Về tự kỷ‎ > ‎

Thực trạng

Chúng ta đã biết gì và chưa biết gì về tự kỷ?

đăng 11:20, 11 thg 10, 2014 bởi Đào Linh   [ đã cập nhật 11:20, 11 thg 10, 2014 ]

Nếu con của bạn có biểu hiện chậm phát triển, như là rối loạn phổ tự kỷ, thì đó KHÓ CÓ THỂ LÀ DO BẠN ĐÃ LÀM GÌ ĐÓ chưa được như ý, hay do MỘT BIẾN CỐ nào đó gây ra.

Tự kỷ là một tình trạng phức tạp và còn chưa được hiểu rõ. Các nhà nghiên cứu đang làm việc để tìm kiếm câu trả lời, nhưng bản thân những câu hỏi cũng không rõ ràng. Kết quả là, các nghiên cứu thường vụn vặn manh mún, và nhiều lý thuyết vẫn đang trong giai đoạn thử nghiệm. Các nhà nghiên cứu nhanh chóng thu thập dữ liệu, nhưng đồng thời, họ bất đồng trong cách giải thích.

Ví dụ, các nhà nghiên cứu có thể quan sát những bất ổn trong nhiều quá trình khác nhau trong cơ thể của một cá nhân mắc chứng tự kỷ, nhưng họ không thể đồng ý rằng vấn đề cụ thể đó là nguyên nhân hay là triệu chứng của chứng tự kỷ. Như vậy, trong cộng đồng y khoa, người ta vẫn ĐANG TRANH LUẬN VỀ NGUYÊN NHÂN CỦA CHỨNG TỰ KỶ và cách điều trị nó.

Dưới đây là những THỰC TẾ mà tất cả các chuyên gia và nhân viên chăm sóc đều NHẤT TRÍ:

• Các khuyết tật phát triển như chứng tự kỷ là các tình trạng về não, thần kinh liên quan đến sinh học nhiều hơn là tâm lý học.
• Tự kỷ là thành phần hay gặp nhất trong tập hợp các chứng rối loạn phổ tự kỷ (ASD), cũng còn được gọi là rối loạn phát triển lan tỏa (PDD).
• Tự kỷ thường được chẩn đoán khi trẻ được 3 tuổi.
• Ta có thể gặp tự kỷ ở mọi quốc gia, mọi dân tộc, và mọi tầng lớp kinh tế xã hội.
• Tự kỷ ảnh hưởng đến hơn một triệu rưỡi người chỉ tính riêng tại Hoa kỳ, với 24.000 trẻ được chẩn đoán mắc chứng tự kỷ hàng năm. Con số này tương đương ở các nước phương Tây khác.
• Số bé trai mắc tự kỷ cao gấp bốn lần so với các bé gái.
• Cứ 166 trẻ em thì có một em được chẩn đoán mắc chứng tự kỷ ở Hoa kỳ. Con số này đã tăng vọt trong 30 năm gần đây. (số liệu này đã được cập nhật vào tháng 4 là 1 trên 68 trẻ)
• Trẻ em được chẩn đoán mắc chứng tự kỷ rối loạn phổ cần được can thiệp càng sớm càng tốt.

Và đây là những CHỦ ĐỀ mà các chuyên gia và nhân viên chăm sóc vẫn CÒN TRANH LUẬN:

• Tự kỷ được cho là có nguồn gốc sinh học, mặc dù các nhà nghiên cứu vẫn còn cố gắng tìm hiểu nguyên nhân chính xác của nó. 
Nói cách khác, cấu tạo di truyền của một đứa trẻ khởi đầu cho sự phát triển chứng tự kỷ, nhưng gen di truyền không phải là nguyên nhân của tình trạng này. Sự khởi đầu về gen tạo điều kiện thuận lợi cho việc kích hoạt tình trạng này, nhưng các nhà nghiên cứu đã không thể xác định chính xác được nhân tố kích hoạt là ở đâu. Mỗi trường hợp chẩn đoán tự kỷ đều có mô hình riêng, giống như dấu vân tay.
• Một số chuyên gia tin rằng chứng tự kỷ có một nguyên nhân bao trùm, những người khác lại kiên quyết là nó có rất nhiều nguyên nhân. Một số nghiên cứu phân chia tự kỷ vào nhiều nhóm nhỏ dựa trên nhân tố kích hoạt mà họ giả thuyết.
• Phương pháp điều trị y sinh có thể cải thiện triệu chứng tự kỷ, nhưng người ta vẫn còn tranh luận về việc liệu phương pháp điều trị y sinh chữa được nguyên nhân gốc rễ của tự kỷ không hay đơn giản chỉ là giúp cho những trẻ em "không thực sự mắc chứng tự kỷ". Các cộng đồng y tế không chấp nhận rộng rãi phương pháp điều trị y sinh học, tuy nhiên, một số bác sĩ đã thực hiện các kỹ thuật và thực tế rất thành công với bệnh nhân của họ.

Bất chấp những gì cộng đồng y tế vẫn còn chưa biết về chứng tự kỷ, chúng ta vẫn có lý do để hy vọng. Các kỹ thuật mới để nghiên cứu bộ não con người có thể dẫn ta đến những cách chữa khỏi, các phương pháp điều trị mới, cách can thiệp cho chứng tự kỷ và lời giải cho các bài toán hóc búa khác về các bệnh thần kinh khó hiểu như Alzheimer và Chứng tăng động giảm tập trung chú ý (ADHD). Ngoài ra, những người ủng hộ đề xuất ngày càng nhiều tài trợ và điều luật nhằm nâng cao thêm kiến thức về chứng tự kỷ.

Theo Understanding Autism for Dummies của Stephen Mark Shore và Linda G.Rastelli

Nghiên cứu khoa học về cuộc sống của các gia đình có con tự kỷ ở Hà nội

đăng 18:42, 28 thg 9, 2014 bởi Đào Linh   [ đã cập nhật 22:33, 9 thg 11, 2014 ]

http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S0277953614006054#

Những điểm nổi bật

Ở Việt Nam, rối loạn phổ tự kỷ thưòng được hiểu là một bệnh và một vấn đề gia đình.

Trẻ tự kỷ và cha mẹ bị phân biệt đối xử và kỳ thị dưới nhiều dạng.

Các gia đình đã "điều trị" con mình bằng nhiều loại can thiệp thuốc và tâm linh.

Trẻ tự kỷ thiếu các dịch vụ chất lượng và giá cả vừa phải.

Rất cần các chuẩn chẩn đoán và cách can thiệp giá thấp phù hợp văn hóa.


