Bài TV.Câu 11. Giới thiệu chương trình ngữ pháp ở bậc phổ thông

 


TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

KHOA NGỮ VĂN

 LỚP VĂN 4A

 

BÀI THỰC HÀNH:

     Câu 11: Hãy giới thiệu chương trình dạy học ngữ pháp ở phổ   thông. Nêu nhận xét, đánh giá (cần giảm tải những kiến thức nào, cần tăng cường những loại bài tập nào? Tại sao?)

 

GVHD: TS Phan Thị Minh Thúy

SVTH:  Vũ Thị Đức Hạnh

               Lê Thị Hạnh

               Trần Thị Mỹ Hạnh

               Thẩm Thúy Hằng

               Nguyễn Thị Hiền (MSSV: 34601025)

               Nguyễn Thị Hiền (MSSV: 34601026)

               Lê Thị Hiệp

 

 

TP Hồ Chí Minh tháng 10- 2011
MỤC LỤC

MỤC LỤC...................................................................................................................................... 2

I)     Vị trí và đặc điểm của phân môn ngữ pháp....................................................................... 3

II)        Giới thiệu chung về chương trình dạy học ngữ pháp trong các SGK Ngữ văn THPT            4

1)     Nhìn lại chương trình dạy học ngữ pháp trong các SGK Tiếng Việt THPT chỉnh lí hợp nhất năm 2000............................................................................................................................................ 4

2)     Những điểm mới về chương trình dạy học ngữ pháp trong các SGK Ngữ văn THPT:           6

3)     Chương trình dạy học ngữ pháp mới trong sự đối sánh với chương trình ngữ pháp trong SGK Tiếng Việt cũ........................................................................................................................................ 8

III)       Những ý kiến nhận xét, góp ý:........................................................................................ 9

1)     Về lý thuyết....................................................................................................................... 9

a)     Kiến thức thiết yếu....................................................................................................... 9

b)     Đề xuất nội dung nên giảm tải.................................................................................... 9

2)     Về thực hành................................................................................................................... 13

a)     Những kĩ năng thực hành được đảm bảo................................................................ 13

b)     Loại bài tập nên tăng cường...................................................................................... 22

KẾT LUẬN.................................................................................................................................. 31

TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................................................................................... 32

 


 

I)          Vị trí và đặc điểm của phân môn ngữ pháp

-    Các kiến thức ngữ pháp được dạy liên tục từ bậc tiểu học đến THPT. Điều này cho thấy vai trò quan trọng của ngữ pháp trong hệ thống ngôn ngữ nói chung và trong hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ nói riêng. Dạy ngữ pháp phải giúp học sinh nắm được đặc điểm loại hình của tiếng Việt về mặt ngữ pháp, mới có cơ sở để viết câu đúng và hay, biết sử dụng câu linh hoạt, chính xác trong mọi phong cách văn bản.

-  Ngữ pháp được quan niệm là một trong ba bộ phận cấu thành của một ngôn ngữ (hệ thống ngôn ngữ bao gồm ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp). Trong đó, việc nghiên cứu ngữ pháp của một ngôn ngữ cụ thể bao gồm các phân ngành:

+ Từ pháp học: đối tượng nghiên cứu là các từ, với mục đích xác định các quy tắc cấu tạo từ, quy tắc biến đổi từ, đặc điểm  ngữ pháp của các từ loại.

+ Cú pháp học: nghiên cứu quy tắc cấu tạo cụm từ và câu (kết hợp các từ thành cụm từ, kết hợp các từ, cụm từ thành câu, tổ chức các thành phần câu và các kiểu câu).

Như vậy, so với ngữ âm và từ vựng thì ngữ pháp có tính khái quát cao hơn: những khái niệm ngữ pháp bao quát hàng loạt hiện tượng ngôn ngữ, những quy tắc ngữ pháp hoạt động trong rất nhiều đơn vị ngôn ngữ cụ thể.

-  Chính vì đây là phân môn được dạy liên tục trong mọi lớp và mọi cấp học ở nhà trường nên với những kiến thức ngữ pháp cơ bản, học sinh đã được tìm hiểu ở các lớp dưới, lên bậc THPT, chương trình chủ yếu là đi vào thực hành việc sử dụng câu như thế nào cho đạt hiệu quả giao tiếp. Mặt khác, những bài học ngữ pháp ở chương trình THPT còn quan tâm nhiều đến bình diện nghĩa học và dụng học của câu.

- Chương trình Ngữ pháp tiếng Việt ở trường THPT có những điểm nổi rõ như sau:

+             Ôn tập và thực hành phần cú pháp, nghĩa là phần ngữ pháp ở bậc câu, và ở lĩnh vực trên câu (văn bản).

+             Đặc biệt chú trọng đến bình diện ngữ nghĩa của câu. Vấn đề này liên quan đến các hành vi ngôn ngữ khi sử dụng ngôn ngữ trong hoạt động giao tiếp.

+             Khảo sát và trình bày câu trong hoạt động hành chức của nó. Dạy và học về câu không thể chỉ dừng lại ở việc nhận thức mô hình cấu tạo của câu, ở việc tìm hiểu câu trong trạng thái cô lập mà còn chú trọng vào việc tạo dựng câu trong mối liên hệ với hoàn cảnh giao tiếp, với những câu khác trong ngôn bản.

+ Lựa chọn những vấn đề có tác dụng thực tiễn cao, gắn lý thuyết với thực hành, chú ý thực hành nhiều hơn. Các bài thực hành chủ yếu ôn luyện kiến thức đã học ở bậc THCS, bài tìm hiểu kiến thức mới cũng rất coi trọng thực hành.

+             Bồi dưỡng năng lực phân tích, thẩm định các giá trị của ngôn ngữ văn chương, tích hợp việc dạy và học ngôn ngữ với văn học.

+ Tiếp tục thực hiện mục tiêu rèn luyện kĩ năng sử dụng tiếng Việt, nâng cao ý thức giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt.

II)        Giới thiệu chung về chương trình dạy học ngữ pháp trong các SGK Ngữ văn THPT

1)    Nhìn lại chương trình dạy học ngữ pháp trong các SGK Tiếng Việt THPT chỉnh lí hợp nhất năm 2000

- Thời lượng (18 tiết ở cả hai khối lớp 10 và 11).

- Cấu trúc bài học: lý thuyết – thực hành, chủ yếu cung cấp kiến thức, ít gợi mở.

- Cấu trúc chung: chưa chú ý đến tích hợp kiến thức.

