Hạnh phúc một tang gia

Kiến thức cơ bản / bài viết hay

HẠNH PHÚC CỦA MỘT TANG GIA

(Trích  tiểu thuyết "Số đỏ")

Vũ Trọng Phụng

I. Kiến thức cơ bản.

1. Tác giả.

Vũ Trọng Phụng (1912-1939) quê nội ở Hưng Yên. Ông sống và viết văn tại Hà Nội. Sở trường về phóng sự, được các báo chí thời bấy giờ gọi là "Ông vua phóng sự đất Bắc".

Tác phẩm:

- Phóng sự: "Cạm bẫy người" (1933); "Cơm thầy cơm cô" (1936); "Lục xì" (1937),v.v…

- Tiểu thuyết: "Giông tố" (1936); "Số đỏ" (1936) ;"Vỡ đê" (1936); "Trúng số độc đắc" (1938);v.v…

- Kịch: "Không một tiếng vang" (1931)

Vũ Trọng Phụng có tài châm biếm đả kích cái xã hội thực dân phong kiến tư sản hết sức bất công, tàn bạo, thối nát… Ông đã sáng tạo ra những nhân vật điển hình bất hủ như Xuân Tóc Đỏ để chế giễu cái xã hội mà ông gọi là "khốn nạn", "chó đẻ".

2. Xuất xứ.

"Hạnh phúc của một tang gia”, trích toàn bộ chương 15 tiểu thuyết "Số đỏ", một kiệt tác của Vũ Trọng Phụng, xuất bản năm 1936.

3. Tóm tắt chương "Hạnh phúc của một tang gia".

Sau ba ngày ngắc ngoải, Cụ cố tổ hơn 80 tuổi chết thật. Cụ cố Hồng, vợ chồng Văn Minh, ông phán mọc sừng, cậu tú Tân, cô Tuyết… cả bọn con cháu đều vô cùng sung sướng. Người chết được quan trên khám qua loa đã được khâm liệm, gần một ngày rồi mà chưa phát phục. Sau khi cụ bà đi thu xếp việc cưới chạy tang cho Tuyết không đi đến đâu, Văn Minh hứa sẽ tìm cách cho Tuyết lấy chồng một cách danh giá, thì Cụ cố Hồng mới chịu cho phát phục. Bầy con cháu tưng bừng vui vẻ đi đưa giấy cáo phó, gọi phường kèn, thuê xe đám ma.

Bảy giờ sáng hôm sau thì cất đám. Có hai tên cảnh sát Min Đơ, Min Toa được thuê giữ trật tự. Tuyết mặc bộ đồ Ngây thơ đi mời trầu. Đám ma tổ chức theo cả lối Ta, tối Tàu, lối Tây . Có kiệu bát cống, có lợn quay đi lọng, có đến ba trăm câu đối, vài ba trăm người đi đưa ma. Có lốc bốc xoảng, bu dích và nhiều vòng hoa. Khi đám ma đi được bốn phố, khi vợ chồng Typn, bà Phó Đoan và mấy người nữa đang lào xào phê bình thái độ của Xuân thì bỗng có sáu chiếc xe, trên xe có Xuân Tóc Đỏ và có sư chùa Bà Banh xuất hiện, xe nào cũng che hai lọng. Hai vòng hoa đồ sộ, một của báo Gõ Mõ, một của Xuân len vào hàng đầu. Cậu tú Tân vội bấm máy. Cụ bà chạy lên, vô cùng sung sướng vì ông Đốc Xuân đã không giận mà lại giúp đáp phúng viếng đến thế, và đám ma như thế đã là danh giá nhất tất cả. Bọn quan khách, những nam thanh nữ tú thì cười tình với nhau, bình phẩm nhau, chê bai nhau…

Lúc hạ huyệt, cậu tú Tân bắt bẻ từng người một để chụp ảnh. Ông Phán mọc sừng khóc to, “Hứt!Hứt!Hứt”, rồi bí mật giúi vào tay Xuân Tóc Đỏ cái tờ giấy bạc 5 đồng gấp tư… Xuân Tóc Đỏ nắm tay lại cho mọi người khỏi nom thấy chuyện ấy.

II. Bài văn tự luận, tham khảo.

Bài thứ nhất

Cái chết của Cụ tổ và đám tang được kể trong đoạn trích

"Hạnh phúc của một tang gia" ("Số đỏ" - Vũ Trọng Phụng)

là đáng khóc hay đáng cười? Vì sao?

Bài làm

Vũ Trọng Phụng (1912-1939) với 27 tuổi đời, 10 năm cầm bút, nhưng sự nghiệp văn chương của ông để lại cho đời thật vô cùng lớn lao: 7 tập phóng sự, 9 cuốn tiểu thuyết, 6 vở kịch và khoảng 30 truyện ngắn. Hơn nửa thế kỉ trước, ông từng được ca ngợi là "ông vua phóng sự đất Bắc", là một "văn tài lỗi lạc" (Lưu Trọng Lư), là một "thiên tài" (Thanh Châu)... Tiểu thuyết "Số đỏ", "Giông tố" của Vũ Trọng Phụng được đánh giá là kiệt tác văn chương trong nền văn học Việt Nam hiện đại.

Vũ Trọng Phụng viết "Số đỏ" vào năm 1936, qua nhân vật Xuân Tóc Đỏ, một tên hạ lưu, một gã "ma cà bông", ông đả kích cay độc cái xã hội trưởng giả tư sản thành thị đang chạy theo lối sống "Âu hóa" văn minh rởm, hết sức đồi bại, nhố nhăng đương thời.

