Câu 8: Phương pháp dạy học văn bản lịch sử văn học, văn bản lí luận văn học tập làm văn đảm bảo nguyên tắc tích hợp. Cho ví dụ minh họa.


 

Câu 8: Phương pháp dạy học văn bản lịch sử văn học, văn bản lí luận văn học tập làm văn đảm bảo nguyên tắc tích hợp. Cho ví dụ minh họa.

Bài làm:

1. Phương pháp tích hợp:

a. Khái niệm:

     Tích hợp trong dạy học là sự hợp nhất, liên kết giữa các phân môn trong bộ môn; giữa các phân môn, bộ môn có quan hệ hỗ trợ với nhau thành một thể thống nhất nhằm tránh dạy học tách biệt, riêng rẽ giữa các phân môn trong bộ môn; qua đó rèn luyện khả năng liên môn, xuyên môn để người học phát huy khả năng tư duy sang tạo, tư duy tổng hợp để vận dụng vào thực tiễn ở những mức độ, bình diện khác nhau.

b. Bản chất của quan điểm dạy học theo hướng tích hợp :

- Tích hợp các môn học không chỉ nhằm rút gọn thời lượng trình bày tri thức của nhiều môn học mà quan trọng hơn là hướng dẫn cho học sinh cách thức vận dụng tổng hợp các tri thức học tập vào thực tiễn cuộc sống.

- Phương pháp dạy học theo nguyên tắc tích hợp quan tâm tới ba vấn đề lớn  của nhà trường đó là:

+ Học cái gì? Học như thế nào? Như vậy là học sinh cần học cách thức sử dụng kiến thức của mình vào tình huống có ý nghĩa.

+ Dạy học sinh cái gì và dạy học như thế nào? Đó là cách tổ chức mối quan hệ giữa giáo viên, học sinh, môi trường xung quanh.

+ Vai trò của môn học và sự tương tác của các môn học (mối quan ệ giữa ba bộ phận kiến thức: Văn, tiếng Việt, Làm văn)

c. Ý nghĩa, vai trò của quan điểm tích hợp trong dạy học nói chung và dạy học ngữ văn nói riêng:

- Tiết kiệm thời gian, hình thành kiến thức năng lực nhận thức toàn diện.

- Rèn luyện tư duy sang tạo, tư duy tổng hợp cho học sinh.

- Phù hợp với yêu cầu đổi mới dạy học môn Ngữ văn THPT.

2. Phương pháp dạy học đảm bảo nguyên tắc tích hợp

      a. Văn bản lịch sử văn học:

-           Khái niệm: Lịch sử văn học là một ngành, một môn khoa học nghiên cứu về lịch sử phát triển của văn học, tìm hiểu, đánh giá các sự kiện, hiện tượng văn học trong mối quan hệ với lịch sử của một dân tộc, xác định những quy luật chi phối sự phát triển ấy trong những điều kiện lịch sử nhất định.

- Vai trò và vị trí:

+ Trang bị tri thức khái quát về lịch sử phát triển của văn học Việt Nam, nước ngoài.

+ Chi phối hoạt động đọc hiểu các loại văn bản trong chương trình ngữ văn theo quan điểm lịch sử, thể loại.

-                     Phương pháp dạy học đảm bảo nguyên tắc tích hợp

+ Phương pháp: diễn giảng, đàm thoại, tổng quan, hướng dẫn học sinh tự học, đặt câu hỏi gợi mở - nêu vấn đề.

’ Ở đây, nhóm thực hiện chọn phương pháp đặt câu hỏi – gợi mở nêu vấn đề là phương pháp dạy học đảm bảo nguyên tắc tích hợp nhất.

Sở dĩ cho phương pháp đặt câu hỏi gợi mở, nêu vấn đề là phương pháp dạy học đảm bảo nguyên tắc tích hợp nhất là do:

-         Đây là phương pháp dạy học sáng tạo (trò chủ động thầy chủ đạo), dạy cho HS cách tư duy, xử lý vấn đề, cách ứng xử, nhân cách hiện đại đáp ứng được yêu cầu đổi mới trong giáo dục.