- Nội dung chương trình bao gồm 3 mảng lớn:

+ Cấu tạo của câu, các kiểu câu xét theo cấu tạo ngữ pháp và các kiểu câu xét theo mục đích nói. (được trình bày trong bài “Giản yếu về câu” – SGK TV 10, bài 7) (6 tiết).

+ Câu trong văn bản. (được trình bày trong bài “Câu trong văn bản” – SGK TV 10, bài 8) (4 tiết).

+ Ngữ nghĩa của câu và của văn bản nghệ thuật. ( SGK TV 11, từ bài 12 đến bài 16) (8 tiết).

- Thông thường, các kiến thức ngữ pháp trong SGK được trình bày theo cách thức:

+ Trình bày khái niệm

+ Nêu ví dụ

    Có khi kèm theo một vài câu phân tích ví dụ, không có phần giải thích khái niệm.

Ví dụ, khi viết về “Câu đơn đặc biệt”, SGK nêu:

Xét về mặt cấu tạo, câu đơn đặc biệt là câu được làm thành từ một từ hoặc một cụm từ chính phụ hay đẳng lập, và không thể xác định được từ và cụm từ ở đây là chủ ngữ hay vị ngữ. Câu đơn đặc biệt chủ yếu được dùng để chỉ sự tồn tại, xuất hiện và tiêu biến.

(Sau đó, SGK nêu hai ví dụ về câu đơn đặc biệt danh từ và câu đơn đặc biệt vị từ).

Với ví dụ trên, ta thấy SGK chỉ đơn thuần trình bày kiến thức về “Câu đơn đặc biệt” mà không có sự dẫn dắt học sinh đến với kiến thức ấy. Điều này làm cho giáo viên rất lúng túng, vì thời gian chỉ cho phép họ giảng giải những gì có trong sách cho học sinh, chưa kể phải giúp học sinh tìm hiểu những thuật ngữ ngữ pháp đi kèm như “thành tố chính”, “vị từ”,… Như vậy, mục đích của bài học không phục vụ cho việc hướng dẫn học sinh tự học hay hướng vào mục đích giao tiếp mà chỉ nhằm trang bị kiến thức về ngữ pháp cho học sinh.

2)         Những điểm mới về chương trình dạy học ngữ pháp trong các SGK Ngữ văn THPT:

- Thời lượng:  7 tiết, tập trung trong chương trình lớp 10, 11.

- Nội dung các bài được xây dựng đảm bảo nguyên tắc tích hợp, đặc biệt là tích hợp ngang: Dạy học tiếng Việt thông qua các bài đọc văn, làm văn; đồng thời có kĩ năng sử dụng thành thạo tiếng Việt hỗ trợ cho đọc văn (tiếp nhận văn bản) và làm văn (tạo lập văn bản) nhằm một mục đích cuối cùng là rèn luyện năng lực ngôn ngữ và làm văn (hay còn gọi năng lực ngữ văn) .

- Các vấn đề được trình bày theo hướng quy nạp, phục vụ yêu cầu đổi mới phương pháp, phát huy tính chủ động sáng tạo của người học.

- Trong chương trình, số lượng các bài về lý thuyết không nhiều, phần lớn là các bài rèn luyện kĩ năng thực hành:

+ Về lý thuyết:

- Bài : “Nghĩa của câu” (2 tiết – SGK Ngữ văn 11 tập 2), duy trì tên bài và đề tài như trong sách Tiếng Việt 11 tuy nội dung và cách trình bày có nhiều điểm mới.

Nghĩa của câu là một lĩnh vực khá phức tạp, bao gồm nhiều vấn đề, nhưng SGK chỉ giới hạn xung quanh vấn đề nghĩa sự việc và nghĩa tình thái; đặc biệt tập trung vào loại nghĩa thứ hai do nghĩa tình thái phức tạp hơn và việc phân tích sâu nghĩa tình thái có ý nghĩa thiết thực trong việc phân tích và tạo lập câu.

- Bài “Ngữ cảnh” (1 tiết – SGK Ngữ văn 11 tập 1). Đây là bài mới được đưa vào chương trình, không có trong SGK Tiếng Việt chỉnh lí, nội dung bài học hướng nhiều đến việc vận dụng tri thức ngữ pháp vào đời sống thường ngày, nhận thức được sự cần thiết trong việc nói và viết phù hợp với ngữ cảnh, giúp học sinh nâng cao năng lực nhận thức và lĩnh hội lời nói trong mối quan hệ với ngữ cảnh.

- Trong bài “Những yêu cầu về sử dụng tiếng Việt” (2 tiết – SGK Ngữ văn 10 tập 2) có phần yêu cầu về mặt ngữ pháp nhằm củng cố và nâng cao việc sử dụng đúng ngữ pháp trong viết câu, lập đoạn văn: cấu tạo câu theo đúng quy tắc ngữ pháp tiếng Việt, diễn đạt đúng các quan hệ ý nghĩa và sử dụng dấu câu thích hợp; các câu trong đoạn văn và văn bản được liên kết chặt chẽ, tạo nên một văn bản mạch lạc, thống nhất.

+ Về thực hành:

Có 2 bài chỉ thuần túy thực hành, không có trong SGK Tiếng Việt 11 nhằm ôn luyện và nâng cao kiến thức, kĩ năng mà học sinh đã được học ở trường THCS:

- “Thực hành về lựa chọn trật tự các bộ phận trong câu” (1 tiết)

- “Thực hành về sử dụng một số kiểu câu trong văn bản” (2 tiết)

Cả hai bài thực hành đều hướng đến phạm vi kiến thức về câu trong văn bản, giúp học sinh có ý thức về việc tạo câu sao cho thể hiện được ý nghĩa của văn bản, tạo tính mạch lạc, logic cho văn bản.

+ Về kĩ năng:

- Giao tiếp phù hợp với ngữ cảnh.

- Tạo nghĩa tình thái cho câu một cách tinh tế.

- Liên kết câu hiệu quả.

3)    Chương trình dạy học ngữ pháp mới trong sự đối sánh với chương trình ngữ pháp trong SGK Tiếng Việt cũ

- Hai bài lý thuyết “Giản yếu về câu” và “Câu trong văn bản” trong SGK TV 10 đã bị lược bỏ trong SGK Ngữ văn mới và thay vào đó là hai bài thực hành.

- Bài “Nghĩa của câu” cũng được trình bày tinh gọn hơn trong hai nội dung lớn là nghĩa sự việc và nghĩa tình thái của câu (thay vì trong sách cũ là các nội dung về phân biệt câu với phát ngôn, và phân tích hai thành phần tin ngữ nghĩa của phát ngôn; trình bày và phân biệt nghĩa tường minh với nghĩa hàm ẩn).

