chức, lao động ở nhiều nơi có tiến bộ hơn trước như bố trí sắp xếp công việc hợp lý, hạn chế lao động nặng nhọc, độc hại, bảo vệ được quyền và lợi ích của lao động nữ khi bị xâm phạm, tạo điều kiện cho lao động nữ được trợ vốn, được học tập nâng cao trình độ văn hóa, chuyên môn, tay nghề. Đến nay trên 90% Liên đoàn Lao động huyện, thành phố, Công đoàn ngành và Công đoàn cơ sở trực thuộc xây dựng được quỹ “tiết kiệm vì phụ nữ nghèo” với số tiền gần 400 triệu đồng đã cho hàng nghìn lượt chị em vay, mượn để phát triển kinh tế gia đình.

            Các cấp Công đoàn đã tích cực chủ động đề nghị với cấp ủy Đảng, phối hợp với chính quyền mở đại hội công nhân, viên chức và hội nghị cán bộ, công chức qua đó đã nâng cao vai trò hoạt động của tổ chức Công đoàn ở cơ quan, đơn vị với chất lượng cao hơn trước. Tuy nhiên, vẫn còn một số doanh nghiệp và cơ quan chưa thực hiện đầy đủ các nội dung hướng dẫn; chưa xây dựng được quy chế dân chủ một cách cụ thể, rõ ràng nhất là các nội dung cần công khai. Liên đoàn Lao động tỉnh và Công đoàn cấp trên cơ sở đã chủ động phối hợp cùng các ngành chức năng tổ chức kiểm tra việc thực hiện luật Lao động, luật Công đoàn, nhất là thực hiện các quy định về hợp đồng lao động, thỏa ước lao động, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hộ lao động. Qua kiểm tra nhận thấy còn khá nhiều đơn vị thực hiện chưa tốt các nội dung trên.

            Hoạt động xã hội của Công đoàn tiếp tục được đẩy mạnh ở hầu hết các cấp Công đoàn, tập trung vào xây dựng quỹ “tương trợ Công đoàn” với 2 hình thức “tập thể tiết kiệm” và “tổ nhóm tiết kiệm”, nguồn quỹ này đến nay đã huy động được trên 5 tỷ đồng, đã giải quyết cho trên 10.000 lượt công nhân, viên chức, lao động vay mượn để khắc phục khó khăn, xây cất nhà cửa, mua sắm các trang thiết bị gia đình, phát triển kinh tế. Các hoạt động nhân đạo, từ thiện như đóng góp quỹ đền ơn đáp nghĩa, phụng dưỡng mẹ Việt Nam anh hùng, giúp trẻ mồ côi, tật nguyền có hòan cảnh khó khăn cũng được thực hiện tốt. Qua đó đã góp phần quan trọng trong việc xóa đói, giảm nghèo trong nhân dân và công nhân, viên chức, lao động. Qua các nguồn vốn quỹ quốc gia giải quyết việc làm, 5 năm qua Liên đoàn Lao động tỉnh đã xây dựng 18 dự án với tổng số vốn trên 5 tỷ đồng, giải quyết việc làm cho trên 4.000 lao động. Thông qua quỹ “Tấm lòng vàng” của Báo Lao động, Công đoàn đã trợ cấp khó khăn cho trên 500 đối tượng nghèo với số tiền gần 80 triệu đồng. Các hoạt động xã hội của Công đoàn đã góp phần làm cho nhân dân, người lao động hiểu và gắn bó hơn với Công đoàn, vị thế của tổ chức Công đoàn đối với xã hội được nâng lên.

            Phong trào “Xanh-sạch-đẹp", đảm bảo an tòan vệ sinh lao động tiếp tục được các cấp Công đoàn thường xuyên quan tâm chỉ đạo, thực hiện với nội dung, hình thức đa dạng, phong phú, điển hình là các hoạt động hưởng ứng tuần lễ quốc gia về an toàn vệ sinh lao động hàng năm đã góp phần nâng cao nhận thức cho người lao động và người sử dụng lao động về pháp luật và hiểu biết về an toàn vệ sinh lao động, phòng chống cháy nổ, thúc đẩy công tác bảo hộ lao động phát triển cả bề rộng và chiều sâu. Tuy nhiên, tình hình tai nạn lao động vẫn còn xảy ra gây thương tật và chết người.

4- Phong trào thi đua trong công nhân, viên chức, lao động được duy trì và có bước phát triển, diễn ra liên tục, rộng khắp, thu hút đông đảo công nhân, viên chức, lao động tham gia góp phần phát triển kinh tế xã hội của tỉnh nhà.

- Phát huy vai trò tiên phong của giai cấp công nhân, các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp đã phối kết hợp chặt chẽ với các cấp Công đoàn phát động sâu rộng trong cán bộ, công nhân, viên chức và người lao động phong trào thi đua "Lao động giỏi" với năng suất, chất lượng, hiệu qủa cao, về trước kế hoạch, đảm bảo an toàn vệ sinh lao động; phong trào “giỏi việc nước, đảm việc nhà” trong nữ công nhân lao động v.v… hàng năm đã thu hút trên 15.000 người đăng ký thi đua và có trên 70% trong số đó đạt danh hiệu “Lao động giỏi”, “Chiến sỹ thi đua” các cấp và các danh hiệu thi đua khác như “bàn tay vàng”, “thợ giỏi”, “người quản lý giỏi”. Chính vì vậy đã góp phần đẩy nhanh tỷ trọng cơ cấu kinh tế của lĩnh vực công nghiệp - tiểu thu công nghiệp và lĩnh vực thương mại - dịch vụ từ 13% năm 1990 lên 23% năm 2000. Nhiều đơn vị điển hình hàng năm hoàn thành vượt mức kế hoạch Nhà nước và nộp ngân sách cao như Công ty Thương nghiệp Cà Mau, Công ty chế biến thuỷ sản và xuất nhập khẩu Cà Mau, Công ty thuỷ sản Cái Đôi Vàm, Ngân hàng phát triển nông nghiệp, ngành Thuế, ngành Bưu điện tỉnh Cà Mau v.v…

- Phong trào "Lao động sáng tạo" đã có nhiều sáng kiến cải tiến kỹ thuật, đặc biệt có 35 đề tài, dự án khoa học cấp tỉnh được nghiên cứu và ứng dụng vào công tác và lao động sản xuất, góp phần tạo ra năng suất, chất lượng và hiệu quả cao như cách phòng và điều trị sốt rét của ngành Y tế, ứng dụng công nghệ sinh học vào sản xuất của ngành nông nghiệp, ứng dụng đờn ca tài tử vào sinh hoạt câu lạc bộ của ngành văn hóa thông tin v.v..

Qua các phong trào thi đua đã khơi dậy ý thức trách nhiệm, nhiệt tình cách mạng và những sáng kiến, sáng tạo, vượt qua khó khăn của công nhân, viên chức, lao động để thực hiện tốt kế hoạch sản xuất, công tác, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu kinh tế-xã hội của từng địa phương, đơn vị. Việc bình bầu các danh hiệu thi đua đã được khôi phục và đi vào thực chất hơn. Hàng năm số cá nhân và tập thể đạt danh hiệu “lao động giỏi”, “chiến sĩ thi đua” danh hiệu nữ “2 giỏi” ngày càng nhiều, nhiều tập thể và cá nhân được nhà nước phong tặng danh hiệu cao qúi như anh hùng lao động, nhà giáo ưu tú, thày thuốc ưu tú, nghệ sĩ ưu tú, chiến sĩ thi đua tòan quốc.

            Tuy phong trào thi đua có bước chuyển biến đáng kể, nhưng vẫn chưa theo kịp với yêu cầu của giai đoạn mới, còn tập trung trong khu vực nhà nước, phong trào thi đua trong các cơ quan hành chính sự nghiệp chưa rõ nét; chưa có mô hình, nội dung thi đua phù hợp với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Phong trào công nhân, viên chức, lao động và Công đoàn tham gia chống lãng phí, tham nhũng còn hạn chế.

- Công đoàn đã gắn hoạt động của mình với việc vận động công nhân thi đua lao động sản xuất thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội của ngành, của địa phương, đơn vị qua đó giải quyết việc làm, nâng cao đời sống của người lao động. Mặt khác tích cực phát triển các hoạt động xã hội, tăng cường đoàn kết tương thân tương ái, làm cho đoàn viên công đoàn và người lao động gắn bó với tổ chức công đoàn và cộng đồng xã hội.

5- Tham gia xây dựng Đảng và chính quyền các cấp:

             Trong nhiều năm qua, các cấp Công đoàn đã tích cực tuyên truyền, vận động, tổ chức cho công nhân, viên chức, lao động tham gia cuộc vận động xây dựng và chỉnh đốn Đảng theo Nghị quyết TW 6 (lần 2). Ngoài ra các cấp Công đoàn đã tổ chức lấy ý kiến của công nhân, viên chức, lao động đóng góp vào văn kiện đại hội Đảng các cấp, tham gia cải cách hành chính Nhà nước. Công đoàn còn tích cực đóng góp ý kiến cho sự lãnh đạo của Đảng, điều hành quản lý của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường, làm rõ vị trí, vai trò của giai cấp công nhân, tổ chức Công đoàn trong sự nghiệp công nhiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và trong khối đại đòan kết toàn dân; tham gia sắp xếp lại bộ máy, giảm biên chế trong cơ quan đơn vị, kiên quyết chống tham nhũng, tiêu cực, cải tiến lề lối làm việc trong các cơ quan Nhà nước. Công đoàn đã kiến nghị với Đảng tăng cường đào tạo, bồi dưỡng và phát triển Đảng trong giai cấp công nhân, 5 năm qua các cấp Công đoàn đã giới thiệu cho Đảng trên 5.000 đòan viên Công đoàn ưu tú, được kết nạp gần 2.400 người vào Đảng. 

            Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Công đoàn đã có sự chuyển biến, đội ngũ cán bộ Công đoàn cơ bản đã được đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ và kỹ năng công tác. Hàng năm Liên đoàn Lao tỉnh đã mở từ 2 đến 3 lớp tập huấn ngắn hạn cho cán bộ Công đoàn, tính đến nay đã có trên 80% cán bộ chuyên trách và 65% cán bộ Công đoàn bán chuyên trách được tập huấn, đào tạo về nghiệp vụ công tác Công đoàn. Tuy nhiên trong công tác này còn nhiều vấn đề đáng quan tâm như chưa luân chuyển được cán bộ Công đoàn, trình độ cán bộ Công đoàn nói chung còn yếu chưa theo kịp tình hình và đáp ứng được yêu cầu của người lao động; việc đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ kế thừa nhất là các chức danh chủ chốt chưa được quan tâm đúng mức.

6- Công tác tài chính và hoạt động kinh tế Công đoàn.

Các cấp Công đoàn đã thực hiện tốt việc thu, đăng nộp đoàn phí, đồng thời có nhiều cố gắng trong việc khai thác nguồn thu, đảm bảo đạt và vượt kế hoạch. Tổ chức chi tiêu đúng mục đích, có hiệu quả và tiết kiệm; tập trung kinh phí cho các phong trào thi đua, khen thưởng và các hoạt động xã hội; chú trọng hơn việc chi cho công tác tuyên truyền, giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, phát triển Công đoàn ngoài quốc doanh; tranh thủ được sự hỗ trợ của chính quyền và cơ quan tài chính các cấp.

            Mặc dù còn nhiều khó khăn về vốn và vướng mắc về cơ chế quản lý nhưng đơn vị kinh tế của Liên đoàn Lao động tỉnh đã rất cố gắng để tồn tại trong cơ chế thị trường và làm ăn có hiệu quả góp phần tăng thêm nguồn thu cho ngân sách Công đoàn, giải quyết việc làm ổn định cho trên 40 lao động. Nhiều công đoàn ngành, huyện, cơ sở có những hoạt động gây qũi, bổ sung nguồn kinh phí cho hoạt động và hỗ trợ một phần cho đời sống của cán bộ, nhân viên.

            Tuy còn tồn tại, hạn chế nhưng kết quả về công tác tài chính và hoạt động kinh tế Công đoàn cùng với sự hỗ trợ của Nhà nước và Công đoàn cấp trên đã cơ bản đảm bảo cho mọi hoạt động Công đoàn các cấp, góp phần xây dựng tổ chức Công đoàn ngày càng phát triển.

 

7- Công tác chỉ đạo, tổ chức thực hiện từng bước được đổi mới, sâu sát hơn với cơ sở và đáp ứng đòi hỏi của phong trào. Các cấp Công đoàn đã xây dựng và thực hiện khá tốt các chương trình, kế hoạch hàng năm với những nội dung, chỉ tiêu, biện pháp thực hiện cụ thể.

            Ban chấp hành và Ban thường vụ Liên đoàn Lao động tỉnh đã cụ thể hóa nghị quyết đại hội VI Công đoàn tỉnh thành các nghị quyết hàng năm, tổ chức nghiên cứu, điều tra, khảo sát thực tế để đánh gía chính xác tình hình và tìm giải pháp cho nhiều vấn đề của phong trào công nhân, viên chức, lao động và Công đoàn.

            Việc xây dựng, bổ sung, hoàn thiện các quy chế hoạt động của các cấp Công đoàn được chú trọng hơn, nhất là quy chế phối hợp với chính quyền cùng cấp; kiểm tra hoạt động của cấp dưới được tiến hành thường xuyên. Ban thường vụ Liên đoàn Lao động tỉnh đã tổ chức nhiều đợt kiểm tra, khảo sát ở cơ sở và trên cơ sở, duy trì được chế độ họp báo định kỳ, xây dựng lịch hoạt động hàng tuần, góp phần nâng cao hiệu quả chỉ đạo các mặt hoạt động của Công đoàn.

