Câu 6: Các nguyên tắc dạy đọc – hiểu văn bản lịch sử văn học.Trình bày cơ sở lý luận, ý nghĩa thực tiễn của một nguyên tắc mà anh ( chị ) quan tâm?

Câu 6:  Các nguyên tắc dạy đọc – hiểu văn bản lịch sử văn học.Trình bày cơ sở lý luận, ý nghĩa thực tiễn của một nguyên tắc mà anh ( chị ) quan tâm?

 

A. Dẫn nhập

Văn chương tồn tại và phát triển như một dòng chảy. Hiểu tác phẩm nghệ thuật là hiểu cái sáng tạo luôn có tính kế thừa. Sự kế thừa và phát triển truyền thống theo hướng hiện đại làm cho dòng văn học ngày càng phát triển và ngày càng phong phú và không bao giờ ngưng đọng. Miêu tả dòng chảy đó là nhiệm vụ của  lịch sử văn chương. Thầy giáo dạy lịch sử văn chương là người có ý thức đầy đủ về dòng chảy đó, biết nó bắt nguồn từ đâu và đi về đâu, trải qua các thác ghềnh nào, mở rộng ở các thời điểm nào… để biết khi nào dòng lịch sử văn chương lại đổ dốc, khi nào lại có chiều ngưng động, tỏa rộng. Và để làm được điều đó thì khi dạy văn học sử trước hết phải quán triệt các nguyên tắc dạy – học Ngữ Văn nói chung và các nguyên tắc dạy - học văn học sử nói riêng.

B. Nội dung

I. Khái niệm chung

1. Khái niệm nguyên tắc

Nguyên tắc là những tư tưởng chung được đúc kết thành luận điểm cơ bản chỉ đạo việc thực hiện hoạt động cho đúng hướng. Hoàng Phê (1994)      cho rằng nguyên tắc là: điều cơ bản định ra nhất thiết phải tuân theo trong một loạt việc làm.

2. Khái niệm nguyên tắc dạy học

Ngyên tắc dạy học là những luận điểm cơ bản có tính quy luật của lý luận dạy học, có tác dụng chỉ đạo toàn bộ tiến trình giảng dạy và học tập nhằm thực hiện mục đích và nhiệm vụ dạy học.

3. Khái niệm văn học sử

Văn học sử (lịch sử văn học) là một ngành, một khoa học nghiên cứu về lịch sử phát triển của văn học, tìm hiểu đánh giá các sự kiện, hiện tượng văn học trong mối quan hệ với lịch sử của một dân tộc, xác định những quy luật chi phối sự phát triển ấy trong những điều kiện nhất định.

II . Các nguyên tắc dạy đọc – hiểu văn bản văn học lịch sử:

Trong nhiều tài liệu nghiên cứu về các nguyên tắc dạy học văn học sử thì người ta trình bày có ba nguyên tắc. Nhưng ở đây chúng tôi trình bày các nguyên tắc dạy – học văn học sử theo sách “ Phương pháp dạy học văn” của giáo sư Phan Trọng Luận. Theo đó thì có năm nguyên tắc dạy - học văn học sử. Đó là:

1. Bảo đảm sự kết hợp hài hòa giữa tính Đảng, tính khoa học, tính dân tộc trong việc dạy học văn học sử

2. Phát huy năng lực nhận thức của học sinh để hình thành khắc họa các nhận định văn học sử

3. Quán triệt phương pháp lôgic và phương pháp lịch sử trong việc lĩnh hội tri thức văn học sử

4. Quán triệt quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử trong quá trình dạy học văn học sử

5. Kết hợp giữa tri thức khái quát và tri thức cụ thể

III. Trình bày nguyên tắc kết hợp giữa tri thức khái quát và tri thức cụ thể

1. Cơ sở lý luận

 - Đặc điểm nhận thức của học sinh THPT: Học sinh THPT có độ tuổi từ 15 – 18, năng lực tư duy phát triển tương đối cao, khả năng nhận xét, so sánh và liên hệ những thông tin nhận được để hình thành thái độ và định hướng hành động tương đối rõ nét. Sự phát triển tư duy khoa học ở lứa tuổi này biểu hiện:

o    Tri giác có mục đích và ghi nhớ có chủ định

o    Thái độ tình cảm đối với kiến thức môn học do tính logic của

vấn đề chứ không phải thuần túy do mô tả.

o    Có các hành động muốn khẳng định nhận thức của mình thong

qua việc nhận xét nội dung kiến thức

o    Bước đầu hình thành khuynh hướng nghề nghiệp

- Đặc điểm quá trình nhận thức  của con người đi từ khái quát đến cụ thể và từ cụ thể đến khái quát, từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng.

- Đặc điểm kiến thức của văn học sử: ta có thể dùng phần khái quát hoá làm các nhận định chung về tác phẩm cho học sinh. Rồi từ các chi tiết được phân tích về mặt tác phẩm ta làm cụ thể thêm cho phần khái quát. Văn bản lịch sử văn học đòi hỏi phải ghi nhớ các tư liệu một cách chính xác, học thuộc và ghi nhớ kiến thức văn học sử.

- Hệ thống các nhận định đòi hỏi nó phải có tính khái quát nhưng đồng thời cũng phải đi vào cụ thể để minh họa cho khái quát đó.

- Bản chất môn Ngữ Văn là mang tính khoa học và nghệ thuật. Văn học sử mang tính khoa học, đó là điều đảm bảo , khẳng định tính khoa học của môn Ngữ Văn.

- Bảo đảm nhiệm vụ của môn Ngữ Văn là rèn luyện kỹ năng tư duy cho học sinh.