- Toàn bộ những kiến thức đồ sộ trong bài “Giản yếu về câu” và 1 tiết bài “Lỗi về câu” đã được lược bỏ và thay thế bằng một phần nhỏ trong bài “Những yêu cầu về sử dụng tiếng Việt”.

Như vậy:

- Chương trình ngữ pháp trong các SGK Ngữ văn THPT đã có nhiều thay đổi theo hướng giảm bớt lí thuyết, chú trọng hơn về kỹ năng sử dụng tiếng Việt trong giao tiếp của học sinh; lựa chọn những vấn đề có tác dụng thực tiễn cao, gắn lý thuyết với thực hành. Các bài thực hành chủ yếu ôn luyện kiến thức đã học ở bậc THCS, bài tìm hiểu kiến thức mới cũng rất coi trọng thực hành.

- Nội dung bài học được trình bày theo hướng quy nạp, đi từ những bài tập ngữ liệu giúp học sinh rút ra tri thức (thay vì chương trình cũ được cấu trúc theo mô hình lí thuyết – thực hành, ít có tính gợi mở).

- Trong từng bài học đã thể hiện được mục tiêu tích hợp đúng với quan điểm đổi mới của chương trình cải cách.

III)       Những ý kiến nhận xét, góp ý:

1)    Về lý thuyết

a)            Kiến thức thiết yếu

- Nội dung các tri thức lý thuyết nhìn chung đã thể hiện được sự tinh giản tối đa. Những kiến thức cơ bản về cấu trúc ngữ pháp đã được giới thiệu trong chương trình các lớp dưới nay không còn nhắc lại mà chủ yếu là được ôn tập lại thông qua các bài tập thực hành.

- Nội dung kiến thức đã hướng đến việc học tập ngữ pháp để sử dụng, tức là ngữ pháp được đặt trong mối quan hệ với hoạt động giao tiếp thường ngày, học ngữ pháp học sinh biết như thế nào là nói và viết câu đúng, thể hiện các ý mình muốn trình bày một cách mạch lạc. Về nội dung này, các bài “Ngữ cảnh” và “Nghĩa của câu” đã cung cấp được những tri thức cần thiết.

- Song song với những kiến thức lý thuyết hàn lâm đã được giảm tải, nội dung chương trình đã thể hiện được sự tích hợp trong việc kết hợp dạy và học ngôn ngữ với đọc văn và làm văn, do đó mục tiêu dạy học ngữ pháp nói riêng và dạy học Ngữ văn nói chung được đảm bảo về mặt những tri thức học sinh nắm được được vận dụng tốt hơn trong cuộc sống hàng ngày.

b)            Đề xuất nội dung nên giảm tải

- Kiến thức ngữ pháp được duy trì từ bậc tiểu học đến bậc trung học phổ thông, vì vai trò quan trọng của ngữ pháp trong hệ thống ngôn ngữ nói chung, trong hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ nói riêng, vì vậy nếu kiến thức của học sinh về ngữ pháp bị hổng ở cấp dưới sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp thu những kiến thức mới ở bậc THPT, chương trình mới không hệ thống lại kiến thức cũ.

         -  Trong các bài lí thuyết, SGK có lựa chọn nhiều ngữ liệu từ các tác phẩm văn học tuy thể hiện được tính tích hợp kiến thức nhưng lại khá xa lạ, nhàm chán với học sinh.

VD: Ngữ liệu hướng dẫn HS tìm hiểu khái niệm ngữ cảnh là một câu nói của chị Tí trong truyện ngắn Hai đứa trẻ: “Giờ muộn thế này mà còn chưa ra nhỉ!”. Đây là một ngữ liệu hợp lý, thể hiện khá đầy đủ các đặc trưng của ngữ cảnh và có thể giúp HS thấy được mối quan hệ giữa kiến thức Tiếng Việt với tác phẩm văn học vừa học. Tuy nhiên, trong quá trình dạy bài Ngữ cảnh, chúng tôi nhận thấy HS không hứng thú với ngữ liệu này, có thể vì các câu hỏi đều đã được gợi ý trả lời ngay bên dưới, nhưng thực tế phần lớn HS đều cho rằng nó không gần gũi với giao tiếp hàng ngày của các em.

Đề xuất:

GV giới thiệu hai đoạn hội thoại:

  1. A gặp cô B ở chợ liền nói to:

      - Cô đi chợ ạ?

      - Cháu cũng đi à ? Cô mua tí đồ nhé, lát nữa cô cháu mình gặp nhau.

           2. Hai cô cháu đang nói chuyện, đột nhiên cô đứng dậy cầm giỏ sách. Cháu liền hỏi:

- Cô đi chợ ạ?.

- Ừ. Cháu ở nhà chơi đợi cô nhé!

Gv hỏi: Cùng một câu Cô đi chợ ạ? Nhưng người nghe ở hai trường hợp lại hiểu khác nhau . Em hãy giải thích về điều này?

- Hình thức trình bày ngữ liệu, dẫn dắt ở SGK vẫn đơn thuần là từ ngữ liệu, phát vấn để HS căn cứ vào ngữ liệu rồi trả lời chứ chưa đặt ra được những tình huống có vấn đề khiến HS phải tự suy nghĩ, liên hệ, phân tích…

àĐề xuất: Trong dạy học lý thuyết ngữ pháp, GV cần phải đưa vào bài giảng những tình huống có vấn đề để tích cực hóa sự tiếp thu bài học của HS.

- Trong SGK có những quy tắc đưa ra chỉ mang tính liệt kê chứ chưa giúp HS rút ra được cách sử

dụng trong thực tế một cách chắc chắn.

VD:Các quy tắc tách, gộp câu, mở rộng, rút gọn câu, chuyển đổi trật tự từ trong câu.

àĐề xuất: Khi đưa ra những quy tắc mới GV nên đưa ra thêm một vài ngữ liệu cho HS tự chứng minh và nhận ra quy tắc đó phù hợp.

 Nội dung kiến thức lý thuyết ngữ pháp ở THPT được trình bày theo hướng tích hợp, tinh giảm tối đa. Tuy nhiên, khi học HS vẫn sẽ cảm thấy khô khan.

à Đề xuất: Khi dạy lý thuyết ngữ pháp GV nên vận dụng thêm nhiều hình thức dạy học mới mẻ như thảo luận, làm việc theo nhóm, tham gia các trò chơi, hoạt động đóng vai…để bài giảng trở nên nhẹ nhàng, sinh động, dễ nhớ và nhớ lâu hơn.