            Chế độ thông tin, báo cáo, công tác văn thư, lưu trữ trong hệ thống Công đoàn ngày càng được chú ý và từng bước đi vào nền nếp. Việc ứng dụng tin học đã góp phần phục vụ tốt hơn cho công tác chỉ đạo điều hành của cơ quan Liên đoàn Lao động tỉnh.

8- Những mô hình thực tế:

            8.1- Công tác tuyên truyền giáo dục trong công nhân, viên chức, lao động ở thành phố Cà Mau

Mô hình này là một trong 3 chức năng quan trọng của Công đoàn, Liên đoàn Lao động Cà Mau đã tổ chức thực hiện một cách khá bài bản.

- Về nội dung: chủ động xác định có 4 mảng vừa là nội dung sinh hoạt học tập định kỳ vừa thường xuyên cập nhật nội dung mới, đó là:

            + Tuyên truyền giáo dục Nghị quyết Đảng các cấp;

            + Tuyên truyền giáo dục pháp luật;

            + Tuyên truyền giáo dục Nghị quyết Công đoàn cấp trên;

            + Giáo dục truyền thống, văn hóa.

- Về hình thức tổ chức cũng khá đa dạng. Mỗi nội dung sinh hoạt học tập thường ứng với loại hình thích hợp như học tập trung, đọc nghiên cứu tài liệu, hỏi đáp, sinh hoạt câu lạc bộ, hái hoa dân chủ, thi tìm hiểu, sáng tác, hoặc trực quan hơn như cổ động, panô, áp phích v.v..

- Biện pháp tập hợp được liên kết theo cụm, lĩnh vực, ngành đông thì từng cơ sở, nhiều khi cấp trên tổ chức cơ sở chỉ bố trí người dự. Cán bộ tuyên truyền được mời từ chuyên ngành như Tuyên giáo, Tư pháp, Văn hóa thông tin, y tế, trường chính trị, Công đoàn cấp trên và một số ngành khác, v.v..

- Kết qủa của công tác giáo dục, cơ bản đã truyền đạt được các chủ trương Nghị quyết, pháp luật đến công nhân, viên chức, lao động nên đa số được nâng lên về nhận thức, về chấp hành chủ trương, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

* Kinh nghiệm rút ra:

- Ban Thường vụ Liên đoàn Lao động nhiệt tình, chủ động có kế hoạch tham mưu kịp thời cho cấp ủy Đảng lãnh đạo thống nhất về chủ trương. Khi tiến hành có sự phối kết hợp với các cơ quan, ban ngành đoàn thể và cộng tác viên. Biết tận dụng phương tiện hiện có để hoạt động và có sự ủng hộ của các cơ quan thông tin đại chúng để tuyên truyền.

- Xây dựng được qui chế thi đua, biết gắn kết giữa nội dung giáo dục với củng cố xây dựng cơ sở vững mạnh và thực hiện các phong trào thi đua đã phát động.

Tuy nhiên sự vận dụng mô hình này vào địa phương cơ quan đơn vị khác cũng có khó khăn nhất định như: việc tập hợp lao động trong các nghiệp đoàn, ở các cơ sở ít người, hoặc nội dung - hình thức sinh hoạt hay bị nhàm chán, khô cứng.

8.2- Công đoàn tham gia phát triển sản xuất, chăm lo đời sống và bảo vệ lợi ích của công nhân ở Công ty Thương nghiệp Cà Mau.

Mô hình này giải quyết 2 vấn đề cơ bản là Công đoàn tham gia quản lý kinh tế, phát triển sản xuất, giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập và Công đoàn với việc bảo vệ quyền lợi chính đáng cho công nhân. 

- Ưu điểm lớn nhất của Công đoàn Công ty là biết khơi dậy trong công nhân luôn tìm tòi suy nghĩ, có sáng kiến mới, kinh nghiệm hay trong sản xuất - kinh doanh, tiếp thị để tham mưu hiến kế cho giám đốc có kế hoạch phát triển sản xuất – kinh doanh. Trong cơ chế thị trường cạnh tranh nghiệt ngã, nhất là giai đoạn đầu thời kỳ đổi mới, Công ty từ chỗ khó khăn nợ nần đã từng bước trụ vững và phát triển đi lên với tốc độ tăng trưởng cao. Sau 10 năm thu nhập của doanh nghiệp và của công nhân tăng gấp nhiều lần. Đây là sự nỗ lực rất lớn của toàn thể cán bộ, công nhân trong Công ty.

- Công ty đã giải quyết hài hòa lợi ích giữa phát triển doanh nghiệp với chế độ lương – thưởng làm động lực trực tiếp khuyến khích người lao động hăng hái thi đua hoàn thành tốt nhiệm vụ. Vai trò Công đoàn ở đây được khẳng định khá rõ nét từ việc cùng giám đốc xây dựng kế hoạch, phát động phong trào thi đua thực hiện nhiệm vụ đến việc chăm lo bảo vệ quyền lợi cho công nhân. Sự tác động qua lại đó càng tôn vinh vai trò Công đoàn, nó phát sinh nhiệm vụ cho Công đoàn nhiều hơn, thường xuyên hơn, càng thúc đẩy các hoạt động Công đoàn làm tăng mối quan hệ gắn kết của công nhân với tổ chức Công đoàn.

*- Kinh nghiệm rút ra:

- Đây là bài học về dân chủ, bởi vì giám đốc biết phát huy sáng kiến và lắng nghe ý kiến công nhân; biết đoàn kết thống nhất ý chí để hành động vượt qua khó khăn; biết phát huy vai trò lãnh đạo tập thể: Đảng ủy, Ban giám đốc, Công đoàn, Đoàn thanh niên.

- Sự năng động, sáng tạo, nhạy bén trong kinh doanh, tiếp thị; xây dựng được qui chế thi đua, chính sách động lực phù hợp để kích thích lao động sáng tạo của công nhân.

8.3- Công đoàn tham gia quản lý sản xuất và phát động phong trào thi đua học tập, lao động sáng tạo ở Công ty Chế biến thủy sản và xuất nhập khẩu Cà Mau.

            - Mô hình này đã nêu lên được vấn đề cơ bản các kết quả phong trào của công nhân lao động và hoạt động của Công đoàn trong việc:

                        + Tham gia xây dựng kế hoạch, quản lý sản xuất kinh doanh;

                        + Tham gia sắp xếp tổ chức, đào tạo nâng cao kiến thức và tay nghề;

                        + Tham gia xây dựng đơn giá tiền lương;

                        + Tham gia quản lý, sử dụng quỹ phúc lợi;

                        + Tham gia công tác bảo hộ lao động;

                        + Phong trào thi đua lao động giỏi “năng suất, chất lượng, hiệu qủa”.

            - Ưu điểm của mô hình này là phát huy được vai trò của Công đoàn tham gia cùng chính quyền, Đảng ủy, Đoàn thanh niên để tạo điều kiện và động viên cán bộ, công nhân tích cực lao động sáng tạo, không ngừng nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm để xuất khẩu và mở rộng thị trường. Kết quả sản xuất năm 2001 so với năm 1989 thì doanh thu tăng 90 lần, lợi nhuận tăng 27 lần, xuất khẩu tăng hơn 4 lần.

            - Vấn đề đặt ra vai trò của Công đoàn tham gia xây dựng đơn gía tiền lương như thế nào, cũng như việc giải quyết các chế độ chính sách cho người lao động. Vì phát triển của doanh nghiệp tăng trưởng như trên nhưng thu nhập của người lao động còn thấp – chỉ tăng 2,2 lần so với 12 năm về trước.


8.4- Mô hình xây dựng Công đoàn cơ sở, nghiệp đoàn vững mạnh ở huyện Cái Nước.

(Xem phần sau)


            III- Những hạn chế

Trong quá trình phát triển nói trên do hoàn cảnh lịch sử chi phối, do nền kinh tế nhiều thành phần trong chặng đường đầu của thời kỳ quá độ, tác động tạo nên sự biến động thường xuyên, ngày càng đa dạng, phức tạp, không thuần nhất với cơ cấu, số lượng, chất lượng làm cho giai cấp công nhân đang có sự yếu kém về nhiều mặt và sự phân hoá không thuần nhất giữa các bộ phận. Thực trạng này được phản ánh trên các bình diện như sau:

- Hệ thống cơ chế chính sách về xây dựng giai cấp công nhân chưa đầy đủ và nhất quán từ Trung ương tới cơ sở nên chưa tạo được sự phối hợp đồng bộ, thống nhất giữa sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước và phát huy vai trò của các tổ chức quần chúng tham gia vào việc xây dựng giai cấp công nhân và tổ chức Công đoàn.

- Chậm đổi mới và ban hành các chủ trương, chính sách, tạo động lực trực tiếp cho công nhân, viên chức, lao động phát triển như chính sách tiền lương, chính sách tự do luân chuyển lao động, chính sách trọng dụng trí thức và nhân tài, chính sách đào tạo bồi dưỡng, chính sách dạy nghề, qui chế dân chủ (dân chủ theo nghĩa thực sự). Mặt khác việc tổ chức quản lý, tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách đã có chưa tốt, chưa nghiêm.

- Công tác chỉ đạo, kiểm tra giám sát việc thực hiện những chính sách đối với công nhân, viên chức, lao động chưa được thường xuyên và quan tâm đúng mức. Năng lực của một số cán bộ Công đoàn còn hạn chế, nhất là việc am hiểu pháp luật, chủ trương chính sách nên thiếu chủ động hoặc lúng túng khi đứng trước sự việc cần tư vấn, hướng dẫn và bảo vệ quyền lợi cho công nhân.

- Công tác tổ chức và hoạt động của Công đoàn chậm đổi mới, thiếu các mô hình thực tiễn để áp dụng phù hợp với từng đơn vị, từng tình hình thực tế. Hiện tại nhiều Công đoàn cơ sở hoạt động cầm chừng, hoặc tồn tại trên danh nghĩa, khi đơn vị có xảy ra vấn đề gì mới gọi đại diện Công đoàn dự. Công tác tuyên truyền giáo dục nâng cao giác ngộ giai cấp, ý thức tổ chức kỷ luật, tác phong trong công nghiệp cho công nhân lao động chưa được các ngành, các cấp quan tâm đúng mức. Việc tổng kết thực tiễn phong trào công nhân chưa được coi trọng, do đó chưa đề ra được chương trình, kế hoạch toàn diện và phù hợp để thực hiện có kết qủa.

- Công tác cán bộ, nhất là việc qui hoạch - đào tạo - bồi dưỡng - cất nhắc chưa được coi trọng, chưa thực hiện đúng qui trình nên việc điều động phân công, bổ nhiệm bị hẫng hụt, chắp vá, trái nghề, thiếu hợp lý làm ảnh hưởng đến tư tưởng cán bộ công chức cũng như năng lực điều hành của cán bộ thẩm quyền.

- Công đoàn còn chậm xây dựng cơ chế phối hợp với các ban, ngành, đoàn thể để tập hợp trí tuệ của cán bộ đoàn viên công đoàn, các chuyên gia trong từng lĩnh vực nhằm tham gia có hiệu quả với cơ quan Nhà nước trong việc xây dựng, bổ sung, sửa đổi các chế độ, chính sách, pháp luật có liên quan đến nghĩa vụ, quyền lợi của công nhân viên chức, lao động. Chưa có nhiều đề xuất ngang tầm với vai trò vị trí của tổ chức Công đoàn trong việc giải quyết các vấn đề kinh tế-xã hội, cũng như trong việc nâng cao đời sống cho công nhân, viên chức. Chưa thực hiện tốt chức năng kiểm tra giám sát hoạt động của cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế về việc thực hiện các chính sách theo qui định của pháp luật đối với công nhân lao động.

- Trình độ văn hoá tay nghề thấp và không đồng đều, mất cân đối giữa các bộ phận công nhân. Trình độ kỹ thuật, kiến thức quản lý kinh tế, khả năng nghề nghiệp của công nhân còn thấp so với yêu cầu của cuộc cách mạng kỹ thuật - công nghệ trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và những yêu cầu của nền sản xuất hàng hoá hiện đại. Tình trạng thừa lao động giản đơn, thiếu lao động có trình độ chuyên môn cao đang diễn ra phổ biến. Theo số liệu điều tra cho thấy xu hướng công nhân có tay nghề, trình độ đại học có tăng, song trình độ công nhân thuộc loại lao động giản đơn và thợ bậc thấp vẫn chiếm tỷ lệ cao. Tình hình chung công nhân lành nghề ở Cà Mau do gắn với khu vực kinh tế chậm phát triển nên chưa đáp ứng được yêu cầu công nghiệp hoá - hiện đại hoá.

- Vai trò làm chủ của công nhân lao động trên các lĩnh vực của đời sống xã hội chưa cao, nhất là trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh. Một phần do công nhân chưa có thói quen và năng lực làm chủ. Mặt khác lãnh đạo một số cơ quan, giám đốc một số doanh nghiệp chưa tôn trọng vai trò của Công đoàn và quyền làm chủ của công nhân; chưa gương mẫu để công nhân noi theo, có khi còn tha hóa đạo đức, vi phạm pháp luật. Có trường hợp lãnh đạo bảo thủ trù dập công chức, cắt lương, cho nhân viên thôi việc một cách tùy tiện nhưng không bị kiểm điểm, xử lý.