Mỗi chương trong "Số đỏ" đều được đặt những cái tên trào phúng châm biếm sâu cay. Cuốn tiểu thuyết gồm 20 chương; chương 15 mang cái tên rất dài: "Hạnh phúc của một tang gia"- Văn minh nữa cũng nói vào một đám ma gương mẫu". Chương này kể về cái chết và đám ma Cụ tổ như một màn bi hài kịch. Có biết bao tình tiết, biết bao bộ mặt xuất hiện trong đám ma khác nào những vai hề. Cái chết của Cụ tổ và đám ma vừa đáng khóc vừa đáng cười. Khóc vì đạo lí suy đồi đến cực độ. Cha chết, ông chết mà "bọn con cháu vô tâm ai cũng sung sướng thỏa thích". Cái chết của ông già hơn 80 tuổi "đã làm cho nhiều người sung sướng lắm. Ai cũng nghĩ đến cái lợi do cái chết và đám tang của Cụ tổ mang lại, đúng là "Hạnh phúc của một tang gia". Sự báo hiếu của bọn con cháu của Cụ tổ chỉ là để khoe giàu, khoe sang với thiên hạ. Cái chết và đám ma Cụ tổ như một đám rước, với bao vai hề hiện lên dưới ngòi bút trào phúng, châm biếm đả kích của tác giả "Số đỏ" sao không đáng cười?

Cái chết của Cụ tổ được bọn con cháu mong đợi từ lâu. Trong lúc Cụ tổ ốm thập tử nhất sinh, đốc tờ Xuân chỉ dùng một lọ nước ao tanh bẩn, mấy lá thài lài và rau sam - thuốc thánh đền Bia, thế mà Cụ tổ, chỉ độ nửa giờ sau khi dùng thuốc "đã tỉnh táo khác thường", tự ngồi dậy được, ăn được nửa bát cháo. Và cũng chỉ bằng một câu chào: "Thưa ngài, ngài là một người chồng mọc sừng!", Xuân đã làm cho Cụ tổ "nấc một cái to, ngã xuống giường", bất đắc kì tử! Ông già hơn 80 tuổi, trước lúc nhắm mắt còn giăng giối: "Để ta chết! Sống cũng nhục! Có chạy chữa thì chạy chữa cho cái thanh danh nhà tao mà bọn chúng mày đã trót bôi nhọ! Thế!". Cái chết của Cụ tổ vừa đáng khóc vừa đáng cười. Văn Minh, cháu đích tôn của Cụ tổ cứ băn khoăn mãi về tội và ơn của Xuân Tóc Đỏ: "Xuân tuy phạm tội quyến rũ em gái ông, tố cáo cái tội trạng hoang dâm của một em gái khác nữa của ông, nhưng tình cờ đã gây ra cái chết của ông cụ già đáng chết. Hai cái tội nhỏ, một cái ơn to... Làm thế nào?" Cái băn khoăn ấy của Văn Minh sao không đáng khóc và đáng cười.

Đám tang của Cụ tổ khác nào một đám rước? Có kiệu bát cống, có lợn quay che lọng. Có kèn ta, kèn tàu, kèn tây. Còn có hai viên quan chức nhà nước Min-đơ, Min-toa giữ trật tự! Bọn con cháu hạnh phúc lắm, sung sướng lắm! Cụ cố Hồng hút liền một chặp 60 điếu thuốc phiện, gắt 1872 câu gắt: "Biết rồi! Khổ lắm, nói mãi!" mà thằng bồi tiêm đã đếm được! Cụ nhắm nghiền đôi mắt, mơ màng nghĩ đến lục lụ khụ chống gậy, mặc bộ đồ xô gai, vưa ho khạc vừa khóc mếu sẽ làm cho ai cũng phải "ngợi khen một cái đam ma như thế, một cái gậy như thế!".

Văn Minh chồng lấy làm hạnh phúc vì cái món lợi chia gia tài của Cụ tổ mang lại "cái chúc thư kia sẽ đi vào thời kì thực hành chứ không còn là lí thuyết viển vông nữa". Ông Phán mọc sừng chỉ nhờ "đôi sừng hươu vô tình trên đầu" mà ông được bố vợ là cụ cố Hồng sẽ chia thêm cho một số tiền là vài nghìn đồng. Ông sung sướng muốn gặp ngay ông Xuân để "trù tính ngay một công cuộc doanh thương". Cô Tuyết tuy "đau khổ... muốn tự tử được" vì không thấy anh Xuân đến đưa ma, nhưng cô cũng không kém phần hạnh phúc như mọi người khác. Tuyết mặc bộ y phục "Ngây thơ" với"vẻ buồn lãng mạn" đi mời trầu cau và thuốc lá các quan khách, để cho thiên hạ phải biết rằng "mình chưa đánh mất cả chữ trinh".

Có vai hề là bầy con cháu! Có vai hề là những quan khách. Là bạn của cô Tuyết, bà Văn Minh, cô Hoàng Hôn, bà Phó Đoan vân vân, những "giai thanh gái lịch" đến đưa tang là để "chim nhau, cười tình với nhau, bình phẩm nhau, chê bai nhau, ghen tuông nhau, hẹn hò nhau,...". Là những người bạn của cụ cố Hồng đến đưa ma Cụ tổ "ngực đầy những huy chương như Bắc đẩu bội tinh, Long bội tinh... để khoe tài, khoe đức" (!), với những bộ râu ria "hoặc dài hoặc ngắn, hoặc đen, hoặc hung hung, hoặc lún phún hay rầm rậm, loăn quoăn...". Ngòi bút biếm họa của Vũ Trọng Phụng thật hiếm có. Ông đã làm cho độc giả phải ôm bụng mà cười về những bộ râu ấy!

