Truyện Nôm  Nữ Tú Tài, phần 1. Những gì ta biết về bản văn

Nguyễn Văn Sâm phiên âm theo bản Nôm do nhà Kim Ngọc Lâu 金玉楼 giữ bản gỗ, khắc in năm Ất Hợi (1875) người Minh hương sống ở tỉnh Gia Định là Duy Minh thị 惟明氏soạn thành truyện, nhà phát hành Hòa Nguyên Thạnh Điếm 和源盛店ở Chợ Lớn nhập và phân phối ở Việt Nam . Bản khắc gỗ thực hiện bên Tàu, tại tỉnh Việt Đông 粤東, xứ Phật Trấn 佛鎮 (Quảng Đông).


1.Bìa truyện Nữ Tú Tài bản Nôm Phật Trấn. 2.Trang thứ nhì, tức 1b: Đêm ngày luyện tập thi thơ…)


Những gì ta biết về bản văn Nữ Tú Tài.

Nữ Tú Tài Nôm:

Về mặt Nôm thì Nữ Tú Tài biệt vô âm tín, thời Phủ Quốc Vụ Khanh Đặc Trách Văn Hóa của cụ Mai Thọ Truyền mặc dầu xuất bản được một số lớn tác phẩm Nôm phiên âm có kèm theo bản Nôm nhưng cũng chưa kịp in Nữ Tú Tài… Số phận truyện Nữ Tú Tài, giống như nhiều tác phẩm Nôm khác như Hạnh Thục Ca, Hoa Điểu Tranh Năng, Bần Nữ Thán hay Lưu Nữ Tướng… sẽ bị người đọc không biết đã đành, giới nghiên cứu cũng không có điều kiện để tiếp xúc. Đó là điều đáng buồn cho văn học Việt Nam, mà ai ưu tư khi nghe đến cũng thở dài.

Trong chuyến đi Paris tháng 11 năm 2016 vừa qua, tôi được nhà Hán học Phạm Xuân Hy tặng cho bản sao truyện Nữ Tú Tài mà tôi nghĩ ông đã sao lại từ Thư Viện Trung Ương Pháp, nay là thư viện Mitterant ở Paris. Tiếc là bản nầy, không biết do nguyên nhân từ đâu, mất trang đầu. Chúng tôi thích thú khi được bản Nôm mình chưa từng thấy nên khi về lại Mỹ đã ra công phiên âm và chú thích những từ ngữ và câu văn cần thiết cho người đọc có trình độ văn chương Việt Nam trung bình.

Lục trong đám thư tịch sách Hán Nôm ta thấy Nữ Tú Tài được bộ sách Di Sản Hán Nôm Việt Nam cho biết còn có hai bản nữa đang ở Pháp, tại trường Ngôn Ngữ Đông Phương.

1.  Bản  AB 43 Thịnh Văn Đường, in năm Thành Thái Nhâm Dần (1902), 42 trang, ký hiệu: LO. VN. III. 308.

2.  Bản  VNb 13 Phúc Văn Đường, in năm Khải Định Thứ Sáu (1921), 44 trang, ký hiệu LO. VN.IV.471.

Chưa có điều kiện tiếp xúc với hai bản nầy tôi tạm làm việc với bản thứ ba gọi là bản Phật Trấn, in năm Ất Hợi (1875), là bản xuất hiện sớm nhứt, có nhiều từ cổ cũng như cách nói xưa, âm xưa mà lại xuất hiện ở vùng Gia Định có giá trị về phương ngữ Nam Kỳ Lục tỉnh trong những năm người Pháp mới chiếm Nam Kỳ…

Nữ Tú Tài Nôm có phiên âm ra Quốc Ngữ:


1. Trang đầu nản Nôm Thành Thái do M. Durand chép lại và phiên âm. 2. Bản quốc ngữ Vũ-Hoài-Anh.

Học giả Hán Nôm Maurice Durand trong khi làm việc với các văn bản Nôm thường chép lại bản Nôm bằng bút lông và phiên âm ra quốc ngữ bằng bút mực màu đỏ phía dưới câu chữ Nôm. Ông làm việc cặm cụi trong khoảng 4 thập niên, các công trình ông để lại hiện chứa tại Đại Học Yale, Mỹ. Trong số nầy có bản phiên âm Nữ Tú Tài bản Thành Thái Nhâm Dần AB 43 Thịnh Văn Đường.

