CÂU 18 ƯU ĐIỂM VÀ NHƯỢC ĐIỂM KHI SỬ DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN ( POWERPONIT) VÀO DẠY VĂN HỌC SỬ - LÍ LUẬN VĂN HỌC – TẬP LÀM VĂN


NỘI DUNG TRÌNH BÀY


I.                  ĐẶC ĐIỂM HỆ THỐNG KIẾN THỨC CỦA VĂN HỌC SỬ - LÍ LUẬN VĂN HỌC – TẬP LÀM VĂN

1.     VĂN HỌC SỬ

 - Định nghĩa: Văn học sử (lịch sử văn học) là một ngành, một khoa học nghiên cứu về lịch sử phát triển của văn học, tìm hiểu đánh giá các sự kiện, hiện tượng văn học trong mối quan hệ với lịch sử của một dân tộc, xác định những quy luật chi phối sự phát triển ấy trong những điều kiện nhất định.

 - Đặc điểm:

+  Văn học sử hình thành các nhận định mang ý nghĩa lịch sử, phát triển của ngôn ngữ dân tộc, ngôn ngữ văn học, thể loại văn học qua các thời kỳ, các giai đoạn. Có đặc điểm là tính khái quát hóa, hệ thống hóa và tổng hợp hóa.

+   Cùng với lý luận văn học, nó làm nên tính khoa học của môn Văn và rèn luyện tư duy khoa học, tư duy logic cho học sinh.

2.     TẬP LÀM VĂN

 -   Khái niệm: Tập làm văn là một  hoạt động thực hành quan trọng trong quá trình học tập Ngữ văn nhằm rèn luyện kỹ năng tư duy chính xác, nhạy bén, kỹ năng diễn đạt đúng và hay bằng ngôn ngữ (dạng thức ngôn ngữ nói và viết) những hiểu biết suy nghĩ và tình cảm của người học sinh trước một hiện tượng về văn học, về cuộc sống.

-    Đặc điểm:

+   Là hoạt động có tính chất thực hành (văn học sử là hoạt động có tính chất lý thuyết)

+   Là hoạt động có khả năng rèn luyện kỹ năng diễn đạt có tính chất tổng hợp.

+   Có nhiệm vụ củng cố, hệ thống hóa, khái quát hóa kiến thức về tác giả, tác phẩm, về xu hướng giai đoạn văn học.

 

 

3.     LÍ LUẬN VĂN HỌC

-    Khái niệm: Lí luận văn học là một hoạt động trong chương trình Ngữ Văn ở trường phổ thông, có khả năng trang bị những hiểu biết cơ bản về các khái niệm, đặc điểm có tính chất bản chất đặc trưng của văn học, có nhiệm vụ rèn luyện tư duy cho học sinh.

-    Đặc điểm

+   Cung cấp các khái niệm có tính chất lý thuyết có tác dụng như những chìa khóa nhận thức về văn học.

+   Cùng với văn học sử, lí luận văn học có đặc điểm là khái quát hóa, hệ thống hóa, tổng hợp hóa, có khả năng rèn luyện tư duy khoa học, tư duy logic.

II.         NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CỦA VIỆC ỨNG DỤNG POWERPOINT VÀO VĂN  HỌC SỬ - TẬP LÀM VĂN VÀ LÍ LUẬN VĂN HỌC.

-    Văn học sử và lí luận văn học mang một đặc điểm cơ bản tính khái quát tổng hợp cao với việc hình thành những nhận định về lịch sử văn học, những khái niệm về kiến thức lí luận chung.

ð Đặc điểm này phù hợp với đặc trưng riêng của phương pháp dạy học với phần mềm powerpoint: ngắn gọn, cô đọng trong trình bày do giới hạn của 1 slide ít ỏi (tính tiết chế ngôn ngữ)

-    Văn học sử và lí luận văn học là hai hoạt động mang tính lí thuyết cao, nên theo cách dạy truyền thống dễ gây nhàm chán, giảm hứng thú tiếp thu của học sinh.

ð Việc ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy sẽ khắc phục được phần nào tình trạng này. Phần mềm Powerpoint cho phép ta áp dụng được hầu hết thành tựu của một số thiết bị công nghệ khác như: máy chiếu, máy chụp, máy quay, máy ghi âm. Việc đưa vào bài giảng những hình ảnh, đoạn ghi, đoạn phim minh họa như thế sẽ có tác động trực tiếp vào nhận thức của học sinh, giúp học sinh tiếp thu nhanh hơn và giờ giảng thêm phong phú, sinh động hơn

-    Với tập làm văn đặc điểm vừa nêu của công nghệ thông tin không có ưu thế lớn vì tính chất đặc trưng của bộ môn là thực hành với nhiệm vụ rèn luyện kỹ năng dùng từ, viết câu, dựng đoạn, xây dựng dàn ý, bố cục bài làm văn.

III. ƯU ĐIỂM VÀ NHƯỢC ĐIỂM KHI SỬ DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀO DẠY VĂN HỌC SỬ - LÍ LUẬN VĂN HỌC – TẬP LÀM VĂN

1.     ƯU ĐIỂM

-    Nội dung

+  Các kiến thức được trình bày dưới dạng những mệnh đề ngắn gọn, có tính chất khái quát, tổng hợp cao.