Sụ cụ Tăng Phú với ông Xuân - cố vấn báo Gõ mõ đến đưa tang giữa đường, với sáu chiếc xe, xe nào cũng che hai lọng có hai vòng hoa đồ sộ. Sư cụ Tăng Phú "sung sướng và vênh váo ngồi trên một chiếc xe" vì đây là "cuộc đắc thắng đầu tiên của báo Gõ mõ" đã đánh đổ được Hội Phật giáo. Còn Xuân Tóc Đỏ đã được Tuyết "liếc mắt đưa tình cho nó để tỏ ý cảm ơn!". Hắn đã làm cho bà cụ Hồng cảm động cực độ, sung sướng kêu: "Ấy giá không có món ấy thì là thiếu chưa được to, may mà ông Xuân đã nghĩ hộ tôi!". Đó là cảnh hài sao không đáng cười được! Cảnh hạ huyệt mới thật sự là một cảnh trong vở bi hài kịch. Cậu Tú Tân luộm thuộm trong chiếc áo thụng trắng, với chiếc máy ảnh trong tay, cậu bắt bẻ từng người một, hoặc chống gậy, hoặc gục đầu, hoặc cong lưng... để cậu chụp ảnh lúc hạ huyệt! Cụ cố Hồng thì "mếu máo và ngất đi!". Ông Phán mọc sừng "oặt người đi, khóc mãi không thôi: "Hứt!... Hứt!... Hứt!...". Thế nhưng ông ta rất tỉnh táo đã bí mật dúi vào tay Xuân tờ bạc 5 đồng gấp tư để "giữ chữ tín" và cũng là để "tri ân" người đã đem đến cho mình món lợi to!

Vũ Trọng Phụng đã sử dụng biến hóa nhiều thủ pháp châm biếm trào phíng cay độc. Lúc thì phóng đại, lúc thì biếm họa. Có cử chỉ đáng cười! Có ngôn ngữ buồn cười! Có cảnh gây cuời! Từ tang chủ, bọn con cháu đến quan khách, tất cả đều trở thành những vai hề. Vì thế mới có hình ảnh "người chết nằm trong quan tài cũng phải mỉm cười sung sướng nếu không gật gù cái đầu...".

Qua chương "Hạnh phúc của một tang gia", ta thấy được nghệ thuật trào phúng bậc thầy của Vũ Trọng Phụng trong "Số đỏ". Tiếng cười trên trang văn của ông có giá trị tố cáo mãnh liệt, đả kích sâu cay cái nhố nhăng, đồi bại của xã hội thực dân phong kiến tư sản, cái xã hội "khốn nạn", "chó đểu" như ông đã phỉ nhổ, nguyền rủa.

Thật vậy, cái chết và đám ma Cụ tổ là một vở bi hài kịch, vừa đáng khóc, vừa đáng cười, nhưng cái đáng cười là chủ yếu!

Bài thứ hai

Cảm nhận của anh (chị) về nghệ thuật trào phúng của Vũ Trọng Phụng qua chương "Hạnh phúc của một tang gia" trong "Số đỏ"

Bài làm

Năm 1939, Vũ Trọng Phụng bước sang tuổi 24. "Ông vua phóng sự đất Bắc" liền cho ra đời năm tác phẩm lừng danh: "Giông tố", "Số đỏ", "Làm đĩ", "Vỡ đê""Cơm thầy cơm cô". Tác phẩm của ông được đánh giá là "vào loại xuất sắc nhất của văn xuôi Việt Nam từ khi có chữ quốc ngữ".

Trong đó, "Số đỏ" với nghệ thuật trào phúng bậc thầy, nó được coi là một kiệt tác bất hủ trong văn chương đương thời. Vũ Trọng Phụng đả kích cực kì cay độc cái xã hội trưởng giả tư sản thành thị đang chạy theo lối sống "Âu hóa" văn minh rởm, hết sức đồi bại và lố lăng đương thời. "Số đỏ" chỉ dài độ 200 trang nhưng nhung nhúc những hạng người xấu xa, đê tiện như me Tây, ma cà bông, giới cảnh sát, loại nhà chùa, đám du học, có cả nghệ sĩ, y học, giới báo chí... Vũ Trọng Phụng đã từng tuyên bố: "Riêng tôi, xã hội này, tôi chỉ thấy là khốn nạn, quan tham, lại nhũng, đàn bà hư hỏng, đàn ông dâm bôn, xã hội chó đểu...".

Chương 15 với cái tiểu nhân đề: "Hạnh phúc của một tang gia" đã đem đến cho người đọc bao thú vị như được mục kích một màn hài kịch trong bộ "Tấn trò dời" của xã hội thực dân phong kiến.

Nhan đề chương 15 là một nghịch lí đầy ý vị, chua cay. Tang gia là gia đình có tang, ở đây là đại tang tất phải đau thương buồn thảm. Ấy vậy mà lại hạnh phúc. Cái gia đình tam đại đồng đường này, khi cụ Tổ hơn 80 tuổi phải chết đã làm cho lũ con cháu "sung sướng lắm!".

Vũ Trọng Phụng đã xây dựng thành công một tình huống điển hình để phơi bày những bộ mặt đồi bại trong cái gia đình trưởng giả này, vạch trần những cặn bã, những quái thai của cái xã hội dở ta dở Tây buổi ấy.