- Một bộ phận công nhân lao động, trình độ chính trị, phẩm chất đạo đức, ý thức tổ chức, kỷ luật lao động kém, mắc tệ nạn như cờ bạc, mê tín dị đoan; chưa chấp hành tốt đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, làm ăn tuỳ tiện, không tôn trọng các qui trình, qui tắc, thiếu tính tổ chức, kỷ luật trong lao động công nghiệp. Tỷ lệ đảng viên trong công nhân còn thấp; hiện tượng tham ô, nhũng nhiễu, hối lộ, lợi dụng sơ hở của chính sách làm giàu bất chính vẫn diễn ra ở nhiều nơi; đã xuất hiện tâm lý coi thường kỷ cương, đạo đức nhân phẩm, làm đủ mọi việc miễn là có lợi cho bản thân.

* Nguyên nhân của những tồn tại hạn chế:

- Bên cạnh những mặt tốt của kinh tế thị trường nhưng với sức mạnh tự phát của nó đã khuyến khích chủ nghĩa cá nhân, lối sống thực dụng, chỉ coi trọng giá trị vật chất mà coi nhẹ giá trị tinh thần; chỉ coi trọng lợi ích cá nhân mà coi nhẹ lợi ích cộng đồng; chỉ coi trọng lợi ích trước mắt mà coi nhẹ lợi ích cơ bản, lâu dài. Ở góc độ khác, mặt trái của cơ chế thị trường là nạn thất nghiệp, sự phân hóa giàu nghèo, tệ nạn xã hội và sự phá hoại môi trường sinh thái. Những điều đó tác động tiêu cực đến đời sống con người là nguyên nhân tác động đến những tồn tại, nhược điểm của công tác xây dựng giai cấp công nhân và hoạt động của tổ chức Công đoàn.

- Trong quá trình chuyển sang kinh tế thị trường đã có những biểu hiện coi nhẹ vị trí, vai trò của giai cấp công nhân, coi nhẹ việc chăm lo đến những lợi ích của công nhân, viên chức, lao động. Thường phó mặc cho cơ chế thị trường như chính sách về nhà ở, về đào tạo - dạy nghề, về tuyển dụng lao động.

- Vai trò lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng, hiệu lực quản lý của Nhà nước, sự phối hợp hoạt động giữa Công đoàn với cơ quan Nhà nước, với ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân chưa cao, chưa theo kịp với tình hình thực tế nên chưa đem lại hiệu quả cao.

- Nhà nước còn chậm điều tiết một số chính sách nên chưa tạo sự công bằng bình đẳng trong giai cấp công nhân, nhất là về tiền lương, thu nhập, chi phí công tác làm việc của lãnh đạo, giám đốc. Tình trạng luân chuyển cán bộ, công chức không theo qui trình, không có qui định cụ thể đã tạo nên những tiêu cực, trì trệ trong lãnh đạo quản lý ở các cấp.

- Năng lực, phẩm chất của một số cán bộ Đảng, chính quyền, các tổ chức quần chúng chưa tương xứng với yêu cầu của nhiệm vụ. Tình trạng tiêu cực, tham nhũng chưa được xử lý, giải quyết kịp thời, làm ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động và giảm lòng tin của quần chúng đối với bộ máy lãnh đạo.

- Hoạt động của Công đoàn các cấp và đội ngũ cán bộ còn bộc lộ nhiều mặt hạn chế, non kém; sự phối hợp hoạt động với các cơ quan Nhà nước, mặt trận và các đoàn thể nhân dân chưa đồng bộ, chưa tạo được sức mạnh tổng hợp phát huy hết vai trò của công nhân lao động trong phong trào quần chúng để thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng giai cấp công nhân.

 

IV- Những bài học kinh nghiệm về xây dựng và phát huy vai trò công nhân, viên chức, lao động và tổ chức Công đoàn

- Từ kết qủa nghiên cứu và đánh gía trên có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm nhằm phát huy vai trò của tổ chức công đoàn trong giai đoạn cách mạng mới.

1- Chăm lo xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh, không ngừng giữ vững và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng trong hệ thống chính trị; giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước với các đoàn thể nhân dân, nêu cao vai trò đầu tàu gương mẫu của cán bộ - đảng viên. Trong kế hoạch công tác thường xuyên của mình các chi bộ Đảng, các cấp ủy Đảng coi trọng công tác phê bình, tự phê bình, công khai hóa các vấn đề về tài chính - tài sản có liên quan nhằm hạn chế những tiêu cực, rèn luyện phẩm chất đạo đức năng lực công tác cho đảng viên; qua đó xây dựng cơ sở Đảng trong sạch, vững mạnh.

2- Đảng cần phải thường xuyên quan tâm xây dựng và củng cố khối liên minh công nhân, nông dân, trí thức ngày càng vững chắc. Giai cấp công nhân muốn có sức mạnh, muốn giữ được vai trò lãnh đạo cách mạng phải liên minh chặt chẽ được với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức, không liên minh được với nông dân và trí thức thì không thể có sức mạnh về lực lượng cũng như trí tuệ. Xây dựng khối liên minh công nhân, nông dân, trí thức còn là nền tảng của khối đại đoàn kết toàn dân, là một trong những yếu tố có ý nghĩa quyết định đảm bảo cho cách mạng thành công. Do vậy củng cố khối liên minh công - nông - trí thức mà giai cấp công nhân là nòng cốt thực chất là củng cố xây dựng giai cấp công nhân vững mạnh về lực lượng và trí tuệ.

3- Quan tâm lãnh đạo xây dựng tổ chức Công đoàn vững mạnh. Công đoàn là một tổ chức chính trị - xã hội rộng lớn của giai cấp công nhân và của người lao động, là thành viên của hệ thống chính trị. Công đoàn có chức năng đại diện chăm lo bảo vệ các quyền lợi hợp pháp chính đáng của người lao động, tham gia quản lý Nhà nước và xã hội, tham gia kiểm tra giám sát hoạt động của Nhà nước, tổ chức kinh tế, giáo dục động viên công nhân viên chức lao động phát huy quyền làm chủ, thực hiện nghĩa vụ công dân, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Bởi vậy chăm lo xây dựng tổ chức Công đoàn vững mạnh thực chất là chăm lo xây dựng giai cấp công nhân vững mạnh, chăm lo xây dựng hệ thống chính trị của dân, do dân, vì dân. Nên việc xây dựng tổ chức Công đoàn vững mạnh phải là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước và cả hệ thống chính trị. Mặt khác bản thân tổ chức Công đoàn phải tự vươn lên, hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ của mình được pháp luật thừa nhận, được công nhân lao động ủy quyền. Quan tâm đặc biệt đến việc bồi dưỡng, đào tạo đội ngũ cán bộ Công đoàn có đủ phẩm chất chính trị, năng lực công tác, kiến thức xã hội, am hiểu pháp luật để đại diện và lãnh đạo công nhân.

4- Tổ chức tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng, đào tạo bồi dưỡng nâng cao trình độ văn hóa, chuyên môn nghiệp vụ cho công nhân viên chức, lao động. Giai cấp công nhân vững mạnh là giai cấp phát triển về số lượng, giác ngộ về giai cấp, trình độ học vấn, tay nghề cao, có năng lực ứng dụng và sáng tạo công nghệ mới, có tác phong công nghiệp và ý thức tổ chức kỷ luật, lao động đạt năng suất chất lượng cao. Muốn vậy cần phải thường xuyên giáo dục chính trị tư tưởng trong công nhân, phải đổi mới nội dung và đa dạng hóa các hình thức phương pháp và biện pháp giáo dục: lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hoạt động. Xây dựng cho giai cấp công nhân lập trường tư tưởng vững vàng, ý chí quyết tâm vươn lên thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu, xây dựng bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Phải thường xuyên quan tâm đến công tác đào tạo, bồi dưỡng và không ngừng nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng trình độ học vấn, tay nghề cho công nhân để giai cấp công nhân có đầy đủ năng lực, điều kiện thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình.

5- Xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách kinh tế - xã hội, quan tâm tới đời sống vật chất và tinh thần của công nhân, tạo động lực cho giai cấp công nhân phát triển, đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn mới, phải tạo được động lực mới. Hiện nay động lực trực tiếp của công nhân là lợi ích vật chất, lợi ích tinh thần. Động lực của giai cấp công nhân là dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Đó chính là lợi ích cơ bản của dân tộc và của cả giai cấp công nhân. Xây dựng, hoàn thiện chính sách kinh tế - xã hội đúng đắn, quan tâm đến đời sống vật chất tinh thần của công nhân, làm cho người lao động gắn bó với Công đoàn, với cơ quan, doanh nghiệp, tin tưởng ở sự lãnh đạo của Đảng, sẵn sàng cống hiến hết sức mình vì sự phồn vinh của đất nước, vì hạnh phúc của nhân dân.

 

 PHẦN III

 

PHƯƠNG HƯỚNG XÂY DỰNG VÀ PHÁT HUY VAI TRÒ

CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN VÀ TỔ CHỨC CÔNG ĐOÀN

TỈNH CÀ MAU TỪ NAY ĐẾN NĂM 2010.

 

I- Yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và xu hướng phát triển của công nhân, viên chức, lao động

1- Yêu cầu:

Đại hội IX Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra "Đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển; nâng cao rõ rệt đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Nguồn lực con người, năng lực khoa học và công nghệ, kết cấu hạ tầng, tiềm lực kinh tế, quốc phòng, an ninh được tăng cường; thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được hình thành về cơ bản; vị thế của nước ta trên trường quốc tế được nâng cao" [1].

            Thực hiện mục tiêu trên đòi hỏi khối đoàn kết dân tộc, lấy liên minh giai cấp công nhân, nông dân và tầng lớp trí thức làm nền tảng, xây dựng tình đoàn kết tin cậy lẫn nhau, nhằm phát huy sức mạnh của cả cộng đồng dân tộc.

            Đối với giai cấp công nhân đòi hỏi phải có đội ngũ đông về số lượng, vững vàng về lập trường giai cấp, giỏi về chuyên môn nghiệp vụ và có ý thức tổ chức kỷ luật. Tuy nhiên đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng XHCN cần phải nhận thức được xu hướng phát triển giai cấp công nhân.

2- Dự báo xu hướng phát triển nền công nghiệp và công nhân, viên chức, lao động tỉnh Cà Mau đến năm 2010:

2.1- Xu hướng phát triển kinh tế - xã hội và nền công nghiệp tỉnh Cà Mau.

2.1.1- Phương hướng nhiệm vụ: xu hướng chung trong chỉ đạo phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong vòng 5 đến 10 năm tới là: phát huy sức mạnh toàn dân, khai thác tốt các nguồn lực, nhất là các nguồn nội lực để tăng trưởng kinh tế với nhịp độ cao và bền vững, từng bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế một cách phù hợp với tiềm năng và yêu cầu phát triển của tỉnh. Tăng trưởng kinh tế gắn liền với từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; xây dựng xã hội lành mạnh, công bằng dân chủ, văn minh; bảo vệ vững chắc quốc phòng an ninh.

- Nhiệm vụ cụ thể: Phấn đấu tăng trưởng kinh tế với nhịp độ cao hơn giai đoạn 1990 - 2000, chú trọng phát triển nhanh các lĩnh vực thủy sản, chế biến xuất khẩu, xây dựng khu công nghiệp Khí - điện - đạm để tăng tích lũy cho nền kinh tế. Đẩy mạnh phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn, tiếp tục chuyển dịch cơ cấu sản xuất ngư nông lâm nghiệp, phát triển các sản phẩm có thị trường ổn định, có hiệu quả cao để tăng thu nhập trên một đơn vị diện tích và tăng thu nhập để nâng cao đời sống nhân dân. Tập trung đầu tư đúng mức cho chương trình nuôi trồng thủy sản và chế biến xuất khẩu, làm động lực thúc đẩy nền kinh tế tỉnh.

Huy động các nguồn lực đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội, trọng tâm là đường giao thông, lưới điện, hệ thống trường đào tạo… tạo tiền đề để phát triển nhanh hơn. Tăng thu ngân sách, từng bước giảm dần tỷ lệ bù chi của ngân sách trung ương. Ưu tiên chi cho lĩnh vực đầu tư phát triển, phấn đấu chi cho đầu tư xây dựng cơ bản trên 30% tổng dự toán chi hàng năm.

Tăng cường xã hội hóa các lĩnh vực giáo dục đào tạo, y tế, văn hóa thể thao và các dịch vụ công. Đẩy mạnh phong trào xây dựng gia đình văn hóa, khóm ấp văn hóa, phát huy và mở rộng dân chủ cơ sở. Coi trọng chiến lược đào tạo nguồn nhân lực để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Giải quyết kịp thời những vấn đề xã hội bức xúc như việc làm, xoá đói giảm nghèo, nước sinh hoạt. Đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ để nâng cao năng suất, chất lượng hiệu qủa, tăng khả năng cạnh tranh các sản phẩm, nhất là công nghệ thông tin, công nghệ sinh học; hình thành khu công nghiệp phần mềm của tỉnh. Kết hợp chặt chẽ nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội với củng cố quốc phòng an ninh.