Tóm tắt:

Quan niệm vê khuyết tật và tự kỷ ở Việt Nam.

Người VN tin vào nghiệp, sinh tử luân hồi. Kiếp trước làm việc thiện thì kiếp sau sung sướng. Kiếp trước làm điêu xấu thì kiếp sau bị trừng phạt. Khuyết tật thường được coi là do đã làm điều ác. Vì thế người khuyết tật hay bị kỳ thị. Cha mẹ có con khuyết tật phản ảnh lại họ cảm thấy buồn, xấu hổ, và tội lỗi. Họ tự thấy mình là người duy nhất gánh vác hết việc chăm lo cho con khuyết tật.

Một thái độ thường gặp với tự kỷ là họ vô dụng, và là gánh nặng cho gia đình và xã hội. Cha mẹ tre tự kỷ thường được coi là vô trách nhiệm và không cho ra đời những đứa con có ích cho xã hội. Vì thế cha mẹ thấy tuyệt vọng, tức giận và vô vọng. Một số cha mẹ kể lại được những người can thiệp khuyên nên có thêm con vì con tự kỷ không thể thành người, có cũng như không, chỉ để làm cảnh.


Lo sợ các bệnh tâm thần và tương lai bất định

Cha mẹ lo ngại về tuơng lai.  Tự kỷ thường bị nhầm là tâm thần phân liệt.  Trước những năm 1980, ở các nước phát triển đã từng coi tự kỷ là một dạng tâm thần phân liệt ở tuổi nhỏ.  Năm 1980, Cẩm nang chẩn đoán các rối loạn tâm thần III chính thức loại bỏ mối liên hệ giữa tự kỷ và tâm thần phân liệt.  Tuy nhiên sự liên hệ này vẫn còn rất sâu đậm ở Việt Nam. Năm 2005, các bác sỹ nói, sách và các tài liệu đều nói "tự kỷ rồi sẽ thành tâm thần phân liệt".  

"Lúc đó tôi chưa sợ khi nghe từ tự kỷ, nhưng nghe bác sỹ nói vậy, tôi quá sợ và cho con gái vào trung tâm can thiệp ngay (Mai, một người mẹ 37 tuổi).


"Việc người tự kỷ bị h

iểu nhầm là thằng tâm thần thật là đau lòng, như bị dao đâm.  Tôi đã khóc rất nhiều khi nghĩ đứa con đẹp đẽ của mình sẽ lang thang trần truồng, nhặt bốc ăn dơ dáy từ thùng rác. Tôi rất sợ nếu không điều trị, con tôi sẽ sống như người tâm thần". (Hà, một người mẹ 44 tuổi).


Ngay cả những người làm can thiệp cũng hiểu nhầm như vậy.  Ví dụ, bác sỹ ở một trung tâm can thiệp đã nói:


"Trẻ tự kỷ nếu không được can thiệp đúng, chúng sẽ bị nặng lên.  Nếu là tự kỷ điển hình, năm 18, 20 tuổi chúng sẽ là bệnh nhân tâm thần và có thể phải vào trại tâm thần sống vì các hành vi của chúng" (Bác sỹ ở một trung tâm can thiệp tư nhân).


Các hành vi tìm kiếm cảm giác và tự trấn an thường thấy ở trẻ tự kỷ như vẩy tay, đung đưa người, đi lại và nói liên tục bị nhìn nhận sai lệch và cha mẹ tìm cách kiềm chế con khi ra nơi công cộng để mọi người khỏi nhìn con họ như bị điên, bất thường.


Ngay cả các can thiệp viên cũng có ý nghĩ như vậy:
"Tương lai của những đứa trẻ này rất đáng sợ.  Trông chúng dễ thương vậy, nhưng khi chúng lớn lên, sẽ có rất nhiều vấn đề.  Theo các nghiên cứu ở Mỹ, chúng thậm chí còn hiếp dâm em gái.  Bạn thấy đấy, chúng không ý thức được hành vi của mình, vì thế chúng có thể cởi bỏ quần áo và thủ dâm trước mặt người lạ.  Thật là điên rồ đúng không?  Chúng là gánh rất nặng của gia đình".

Phân biệt đối xử với trẻ tự kỷ
Trẻ tự kỷ bị phân biệt đối xử dưới nhiều dạng, bị loại bỏ, lãng quên ở các cơ sở giáo dục, cơ quan, bắt nạt và xâm hại thân thể.
Chính sách giáo dục hòa nhập được chính phủ VN thông qua trong luật Giáo dục tiểu học phổ cập vào năm 1991, luật Giáo dục, và thông tư 23/2006/QD-BGD&DT về giáo dục hòa nhập cho người khuyết tật.  Các trường công sẽ phải nhận các cháu khuyết tật.  Tuy nhiên, cha mẹ phản ánh lại là xin học cho con cả ở trường công và tư đều khó.  Họ đưa ra nhiều lý do nói tránh để từ chối con "lịch học của trường không phù hợp với con, trường không có đủ giáo viên, lớp đã đông học sinh rồi và có cả trường hợp đòi tiền mới chịu nhận con.
Một bà mẹ kể: Trường nhận con rồi lại đẩy con đi.  Con lại phải chuyển trường.  Tôi đã đi xem 8 trường cho con rồi.  Chúng tôi biết hầu hết các trường đều không nhận con chúng tôi.  Nếu muốn xin được cho con, chúng tôi phải có quen biết, hoặc mất nhiều tiền (Ngọc Anh, mẹ một bé gái tự kỷ 13 tuổi).

Kể cả khi con được nhận vào học, con vẫn khó khăn trong việc tham gia các hoạt động chung.  Trường công mỗi lớp 40 - 60 học sinh.  Cô giáo không có kiến thức và kỹ năng làm việc với trẻ khuyết tật.  Kiếm trường có cô đi kèm trẻ vì hầu hết các trường không cho phép và bố mẹ không chi trả nổi.

Bị bắt nạt ở trường lại là một vấn đề nữa. Một bà mẹ kể:
"Con tôi thường xuyên bị bắt nạt.  Cháu hay bị trêu, bị đánh.  Thỉnh thoảng tôi lại thấy có vết thâm bầm.  Các bạn cùng lớp bảo con leo lên cây rồi nhảy xuống, hoặc làm gãy cây.  Có lần con bị xui ném đá vào xe ô tô và suýt bị người lái xe đánh cho. Tôi lo quá và bàn với chồng cho con ở nhà" (Bích, một bà mẹ 38 tuổi).