Cha chết, ông chết "bọn con cháu vô tâm cũng sung sướng thỏa thích". Đây là dịp hiếm có để khoe của, kheo giàu, phô cái sang ra cho thiên hạ biết. "Người ta tưng bừng vui vẻ đi đưa giấy cáo phó, gọi phường kèn, thuê xe đám ma, vân vân...". Niềm vui tràn ngập: "tang gia ai cũng vui vẻ cả".

Người con trai cả - cụ cố Hồng - hút liền một chập 60 điếu thuốc phiện, hả hê lim dim đôi mắt. Bữa nay, cha chết, cụ vui vẻ lắm, nhưng thằng bồi tiêm vẫn còn đếm được 1872 câu gắt: "Biết rồi, khổ lắm, nói mãi!". Trong cái dư vị êm ái của thuốc phiện, cụ "nhắm nghiền mắt lại để mơ màng" đến cái giờ phút hạnh phúc "hạnh phúc nhất: mặc đồ xô gai, lụ khụ chống gậy, vừa ho khạc vừa khóc mếu" để cho thiên hạ phải trầm trồ: "một cái đám ma như thế, một cái gậy như thế",... rồi ngạc nhiên chỉ trỏ: "Úi kìa, con giai nhớn đã già đến thế kia kìa...". Con trai đã "báo hiếu" cha như vậy! Đó là một nét biếm họa thần tình. Tâm hồn sa đọa, đạo lí suy đồi đến cùng cực, từ cha đến con.

Hai đứa cháu nội của cụ Tổ xuất hiện giữa đám tang với bao nét kệch cỡm lố lăng. Văn Minh đi Tây du học 6-7 năm mà chẳng có môt "mảnh bằng nào cả" về nước hắn mở hiệu may để cổ vũ cho cái trò "Âu hóa" nhằm "phô ra những bộ phận kín đáo của phái đẹp". Ông nội chết, đứa cháu quý hóa này nhăm nhăm nghĩ tới chuyện chia gia tài, thích thú ra mặt vì "cái chúc thư kia đã vào thời kì thực hành chứ không còn là lí thuyết viển vông nữa". Cậu Tú Tân thì mở cờ trong bụng, được dịp trổ tài bấm lách tách "mấy cái mấy ảnh mà mãi cậu không được dùng đến". Lúc đưa tang, cậu lăng xăng chạy lên chạy xuống, cậu dàn cảnh, cậu đạo diễn lúc hạ huyệt bắt bẻ từng người cách "chống gậy", "gục đầu", "cong lưng", "lau mắt", như thế này, thế nọ để cậu bấm máy. Y "luộm thuộm trong chiếc áo thụng trắng" như một tên hề!

Vũ Trọng Phụng đã tả đám ma cụ Tổ bằng nhiều nét hoạt kê, châm biếm sâu cay cái rởm đời của bọn thượng lưu tha hóa. Một đám ma to tát "một đám ma gương mẫu" nhưng chẳng qua là một đám rước xách. Có kiệu bát cống lợn quay đi lọng. Có lốc bốc xoẻng và bu dích. Có nhiều vòng hoa, 300 câu đối, vài ba trăm người đi đưa. Đúng là một đám ma tạp pí-lù "theo cái lối ta, Tàu, Tây". Bởi thế nên bầy con cháu thì hạnh phúc, còn "người chết nằm trong quan tài cũng phải mỉm cười sung sướng nếu không gật gù cái đầu...". Lấy cái phi lí để vạch trần cái lố lăng, đồi bại là một nét vẽ cực kì sắc sảo, độc đáo trong nghệ thuật trào phúng của Vũ Trọng Phụng.

"Có bao đám khách" quý phái và "sang trọng" đến đưa ma cụ cố Tổ. Phụ nữ chiếm một nửa, là "giai thanh gái lịch", là bạn của Tuyết và bà Phó Đoan... Họ đến đưa ma là để "cười tình với nhau, bình phẩm nhau, chê bai nhau, hẹn hò nhau...". Bọn mày râu, bạn của cụ cố Hồng đến đưa tang để khoe mẽ "ngực đầy những huy chương" của "nước mẹ" hay của bọn bù nhìn ban phát cho. Khi tả bộ râu của đám quan khách này, tác giả "Số đỏ" đã sáng tạo nên những chi tiết, những ngôn từ và giọng điệu trào phúng chua cay. Một lối nói nhạo, chế giễu thần tình. Trên mép và cằm các ông trưởng giả khoe "tài" khoe "đức" ấy "đếm đủ râu ria, hoặc dài hoặc ngắn, hoặc đen hoặc hung hung, hoặc lún phún hay rầm rậm, loăn quoăn,...". Người đọc phải bấm bụng mà cười khi đọc đoạn văn tả những bộ râu ấy. Đằng sau bộ râu kia là những mặt người tha hóa vô luân!

Vũ Trọng Phụng đã dùng thủ pháp "phục bút" khi tả sự xuất hiện của Xuân Tóc Đỏ. Tuyết mặc bộ "Ngây thơ" đi mời trầu và thuốc lá quan khách với "vẻ buồn lãng mạn rất đúng mốt một nhà có đám". Cô vô cùng sung sướng khi thấy "anh Xuân" đã đến bèn "liếc mắt đưa tình ... để tỏ ý cảm ơn". Xuân Tóc Đỏ đã đến đưa đám một cách sang trọng cực kì, với 6 chiếc xe, với sư chùa Bà Banh, với sư cụ Tăng Phú, hai vòng hoa lớn... đã làm cho cụ bà sung sướng kêu lên: "Ấy, giá không có món ấy thì là thiếu chưa được to, may mà ông Xuân đã nghĩ hộ tôi!". Xuân chẳng giận lại còn đến phúng viếng rất to, làm cho đám ma cụ cố Tổ trở nên "danh giá nhất tất cả".