- Căn cứ Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Cà Mau giai đoạn 2000 - 2010 và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XII; dự báo GDP giai đoạn 2001 - 2010 như sau:

Chỉ tiêu

Phương án I (%)

Phương án II (%)

 

2000

2005

2010

2000

2005

2010

1- Nhịp độ tăng GDP

10,57

12,00

16,00

10,57

13,00

18,00

2- Cơ cấu GDP

100,0

100,0

100,0

100,0

100,0

100,0

 - Nông lâm ngư nghiệp

59,95

54,50

24,50

59,95

50,00

20.00

 - Công nghiệp-xây dựng

20,73

25,30

60,00

20,73

32,00

65,00

 - Dịch vụ

19,32

20,20

15,50

19,32

18,00

15,00



Tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) tăng bình quân hàng năm khoảng 12%.  Khi dự án Khí - điện - đạm hoạt động đúng tiến độ (đầu năm 2005) thì GDP trên địa bàn tỉnh có thể tăng khoảng 16% và kinh tế công nghiệp xây dựng có thể chiếm tỷ trọng khoảng 32% năm 2005;  65% năm 2010.

 Giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh tăng bình quân hàng năm 20,5%. Nếu dự án Khí - điện - đạm Cà Mau đi vào hoạt động đúng tiến độ dự kiến thì mức tăng bình quân hàng năm có thể đạt 30%.

 Giá trị sản xuất ngư nông lâm nghiệp tăng bình quân hàng năm 13,6%. Trong đó giá trị sản xuất thủy sản tăng bình quân 18%.

 Giá trị dịch vụ tăng bình quân hàng năm 14 - 14,5%.

 Kim ngạch xuất khẩu năm 2005 phấn đấu đạt  550 triệu USD, năm 2010 phấn đấu đạt  900 triệu USD.

 Giải quyết việc làm bình quân 20.000 người/năm.

           Để đạt được các chỉ tiêu trên, dự báo ngành công nghiệp cần đạt tới mục tiêu trong vòng 10 năm tới là:

• Khai thác có hiệu quả các nguồn tài nguyên hiện có gồm thủy hải sản, nguyên liệu từ nông sản, tài nguyên trong lòng đất v.v... Nâng cao giá trị chế biến bằng trang bị thiết bị dây chuyền công nghệ tiên tiến để tinh chế hàng xuất khẩu, đa dạng hoá mẫu mã sản phẩm, cải tiến bao bì, đóng gói, nghiên cứu maketing ... công nghiệp cần đáp ứng yêu cầu cao nhất của nhiệm vụ phát triển kinh tế biển và nuôi trồng thủy sản một thế mạnh đặc thù của tỉnh.

Thực hiện nhanh việc đầu tư xây dựng dự án khu công nghiệp Khí - điện - đạm và hạ tầng dịch vụ cho khu công nghiệp, đảm bảo cho nhà máy điện, phân đạm đi vào hoạt động đúng tiến độ; mở rộng việc xây dựng thêm một số nhà máy sử dụng nguyên liệu từ khí như công nghiệp hóa chất, khí hóa lỏng, vật liệu mới v.v..

            Nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm công nghiệp, hội nhập với thị trường ASEAN và thế giới. Khả năng cạnh tranh bao gồm nhiều yếu tố trước hết là chất lượng, giá cả, mẫu mã và uy tín đối với khách hàng; nhưng yếu tố chi phối nhất là năng suất lao động. Do đó cần từng bước chuyển dịch cơ cấu nội bộ các ngành công nghiệp theo hướng vừa tạo sự chuyển dịch từ công nghệ thấp, từng bước chuyển sang công nghệ cao, tạo khả năng nâng cao năng suất, chất lượng hàng hóa cùng với đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật, công nhân lành nghề. Từng bước hình thành các ngành công nghiệp có lợi thế so sánh động, các ngành có công nghệ cao.

            Phát triển công nghiệp nhằm góp phần tích cực vào công nghiệp hoá nông nghiệp và nông thôn. Hỗ trợ cho việc phát triển công nghiệp nông thôn và các dịch vụ cho sản xuất nuôi trồng thủy sản, nông nghiệp, lâm nghiệp phát triển và hiện đại hoá các ngành nghề truyền thống, thực hiện chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế - xã hội nông thôn.

            Về mục tiêu định lượng nhằm phấn đấu góp phần thực hiện mục tiêu trong quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội, GDP bình quân đầu người năm 2010 tăng gấp hơn 3 lần so với năm 2000 (có nghĩa tổng GDP sẽ là 21.600 tỷ đồng so với 5.859 tỷ hiện nay). Đến năm 2010 tỷ trọng giá trị gia tăng công nghiệp trong GDP đạt khoảng 60 đến 65% (so với 20,73% năm 2000).

Cơ cấu ngành công nghiệp đến năm 2010

Chuyên ngành

Năm 2000

2005

2010

I- Tổng GDP (tỷ đồng) gía thực tế

5.859

10.307

21.600

II- GDP ngành công nghiệp, xây dựng (tỷ đ)

1.221

2.9300

13.500

1- Công nghiệp chế biến lương thực thực phẩm

91,40%

60,50%

35,00%

2- Công nghiệp điện

 2,10%

4,00%

30,00%

3- Công nghiệp dược liệu, hoá chất, phân đạm

0,87%

1,50%

26,00%

4- Công nghiệp chế biến gỗ, lâm sản

0,88%

1,00%

0,50%

5- Công nghiệp cơ khí, sửa chữa

2,04%

2,50%

1,50%

6- Công nghiệp xây dựng

1,72%

28,00%

4,50%

7- Công nghiệp khác

1,80%

2,50%

2,50%



Giai đoạn 2001 - 2005: khả năng tốc độ tăng GDP của tỉnh bình quân 12%/năm. Tỷ trọng GDP công nghiệp năm 1996 chiếm 16,41%, đến năm 2000 chiếm 20,73%; dự báo giai đoạn 2001 - 2005 GDP công nghiệp phát triển với tốc độ bình quân 16 - 18% là hợp lý và có cơ hội bứt lên trên mức trung bình của cả nước. Năm 2000 đạt kim ngạch xuất 232 triệu USD, phấn đấu đến năm 2005 xuất khẩu 550 triệu USD. Trong cơ cấu ngành công nghiệp cũng phải có sự chuyển dịch, ngành chế biến lương thực - thực phẩm vẫn là ngành công nghiệp chủ lực, then chốt của tỉnh chiếm tỷ trọng 60,5% trong cơ cấu ngành vào năm 2005. Đặc biệt là công nghiệp xây dựng phát triển nhanh trong giai đoạn này vì dự án khu công nghiệp Khí - điện - đạm có tổng vốn đầu tư lớn được triển khai thực hiện từ năm 2002 đến năm 2005 nên chiếm tỷ trọng từ 1,72 lên 28%. Công nghiệp điện và các ngành công nghiệp khác cũng phát triển nâng dần tỷ trọng lên gấp đôi năm 2000.

           Giai đoạn 2006 - 2010: Đây là thời kỳ có tốc độ phát triển nhảy vọt do khu công nghiệp Khí - điện - đạm hoàn thành đi vào hoạt động. Theo qui mô của dự án với tổng vốn đầu tư khoảng 20.000 tỷ đồng; công suất nhà máy điện 720 MW. Nhà máy phân đạm 800.000 tấn/năm; ngoài ra còn một số ngành công nghiệp khác như khí hóa lỏng, hoá chất từ khí, vật liệu mới từ khí v.v.. sẽ làm cho tăng trưởng GDP bình quân hằng năm khoảng 16%. Tỷ trọng GDP công nghiệp năm 2010 chiếm 65%. Kim ngạch xuất khẩu bình quân đạt khoảng 750 triệu USD/ năm. Cơ cấu ngành cũng có sự điều chỉnh. Ngành chế biến thủy sản - lương thực thực phẩm tuy vẫn phát triển nhưng giảm dần đến tỷ trọng 35%. Các ngành khác phát triển chiếm tỷ trọng cao là công nghiệp hóa chất, phân đạm chiếm 26%; công nghiệp điện chiến 30%; các ngành khác vẫn phát triển nhưng giảm tỷ trọng xuống thấp như xây dựng, cơ khí sửa chữa, chế biến gỗ-lâm sản v.v... do công nghiệp điện, hóa chất phát triển nhanh.

2.1.2- Định hướng phát triển một số ngành công nghiệp chủ yếu:

* Công nghiệp chế biến thuỷ sản: Đây là ngành công nghiệp chủ lực và có lợi thế lớn của Cà Mau. Trong giai đoạn 2001 - 2005 tập trung nguồn lực cho phát triển công nghiệp chế biến thuỷ sản theo hướng đầu tư chiều sâu, thay đổi công nghệ gắn liền với tăng cường quản lý chất lượng, nâng cao khả năng cạnh tranh để mở rộng thị trường xuất khẩu.

Dự báo về sản lượng, khả năng chế biến nguyên liệu và lao động đến năm 2010

TT

Chỉ tiêu dự báo

Đ.v.t

2000

2005

2010

 

 

 

 

 

 

1-

Tổng sản lượng thuỷ sản

Tấn

197.837

270.000

350.000

 

- Trong đó tôm

-

49.200

113.000

150.000

2

Dự báo chế biến thành phẩm

-

37.500

90.000

140.000

 

- Trong đó chế biến xuất khẩu

-

27.070

60.000

100.000

3

Dự báo lao động chế biến

Người

12.300

18.000

23.000

 

* Về dự án khu công nghiệp Khí - điện - đạm Cà Mau.

            Căn cứ quyết định số 776/QĐ-TTg ngày 26 tháng 6 năm 2001 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch chung khu Khí - điện - đạm Cà Mau tỉnh Cà Mau thì sản lượng khí khai thác từ cuối năm 2004 khoảng từ 1,2 đến 1,4 tỷ m3 /năm, việc chuyển khí về phải xây dựng đường ống dẫn khí PM-3/Cà Mau dài trên 300 km. Nhà máy điện công suất 720 MW. Nhà máy đạm công suất ban đầu khoảng 800.000 tấn/năm. Cụm công nghiệp sử dụng nguồn khí áp thấp và công nghiệp địa phương, gồm: khu công nghiệp khí hóa lỏng; công nghiệp hóa chất lấy khí làm nguyên liệu; công nghiệp vật liệu xây dựng và côngnghiệp chế biến nông, thủy sản sử dụng khí thấp áp là nguồn nhiên liệu. Ngoài ra còn có một số công trình phụ trợ khác gồm hệ thống hạ tầng kỹ thuật và dịch cụ công cộng.

Ở đây muốn đề cập đến một sự kiện làm thay đổi nền công nghiệp và là động lực cho kinh tế Cà Mau phát triển nhảy vọt trong giai đoạn tới. Vai trò và ý nghĩa của nó trong tương lai sẽ là:

Về kinh tế: Qui mô xây dựng nhà máy nhiệt điện công suất 720 MW, khả năng cung cấp điện hàng năm 6,2 tỷ kwh, đóng góp vào GDP khoảng 4.000 tỷ đồng chiếm 30% tỷ trọng GDP ngành công nghiệp. Nhà máy phân đạm công suất 800.000 tấn/năm sẽ đóng góp vào GDP gần 2.000 tỷ đồng và cùng với một số nhà máy khí hóa lỏng, hóa chất v.v.. khả năng sẽ đóng góp thêm 500 tỷ đồng, chiếm 26% tỷ trọng GDP ngành công nghiệp. Như vậy khu công nghiệp Khí - điện - đạm sẽ đóng góp 55% vào GDP của tỉnh, đẩy nhanh tốc độ tăng GDP của tỉnh từ 10,57% năm 2000 lên 16 đến 18%/năm giai đoạn 2005 - 2010. Đây là một chỉ tiêu tăng trưởng nhanh so với các tỉnh thuộc nhóm phát triển trong cả nước.

Nếu sử dụng khoảng 1,2 tỷ đến 1,4 tỷ m3 khí mỗi năm thì nhà máy có thể hoạt động trong vòng 20 năm (khả năng có thể kéo dài hơn khi mở rộng khai thác trữ lượng khí đã xác định của các mỏ khu vực khí Tây Nam).

Về xã hội: khu công nghiệp Khí - điện - đạm sẽ thu hút 2.000 lao động ngành xây dựng từ nay đến năm 2005. Khi nhà máy đi vào hoạt động sẽ thu hút 2.000 đến 2.500 công nhân bậc cao vào làm việc. Dịch vụ phát triển mạnh, nhất là vận tải, kho cảng bến bãi, cấp thoát nước, cung ứng vật tư, dịch vụ công cộng, du lịch, v.v.. sẽ xuất hiện 800 đến 1.000 lao động dịch vụ phục vụ cho khu công nghiệp. Từ khu công nghiệp hình thành khu đô thị mới khoảng 10.000 dân góp phần mở rộng và làm thay đổi diện mạo thành phố Cà Mau.

* Công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm: Đây là ngành công nghiệp có lợi thế về nguồn nguyên liệu tại chỗ dồi dào, có thị trường tiêu thụ tương đối rộng lớn và ổn định. Đó là ngành xay xát chế biến gạo với khoảng 500.000 tấn/năm chủ yếu cho tiêu dùng và một phần xuất khẩu. Nhà máy đường 1000 tấn/ngày tại Thới Bình, sau đó có khả năng mở rộng lên 2000 tấn/ngày. Ngoài ra có thể có một số nhà máy chế biến hoa qủa. Dự báo lao động công nghiệp lĩnh vực này khoảng 800 người vào năm 2005 và 1.200 người vào năm 2010.

2.2- Xu hướng phát triển đội ngũ công nhân, viên chức, lao động.

