Chuyện đời xưa

 

 

 

P. J. B. TRƯƠNG VĨNH KÝ

 

CHUYỆN ĐỜI XƯA

 

LỰA NHÓN LẤY NHỮNG CHUYỆN HAY VÀ CÓ ÍCH

NOUVELLE EDITION

 

(9e mille)

 

 

IMPRIMERIE de QUINHON (An Nam), 1914

Tous droits réservés

 

 

 

 

 

Nguyễn Văn Sâm chú thích và bình luận

阮文

CA (USA), 2016

 

 

 


Trương Vĩnh Ký                                          Ông Trương giảng bài cho các quan chức.


 


tựa

 

Nguyễn Văn Sâm

 

     Quyển Chuyện Đời Xưa của Trương Vĩnh Ký là quyển sách bán chạy nhứt của nhà văn nầy. In tới lui nhiều lần, năm 1914 đã in tới ngàn thứ chín. Những lần in không đề tái bản lần thứ mấy và in bao nhiêu thì phải nói là cơ man.

Tại sao quyển truyện mỏng nầy lại có sức hấp dẫn như vậy? Chính là nhờ ông Trương khi viết đã đưa ra hai mục tiêu và đã làm gần như trọn vẹn:

    1. Giáo dục về luân lý. Người đọc cẩnthận sẽ thấy những bài học tốt cho cách ở đời, cách xử thế, ứng xử trong trạng huống cần thiết, đề phòng kẻ xấu, chớ cả tin..

    2. Dùng tiếng Annam (Việt Nam) ròng. Trong toàn quyển chuyện không sự kiện làm văn chương, mặc dầu điều nầy không hẵn là xấu, mà chỉ có sự sử dụng tiếng Việt thường nhựt, với những từ ngữ của người bình dân. Người đọc l âu nay đón nhận cũng vì lẽ đó.

     Ngoài ra vì tác giả khéo léo cho thấy sinh hoạt của dân chúng có thể nói là cuối thế kỷ 19 nên đây là nguồn tư liệu dồi dào về những chi tiết của cuộc sống dân ta mà gần như ngày nay không thể thấy (ăn ong, ăn bánh lớ, cái chày mổ, sư làm đám, hầm bắt cọp, bắt chồn, tục mai dong, tục ở rể, thợ làm ghe trét chay, những tay tứ chiếng lang thang kiếm cơm của thiên hạ rộng lòng, thợ may phải làm nghề dạo…).

Sách viết hơn trăm năm trước, bằng theo lời nói của dân miền cực Nam nên chắc chắn là khó hiểu với phần đông người đọc hiện giờ. Sự chú giải những từ nầy và những cách nói đặc biệt là cần thiết nên quyển sách Chú Giải Chuyện Đời Xưa của Trương Vĩnh Ký có lý do để ra đời.

Victorville, CA, tháng 11, 2016 (Những ngày làm việc dối già)

 

 

 


Ý SÁCH

CHUYỆN ĐỜI XƯA

 

     Kêu rằng: Chuyện đời xưa, vì nó là những chuyện kể lớn trước ta bày ra để mà khen sự tốt, chê sự xấu cho người ta sửa cách ăn nết ở cho tử tế[1].

     Ta[2] cũng có thêm một hai chuyện thiệt tích mà có ý vị, vui, dễ tức cười, cũng để cho người ta thấy khen mà bắt chước, thấy chê mà lánh[3].

     Góp nhóp trộn trạo[4] chuyện kia chuyện nọ, in ra để cho con nít tập đọc chữ quốc ngữ, cùng là có ý cho người ngoại quốc muốn học tiếng Annam, coi mà tập hiểu cho quen[5].

     Nay ta in sách nầy lại nữa: vì đã hết đi, cũng vì người ta dùng sách nầy mà học tiếng, thì lấy làm có ích. Vì trong ấy cách nói là chính cách nói tiếng Annam ròng, có nhiều tiếng nhiều câu thường dùng lắm[6].

P. J. B. Trương Vĩnh Ký.

________

 


CHUYỆN ĐỜI XƯA

1. Con chồn với con cọp.

 

    Ngày kia[7] con chồn đi kiếm ăn trong rừng, mắc hơ hỏng[8] vô ý sẩy chơn sụp xuống dưới hầm, chẳng biết làm làm sao[9] mà lên cho được. Hết sức tính[10] nữa. Than vắn thở dài, khôn bề tấn thối[11], như cá mắc lờ[12]. Tưởng đã xong đời[13] đi rồi. May đâu nghe đi thịch thịch[14] trên đất, mới lo mưu định kế, rồi lên tiếng hỏi rằng: Ai đi đó? Chẳng ngờ là con cọp, thì làm bộ mừng rỡ, mới hỏi: Chớ[15] anh đi đâu? đi có việc chi? Anh cọp nói: Tôi đi dạo kiếm chác[16] ăn, mà anh xuống mà làm chi đó vậy? Thì anh chồn ta lại trở cách[17], mà nói rằng: Ủa! Vậy chớ anh không có nghe đi gì[18] sao? Người ta đồn đến mai nầy trời sập.

    - Cơ khổ[19] thôi nhưng! Tôi không hay một đều[20]? Mà có thật như vậy, hay là người ta đồn huyễn[21] vậy anh?  – Ấy, không thật làm sao? Bởi thật tôi mới xuống đây mà núp, kẻo đến nữa[22] (tr.6) mà chạy không kịp, trời đè giập xương chết đi uổng mạng; mà anh, chẳng qua là nghĩ tình cũ ngãi xưa[23], tôi mới nói; chớ như không[24], thì ai lo phận nấy, tôi có nói làm chi.      – Thôi, vậy thì xin anh cho tôi xuống đó với anh cho có bạn.  – Ừ, mặc ý[25] xuống, thì xuống.

    Anh cọp mới nhảy xuống, chuyện vãn[26] một hồi, rồi anh chồn mới theo chọc lét[27] anh cọp hoài. Cọp la[28] không đặng. Cứ lẻo đẻo theo khuấy[29] luôn. Con cọp nổi giận mới ngăm[30]: Chọc, tôi xách cẳng[31], tôi ném lên cho trời sập đè giẹp ruột đi giờ[32]. Anh chồn cũng không nao[33], càng ngăm, lại càng chọc hoài. Anh cọp hết sức nhịn, mới dồi quách[34] anh chồn lên: Rắn mắt[35], nói không đặng, lên trển[36] trời đè cho bỏ ghét. Anh chồn mừng quá bội mừng[37], thấy mình gạt được anh cọp mắc mớp[38]. Mới chạy kêu người ta tới đâm cọp sa hầm[39].

    Thường kẻ xấu lâm nạn, thì lo phương gỡ mình, dầu phải làm mưu cho kẻ khác mắc vòng lao lý cực khổ, miễn là cho mình khỏi thì thôi. Lại đôi khi cũng kiếm thế mà làm hại nó nữa[40].

 

2. Chàng rể bắt chước cha vợ.

 

    Có một thằng khờ khạo, ít oi[41], không biết gì hết. Mà đến tuổi phải lo đôi bạn[42] với người ta, mới tính đi cưới vợ. Đi coi rồi mượn mai dong[43] (tr. 7) đi nói. Đàng gái chịu gả, cho bỏ trầu cau[44]. Mà phép hễ có miếng trầu miếng cau rồi, thì phải đi làm rể[45], mà nó không biết làm rể là làm sao. Lấy làm khó lòng[46]; mới hỏi thăm ông mai: Chớ làm rể phải làm làm sao? Ông mai mới dạy rằng: Đạo làm rể, hễ thấy ông gia[47] làm giống gì[48], thì phải giành lấy mà làm, hễ thấy làm đi gì[49], thì phải làm theo như vậy.

    Bữa ấy tới nhà làm rể. Cơm nước rồi, cha vợ nó xách rựa[50] đi đốn cây, nó cũng vác rựa mà đi theo. Ổng lại cây nầy, mới kê rựa vào đốn, thì nó lại nó nói: Cha, để tôi đốn cho. Cha nó nghe, thì để cho nó, qua cây khác. Nó cũng lại, nó nói làm vậy. Ông cũng để cho, ổng đi cây khác. Nó lại, cứ nó giành hoài. Ông gia nó thấy vậy, mới sanh nghi có khi nó điên chăng, nên giựt mình[51] đâm đầu chạy đi. Ngó ngoái lại, thấy nó lăng căng[52] chạy theo, lại càng thêm nghi. Chạy rớt cái khăn mắc trên bụi tre[53]. Nó thấy vậy, nó cũng lột cái khăn của nó, mà ném lại đó như cha vợ nó vậy.

    Ông gia nó mới tin chắc nó là điên thiệt, nên cong lưng chạy riết[54] về nhà. Thở hào hển chạy ngay vô nhà, thấy mụ ngồi trong bếp đang chổng chồng mông thổi lửa[55]. Mới đá mông mủ[56] một đá, biểu chạy trốn đi: Thằng rể nó điên thiệt. Chàng rể chạy xợt[57], thấy bà mẹ còn đó, cũng bắt chước giơ chơn đá mủ một đá như ổng vậy. Hai (tr.8) ông bà chạy chun núp dưới vựa lúa. Nó cũng chun theo. Hai ông bà thất kinh hồn vía, sợ dại nó có làm hung chăng[58], mới la làng[59] lên. Nó cũng bắt chước la làng lên nữa.

 

3. Con cóc tía với con cọp và con khỉ.

 

    Con cọp bữa nọ đi ngang qua góc rừng chỗ hang con cóc tía ở. Con cóc thấy con cọp đi làm vậy, thì sợ e cọp làm nhăng[60] bắt mình, mà ăn đi chăng. Nên mới lo mưu trừ, làm cho cọp đừng có léo đến[61] tới lui đó nữa? mới lên tiếng hỏi rằng: Ai đi đó? đừng có đi qua đây nữa mà chết. Chú cọp nghe hỏi, liền ứng tiếng hỏi lại: Ai hỏi vậy?

    Anh cóc mới nói: Tao đây, tao là cóc tía, mầy không biết danh tao sao? Cọp giận: Chà! Mầy hình vóc bằng cổ tay, mầy lại có mầy tao mi tớ với tao nữa[62]! Mầy lại giỏi quá tao à[63]; tài nghề gì mầy, mà mầy xấc[64]? Ấy! Mầy bất quá tài nhảy mà thôi, mà tao coi thì nhỏ, mà tài gì, tài gì cũng đủ miếng[65].