Xuân Tóc Đỏ xuất hiện, ông Phán "mọc sừng" vốn đã nhờ "đôi sừng hươu" ấy mà được bố vợ chia cho thêm vài nghìn đồng bạc, trong lúc khóc thật to: "Hứt!... Hứt!.. Hứt!..." để báo hiếu vẫn không quên giữ chứ "tín" với ân nhân. Ông ta đã "dúi vào tay" Xuân "một cái giấy bạc 5 đồng gấp tư". Cuộc mua bán hay trả nghĩa diễn ra sòng phẳng và kín đáo quá! Xuân và ông Phán "mọc sừng" như một cặp bài trùng, hai diễn viên hài siêu hạng. Chính cảnh này là tột đỉnh của sự trào lộng trong màn hài kịch "đám ma gương mẫu". Chính ở cảnh này, sự bịp bợm, giả dối và thô bỉ của bọn "thượng lưu", đã lên tới độ vô liêm sỉ quá ghê tởm. Những con người "chó đểu" trong cái xã hội "chó đểu" là như thế đó!

Tóm lại, qua chương "Hạnh phúc của một tang gia", Vũ Trọng Phụng thể hiện xuất sắc tài kể chuyện và nghệ thuật hoạt kê trong miêu tả. Cái tài của tác giả "Số đỏ" là đã phóng đại những bức chân dung biếm họa, những cảnh đời lố lăng theo thủ pháp của nghệ thuật trào phúng làm cho người ta cười mà thấy được bao sự thật chứa đựng ở trong đó. Chuyện kể đầy kịch tính với bao sự phi lí đến ghê người đã lật tung cái mặt nạ của bọn đạo đức giả!

Tiếng cười trong "Số đỏ" là tiếng cười châm biếm có giá trị tố cáo và mang ý nghĩa xã hội sâu sắc. Đám ma cụ cố Tổ đích thực là một màn hài kịch, diễn viên là bầy con cháu và lũ quan khách, đã phơi bày tất cả cái bản chất lố lăng và đồi bại của xã hội nhuốm màu sắc "Âu hóa" kệch cỡm.

Bài thứ ba

Phân tích nhân vật Xuân Tóc Đỏ trong "Số đỏ" của Vũ Trọng Phụng

Bài làm

"Số đỏ" được đăng tải nhiều kì trên "Hà Nội báo" năm 1936, in thành sách năm 1938. Nó là cuốn tiểu thuyết trào phúng, độc đáo, hấp dẫn của Vũ Trọng Phụng, là tiếng nói căm hờn khinh bỉ cái xã hội thực dân phong kiến tư sản hết sức tàn bạo, thối nát - cái xã hội "khốn nạn!", "chó đểu", như tác giả đã nói.

Có biết bao chân dung biếm họa trong đám cặn bã, quái thái của cái xã hội thực dân phong kiến tư sản ấy. Me Tây, lũ nhà giàu hãnh tiến, bọn trí thức vô liêm sỉ kiếm ăn trong phong trào Âu hóa trụy lạc, bọn tu hành giả dạng, gái tân thời mất nết, đám vua quan bù nhìn, những ông Tây bà đầm, những vai hề, những con rối nhâng nháo một thời! Trong cái đám người ấy, nổi lên một Xuân Tóc Đỏ - một kẻ hạ lưu đê tiện, bỗng dưng được "Trời" ban cho một cái "số đỏ" đến lạ lùng!

Đây là là số tử vi của hắn:

 "Khốc Hư Tý Ngọ cư quan,

Tiếng tăm dậy khắp giang san một thời".

Ông thầy bói ngắm nghía "cái đầu tóc đỏ, cái trán lép, cái quai hàm to, cái nhân trung dài, hai cái tai đầy đặn" của Xuân rồi gật gù: "Hậu vận khá lắm! Chỉ tiếc cái tóc không được đen".

Và đây là bản tóm tắt sơ yếu lí lịch của Xuân Tóc đỏ: 9 tuổi, hắn ở nhờ nhà một người bác họ, "nuôi nó thay đầy tớ". Vì cái tội "nó khoét một lỗ phên nứa để nhìn" bác gái nó tắm. Xuân bị đánh một trận và đuổi đi. Từ đó, hắn sống lang thang như một tên ma-cà-bông (bụi đời): "Thằng Xuân lấy đầu hè xó cửa làm nhà, lấy sấu ở các phố, lấy cá hồ Hoàn Kiếm làm cơm. Nó đã bán phá xa, bán nhật trình, làm chạy hiệu rạp hát, bán cao đan hoàn tán trên xe lửa, và vài ba nghề tiểu xảo khác nữa. Ánh nắng mặt trời làm cho tóc nó đỏ như tóc Tây. Cảnh ngộ đó tạo nó nên một đứa hoàn toàn vô giáo dục, tuy nó tinh quái lắm, thạo đời lắm! Nó mới xin được chân nhặt bóng trong sân quần độ trong vòng một năm nay mà thôi".