53 bố mẹ khác cũng cho biết con hay bị bắt nạt ở trường, thường gặp nhất là bị lờ đi, chủ ý không cho tham gia các hoạt động 

Ngoài ra con thường bị trêu, làm trò hề, chửi, bị nói xấu, bị bạn lấy đồ hoặc bị xô đẩy.

Các dịch vụ đánh giá và chẩn đoán tự kỷ

Các dịch vụ này thường được làm nháo nhào, hời hợt chiếu lệ, và dùng những công cụ không phù hợp, và không xin thông tin từ những người khác về trẻ trong các bối cảnh khác, vì thế chẩn đoán thường không chính xác, mơ hồ, chẩn đoán quá nặng và khiến cha mẹ lẫn lộn. Một số công cụ đánh giá/chẩn đoán đã được dịch sang tiếng Việt nhưng chưa được kiểm nghiệm và điều chỉnh theo văn hóa VN.  Các gia đình không sống ở các thành phố lớn không hề có dịch vụ chẩn đoán, đánh giá hay can thiệp.

Việc đánh giá và chẩn đoán của các gia đình ở Hà nội được giới chuyên môn và nhà nước hỗ trợ rất hạn chế.  Qua quan sát ở một số trung tâm đánh giá và chẩn đoán, cha mẹ thường được thông báo về chẩn đoán và được khuyên chung chung về cách can thiệp khi họ còn đang quá sốc với chẩn đoán.  Nhiều cha mẹ nói họ không được các nhà chuyên môn tư vấn hay theo dõi giám sát việc can thiệp.

“Sau buổi đánh giá, bác sỹ kết luận là con tôi bị tự kỷ nặng.  Họ nói cho tôi biết về tự kỷ và gợi ý cách dạy con.  Họ cho những lời khuyên rất chung chung.  Tôi về nhà, hỏi han các mẹ khác qua internet, facebooks, blogs, diễn đàn.  Ban đầu, tôi đọc tài liệu và cố gắng can thiệp cho con tại nhà, và tìm thêm các thông tin về các trung tâm can thiệp.  Sau 2 tháng, tôi nghĩ tôi không thể tự can thiệp cho con được.  Vì thế tôi mang con đến trung tâm can thiệp này” (Lan, 28 tuổi).

Có thể khi coi tự kỷ được là một tình trạng bệnh tạm thời chứ không phải là khuyết tật vĩnh viễn thì mọi người bớt kỳ thị hơn, nên các bố mẹ hay gọi đó là bệnh tự kỷ chứ không phải rối loạn.  Các phương tiện truyền thông thường dùng từ bệnh tự kỷ thay vì rối loạn phổ tự kỷ.

Khi nói bệnh, họ có ý là có thể chữa được.  Các nhà chuyên môn nói họ có thể chữa được tự kỷ, còn bố mẹ thì chi rất nhiều tiền để tìm cách chữa cho con.  Họ tránh không muốn dùng từ rối loạn vì sợ bị kỳ thị là di truyền trong gia đình. 

Cũng vì cách gọi này mà tự kỷ cũng không được công nhận trong luật pháp là một dạng khuyết tật.  Không một gia đình nào tham gia nghiên cứu nào nhận được trợ cấp của nhà nước vì con họ không đủ tiêu chuẩn.  Một đại diện của Bộ lao động thương binh và xã hội nói:

“Hiện giờ trong các văn bản pháp luật chưa có từ tự kỷ.  Trẻ tự kỷ có thể xếp vào nhóm khuyết tật trí tuệ hoặc khuyết tật khác.  Để được hưởng trợ cấp xã hội, cần biết trẻ thuộc nhóm khuyết tật và mức độ nặng nhẹ.  Một số trẻ tự kỷ khuyết tật trí tuệ, nhưng có trẻ thì không, thậm chí chúng còn rất tài năng.  Những ca không thể tự chăm sóc mình như là không đi lại được, tâm thần nặng … thì hội đồng đánh giá còn dễ đánh giá.  Nhưng các ca khác thì không biết đánh giá làm sao.”


Các dịch vụ can thiệp ở Hà nội

Dịch vụ can thiệp cho trẻ tự kỷ ở Hà nội rất hạn chế.  Bệnh viện công, trung tâm can thiệp sớm tư, can thiệp cá nhân tại gia đình, và các nhóm/trường do bố mẹ tổ chức.  Các mô hình này có giá cả và chất lượng rất khác nhau.  Một số cha mẹ tự học hỏi tìm hiểu để can thiệp cho con tại nhà.

Rất ít bệnh viện công có dịch vụ can thiệp sớm cho trẻ tự kỷ. Quan sát ở một bệnh viện công, có chương trình can thiệp ngắn hạn ba tuần với khoảng 20 trẻ một khóa.  Theo nhân viên ở bệnh viện, các trẻ chỉ được học tối đa 4 khóa.  Mặc dù phí can thiệp nằm trong diện được bảo hiểm xã hội chi trả, nhưng với các trẻ từ các tỉnh thành ngoài Hà nội, để trẻ theo can thiệp, bố mẹ còn phải chi trả thêm tiền ăn ở, đi lại cho cả trẻ và người đi theo.

Ngoài ra có hai trung tâm can thiệp sớm ở hai trường đại học công.  Có chương trình cả ngày và nửa ngày, các cháu sẽ học mẫu giáo ở nơi khác và đến đó can thiệp vài giờ/ngày.  Đây là những trung tâm tư và có thu phí.  Do nhu cầu, rất nhiều các trung tâm can thiệp tư đã ra đời, lớn có, nhỏ có.  Các trung tâm này hoạt động hầu như không theo quy chế quản lý nào và cha mẹ đứng ngoài chương trình can thiệp.  

Chi phí can thiệp như vậy là gánh nặng tài chính đáng kể cho cha mẹ.  Nhiều cha mẹ đành rút con về những nơi tuy không phù hợp bằng nhưng vừa túi tiền của họ hơn.  

Phí can thiệp khoảng từ 100 nghìn - 150 nghìn đồng/giờ can thiệp.  Phí can thiệp cho một trẻ cả tháng khoảng từ 3 triệu đến 7 triệu đồng/tháng.  Phí như vậy là tương đối đắt đỏ đối với thu nhập trung bình của người Việt Nam.

"Tôi cho con đi trung tâm của cô X 1 năm nhưng chẳng thấy tác dụng gì.  Tôi thuê sinh viên tâm lý của Đại học Hà nội đến dạy con tại nhà.  Bạn ấy dạy con được năm rưỡi, sau đó tôi cũng thôi không nhờ nữa.  Tôi cho người giúp việc chăm con.  Trường hiện tại của con tuy không được tốt, nhưng các trường tốt thì tôi không chịu nổi chi phí".