     Cọp mới thách ra nhảy thi[66], coi thử ai nhảy xa cho biết. Cóc chịu. Ra tới mương cái[67], gạch mức đứng ngang nhau mà nhảy. Cóc khôn mới làm tài hay[68], nói với cọp: Thôi, tao không thèm đứng ngang mầy nữa, tao thụt lui lại sau, tao chấp[69] (tr. 9) đó. Cọp khi nhảy, thì đập đuôi vài cái, rồi mới nhảy. Cóc quỉ[70] hả miệng mới ngậm lấy đuôi cọp. Nhảy qua bên kia, quất đuôi mạnh, cóc văng ra đàng trước xa; mới lên tiếng: Tôi đây. Anh cọp thấy mình thua, bèn xuống vai dưới[71] chịu đầu: Thật anh có tài! Tôi là tài, mà anh lại tài quá hơn tôi nữa.

    Anh cóc thừa thắng, mới nói rằng: Tôi đã nói ấy! Tài gì tài gì[72], tôi cũng chẳng thua ai. Tôi bắt sống cọp tôi ăn, nầy coi đây thì biết. Hả miệng ra, thấy đầy những lông cọp. Cọp thấy thất kinh, cong đuôi chạy mất. Vùi đầu vùi óc[73], bất kể là giống gì, cứ chạy mãi.

     Con khỉ ở trên cây thấy cọp chạy hào hển[74], kêu giựt lại hỏi: Việc chi mà chạy dữ vậy? Cọp mới nói:  _Thôi thôi, đừng hỏi, để cho tôi chạy, kẻo nó theo kịp chết đi giờ.  – Mà giống gì, nói cho tôi hay với? Cọp sợ đã sảng hồn[75], nói:  _ Cái con chi, quên tên đi, nhỏ nhỏ mà da nó nhám...  – Ờ, thôi, biết rồi; con cóc phải không?  Ừ, phải đó. – Sao anh dở vậy? Anh sợ nó, mà chạy cho nó dể ngươi nữa? Bẻ cổ nó đi như chơi[76] chớ.

     - Anh đã đánh phách[77]!   – Ấy, không tin đem tôi tới, tôi vật nó như vật nhái[78] cho mà coi.   – Ý, đừng, đừng chớ! gạt tôi rồi báo hại tôi giờ[79].  – Không đâu; nói thiệt đó. Có sợ tôi gạt, thì để tôi bứt dây, tôi buộc đậu cật tôi lại với lưng anh[80]. Anh đem tôi đến đó, tôi hủy nó đi[81] cho anh coi.

    – Ừ, có vậy, đi thì đi. (tr. 10)

     Khỉ rút dây cột xong xả, cỡi cọp tới nơi con cóc ở. Con cóc khôn mới hỏi: Ai vậy? Anh khỉ đó phải không? Khỉ ừ. Cóc mới nói: Anh mắc mưu cọp rồi đó. Nợ mười hùm chưa đủ, một thấm chi? Nó thế mạng đó. Cọp nghe làm vậy càng sợ, đâm đầu chạy miết dài[82], chạy đà không kể cây cối, gai gốc, bờ bụi gì hết.

     Khỉ phần thì va đầu vào cây, phần lại cụng xương sống giập đầu, nằm nhăn răng. Cọp mệt quá, đứng ngừng lại nghỉ cẳng, ngó trực lại, thấy khỉ nằm chinh chòng[83] nhăn răng ra, thì giận, mà nhiếc[84] rằng: Hết đánh phách chưa bậu? Đã báo người ta cho đến sức[85], lại còn cười nữa chớ!

 

4. Thằng chồng khờ.

 

    Có hai vợ chồng. Vợ thì ít oi[86] thiệt thà, chồng thì khùng khùng dại dại, khờ không đi[87], không biết chuyện gì hết. Vợ nó có mang[88]. Tới ngày nằm bếp[89]. Sẵn nó có nghe người ta nói: hễ là chó đẻ thì dữ lắm, thường thường hay cắn. Nó mới nghĩ, nó giựt mình: cha chả! Vợ mình đẻ có khi nó dữ lắm. Sức chó mà còn làm vậy, huống chi người ta[90]. (tr. 11) Nên khi nó đem cơm cho vợ, thì nó đứng xa xa, không dám léo lại gần[91], tay thì cầm một cái cây, bộ tướng dị kỳ.

    Vợ nó thấy vậy, thì tức cười. Nó in trí đã sẵn[92], nó mới nói trong mình nó[93]: ấy! Họ nói thật: hễ đẻ thì hung[94]: chưa gì, nó đã nhăn răng muốn làm dữ. Ơ, muốn làm dữ thì cho làm dữ nghé[95], nó vác cây, lại nó đập vợ nó một cây. Con ấy non da yếu gối[96] chạy không kịp, chết tươi tại giường cữ[97].

 

5. Hai thầy đi làm đám.

 

    Hai anh thầy sãi[98] đi làm đám[99], người ta mời đi tụng kinh. Nổi mõ lên cốc cốc tụng một chặp, rồi ra nghỉ. Chủ đám[100] dọn cơm cho các thầy ra lót lòng[101]. Hai thầy làm bộ nhơn đức, không dám ăn cho no cho đã thèm, sợ bổn đạo[102] chê mình mê ăn. Lua[103] vài ba miếng, nước nôi xong xả[104], rồi vào cứ tụng kinh.

    Khuya lại kiến cắn bụng[105], đi ngủ, nghĩ lại mới thèm mới tiếc. Nhắm chừng[106] chỗ để đồ ăn, phăng phăng rờ vách, mà lần tới đó kiếm chác, coi may có gặp chi đánh một bụng[107] cho no, mà về ngủ. Thầy kia thấy vậy cũng đánh mò theo[108]. (tr. 12) Ai hay đâu[109] xuống nhà dưới, lục đục đạp nhằm cái chày mổ[110], nó đập trên đầu thầy một cái bốp, đau quá sức; hai thầy ôm lấy đầu mà la, tưởng là ai đánh: Không, không phải tôi đâu! Thầy nầy đổ cho thầy kia: Tôi đi kiếm ngõ ra đi tiểu mà. Trong nhà nghe la thức dậy thắp đèn, lên coi thử giống gì[111], thấy hai thầy đang men[112] xuống bếp[113].

 

6. Thằng khờ đi mua vịt.

 

     Có một đứa dại[114] không biết làm nghề gì mà ăn, vợ con phiền hà, trong nhà thiếu thốn, mà người vợ khôn, hay lo chắc mót để dành[115] để dập[116] được bốn năm quan.

     Bữa ấy con vợ mới biểu chồng lo đi mua hàng hóa gì, về mà bán cho té ra một hai đồng[117] mà chi độ[118]. Thằng chồng lãnh lấy tiền cột lưng ra đi, tính mua ít cặp vịt đem về cho nó đẻ ấp vài lứa[119], mà bán lấy lợi mà ăn. Đi bá vơ ngoài đồng[120], không biết đâu mà kiếm mà mua, đi một đỗi xa xa, mới ngó thấy hai đứa chăn trâu đang có chơi với nhau[121] gần một bên mé bàu sen[122]. Thấy một bầy le le ăn đó. Anh ta xăm xúi, lại hỏi: chớ bầy vịt của ai đó vậy? Hai thằng chăn trâu lanh[123], liền nói là của mình. Anh hỏi làm chi? – Hỏi (tr. 13) mua, chớ hỏi làm chi. – Muốn mua, thì bán cho. – Mấy? Hai anh chăn trâu thấy vác bó tiền[124], đâu cũng đặng chừng bốn năm quan; thì đòi năm quan. – Đó, đem tiền lại, đếm xỉa rồi[125], lùa mà bắt lấy. Hai đứa chăn trâu xách tiền đi mất.

     Anh ta ở lại lùa đồng nầy qua đồng kia, lùa hoài lùa hũy, bắt không được con nào hết, mồ hôi mồ hám ướt[126] dầm dề, quần áo xăn tròn vo[127]. Lùa hết sức rồi lại rượt. Mệt đà le lưỡi[128]. Lật bật mặt trời đã xen lặn[129]. Anh ta hết sức, ngã lòng mới bỏ mà về, rầu rĩ quá chừng. Đã mất tiền, lại mệt mỏi, mà bắt không đặng con nào hết, lằm lũi[130] về nhà. Vợ hỏi chớ mua được giống gì[131]? Nó ngồi thở ra, rưng rưng nước mắt, tức mình mắc mớp[132] hai đứa chăn trâu nó gạt lớp[133] mình. Rồi mới kể lại đầu đuôi gốc ngọn[134] cho vợ nghe. Vợ mới mắng cho một cấp[135]. Chưởi thôi cũng đã mỏi miệng, ngồi gằm đầu[136] đó mà chịu.

 

7. Đặt lờ trên ngọn cây.

 

     Có một lão kia[137] nghèo không biết lo phương nào, mà làm cho ra tiền, mà ăn qua tháng ngày với người ta. Than thở nói to nói nhỏ với vợ. (tr. 14) Vợ nó nói rằng: Cực thì thôi[138]! Có một mình anh dở làm vậy! Người ta sao lanh lợi khéo lo khéo liệu[139]. Chồng mới nói: tao mạnh giỏi[140], làm giống gì cũng được hết; ngặt[141] có một đều không ai chỉ vẽ cho mà mần. Thì vợ nó nói: Thôi để tôi biểu cho mà mần, đi mua ít cái lờ, mà đi đặt cá mà ăn. Thằng chồng khờ nói: Biết ở đâu có cá mà đem mà đặt? – Có khó gì đều ấy! Coi chỗ nào nhiều cứt cò[142], đem tới đó, mà đặt thì trúng. – Ừ, vậy tao làm được.

    Sáng ngày ra, lăng căng[143] xách tiền đi mua đó[144] mua lờ. Vác rựa đi coi chỗ, thấy trên cây bần[145] kia trắng những cứt cò, mừng, về vác lờ đem tới, leo lên đặt trên ngọn cây[146].

 

8. Nhơn vật đạo đồng.

 

     Ông Trương Thủ Chỉ, đi câu dọc gành[147], thấy một cặp cua đi ăn với nhau. Rủi sao con cua cái tới kỳ lột, non da non thịt, yếu đuối đi không đặng. Con cua đực đi tha mồi về cho ăn. Nằm ngoài giữ kẻo cua khác tới ăn giành đi.