Vốn là một kẻ vô giáo dục, lần thứ hai, hắn lại dòm trộm một cô đầm thay váy áo mà bị một ông Tây nắm tóc, lôi sềnh sệch mà tát, mà sỉ vả, bị đuổi việc, bị tống giam. Nhưng rồi số may, số đỏ đã đến với hắn. Bà Phó Đoan đã đem xe hơi đến tận bót sở cẩm rước hắn về. Cuộc đời hắn bắt đầu đổi thay từ đó, hắn bước vào cái xã hội thượng lưu, gặt hái được "danh vọng", hoan lạc trong bể ái tình. Gặp nhiều cơ may, với bản tính nhanh nhẹn, láu cá và tinh quái, hắn đã "trổ tài" và thành đạt trong "vinh hạnh và cao sang".

Tuy có chút ngờ nghệch ban đầu, hắn không hiểu nổi mọi ẩn ý của bà Phó Đoan, hoặc có lúc đọc không ra dòng chữ trên bảng hiệu, hắn phát cáu, lầm bầm chửi: "Mẹ kiếp! Chữ với chả nghĩa!". Nhưng không đầy một tuần lễ sau, thằng bồi trong tiệm may Âu hóa được bà Phó Đoan khen là "được việc, ở đâu vui vẻ đấy, thịnh vượng đấy". Văn Minh vợ rất hài lòng vì thằng bồi này "thông minh lắm". Văn Minh chồng ôn tồn nhận xét: "Được cái mồm miệng của hắn cũng nhanh nhảu". Còn bà vợ ông Típ-pờ-nờ, đã bái phục hắn: "Ông là người có học thức lắm. Ông nói văn vẻ y như viết văn Tây!". Và bà ta đã chân thành nhờ Xuân Tóc Đỏ "che chở" cho bà ta trong cuộc Âu hóa!

Vận may nữa lại đến với Xuân Tóc Đỏ. Cụ cố Tổ ngoài 80 tuổi đang bị ốm nặng, "ho khạc rên suốt ngày đêm". Lũ con cháu bàn bạc mời một ông đốc tờ Tây hay một "ông đốc tờ lang băm" để bệnh nhân chóng chết, cái chúc thư chia gia tài được đi vào thời kì thực hành, nên họ sốt sắng chủ trương "một cuộc mưu sát bằng khoa học". Ngồi hóng chuyện giữa cụ cố Hồng, bà Phó Đoan, vợ chồng Văn Minh, hắn thao thao bất tuyệt về những "y lí" bập bõm, lộn xộn từ ngày thổi loa quảng cáo thuốc lậu, hắn đã làm cho các vị thượng lưu, quý phái này "kinh hoàng" về y lí giỏi giang của hắn! Hắn đột nhiên trở thành sinh viên trường thuốc và là bạn thân của Văn Minh: "Một sinh viên trường thuốc, bạn con, con quên chưa giới thiệu với ba". Chuyện thật mà như đùa, ngay đến Xuân Tóc Đỏ cũng không ngờ rằng cái thời ngồi trên mui ô tô với bộ quần áo Charlot, đọc quảng cáo, đeo mặt nạ, thổi loa cho một "ông vua thuốc lậu" Nam Kì là sự khởi đầu để "nó tập đi đến khoa học và do thế đến sự phú quý".

Sự tâng bốc và lừa bịp của Văn Minh đã bắc những bậc thang đầu tiên cho Xuân Tóc Đỏ bước lên đài danh vọng. Bà Phó Đoan, Văn Minh chồng là ân nhân của Xuân hay trái lại, hắn là ân nhân của hai dì cháu bà ta? Dần dần, với sự láu cá ma mãnh, Xuân hiểu ra rằng cái xã hội thượng lưu mà hắn được tham dự vào là đầy rẫy những tên đạo đức giả, những kẻ đại bịp. Văn Minh du học ở Pháp 6, 7 năm, về nước chẳng có một mảnh bằng, mở miệng là "toa", là "moa", là "lúy" ngậu xị, người nhiệt tâm cổ vũ cho phong trào vui khỏe trẻ trung và Âu hóa. Nhà mĩ thuật tạo mốt Típ-pờ-nờ đưa ra những mẫu mới áo quần cho các cô, các bà tân thời với những cái tên nghe thật lãng mạn và gợi tình: Ngây thơ, Dậy thì, Lời hứa, Chiếm lòng, v.v... Y cho rằng, quần áo chỉ làm tăng nhan sắc phái đẹp chứ "không phải để che đậy cái gì của người đàn bà nữa". Thế nhưng hắn đã nổi khùng lên khi thấy vợ mình dám diện "quần trắng, đi giày, rẽ đường ngôi lệch, bôi môi quả tim". Một ông phán dây thép thuê người nhắc cho mình biết: "Ngài là một ông chồng mọc sừng". Một bà Phó Đoan, mụ me Tây dâm đãng mà lúc nào cũng làm ra vẻ thủ tiết thờ chồng! Bọn người xấu xa nhơ nhớp ấy đã trở thành ma lực thúc đẩy Xuân Tóc Đỏ nhanh chóng đổi lốt thay hình, lao sâu vào con đường bịp bợm.