Có 3 nơi có tiếng do cha mẹ tự lập nhận từ 10-20 trẻ.  Cha mẹ đứng ra thành lập nhóm đều có thu nhập trên trung bình.  Dịch vụ chất lượng cao nhưng chi phí rất đắt.  Một số thuê người có chuyên môn đến nhà mình hoặc nhà người làm chuyên môn đó.  Một số chỉ còn cách tự làm cho con.

"Tôi cho con đến một trung tâm can thiệp một năm, một hôm tôi phát hiện ra cô giáo chẳng nhòm ngó gì đến con, tên con cũng chẳng nhớ, đừng nói chuyện biết con đang làm gì. Tôi đã rất thất vọng và sốc.  Tôi đã khóc vì cả năm qua gửi con ở đó.  Tôi đành bỏ việc dù lương đang rất cao.  Tôi đã tìm đọc và tham dự rất nhiều hội thảo, rồi tự làm cho con ở nhà" (Hà, một người mẹ 44 tuổi, có con 9 tuổi).

Có những nhóm trẻ tuyệt đối không có cơ hội được can thiệp.  Trẻ sinh ra trong gia đình nghèo khó và trẻ tự kỷ quá nặng.  Các thầy cô can thiệp giải thích "những trẻ này tiến bộ rất chậm và chiếm mất chỗ của các trẻ khác, ảnh hưởng đến thành tích can thiệp của trung tâm".  Một cô can thiệp giải thích lý do cô đẩy những trẻ này sang trung tâm khác:

"Nhưng ca đó rất khó vì chúng không tập trung, cố gắng, có nhiều vấn đề về hành vi.  Làm với chúng rất mệt, lại ảnh hưởng đến uy tín của trung tâm, cũng như của người can thiệp.  Bố mẹ thì trông đợi nhiều, khi con không tiến triển, họ lại thất vọng, kêu ca, làm ảnh hưởng đến trung tâm" (Hồng, một chuyên viên tâm lý ở một trung tâm can thiệp sớm).

Các dịch vụ can thiệp cho trẻ từ 6 tuổi trở lên hầu vô cùng hạn chế.  Dịch vụ cho các cháu tuổi teen hoặc đã trưởng thành là hầu như không tồn tại.

"Tôi đành để cháu ở nhà.  Các thầy cô ở trường riêng của cháu vẫn rất yêu quý cháu, không ai dám bảo cháu ở nhà, nhưng cháu đã quá to lớn, các em khác ở trường quá nhỏ so với cháu.  Tôi cũng chẳng biết làm gì nữa, đành cho cháu ở nhà" (Chi, 43 tuổi, mẹ có con 17 tuổi)

 

Kết hợp nhiều biện pháp can thiệp

Nhiều cha mẹ kết hợp nhiều phương pháp chữa cho con. Từ can thiệp y sinh, can thiệp giáo dục, theo y học cổ truyền như châm cứu, bấm huyệt, thuốc bắc, tâm linh, cả thở oxy cao áp, chế độ dinh dưỡng, nhân điện. Những cách này thường tốn kém, nhất là nếu có xét nghiệm ở nước ngoài, thuốc bổ sung dưỡng chất.

Một người mẹ kể:

Ngoài các buổi can thiệp, tôi còn cho con theo Bio, thở oxy cao áp, 80 giờ. Tôi cũng theo RDI. Tôi thấy RDI cũng được nhưng đắt quá nên sau một năm là tôi bỏ. Tôi dùng cả y học cổ truyền vì tay chân con bị lạnh và ra mồ hôi nhiều.

Các nhóm cha mẹ đã hình thành ở Hà nội. Họ cùng nhau can thiệp, dạy các thầy cô can thiệp và thậm chí mở trường. Câu lạc bộ Hà nội là một tổ chức tình nguyện hỗ trợ cha mẹ, tuyên truyền trong cộng đồng và đấu tranh cho con tự kỷ. Câu lạc bộ ra đời năm 2002, có hơn 1000 người tham gia trên trang web tretuky.com.  Tuy nhiên câu lạc bộ vẫn chưa được chính thức công nhận bởi chính quyền.


Phần nghiên cứu về công tác đánh giá tự kỷ ở Hà nội

đăng 00:17, 11 thg 4, 2014 bởi Đào Linh   [ đã cập nhật 23:49, 7 thg 10, 2014 ]


Luận văn thạc sỹ về cuộc sống của thanh thiếu niên tự kỷ ở Hà nội

đăng 21:30, 27 thg 7, 2013 bởi Đào Linh   [ đã cập nhật 18:10, 20 thg 1, 2015 ]

Tải về ở đây


Những hiểu lầm thông thường về tự kỷ

đăng 09:48, 27 thg 7, 2013 bởi Đào Linh   [ đã cập nhật 01:07, 3 thg 6, 2014 ]

Tự kỷ là một dạng rối loạn cảm xúc và thần kinh

Từ những hành vi thể chất và giao tế của người tự kỷ, ta có thể dễ cho rằng tự kỷ là một rối loạn tâm lý, nhưng thực ra tự kỷ là một rối loạn sinh học làm cản trở sự phát triển và trưởng thành của não.

“Ở tự kỷ, những phần não bị ảnh hưởng nhiều nhất thường khiến ba nhóm chức năng bị ảnh hưởng,” ông Michael Alessandri, giám đốc điều hành của trung tâm về tự kỷ và các khuyết tật liên quan thuộc trường Đại học Miami nói. “Đó là hành vi xã hội, giao tiếp và những thói quen lặp đi lặp lại, thu hẹp, hay cách trẻ và người lớn tự kỷ tương tác với xung quanh.”

Mặc dù ngày nay, người ta đã nhận ra tự kỷ là một rối loạn phát triển thần kinh, theo ông Alessandri, chuyên gia của ABCNews.com’s phụ trách chuyên mục tư vấn qua điện thoại về tự kỷ nói, tự kỷ vẫn có thể được xem như là một rối loạn phức tạp vì triệu chứng quá đa dạng.

“Các nhà khoa học và bác sỹ lâm sàng giờ đã hiểu rằng tự kỷ không chỉ một thực thể đơn lẻ, mà là nhiều hội chứng gây nên rối loạn phổ tự kỷ,” Alessandri nói.