Mục tiêu của phân môn ngữ pháp là: cung cấp các tri thức về cú pháp tiếng Việt và rèn luyện kĩ năng . Những kiến thức này yêu cầu học sinh phải nắm rõ và sử dụng thành thạo để tạo lập câu và văn bản nhưng trên thực tế lại bị coi nhẹ, chưa đánh giá đúng tầm quan trọng của nó. Vì vậy phân môn Ngữ pháp bị học sinh coi nhẹ trong dạy học ngữ văn.

2)    Về thực hành

a)            Những kĩ năng thực hành được đảm bảo

Chương trình Ngữ pháp ở THPT hiện nay với cấu trúc 50% lí thuyết và 50% thực hành đã đem đến cho học sinh những bài học thực hành cụ thể, hướng các em đến việc sử dụng câu sao cho đạt hiệu quả.

Các bài học trong một đơn vị bài học ngữ pháp cơ bản đảm bảo được tính logic, hệ thống, hướng đến giao tiếp, được sắp xếp từ dễ đến khó và tập trung vào kiến thức trọng tâm.

So với chương trình SGK cũ thì SGK mới cũng đảm bảo kiến thức thực hành  xuyên suốt các bài học trong chương trình Ngữ văn 10 và Ngữ văn 11.

Về sách Ngữ văn 10 có một bài đó là

Những yêu cầu sử dụng tiếng Việt (phần Ngữ pháp).

Đây là bài chủ yếu đưa ra các ngữ liệu mà trong đó có những lỗi thường gặp trong Tiếng Việt (Câu thiếu chủ ngữ, câu thiếu vị ngữ, giữa các câu trong một đoạn văn văn thiếu tính logic…) rồi yêu cầu HS sửa và rút ra kết luận về yêu cầu sử dụng Ngữ pháp trong Tiếng Việt. Bên cạnh đó, phần Luyện tập đã đưa ra một số bài tập nhằm giúp các em HS rèn luyện tốt hơn về kĩ năng phân tích và sửa chữa những lỗi sai ngữ pháp cơ bản.

 

 

                  Bài tập

  Ví dụ                       

Yêu cầu

Kĩ năng cần rèn luyện cho HS

-Qua tác phẩm “Tắt đèn” của  Ngô Tất Tố đã cho ta thấy hình ảnh người phụ nữ nông thôn trong chế độ cũ.

- Lòng tin tưởng sâu sắc của những thế hệ cha anh vào lực lượng măng non và xung kích đã tiếp bước mình.

Phát hiện và chữa lỗi ngữ pháp

à Phát hiện lỗi sai: Câu thiếu chủ ngữ à Thêm chủ ngữ

àPhát hiện lỗi sai: Câu thiếu vị ngữ

à Thêm vị ngữ

- Có được ngôi nhà đã làm cho bà sống hạnh phúc hơn.

- Ngôi nhà đã làm cho bà sống hạnh phúc hơn.

- Có được ngôi nhà, bà đã sống hạnh phúc hơn.

- Ngôi nhà đã mang lại niềm hạnh phúc cho cuộc sống của bà.

Lựa chọn những câu văn đúng

àLựa chọn những câu đúng quy tắc ngữ pháp, diễn đạt đúng các quan hệ ý nghĩa và sử dụng dấu câu thích hợp

 

Thúy Kiều và Thúy Vân đều là con gái của ông bà Vương viên ngoại. Nàng là một thiếu nữ tài sắc vẹn toàn, sống hòa thuận hạnh phúc với cha mẹ. Họ sống êm ấm dưới một mái nhà, cùng có những nét xinh đẹp tuyệt vời. Vẻ  đẹp của Kiều hoa cũng phải ghen, liễu cũng phải hờn. Còn Vân thì có nét đẹp đoan trang thùy mị. Còn về tài thì nàng hơn hẳn Thúy Vân. Thế nhưng nàng đâu có được hưởng hạnh phúc.

Từng câu trong đoạn văn đều đúng nhưng đoạn văn vẫn không có được tính thống nhất và chặt chẽ. Hãy phân tích và chữa lại

 

àPhân tích lỗi sai

àTạo câu liên kết chặt chẽ với nhau và thống nhất trong một văn bản

3. Trong ca dao Việt Nam những bài về tình yêu nam nữ là những bài nhiều hơn tất cả. Họ yêu gia đình, yêu cái tổ ấm cùng nhau sinh sống, yêu nơi chôn nhau cắt rốn. Họ yêu người làng, người nước, yêu từ cảnh ruộng đồng đến công việc trong xóm ngoài láng. Tình yêu đó nồng nhiệt,đằm thắm và sâu sắc

 

 

Phân tích chỗ đúng , chỗ sai của câu và của đoạn văn

+Đúng: đề cập đến một vấn đề

+Sai: Các câu trong đoạn văn không liên kết, liền mạch, không tạo sự nhất quán

àHình thành  khả năng phân tích và khả năng viết câu, tạo lập một văn bản có tính thống nhất.

4. Chị Sứ yêu biết bao nhiêu cái chốn này, nơi chị đã oa oa cất tiếng khóc đầu tiên, nơi quả ngọt trái sai đã thắm hồng da dẻ chị (Anh Đức-Hòn đất)

Phân tích và làm sáng tỏ:

-Câu văn đúng cấu trúc ngữ pháp

-Câu văn đậm đà sắc thái biểu cảm

-Câu văn có tính hình tượng cụ thể

-Phân tích cấu trúc cú pháp của câu

- Câu dùng:

+Quán ngữ tình thái

+Từ chỉ âm thanh

+Từ chỉ hình ảnh

àHình thành kĩ năng phân tích và chứng minh

5.

Đọc bài văn số 4, phân tích và sửa lỗi (nếu có)

àPhân tích và sửa lỗi

 

 Nhận xét:

- Số lượng ví dụ và bài tập đưa ra khá phong phú (6)

- Qua mỗi ví dụ, giúp HS rút ra được lý thuyết của bài học.

- Những ví dụ và bài tập mà bài học này đưa ra đều hướng HS nhận ra các lỗi sai về cấu trúc ngữ pháp cơ bản, lỗi mất liên kết giữa các câu trong đoạn văn. Qua đó giúp HS phân tích khá kỹ những lỗi đó và hình thành nơi HS những kỹ năng cần thiết để tạo lập một câu đúng ngữ pháp. Bên cạnh đó, HS còn nhận thức được giá trị của sự liên kết của các câu trong một văn bản, hình thành kỹ năng không những viết câu đúng mà còn phải có sự liên kết trong một văn bản. Không những thế, qua bài học này HS hình thành kỹ năng tạo câu văn mang tính biểu cảm và có tính hình tượng.