Nhìn chung bản phiên âm của ông Durand có một giá trị giới hạn vì đây là di cảo chưa hoàn tất. Một vài sai lầm có thể thấy ngay, như chữ một nhiều khi bị đọc là việc, vì giống nhau về tự dạng, chữ nương long được đọc thành nàng Long...

Điều đáng chú ý là tinh thần khoa học của ông: khi chữ nào tồn nghi thì ông đưa ra chữ giả thuyết, hoặc chừa trống chỗ chữ cần phiên âm hay đặt dấu hỏi kế bên chữ giả định mà ông chưa nhứt quyết.

Chữ để trống cũng khá nhiều.  Chẳng hạn: 

Nghĩ khi cử động      hành, Thời ta giữ chẳng lộ hình khi nao.

Chữ nầy, theo thiển ý, đọc là dòm 𥇌, tức ngó, cử chỉ của đôi mắt. Chữ khó đọc vì bản khắc hơi khác với chữ thông thường, vã lại dòm là từ Miền Nam Kỳ Lục Tỉnh rặc ròng, đã khó hiểu với người chịu quá nhiều ảnh hưởng bởi văn ngôn Miền Bắc, lại đi với chữ hành khiến cho ông Durand phân vân.

Nữ Tú Tài quốc ngữ.

Truyện thơ Nữ Tú Tài không được học giới biết nhiều vì không nằm trong chương trình Trung học của thời Việt Nam Cộng Hòa, sau 75 thì dĩ nhiên càng không thể có! Tôi chưa đủ điều kiện để rà soát trong hai bộ báo có nhiều tư liệu văn chương việt Nam là Nam Phong Tạp ChíTri Tân Tạp Chí có nói gì đến truyện  Nữ Tú Tài hay không. Trong mớ sách về cổ văn xưa chỉ thấy có ba (03) bản Quốc ngữ là bản của cụ Đinh Gia Thuyết (ĐGT), do nhà xuất bản Tân Việt in (Sàigòn, 1952 ?),  bản của nhà xuất bản Quốc Hoa (QH), không thấy tên người chịu trách nhiệm (Sàigòn, 1960), và bản do Vũ Hoài Anh (VHA) lược truyện và chú thích, nhà xuất bản Á Châu in (Sàigòn, không đề năm).



1.    Bản Thi Nham Đinh Gia Thuyết.

Năm 1952, cụ Thi Nham Đinh Gia Thuyết ở Hà Nội có soạn, nhấn mạnh trên việc đính chánh và chú thích, quyển Nữ Tú Tài và Bần Nữ Thán. Nhà xuất bản Tân Việt, Sàigòn  in, chắc cùng năm đó hay chậm lắm là một hai năm sau.  Nhà Tân Việt có thói quen chỉ đề giấy phép xuất bản - chẳng hạn số 832/TXB của Nha Thông Tin Nam Việt cho quyển của ĐGT -  mà không đề năm. Sách in chung hai tác phẩm, phần Nữ Tú Tài gồm 79 trang, chú thích chú trọng đến việc giải nghĩa từ Hán Việt và những điển tích dùng trong bản văn. Phần nầy là điểm son của công trình vì cụ Thi Nham vốn là một nhà Nho lỗi lạc có trí nhớ khá tốt - mà không chú thích về những từ ngữ thuần Việt cổ thường hay gây khó khăn cho người đọc. Những câu thơ trúc trắc do điều kiện cần có của thi pháp hay của ngôn từ thời tác phẩm xuất hiện là bức tường khiến người đọc bị ngăn cách với tác phẩm đáng lý cần được giải thích cũng không có. Bản của cụ Thi Nham Đinh Gia Thuyết vì vậy chưa giới thiệu được điều hay, điều quí của bản văn cũng như không thể cho người đọc đoán định thời gian ra đời của bản văn. Phần đóng góp của tác phẩm trong trào lưu văn học vào thời nó xuất hiện vì vậy giới hạn gần như là bị triệt tiêu đi.