Đang có đại dịch tự kỷ

Từ đại dịch thường hàm ý một sự bùng nổ bất ngờ về số người mắc chứng tự kỷ trong một thời gian nhất định.

Mặc dù theo báo cáo của Cơ quan kiểm soát và phòng bệnh dịch hoa kỳ thì cứ 150 trẻ sinh ra thì có một trẻ mắc chứng tự kỷ, một số chuyên gia có thể nhanh chóng trả lời liệu có phải các ca tự kỷ đang tăng đột biến không.

Một số người cho rằng tình trạng này là do định nghĩa về chứng tự kỷ đã mở rộng hơn và người ta đã định được bệnh sớm hơn.

“Roi loạn này không phải đang lan rộng hơn, mà chỉ là người ta phát hiện được chứng này nhiều hơn thôi,” Dr. Bob Marion, giám đốc trung tâm đánh giá và tái hòa nhập cho trẻ em thuộc trường cao đẳng Y Albert Einstein College of Medicine ở New York nói.

Sheila Wagner, trợ lý giám đốc của trung tâm Tự kỷ thuộc trường đại học Emory University ở Atlanta, bổ sung thêm vì nhận thức của mọi người về rối loạn này đã tăng nên người ta phát hiện ra rối loạn này nhiều hơn.

“Các phương tiện truyền thông như vô tuyến và phim truyện đã nói nhiều về tự kỷ,” Wagner nói. “Vì thế tự kỷ được số đông dân chúng nhận ra.”

Có thể chữa khỏi tự kỷ

Một số cha mẹ có thể đã nói rằng chế độ ăn đặc biệt, thuốc và một số can thiệp hành vi đã chữa khỏi tự kỷ của con, nhưng các cha mẹ khác thử cùng chế độ can thiệp đó thì lại không thấy có kết quả. Có nhiều phương pháp điều trị được lập ra để cải thiện khả năng của người tự kỷ, nhưng chưa ai biết đến cách chữa khỏi tự kỷ.

“Chúng ta biết là nếu can thiệp sớm cho trẻ và dùng phương pháp ABA thì chúng ta có thể cải thiện chức năng của trẻ,” Marion nói.

Phân tích hành vi ứng dụng, hay còn gọi là ABA, là một hình thức can thiệp dành cho trẻ mới phát hiện ra. Trong đó có các hoạt động lặp đi lặp lại để cải thiện chức năng giao lưu và thể chất cho trẻ.

Nhưng theo Marion, không hề có một phương cách chữa trị khỏi hẳn tự kỷ, và còn phụ thuộc vào đánh giá của từng bác sỹ xem phương pháp trị liệu đó có đem lại lợi ích lớn nhất cho trẻ tự kỷ hay không.

Với một vài ca, Marion nói, hành vi, trong đó có giao tiếp mắt và tương tác với người khác, phát triển kỹ năng ngôn ngữ, sẽ cải thiện đáng kể — nhưng những rối loạn sinh học tiềm ẩn sẽ không thể thay đổi được.

“Và đó hoàn toàn không thể gọi là một cách chữa bệnh được,” ông nói.

Tự kỷ là do cha mẹ lạnh nhạt và không yêu thương con

Những năm 1940, bác sỹ người Áo Bruno Bettelheim đã cho ra thuyết kết luận tự kỷ là do cha mẹ, đặc biệt là người mẹ, đã không yêu thương con mình. Những trẻ rơi vào tình cảnh nào sẽ tự thu mình lại và trở thành tự kỷ, Bettelheim tin như thế.

Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu đã bác bỏ thuyết “người mẹ tủ lạnh” này. Theo các chuyên gia y học, bệnh tự kỷ của trẻ chẳng hề liên quan đến cách nuôi dưỡng trẻ.

“Chúng ta không hề có chứng cớ thuyết phục nào để cho rằng cha mẹ có thể đã làm hoặc không làm gì đó khiến con mình có thể bị tự kỷ,” Dr. Daniel Geshwind, giám đốc chương trình gen thần kinh và trung tâm nghiên cứu thuộc trường Đại học UCLA nói. “Hầu hết những chứng cớ chúng tôi đang có đều chỉ ra rằng có một nhân tố gien đáng kẻ trong hầu hết các ca tự kỷ, tuy chưa phải là tất cả.”

Người tự kỷ luôn luôn có một tài năng tiềm ẩn hoặc xuất chúng

Stephen Wiltshire, 34 tuổi, rất nổi tiếng là chiếc camera sống.  Anh ta có thể vẽ lại những thiết kế kiến trúc và cảnh quan chi tiết tới từng ngọn cỏ — dù chỉ mới quan sát khu vực đó một lần. Wiltshire đã từng vẽ lại quan cảnh của Tokyo, Rome và London dựa vào trí nhớ sau khi bay trên bầu trời thành phố bằng trực thăng.

Wiltshire là một thiên tài tự kỷ. Anh ta có một khả năng nhận biết bất thường cho phép anh ta nhớ lại từng chi tiết của bản thiết kế, các con số và các số liệu đo đạc thường là quá khó nhớ với người khác.

Khái niệm người tự kỷ là một thiên tài đã được phổ biến đi từ nhân vật Dustin Hoffman trong bộ phim “Rain Man.”

Marion công nhận có một bộ phận nhỏ những người tự kỷ có một số khả năng đặc biệt, nhưng không thể gán đặc tính này cho đại bộ phận người tự kỷ. Ông nói số đông người tự kỷ chẳng hề có một tài năng hay kỹ năng gì làm họ xuất chúng cả.

“Mỗi trẻ đều có điểm mạnh và yếu cả,” Marion nói. “Quan trọng là tất cả trẻ tự kỷ đều phải được đánh giá nhiều mặt bởi các chuyên gia y học đã có kinh nghiệm đánh giá kỹ năng và những khiếm khuyết của trẻ, để định ra một kế hoạch dạy trẻ đem lại lợi ích tối đa.”

Nên cấm trẻ tự kỷ có những hành vi lặp lại thành quy luật

Một trong những dấu hiệu của tự kỷ là có hành vị lặp đi lặp và thành quy luật, theo cuốn cẩm nang định bệnh và thống kê về các rối loạn thần kinh (DSM IV), một công cụ của các bác sỹ để định bệnh tự kỷ.

Trong khi những hành vi này — có thể bao gồm vẫy tay, đập đầu vào tường, hoặc lắc lư người — trông có vẻ kỳ quặc, nhưng thực ra là có mục đích cả: giúp họ bình tĩnh lại; cảm thấy yên ổn; và có thể giúp người đó giao tiếp với người khác, Wagner nói.