Về sách Ngữ văn 11 có bốn bài đó là:

Ngữ cảnh

Bài học này là bài học lí thuyết, nhưng sau khi học lí thuyết học sinh cũng được luyện tập để củng cố kiến thức lí thuyết đã được học.

Bài tập

Ngữ liệu

Yêu cầu

Kĩ năng cần rèn luyện cho HS

1

Hai câu văn:

   Tiếng phong hạc phập phồng hơn mươi tháng, trông tin quan như trời hạn trông mưa; mùi tinh chiên vấy vá đã ba năm, ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ.

   Bữa thấy bòng bong che trắng lốp, muốn tới ăn gan; ngày xem ống khói chạy đen sì, muốn ra cắn cổ

Căn cứ vào hoàn cảnh sáng tác (ngữ cảnh), phân tích những chi tiết được miêu tả trong hai câu trích.

Phân tích văn bản dựa vào hoàn cảnh sáng tác.

à Thấy được vai trò của ngữ cảnh đối với một văn bản văn học

2

Hai câu thơ:

Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn,

Trơ cái hồng nhan với nước non.

Xác định hiện thực được nói đến trong hai câu thơ trên.

Xác định một số nhân tố của ngữ cảnh.

3

Hình ảnh bà Tú trong bài Thương vợ

Lí giải những chi tiết về bà Tú

Phân tích nhân vật văn học dựa vào những hiểu biết về ngữ cảnh của bài thơ.

4

Bốn câu thơ trong bài Vịnh khoa thi Hương:

-Nhà nước ba năm mở một khoa, Trường nam thi lẫn với trường Hà.

- Lọng cắm rợp trời quan sứ đến,

Váy lê quét đất mụ đầm ra

Cho biết những yếu tố nào trong ngữ cảnh đã chi phố nội dung những câu thơ đó.

Xác định những nhân tố của cảnh.

5

Tình huống: Hai người không quen nhau gặp nhau, một người hỏi:

Thưa bác, bác có đồng hồ không ạ?

Xác định cách hiểu và mục đích của câu hỏi.

Xác định nội dung và mục đích giao tiếp.

 

Nhận xét:

- Tất cả các bài tập đều mang tính chất nhận biết, làm rõ phần lí thuyết về ngữ cảnh mà HS đã học.

- Số lượng bài tâp nhằm giúp HS thấy được vai trò quan trọng của ngữ cảnh trong văn bản văn học khá nhiều.

v Thực hành về lựa chọn trật tự các bộ phận trong câu

Đây là một bài ngữ pháp thực hành thuần túy, song thông qua việc giải bài tập học sinh sẽ được cung cấp những kiến thức về lí thuyết, từ đó có kĩ năng sắp xếp trật tự trong câu khi nói và viết.

Bài tập

Nội dung cần đạt

I.       Trật tự câu đơn

1.       Đọc đoạn trích(sgk)

a)

b)

c)

 

 

2.       Lựa chọn hai cách diễn đạt

 

 

3.       Phân tích tác dụng cách sắp xếp khác nhau của thành phần trạng ngữ chỉ thời gian

Trật tự sắp xếp các bộ phận trong câu đều nhằm mục đích:

+ Thể hiện ý nghĩa của câu

+ Liên kết ý trong đoạn tức là đảm bảo mối quan hệ về ý với cái đi trước và đi sau

 

Mối quan hệ giữa các câu (câu nào cần nhấn mạnh hay không nhấn mạnh)

 

Đầu câu: Tác dụng làm cho lời kể rõ ràng theo bước đi của thời gian

Giữa câu: Tác dụng nhấn mạnh vào thời điểm còn rất sớm.

Cuối câu: Tác dụng nhấn mạnh, làm rõ về thời gian Mị phải sống trong cảnh con dâu gạt nợ.

Nhận xét:

- Các kiểu câu trong bài là những kiểu câu quen thuộc có tích hợp giữa kiến thức văn và tiếng Việt (ngữ liệu SGK cho là bài “Chí Phèo” đã được học, các em dễ nắm bắt)

- Đảm bảo được yêu cầu của bài học đó là đi sát vào kiến thức trọng tâm (lựa chọn trật tự câu) đối với từng kiểu câu.

- Các bài tập thực hành thể hiện sự tích hợp dọc kiến thức của bài học

Những kiến thức đã được học ở các lớp dưới như: Câu đơn, câu ghép, thành phần trạng ngữ…

-Bài học có tính kế thừa đảm bảo tính liên tục về kiến thức. Bài trước cần thiết cho bài sau và bài sau là sự củng cố, bổ sung nâng cao kiến thức từ bài trước. Bài này được sắp xếp sau bài Ngữ cảnh là hòa toàn hợp lí bởi muốn lựa chọn sắp xếp các bộ phận trong câu để đạt mục đích giao tiếp phải dựa vào ngữ cảnh câu nói.

v Thực hành về sử dụng một số kiểu câu trong văn bản

Cũng như bài thực hành trước thông qua hệ thống bài tập GV cung cấp kiến thức cho HS về ba kiểu câu trong văn bản: Câu bị động, Câu có khởi ngữ, Câu có trạng ngữ chỉ tình huống.

Nhận xét:

- Đây là bài thực hành nhằm ôn luyện và nâng cao kiến thức, kĩ năng sử dụng một số kiểu câu mà HS đã học ở THCS.

- Các bài thực hành thể hiện sự tích hợp dọc kiến thức của các bài học

+ Chuyển đổi câu chủ động thành câu bị động (lớp 7, t2)

+ Khởi ngữ (lớp 9, t2)

+ Thêm trạng ngữ cho câu (lớp 7, t2)

Thông qua GV hướng dẫn HS được ôn lại kiến thức một lần nữa

- Các kiểu câu được thực hành trong bài là những kiểu câu quen thuộc mà HS có thể sử dụng thường xuyên khi tạo lập văn bản (nói, viết).

- Ở bài học này tất cả các bài tập đều quan tâm đến ngữ cảnh, từ việc nhận diện câu, phân tích tác dụng của câu đến việc tạo lập văn bản.. HS sẽ phải quan tâm đến tính liên kết giữa các câu trong văn bản và hiệu quả của việc sử dụng từng kiểu câu.

v Nghĩa của câu

Cũng như các bài lí thuyết khác bài này sau khi cung cấp kiến thức cho học sinh luôn luôn có phần luyện tập để rèn luyện kĩ năng cho học sinh.