     Đến khi cua cái cứng gối[148], thì cua đực mừng vợ đã mạnh. Mà kế lấy[149] mình lại lột, rát rao[150] đau đớn quá, nằm một chỗ. Cua cái vô tình[151], không (tr. 15) nghĩ tình cũ ngãi xưa, bèn bỏ không màng đến[152], chẳng thèm tới lui thăm viếng. Cứ đi chơi bời, ngồi lê đôi mách[153], dạo xóm cả ngày. Chẳng những làm vậy mà lại rủ chúng bạn tới ăn thịt cua đực non da yếu gối.

     Ông Trương Thủ Chỉ thấy vậy, thì gẫm việc đời, mới than rằng: Nhơn vật đạo đồng[154]!

 

9. Nói láo mắc[155] nói láo.

 

     Có một thằng đi xứ xa về nói chuyện: Tôi ngó thấy một chiếc tàu lớn và dài quá chừng. Cha tôi thuở hai mươi tuổi, mà bắt trước mũi[156] mà đi ra sau lái, đi mới tới cột buồm giữa đã già bạc râu bạc tóc, chết giữa chừng, không đi tới lái.

     Thằng kia nghe nó nói láo làm vậy, thì mới nói: Vậy chưa mấy! Cho bằng tao, tao đi rừng cao[157], tao thấy một cái cây cao lớn quá chừng quá đỗi! Từ gốc chí ngọn, chim bay mười năm chưa tới.

     – Mầy đã nói láo quá cha tao đi nữa[158], có lẽ nào mà có? Thì thằng kia lại nói: Ấy! Như không có, thì lấy cây ở đâu mà làm cột buồm, mà đóng chiếc tàu mầy nói với tao đó, cho được? (tr. 16)

 

10. Láo dinh láo quê[159].

 

     Hai đứa kia có một tài đi nói láo mà ăn mà thôi. Một đứa láo dinh, một đứa láo quê. Hai đứa đi đàng gặp nói chuyện với nhau, đâu vừa đến cái sông, mới rủ nhau mà tắm cho mát, kẻo trời nóng nực lắm. Thằng điếm quê muốn nói láo, mà gạt thằng kia chơi, thì buộc năm tiền vào lưng, không cho thằng kia thấy, mới lặn xuống dưới nước một hồi, rồi trồi lên, tay xách năm tiền, mà nói rằng: Anh nầy. Tôi xuống dưới, tôi gặp hai ông tiên ngồi đánh cờ tướng với nhau, tôi ngồi ghé[160] lại tôi coi. Thì hai ông cho tôi năm tiền biểu tôi thì đi đi, đừng có coi nữa. Tôi mừng xách tiền trồi lên.

     Thằng kia biết nó nói láo, thì tính bề lật độ[161] nó chơi, nên mới nói: Để tôi lặn xuống, tôi coi thử, có khi các ổng sẽ cho tôi[162] chăng. Nó mới lặn xuống quào dưới bùn, lấy miếng sành[163] rạch mặt cho trầy ra, rồi trồi lên kêu thằng kia: Anh ơi! Tôi xuống gặp hai ông tiên đó, mà họ giận, họ nói: Tao đã cho thằng trước năm tiền, biểu về mà chia nhau, sao mầy còn xuống đây làm chi nữa? Thì họ lấy bàn cờ mà quăng lả mặt[164] tôi đi đây[165]. (tr. 17)

     Té ra điếm mắc điếm: thằng kia phải chia cho nó hai tiền rưỡi; ăn trọn một mình không đặng[166].

 

11. Kén rể hay trớ trinh[167] láo xược.

 

     Ông kia giàu có, có một đứa con gái xinh tốt lịch sự[168]. Nhiều nơi gắm ghé[169] muốn đi nói[170], mà ông cha thì ý muốn kén một chàng rể cho lanh lợi, nói láo, trớ trinh. Có một anh nọ, tốt trai mà nghèo, ở xa nghe đồn ông ấy kén rể hay nói láo, mà cũng đã có nhiều nơi tới làm rể, láo xược thôi cũng đã hết sách hết vở[171], mà cưới không được con ông ấy[172]. Vậy nó mới tới làm rể, mà ăn ở cứ mực thiệt mà làm[173]. Như vậy cũng đã lâu. Ngày kia anh ta mới tính đã tới nước[174] nói láo, thì ra thưa với cha vợ, xin về chịu tang cha, ít ngày sẽ trở lại.

     Cách chừng được vài ba tháng, nó mới trở về, tay cầm đường câu ống[175], vai quảy một con cá lớn, đã tươi mà lại ngon thịt, vô nhà. Cha vợ mừng hỏi? Cá ở đâu mầy vác mầy đi vậy? Nó mới nói: Thưa với cha, cá của tôi câu, có cái đường câu[176] của cha tôi thuở trước làm nghề để lại, tôi đem theo, để có lỡ bữa[177] câu ăn nó cũng đỡ; (tr. 18) tôi mới câu được ngoài vàm[178], còn tươi, đem cho cha nấu canh ăn một bữa.

     Bữa kia ông cha vợ biểu sắm ghe đi câu chơi. Nó đem câu đồ[179] đi. Tới khúc sông có đá hàn[180], nó thả câu xuống mắc trong đá, kéo hò lơ hò dịch[181] không lên. Nó nói: Cha chả! Con cá thật đà nên lớn! Thôi, tôi lên trên quán uống nước, rồi thì tôi sẽ xuống mà lội lặn, mà bắt nó mới được. Giả đò đi uống nước, mới lấy mỡ, hành, tiêu ớt, ướp nướng một miếng khô, bọc trong lưng[182] mà xuống. Một hồi giập bã trầu[183], nó trồi lên, tay cầm miếng khô miệng nhai nguổm nguảm[184]. Cha nó hỏi: Khô ở đâu mà ăn làm vậy? Thì nó nói: Vua Thập điện dưới ngài quải cho ông bà[185], nên ngài nói với tôi, ngài mượn con cá, để làm dọn đãi. Đang có dọn dẹp ầm ạp[186] dưới đấy, ngài mời tôi ở lại ăn, mà tôi kiếu về[187] sợ cha trông; nên ngài biểu đưa một miếng khô cho tôi cầm về ăn mà uống rượu; người nghe nói có cha đi nữa, thì người dặn biểu mời cha xuống chơi.

     Ông cha nghe lời xuống, nó liệu chừng còn đặng một sải nữa mà tới đó, thì nó dùn dây[188] lại va đầu ông ta vào đá xẻ ra[189], chảy máu; rồi trồi lên. Nó thấy vậy, nó kêu trời van đất, sao vua Thập điện ở bất nhơn làm vậy? Rồi, nó lấy muối ớt, nó xát vô[190] cho. Rát rao[191] lắm, mới nói ra: Thật mầy đã khéo nói láo! Gặp đặng thằng rể như ý, về gả con cho nó liền[192]. (tr. 19)

 

12. Bụng làm dạ chịu.

 

    Có một anh bất tài chẳng biết làm gì mà ăn, mới đi học làm thầy bói[193]. Bói nhiều quẻ cũng khá ứng[194]; nên thiên hạ tin đua nhau đem tiền đến xin bói. Làm vậy ăn tiền cũng đã khá, lại càng ra dạn dĩ càng đánh phách[195] khua miệng rân[196].

    Bữa kia trong đền vua, có mất con rùa vàng[197], kiếm thôi đã cùng khắp, mà không ra.

     Người ta mới tâu có anh thầy bói kia có danh, xin cho rước va tới, mà dạy gieo quẻ bói thử, họa may có được chăng. Vậy vua giáng chỉ dạy sắm võng dá[198], quân gia dù lọng cho đi rước cho được anh ta đem về.

     Thấy quân gia rần rộ tới nhà, trong bụng đà có lo có sợ, không biết lành dữ dường nào. Chẳng ngờ, nghe nói vua đòi đến bói, mà kiếm con rùa vàng của vua mất đi, trong lòng đã bấn bíu[199], lo đái ra cây[200], sợ e bói chẳng nhằm, mà có khi bay đầu đi[201]. Mà phải vưng phải đi, đánh liều mặc may mặc rủi,. Bịt khăn bận áo[202], bước lên võng ra đi, nằm những thở ra thở vô không biết liệu phương nào[203], mới than rằng: Bụng làm dạ chịu, chớ khá than van.

     Chẳng ngờ may đâu hai thằng khiêng võng, một đứa tên là Bụng một đứa tên là Dạ, là hai (tr. 20) đứa đã đồng tình ăn cắp con rùa của vua. Nghe thầy nói làm vậy, thì ngờ là thầy thông thiên đạt địa[204] đã biết mình rồi: sợ thầy tới nói tên mình ra, vua chém đi, cho nên để võng xuống, lại lạy thầy xin thương xót đến mình, vì đã dại sinh lòng tham, mới ăn cắp con rùa ấy, mà dấu trên máng xối. Xin thầy làm phước, đừng có nói tên ra, mà chúng tôi phải chết tội nghiệp.

     Anh thầy[205] nghe nói mới hở hơi[206] được, đem bụng mừng, thì mới nói: Thôi, tao làm phước, tao không có nói đâu, mà hòng sợ[207]. Tới nơi anh ta bói xong, kiếm được, rồi vua trọng thưởng, lại phong cho chức sắc về vinh vang.

     Mà vốn thiệt là việc may đâu mà nên mà thôi[208]. Chẳng phải là tại va có tài nghề chi đâu! Ở đời có nhiều người nhờ vận may mà nên mà thôi, chớ chẳng phải tài tình chi[209].

 

13. Cháu nói láo hại chú trả thù.

 

     Thằng kia nghèo tới nhà ông chú ruột, nói tính làm bánh cúng, mà không vạc mà hấp bánh, nên xin chú cho mượn cái vạc đồng[210] ít bữa. Chú nó tưởng thiệt, thì biểu trẻ lấy cho nó mượn.

     Nó vác về đem bán quách[211] đi, lấy tiền ăn. Chú đòi đôi ba phen, nó cứ cù lần hoài[212]. Sau túng (tr. 21) thế[213] người chú làm đơn quì[214] với quan huyện.

    Nó nghe chú nó lo đi kiện nó, thì lật đật biểu vợ đi mua một con vạc đồng[215], xách đi theo sau. Tới nhà, quan hỏi: nó cung khai xong rồi, xin đem trả trước mặt quan, kẻo sau đàng kia có nói ngược chăng. Vậy nói vạc đồng, thì nó đem con vạc đồng nó trả. Chú nó đi kiện mà nói không có rạch[216], không ra mí, cho nên mắc lý[217], phải nhận lấy mà đem về, mà trong lòng giận căm gan, lo kiếm thế báo nó cho bỏ ghét[218]. Mình vậy mà đi thua trí thằng con nít; tức mình.