Khảo sát cẩn thận bản của Đinh Gia Thuyết, chúng ta thấy rằng mặc dù có thể có nhiều khả năng cụ Thi Nham có trước mắt ba bản Nôm nhưng cụ chọn bản Phúc Văn Đường, in năm Khải Định Thứ Sáu (1921) làm bản nền. Có thể hai bản kia m cụ tham khảonhững bản chép tay chăng?

Với tinh thần khoa học ngày nay, người khảo sát hay phiên âm bản Nôm phải tôn trọng bản văn tối đa, xét nhiều khía cạnh khi chọn âm mình nghĩ rằng tương xứng nhứt đối với câu thơ và đoạn văn, cụ Thi Nham có thể đã chọn chữ một cách dễ dãi hay thay đổi chữ đã dùng trong bản Nôm bằng chữ khác dễ hiểu hơn. Không có những bản Nôm cụ Đinh Gia Thuyết dùng, chúng tôi chỉ đưa ra nhận xét nầy bằng chữ có lẽ, nhưng với niềm tin rằng nhiều phần có thiệt khi thấy rằng nhiều chữ hoặc nhiều câu khác bản Thịnh Văn Đường vài ba chữ mà lại rất mới, mới đến độ có thể là đã được sửa chữa. Điều nhận xét nầy càng có lý do hơn khi kiểm điểm lại chúng tôi không thấy nhiều vết tích của từ cổ cũng như những câu gọi là khó hiểu, điều chắc hẵn là phải có, do phong cách viết xa xưa cách đây hơn thế kỷ của bản văn!

Trở về trường hợp chữ dòm ở trên, chữ tương ứng trong bản ĐGT là ngôn: Ngôn, hành dễ hiểu hơn. Từ đây ta có thể tạm đưa ra một trong hai giả thuyết:

a.     Ông ĐGT dùng bản Khải Định Thứ Sáu (1921) để phiên âm, trong đó chữ chỗ nầy là ngôn .

b.    Ông ĐGT dùng bản Thành Thái Nhâm Dần (1902) để phiên âm nhưng chữ chỗ nầy ông thấy là lạ và tối nghĩa nên đọc ngôn cho dễ hiểu. Điều nầy thì khó xảy ra vì bản phiên âm của ĐGT khác với bản Nôm Thành Thái do M. Durand sao lại sai biệt nhau tới mấy trăm chỗ.

Dầu sao người đi trước cũng mở gai góc cho người đi sau. Khi phiên âm bản Phật Trấn Ất Hợi nầy lắm khi chúng tôi cũng nhờ bản quốc ngữ của Đinh Gia Thuyết để tự tin hơn trong sự phiên âm của mình.

Đặc biệt bản Đinh Gia Thuyết có thêm vài ba đoạn mà bản Phật Trấn không có. Chẳng hạn lúc cuối truyện, bản Phật Trấn kết thúc bằng hai câu:

                   Truyện nầy dầu thiệt dầu ngoa,

                   Cứ trong cựu thuyết dần dà chép chơi.

thì bản Đinh Gia Thuyết có thêm sáu câu nữa do phiên âm theo bản Khải Định:

                   Truyện nầy dù thực dù ngoa,

                   Cứ trong tiểu thuyết diễn mà chép chơi.

                   Miễn là lầm lỗi[1] theo lời,

                   Chẳng ca Bạch Tuyết, chẳng tài Thanh Liên.

                   Ít nhiều chấp chảnh một thiên,

                   Ai chê mặc ý ai khen mặc lòng,

                   Dõi truyền phúc lộc thọ chung,

                   Kim toàn bách phúc, hưởng đồng thiên xuân.

2.    Bản của nhà Quốc Hoa.

Chắc chắn rằng bản quốc ngữ Quốc Hoa (1960) là bản quốc ngữ Đinh Gia Thuyết được mô phỏng với sự sửa đổi vài từ theo giọng Bắc cho có vẻ mới, vẻ khác. Những chú thích thì không có gì thêm, chỉ tóm lược lại những chú thích của bản Đinh Gia Thuyết mà những chữ Hán kèm theo của chính bản đã được cho vắng mặt.