Nhận xét:         

- Học sinh sau khi học xong kiến thức về lí thuyết được bắt tay vào thực hành, kiến thức thực hành trong bài được vận dụng ngay cho nên mang tính ứng dụng cao. Vì vậy kiến thức về lí thuyết được củng cố khắc sâu.

- Kiến thức trọng tâm của bài được bảo đảm, xuyên suốt.

- Hệ thống bài tập khá nhiều, dẫn chứng đa dạng và có những bài tập dạng tương tự bài tập lí thuyết cô giảng nên học sinh trung bình cũng có thể giải được.Vì bài tập khá nhiều nên HS có cơ hội thử sức các dạng bài tập khác.

- Tích hợp kiến thức văn, tiếng Việt một cách triệt để (vì đa số các bài tập đều lấy ngữ liệu trong văn học)

à Việc tích hợp kiến thức từ các phân môn và kiến thức các bài học có liên quan móc xích với nhau giúp cho HS giải quyết được các bài tập về câu một cách trọn vẹn. Thông qua việc làm các bài tập trong SGK và những bài tập GV cung cấp thêm HS có thể hiểu trọn vẹn ba bình diện của câu (Bài Nghĩa của câu sẽ cung cấp cho HS hiểu về bình diện ngữ nghĩa, bài Ngữ cảnh sẽ cung cấp cho HS hiểu về bình diện ngữ dụng, các bài thực hành về các kiểu câu giúp học sinh hiểu về bình diện Ngữ pháp). Từ đó HS có thể vận dụng những kiến thức đó để tạo lập một văn bản hoàn chỉnh và giao tiếp đạt hiệu quả cao.

Như vậy, việc dạy học Ngữ pháp ở trường THPT nhằm cung cấp các tri thức về quy tắc hoạt động và tác dụng của một số kiểu câu trong văn bản, rèn luyện cho HS ý thức nói (viết) câu sáng tạo (biết chuyển đổi kiểu câu hoặc chuyển đổi trật tự các bộ phận trong câu để tạo sự liên kết với câu khác trong văn bản; nói, viết, phù hợp với ngữ cảnh, đạt hiệu quả giao tiếp.

b)            Loại bài tập nên tăng cường

So với chương trình Tiếng Việt thì chương trình Ngữ văn (phần Ngữ pháp) đã có những đổi mới mang tính tích cực song không hẳn đã là tối ưu. Qua quá trình khảo sát, nghiên cứu chúng tôi thấy còn một số vấn đề mà SGK Ngữ văn chưa thật sự hợp lí. Vì vậy chúng tôi xin đưa ra một số ý kiến xung quanh các dạng bài tập để trong quá trình dạy văn HS sẽ cảm thấy hứng thú với bài học, yêu thích tiếng mẹ đẻ  và quý trọng môn văn hơn. Từ đó các em sẽ có ý thức sử dụng tiếng mẹ đẻ sao cho đúng, cho hay để làm giàu cho vốn tiếng của dân tộc.

Đa số ngữ liệu trong SGK đưa ra đều hợp lí song chúng tôi cảm thấy ngữ liệu đó chưa hay và chưa thật sự gây hứng thú cho HS vì hoàn cảnh giao tiếp mà HS phải tìm hiểu không gần gũi với các em. Sau đây chúng tôi mạo muội đưa ra  ý kiến của mình về hệ thống bài tập có trong chương trình SGK hiện tại.

-  Điển hình như ngữ liệu trong bài Ngữ cảnh phần luyện tập phần 1.

Hai câu văn:

   Tiếng phong hạc phập phồng hơn mươi tháng, trông tin quan như trời hạn trông mưa; mùi tinh chiên vấy vá đã ba năm, ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ.

   Bữa thấy bòng bong che trắng lốp, muốn tới ăn gan; ngày xem ống khói chạy đen sì, muốn ra cắn cổ.

(Nguyễn Đình Chiểu, Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc)

Theo chúng tôi không nên quá chú trọng vào việc tích hợp kiến thức mà tất cả các bài tập đều đưa những kiến thức văn học vào. Chúng ta có thể xây dựng một số dạng bài tập gần gũi với hoàn cảnh giao tiếp và gắn với thực tế để các vận dụng trong quá trình giao tiếp bởi chúng ta dạy học sinh không chỉ để có kiến thức mà còn vận dụng kiến thức vào trong cuộc sống.

Ta có thể đưa dạng bài tập tình huống yêu cầu HS thực hành giao tiếp theo ngữ cảnh

Ví dụ:

Cho các tình huống sau: Yêu cầu các nhóm phân công đóng vai và thực hiện các vai giao tiếp (viết lời thoại cho mỗi tình huống trên)

+ Tình huống 1: Hai bạn HS sau kì nghỉ hè gặp nhau tại cổng trường

+Tình huống 2: Ba người bạn cùng nói về giá của một chiếc áo mà một người trong số họ mới mua (một người cảm thấy giá vừa phải, một người cảm thấy đắt, một người cảm thấy như vậy là rẻ).

+ Tình huống 3: Một bạn đề xuất với cô giáo về chuyến tham quan sắp tới của lớp.

+ Tình huống 4: Hai bạn nói chuyện với nhau về những khoản đóng góp của lớp.

- Tính chất của các bài tập đều tương tự nhau vì vậy có thể bổ sung thêm nhiều tình huống giao tiếp theo ngữ cảnh để HS luyện tập.

Bài Nghĩa của câu, phần luyện tập của bài này cũng có khá nhiều bài tập trùng nhau về kĩ năng nhận biết nghĩa sự việc và nghĩa tình thái, trong khi nghĩa sự việc không phải là trọng tâm của bài học và kĩ năng nhận biết là một kĩ năng khá đơn giản. Vì vậy, theo chúng tôi nên tăng cường những bài tập rèn luyện kĩ năng sử dụng từ tình thái để tạo nghĩa tình thái cho câu. Sở dĩ đây là một kĩ năng cần bổ sung vì chương trình ngữ pháp  về từ loại ở THCS các em mới chỉ học khái niệm về tình thái từ, cách nhận biết, viết câu với tình thái từ nghi vấn… chứ chưa thấy vai trò của từ loại này trong giao tiếp.