Các hành vi lặp đi lặp lại có thể là vấn đề nếu chúng ảnh hưởng đến sinh hoạt gia đình hoặc làm họ không thể sống độc lập được, Wagner nói thêm.

Tuy nhiên, theo Dr. Pauline Filipek, phó giáo sư về thần kinh nhi tại trường đại học California, Irvine, trẻ có thể học để bỏ dần những hành vi lặp đi lặp lại này.

“Thường thì, khi người ta lớn dần, người ta sẽ hiểu ra những hành vi như vậy làm họ khác biệt trong xã hội, và họ học cách giảm thiểu những hành vi này,” Filipek nói.

Người tự kỷ không thể tạo dựng những quan hệ xã hội

“Đây là việc vơ đũa cả nắm và cần phải xét từng trường hợp vì phổ tự kỷ vô cùng rộng,” Marion nói.

Tóm lại, một số người tự kỷ vẫn có thể có quan hệ xã hội nhưng thường không phải là những người bị nặng, Marion nói.

Cẩm nang DSM IV, có phần chỉ dẫn liệt kê “khiếm khuyết về tương tác xã hội” như là một tín hiệu của người tự kỷ. Nhưng không phải mọi trẻ tự kỷ đều có mức độ khó khăn như nhau khi kết nối với mọi người.

“Nhưng với những người bị nặng nhất trong phổ, thì điều này là đúng,” Marion nói. “Nhưng có quá nhiều trẻ vẫn có bạn, và thậm chí một số còn có bạn thân.”

Người tự kỷ là mối đe dọa cho xã hội

“Cho rằng người tự kỷ là nguy hiểm quả là một lối suy nghĩ rất oái ăm tổn hại đến họ,” Wagner nói.

Ý tưởng này xuất phát từ nhiều mẩu tin những người tự kỷ chức năng cao đã bị phát hiện trộm cắp, và có trường hợp giết người.

Tuy nhiên, nếu bạn nhìn tổng thể bộ phận những người tự kỷ, thì số người dính vào tội phạm là rất nhỏ, Wagner nói. Nếu người tự kỷ nào đó có ra tay làm gì thì có thể là họ cảm thấy khó chịu hoặc bị kích động quá mức, chứ không nhất thiết là từ động cơ đen tối, bà nói.

Thực trạng ở Việt Nam

đăng 01:29, 26 thg 7, 2013 bởi Đào Linh   [ đã cập nhật 04:31, 19 thg 1, 2016 ]


Tự kỷ theo dòng lịch sử

đăng 00:41, 26 thg 7, 2013 bởi Đào Linh   [ đã cập nhật 21:54, 13 thg 6, 2017 ]

1747 – Ghi nhận ca tự kỷ đầu tiên.  Ca tự kỷ đầu tiên được ghi chép đầy đủ là Hugh Blair ở Borgue, được miêu tả lại trong một phiên tòa xử năm 1747 mà người anh đã thắng kiện khi vô hiệu hóa hôn nhân của Blair để dành quyền thừa kế tài sản của Blair.

1798 – Thêm các ca tự kỷ khác. Cậu bé hoang dã ở Aveyron, một trẻ người rừng bắt được vào năm 1798, có vài dấu hiệu tự kỷ; sinh viên y khoa Jean Itard đã chữa trị cho cậu bằng chương trình hành vi để giúp cậu có kết nối giao lưu và có ngôn ngữ bằng cách bắt chước.

1911 – Nhà tâm lý học người Thụy Sỹ Eugen Blueler lần đầu đưa ra thuật ngữ Tự kỷ (Autism). Từ Autism xuất phát từ tiếng Hy lạp “autos” có nghĩa là “tự thân”.

1938-9 – Nhà tâm lý học trẻ em người Mỹ gốc Áo, Bruno Bettelheim làm thực tập sinh trong các trại tập trung của quốc xã, đầu tiên ở Dachau sau đó Buchenwald. Trải nghiệm này đã đóng góp một phần quan trọng trong những thuyết của ông về Tự kỷ.

1943 – Nhà tâm thần học người Áo – Mỹ Leo Kanner đưa ra lập luận tự kỷ – tự kỷ từ nhũ nhi – là một rối loạn tâm thần học ở lứa tuổi nhỏ.

1944 – Bác sỹ nhi người Áo Hans Asperger xuất bản công trình về những triệu chứng của Tự kỷ, bệnh thái nhân cách tự kỷ ở trẻ nhỏ (Autistic Psychopathy in Childhood)

1949 – Leo Kanner tuyên bố thuyết Bà mẹ tủ lạnh/băng giá và Người cha không tâm giao. Trong đó ông nói rằng ‘trẻ tự kỷ được sắp gọn gàng trong tủ lạnh sao cho không bị đông thành đá. Việc chúng thu mình có lẽ là một hành động trốn tránh thực trạng này để tìm nguồn an ủi trong cô đơn.’ Đây là nguồn gốc phát sinh ra ý tưởng “bà mẹ tủ lạnh và người cha không tâm giao’ được coi là tiền đề để hiều về tự kỷ.

Những năm thập niên 50, nhà tâm lý học trẻ em người Mỹ gốc Áo Bruno Bettelheim tuyên bố rằng thiếu quan tâm và yêu thương từ cha mẹ khiến trẻ bị tự kỷ. Ông này cho ra nhiều bài báo về tự kỷ. Ông có lượng bạn đọc rộng rãi hơn Kanner, và tập trung vào khía cạnh thiếu tình yêu thương của cha mẹ thì sẽ gây ra tự kỷ. Ông xuất hiện trên các phương tiện đại chúng và sự kiện văn hóa nhiều hơn Kanner, vì thế đã góp phần quảng bá thuyết “người mẹ tủ lạnh” trong dân Mỹ.

1951 – Nhà phân tích tâm lý người Anh John Bowlby xuất bản cuốn Tình mẫu tử và sức khỏe tâm thần, phát đi một thông điệp là “trẻ có bà mẹ không quan tâm sẽ là những thảm họa về tình cảm”

1960 – Tờ Time trích dẫn lời Kanner mô tả mẹ của những trẻ Tự kỷ như là “vô tình đông lạnh vừa độ để sản sinh ra một đứa trẻ”.