+   Kiến thức trọng tâm được lưu ý, nhấn mạnh

+  Kiến thức mở rộng liên hệ phong phú qua nhiều thông tin đại chúng

-   Phương pháp

+   Đây là một phương pháp dạy học tương tác có hiệu quả, có thể phát huy vai trò trung tâm của học sinh trong vấn đề tìm kiếm thông tin trên các phương tiện thông tin đại chúng.

+   Nó có tính chất cô đọng, linh hoạt trong hình thức tổ chức lớp học ở trường, ở nơi tham quan thực tế (khi có phương tiện)

-    Hiệu quả nhận thức:

     +   Tác động trực quan với nhiều khía cạnh khác nhau của cùng một vấn đề (ngoài văn bản ngôn từ) giúp học sinh nắm bắt, liên hệ kiến thức một cách cụ thể, toàn diện.

     +   Với ưu điểm của ngôn ngữ cô đọng, hàm súc, học sinh sẽ dễ nhớ, dễ học hơn những lời giảng văn chương bay bổng mà không đúng trọng tâm.

     +   Tạo được hứng thú say mê cho học sinh khi áp dụng một phương pháp mới.

+   Bài học trở nên sinh động, thu hút sự chú ý của học sinh do có nhiều minh họa sống động, cụ thể với phim tư liệu, tranh ảnh… (Các giờ văn học sử và phần giới thiệu tác giả, tác phẩm ở bài giảng văn), khúc ngâm, bài hát (hoặc các sơ đồ, bảng biểu giúp hệ thống, khái quát hóa bài học trong giờ ôn tập... Giáo viên tiết kiệm được nhiều thời gian thuyết giảng và không quá vất vả khi giới thiệu, miêu tả, thể hiện những nội dung kiến thức mới. Từ đó học sinh dễ tiếp thu bài học. Hơn nữa bài học đã để lại dấu ấn sâu sắc trong tâm trí học sinh.

+  Những giờ thực hành hoặc phần chuẩn bị bài của học sinh sẽ thật sự hữu ích cho các em với các bài thuyết trình hoặc thực hiện dự án. Từ đó học sinh trở nên năng động và sáng tạo hơn. Kiến thức các em tự tích lũy từ kho tư liệu khổng lồ Internet qua các giờ thực hành giúp bổ sung và khắc sâu những kiến thức từ sách giáo khoa (phần chuẩn bị tư liệu về Tố Hữu, chuẩn bị tư liệu cho bài ôn tập).

2.     NHƯỢC ĐIỂM

 -  Nội dung:

+   Kiến thức minh họa, kiến thức mở rộng nhiều khi sai, không chính xác nội dung thực chất mà văn bản ngôn từ phản ánh.

+  Kiến thức mang tính chất luận đề không có tính thuyết phục (do hạn về trình độ, khả năng của giáo viên đặc biệt là giáo viên trẻ mới ra trường.

 -    Phương pháp

+  Không phát huy tối đa được hiệu quả của các phương pháp bình giảng, đọc diễn cảm, gợi mở vốn là một phương pháp phù hợp với đặc trưng riêng của bộ môn Văn.

  -  Hiệu quả nhận thức (nếu áp dụng không triệt để)

+   Dễ bị hạ thấp vì không khí lớp học bị phân hóa, mạch tiếp nhận của học sinh bị gián đoạn, lời giảng của giáo viên mất trọng lượng, chủ đề của giờ học bị phân hóa. Những cái phụ trong bài giảng (hình ảnh, phim, âm thanh liên quan, minh họa) lấn át cái chính (nội dung kiến thức cần truyền đạt).

+   Trên thực tế, hầu hết học sinh đều say mê, thích thú được học những giờ Văn có ứng dụng CNTT. Song, bên cạnh đa số học sinh tiếp cận nhanh chóng với phương pháp học mới này vẫn còn những tồn tại cần khắc phục sau: Một số học sinh chưa thật thích nghi với phương pháp học hiện đại này, chỉ thụ động ngồi nghe, xem phim, ảnh và sôi nổi bình luận hoặc say sưa nghe thầy giáo giảng quên cả việc ghi bài. Một số khác gặp khó khăn trong việc ghi chép bài: không biết lựa chọn thông tin, nội dung chính để ghi vào bài học, ghi chậm hoặc không đầy đủ...

+  Trong tiến trình lên lớp với bài giảng điện tử, một số giáo viên thao tác quá nhanh, học sinh không kịp chép bài, ảnh hưởng đến khả năng tiếp thu, lĩnh hội kiến thức và mức độ hiểu bài của các em không cao.

IV: KẾT LUẬN

     Như chúng ta đã biết, xã hội ngày càng pháp triển cùng với đó là việc ứng dụng những thành quả của công nghệ thông tin một cách nhanh chóng vào tất cả các ngành nghề. Cả trong hoạt động dạy và học nhằm đạt được kết quả cao và từng bước năng cao trình độ giáo dục của nước ta chúng ta cũng đang nhanh chóng áp dụng

    Chúng ta thấy rằng công nghệ thông tin không chỉ áp dụng cho các ngành khoa học tự nhiên mà còn cả khoa học xã hội đặc biệt là đối với bộ môn ngữ văn.  Đặc biệt là sử dụng powerpoint vào dạy văn học sử, lí luận văn học và tập làm văn.

 Như đã phân tích  khi áp dụng phần mền powerpoint vào dạy học sẽ có rất nhiều ưu điểm song không phương pháp nào là toàm mĩ nên khi dạy và học, cả giáo viên và học sinh nên sử dụng một cách linh hoạt hợp lí để đạt kết quả như mong muốn.

 

Comments