Vậy với bài Nghĩa của câu GV có thể dự kiến xây dựng một hệ thống bài tập như sau:

Bài tập

Dạng bài tập

Yêu cầu

Kĩ năng cần rèn luyện

Mức độ tư duy

1

Xử lí ngữ liệu (Ngữ liệu là những câu nói trong giao tiếp hàng ngày)

Ví dụ: Trời ơi, Mưa to thế này thì làm sao mà đi chơi được

Xác định nghĩa sự việc và nghĩa tình thái với những từ in đậm

Nhận biết sự việc được đề cập và thái độ của người nói, người viết thể hiện trong câu

Biết- hiểu

2

Xử lí ngữ liệu (Ngữ liệu là một số câu thơ, văn được trích dẫn kèm thao ngữ cảnh)

- Xác định từ tình thái

- Cho biết nghĩa tình thái của câu

- Nhận biết từ tình thái

- Nhận biết nghĩa tình thái căn cứ vào từ tình thái và ngữ cảnh trong câu

Biết- hiểu

3

Điền khuyết với sự lựa chọn hạn chế

Tìm (trong số các từ cho sẵn) từ tình thái phù hợp với ngữ cảnh (cho sẵn) và nội dung câu có chỗ trống.

Lựa chọn từ thích hợp với ngữ cảnh

Vận dụng

4

Điền khuyết tự chọn

- Lựa chọn từ tình thái thích hợp điền vào chỗ trống trong câu

- Giải thích về cách lựa chọn

- Giả định và phân tích ngữ cảnh

- Huy động vốn từ tình thái và kinh nghiệm sử dụng chúng.

- Lựa chọn từ thích hợp với ngữ cảnh.

Vận dụng- phân tích

5

Viết câu với một số từ cho sẵn

- Viết câu với từ tình thái cho sẵn

- Xác định nghĩa của câu

- Viết câu phù hợp với ngữ cảnh (tự HS giả định)

- Phân tích nghĩa của câu.

Vận dụng- phân tích

6

Viết câu bằng cách sắp xếp trật tự các từ cho sẵn

Sắp xếp trật tự các từ trong câu sao có được ý nghĩa phù hợp với ngữ cảnh cho sẵn

Sử dụng trật tự từ để tạo nghĩa tình thái cho câu.

Vận dụng- phân tích

7

Tạo ngữ liệu, thể hiện ngữ liệu.

-Mỗi ngóm HS tự xây dựng một tình huống có đối thoại (bối cảnh có thể được gợi ý).

- Lời đối thoại có sử dụng từ tình thái

- Đóng vai, thể hiện đoạn đối thoại

Sử dụng ngôn ngữ và thái độ giao tiếp phù hợp với ngữ cảnh.

Tổng hợp

8

Hỏi ý kiến HS

Nêu những cách thức có thể tạo nghĩa tình thái cho câu và tác dụng của chúng.

Nhận xét, đánh giá về nghĩa tình thái của câu.

Đánh giá

Ngoài ra, các bài tập trong bài này khai thác các tác phẩm văn học Trung đại như bài Tự tình (Hồ Xuân Hương), Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc (Nguyễn Đình Chiểu), Thương vợ (Trần Tế Xương) đã học ở học kì 1 làm cho HS cảm thấy lúng túng và rất khó khăn trong việc trình bày bài giải.

- Tuy được biên soạn theo hướng tích hợp nhưng khả năng tích hợp của các bài ngữ pháp với phần Làm văn còn thể hiện ở mức độ rất hạn chế, và chỉ có thể đánh giá thông qua bài làm của HS. Vì vậy chúng tôi muốn đưa ra một số dạng bài tập để HS thực hành viết câu.

          Ví dụ trong bài Thực hành về sử dụng một số kiểu câu trong văn bản, SGK trình bày các bài tập theo từng kiểu câu riêng biệt và mục đích của các bài tập chủ yếu là giúp HS nhận diện, thấy được tác dụng liên kết câu. Vì thế, GV cần bổ sung thêm một số bài tập hướng đến kĩ năng tạo lập câu, đoạn văn của HS (Phần bài tập này có thể cho vào phần Củng cố, làm thêm ở nhà vì thời lượng chương trình trên lớp không đủ để HS thực hành thêm)

Hệ thống bài tập

Kỹ năng rèn luyện

Kiến thức tích hợp

1. Viết đoạn văn giới thiệu về nhân vật Xuân Tóc Đỏ trong truyện Hạnh Phúc Của Một Tang Gia, lưu ý sử dụng kiểu câu có khởi ngữ

- Giao tiếp ở dạng viết (thể hiện hiểu biết của bản thân)

- Viết câu có khởi ngữ

- Liên kết câu trong đoạn

Tích hợp văn học (Hạnh phúc của một tang gia) và Tiếng Việt (Câu có khởi ngữ, cấu trúc đoạn văn)

2. Viết một đoạn văn diễn tả tâm trạng của Chí Phèo khi ăn bát cháo hành của Thị Nở, lưu ý sử dụng kiểu câu có trạng ngữ chỉ tình huống

- Giao tiếp ở dạng viết (Thể hiện suy nhĩ, cảm nhận của bản thân)

- Viết câu có trạng ngữ chỉ tình huống

- Liên kết câu trong đoạn văn

-Phân tích tâm lý nhân vật

Tích hợp văn học (Chí Phèo) và Tiếng Việt (Câu có trạng ngữ chỉ tình huống, cấu trúc đoạn văn

3.Em hãy kể cho các bạn em nghe một câu chuyện cười (Văn học dân gian), chú ý sử dụng các kiểu câu vừa học.

(GV có thể gọi HS trình bày bày bài tập này trong giờ kiểm tra bài cũ)

- Giao tiếp ở dạng nói (kể chuyện)

- Tạo câu với các kiểu câu vừa học

- Liên kết giữa các câu trong văn bản

Tích hợp văn học (Truyện cười dân gian) và Tiếng Việt (một số kiểu câu trong văn bản, phong cách ngôn ngữ sinh hoạt

4. Một người bạn của em mới đi du học nước ngoài, em hãy viết một lá thư cho người bạn đó hỏi tâm về sức khỏe, học tập của bạn và kể sơ về cuộc sống của em, chú ý sử dụng các kiểu câu vửa học

- Giao tiếp ở dạng viết (viết thư)

- Tạo câu với các kiểu câu vừa học

-Liên kết giữa các câu trong văn bản

 Tích hợp văn hóa (viết thư hỏi thăm bạn bè, người thân khi đi xa) và Tiếng Việt (một số kiểu câu trong văn bản, phong cách ngôn ngữ sinh hoạt)

 

 

 

 

 

 

 

Và trong bài: Những yêu cầu sử dụng Tiếng Việt (lớp 10CB-Tập 2)

- Về mặt khách quan, những ngữ liệu mà bài học đưa ra đã đáp ứng khá đầy đủ trong việc hình thành nơi HS những kỹ năng cần thiết để nhận diện, phân tích và tạo lập một câu đúng cấu trúc ngữ pháp và có sự liên kết giữa các câu trong một văn bản.