Nhờ một lọ nước ao đen ngòm, gói lá thài lài, rau sam - thuốc thánh đền Bia - mà cụ Tổ khỏi bệnh, Xuân Tóc Đỏ được mọi người tâng bốc, ngợi ca là "đốc tờ Xuân". Hắn bắt đầu hợm mình, vênh vênh lên mặt, tự kiêu tự đắc! Lão thấy số cổ động cho Xuân Tóc Đỏ "là có một tương lai rực rỡ, lừng lẫy tiếng tăm có phen". Bà Phó Đoan lại tấm tắc ca ngợi Xuân "là có học thức". Ông Phán "mọc sừng" luôn khen ngợi Xuân trước mặt cụ Hồng "là một người đứng đắn". Cho hay, khi cái số đỏ đã đến, "sự ngu độn của nó được người ta cho là nhũn nhặn, là sự khiêm tốn". Hắn chỉ "im lặng mà mỉm cười", khi cụ Phán bà, cô Tuyết,.. gọi là quan Đốc; "hắn thờ ơ lãnh đạm", mỗi khi bà Phó Đoan "nhìn trộm nó mà mỉm cười toe toét". Chỉ sau mấy tuần gia nhập thế giới thượng lưu, được mọi người trong nhà cụ cố Tổ kính trọng, mơn trớn, sợ sệt, Xuân Tóc Đỏ "đâm ra khinh người". Từ đó hắn bắt đầu nhận ra: nhũn nhặn thì bị người ta coi khinh; hắn càng làm bộ, làm tịch bao nhiêu thì càng được thiên hạ kính trọng bấy nhiêu. Trong mối quan hệ tay ba với Tuyết và bà Phó Đoan, Xuân Tóc Đỏ bắt đầu thực hành một phương châm mà các "nhà triết học" sống đến bạc đầu may ra mới tìm được: "Phải lên mặt với ái tình thì cuộc chinh phục mới dễ dàng hơn và bền chặt".

Cuộc "kì ngộ" giữa Xuân Tóc Đỏ với sư cụ Tăng Phú tại tư dinh của bà Phó Đoan, từ chuyện cậu Phước "em chã"... đến chuyện báo "Gõ mõ", bỗng hắn lên giọng trịch thượng với "vị sư tân thời và chân tu": "Me xừ Xuân, nguyên sinh viên trường thuốc, giáo sư quần vợt, giám đốc hiệu Âu hóa, phụ nữ tân thời!". Vẫn là cách ăn nói của kẻ hạ lưu vô học, vẫn là bản chất lưu manh của kẻ lang thang đầu đường xó chợ, nhưng sau khi bước vào xã hội thượng lưu, tính cách của Xuân Tóc Đỏ có nhiều đổi thay. Cũng quan cách, kiêu ngạo như ai. Cũng biết cách tự đề cao một cách kệch cỡm, biết làm tình và làm tiền như ai! Chỉ có Văn Minh là biết rõ cái lai lịch xấu xa, đồi bại của hắn, nhưng há miệng mắc quai! Thật hài hước là kẻ dùng trò bịp để lòe thiên hạ, cuối cùng lại bị trò bịp, bịp lại. Xuân Tóc Đỏ đã xảo quyệt tìm đủ mọi cách để ràng buộc, biến họ thành cái vỏ bọc cho hắn, xưng tụng hắn. Từ môi trường hẹp nơi hiệu may Âu hóa của Văn Minh, hắn thâm nhập vào gia đình cụ cố Hồng, quan hệ giao du với tầng lớp tư sản hãnh tiến. Hắn được tôn vinh, hắn làm bộ, có lúc tỏ vẻ giận hờn, vỗ mặt. Chương 14 có tình tiết "quan đốc Xuân nổi giận", hắn vênh váo đút tay vào túi quần, nói như tát nước vào mặt bà cụ Hồng và lũ con cháu: "Tôi mà đã nổi giận thì có người chết! Tôi xấu thì cũng chả ai đẹp!", Nếu như chỉ một chai nước đen ngòm thuốc thánh đền Bia hắn đã làm cho cụ Tổ khỏi bệnh thì giờ đây, chỉ một câu nói với ông Phán dây thép: "Thưa ngài, ngài là một người chồng mọc sừng", hắn đã làm cho ông già 80 tuổi "ngã xuống giường" bất đắc kì tử! Nhờ Xuân Tóc đỏ mà gia đình cụ cố Hồng mới được hưởng "cái hạnh phúc của một tang gia" để lúc đưa ma cụ Tổ, bà cụ sung sướng kêu: "Ấy giá không có món ấy thì là thiếu chưa được to, may mà ông Xuân đã nghĩ hộ tôi". "Cái món ấy" là sáu chiếc xe, trên có sư chùa Bà Banh, "hai vòng hoa đồ sộ". Xuân làm cho cụ cố Tổ chết, một lần nữa hắn gặp số đỏ, đánh bại hoàn toàn mọi mưu mô của Victor Ban và vị hôn phu của Tuyết - kẻ tình địch đáng gờm.

Người đời thường bảo: "Phúc bất trùng lai...", nhưng với Xuân là một ngoại lệ. Vận đỏ đến với hắn liên tiếp. Bà Phó Đoan khánh thành sân quần, Xuân Tóc Đỏ trở thành giáo sư quần vợt. Đến khách sạn Bồng Lai, Xuân Tóc Đỏ không chỉ "làm hại đời một người con gái tử tế" như Tuyết mà hắn còn trở thành "một bậc kì tài". Tuy thơ "có nhiều mùi thuốc" nhưng xuất khẩu thành chương, "không kém gì Tú Mỡ". Danh tiếng hắn mỗi ngày thêm lừng lẫy. Thằng nhặt ban ở sân quần vợt ngày nào nay bỗng chốc trở thành một danh thủ, một cây hi vọng của giới quần vợt Bắc Kì, một anh hùng cứu quốc, một bậc vĩ nhân, một nhà hùng biện.