2. Nội dung

a.  Bảo đảm tính khái quát trong hệ thống kiến thức văn học sử

Tri thức cơ bản của văn bản Văn học sử phân tích theo logic bao gồm hai loại: tri thức khái quát và tri thức cụ thể.

 - Tri thức khái quát bao gồm chủ yếu các nhận định về văn học sử ( giai đoạn, xu hướng, tác giả, thể loại, tác phẩm).

 - Vai trò của tri thức khái quát rất quan trọng vì trong nhà trường phổ thông, thời gian học được quy định bởi số tiết nhất định, không có đi sâu vào từng khía cạnh, từng vấn đề chi tiết, cung cấp tri thức khái quát là cung cấp cho học sinh một cách nhìn chung nhất, khái quát nhất, cơ bản nhất về kiến thức văn học sử, từ đó đi đến những tri thức cụ thể.

Ví dụ: Nội dung cơ bản của văn học cuối thế kỷ XVIII – đầu thế kỷ XIX là tinh thần nhân đạo, chống phong kiến, đòi quyền sống cho con người.

+ “ Chinh phụ ngâm” của Đặng Trần Côn  và lên án chiến tranh phi nghĩa, đòi hạnh phúc cho tuổi trẻ và lứa đôi.

+ “ Cung oán ngâm khúc”của Nguyễn Gia Thiều tố cáo vua chúa xa hoa, hưởng lạc, chà đạp lên thân phận của những cung tần mĩ nữ nơi cung cấm.

+ “ Hoàng Lê nhất thống chí” của Ngô gia văn phái phản ánh quy luật suy vong không cưỡng nổi của chế độ phong kiến Lê- Trịnh và khí thế nổi dậy hào hứng của phong trào Tây Sơn.

+ Thơ văn Nguyễn Du tố cáo chế độ phong kiến chà đạp quyền sống con người trước hết là phụ nữ, biểu dương đề cao sức sống mới.

+ Thơ Hồ Xuân Hương thông cảm sâu sắc nỗi khổ của chị em phụ nữ và đòi quyền bình đẳng với nam giới.

+ Thơ văn Cao Bá Quát thể hiện một khát vọng lớn, một nhân cách cứng cỏi, một bản sắc nghệ thuật kỳ diệu, nhất là trong phạm vi thơ ca chữ Hán.

+ Thơ Nguyễn Công Trứ là nhiệt tình hăm hở với chí làm trai giữa cuộc đời mà cuối cùng lại bị chế độ phong kiến nhà Nguyễn làm vỡ mộng đến phải chán chường.

=> Đây là giai đoạn huy hoàng trong lịch sử văn học như từ lâu nhiều người vẫn quan niệm.

b. Bảo đảm tính cụ thể trong hệ thống kiến thức văn học sử

- Tri thức cụ thể là các tri thức minh họa cho các nhận định văn học sử, hoặc là tri thức tác giả, tác phẩm , có khi là câu thơ, đoạn văn trích.

- Vai trò của tri thức cụ thể là giúp học sinh hiểu đuợc chi tiết vấn đề mà tri thức khái quát cung cấp.

Ví dụ: Hồ Xuân Hương thể hiện sức sống mãnh liệt, lòng yêu cuộc sống tha thiết :

  + Đó là tiếng nói tâm tình của người phụ nữ, thể hiện một bản lĩnh sống mạnh mẽ khác thường. Đòi hỏi hạnh phúc lứa đôi, quyền sống và tư tưởng ấy không phải là không  có trong lòng bao người phụ nữ nhưng chỉ Hồ Xuân Hương mới dám nói lên điều đó bằng thơ:

    Thân em vừa trắng lại vừa tròn

       Bảy nổi ba chìm với nuớc non

       Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn

       Mà em vẫn giữ tấm lòng son.”

                              ( Bánh trôi nuớc)

  + Xuân Hương thách đố dư luận thay cho những người phụ nữ khác:

     “ Tài tử văn nhân ai đó tá?

        Thân này đâu đã chịu già tom.”

                                        ( Tự tình I)

  + Thời đó phụ nữ chưa có chồng mà chửa thì bị cả xã hội lên án, ruồng bỏ, trừng phạt nhưng Hồ Xuân Hương lại đứng ra bênh vực:

      “ Không chồng mà chửa mới ngon

         Có chồng mà chửa thế gian sự thường.”

c. Quan hệ biện chứng giữa các kiến thức văn học sử

- Quan hệ giữa tri thức khái quát và tri thức cụ thể ở cấp độ logic là tương đối. So với tri thức giai đoạn thì tri thức về xu hướng là cụ thể, so với tri thức về xu hướng thì tri thức về tác giả là cụ thể. So với tri thức tác phẩm thì câu thơ, đoạn thơ, nhân vật, kết cấu là tri thức cụ thể. Chúng có mối quan hệ qua lại với nhau, bổ sung và minh họa cho nhau trong văn bản văn học sử. Tri thức khái quát và tri thức cụ thể đều là kiến thức cơ bản của môn văn học sử.

C. Kết luận:

Các nguyên tắc dạy học rất quan trọng. Nắm rõ đuợc các nguyên tắc dạy học văn học sử mới dễ dàng trong việc dạy cũng như học văn học sử. Tóm lại các nguyên tắc dạy học trên tạo thành một hệ thống hoàn chỉnh. Các nguyên tắc này cần phải được vận dụng phối hợp và đồng bộ thông qua hoạt động của giáo viên và hoạt động học tập của học sinh. Việc quán triệt các nguyên tắc tạo nghiệp vụ sư phạm của giáo viên trong quá trình dạy học của người giáo viên. Việc quán triệt này được thể hiện ở sự lựa chọn và sử dụng nội dung phương pháp dạy học.


Comments