Về tự kỷ

Tự kỷ là gì?

Tự kỷ là một thuật ngữ chung dùng để chỉ một nhóm những rối loạn phức tạp về sự phát triển não bộ hay còn gọi là Rối loạn phát triển thần kinh diện rộng (Pervasive Developmental Disorders, PDD). Những rối loạn phát triển thần kinh diện rộng khác là Rối loạn phát triển thần kinh diện rộng – không định rõ (Pervasive Developmental Disorder – Not Otherwise Specified, PDD-NOS), hội chứng Asperger, hội chứng Rett và Rối loạn phân li tuổi ấu thơ (Childhood Disintegrative Disorder). Nhiều bậc phụ huynh và các chuyên gia qui cho nhóm này là Rối loạn phổ tự kỷ (Autism Spectrum Disorders).

Bạn cũng có thể nghe thấy thuật ngữ tự kỷ cổ điển hoặc tự kỷ Kanner (đặt theo tên của nhà tâm thần học đầu tiên mô tả chứng tự kỷ) được dùng để diễn tả dạng nặng nhất của chứng rối loạn này. Hiệp hội chẩn đoán tâm thần học Hoa Kì (American Psychiatric Association’s Diagnostic) và Cẩm nang thống kê những rối loạn tâm thần (Statistical Manual of Mental Disorders) là những nguồn tham khảo chính dùng để chẩn đoán, được tin dùng bởi các chuyên viên về sức khoẻ tâm thần và các nhà cung cấp dịch vụ bảo hiểm tại Hoa Kì. Phiên bản hiện hành (phiên bản 4) được xuất bản năm 1994, thường được gọi là “DSM-IV”. Việc chẩn đoán tự kỷ đòi hỏi phải quan sát ít nhất sáu đặc điểm về phát triển và hành vi, những khuyếm khuyết này có thể thấy được trước khi trẻ lên ba. DSM-IV hiện đang được hiệu chỉnh. DSM-V sẽ nhóm các phân nhánh rối loạn tự kỷ, PDD-NOS, và Hội chứng Asperger thành một thuật ngữ chung là “Rối loạn phổ tự kỷ” (Autism Spectrum Disorder) vì những nghiên cứu vẫn chưa đưa ra được những dị biệt của các nhánh này. Đúng hơn, chúng là một phần của sự mở rộng liên tục các chứng rối loạn có liên quan đến những khó khăn trong kĩ năng giao tiếp và xã hội.


DSM-IV CÁC CHỈ TIÊU ĐỂ CHUẨN ĐOÁN TỰ KỶ
I. Có tất cả sáu (hoặc hơn) mục bắt đầu từ (A), (B), và (C), với ít nhất hai mục trong (A), và một trong (B) và (C):

(A) Tương tác xã hội kém, được liệt kê bởi ít nhất hai trong số các mục sau:

  • Có biểu hiện kém khả năng sử dụng các hành vi phi ngôn ngữ phức tạp như nhìn trực tiếp vào mắt người khác, biểu cảm khuôn mặt, tư thế, cử chỉ để điều phối tương tác xã hội.
  • Không phát triển những mối quan hệ với bạn cùng trang lứa tương ứng với độ tuổi phát triển.
  • Không biết chia sẻ niềm vui, sở thích, hay chiến thắng của mình với người khác (ví dụ như thiếu khả năng khoe, mang đến xem hoặc chỉ cho người khác biết những cái mình thích).
  • Thiếu khả năng giao tiếp xã hội hoặc trao đổi cảm xúc qua lại.

(B) Giao tiếp kém, được liệt kê bởi ít nhất một trong số các mục sau:

  • Chậm hoặc thiếu hẳn khả năng phát triển ngôn ngữ nói (đồng thời không nỗ lực giao tiếp theo cách khác như dùng điệu bộ hoặc ra hiệu bằng tay).
  • Với người có thể nói được, thì không có khả năng gợi mở, duy trì một đoạn hội thoại với người khác.
  • Rập khuôn và lặp đi lặp lại lời nói, hoặc dùng ngôn ngữ đặc dị.
  • Thiếu tính đa dạng, thiếu khả năng chơi các trò chơi tưởng tượng hoặc bắt chước chơi đùa với người khác theo độ tuổi phát triển.

(C) Hành vi, sở thích và hoạt động hạn chế, hay lập đi lập lại rập khuôn được liệt kê bởi ít nhất hai trong số các mục sau:


  • II. Chậm hoặc chức năng phát triển bất thường ít nhất một trong các lĩnh vực sau, bắt đầu trước 3 tuổi:Chỉ bận tâm tới một hoặc vài sở thích bất thường và hạn chế, rập khuôn và lặp đi lặp lại, cả về xúc cảm lẫn sự tập trung.
  • Có biểu hiện bám chặt một cách cứng nhắc vào những thói quen hoặc những nghi thức đặc biệt phi chức năng.
  • Các vận động rập khuôn, lặp đi lặp lại (ví dụ như vẩy, vặn vẹo hoặc xoay bàn tay hay ngón tay, hoặc có những cử động toàn thân phức tạp).
  • Chỉ chú tâm dán mắt vào một số phần nào đó của đồ vật.

(A) Tương tác xã hội.
(B) Ngôn ngữ giao tiếp xã hội.
(C) Những trò chơi giàu tính tưởng tượng hoặc tính tượng trưng.

III. Sự xáo trộn bất thường này còn tệ hơn khi trẻ có hội chứng Rett (Rett’s Disorder) hoặc Rối loạn phân li tuổi ấu thơ (Childhood Disintegrative Disorder).
Nguồn: Cẩm nang chẩn đoán và thống kê những rối loạn tâm thần; phiên bản 4 (Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders; Fourth Edition)

Chứng tự kỷ phổ biến ra sao?

Ngày nay, tại Hoa Kì, người ta ước tính cứ 88 trẻ sẽ có một trẻ được chẩn đoán mắc chứng tự kỷ khiến trẻ em mắc chứng tự kỷ cao hơn so với tổng số trẻ bệnh ung thư, bệnh tiểu đường và AIDS cộng lại. Trong vòng 2 năm qua tỉ lệ này tăng 23%. Không có một lí giải chắc chắn nào cho sự gia tăng này, mặc dù có thể cho là do phương pháp chẩn đoán được cải thiện hơn hay là do ảnh hưởng của môi trường. Nhiều nghiên cứu cho thấy con trai có thể phát triển chứng tự kỷ nhiều hơn con gái, có thể nhiều hơn từ ba tới bốn lần. Theo ước tính hiện nay chỉ riêng tại Hoa Kì, cứ 54 bé trai sẽ có một bé được chẩn đoán mắc chứng tự kỷ.