1962 – Nhà tâm thần học Lorna Wing người Anh sáng lập ra Hội tự kỷ quốc gia Anh NAS

1964 – Nhà tâm lý học Mỹ Bernard Rimland, đồng thời là cha của một cậu bé tự kỷ, viết trong cuốn Tự kỷ ở lứa tuổi nhũ nhi: Triệu chứng và hệ lụy của một thuyết thần kinh về hành vi rằng, tự kỷ là một rối loạn sinh học. Ông này mô tả những đặc điểm lâm sàng của tự kỷ cụ thể và cũng cung cấp những chứng cứ đầu tiên rằng tự kỷ là một rối loạn sinh học. Tuy nhiên thuyết của ông không được quảng bá rộng rãi như thuyết của Bettelheim, vì thế ông có ảnh hưởng đến công chúng ít hơn trong việc tìm hiểu về tự kỷ so với thuyết người mẹ tủ lạnh.

1965 – Bernard Rimland sáng lập ra Hội tự kỷ Mỹ ASA.

Nhà tâm lý học lâm sàng Ole Ivar Lovaas người Na Uy phát triển phương pháp trị liệu mới Phân tích hành vi ứng dụng (ABA).

1967 – Bernard Rimland sáng lập ra Viện nghiên cứu Tự kỷ ARI ởSan Diego.
Bruno Bettelheim so sánh trẻ tự kỷ và bố mẹ chúng với tù nhân và người canh gục trong các trại tập trung của quốc xã trong thế chiến thứ 2 ở Empty Fortress trong cuốn Tự kỷ ở lứa tuổi nhỏ và bản thân sự ra đời của nó. Trong đó có đoạn ‘sự khác nhau giữa lời thề của tù nhân trong trại tập trung và những hoàn cảnh dẫn đến tự kỷ và tâm thần phân liệt ở trẻ, tất nhiên, là ở chỗ trẻ không bao giờ có cơ hội để phát triển nhân cách của mình. Người mẹ tủ lạnh còn tệ hơn cả cai ngục Đức quốc xã’.
Hạng mục thống kê quốc tế về các loại bệnh và các vấn đề sức khỏe liên quan ICD của tổ chức Y tế thế giới xếp tự kỷ vào một dạng tâm thần phân liệt.

1969 – Các phụ huynh thành lập Hội tự kỷ Mỹ ASA, các phụ huynh làm người tình nguyện tạo lập một tổ chức nhằm tìm, quảng bá thông tin về Tự kỷ. Các cha mẹ đều cảm thấy mình có lỗi với con. Một bà mẹ, Annabel Stehli, nói, ‘Tôi sẵn lòng nhận hết những lời chỉ trích và trách nhiệm đã gây ra bệnh này cho con, nếu làm vậy mà con tôi được khỏi bệnh.’

1973 – Nhà phong tục học và người đoạt giải Nobel về Sinh lý học và Dược người Hà Lan Nikolaas Tinbergen đề xuất những phương pháp quan sát trẻ Tự kỷ để hướng dẫn các mẹ biết cách làm mẹ. Ông này đã phát biểu trong lễ nhận giải rằng tự kỷ có thể truy nguyên về một yếu tố gì trong từ môi trường sống trong giai đoạn đầu đời của trẻ, thường là hành vi của cha mẹ, đặc biệt là người mẹ. Ông còn nói là không nên trực tiếp chỉ trích người mẹ mà nên dạy họ cách làm mẹ. Họ cũng có thể cần sự trợ giúp như những người mắc chứng tự kỷ.

1977 – Nhà tâm thần học Susan Folstein người Mỹ và nhà tâm thần học người Anh Michael Rutter cho ra một nghiên cứu về các cặp song sinh tự kỷ, chứng minh tự kỷ có nguồn gốc từ gen. Nghiên cứu này đưa ra cách giải thích tự kỷ có căn nguyên gien phức tạp chứ không phải do cha mẹ thiếu quan tâm đến con.

Những năm thập niên 80, phương pháp Phân tích hành vi ứng dụng ABA và Lối luyện theo từng lần thử nghiệm riêng biệt (DTT) là phương pháp trị liệu phổ biến nhất.

1980 – Tự kỷ được chính thức bổ sung vào Cẩm nang chẩn đoán và thống kê về các rối loạn thần kinh DSM

Phương pháp ABA và DTT là phương pháp trị liệu tự kỷ phổ biến nhất

1981 – Nhà tâm thần học Lorna King đưa ra thuật ngữ Hội chứng Asperger trong cuốn Hội chứng Asperger: A Clinical Account. Ole Ivar Lovaas xuất bản cuốn huấn luyện cha mẹ tên là Dạy trẻ khuyết tật phát triển

1989 – Michael Rutter, Ann LeCouter và Catherine Lord công bố một cách thẩm định những người có nguy cơ bị Tự kỷ, gọi là Phỏng vấn để chẩn đoán tự kỷ ADI.

1990 – Tự kỷ trở thành một hạng mục riêng biệt trong đạo luật Giáo dục cho cá nhân khuyết tật trong giáo dục đặc biệt
Trung tâm dịch vụ và tiếp cận cộng đồng New Jerseyphục vụ cộng đồng Tự kỷ COSAC ra đời.
Doreen Granpeesheh thành lập trung tâm tự kỷ và các rối loạn liên quan CARD
Bruno Bettelheim tự tử.

1992 – Phương pháp trị liệu Floortime (chơi dưới sàn) được giới thiệu trong cuốn Trẻ nhỏ và nhũ nhi: Thực hành đánh giá lâm sàng của Stanley Greenspan và Serena Wieder

1994 – Liên minh quốc gia nghiên cứu về tự kỷ được Karen và Eric London cho thành lập

1995 – Tổ chức Cure Autism Now – Chữa tự kỷ ngay – được thành lập

1997 – Trung tâm nghiên cứu và tài nguyên tự kỷ Tây nam SARRC được thành lập.
Richard Pollack công bố trong cuốn Những gì tạo nên bác sỹ B. – the Creation of Dr. B., tiểu sử của Bruno Bettelheim rằng Thuyết bà mẹ tủ lạnh và người cha không tâm giao là không có đủ căn cứ.

1998 – Bác sỹ phẫu thuật người Canada gốc Anh Andrew Wakefield và một số nhà chuyên môn khác công bố một nghiên cứu gây nhiều tranh cãi trên tạp chí Lancet về các triệu chứng đường ruột ở những trẻ có tiêm vắc xin Quai bị – Sởi – Rubella (MMR) được chuẩn đoán mắc chứng Rối loạn phổ tự kỷ (RLPTK)
Tổ chức First Signs được thành lập

1999 – Tổ chức Unlocking Autism (mở khóa cho tự kỷ) khởi đầu dự án Hãy mở to mắt ra với những bức tranh về trẻ tự kỷ.