     Về nhà nghĩ đi nghĩ lại, thấm ý càng xúc gan[219], mới toan lo bắt cháu mà nhận nước nó đi, cho nó chết cho hết đời nó đi cho rồi, kẻo mang nhơ xấu tiếng[220] với người ta. Vậy mới cho trẻ[221] đi kêu nó tới, bắt bỏ vào cũi[222] khóa lại, đem ra bên sông, mà nhào nó xuống[223] trấn nước nó đi cho rồi.

     Tới bực sông[224], quân khiêng củi để xuống nghỉ vai. Nó mới làm mưu[225]: Thưa với chú, tội tôi chết thì đáng rồi, mà xuống âm phủ không biết làm nghề chi đỡ mà ăn, thưa, trước tôi có mua một cuốn sách nói láo, tôi để trên cái tran[226], bị lật đật quên lấy theo. Xin chú làm phước chạy về lấy giùm cho cháu, kẻo tội nghiệp. Chú nó nghe lọt vào tai[227], lăng căng[228] chạy về lấy, để nó đó một mình.

     May đâu có thằng phung cùi lở lói đi ngang qua[229]. Thấy vậy ghé hỏi: chớ làm sao mà ngồi trong cũi vậy? Thằng ấy làm tỉnh[230] mới nói: (tr. 22) Đừng có hỏi, tao khi trước phung cùi quá hơn mầy đi nữa kia cà, mà chú tao bỏ tao vào trong cái cũi thuốc nầy, thì lành trơn[231] đi.

     - May phước dữ a! Tôi cất đầu lạy anh, cho tôi vào, mà nhờ một phen cho đã tật[232] với tôi.  – Ừ, mầy nghèo cực, tao cũng chẳng nỡ đi ăn tiền bạc gì mầy. Thôi, tao cũng làm phước. Vậy thì mầy lại tháo cũi ra mà chun vô. Thằng cùi vô, thì nó ra khóa cửa lại để đó. Đi xẹo[233] đi mất.

    Chú nó kiếm cuốn sách táo tác[234] không thấy đâu. Đổ quạu và đi và lằm bằm, hăm hở ra tới mé sông. Mắc giận sẵn, đi vừa tới nơi, không coi trước coi sau, đạp dộng[235] cái cũi xuống sông. Rồi bỏ đi miết[236] về nhà, rầu rĩ mất công mất linh[237] với thằng cháu khốn.

     Thằng cháu thoát khỏi đi xa kiếm phương thế gạt chúng[238] mà ăn. Bữa kia nó đi ngang cầu, ngó thấy xa xa một anh ăn mặc tử tế cỡi ngựa đi tới, thì nó lăng căng[239] sụt xuống dưới cột cầu lặn lên lặn xuống hoài. Anh kia tới đó, gò cương lại mà coi. Thấy dị[240] làm vậy, thì hỏi nó làm gì vậy. Thằng kia và khóc và nói[241] bệu bạo[242]: Tôi đi đòi nợ giùm cho chú tôi, được một chục nén, lộn lưng[243] về ngang đây, rủi thì nó sút nó rớt xuống đây: tôi lặn hết hơi lặn không được[244], cậu lặn giỏi, cậu xuống lặn, được thì cậu lấy bảy nén, để cho tôi ba mà thôi, để tôi cầm ngựa cho cậu.

     Anh kia tham, liền cổi khăn cởi áo đưa cho (tr. 23) nó cầm, nhảy xuống mà lặn. Thằng kia ních đồ vào[245], nhảy phóc lên quất ngựa chạy mất biệt. Mới chạy thẳng về nhà chú nó. Chú nó thấy nó về thì mừng mà hỏi: Ủa! Thằng kia sao mầy về đó? Lại tử tế làm vậy[246]? Thì nó nói: Tôi xuống dưới âm phủ nhờ tổ[247] được sung sướng đủ no mọi bề[248]. Ông bà lại sai tôi về trên nầy đi thăm chú.

     Chú nó ngờ là thật, thì nói với nó: Vậy thì mầy đem tao, đóng cũi mà nhận tao xuống sông, coi thử họa may xuống dưới, tao được sướng như vậy chăng. Thì nó làm theo ý chú nó, nó đem, nó đạp dưới sông chết ngay cán cuốc[249], sướng đâu chẳng thấy[250].

 

14. Thầy pháp râu đỏ.

 

     Lão thầy pháp kia râu hoe hoe đỏ đỏ, cưới vợ về. Vợ nó mới chê: râu gì đỏ hoe đỏ hoét xấu quá. Thì nó kiếm chước nói giải cho xuôi[251] cho rồi đi. Vậy nó nói: Húy! Mầy đừng có khinh: râu tài[252] đó. Râu nầy có biết sợ ai?

     Vợ nó không hiểu được ý làm sao mà làm vậy: làm thinh lừa cơ thử tài anh va[253], coi thử có thiệt hay không. (tr. 24)

    Cách ít bữa kế bịnh rước thầy đi chữa[254], mà nhà bịnh ở cuối truông[255] ném qua bên kia kìa[256].

    Chữa chuyên xong rồi, người ta đem bánh lớ[257] xôi chè chuối mít, lại một cái đầu heo tạ thầy. Thì thầy lấy khăn cột xách đem về.

     Vợ nghe chừng anh ta về tối, mới vác gậy ra, ngồi giữa truông núp trong bụi. Anh thầy ta xợt xợt[258] đi tới. Chị ta đập một cái sạt[259]. Thầy thất kinh quăng gói chạy quày trở lại, không dám đi. Người vợ ra lượm lấy cái gói xách ngay về nhà, đóng cửa lại ngủ.

     Một chặp[260], anh ta tỉnh hồn mới mò về, thì hăm hở hối mở cửa cho mau. Bước vào, cái mặt cắt không đặng một chút máu[261], gài cửa lại lấy cây chống thêm.

     Vợ thấy vậy hỏi việc gì thất thanh đi vậy[262]. Thì chú chàng[263] mới nói: Hú hồn! Tao tưởng đâu chúng nó đã cắt cổ tao đi rồi! Một đảng ăn cướp cũng được hai ba trăm nó đón nó đánh giữa truông.

     - Có ở đâu nào?

     – Ấy! Là quả làm vậy chớ!

     - Mà anh nói anh râu đỏ anh không biết sợ ai, sao mà sợ té đái[264] ra vậy?

     – Nó đông lắm mượn sợ[265], năm ba mươi chẳng nói gì, cái nầy đâu cũng được vài trăm, không sợ làm sao? Thôi tấn cửa lại cho chặt rồi ngủ.

     Vợ nó đi nấu nước đi pha trà cho chú nghỉ[266] uống, lại có đem ra một nải chuối nữa. Nó nhìn đi nhìn lại nải chuối hoài: Mẻ[267]! Chuối ở đâu mà (tr. 25) giống chuối họ đưa mình! Vợ nó nói: Phải ở đâu[268]? Chuối sớm mai tôi đi chợ tôi mua? Khéo nhìn bá láp[269] không! Rồi đem dĩa xôi ra. Anh ta càng lấy làm lạ: Lạ nầy! Xôi nầy của nhà bịnh đem đưa tao về đây mà.

     Đem lần các món ra, anh ta hiểu không được, hỏi gắt vợ cho biết đồ ấy ở đâu mà có vậy. Thì vợ mới nói thiệt:      Hồi chạng vạng[270] tôi núp trong bụi, tôi nhát anh, anh ném gói anh chạy, tôi xách gói về đó, chớ ai? – Có lẽ nào? Ăn cướp nó rượt người ta chạy sảng hốt[271], mà mầy nói mầy nhát à? – Thiệt, không tin, tôi đem cái đầu heo, lại cái khăn anh, mà gói cho mà coi[272].

    Thầy thấy quả[273], chưng hửng[274], mới nói: _ Phải hồi[275] tao biết là mầy, tao đập một cây chết đi còn gì?

 

15. Bốn anh tài.

 

     Hai ông bà son[276], con cái không có. Khấn vái hết sức. Sau trời độ vận[277] sinh[278] được một đứa con trai. Mà nó ăn hung quá[279], bung kia chảo nọ[280] ăn cũng hết, càng lớn lại càng ăn nhiều lắm. Hai ông bà làm không đủ cho nó ăn. Túng thế[281] mới tính mưu với nhau, mà đưa nó đi cho rồi, (tr. 26) kẻo để chịu không nổi. Vậy hai ông bà kêu nó vô, mà nói với nó: Con bây giờ thì cũng đã khôn lớn, mà cha với mẹ thì tuổi tác đã cao, gần đất xa trời, yếu đuối làm gì không đặng mà nuôi con, thuở trước nhà ta còn đang hào cường[282], cha có cho hoàng đế bên Tàu mượn và vàng và bạc[283] hơn bảy mươi muôn lượng[284]; thì bây giờ mình túng[285], không phép ngồi bó tay mà chịu nghèo.

     Con liền chịu, sắm sửa ra đi.

     Đi ra ngoài bãi biển gặp ông Khổng lồ, đang tát biển, thì lại hỏi thăm: Anh làm chi mất công mất linh làm vậy? – Anh khéo hỏi không? Trong đời có một mình tôi mà thôi, không ai dám bì, chẳng tin lại xách thử cái gàu mà coi: tôi đố anh dở cho nổi. Anh kia lại xách thử gàu múc nước tát: _ Nhẹ hều[286] đi giống gì?

     Khổng lồ không dè có người mạnh mẽ, tài tình hơn mình làm vậy, kết nghĩa làm anh em. Rồi anh ta bày chuyện mình đi. Rủ ông Khổng lồ đi theo có bạn.

     Hai anh em dắt nhau đi lên trên núi, gặp một người vạm vỡ[287], to xương, lớn vóc, mới hỏi: Anh làm gì ở rừng bụi chèo queo[288] một mình: Đi với qua đây mà chơi, coi ra còn có vị hơn. Anh ở núi nói: Tôi có một tài ngồi lại trên đảnh núi[289], thổi làm dông làm gió cho ngã cây ngã cối chơi vậy.

    – Nào, làm đi coi thử, nào! Anh ta mới búng má[290] thổi một hơi. Cây cối gì đều rạp (tr.27) xuống hết. Vậy hai ông kia biểu: Thôi thì đi với tôi qua Tàu đòi bạc mà chơi. Đàng kia coi khá mòi[291], ừ, cuốn áo[292] ra đi.