2.2.1- Xu hướng đa dạng hóa cơ cấu công nhân, lao động trong các thành phần kinh tế.

Sau 15 năm đổi mới, nhất là trên lĩnh vực kinh tế có tác động làm thay đổi tỷ lệ công nhân trên các lĩnh vực. Nếu như trước đây chỉ có công nhân trong khu vực quốc doanh thì ngày nay công nhân làm việc ở khu vực ngoài quốc doanh phát triển mạnh mẽ. Xu hướng này gắn liền với sự biến đổi về quan hệ sản xuất và quan hệ sở hữu, được pháp luật Việt Nam điều chỉnh. Sự đa dạng của cơ cấu kinh tế trong nền kinh tế nhiều thành phần với nhiều dạng sở hữu và hình thức tổ chức kinh doanh của cơ cấu kinh tế đã dẫn đến sự đa dạng, phức tạp không thuần nhất giữa các bộ phận trong công nhân như trong doanh nghiệp nhà nước, tư bản, tư nhân, hợp tác liên doanh với nước ngoài v.v.. Đó là một yếu tố khách quan và tiếp tục phát triển trong thời gian tới. Hiện nay trong tỉnh có trên 1.200 doanh nghiệp tư nhân, kinh doanh ở gần như tất cả các ngành nghề, lĩnh vực, so với 46 doanh nghiệp nhà nước thì về số lượng doanh nghiệp nhiều hơn 26 lần. Dự báo đến năm 2010, cơ cấu công nhân, lao động khu vực ngoài quốc doanh tăng nhanh chiếm tỷ lệ 45 đến 50% so với tổng số công nhân, viên chức, lao động.

Dự báo về lao động đến năm 2010

TT

Chỉ tiêu dự báo

đ.v.t

2000

2005

2010

 

 

 

 

 

 

1

Công nhân

Người

17.574

25.500

34.000

2

Cán bộ công chức

-

18.152

20.500

22.000

3

Lao động

-

2.868

6.000

12.000

 

Cộng

Người

38.594

52.000

68.000

 

2.2.2- Xu hướng phát triển đa dạng hóa ngành nghề, đi đôi với chuyên môn hóa cao.

Trong xu thế bình đẳng trong cạnh tranh phát triển của các thành phần kinh tế và trong cơ cấu hợp lý của các ngành kinh tế quốc dân, tất yếu mỗi ngành, mỗi nghề đều phải tạo được “mũi nhọn” để tồn tại và phát triển trong cơ chế thị trường. Khoa học công nghệ phát triển, ngành nghề cũng phát triển, muốn tồn tại người công nhân phải đa dạng hóa ngành nghề, tạo được khả năng tìm kiếm việc làm và phải có chuyên môn cao để duy trì việc làm, để tiếp cận nhanh với công nghệ mới. Xu hướng phát triển này tạo môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp có khả năng tự thích ứng, tự vươn lên trong hội nhập, trong cạnh tranh. Tỉnh Cà Mau các ngành nghề phát triển vẫn là công nghiệp chế biến, thương mại - dịch vụ, giao thông vận tải, xây dựng cơ bản, công nhân nông nghiệp, đồng thời có thêm ngành nghề mới khi dự án khí - điện - đạm đi vào hoạt động. Từ đây sẽ xuất hiện một số ngành nghề công nghiệp địa phương như khí hóa lỏng, hóa chất, sản xuất vật liệu mới …

2.2.3- Xu hướng trình độ học vấn, tay nghề đang được nâng lên gắn liền với trẻ hóa đội ngũ công nhân.

Xu hướng này do đòi hỏi khách quan của nền sản xuất từng bước tiến lên hiện đại trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa; những dây chuyền sản xuất, những quy trình công nghệ tiên tiến, những ngành nghề mới đòi hỏi phải có đội ngũ công nhân trẻ, khỏe, có văn hóa và tay nghề cao. Mặt khác trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì sản phẩm làm ra phải có chất lượng, giá thành hạ. Các doanh nghiệp sẽ chỉ tuyển chọn lao động trẻ, khỏe, có trình độ tay nghề cao để đáp ứng được yêu cầu của nền sản xuất, của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Do vậy xu hướng trình độ học vấn, tay nghề nâng lên gắn liền với trẻ hóa đội ngũ công nhân là một tất yếu.

2.2.4- Xu hướng luân chuyển nghề nhiều lần và sớm ra khỏi dây chuyền sản xuất.

Hợp đồng lao động và thỏa ước lao động tập thể luôn đặt người công nhân vào thế yếu hơn người sử dụng lao động. Cơ chế thị trường luôn diễn ra sự thay đổi cơ cấu sản xuất, thay đổi mặt hàng, áp dụng công nghệ hiện đại để đủ sức cạnh tranh. Khi doanh nghiệp phá sản hoặc chuyển đổi mặt hàng, buộc người công nhân phải luân chuyển nghề, để tạo cơ hội có việc làm, có thu nhập. Mặt khác, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tận dụng bóc lột để thu lợi nhuận tối đa. Khi công nhân sau một số năm làm việc không còn nhanh nhạy như thời trẻ, lập tức bị thay đổi hoặc huỷ hợp đồng, để họ có điều kiện tuyển dụng lớp trẻ, được đào tạo đang chờ việc và như vậy người công nhân sớm ra khỏi dây chuyền sản xuất. Thấy được xu hướng phát triển này để Nhà nước, doanh nghiệp và từng công nhân có được giải pháp khắc phục, sao cho đội ngũ công nhân thực sự là người chủ xây dựng đất nước văn minh giàu đẹp, tránh được bất công xã hội, thường xảy ra như ở các nước tư bản.

2.2.5- Xu hướng phi tập trung công nhân doanh nghiệp quy mô lớn gắn với công nhân có tay nghề trí tuệ cao. Ngày nay, khoa học kỹ thuật chiếm ưu thế, máy móc càng hiện đại, công nghệ càng mới thì số lượng công nhân càng ít và tất nhiên đòi hỏi tay nghề của người công nhân càng cao. Xu hướng phi tập trung công nhân trong các doanh nghiệp quy mô lớn và hướng vận động chung của nền kinh tế thế giới hiện nay. Các doanh nghiệp với quy mô vừa và nhỏ, nhưng trang bị kỹ thuật hiện đại thì có nhiều lợi thế trong cạnh tranh. Trong thời kỳ chuyển tiếp, trong một doanh nghiệp có thể có những dây chuyền hiện đại, có thể vẫn còn những bộ phận thủ công, nhưng nhìn tổng thể, khi đất nước phát triển thành một nước công nghiệp thì xu hướng này là một tất yếu khách quan.

            Như vậy xu hướng phát triển của đội ngũ công nhân trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa được nêu lên ở trên, luôn luôn tác động biện chứng lẫn nhau. Những xu hướng này phản ảnh tính tất yếu, khách quan, tính đa dạng, phong phú của lực lượng sản xuất trong nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN đang trong quá trình hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới. Vậy cần nhận thức đầy đủ, toàn diện những xu hướng để có được những giải pháp trước mắt, lâu dài xây dựng đội ngũ công nhân, viên chức, lao động đáp ứng được yêu cầu trong tình hình mới.

 

II- Mục tiêu, phương hướng xây dựng phát huy vai trò giai cấp công nhân và tổ chức Công đoàn trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa

1- Quan điểm xây dựng giai cấp công nhân và tổ chức Công đoàn vững mạnh:

            - Giai cấp công nhân đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến đang lãnh đạo công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, là lực lượng nòng cốt, đội quân tiên phong trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, là cơ sở xã hội chủ yếu của Đảng và Nhà nước ta, là lực lượng lãnh đạo nòng cốt trong khối liên minh công nhân, nông dân, trí thức và khối đại đoàn kết toàn dân. Giai cấp công nhân có vững mạnh thì Đảng và Nhà nước ta mới vững mạnh và là một đảm bảo cho thành công của công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Quan điểm này khẳng định rõ vai trò, vị trí của giai cấp công nhân hiện nay. Mặt khác cũng thấy rõ được vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân chỉ có thể thực hiện được thông qua Đảng Cộng sản. Trên cơ sở nhận thức đúng đắn trên mà có những giải pháp đồng bộ xây dựng giai cấp công nhân và xây dựng Đảng. Trước hết Đảng cần phải tăng cường lãnh đạo xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh gắn liền với xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh.

            - Lợi ích của giai cấp công nhân gắn liền với lợi ích dân tộc, nằm trong lợi ích dân tộc. Muốn giai cấp công nhân phát triển phải quan tâm đến việc tạo ra động lực, mà thực chất của tạo động lực là giải quyết vấn đề lợi ích: lợi ích vật chất, lợi ích tinh thần, lợi ích kinh tế, lợi ích chính trị, lợi ích văn hóa, lợi ích trực tiếp, lợi ích sâu xa... nhưng giải quyết lợi ích cho giai cấp công nhân phải gắn liền và nằm trong lợi ích dân tộc.

            - Phát triển công nhân về số lượng đi đôi với chất lượng. Khi phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì cơ cấu giai cấp, xã hội sẽ biến đổi một cách nhanh chóng, được sắp xếp theo nhu cầu của kinh tế thị trường ở cả khu vực Nhà nước, khu vực liên doanh, khu vực tư nhân. Số lượng công nhân trong các thành phần kinh tế sẽ tăng lên cũng đồng thời đòi hỏi đội ngũ công nhân đại công nghiệp, có nghĩa là công nhân có chất lượng cao cả về giác ngộ chính trị, ý thức kỷ luật và trình độ tay nghề. Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa có thành công hay không là ở chất lượng công nhân đáp ứng được yêu cầu của thời đại. Do vậy, xây dựng giai cấp công nhân phải được thể hiện bằng quan điểm đường lối của Đảng, hệ thống cơ chế chính sách đồng bộ với những chế độ, quy định cụ thể, thích hợp và hữu hiệu, bằng hệ thống pháp luật của Nhà nước, bằng tổng hợp những biện pháp kinh tế, chính trị, tư tưởng, tổ chức bộ máy cán bộ. Xây dựng giai cấp công nhân vững mạnh là việc làm thường xuyên, liên tục gắn liền với việc thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội, với từng bước đi của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

            - Xây dựng giai cấp công nhân vững mạnh phải gắn liền với việc xây dựng tổ chức Công đoàn vững mạnh và xây dựng khối liên minh công nhân, nông dân, trí thức khối đại đoàn kết dân tộc, với việc xây dựng Nhà nước của dân, do dân và vì dân. Đây là phương châm chiến lược lâu dài, vừa mang tính kế thừa truyền thống dân tộc, vừa tiếp thu tinh hoa của chủ nghĩa Mác vào cách mạng Việt Nam. Đây là công việc vừa khẩn trương, vừa liên tục lại mang tính khoa học, tính cách mạng và ý thức chính trị cao.

            - Xây dựng giai cấp công nhân và tổ chức Công đoàn vững mạnh là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước, Công đoàn và của các tổ chức chính trị - xã hội, đồng thời là trách nhiệm của mọi tập thể công nhân. Nhà nước cụ thể hóa, thể chế hóa các quan điểm chủ trương của Đảng về xây dựng giai cấp công nhân bằng hệ thống pháp luật và các tổ chức công quyền chăm lo đầy đủ, toàn diện tới sự phát triển của giai cấp công nhân. Các tổ chức chính trị - xã hội, tùy theo chức năng luôn quán triệt các quan điểm của Đảng vào hoạt động, vì các đoàn thể này cũng có một lịch sử thống nhất với truyền thống cách mạng của giai cấp công nhân, luôn giữ vai trò nòng cốt trong sự nghiệp xây dựng giai cấp công nhân vững mạnh. Xây dựng giai cấp công nhân và Công đoàn vững mạnh phải là một nhiệm vụ quan trọng của toàn Đảng trong thời kỳ đổi mới.

2- Mục tiêu, phương hướng:

            Xuất phát từ mục tiêu lý tưởng của Đảng và nhân dân, từ thực trạng vai trò của giai cấp công nhân, để đáp ứng được đòi hỏi khách quan của cách mạng, trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đòi hỏi Đảng và Nhà nước ta phải thường xuyên quan tâm bằng những chính sách kinh tế, chính sách xã hội cụ thể nhằm thực hiện mục tiêu tổng quát xây dựng giai cấp công nhân "phát triển về số lượng và chất lượng, nâng cao giác ngộ và bản lĩnh chính trị, trình độ học vấn và nghề nghiệp, thực hiện trí thức hoá công nhân, nâng cao năng lực ứng dụng và sáng tạo công nghệ mới, lao động đạt năng suất, chất lượng và hiệu quả ngày càng cao, xứng đáng là một lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và vai trò lãnh đạo cách mạng trong thời kỳ mới. Bảo vệ quyền lợi, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của giai cấp công nhân trong điều kiện thực hiện cơ chế thị trường. Tăng cường đào tạo cán bộ lãnh đạo, quản lý và kết nạp đảng viên từ những công nhân ưu tú; tăng thành phần công nhân trong đội ngũ cán bộ lãnh đạo các cấp, các ngành"[1].

            Từ mục tiêu cơ bản trên phương hướng xây dựng lực lượng và phát huy vai trò của công nhân, viên chức, lao động và tổ chức Công đoàn tỉnh cà Mau trong những năm 2001 - 2010 là:

- Phát huy tiềm năng thế mạnh của tỉnh và của mọi thành phần kinh tế để phát triển kinh tế - xã hội; từng bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển mạnh những ngành công nghiệp phục vụ trực tiếp cho ngư - nông - lâm nghiệp, công nghiệp xuất khẩu và hàng tiêu dùng, công nghiệp dầu khí và du lịch - dịch vụ nhằm thu hút ngày càng nhiều lực lượng lao động vào đội ngũ giai cấp công nhân.