Cuối thập niên 90 – nhiều báo cáo cung cấp bằng chứng khu trú căn nguyên của tự kỷ vào một số nhiễm sắc thể được công bố.

2000 – Đạo luật sức khỏe trẻ em được tổng thống Clinton phê chuẩn, thành lập hội đồng phối hợp nghiên cứu về tự kỷ
Tổ chức đối thoại về cách chữa TK (TACA) được thành lập ở Newport Beach,California
Liên minh vì tâm hồn an lành, hành động phù hợp để ngăn chặn thủy ngân (The coalition for Safe minds, Sensible Action for Ending Mercury – Induced) được thành lập.
Viện sức khỏe quốc gia NIH thuộc bộ Y tế Mỹ (HHS) ước tính rằng cứ 1 trong số 500 trẻ là bị Tự kỷ

2001 – NIH công bố tỷ lệ tự kỷ là 1 trong 250. Tổ chức Nghiên cứu Tự kỷ OAR được thành lập
The Coalition for Safe Minds tiết lộ một số tài liệu của CDC báo cáo số trẻ bị phơi nhiễm vắc xin có chứa Thimerosal (thủy ngân hữu cơ) có nguy cơ mắc tự kỷ cao hơn.
Lần đầu tiên xuất hiện khởi kiện các nhà sản xuất vắcxin có chứa Thimerosal.
Viện Dược IOM trực thuộc Viện Khoa học quốc gia Mỹ không loại bỏ mối liên hệ giữa tự kỷ và Thimerosal.

Đại biểu quốc hội phe Cộng hòa Christopher Smith và phe Dân chủ Mike Doyle đề nghị họp kín những chủ chốt trong quốc hội bàn về tự kỷ về nghiên cứu và giáo dục.

2002 – Chương trình đền bù tổn thất do vắc xin cấp liên bang ở Mỹ nhận được yêu cầu đền bù từ các cha mẹ khởi tố rằng vắcxin gây tự kỷ cho con họ.
Đạo diễn David E. Símpons làm bộ phim Người mẹ tủ lạnh / băng giá.

2003 – Trung tâm kiểm soát và ngăn ngừa bệnh dịch Hoa kỳ (CDC) tuyên bố không có mối liên hệ trực tiếp nào giữa Thimerosal và tự kỷ.
Hiệp hội Tự kỷ quốc gia ra đời
Tổ chức hội nghị thường niên đầu tiên của tổ chức Autism One.

2004 – Viện Dược không ủng hộ những thuyết cho rằng tự kỷ có liên quan đến vắc xin.
Theo thông tin cho biết tổng thống Bush ủng hộ việc loại bỏ Thimerosal khỏi chương trình vắc xin cho trẻ nhỏ.
Nhà báo New York David Kirby xuất bản cuốn Bằng chứng cho tác hại của thủy ngân trong vắc xin và tự kỷ, một cuộc tranh cãi y học.
Chính phủ Anh cấm việc sản xuất vắc xin cho trẻ em có chứa các thành phần của Thimerosal.

2005 – Tổ chức vì sức khỏe của trẻ em bị ảnh hưởng do nhiễm độc thủy ngân A-CHAMP được thành lập.

Tổ chức tuyên ngôn tự kỷ Autism Speaks được thành lập.

Nhà tâm thần học Larry Kaplan thành lập hiệp hội Tự kỷ và Asperger để hỗ trợ và giáo dục.

Chiến dịch quảng cáo của tổ chức Cứu rỗi một thế hệ Generation Rescue về triệu chứng của tự kỷ và nhiễm độc thủy ngân ở trẻ nhỏ xuất hiện trên các tờ báo quốc gia.

Tổ chức các mẹ phản đối thủy ngân Moms against Mercury được thành lập ở North Carolina.

Bang Florida, Texas, Washington, Maryland và Nebraska cấm vắc xin có chứa thimerosal.

Tổ chức Unlocking Autism Mở khóa cho tự kỷ gửi thư ngỏ đến tổng thống Bush yêu cầu ra lệnh cấm sử dụng thủy ngân.

Chiến dịch của CDC về việc cần thiết phải chuẩn đoán phát hiện sớm tự kỷ từ giai đoạn sơ sinh.

2006 – Theo CDC, có khoảng 300,000 trẻ chuẩn đoán là mắc chứng TK ở Mỹ.
Nhà nghiên cứu Michael Waldman thuộc trường đại học Cornell cho ra báo cáo thống kê mối liên hệ đáng kể giữa tỷ lệ tự kỷ và việc xem ti vi lúc quá nhỏ.
Đạo luật chống tự kỷ được Thượng nghị viện và Quốc hội thông qua.
Tổng thống Bush ký Đạo luật chống tự kỷ 2006.

2007 – Các nhà khoa học tìm ra căn nguyên di truyền / gen của RLPTK.
CDC ước tính tỷ lệ tự kỷ là 1 trên 150 trẻ.
Thượng nghị viện lấy tháng Tư hàng năm làm tháng Tự kỷ Quốc gia.
Bắt đầu hàng nghìn những vụ khởi kiện tập thể về việc thủy ngân gây ra tự kỷ tại Tòa án cấp liên bang Mỹ

2009 – CDC công bố tỷ lệ tự kỷ ở Mỹ là 1 trên 110 trẻ.

2010 – Lancet loại bỏ bài viết của Wakefield đăng 12 năm trước

Đề xuất bỏ hạng mục Hội chứng Asperger: Người tạo ra DSM-V sắp ra đề xuất nhập Asperger vào tự kỷ, xếp loại tự kỷ từ nhẹ đến nặng.  Nhiều nhóm và các chuyên gia trong đó có Tony Attwood đã lên tiếng phản đối thay đổi này.

2011 – Bộ phim Bức tường của Pháp cho thấy trẻ em tự kỷ ở Pháp vẫn chỉ được chữa chạy chủ yếu theo cách của các nhà phân tâm học. Bộ phim vấp phải sự phản kháng mạnh của 3 nhà phân tâm học tham gia bộ phim và tòa án Pháp đã quyết định cấm chiếu bộ phim. Cộng đồng các nước khác phản đối việc cấm bộ phim, cho đây là hạn chế tự do ngôn luận.

2012 - CDC công bố tỷ lệ tự kỷ ở Mỹ là 1 trên 88 trẻ


2014 - CDC công bố tỷ lệ tự kỷ ở Mỹ là 1 trên 68 trẻ


2016 - CDC công bố tỷ lệ tự kỷ ở Mỹ vẫn là 1 trên 68 trẻ


 



1-7 of 7