74 Vũ Thị Miên

TRANG CHỦ

 

 

 

VŨ THỊ MIÊN

(1935 - 2001)

 

 

 Bà Vũ Thị Miên sinh ngày 02 tháng 9 năm 1935.

- Quê quán thôn Lác Nội, xã Thanh Hương, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam; là con thứ 4 (út) của ông bà Vũ Đình Nguyên - Nguyễn Thị Thái.

- Nghề nghiệp chuyên môn: y tá.

- Bà sớm giác ngộ cách mạng, năm 1952 đi kháng chiến chống Pháp, công tác tại Khu Y tế Liên Khu 3, trực tiếp làm công tác cứu thương. Từ năm 1955 được điều động về công tác tại bệnh viện Lạc Quần, rồi bệnh viện Ý Yên, tỉnh Nam Định. Sau năm 1960 chuyển cả gia đình về quê chồng, tiếp tục tham gia công tác trong ngành Y tế và sản xuất nông nghiệp tại quê - xã Yên Thắng. Từ năm 1989 chuyển vào Nam sinh sống, nơi ở tại 186 Trần Hưng Đạo, phường 5, thành phố Cà Mau.

- Bà mất vào lúc 01 giờ 04 phút ngày 24 tháng 11 năm 2001, nhằm ngày 10 tháng 10 năm Tân Tỵ. Mộ an táng tại nghĩa trang từ trần thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

 

Các con có:

- Phạm Thị Chúc;

- Phạm Văn Uýnh;

- Phạm Văn Thụy;

- Phạm Văn Trình;

- Phạm Thị Ngân;

- Phạm Thị Ngọc.

 

LỜI ĐIẾU

Khóc mẹ

 

Heo may, gió chướng trở về, lá vàng rơi. Mẹ của chúng con không còn nữa, Mẹ ra đi lòng con đau xót tiếc thương!

 

Mẹ Vũ Thị Miên sinh ngày 02 tháng 9 năm 1935, quê ở thôn Lác Nội, xã Thanh Hương, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam. Sống trong gia đình có truyền thống hiếu học nên mẹ được đi học rất sớm. Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, mẹ đã học xong chương trình Tiểu học, từng theo các người anh đi mít tinh dự Lễ Tuyên ngôn độc lập ngày 2/9/1945 tại Quảng trường Ba Đình. Đất nước độc lập như luồng sinh khí mới thổi vào tâm hồn mẹ, nhưng đến năm 1946, kháng chiến toàn quốc bùng nổ, mẹ phải sơ tán từ Hà Nội về quê. Tuổi thiếu niên là những tháng năm gian khổ khi mẹ chứng kiến cảnh thực dân Pháp càn quét, bắn giết đồng bào, rày xéo quê hương, trong đó có gia đình mẹ. Năm 17 tuổi mẹ nhận thức rõ trách nhiệm của người thanh niên, mẹ đã xung phong tham gia vào cuộc kháng chống Pháp, làm công tác cứu thương tại Khu Y tế Liên khu 3. Sau năm 1954, hòa bình lập lại, mẹ công tác tại bệnh viện Lạc Quần, tỉnh Nam Định. Tại đây mẹ đã gặp một người thanh niên quân đội, hai người đã thầm lặng mến nhau. Năm 1956 mẹ kết duyên với người thanh niên ấy - cũng là đồng đội, đồng nghiệp của mẹ tại huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định. Đây là quãng đời thanh xuân đẹp nhất cuả mẹ, niềm vui khi được Cách mạng đổi đời, hạnh phúc khi được công tác, chăm lo công việc gia đình.

 

Vì thương bố mẹ chồng đã già yếu không người chăm sóc; sau năm 1960 mẹ chuyển về quê chồng sinh sống, lao động sản xuất nông nghiệp và tiếp tục tham gia công tác y tế ở địa phương cho đến năm 1988. Những năm tháng công tác và sống ở quê, mẹ thật sự là người phụ nữ mới: đảm đang việc nước, việc nhà, phụng dưỡng ông bà nội, nuôi dạy các con ăn học, khôn lớn trưởng thành, làm chỗ dựa vững chắc cho bố con yên tâm công tác.