Ở Xuân Tóc Đỏ từ ngôn ngữ, cử chỉ đến ứng xử, tuy đã thâm nhập sâu vào cái xã hội tư sản thượng lưu rởm nhưng cái đuôi vô học, đê tiện cứ lòi ra. Mở mồm là hắn nói: "Mẹ kiếp! Con với chả cái", "Mẹ kiếp! Quần với chả áo!", "Mẹ kiếp! Đồ láo!", v.v... Cuối tác phẩm, Xuân Tóc Đỏ hùng hồn diễn thuyết, như con vẹt biết nói, thanh minh về sự thất bại của mình trước danh thủ quần vợt Xiêm La. Hắn đã ý thức một cách chân thành mà lố bịch về vai trò cá nhân của y, và kiêu ngạo dám gọi quần chúng là "mi" một cách xấc xược: "Hỡi công chúng! Mi chưa hiểu rõ những lẽ cực kì to tát nó khiến ta đành phải nhường giải cho nhà vô địch Xiêm La. Quần chúng nông nổi ơi! Mi đã biết đâu cái lòng hi sinh cao thượng vô cùng, nó khiến ta phải từ chối danh vọng riêng của ta đi, để góp một phần vào việc tiến bộ trong trật tự và hòa bình của Tổ quốc!... Ta không dám tự phụ là bậc anh hùng cứu quốc, nhưng ta đã tránh cho mi nạn chiến tranh rồi...".

Nếu biết được ông bầu Văn Minh đang ngồi "nhắc vở" cho hắn nhập vai hề, thì mới thấy hết chất trào phúng cảnh diễn thuyết này của tên ma-cà-bông. Thật không còn gì mỉa mai hơn, là sau nghĩa cử "phụng sự công cuộc ngoại giao" ấy, Xuân Tóc Đỏ đã được Chính phủ Bảo hộ thưởng Bắc đầu bội tinh, triều đình Huế và Xiêm triều ân thưởng huy chương cho thân nhân nó. Xuân đã xin Xiêm triều ban huy chương "Tiết hạnh khả phong" cho mụ me Tây - Phó Đoan đã thủ tiết với hai đời chồng, hiện nay là nhân tình của nó. Xuân bước lên tột đỉnh vinh quang, được quan giám đốc chính trị Đông Pháp "mời đến xơi cơm và chuyện trò thân mật".

Cả một xã hội lố lăng, giả dối, lừa đảo,... quây quần xung quanh Xuân Tóc Đỏ để tán tụng hắn. Cụ cố Hồng bĩu môi nói với vợ: "Con rể út của bà, bà có hiểu không, bây giờ nghiễm nhiên là bậc vĩ nhân, một vị anh hùng cứu quốc!". Người kéo đến chúc tụng hắn từng "chuỗi người" ai cũng vui vẻ. Có thầy cảnh sát "Min Đơ và Min Toa, Victor Ban và sư cụ Tăng Phú, cậu Tú Tân, ông Phán mọc sừng và bà Typn, đại diện Hội Khai trí Tiến đức,..." Và nếu ngài Xuân chưa muốn vào Hội thì ưng thuận cho đưa những tiếng như  "Mẹ kiếp", "Nước mẹ gì!" mà quan lớn hay dùng được ghi vào bộ Tự điển đương soạn!

Sự mỉa mai hài hước đến độ sâu cay! Xuân Tóc Đỏ là chân dung biếm họa thần tình của Vũ Trọng Phụng. Tác giả đã xây dựng Xuân Tóc Đỏ thành một nhân vật điển hình cho tầng lớp tư sản cơ hội, hãnh tiến, xấu xa, đồi trụy, bịp bợm! Chúng làm tình làm tiền, mua danh. Chúng bới móc nhau, tâng bốc nhau,... một cách vô liêm sỉ. Tính cách của Xuân Tóc Đỏ được hình thành và phát triển trong mối quan hệ của thế giới thượng lưu Âu hóa, sa đọa về lối sống và tâm hồn. Sự kết hợp tài tình giữa lối miêu tả chân thực và phóng đại - chân thực đến chi tiết từ ngôn ngữ, bộ điệu,... đến sinh hoạt, cách ăn chơi, lối ứng xử, nhưng lại phóng đại và tạo ra nhiều tình huống không có thật mà vẫn thật, vẫn hợp với lôgíc nội tại của nhân vật. Mỗi chương của truyện như một trang đời của Xuân Tóc Đỏ, cái số đỏ của nó cứ đỏ mãi. Từ một tên ma cà bông nhặt ban mà trở thành me xừ Xuân, giáo sư quần vợt, sinh viên trường thuốc, đốc tờ Xuân, anh hùng cứu quốc, bậc vĩ nhân... được thưởng Bắc đẩu bội tinh. Con người này trong vận đỏ nhưng cái lốt bụi đời, vô học vẫn không giấu được, nhất là về mặt ngôn ngữ và bộ điệu. Có một điều vừa lạ vừa hài hước là Văn Minh, Victor Ban vốn biết rõ lai lịch Xuân Tóc Đỏ, lúc đầu sử dụng nó vào một trò bịp nhưng về sau ca tụng nó, tự hào về nó, đúng như lá số tử vi nói về hậu vận của nó: "Tiếng tăm dậy khắp giang san một thời".

Xuân Tóc Đỏ là sản phẩm của cái xã hội dở ta dở Tây, là điển hình của lớp người thượng lưu tư sản hãnh tiến và sa đọa. Xuân Tóc Đỏ gắn liền với tiếng cười trào phúng và sự khinh bỉ của tác giả. Nhân vật Xuân Tóc Đỏ là một điển hình bất hủ trong nền văn học trước Cách mạng có giá trị tố cáo sâu sắc: những kẻ vô học, ma mãnh, vô đạo đức lại giàu sang, phú quý, có danh vọng trong cái xã hội ấy.

(st)
Comments