-         Hệ thống câu hỏi gợi mở là phần không thể tách rời của phương pháp dạy học nếu vấn đề. Nó hỗ trợ và tăng khả năng dẫn dắt cho học sinh. Nó định hướng hoạt động cho hoạt động chiếm lĩnh kiến thức của học sinh.

-         Khi GV sử dụng câu hỏi nêu vấn đề và hệ thống câu hỏi gợi mở trong dạy học sẽ góp phần phát triển tư duy của học sinh. Học sinh sẽ vẫn dụng tổng hợp những kiến thức đã biết để giải quyết vấn đề được đặt ra và khám phá lĩnh hội được nguồn kiến thức mới. Từ đó có khả năng vận dụng những kiến thức đã học vào tình huống thực tế. Như vậy học sinh có thể đi từ biết, hiểu đến kĩ năng vận dụng. Nguyên tắc tích hợp vì thế được đảm bảo.

- Ví dụ chứng minh: Văn bản lịch sử văn học là bài tác gia “Nguyễn Khuyến” trong chương trình sách Ngữ Văn lớp 11 tập 1 (nâng cao)

+ Câu hỏi đảm bảo nguyên tắc tích hợp giữa ba nội dung văn, tiếng việt và tập làm văn.: Sau khi đã tìm hiểu về tác gia Nguyễn Khuyễn, có người đã nhận định rằng: “Nguyễn Khuyến là nhà thơ lớn của dân tình làng cảnh Việt Nam”. Theo anh (chị) câu nhận định ấy đúng hay sai? Trình bày ý kiến của mình thông qua các tác phẩm văn học mà Nguyễn Khuyến sáng tác trong suốt hai mươi năm sống tại quê nhà.

§  Về nội dung văn: giúp HS tìm hiểu sâu hơn về tác gia Nguyễn Khuyến so với THCS, giúp HS có thể nắm bắt được những kiến thức về tác gia Nguyễn Khuyến có sự gắn kết  với quá trình phát triển của văn học dân tộc cũng như các giai đoạn lịch sử khác nhau.

§  Về nội dung tiếng Việt: câu hỏi này giúp học sinh sẽ tìm được thêm nhiều tư liệu quý về tiếng Nôm một ngôn ngữ đặc sắc của dân tộc và qua các tác phẩm của Nguyễn Khuyến còn giúp HS củng cố hơn về mặt thể loại văn học thông qua mỗi thời kì, giai đoạn ông sáng tác.

§  Về nội dung tập làm văn: câu hỏi trên có thể trở thành một đề bài tập làm văn giúp học sinh có thể củng cố, luyện tập thêm về thao tác lập luận phân tích.

b. Văn bản lí luận văn học:

- Khái niệm: lí luận văn học là một hệ thống tri thức có tính chất đặc thù trong khóa trình ngữ văn ở trường phổ thông, có khả năng trang bị những hiểu biết cơ bản về các khái niệm, đặc điểm có tính bản chất đặc trưng của văn học, có nhiệm vụ rèn luyện tư duy cho học sinh.

- Vị trí, vai trò:

+ Lí luận văn học có vai trò quan trọng trong việc giúp học sinh hoàn thiện, nâng cao tri thức văn học.

+ Là tri thức có khả năng rèn luyện tư duy khoa học, tư duy logic, giúp học sinh nâng cao khả năng cảm thụ văn học.

+ Các khái niệm có tính chất lý thuyết có tác dụng như những chìa khóa nhận thức về văn học.

-                     Phương pháp: diễn giảng, tổng quan và đặt câu hỏi mở rộng nêu vấn đề.

’ Theo nhóm thực hiện thì phương pháp đặt câu hỏi mở rộng nêu vấn đề là phương pháp hiệu quả nhất đảm bảo được tính tích hợp.

- Ví dụ minh họa: Bài lí luận văn học “một số thể loại văn học: thơ – truyện” trong sách Ngữ Văn 11 tập 1.