     Đi cách vài ba ngày đường, lại gặp một lão dị kỳ tướng[293] gánh voi trên núi. Mới lại mới hỏi: Chớ anh làm giống gì lục thục[294] ở trên rừng vậy? Anh kia đứng ngừng lại nói: Tôi đi lên rừng cao, đi bắt voi trói giò, gánh về để rục[295] lấy một hai cây ngà bán kiếm tiền ăn.

     – Thôi mà, về lấy áo đi với mấy đứa tôi qua bên Bắc Thảo[296] đòi bạc đem về chia nhau ăn.

     – Ừ, có vậy cũng may.

     Bốn bà con dắt nhau đi. Tới nơi, gởi dộng[297] vô trong nội một cái thơ đòi bạc nợ. Vua cho quan ra coi thử ai mà đi đòi nợ đó. Ra thấy bốn người dị hình dị dạng ở bên An Nam qua. Thì vua dạy dọn yến tiệc đãi tử tế. Mà các ảnh ăn hung quá, cung đốn theo thường không đủ.

     Vua tức mình lo mưu hại quách[298] nó đi, để nó khuấy rối. Dọ coi thì anh nào cũng tài tình hết, sợ có khi các ảnh làm nhăng mà khốn[299]. Vậy mới hạ chỉ dạy dọn yến, lại đặt binh gia để phục mà hủy cho được.

     Bốn bợm ta thấy léo[300] rồi, ăn thì ăn, mà ngó chừng kẻo nó vô thình lình mà khó giải.

     Nó nghe hiệu lịnh, nó ào nó vô, thì anh làm gió thổi lên một hơi, nó rập xuống[301] hết. Vậy về báo với vua rằng: Tính thế không xong: sức mới có một anh ra cự, mà quan quân binh lính (tr. 28) rả ra hết, huống chi bốn bợm[302] ra một lượt, thì ắt là nó ăn ta đi[303], nó giết hết.

     Vậy vua bàn với triều đình phải mở kho mà trả bạc cho nó. Dầu mình không có mắc nợ gì mặc lòng, nó đòi bao nhiêu, thì giao cho nó bấy nhiêu, đặng cho nó đi đi cho rảnh, để nó khuấy rối giờ.

     Vậy mới kêu vô mà giao bảy mươi muôn lượng bán kim bán ngân (nủa vàng nửa bạc), thì các ảnh chia nhau một người một gánh, gánh đi hểu hểu[304]. Ai nấy thấy đều thất kinh hồn vía.

 

16. Bạn học trò, một người đậu, một người rớt.

 

     Hai anh em bạn kết nghĩa với nhau đã lâu. Có một anh tốt phước[305] đi thi đậu về làm quan vinh vang tử tế, mà bụng không được tốt mấy, mắc tham tâm[306] mà quên nhơn ngãi. Bữa kia anh học trò lỡ vận[307] tới dinh đi thăm, cậy quân vô bẩm, nó ra nó nói ngài giấc ngài ngơi. Đợi không được, lại về bữa khác cũng tới làm vậy, thì ngài lại mắc việc khác không ra khách được[308], là vì thấy tới mặt không, không có lễ mễ[309] gì, nên lánh đi. Anh kia lẻo đẻo[310] tới hoài đã năm ba phen, mà không có gặp mặt, thì về mua một con heo choai[311], quay vàng lườm để vô mâm bưng tới. Quân vô (tr. 29) bẩm, ngài nghe nói có lễ mễ lật đật mang áo ra.

    Chào hỏi sơ sài lếu láo[312] ba tiếng, biểu quân cầm một miếng trầu, châm một điếu thuốc đem lại đưa cho. Anh ta lãnh lấy xăm xúi đem lại nhét trong miệng con heo. Rồi đứng vòng tay lạy con heo ba lạy: Giã ơn mầy, vì bởi nhờ mầy, nên tao mới vào đặng cửa quan, mà thăm bạn cũ tao. Rồi bỏ ra về một thể[313], chẳng thèm tới lui nữa.

 

17. Trên vua dưới tôi.

 

      Thằng hề kia ra giễu một chặp, rồi mới hỏi thằng kia: Đố mầy biết, trên vua dưới ai? Thằng kia nói: Trên vua thì dưới các ông hoàng chớ ai?

     – Không phải.

     – Không, thì trên vua dưới các quan tứ trụ, cũng là triều đình chứ ai?

     – Cũng không nữa, nói bậy.

    Thằng kia mới giận hỏi: Vậy chớ mầy nói ai?

     – Tao đây chớ ai? Trên vua dưới tao.

     – Ấy! Anh nầy phạm thượng bay[314]!

     – Không, thật làm vậy chớ. Nầy, để tao nói cho mầy nghe: Ngày xưa tao túng tiền xài, chạy đi hỏi người nầy bốn năm quan, chạy đi hỏi người kia đôi ba quan, không ai cho. Túng tao mới đi vay. Họ bắt tao làm tờ tạm đứng điểm chỉ[315]. Mướn học trò làm tờ[316], trên đề niên hiệu, thì là ngài Đức vua đứng, (tr. 30) còn dưới kế lấy đó[317], thì tao đứng. Có phải là trên vua, dưới tao không?

 

18. Đút sáp cho cọp ăn khỏi chết[318].

 

      Thằng hát bội[319] kia nó giễu cái nầy xâm[320] những quan hay ăn hối lộ: Ý cha chả hôm trước tôi đi ăn ong[321] về, gặp ông cọp, tưởng đà xong đời[322] đi rồi.

     _ Hủy! Vậy thì còn gì mầy?

     _ Mà may, tao có vác một bó sáp trên vai, tao mới chảng hảng[323] ra, tao đút sáp ra đàng sau, ổng chạy theo ổng táp, mắc nhai sáp, tao chạy trợt đi khỏi. Xí hụt[324]!

 

19. Trách người ít đánh chầu.

 

      Cũng có thằng khác[325] ra giả một đứa đầy tớ, một đứa làm chủ. Đầy tớ đi cày về, chủ hỏi cày được bao nhiêu? Nó nói được ít đàng[326] gì đó. Chủ mới nổi thần hung[327] lên, mới nhiếc nó dở dang làm biếng làm nhát. Thì nó nói:

     _ Cày ít, có phải là tại tôi sao? Con trâu nó đi tới đâu thì tôi đi tới đó, chớ phép tôi khiêng nó được sao?

     – Vầy sao mầy không đánh nó (tr.31) cho nó đi cho mau, cái da trâu là ông là cha gì mầy, mà mầy hòng sợ, mà không dám đánh?

     Là có ý nói xóc tâm[328] anh cầm chầu, sao có hẹp với nó, không hay chầu hay thưởng[329].

 

 

20. Cha điếc, mẹ điếc, con điếc, rể điếc.

 

     Hai ông bà điếc, sinh đặng một đức con gái cũng điếc, rầu mình vô phước, mình phận già cả chẳng nói làm gì, còn con mình tật nguyền điếc lác[330], biết gả cho ai mà gởi thân cho nó nhờ. Mà nghĩ lại mình cũng còn khá, lớn ruộng, nhiều trâu, thế cũng có khi cũng có dễ.

     Vậy thấy một đứa trai lịch sự ở xa cách vài làng năng[331] vô ra tới lui trong làng, thì kêu nó mà gả con cho nó. Chẳng ngờ nó cũng điếc.

     Cưới hỏi xong cả, nó về nó ở với cha mẹ vợ, thì cha nó biểu đứa con gái biểu nó ra coi cày bừa đám ruộng ở kề bên đường. Nó nghe liền vác cày ra cày. Đang lui cui cày, có ông quan đi ngang qua đó, mà là quan kinh mới tới nhậm[332], đứng lại hỏi thăm nó cái đàng đi vô dinh quan phủ.

     Nó chẳng lành thì chớ[333], điếc nghe không rõ (tr. 32) tưởng ổng quở[334] sao có cày ruộng của ổng chăng, nên vọt miệng mắng: Ruộng tôi, tôi cày, sao ông nói ruộng của ông? Ông nầy ngang quá ghẹ[335] đi cà. Ong quan thấy nó dễ ngươi[336], thì biểu quân rượt đánh nó. Nó đâm đầu chạy về nhà, vợ đang ngồi nấu cơm trong bếp, nó đạp cỏn hai ba đạp chúi vào trong bếp:

      _Ruộng nào ở đâu mà mầy chỉ bậy cho tao cày, làm người ta đánh tao cờ bơ cờ bấc[337], cũng là tại mầy lếu[338]?

     Con kia nói:   

    _Dữ không? Đợi một chút cho người ta nấu dọn cho mà ăn không được? Làm gì bất nhơn làm vậy?

     Kế lấy mẹ nó đi chợ leng keng[339] bưng rổ về, con gái ra mét[340], nói sao chồng độc dữ đá đạp nó làm vậy. Bả thấy bộ nó giận quạu quọ[341], thì ngờ là nó nói mình sao đi chợ năm tiền, mà ăn bánh ăn hàng hết đi mua về ít đó. May đâu, ổng đi tát dìa quảy vịt về, mới để xuống bả chạy lại bả nói:

     _Tôi ăn bánh ăn hàng ở đâu? Mà con nó nói thêm nói thừa cho tôi?

     Ông nghe không rõ, tưởng bả nói, sao mình có bắt cá mà cho ai, thì nói:

    _Nào tôi có cho ai đâu? Đặng con nào bỏ vịt con nấy đem về, mà nói bắt cho ai? Có chứng lão cày ruộng một bên đó. Bà ra hỏi lão mà coi. Nắm tay bả dắt ra ngoài đồng lại hỏi lão cày:

     _Chớ lão có thấy tôi bắt cá, mà cho ai không?

     Chẳng may lão cày cũng lảng tai[342], tưởng là hỏi lão có khuấy chơi[343] lấy quần giấu đi chăng. (tr. 33)

     (Thấy ổng đóng khố, thì hiểu làm vậy.) cho nên mới nói:

     _ Nào! Tôi sớm mai đến giờ cứ cày hoài, tôi có qua chi bển, mà tôi hòng biết quần ổng để đâu, mà lấy mà giấu? Ông già khéo nghi bậy không?