 

Năm 1989 một lần nữa lại vì thương nhớ các con, các cháu ở xa, mẹ đã chuyển vào sống tại thành phố Cà Mau để gia đình quây quần sum họp. Đầu năm 2001 mẹ bị bệnh, mặc dù được các y bác sỹ và gia đình tận tình cứu chữa nhưng do căn bệnh hiểm nghèo, mẹ đã từ giã cõi đời vào lúc 01 giờ 04 phút ngày 24 tháng 11 năm 2001, nhằm ngày 10 tháng 10 năm Tân Tỵ, hưởng thọ 67 tuổi.

 

Cả cuộc đời, mẹ dành trọn tình thương yêu cho chồng, cho con, cho cháu, cho thân tộc và quê hương. Khi công tác, mẹ là người tận tụy, không quản vất vả khó khăn, hết lòng vì người bệnh. Những đêm khuya giá rét hay những ngày hè nắng gắt, mẹ cứ lặng lẽ chân tình, ân cần chăm sóc cho người bệnh như chính người thân của mẹ. Năm tháng cha công tác vắng nhà, mẹ đảm đang mọi công việc, nuôi dạy các con, chăm sóc cha mẹ già để bố con yên tâm công tác. Mẹ là người con dâu nhất mực thảo hiền của ông bà và dòng họ. Có mẹ gia đình ta trong ấm, ngoài êm, thân tộc hai bên nội - ngoại tự hào, đi về thân thiết. Biết bao nhiêu tháng ngày dầm mưa, dãi nắng, gía rét thấu xương, đường xa dặm thẳm, đôi vai gánh nặng, tất bật ngược xuôi, lo toan miếng cơm, manh áo cho con ăn học. Biết bao đêm thao thức, ngày tháng chờ mong, các con của mẹ 2 đứa đi công tác xa, 2 đứa đi bộ đội tết đến vắng nhà. Mẹ ơi, công lao và niềm hy vọng của mẹ nay đã thành hiện thực: các con trai, con gái đều trưởng thành; gia đình có con dâu, con rể, cháu nội, cháu ngoại khỏe mạnh, đông vui. Các con của mẹ đều là những trí thức, giáo viên, bộ đội phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân.

 

Giờ đây chúng con đã khôn lớn, những mong báo đáp công lao sinh thành, nuôi dưỡng của mẹ; phụng dưỡng mẹ lúc tuổi về già, giúp mẹ giảm bớt nhọc nhằn khi đau yếu. Vậy mà mẹ đã ra đi! mẹ ra đi, cha và chúng con mất người yêu thương nhất - nỗi lòng đau đớn xót xa… Mẹ ra đi, cha già tóc bạc, ngậm ngùi trống vắng, thiếu người chăm sóc, bầu bạn, chia sẻ buồn vui… Thân tộc, họ hàng mất đi một thành viên tin yêu không gì bù đắp được; xóm giềng, khóm phố, bạn bè thân hữu gần xa ai cũng sụt sùi thương cảm… đau thương này, mất mát này, biết bao giờ nguôi hỡi mẹ ơi!

 

Vẫn biết hoa rơi, lá rụng là lẽ tự nhiên của đất - trời không ai cưỡng được, nhưng là nỗi đau đớn, nghiệt ngã khôn cùng… Dẫu rằng mai kia, chúng con có xuống biển, lên rừng cũng không sánh nổi công ơn của mẹ; lòng trĩu nặng thương nhớ mẹ thiết tha, nhớ mẹ trong từng bước đi, giọng nói, tiếng cười. Mẹ ơi, điều không bao giờ muốn, mãi mãi không bao giờ muốn, giờ đây đã đến. Trước khi đưa tiễn mẹ về nơi an nghỉ cuối cùng, thay lời cho cha, chúng con - chị em trai gái dâu rể cùng các cháu, họ hàng thân tộc, cô bác, anh em bạn bè thân hữu gần xa kính cẩn thắp hương trước linh cữu mẹ, cùng cầu mong hương hồn mẹ thanh cao siêu thoát cõi vĩnh hằng.