- Tăng tỷ lệ công nhân trong cơ cấu dân số và lao động. Trong cơ cấu cần chú ý phát triển số lượng và nâng cao chất lượng đội ngũ công nhân sử dụng kỹ thuật hiện đại trong các ngành công nghiệp then chốt của tỉnh như chế biến hàng xuất khẩu, cơ khí - sửa chữa, đóng tàu; những ngành mới và kỹ thuật cao như công nghiệp dầu khí - hóa chất (khi nhà máy khí - điện - đạm đi vào hoạt động), điện tử - tin học, vật liệu mới.

            Chú trọng xây dựng đội ngũ công nhân trong khu vực kinh tế quốc doanh, trong những ngành, lĩnh vực then chốt. Quan tâm xây dựng bộ phận công nhân ở khu vực kinh tế ngoài quốc doanh, mở rộng tổ chức Công đoàn để tập hợp những người lao động công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ ngoài quốc doanh vào Công đoàn.

- Xây dựng và giáo dục cho công nhân, viên chức, lao động nâng cao trình độ giác ngộ giai cấp, ý thức công dân, yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, có trình độ học vấn, tay nghề, tác phong công nghiệp, có lối sống văn hoá, có tình nghĩa, tôn trọng pháp luật, quan tâm tới lợi ích của cộng đồng, của đất nước, đi đầu trong sự nghiệp đổi mới, đấu tranh chống bảo thủ, trì trệ, quan liêu, tiêu cực; đi đầu trong công cuộc đấu tranh để thực hiện đường lối của Đảng, trong việc ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, công nghệ vào sản xuất, nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm và hiệu quả sản xuất.

- Giải quyết một cách cơ bản vấn đề việc làm, đời sống, quyền dân chủ của công dân và thực hiện công bằng xã hội, cải thiện điều kiện làm việc, bảo hiểm xã hội, bảo hộ lao động và tăng thể lực - sức khoẻ của công nhân.

- Tiếp tục xây dựng tổ chức Công đoàn vững mạnh, bảo đảm là người đại diện và bảo vệ quyền lợi cho giai cấp công nhân; tập hợp công nhân, viên chức, lao động vào các phong trào hành động cách mạng nhằm đi đầu và làm nòng cốt trong tiến trình xây dựng sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

 

III- Các giải pháp xây dựng và phát huy vai trò của giai cấp công nhân và tổ chức Công đoàn

            Xây dựng đội ngũ công nhân lớn mạnh toàn diện, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước cần có một hệ thống các giải pháp về Đảng, Nhà nước, các đoàn thể chính trị - xã hội, nghề nghiệp. Trước hết cần tập trung một số các giải pháp cơ bản sau:

3.1- Nâng cao nhận thức:

Các cấp Công đoàn cần thường xuyên tham mưu cho cấp uỷ Đảng lãnh đạo và triển khai học tập làm quán triệt trong các cấp, các ngành để mọi người nhận thức đầy đủ về giai cấp công nhân và vai trò, vị trí, quyền hạn của tổ chức Công đoàn trong thời kỳ mới; nhận thức được chiến lược xây dựng giai cấp công nhận là bộ phận của chiến lược phát huy nhân tố và nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Từ nhận thức tập trung thực hiện một số chủ trương cấp bách có tính chi phối và làm động lực cho việc vận động cán bộ, đảng viên, đoàn viên thực hiện tốt Nghị quyết, đường lối, của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về giai cấp công nhân. Thông qua các hoạt động ở cơ sở từng bước nâng cao kiến thức về mọi mặt và tay nghề cho công nhân, viên chức, lao động là một trong những công việc cốt yếu đảm bảo thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

3.2- Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng.

Toàn bộ thành tựu và hạn chế của công tác xây dựng và phát huy vai trò giai cấp công nhân trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn liền với sự lãnh đạo của Đảng ta. Đảng phải tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo xây dựng Công đoàn vững mạnh gắn với công tác xây dựng Đảng; cần tập trung vào những nội dung sau:

- Về nhận thức: làm cho cán bộ đảng viên, đoàn viên và các tầng lớp nhân dân ngày càng quán triệt các quan điểm của Đảng về xây dựng giai cấp công nhân trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Từ đó nhận thức rõ trách nhiệm của mình đối với việc tham gia xây dựng và phát huy vai trò của giai cấp công nhân và tổ chức Công đoàn.

- Về hành động: các cấp ủy Đảng phải trực tiếp chỉ đạo và làm nòng cốt trong các phong trào công nhân nhằm tập hợp đông đảo nhân dân lao động tự giác tham gia thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội; qua đó phát huy vai trò giai cấp công nhân và xây dựng tổ chức Công đoàn.

- Về tổ chức: xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh, nâng cao sức chiến đấu và bản lĩnh chính trị của tổ chức cơ sở Đảng; chăm lo rèn luyện phẩm chất và năng lực cán bộ đảng viên, đảm bảo dân chủ, kỷ cương, đoàn kết thống nhất trong Đảng.

- Tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng, bồi dưỡng lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm của Đảng cho cán bộ đảng viên. Từng cơ sở, từng ngành, từng địa phương phải coi trọng việc giáo dục bồi dưỡng phát triển Đảng trong công nhân. Phát hiện, bồi dưỡng, cất nhắc những công nhân ưu tú vào cương vị quản lý của cơ quan Nhà nước và các đoàn thể.

- Tiến hành nghiên cứu khoa học, nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn về công nhân, viên chức, lao động và Công đoàn trong nền kinh tế thị trường. Đổi mới và xây dựng quy chế lãnh đạo của Đảng đối với các tổ chức chính trị - xã hội, nghề nghiệp của giai cấp công nhân. Thường xuyên kiểm tra việc thực hiện chính sách, pháp luật, trách nhiệm đảng viên đối với việc xây dựng giai cấp công nhân và tham gia các phong trào của Công đoàn.

3.3- Đào tạo bồi dưỡng nâng cao trình độ về mọi mặt cho công nhân:

- Giai cấp công nhân mà gía trị của họ là có tri thức và đôi bàn tay nghề nghiệp, vì thế không thể kể bằng số lượng mà phải tính bằng chất lượng lao động theo tiêu chuẩn công nghệ mới.  Nâng cao trình độ cho công nhân, viên chức, lao động không chỉ bằng việc tổ chức học tập mà vấn đề ở chỗ phải đi đôi với đổi mới và nâng cao trang thiết bị công nghệ mới. Nếu duy trì mãi thiết bị lạc hậu thì cũng không có điều kiện thúc đẩy công nhân học tập nâng cao kiến thức tay nghề. Thông qua các chính sách, Nhà nước, xã hội, doanh nghiệp và từng người lao động phải đẩy mạnh công tác giáo dục - đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng nâng cao tay nghề, nâng cao chất lượng lao động để nhanh chóng đưa đội ngũ công nhân, viên chức, lao động ra khỏi điểm xuất phát thấp kém về tri thức và khả năng đảm bảo thích ứng với cơ chế thị trường, tiếp cận nhanh với công nghệ, khoa học kỹ thuật hiện đại. Tổ chức thực hiện có hiệu quả chiến lược đào tạo nguồn nhân lực, đặc biệt là đào tạo cán bộ, công chức, nâng cao tay nghề cho công nhân. Các ngành, các địa phương, các doanh nghiệp dành kinh phí để tổ chức tốt việc học bổ túc văn hoá, tin học, ngoại ngữ, tiếp thị, đào tạo lại nghề, đáp ứng yêu cầu đổi mới công nghệ tại địa phương và doanh nghiệp. Khuyến khích, tạo điều kiện cho công nhân lao động tự học tập nâng cao trình độ trên nhiều lĩnh vực theo cơ chế của thị trường lao động, bảo đảm cho công nhân lao động giỏi một nghề, biết nhiều nghề.

- Quan tâm đổi mới công tác giáo dục chính trị tư tưởng, nâng cao giác ngộ về giai cấp, giữ vững và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, giáo dục lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, làm cho công nhân lao động nhất trí và đi đầu trong việc thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, đấu tranh làm thất bại âm mưu của các thế lực thù địch.

- Xây dựng các chuẩn mực sống và làm việc có văn hoá như chuẩn mực trong lao động, trong sản xuất, trong quản lý, trong giao tiếp. Rèn luyện cho công nhân tác phong công nghiệp, làm việc khoa học, năng động, sáng tạo, có tính tổ chức, tính kỷ luật cao. Đầu tư thoả đáng để thông qua các nhà văn hoá lao động, câu lạc bộ công nhân, hệ thống truyền thông đại chúng nhằm đẩy mạnh các hoạt động văn hoá, thể dục thể thao. Đấu tranh chống các trào lưu văn hoá lai căng, đồi truỵ, phản động. Giữ gìn, phát huy truyền thống và bản sắc văn hoá dân tộc. Tăng mức hưởng thụ văn hoá nghệ thuật của công nhân, quan tâm đến đời sống tinh thần của nữ công nhân. Tổ chức các hoạt động nhân đạo, từ thiện, sống có tình nghĩa, đùm bọc lẫn nhau.

3.4- Giải quyết có hiệu quả vấn đề bức thiết là việc làm và đời sống

- Nhà nước tăng cường xây dựng các dự án phát triển kinh tế xã hội, đồng thời với việc qui hoạch, phân bố, sử dụng nguồn nhân lực một cách hợp lý nhằm tạo ra khả năng bố trí việc làm. Các dự án cần hướng vào khai thác các tiềm năng như tài nguyên, sức lao động, sự chuyển đổi cơ cấu sản xuất v. v.. Tiếp tục đẩy mạnh chương trình quốc gia về việc làm, ưu tiên cho các dự án thu hút đông lao động vào làm việc, hoặc tận dụng được nguyên liệu, tay nghề tại chỗ để phát triển sản xuất. Tổ chức đưa các đội thanh niên tình nguyện đi lao động ở các công trình mới, ở vùng khó khăn đang cần lao động trẻ.

- Hoàn thiện hệ thống chính sách đúng đắn đồng bộ về đường lối phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa; các chính sách phát huy mọi nguồn lực, khuyến khích mọi tổ chức, cá nhân đầu tư vào sản xuất, dịch vụ để giải quyết việc làm, tăng thêm thu nhập, làm cho đội ngũ công nhân, viên chức, lao động phát triển. Với công chức, khi mà đồng lương còn thấp, thì giờ làm việc 40 giờ/tuần, Nhà nước cần nghiên cứu có chính sách mở rộng một số loại hình dịch vụ công để công chức tham gia, vừa giảm nhẹ công vụ hành chính vừa tạo điều kiện cho công chức thu nhập hợp pháp. Có chính sách phù hợp cho các nhà khoa học tăng thu nhập bằng lao động trí óc của mình.

- Công đoàn cần phối hợp với chính quyền có kế hoạt hoạt động gây qũy; tổ chức và tạo điều kiện cho công nhân tham gia mua cổ phiếu, hợp tác liên kết với các tổ chức kinh tế để phát triển kinh tế gia đình, tăng thu nhập. Phấn đấu nâng cao mức sống trung bình của đông đảo công nhân năm sau cao hơn năm trước.

- Mở rộng quan hệ hợp tác lao động với nước ngoài để tổ chức việc xuất khẩu lao động, xem đây là một chiến lược quan trọng để công nhân nhanh chóng tiếp cận với nền sản xuất tiên tiến của thế giới đồng thời chuyển giao được công nghệ cho đất nước.

3.5- Xây dựng và thực hiện cơ chế chính sách tạo động lực cho giai cấp công nhân phát triển:

            - Hoàn thiện chính sách tiền lương, tiền công hợp lý, công bố mức lương tối thiểu cho từng đối tượng, từng thời kỳ, thể hiện nguyên tắc phân phối theo lao động. Có chính sách ưu đãi công nhân bậc cao, cán bộ khoa học kỹ thuật giỏi, ưu đãi hiền tài. Định lại hệ thống thang bảng lương, phụ cấp lương, quy chế trả lương hợp lý để làm động lực khuyến khích người lao động.

- Nghiên cứu ban hành Luật Bảo hiểm xã hội. Triển khai mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội đến tất cả các thành phần kinh tế. Trước mắt tập trung giải quyết việc chi trả bảo hiểm xã hội đầy đủ, kịp thời và có chế độ nghỉ ngơi dưỡng sức cho công nhân. Nghiên cứu ban hành chính sách bảo hiểm thất nghiệp, bổ sung các chính sách trợ cấp xã hội đối với các đối tượng mất việc làm, thiếu việc làm. Có hướng dẫn rõ ràng hơn về cơ chế Công đoàn tham gia quản lý kinh tế, quản lý Nhà nước; về đối thoại với giám đốc, thủ trưởng cơ quan như thế nào.

            - Thực hiện chủ trương cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước. Có chính sách khuyến khích, tạo điều kiện để công nhân mua được cổ phần. Thực hiện quyền làm chủ của các cổ đông với quyền làm chủ của công nhân lao động tại các doanh nghiệp, thông qua tổ chức Công đoàn và tổ chức hội đồng quản trị. Thực hiện việc chia lợi nhuận của doanh nghiệp Nhà nước cho công nhân tại doanh nghiệp và khuyến khích chủ doanh nghiệp tư nhân dành cổ phần ưu đãi bán cho công nhân làm tại doanh nghiệp.