 

21. Thằng cha nhảy cà tứng[344].

 

     Thằng cha kia sợ vợ. Bữa nọ con mẻ[345] đi chợ, ở nhà anh ta lấy khoai đem lùi[346] bốn năm củ. Con mẻ đâu lơn tơn[347] về. Thằng chả ngó thấy bóng[348], lật đật lấy khoai bỏ vô trong quần túm lại, chạy ra. Mà mắc nó nóng quá[349], nên đứng nhảy lên nhảy xuống hoài. Con mẻ thấy tức cưởi hỏi: Làm gì mà điên vậy? Đứng nhảy cà tứng đó? Nó mới nói: Tao mừng mầy đi chợ về[350].

 

22. Hai anh sợ vợ.

 

     Hai thằng cha kia hay sợ vợ, ở kế một bên nhau. Bữa nọ phơi đồ, sao để quên mưa ướt đi. Con vợ nó mắc lục đục[351] trong bếp, nhớ trực[352] (tr. 34) lại đồ phơi ngoài sào, thì hối nó ra mà lấy vô. Con mẻ nó mắng nó nhiếc, rồi nó xỉ vả nó lại vác cây nó đập cho, chạy mất.

     Qua bên nhà anh kia, ở bển nói chuyện. Người kia hỏi: Chớ giống gì, mà chỉ mắng, chỉ chưởi làm om bển đi vậy?

     – Tôi quên đem đồ vô, nó rầy tôi.

     – Tốt kiếp thì thôi thê[353]! Anh đó, chới tôi ấy, thì...

     Con vợ nó nghe nổi xung[354], ở trỏng[355] xách cây chạy ra hỏi: Chớ tôi...thì...sao?

     Thằng chồng sợ, nói:  

     _ Không mà, tao nói: Anh đó chớ, chớ tôi, thì tôi đem vô trước hồi chưa mưa kia chớ.

 

23. Mẹ chồng nàng dâu ăn vụng.

 

     Bà mẹ nấu chè ăn trưa chơi[356], mà đợi lâu lắm: thèm quá, mới lén mới lấy một chén bưng lên trên bồ lúa[357] ngồi ăn, kẻo con dâu ngó thấy.

     Con dâu đói bụng thét[358], ngó quanh ngó quất[359] không có ai, mới lén bưng một chén đem đi giấu mà ăn. Trong nhà có một chỗ vựa lúa là kín mà thôi, nên nó lên đó mà ăn, kẻo mẹ chồng ngó thấy. Ai ngờ đi trờm tới[360] đụng lấy bà mẹ đang ngồi ăn chè!

     Bả mắc cỡ hỏi:

     _ Con bưng chè đi đâu (tr. 35) vậy?

     Con dâu lanh, nói:

     _ Tôi tưởng mẹ đã ăn gần hết, tôi múc đem thêm cho mẹ sớt[361].

     Kỳ thật là hai người ăn vụng[362].

 

24. Tích hang ông Từ Thức.

 

     Ở ngoài Bắc có một cái hòn tự nhiên bốn bề đá dựng[363], đêm ngày sóng tạt bổ ầm ầm[364], người ta đặt tên là hang ông Từ Thức.

     Do cái chuyện nó người ta bày thế nầy:

     Thuở xưa kia, vua tính xây một cái thành chỗ đồng nội kia, thình lình chỗ ấy có mọc lên một cây vô danh, bông lá lạ thường, đã xinh mà lại thêm thơm nữa. Ai nấy đều định phải đem dưng cho vua. Vậy mới cho dân canh giữ nhặt nhiệm[365], kẻo sợ người ta hái bông đi. Thiên hạ đồn dực[366], đâu đó rủ nhau tới coi.

     Tiên ở tại hòn nói trước nầy, cũng đua nhau đi coi. Mà có nàng Giáng Hương, tiên xinh tốt, lại gần rờ rẫm[367] cái hoa, rủi rụng xuống. Quân lính mới bắt lấy đó. Xúm lại xin[368], nói gãy lưỡi[369] cũng không tha.

     Vừa may có ông Từ Thức là ông quan lão[370] nghe đồn cũng đi tới coi cho biết. Bước vô, thấy bắt buộc làm vậy, thì hỏi lính: Tội tình chi mà (tr. 36) bắt trói người ta lại, người ta là con gái mà bắt làm gì tội nghiệp vậy? Tha người ta đi.

     Lính bẩm: Bẩm ông, cô nầy ở đâu không biết, tới coi lấy tay nưng[371] cái hoa, nó rụng xuống nơi tay, tôi bắt cổ[372] lại đây, bây giờ ông dạy tôi tha, tôi có dám tha ở đâu? Ông Từ Thức mới cởi áo đưa cho thằng lính, cho nó đặng nó tha nàng Giáng Hương đi.

     Sau về nhà, ông Từ Thức mới nhớ mường tượng hình nhan nàng con gái mình cứu, trong lòng nó bắt khoăn khoái[373] nhớ thương, ước cho đặng gặp mặt lại mới phỉ lòng. Ra vô bâng khuâng tư tưởng, ăn chẳng ngon, nằm chẳng ngủ. Thao thức cả đêm, đang chừng nửa đêm, lồm chồm[374] chổi dậy kêu một đứa thổi lửa, thắp đèn, rồi ổng cuốn gói xuống chiếc xuồng ong[375], cầm giầm bơi đi, đi bơ vơ chẳng biết đi đâu. May đâu, đi trợt tới hòn tư bề đá dựng đứng, lại có cái cửa vô, cứ xăm xăm đi tới hoài. Ngó trước thấy nàng Giáng Hương ra rước. Vô cung, ở đó vui vẻ đủ no mọi đàng[376].

     Đến bữa nàng Giáng Hương phải đi chầu bà Chúa tiên, thì đóng cửa lại dặn ổng[377] ở nhà làm gì thì làm, mà đừng có mở cái cửa sau mà khốn[378], đến nữa phải trở về, không được ở đó nữa.

     Dặn dò trước sau phân minh, nàng ấy ra di. Ông Từ Thức ở nhà nghĩ hoài: Mẽ[379]! Nầy! Không biết ý làm sao mà biểu đừng mở cửa sau? Có khi (tr. 37) bên kia có giống gì[380] xinh tốt quí báu hơn bên nầy, nên cổ cấm mình vậy chăng? Lục tặc[381] đem vùng mở phức ra[382].

     Ngó thấy thế gian, khi ấy mới nhớ nhà. Vậy các tiên ở đó nghe động đất thì biết, nên về đuổi ông Từ Thức về, không cho ở nữa.

     Tưởng là mới đâu vài ba bữa, ai hay về kiếm nhà không được. Nhớ chắc chỗ cũ vào hỏi thì chẳng thấy một ai quen biết, hỏi thăm nhà ông Từ Thức, thì họ nói họ không biết, cũng không có nghe tên ấy bao giờ. Hỏi mấy ông già, bà cả, thì người ta nói: Thuở trước đời vua kia vua nọ, thì có ông quan lão tên là Từ Thức, mà ổng chết đã hơn ba bốn trăm năm nay rồi, còn ở đâu?

 

25. Cọp bị đá.

 

     Anh kia còn nhỏ trai[383], hay cầu vui[384] theo chúng bạn. Bữa ấy đi chơi tối, khuya về kêu cửa. Ở nhà thì có nuôi một con chó vện[385] lớn. Bữa ấy có con cọp tới rình nằm ngoài cửa. Anh ta đi chơi về, lợt xợt vô[386], thấy mập mờ, trời thì tối, tưởng là con chó vện, nên co chơn đạp cho một đạp lăn cù[387]: Chó mèo gì tối nó ngậm câm chẳng thèm sủa? (tr. 38)

     Con cọp giựt mình, thình lình thất kinh cong đuôi chạy mất. Vào nhà thấy con chó vện hãy còn, mới biết là cọp, giựt mình nổi ốc[388]. Từ ấy về sau, tởn không dám[389] đi đêm nữa.

 

26. Cọp mắc đuôi trong bụi dừa nước.

 

     Trong Rạch Giá, Gò Quao[390] cọp nhiều quá chừng, lỉnh nghỉnh[391] trong rừng như chó vậy, hai bên bờ sông đầy những dừa nước, còn trên bờ thì rừng tràm, chỗ người ta đi ăn ong.

     Bữa kia có hai người chống xuồng đi bẻ dừa nước non mà ăn, thế chuối chát[392]. Người ở trước mũi, thì ở xứ khác tới đi buôn, lâu nay chưa biết cọp ra làm sao, còn người sau lái, là người cố cựu đó.

     Ghé xuồng vào bụi dừa rậm, chẳng hay có con cọp đi đâu, mắc kẹt cái đuôi ở trong bẹ dừa giựt không ra, ngồi đó chịu phép.

     Anh trước mũi bước lên đốn dừa, thấy vàng khè, mừng tưởng là con chồn cáo, chạy nắm đuôi kéo. Tay thì kéo, miệng thì la: Lại tiếp, anh, tôi đã nắm được đuôi con chồn cáo lớn dữ lắm. Anh kia lật đật chạy lên, thấy cọp dội lại[393]: Hủy! Cọp đó, anh, không phải chồn đâu. Rồi sợ xô xuồng đi. (tr. 39) Anh kia ở đó, không biết liệu làm sao, buông nó ra, thì ngoái, nó chụp mình, mới cứ trì hoài đó. Con cọp thì đau giựt giựt mãi, mà không ra.

     Một hồi lâu cọp cũng mệt, mà người cũng mệt mỏi tay quá vùng buông phứt. Con cọp giựt được, nhảy ào cong lưng chạy miết[394] về rừng.

 

27. Ăn trộm và cọp rình nhà.

 

     Hai thằng ăn trộm đi rình nhà, lại có con cọp cũng tới rình bắt heo. Trời tối mờ mờ, anh kia tò mò lại chỗ con cọp ngồi, tưởng là thằng đi với mình, lại giõ miệng: Nầy! Họ còn thức hay là ngủ? Lại vỗ vai nó một cái, vỗ nhằm đụng lông lá xồm xàm, giựt mình nhảy trái chạy đi mất.

     Còn con cọp thình lình chúng vỗ vai cái bốp, thất sắc cũng chạy đi mất. Thằng rình góc nghe chạy thịch thịch, tưởng là chúng hay chúng rượt, cũng vụt chạy ra.