- Về mặt chủ quan, chúng tôi cho rằng:

  + Ngữ liệu mà bài học đưa ra khá dài, vì thế sẽ mất nhiều thời gian trong quá trình dạy. Nếu thay bằng những ngữ liệu ngắn hơn thì GV sẽ có thời gian đưa ra những ví dụ khác mà SGK chưa đề cập đến nhằm giúp HS hiểu sâu hơn vấn đề.

  + Cần phải tăng cường thêm một số dạng bài tập nữa nhằm giúp các em hiểu sâu hơn và qua đó kỹ năng được hình thành trong các em sẽ vững hơn sau bài học.

Chẳng hạn:

  - Chúng ta cần đưa thêm một số câu khuyết cả chủ ngữ lẫn vị ngữ vào

Ví dụ: Trong xã hội cũ, cái xã hội làm cho con người chỉ biết sống về mình

- Chúng ta cần đưa thêm một số câu sai về logic(quan hệ về ý nghĩa giữa các bộ phận câu và quan hệ giữa hiện thực với ý nghĩa miêu tả, sự kiện.. của câu) và yêu cầu HS sửa lỗi.

Ví dụ: Em muốn trở thành một người trí thức hay bác sĩ ?

àA: trí thức

    B: bác sĩ

Khi đặt câu hỏi lựa chọn A hay B thì A, B phải bình đẳng với nhau, không cái nào bao hàm cái nào. Ở câu này, trí thức đã bao hàm bác sĩ

Sửa lại: Em muốn trở thành một giáo viên hay một bác sĩ?

Ví dụ: Chị  Dậu rất cần cù, chịu khó nên chị rất mực yêu thương chồng con

àA= Chị Dậu rất cần cù, chịu khó

B= (nên) chị rất mực yêu thương chồng con.

A – B : không phải là quan hệ nhân quả

Sửa lại : Chị  Dậu rất cần cù, chịu khó và chị rất mực yêu thương chồng con.

Ví dụ: Học sinh không được uống rượu và hút thuốc lá

àTạo ra cách hiểu mập mờ

Cách 1: Học sinh không đuợc uống rượu

             Học sinh không được hút thuốc lá

Cách 2: Học sinh không được uống rượu

             Học sinh được hút thuốc lá

Sửa lại: Học sinh không được uống rược và không được hút thuốc lá.

- Chúng ta nên đưa vào những ví dụ trong đó hai câu bị chập làm một

Ví dụ: Anh nên uống thuốc đi

àỞ ví dụ này, thực chất có hai câu

   Anh nên uống thuốc ( khuyên)

   Anh uống thuốc đi (đề nghị)

- Chúng ta nên đưa vào những ví dụ thiếu quan hệ từ, thiếu cặp quan hệ từ hay dùng sai các quan hệ từ để HS sửa lỗi.

Ví dụ: Cụ Đài có ngắc ngứ rồi giải thích được ráo

 àThiếu cặp quan hệ từ: tuy…nhưng

…tuy có…nhưng rồi…

Ví dụ: Tuy trời mưa nên tôi không đi học

àDùng sai cặp quan hệ từ: tuy…nên à vì…nên…


                                                                                                                               

KẾT LUẬN

     Nhìn chung chương trình Ngữ Pháp ở trường Trung học phổ thông (THPT) đã đảm bảo được tính tích hợp trong việc dạy học văn . Việc tích hợp kiến thức và nội dung kiến thức xuyên suốt quá trình học Ngữ văn của học sinh từ Trung học cơ sở đến THPT, đòi hỏi học sinh không ngừng củng cố, tích lũy kiến thức.

Thay vì những kiến thức lý thuyết Tiếng Việt mang tính hàn lâm thì chương trình Ngữ văn (phần Ngữ pháp) đã chú trọng đến việc thực hành , vận dụng vào thực tế. Vì thế giúp cho học sinh có khả năng tự học, nhìn thấy mối liên hệ giữa kiến thức trong nhà trường với kiến thức thực tế và vận dụng những kiến thức ấy vào trong cuộc sống.

Tuy nhiên, không phải em học sinh nào cũng thấy được điều đó vì trên thực tế có nhiều em chán học Ngữ văn, vì vậy không nắm được những kiến thức cơ bản dẫn đến hiểu sai và vận dụng sai kiến thức đã được cung cấp.

Điều đó đặt ra cho những người quản lí và giảng dạy phải xem xét lại chương trình sách giáo khoa và cách giảng dạy để có chương trình kiến thức chuẩn và hấp dẫn phù hợp với tất cả đối tượng học sinh.

Qua những vấn đề mà chúng tôi phân tích ở trên, SGK có tình trạng “vừa thừa vừa thiếu”. Vì thế vấn đề đặt ra là giáo viên phải làm sao cân bằng chương trình dạy học mà vẫn đảm kiến thức cho học sinh. Trong hiểu biết hạn hẹp, chúng tôi tạm thời đưa ra những đề xuất, đánh giá (có tham khảo của một số nhà chuyên môn) và những ý kiến của chúng tôi chỉ mang tính chủ quan. Rất mong được các bạn đọc xem xét và góp ý.


 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

1.                           Lê Thị Ngọc Chi (2010),Vận dụng quan điểm tích hợp và tích cực trong việc dạy Ngữ pháp ở trường THPT, Luận văn Thạc sĩ.

2.                           Hoàng Dân (2011), Bài tập tiếng Việt THCS và THPT, NXB Thanh Niên.

3.                           Lê A (chủ biên) (2010), Phương pháp dạy học Tiếng Việt, NXB Giáo Dục Việt Nam

4.                           SGK Ngữ Văn 10, tập 2 - NXB Giáo Dục

5.                           SGK Ngữ Văn 11, tập 1 - NXB Giáo Dục

6.                           SGK Ngữ Văn 11, tập 2 - NXB Giáo Dục

7.                           Bùi Tất Tươm (chủ biên) (1997), Cơ sở ngôn ngữ học và Tiếng Việt, NXB Giáo Dục

8.                           http://baigiang.violet.vn/

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Comments