            - Tạo ra những điều kiện để tổ chức thực hiện tốt qui chế dân chủ trong cơ quan và doanh nghiệp, phát huy đầy đủ quyền làm chủ của công nhân lao động. Có cơ chế cho Công đoàn và công nhân viên chức tham gia kiểm tra giám sát chi tiêu tài chính của giám đốc hoặc khoán kinh phí hoạt động cho giám đốc nhằm ngăn chặn nạn tham ô lãng phí và các hiện tượng tiêu cực khác giữ cho doanh nghiệp không rơi vào tình trạng giải thể, phá sản.

            - Có chính sách nhà ở hợp lý để công nhân có nơi ở nhằm tái tạo sức lao động, nuôi dạy con cái, phát triển xã hội, hình thành và xây dựng môi trường sống và môi trường văn hoá cho công nhân.

            - Tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật về bảo hộ lao động, vệ sinh lao động, phòng chống có hiệu quả tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp. Cải thiện điều kiện lao động và môi trường. Có quy định nghiêm ngặt để bảo vệ môi trường tự nhiên trong quá trình phát triển công nghiệp. Tổ chức chăm sóc sức khoẻ công nhân lao động nhất là đối với lao động nữ, những người làm việc nặng nhọc, trong môi trường độc hại. Phát triển và nâng cao chất lượng khám chữa bệnh của các cơ sở y tế. Quan tâm chăm lo đời sống tinh thần, sinh hoạt văn hoá văn nghệ, vui chơi giải trí, hoạt động thể dục thể thao cho công nhân

3.6- Xây dựng Công đoàn vững mạnh và đổi mới nội dung phương thức hoạt động.

- Xây dựng tổ chức Công đoàn vững mạnh là một nhiệm vụ quan trọng trong thời kỳ mới nhằm làm cho Công đoàn thực sự là tổ chức chính trị - xã hội rộng lớn của giai cấp công nhân, là trường học chủ nghĩa xã hội của người lao động. Đặc biệt quan tâm đổi mới tổ chức và cán bộ, đổi mới phương thức hoạt động, vì đó là khâu cuối cùng thực hiện Nghị quyết của Đảng, của Công đoàn. Cần chú trọng công tác phát triển công đoàn viên, nhất là khu vực ngoài quốc doanh – lao động tự do; xây dựng mối liên hệ gắn bó của đoàn viên với Công đoàn. Việc phát huy vai trò tổ chức Công đoàn vừa giải quyết hài hòa việc bảo vệ lợi ích hợp pháp chính đáng của người lao động, vừa tôn trọng lợi ích hợp pháp của các nhà doanh nghiệp, đồng thời góp phần xây dựng và tăng cường sức mạnh của Nhà nước pháp quyền, đảm bảo cho Nhà nước thực sự là Nhà nước của dân, do dân và vì dân.

- Quan tâm đặc biệt đến vai trò, vị trí của Công đoàn cơ sở, thực hiện tốt qui chế dân chủ; thực hiện cả dân chủ trực tiếp, dân chủ công khai, dân chủ đại diện; bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ đi đôi với việc bảo vệ quyền lợi chính đáng của công nhân lao động. Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ công đoàn về kiến thức pháp luật, chế độ chính sách, nghiệp vụ chuyên môn, kỹ năng thực hành; làm tốt nhiệm vụ với tư cách Công đoàn là thành viên trong các Hội đồng tư vấn, các Ban chỉ đạo của Nhà nước như Hội đồng lương, thi đua khen thưởng, xét duyệt các chế độ chính sách v.v..  coi đó là giải pháp quan trọng nhằm phát huy vai trò, chức năng, quyền hạn của tổ chức Công đoàn hiện nay. Chủ động có kế hoạch, đề án lớn, đúng tầm cỡ để tham mưu cho Đảng, Nhà nước hoạch định các chính sách phát triển khinh tế – xã hội, giải quyết tốt công ăn, việc làm, nâng cao thu nhập và đời sống cho công nhân. Khắc phục tình trạng quan liêu hành chính hoá trong hoạt động Công đoàn.

- Công đoàn phải luôn luôn đổi mới nội dung, phương thức hoạt động cho phù hợp với từng đối tượng, từng thời điểm, từng phong trào. Đổi mới tổ chức và nội dung hoạt động phải đi sâu và gắn bó với qúa trình phát triển kinh tế xã hội, nhất là các ngành công nghiệp hóa, công nghệ mới, qua đó để xây dựng xí nghiệp, thu hút công nhân. Đây là yếu tố quan trọng để thúc đẩy và tăng thêm hiệu quả hoạt động của Công đoàn. Đổi mới theo phương thức nào phải xuất phát từ tính hợp lý của tình hình, nhưng chung qui vẫn là phát triển sản xuất, phục vụ lợi ích công nhân, cho làm họ gắn bó với tổ chức Công đoàn với cơ quan, xí nghiệp. Đổi mới còn là tập trung vào việc bồi dưỡng năng lực cống hiến, khơi dậy lòng nhiệt tình tự nguyện tự giác vươn lên hoàn thành nhiệm vụ. Muốn vậy cán bộ Công đoàn luôn chủ động tiếp cận với công nhân tìm hiểu nhu cầu chính đáng, tâm tư nguyện vọng, vui buồn của người lao động để giúp đỡ họ, từ đó tham gia ý kiến xác đáng vào việc xây dựng hoàn thiện các chính sách của Đảng và Nhà nước đối với người lao động. Tham gia với chủ doanh nghiệp về phương hướng sản xuất, cơ chế quản lý, tìm hiểu thị trường, tiêu thụ sản phẩm, làm ăn có lãi và không ngừng phát triển.

- Tăng cường cơ sở vật chất, phương tiện cho Công đoàn hoạt động. Trước hết tham mưu cho các cấp chính quyền đưa vào quy hoạch, đầu tư xây dựng và nâng cấp các cơ sở phục vụ cho học tập, sinh hoạt văn hóa văn nghệ, vui chơi giải trí, thể dục thể thao v.v.. như câu lạc bộ lao động, sân chơi bãi tập, trung tâm dạy nghề, các tụ điểm văn hóa, bảo tàng, thư viện, công viên. Đặc biệt là trong quy hoạch xây dựng nhà máy, khu chung cư công nhân cần có quy hoạch sân chơi, bãi tập, cây xanh, thư viện, phòng truyền thống và xây dựng cơ sở vật chất, điều kiện khác phục vụ cho sinh hoạt, nghỉ ngơi của công nhân.

- Chỉ đạo tiến hành tổng kết các phong trào và mô hình hoạt động của Công đoàn để không ngừng bổ sung làm phong phú nội dung, hình thức các phong trào thi đua hành động cách mạng; xây dựng và nhân rộng các mô hình tiên tiến. Tiếp tục nghiên cứu các đề tài khoa học về công nhân, Công đoàn. Tiến hành tổng kết việc thực hiện chủ trương Nghị quyết, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước có liên quan đến giai cấp công nhân và tổ chức Công đoàn ở từng lĩnh vực. Có biện pháp thông tin để nắm bắt kịp thời diễn biến tư tưởng, nhận thức của công nhân, viên chức, lao động, tìm ra các giải pháp đối với những vấn đề bức xúc đang đặt ra. Tiến hành triển khai các kết quả đã nghiên cứu để tham mưu cho Đảng và Nhà nước ban hành các chủ trương, biện pháp và hoạch định chương trình hành động nhằm phát huy vai trò tổ chức và hoạt động của Công đoàn đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên quê hương cà Mau.

3.7- Tổ chức và phát động các phong trào thi đua.

Tiếp tục phát động phong trào thi đua yêu nước với mục tiêu “tất cả vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” trong công nhân. Có những giải thưởng xứng đáng về vật chất về tinh thần nhằm khơi dậy tính chủ động, sáng tạo, ý thức cộng đồng trách nhiệm trong sản xuất, công tác, học tập và đời sống góp phần hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị của ngành của địa phương, đơn vị. Các phong trào lớn cần tập trung như sau:

+ Lao động giỏi với năng suất, chất lượng, hiệu quả cao, đảm bảo an toàn vệ sinh lao động.

+ Học tập nâng cao trình đô mọi mặt, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

+ Thực hành tiết kiệm, chống tham nhũng, chống lãng phí, chống các biểu hiện tiêu cực, sách nhiễu, phiền hà, làm trái pháp luật, chống các tệ nạn xã hội.

Đổi mới phong trào thi đua là nội dung quan trọng trong tình hình hiện nay, nhất là trong cơ chế thị trường. Chúng ta không thể cứ hô hào vận động đông người tham gia là phong trào thắng lợi, mà không xem xét ý nghĩa, mục đích của phong trào. Lấy ví dụ như phong trào thi đua nâng cao chất lượng sản phẩm là một trong những phong trào quan trọng. Chất lượng lao động là lương tâm trách nhiệm của người thợ, cũng là sự sống còn của doanh nghiệp, của công nhân lao động. Nếu thi đua làm ra nhiều sản phẩm mà không tiêu thụ được, sản phẩm rẻ, ế (mặc dù chất lượng tốt) thì hiệu qủa sẽ ngược lại, doanh nghiệp bị thua lỗ. Rõ ràng thi đua sản xuất phải gắn với thị trường; vai trò của Công đoàn phải phát huy sức sáng tạo của công nhân, phải tìm hiểu, nắm bắt nhu cầu, thị hiếu của thị trường. Từ đó để tham mưu cho giám đốc có hướng đầu tư chiều sâu, đầu tư mở rộng, cải tiến mẫu mã, nâng cao chất lượng sản phẩm đáp ứng được yêu cầu của thị trường. Vì vậy các phong trào thi đua của từng đơn vị phải đặt đúng trọng tâm của ngành, hướng đến tính mục đích là đem lại hiệu qủa kinh tế – xã hội cao, đáp ứng yêu cầu hoàn thành nhiệm vụ, phục vụ lợi ích cho công nhân lao động.

3.8- Củng cố, xây dựng bộ máy quản lý Nhà nước, cải cách nền hành chính.

- Toàn bộ đường lối, chủ trương, chính sách xây dựng và phát huy vai trò giai cấp công nhân trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá của Đảng chỉ biến thành hiện thực khi được Nhà nước thể chế hóa bằng văn bản và tổ chức thực hiện đầy đủ, nhất là thực hiện chức năng quản lý nhà nước về lao động, bảo đảm sự chấp hành nghiêm túc pháp luật và các qui định để phát triển kinh tế, tạo thêm việc làm, bảo vệ lợi ích hợp pháp, chính đáng của công nhân lao động.

- Nâng cao năng lực tổ chức thực hiện các chính sách đối với công nhân lao động của các cơ quan Nhà nước. Đẩy mạnh cải cách nền hành chính, nhất là cải cách về thể chế và tổ chức; xoá bỏ ngay các thủ tục phiền hà, sách nhiễu đang cản trở công cuộc đổi mới; sớm ban hành qui chế công vụ nhằm tăng cường chức trách và nâng cao hiệu qủa làm việc của cán bộ công chức. Tăng cường kỷ luật, kỷ cương, đảm bảo hiệu lực và tính tập trung thống nhất trong quản lý vĩ mô của Nhà nước đối với việc việc mở rộng dân chủ, tạo điều kiện phát huy tính chủ động, năng động sáng tạo của ngành, địa phương và cơ sở.

- Chống quan liêu, tham nhũng làm trong sạch bộ máy Nhà nước. Kiên quyết xử lý nghiêm minh những hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ công chức, nhất là nạn tham nhũng, gian lận để chiếm đoạt tài sản Nhà nước, tài sản của công dân. Từng bước nâng cao chất lượng đội ngũ viên chức ở mọi cấp, đồng thời có đãi ngộ tương xứng với sự cống hiến. Có kế hoạch tích cực đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức.

- Nâng cao trách nhiệm của Nhà nước đối với việc xây dựng giai cấp công nhân, chỉ đạo kiểm tra các cấp, các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế triển khai thực hiện luật Lao động, luật Công đoàn nhằm tôn trọng và bảo vệ quyền lợi người lao động và phát huy vai trò Công đoàn tham gia quản lý Nhà nước, quản lý xã hội. Các cơ quan Nhà nước hỗ trợ, phối hợp với Công đoàn chăm lo sự nghiệp phúc lợi xã hội, phúc lợi tập thể của công nhân lao động, giải quyết kịp thời tranh chấp lao động; bổ sung các quy định về trách nhiệm của chủ doanh nghiệp tư nhân, các doanh nghiệp do nước ngoài đầu tư đối với công nhân và Công đoàn.

- Chỉ đạo thực hiện có hiệu quả các chương trình quốc gia về việc làm, xoá đói giảm nghèo, nhà ở, dạy nghề, bổ túc văn hoá cho công nhân và các chương trình khác liên quan đến xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ công nhân, viên chức, lao động trong thời kỳ đổi mới.

3.9- Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, thực hiện tốt mối quan hệ liên minh công - nông - trí thức.