                             

Toàn gia, con cháu, nội ngoại đồng bái lạy!
 

 


 

- Ông cụ thân sinh là: Vũ Đình Nguyên, sinh năm 1892, mất năm 1963, thọ 72 tuổi. Cụ là con trưởng trong gia đình có 5 anh em, 4 trai, 1 gái.

- Bà cụ thân sinh là: Nguyễn Thị Thái, sinh năm 1893, mất năm 1961, thọ 69 tuổi.

Hiện nay mộ ông bà an táng tại nghĩa địa thôn Lác Nội xã Thanh Hương, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam.

 

Mộ ông bà Vũ Đình Nguyên, Nguyễn Thị Thái

 

 

 Các anh ruột là:  

 - Vũ Văn Vân, sinh năm 1919. Là công nhân nhà máy in, tham gia hoạt động Cách mạng trong phong trào công nhân ở Hà Nội; bị thực dân Pháp bắt giam tại nhà tù Hoả Lò, Hà Nội. Do bị tra tấn dã man, cộng với chế độ nhà tù khắc nghiệt, ông mất năm 1944, khi ấy 25 tuổi. Người vợ mới cưới 1 năm, chưa có con.

Mộ ông Vũ Văn Tân, Vũ Văn Vân và anh Vũ Ngọc Linh

 

  - Vũ Văn Tung, sinh năm 1923. Làm kế toán nhà máy in tại Hà Nội. Tham gia Cách mạng tháng Tám năm 1945. Năm 1946, toàn quốc kháng chiến chống Pháp bùng nổ, đưa gia đình sơ tán về quê tham gia hoạt động du kích ở địa phương, từng bị giặc Pháp bắt tra tấn dã man. Sau khi hoà bình lập lại năm 1954, làm kế toán HTX, sinh sống ở quê. Mất ngày 3/8/2007, thọ 84 tuổi.

VŨ VĂN TUNG (1923 - 2007)

BÀ VŨ VĂN TUNG

 

 

Ông bà Vũ Văn Tung sinh thành các người con:

- Vũ Ngọc Linh, mất năm 1952;

- Vũ Thị Thoan, sinh năm 1949.

- Vũ Thị Phan, sinh năm 1952.

- Vũ Thị Kim, sinh năm 1955.

- Vũ Thị Hương, sinh năm 1957.

- Vũ Thị Sen, sinh năm 1960.

- Vũ Thị Huyền, sinh năm 1963.

 

  - Vũ Văn Tân, sinh năm 1928. Làm công nhân nhà máy in tại Hà Nội. Tham gia Cách mạng tháng Tám năm 1945. Năm 1946 đi hoạt động kháng chiến ở chiến khu Việt Bắc đến năm 1955. Sau khi về tiếp quản thủ đô năm 1955, làm Trưởng phòng nghiệp vụ in nhà máy in Tiến Bộ Hà Nội. Bệnh mất năm 1977 tại Hà Nội.

Vợ là Chu Thị Mai, sinh năm 1936, là công nhân nhà máy in Tiến Bộ Hà Nội từ năm 1956 đến năm 1991 nghỉ hưu.

Ông bà sinh các người con:

- Vũ Thị Hạnh, sinh năm 1961;

- Vũ Văn Phúc, sinh năm 1965;

- Vũ Thị Hường, sinh năm 1973.

 

Vũ Thị Thoan, Vũ Thị Huyền đi viếng mộ bà Vũ Thị Miên

 Từ trái qua: Vũ Thị Hường, Vũ Thị Thoan (22/7/2008)