Nói theo ngôn từ ngày nay, đó là một kết quả của tình trạng ăn theo cho nên có những sai lầm, của người không phải trong giới, đáng nực cười. Chẳng hạn câu ‘Thấy trong Kim Cổ Kỳ Quan, sách ngoài.’ được giải thích là: sách nước ngoài, chép những chuyện lạ lùng xưa nay. Thiệt ra, không phải là sách nước ngoài mà là ngoại thư, sách không dùng để học thi, sách đọc chơi và quyển mà tác giả đương đọc là quyển Kim Cổ Kỳ Quan.

Một dẫn chứng khác: Vào giờ chót sau khi những hiểu lầm rắc rối đã được giải quyết, ngọc trang đính ước trước đây người tình si Soạn Chi trao cho nữ nhân giả nam nhân Tuấn Khanh được trả lại cho vợ của Soạn Chi, Tử Trung bèn đòi lại mũi tên ước duyên, trúc tiên, của vợ mình, nói rằng của ai giao trả nấy cho vui lòng mọi người:

                   Tử Trung mới hỏi Soạn Chi:

                   ‘Ngọc trang đã hợp nào thì trúc tiên.

                   Giao hoàn cho phỉ sở nguyền…’

Vậy mà bản Quốc Hoa, và cả bản VHA,  đành in hai chữ giao hoàn thành giao hoan!  Tôi không nghĩ đó là lỗi typo, mà cho là lỗi do sự hiểu giới hạn của người làm ăn theo.

3.    Bản Vũ-Hoài-Anh (VHA).

Nhà xuất bản Á Châu ở Sàigòn, trên đường Lê Lai thời thập niên 70, có in chừng chục tựa sách những quyển cổ văn dng trong chương trình Trung học. Ông VHA lược truyện và chú thich quyển Nữ Tú Tài. Bản nầy cũng như bản Quốc Hoa, không có giá trị văn học vì là loại luộc lại bản của ĐGT, những chú thích từ bản ĐGT, VHA cũng không cần thay đổi gì nhiều. Công ông làm lược truyện thì trong đó ít nhứt là 5,6 điều sai lầm:

a.     Nhân vật Tuấn Khanh, tức Phi Nga con nhà Tham Tướng họ Văn chứ không phải họ Vân như VHA cho in từ đầu tới cuối quyển sách của mình.

b.    Phi Nga giả trai vì muốn học kinh sử theo thời chuộng văn khinh võ chớ không phải vì ‘Đã đẹp lại có thiên tài, Phi Nga lấy làm đắc ý lắm. Nàng giả trai… 

c.     Phi Nga và hai bạn đều đổ Tú Tài chớ không phải đều chiếm khôi nguyên.

d.    Người chú giải không hiểu câu nói của Soạn Chi ‘Lấy nhau đây cũng thuận tình gả cho.’ Chữ gả ở đây là cưới chứ không phải gả như chúng ta dng ngày nay. Soạn Chi chẳng có quyền gì để gả bán ai, hơn nữa trong lòng anh ta rất thích Tuấn Khanh nếu Tuấn Khanh là gái.

e.     Cha của Phi Nga không cho con gái mình đi thi Hội vì sợ con bị lộ hình tích là gái chớ không phải ngại con thân nữ dặm trường…

f.      Tên của người cáo gian quan Tham Tướng là Binh Đạo chớ không phải là Đình Đao.

Ngoài ra phần chú gii thì nhiều sai lầm nếu khác với chú giải của ĐGT. Chẳng hạn chữ quy tỉnh trong câu 44: Giả rằng quy tỉnh phủ công ra về, VHA sửa là quy tính và cắt nghĩa là quy tâm là nhớ nhà muốn về. Thật ra chữ tỉnh ở đây là tỉnh thám, tức thăm viếng, quy tỉnh là về thăm viếng cha mẹ.

Hai bản quốc ngữ Quốc Hoa và VHA đều chép theo, nếu không nói là lấy cắp của ĐGT. Chẳng hạn ĐGT khi in sai chữ ân thành ăn trong câu:

Nói thôi mở lấy túi vàng/chia cho những kẻ ngục trường làm ân thì hai bản kia cũng viết làm ăn...