    Anh kia chạy trước, nghe sạt sạt sau lưng, tưởng là cọp đuổi theo, càng chạy mau lắm. Con cọp chạy giữa nghe lộp độp sau lưng, ngờ là chúng rượt theo, lại càng nhảy nai hơn nữa. Hồn vía mất hết, ai mạnh đàng nào chạy đàng nấy. (tr. 40)

 

28. Thằng ăn trộm gà bỏ quần mà chạy.

 

     Có một đứa ăn trôm vặt. Tối đầu canh hai, anh ta lót cót đi rình bắt gà. Động, gà vịt kêu lên, chủ nhà hay, lén để rình chụp mà bắt nó. Nó mới được một con gà cồ, xách đi, gà kêu choác choác, nó bóp hầu bóp họng cũng không thôi la.

    Túng thế mới bỏ vào ống quần, cột túm miệng ống lại. Chẳng ngờ chủ la lên rượt theo. Chú chàng càng chạy, gà càng la, không biết làm làm sao cho nó nín. Chúng theo riết, tuột quần bỏ lại mà chạy.

     Té ra gà bắt không được, mà lại mất quần, lỗ vốn bị gai ô rô, cắt một bữa, cũng trầy trụa ra hết cả mình.

 

29. Thằng ăn trộm được mời uống nước trà.

 

     Một đứa ăn trộm nghề, mới chạng vạng anh ta lòn bóng[395] vô, leo lên trên trính[396] phía khu đĩ nhà[397], ngồi đó, chờ trong nhà ngủ đặng có xuống mà khuân đồ. (Tr 41) Chủ nhà có ý, đến chừng dọn dẹp đóng cửa đi ngủ, thì biểu trẻ nấu nước pha uống, ngó trực lên khu đĩ, thấy anh bợm ngồi tòn ten đó, thì làm tỉnh kêu trẻ lấy chén thêm. Rồi biểu trẻ lại mời anh ngồi trên trính xuống, uống ít chén nước cho ấm. Bợm ta chưng hửng[398] tuột xuống, lại lạy ông chủ xin tha. Thì ông chủ nói: Tôi tha làm phước, mà đừng có léo tới đây nữa[399], mà tôi bắt tôi nạp đi đó.

 

30. Ông Cống Quình.

 

     Truyện ông Cống Quình đậu trạng, có nhiều điều pha lửng[400] trớ trêu tức cười.

     Bữa kia có một người ở xa tìm tới kinh vào chầu vua, đem dưng cho người một mâm trái trường thọ. Mới đem vô, nói chưa xong, ông Cống Quình lại lấy lột ăn phức[401] đi. Vua thấy ổng làm điều vô phép, sỉĩ hổ cho vua, thì ngài dạy đem mà chém đi.

     Ông ấy quì xuống tâu rằng: Tâu bệ hạ, muôn muôn tuổi, nay tôi tôi hỗn hào vô lễ, mà Bệ hạ đòi chém, thì là đáng lắm. Muôn tâu bệ hạ cho tôi nói một ít lời cho cặn kẽ, rồi tôi sẽ ra chỗ pháp trường: trái nầy gọi là trái trường thọ, mà sao (tr. 42) tôi ăn vô chưa khỏi cổ đà thấy chết? Vậy thì nó là trái đoản thọ mới phải. Vua nghe được tha ông đi[402].

     Bữa khác, vua ngự đi chơi, quân gia binh lính chầu chực hầu hạ, thiên trùng vạn điệp[403]. Ông Cống Quình đi tắm ngó thấy, lật đật chạy đút đầu vô bụi giơ đít ra. Vua ngự ngang qua thấy mới hỏi ai. Cống Quình quì xuống tâu: Tôi nghe ngài ngự, tôi núp không kịp, nên phải làm làm vậy, tục nói: hễ giấu đầu thì ra đuôi.

     Trong nội, vua có nuôi một con mèo, có cột cái xích bằng vàng. Cống Quình vô ra ôm quách[404] về nhà, lấy xích vàng ra, cột dây nuôi ở nhà. Mà thường ổng biểu đem hai dĩa, một dĩa thịt thà[405], còn một dĩa, thì cơm nguội trộn với đầu tôm xương cá[406], hễ nó lại nó ăn dĩa đồ ngon thì đánh, nên nó quen đi cứ dĩa đồ hèn mà ăn mà thôi.

     Vua tiếc con mèo, sai đi kiếm táo tác[407], kiếm không ra. Người ta nói có ngó thấy Cống Quình nuôi con mèo giống in con mèo của vua, có khi nó đó[408]. Vậy vua cho đòi ông Trạng tới, hỏi con mèo. Ổng nói một hai không phải. Vậy ổng bắt con mèo đem tới, biểu quân đem hai dĩa cơm, một dĩa đồ ngon, một dĩa đồ quấy quá[409]; mèo của vua thì thường ăn đồ mĩ vị, ngon lành, mà của tôi đâu đồ ngon mà cho ăn, ăn những cơm nguội cơm ngặm, mắm muối quấy quá vậy thôi, nếu (tr. 43) nó ăn dĩa đồ ngon, thì thật là của ngài, mà như nó ăn đồ hèn, thì nó là của tôi chắc.

     Đem ra, thì con mèo tập đã quen, cứ lại dĩa cơm nguội mà ăn, thì Cống Quình vỗ tay cười, Ậy! Của dân sự nghèo nàn thì nó như vậy! Ôm mèo về mất.

     Bên Tàu qua đi sứ, đem dưng vua một cái ve thủy tinh, liền không có miệng, mà trong có nước, xin hỏi làm làm sao, mà lấy nước cho được. Vua cùng đình thần bối rối không biết giải làm sao. Vậy đòi Cống Quình tới, hỏi tính làm sao. Cống Quình mới nói: Tưởng là giống gì khó lắm, việc nầy liệu được mà. Vua mới giao cho anh ta đem về. Sáng ngày lợt xợt[410] vô. Vua ra lập trào rước sứ Tàu cho đặng giải việc hỏi. Ông Cống Quình tay xách dùi đục[411], tay cầm cái ve của sứ đem qua. Vua phán hỏi. Cống Quình quì xuống: Muôn tâu lịnh thiên tử, Tàu hỏi làm thế nào lấy nước ra cho được? Vậy hễ muốn lấy cho được nước, thì phải đánh mới được. Và nói và đập, bể cái ve đi.

     Năm sau, sứ đem một con trâu có tài báng lộn[412] ăn hết[413] các trâu bên Tàu. Đem qua hỏi coi thử An Nam có trâu nào giỏi hơn chăng. Vua đòi Cống Quình tới hòi, coi thử tính làm sao.

     Cống Quình vào chầu. Vua phán: Đó bây giờ Tàu người ta đem con trâu báng giỏi nhứt có tài, coi thử mình có đem ra cự, Trạng tính làm sao? (tr. 44)

     - Muôn tâu Bệ hạ, có khó chi, để tôi về tôi tính, xin sứ để ba bữa. Ông Trạng về biểu bắt con nghé nhỏ còn bú, nhốt riêng nó ra, đừng cho bú ba bữa.

    Tới ngày sứ đem trâu tiếng Tàu[414] ra, ông Cống Quình dắt con nghé ra. Vua ngự ra, sứ bộ cùng triều đình tựu tới coi. Thả trâu lớn của Tàu ra, nó hăng đứng nghinh đó, Cống Quình thả trâu nghé ra. Nó nhịn bú đã ba ngày, khát sữa, thấy trâu lớn tưởng là trâu mẹ, lăng căng[415] chạy lại xúc xúc[416] dưới bụng nơi sau háng, trâu Tàu nhột[417] chịu không đặng, chạy mà tránh cho khỏi kẻo nó rúc ruột. Càng chạy, nó chạy theo xúc, cong lưng chạy miết dài. Cống Quình đứng vỗ tay la: Trâu Tàu thua rồi! Trâu An Nam ăn rồi! Thèm đem trâu lớn đâu, sức con nghé con, ốm tong ốm teo, mà trâu kia còn phải thua nữa là!

    Bước qua năm sau, Tàu giận thấy mình thua trí người An Nam, mới sai sứ đem một cây gòn đẽo bào bằng gốc bằng ngọn, lại kéo sơn đôi ba nước, mất da mất thịt cây đi hết, ở giữa có đề hai chữ: Túc tử. Đem qua đố An Nam biết là tên cây gì, lấy chữa đó, mà bàn cho ra tên. Lại đố biết đầu nào gốc, đầu nào ngọn.

    Các quan hiệp nghị mời Cống Quình tới hỏi: Sao, ông tính nói cái ấy đặng hay là không? Cống Quình chịu, lãnh về nhà tính. Sáng ngày ra, vua ngự, lập ban cho sứ vào chầu, Cống Quình (tr. 45) vào quì xuống tâu: chữ túc là lúa, chữ tử là con, là hễ, còn lúa con ăn con no con mập, hết lúa con mòn con gầy, thì là cây gòn[418]. Còn việc nói đầu nào gốc, đầu nào ngọn, thì xin xuống mé sông tôi sẽ coi.

     Vua quan cùng các sứ thấy đều theo xuống theo mà nghe nói. Dạy khiêng cây xuống. Ông Quình mới thả day ngang qua sông[419], thì nó phải day trôi theo giọt nước[420], đầu nào day trước ấy là đầu gốc.

     Đến sau vua sai ông Cống Quình đi sứ bên Tàu. Nhằm khi có các anh tấn sĩ[421] mới đậu. Thấy sẵn[422], lại nghe tiếng Cống Quình giỏi văn chương chữ nghĩa lắm, vua mới mời Cống Quình thử chơi ít bài, mấy tấn sĩ có tài làm thơ làm phú lẹ, hễ nhảy lên ngựa cầm viết lia, nhảy xuống thì đã rồi.

    Cống Quình cũng không sợ, chịu ra thi. Dẫn ngựa voi ra nghiêm trang tử tế, phát viết, mực, giấy má xong rồi, nghe hiệu trống đánh một cái, thì ai nấy nhảy lên ngựa. Cống Quình nhảy lên lấy viết huây huây ba cái lăng nhăng líu quíu, rồi nhảy xuống hô: Rồi! Người ta chưa ai rồi hết, đem vở lại nộp!

    Quan giám khảo coi không ra, hỏi chớ Cống Quình viết giống gì lăng nhăng coi không được. Cống Quình nói: Chữ bên tôi tháu[423] làm vậy đó, như ngài coi không đặng, để tôi viết lại chữ thảo hay là chơn tự cho ngài coi. Vậy mới viết thơ cũ thuộc lòng cho họ coi. Họ lấy cho được thứ nhứt. (tr. 46)

     Bữa kia quan Thừa tướng Tàu dọn tiệc, mời Cống Quình tới uống rượu chơi một bữa. Đàng sá đâu đó có đào hầm, để gạt cho Cống Quình sụp mà chết, kẻo để Tàu chịu thua An Nam xấu hổ, chiếu bông nệm gấm trải liệt địa cùng đàng[424].