+ Câu hỏi đảm bảo được các nguyên tắc trên: sau khi học xong tác gia Nguyễn Khuyến và bài thơ “mùa thu câu cá”. Theo anh (chị) nghệ thuật tả cảnh, tả tình và ngôn ngữ có gì đáng chú ý? Anh (chị) có nhận xét gì về thể loại thơ trong các sáng tác của Nguyễn Khuyến?

’ Ở câu hỏi trên giúp học sinh vận dụng được các kiến thức đã được học trong bài “tác gia Nguyễn Khuyến, mùa thu câu cá” để có thể triển khai được đề bài trên và đồng thời qua đó giúp học sinh nắm bắt được những khái niệm cơ bản về thể loại thơ trong bài học. Không chỉ dừng ở đó, câu hỏi còn giúp học sinh vận dụng được các kiến thức trong một số bài Tiếng Việt vào như: từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân ( ví dụ: từ những ngôn ngữ của dân tộc Nguyễn Khuyến đã đem những ngôn ngữ đó trở thành phong cách riêng của mình), thực hành về nghĩa của từ trong sử dụng… Đối với tập làm văn thì câu hỏi trên giúp học sinh có thể luyện tập được các thao tác trong một bài nghị luận văn học.

c. Tập làm văn:

- Khái niệm: tập làm văn là bộ môn thực hành nhằm rèn luyện kĩ năng tư duy chính xác nhạy bén, kĩ năng diễn đạt đúng và hay bằng ngôn ngữ những hiểu biết, suy nghĩ và tình cảm của người học sinh trước một hiện tượng về văn học, về cuộc sống.

- Vai trò, vị trí:

+ Là hoạt động có tính chất thực hành.

+ Là hoạt động có khả năng rèn luyện kĩ năng diễn đạt có tính tổng hợp:

§  Kĩ năng tư duy chính xác, nhạy bén, trong sáng, rõ ràng.

§  Kĩ năng nói đúng, nói lưu loát, trôi chảy, kĩ năng viết nhanh, viết đúng, viết hay.

-         Phương pháp

+ Phương pháp: Do đặc thù chủ yếu của tập làm văn thiên về thực hành nên phương pháp câu hỏi gợi mở nêu vấn đề vẫn là phương pháp hữu hiệu nhất so với các phương pháp diễn giảng hảy tổng quan.

-         Ví dụ minh họa: “Phân tích đề, lập dàn ý bài văn nghị luận” trong sách Ngữ Văn 11 tập 1.

+ Câu hỏi nêu ra: Phân tích đề và lập dàn ý cho đề sau: Phân tích tác phẩm “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam để thấy được bút pháp hiện thực và giá trị nhân đạo của tác phẩm.

’ Từ câu hỏi trên giúp GV có thể đảm bảo nguyên tắc tích hợp trong 3 nội dung nói trên:

§ Thứ nhất với Văn học: giúp HS tìm hiểu kĩ hơn về nhà văn Thạch Lam cùng tác phẩm “Hai đứa trẻ”

§ Thứ hai với Tiếng Việt: giúp HS rèn luyện thêm kĩ năng về tìm hiểu bài: từ trái nghĩa hay đặc điểm của loại hình tiếng Việt, giúp GV có thể khai thác các tri thức về phong cách chính luận và phong cách lập luận so sánh hay phong cách ngôn ngữ nghệ thuật để dạy làm văn nghị luận.

§ Thứ ba đối với tập làm văn: không chỉ giúp HS thực hành việc phân tích đề và làm dàn ý mà còn giúp HS có thể củng cố thêm kiến thức về thao tác lập luận phân tích hay thao tác lập luân so sánh.

3. Kết luận

            Qua các ví dụ minh họa trên, ta thấy hiện nay các phương pháp dạy văn đặc biệt là phương pháp đặt câu hỏi nêu vấn đề đã giúp người GV có thể đảm bảo nguyên tắc tích hợp trong dạy học Văn. Qua đó ta thấy tác dụng của nguyên tắc này đối với quá trình dạy văn ở trường phổ thông là rất to lớn. Nó không chỉ giúp GV có thể giảm tải nội dung dạy xuống một phần nào, mà nó còn tạo được sự liên kết tri thức, tránh được việc dạy trùng lặp trong môn Ngữ Văn.

 

 

Comments