Cũng vậy, khi bản ĐGT in sai chữ thời thành thôi trong câu:

Nghĩ mình cử động ngôn hành, Thời ta giữ chẳng lộ hình khi nao! Thì hai bản kia cũng viết thôi ta

Chúng ta chưa thấy thêm bản quốc ngữ Nữ Tú Tài nào khác. Ba bốn nguồn để tác phẩm bình dân dưới hình thức truyện thơ đến được với quần chúng là nhóm ‘sửa lại bổn cũ’ do mấy nhà xuất bản ở Chợ Lớn thực hiện từ thập niên 30 đến thập niên 60 của thế kỷ trước là Phạm Văn Thình, Phạm Đình Khương, Thuận Hòa đều không thấy truyện Nữ Tú Tài.

Ông Xuân Lan, một biệt hiệu khác của nhà văn Nguyễn Văn Vĩnh, chủ bút tờ Đông Dương Tạp Chí, đã có thời in nhiều truyện thơ xưa, chúng ta cũng không may mắn thấy được Nữ Tú Tài từ công trình của ông.

Nhà xuất bản Văn Học ở Hà Nội trước 1975 thỉnh thoảng có in một hai truyện thơ với chú giải rất uyên thâm như Lưu Nữ Tướng, nhà xuất bản Thuận Hóa ở Huế sau 1975 cũng thế, rất đáng ngợi khen với quyển Mã Phụng Xuân Hương. Vậy mà không thấy tăm dạng Nữ Tú Tài.

Ông Trịnh Xuân Thanh trong quyển Thành Ngữ  Điển Tích Danh Nhân Từ Điển có mục từ Nữ Tú Tài trên trang 778, sau khi tóm lược cốt truyện chỉ lập lại ý kiến của Đinh Gia Thuyết mà ông dùng làm tài liệu và chịu ảnh hưởng: ‘Truyện Nữ Tú Tài chẳng có gì đặc sắc, trọng tâm của tác giả là giới thiệu một người con gái tài kiêm văn võ có hành động như một trang nam tử.’

Gần đây nhứt, tại Sàigòn, nhóm của Th.S. Bùi Văn Vượng khi thực hiện hai tập dầy cợm Kho Tàng Truyện Nôm Khuyết Danh (2000) giới thiệu hơn  hai mươi truyện Nôm khuyết danh dưới dạng chữ quốc ngữ cũng không thấy bóng dáng Nữ Tú Tài.

Tiếc thay!

......

Vậy thì truyện Nữ Tú Tài trên nguyên tắc có ba bản Nôm, hai bản kia có thể đã được dùng tuy rằng bản Nôm chưa được công bố, bản Phật Trấn có số phận hẩm hiu hơn, chưa được học giả nào nói tới cũng như chưa được ai phiên âm và giới thiệu.

Việc phiên âm bản nầy vậy là điều đáng làm. Chúng tôi bắt tay ngay khi được thủ đắc cũng vì lẽ đó. Điều đáng mừng là nó rất sạch sẽ, không bị rách hay mất chữ. (Chỉ bị mất trang đầu như đã nói ở trên, nhưng cũng có thể tìm được sau nầy khi ai có điều kiện sang Paris với hằng tâm tìm đến các thư viện.) Điều mừng thứ hai là bản Phật Trấn nầy ra đời sớm nhất, năm 1875 - không thể là năm 1935 vì lúc nầy chữ Nôm không còn đắc dụng, sự buôn bán bản Nôm khắc từ bên Tàu đem qua cũng đã chấm dứt từ lâu - trong khi hai bản kia xuất hiện sau đó từ 30 đến 50 năm, những vết tích xưa trong bản văn thời tác phẩm được sáng tác vì vậy không còn giữ được nhiều như bản Phật Trấn…

_________________________________

[1] Hai chữ lầm lỗi ở chỗ nầy vô nghĩa nên, ông M. Durand khi phiên âm chữ tương ứng đã đọc là cầm lỗi.  Cũng không soi sáng gì hơn. Chúng tôi đề nghị đọc hai chữ nầy là cầm trỗi.  Miễn là cầm trỗi theo lời có nghĩa là cầm lên đọc được dầu không hay lắm.