- Dưới sự lãnh đạo của Đảng là một thuận lợi để tăng cường sự phối hợp của cả hệ thống chính trị đẩy mạnh công tác xây dựng giai cấp công nhân và Công đoàn vững mạnh.  Nhiệm vụ của giai cấp công nhân là đoàn kết hợp tác với các giai cấp và tầng lớp nhân dân để hoàn thành sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, đưa đất nước vững bước tiến theo con đường chủ nghĩa xã hội. Vì vậy trong quan hệ và tổ chức các hoạt động, Công đoàn cần củng cố mối quan hệ và mở rộng sự phối hợp hoạt động một cách toàn diện với các cơ quan Nhà nước và các đoàn thể; coi trọng giáo dục lý tưởng cách mạng, truyền thống dân tộc, kiến thức pháp luật, đạo lý nhân phẩm của người Việt Nam; phát huy và giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc; không ngừng trau dồi phẩm chất đạo đức, lối sống, khơi dậy lòng tự cường và hoài bão lớn của dân tộc. Tiếp tục đổi mới tổ chức, nội dung, phương thức hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội, các đoàn thể nhân dân nhằm tập hợp đông đảo công nhân lao động và các tầng lớp nhân dân tham gia thực hiện nhiệm vụ chính trị của Đảng và Nhà nước, tạo sự nhất trí cao trong nhận thức và hành động, qua đó bồi dưỡng lý tưởng cách mạng cho quần chúng nhân dân.

- Việc phát huy vai trò liên minh công – nông – trí thức trong tình hình hiện nay và nhất là giai đoạn tới cần đặt vấn đề tăng cường trí thức trong công nhân, nông dân. Mở rộng mối quan hệ bằng việc đưa nhanh giống mới, vật tư, hướng dẫn kỹ thuật, đưa máy móc, lưới điện, làm đường giao thông, thủy lợi, giáo dục, y tế, văn hóa v.v.. về nông thôn; mở mang dân trí góp phần xây dựng nông thôn mới theo hướng hiện đại hóa nông thôn. Thông qua các hoạt động đó củng cố và tăng cường khối liên minh công, nông, trí thức.

 

 

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

Đề tài nghiên cứu thực trạng tình hình công nhân, viên chức, lao động và hoạt động của tổ chức Công đoàn tỉnh Cà Mau đã làm nổi bật những vấn đề cốt lõi, vấn đề mới và bức thiết đúng với yêu cầu của một đề tài khoa học. Từ những số liệu, tình tiết chọn lọc đã được chứng minh, luận giải bằng phương pháp khoa học đủ yếu tố tin cậy giúp cho việc đề xuất các giải pháp phù hợp với tình hình thực tế ở tỉnh Cà Mau nhằm củng cố xây dựng giai cấp công nhân vững mạnh và nâng cao vai trò tổ chức, hoạt động của Công đoàn đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Các phần việc được nghiên cứu đã khẳng định:

- Về nghiên cứu cơ bản, có tính lý luận và thực tiễn cao, được viện dẫn từ quan điểm của các nhà lãnh đạo, Nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước, các văn bản qui phạm pháp luật và Điều lệ Công đoàn. Đề tài đã tập hợp, hệ thống khá đầy đủ các chức năng, quyền hạn của Công đoàn. Từ đây giúp cho Ban Chủ nhiệm đề tài cũng như đội ngũ cán bộ Công đoàn nắm vững hơn về những nguyên tắc, những viện dẫn pháp lý để đối chiếu vào thực tiễn khi giải quyết các vấn đề có liên quan trong qúa trình nghiên cứu và thực hiện nhiệm vụ.

- Phân tích thực trạng là qúa trình lao động công phu. Những số liệu từ kết qủa của điều tra tổng thể và điều tra xã hội học cho thấy một khối lượng thông tin toàn diện trên nhiều lĩnh vực gắn liền với đời sống, sinh hoạt, việc làm, nguyện vọng của đội ngũ công nhân, viên chức, lao động và tổ chức hoạt động của Công đoàn. Cũng từ đây phát hiện nhiều vấn đề mới có tính điển hình như xu hướng chuyển dịch cơ cấu lao động và ngành nghề làm thay đổi căn bản vị thế lao động của công nhân; chất lượng lao động, việc làm, thu nhập chỉ được thay đổi khi đổi mới được thiết bị công nghệ hiện đại gắn với đào tạo để sử dụng công nghệ đó. Chăm lo bảo vệ quyền lợi công nhân phải gắn với việc đẩy mạnh sản xuất – kinh doanh phát triển doanh nghiệp; các chính sách xã hội đối với công nhân, viên chức lao động chỉ được thực hiện tốt khi các cơ quan Nhà nước làm tốt công tác quản lý Nhà nước về lao động v.v.. Đây đều là những vấn đề được phân tích sâu sắc mục đích để làm nổi bật bức tranh thực trạng.

Về phương hướng nêu lên yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; dự báo xu hướng phát triển kinh tế xã hội của tỉnh và phong trào công nhân đến năm 2010 trên cơ sở các văn kiện, các quyết sách lớn của Đảng và Nhà nước. Đề tài này nêu mục tiêu và 9 giải pháp phát huy vai trò công nhân, viên chức, lao động và tổ chức Công đoàn. Các giải pháp này có mối quan hệ biện chứng và tác động lẫn nhau, vì vậy không thể coi trọng hay coi nhẹ giải pháp nào mà phải được thực hiện đồng bộ nhằm tạo ra hiệu quả cao nhất trong hoạt động.

 

KIẾN NGHỊ

1- Đối với Đảng:

Nghiên cứu để ban hành Nghị quyết về xây dựng giai cấp công nhân trong tình hình mới. Tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với nhiệm vụ xây dựng giai cấp công nhân và tổ chức Công đoàn vững mạnh. Chỉ đạo ban cán sự Đảng và các cấp ủy Đảng nhất là cơ sở Đảng trong các doanh nghiệp, đưa công tác xây dựng Công đoàn vững mạnh vào kế hoạch hoạt động thường xuyên; chủ động có kế hoạch, phương án làm việc với Ban chấp hành Công đoàn và Giám đốc thực hiện các phong trào thi đua nhằm hoàn thành tốt nhiệm vụ trọng tâm của ngành, của doanh nghiệp, đồng thời chăm lo và bảo vệ quyền lợi cho công nhân lao động. Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng để phát triển Đảng viên từ đội ngũ công nhân. Quan tâm công tác rèn luyện đảng viên về mọi mặt để mỗi đảng viên là tấm gương sáng, làm nòng cốt trong phong trào công nhân. Kiên quyết xử lý nghiêm minh những cán bộ đảng viên tham nhũng, tiêu cực, kém phẩm chất, có hành vi xâm hại đến quyền và lợi ích chính đáng của công nhân, viên chức, lao động.

2- Đối với Nhà nước: tăng cường công tác quản lý Nhà nước về lao động nhằm giải quyết tốt công ăn, việc làm và các chế độ chính sách đối với công nhân lao động. Trước mắt cần giải quyết một số vấn đề sau:

-  Cấp Trung ương.

+ Cần sớm chỉnh sửa chế độ tiền lương, vì tiền lương là đòn bẩy của sản xuất, tạo ra động lực kích thích người lao động, khuyến khích công nhân nâng cao tay nghề, năng suất lao động, hiệu qủa sản xuất kinh doanh. Cần xóa bỏ những bất hợp lý trong cơ chế chính sách tiền lương hiện hành. Tiền lương phải phù hợp với sức lao động bỏ ra, nhất là đối với thợ lành nghề, những người làm ra sản phẩm chất lượng cao, cán bộ khoa học kỹ thuật, đội ngũ trí thức, những công nhân viên chức làm việc ở nơi điều kiện khó khăn. Nếu đưa nhà ở vào tiền lương thì tiền lương phải bảo đảm được cho công nhân có tích luỹ để mua nhà ở hoặc mua trả góp, nếu không thì phải có chính sách nhà ở cho công nhân viên chức, vì nhà ở là một vấn đề cơ bản trong chính sách xã hội và là một trong những quyền cơ bản, tối thiểu của con người.

+ Ban hành một số chính sách cho phù hợp với tình hình mới như trợ cấp thất nghiệp; chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, đãi ngộ hiền tài; chính sách dạy nghề; luật Giám đốc v.v.. Hoàn thiện và bổ sung điều chỉnh một số chính sách đã ban hành như bảo hiểm xã hội; bảo hiểm y tế; bảo hộ lao động; chế độ nghỉ ngơi v.v.. Có hướng dẫn rõ ràng hơn về cơ chế Công đoàn tham gia quản lý kinh tế, quản lý Nhà nước, quản lý xã hội; về đối thoại với giám đốc, thủ trưởng cơ quan như thế nào. Vì những vấn đề này chưa được thể hiện rõ trong các văn bản cũng như trong thực tế.

+ Bãi bỏ chế độ độc quyền Nhà nước thành độc quyền doanh nghiệp như một số lĩnh vực hiện nay (bưu điện, điện, nước, xăng dầu v.v..) vì nó tạo ra "thái độ cửa quyền" theo đó là mức chênh lệch thu nhập không cần thiết. Đẩy mạnh việc thực hiện cổ phần hóa doanh nghiệp, tạo hành lang pháp lý thông thoáng và bình đẳng cho mọi thành phần kinh tế phát triển. Ban hành chủ trương mở rộng các ngành, các lĩnh vực được làm dịch vụ công để tinh giản biên chế, đồng thời tạo điều kiện cho cán bộ công chức tham gia vào hoạt động này.

+ Đề nghị bổ sung ngành chế biến thủy sản đông lạnh vào danh mục bệnh nghề nghiệp, vì công nhân làm việc ở đây sau một thời gian thường bị bệnh viêm mũi, phổi do lao động trong môi trường tanh, ẩm, lạnh.

- Cấp tỉnh.

+ Tăng cường chỉ đạo công tác quản lý Nhà nước về lao động; tổ chức thực hiện tốt đề án đào tạo, phân bố và sử dụng nguồn nhân lực; tiết kiệm các khoản chi tiêu để tăng nguồn vốn cho đầu tư phát triển; tạo điều kiện thuận lợi để Công đoàn tham gia quản lý Nhà nước, quản lý kinh tế. Ban hành qui định tiêu chuẩn hóa cán bộ công chức để qui hoạch và tuyển dụng. Ban hành chính sách đào tạo, bồi dưỡng và thu hút nhân tài. Tiến hành thí điểm khoán kinh phí hoạt động để tinh giản biên chế, nâng cao hiệu qủa làm việc. Mở rộng việc cho phép các thành phần kinh tế kinh doanh trên các lĩnh vực theo pháp luật; khuyến khích các loại hình xã hội hóa và dịch vụ công.

+ Các cơ quan Nhà nước xây dựng qui chế phối hợp với Công đoàn cùng cấp trong việc tổ chức thực hiện, kiểm tra giám sát và thanh tra việc chấp hành chính sách, pháp luật về lao động; giải quyết tốt mối quan hệ giữa người sử dụng lao động với người lao động. Xử lý và chấn chỉnh ngay những mặt thiếu sót, hạn chế của một số cơ quan, doanh nghiệp trong việc thực hiện các qui định của Nhà nước về lao động như thực hiện chế độ bảo hiểm, bảo hộ lao động, vệ sinh - an toàn lao động. Mở rộng quan hệ để tuyển công nhân đi lao động hợp tác ở nước ngoài.

+ Chỉ đạo các ngành chức năng tiến hành quy hoạch các khu nhà ở cho công nhân, viên chức. Chỉ đạo các doanh nghiệp lập kế hoạch để cùng với Nhà nước có qui hoạch xây dựng các khu nhà ở, ký túc xá công nhân.

            3- Đối với Công đoàn

- Tăng cường chỉ đạo nâng cao chất lượng xây dựng cơ sở Công đoàn vững mạnh. Quan tâm đến việc phát triển tổ chức Công đoàn ngoài quốc doanh, nhất là đối với doanh nghiệp tư nhân.

- Thường xuyên bồi dưỡng kiến thức pháp luật, nghiệp vụ chuyên môn về công tác Công đoàn cho cán bộ chuyên trách và bán chuyên trách để họ có đủ năng lực chỉ đạo điều hành các hoạt động đồng thời tư vấn, hướng dẫn các đối tượng liên quan thực hiện đúng các chế độ, chính sách đối với người lao động. Cần thành lập Ban hoặc Trung tâm tư vấn pháp lý lao động của tỉnh.

- Khắc phục ngay những mặt còn yếu kém, hạn chế như đã nêu. Ap dụng những vấn đề được nghiên cứu đúc kết để xây dựng chương trình, dự án cụ thể, triển khai cho các cấp Công đoàn thực hiện nhiệm vụ. Chủ động có kế hoạch để tham mưu với Đảng, Nhà nước chỉ đạo và ban hành các qui định nhằm phát huy và tạo điều kiện thuận lợi cho Công đoàn hoạt động./.

 

 PHẦN PHỤ LỤC

GỒM ĐỀ ÁN VÀ CÁC MÔ HÌNH

 



[1]  Văn kiện Nghị quyết ĐH Đảng toàn quốc lần thứ IX. 



[1] Văn kiện Nghị quyết ĐH Đảng toàn quốc lần thứ IX



[1]  Vũ Oanh – Đổi mới nội dung tổ chức cán bộ và phương thức hoạt động Công đoàn trong giai đoạn hiện nay, NXB Lao động, Hà Nội – 1999, trang 17.




[1] Hồ Chí Minh - Toàn tập, tập 8, NXB Sự Thật, 1989, trang 592

[2] Điều 4 Hiến pháp năm 1992.

[3] Điều 10 Hiến pháp năm 1992.

[4] Nghũ quyeỏt ẹaùi hoọi ẹaỷng boọ tổnh Caứ Mau laàn thửự XII, naờm 2001. 


Comments