     Ông Thừa tướng tới nhà mời và rước Cống Quình. Ra tới đàng có trải nệm bước xuống mời Cống Quình đi bộ cho mát, biểu Cống Quình một hai đi trước, Cống Quình không chịu. Nhường cho quan Thừa Tướng rằng: Tiên vi chủ, hậu vi khách . Quan thừa tướng mời gãy lưỡi[425] cũng không được, túng[426] phải ra đi trước, Cống Quình khôn, cứ bước theo dấu chơn Thừa Tướng thẳng tới nhà, khỏi sụp vào đâu hết.

     Ngày kia Cống Quình vui, muốn khuấy chơi[427] các quan triều một bữa. Chửng[428] mới viết thiệp cho mời các quan tối tựu tại nhà uống rượu chơi.

     Mặt trời chen lặn, võng giá các quan lải rải[429] tới. Cống Quình mua rượu nhiều, ve chén bày ra bộn bàng[430], còn biểu quân ở đàng sau nhà bếp cứ bằm thớt[431] hoài. Nghe bằm lộp cộp lạc cạc hoài. Các quan tưởng có khi Cống Quình dọn trọng thể[432] lắm. Chẳng ngờ cũng không thấy dọn chi.

     Cống Quình ngồi cầm khách, cứ rót rượu mời các quan, một chặp lại hối: trẻ coi lo dọn thoáng[433] đi bay. Nó dạ rân. Cứ thỉnh thoảng rót rượu mời uống khan hoài, các quan đã xoàng (tr. 47) xoàng đi hết, thì càng vui càng nói chuyện inh sình[434]. Cống Quình lại càng rót rượu đưa cho ông nầy ông kia; dập thêm hoài[435].

     Ngồi uống khan làm vậy cho đến hết nửa canh hai. Ông nào ông nấy, thôi say mèm, nằm thài lai[436] ra đó hết. Quân hầu đi theo, thì đã cho về hồi chiều hết rồi.

     Vậy ông Cống Quình biểu quân trong nhà ra đưa các quan về, lại dạy nó tráo dinh hết, tới đâu thì biểu mở cửa đem thẳng vào giường kẻo ngài say đã mê mết[437] rồi. Quân dạ dàn võng giá ra[438]. Võng các ông đem lộn dinh hết.

     Đến sáng ngày ra, ai nấy thức dậy ngó sao mùng mền khác lạ không phải nhà mình, xẻn lẻn[439] ra về ai về dinh nấy, biết bị Cống Quình khuấy chơi rồi, căm căm trong bụng[440]  giận ông Cống Quình.

     Mà ông Cống Quình ngoan[441] lắm chạy đón các quan đang đi vô chầu, nói: Cơ khổ[442]! Tệ quá! Hôm qua cầu vui uống rượu cầm chừng chờ trẻ nó dọn ăn, mà mắc bụng đói say sớm làm không ai ăn hết, thấy các ông say tôi hối quân võng các ông về kẻo để khuya nhiễm mù sương có khi khốn. Té re các ông báo tôi, thôi hôm nay thịt cá ê hề ăn không hết.

     Cách năm mười bữa, Cống Quình xin cấm chợ ba bữa để cho ổng phơi sách. Thiên hạ đồn Cống Quình phơi sách đâu đó rủ nhau đến coi. Đến bữa ấy ổng biểu quân đem chiếu trải giữa chợ, cổi (tr. 48) quần cổi áo ra nằm giữa đó. Người ta hỏi: Ủa! Nghe nói ngài phơi sách, mà sao ngài làm làm cái gì vậy! Ổng mới chỉ cái bụng ổng nói: Sách ở trong bụng, chớ sách ở đâu?

     Ông Cống Quình thường hay đi đó, mà ổng không có trả tiền, tháng kia qua tháng nọ ổng cũng không có trả. Quân đưa đò[443] nó mới đòi ổng, ổng nói: Thôi để mai mốt tao trả cho. Ổng về mua tre mua lá, chở ra giữa dòng sông, cất lên một cái chòi, viết ba chữ dán vào đó: Chửi cha đứa nào coi về học lại.

     Thiên hạ nghe ông Cống Quình làm gì lạ không biết, thì đua nhau tới đó mướn đò ra coi. Coi rồi vô, kẻ khác hỏi chớ giống gì vậy? Ai nấy đều nói: Nói không được, hãy ra đó mà coi lấy. Đò đưa đà không lập[444], lấy tiền cũng đã mê.

     Dỡ chòi rồi, quân chèo đò, nó còn đòi tiền ông Cống Quình nữa. Ổng mới nói: Bay mắc tao bây giờ thì có chớ, mà bay lại theo đòi tao nữa? Vậy chớ ai làm cho bay đặng mối mấy bữa đó?

     Chuyện Cống Quình còn nhiều điều dễ tức cười, mà như nói tinh những chuyện ấy[445], thì nó mất vui mất hay đi. Để xen chuyện nầy chuyện kia nhiều thứ thì hay hơn. (tr. 49)

 

31. Con chó với con gà.

 

     Con chó đi gặp con gà trống mới chào, rồi nói: Tôi trông cho gặp anh một chuyến mà hỏi một chuyện. Con chó mới hỏi: Trời phú tính cho anh hay, chớ phải chơi sao! Sao lại biết canh ba, lại khi gần sáng dậy mà gáy, ngày ngày cũng vậy. Con gà nói: Cái là trời đã phú tánh hễ tới chừng thì gáy.

     Rồi con gà mới hỏi: Còn như anh làm sao anh biết có người ta đi mà sủa?

     – Vốn cái tâm tôi thuộc đất: hễ động đất thì động tới tâm tôi, nên tôi biết.

     – Mà khi anh nằm dưới đất thì làm vậy, chớ như khi anh nằm trên ván thì biết sao được mà sủa?

      _ Chừng tôi ở trên ván, nghe chúng sủa, thì tôi bắt chước sủa hùa theo mà thôi.

 

32. Bốn anh thầy chùa làm phước mà phải chết.

 

     Có một thằng nài giữ voi, cắc cớ cỡi voi đi ngang qua thấy buồng dừa xiêm nạo, đánh đòng đeo đó mà bẻ[446], chẳng ngờ con voi nó đi tuốt đi, bỏ anh ta lại tòn teng đó[447]. May đâu bốn anh (tr. 50) thầy sãi đi qua, thằng chăn voi khóc la xin các thầy cứu. – Mô phật! Biết sao bây giờ! Thôi, ta lấy áo nhựt bình[448] ta, mà nằm bốn người bốn chéo, cho nó buông xuội xuống rớt vào trong ấy, thì khỏi giập xương.

     Nó ở trên nó buông tay rớt xuống, mắc cao quá, cái áo nó thụng lại mạnh quá, bốn cái đầu trọc cụng lại với nhau, đâu lại thêm cái buồng dừa rớt chụp lên trên, chết tươi đi, cả bốn thầy.

     Thằng chăn voi sống, không biết làm sao mới vác bốn cái thây ma đem về, để sau buồng. Đem ra một thây nằm đàng trước, chạy đi mướn người ta chôn. Giá cả xong rồi mới hỏi: Tôi nói trước với anh em, có chôn thì chôn cho tử tế, huyệt cho sâu! Anh tôi sống chẳng lìa tôi, vì thương tôi quá, nay chết rồi, sợ có khi cũng không muốn lìa, lại ảnh là người tu, có khi có phép.

    Các ảnh vác mai vác xuổng đi ra đào, nghề làm mướn trông cho mau rồi, về lấy tiền, mới đào sơ sài cạn cạn vậy, vác quách ra[449] dập lại, khỏa đất không dện[450]. Lăng căng về đòi tiền.

     Chủ đám ra đón nói: Cơ khổ! Các anh làm tệ quá, tôi đã nói trước, làm cho người ta, thì làm cho đáng ăn đồng tiền người ta. Đó, về đó mà coi. Làm sao ảnh lót cót[451] về nằm đó?

     Các ảnh về thấy nằm đó. Lạ dữ nầy! Vác ra lịch ịch[452], đào chôn nữa, mà trời đã gần tối, lật đật đắp lại đó, bỏ về hỏi tiền. Mới quày về thấy (tr. 51) anh chủ đám chạy ra kêu: Các anh thật bất nhơn quá! Đó, chôn chưa kịp khỏa đất, ảnh đã trở về nằm trỏng. Vào đó mà coi.

     Các ảnh giận lụm cụm[453], lại vác ra chôn nữa. Chôn vừa rồi, lại thấy chủ chạy ra la lối om sòm. Các ảnh nói: lạ nầy, mấy tôi đào sâu dữ lắm mà, mà còn dậy mà về được? Vác ra. Đào huyệt sâu hơ sáu bảy thước mới bỏ xuống dện diệt[454] tử tế. Thôi chuyến nầy chắc, dậy không được dâu. Kéo nhau về lấy tiền.

     Đi ngang qua cái cầu ngang, trời tối mờ mờ, thấy anh thầy sãi ở đâu ngồi ỉa đó[455]. Nó giận đã sẵn, nó mới chưởi: Mẹ cha thử! Về làm sao, về hoài về hủy đi vậy cà! Đạp anh thầy cho một đạp, rớt chủm[456] dưới sông, uống nước chết đi.

 

 

33. Anh làm quan, em làm dân.

 

     Hai anh em ruột đi học với nhau một thầy, tháng ngày sôi kinh nấu sử[457] với nhau. Tới kỳ ra đi thi, người anh đậu được làm quan trấn nhậm nhằm chỗ người em ở. Mà vô tình, chẳng có đoài hoài tời lui thăm viếng gì hết thảy. Thiên hạ xầm xì xầm xả[458] với nhau: Lạ! Sao anh em ở với nhau như mặt trời mặt trăng[459]? (tr. 52)

     Người em mới bỏ chỗ ấy, mà xuống dưới rừng sác[460] mà ở. Thì may[461] người anh làm quan, đi vãng dân[462] tại chỗ ấy, mới ghé lại nhà, lấy viết, viết bốn câu thơ mà hỏi:

Tư bề sóng bổ xao.

Ở đây nhờ lộc nào?

Con cái đặng mấy đứa?

Sưu thuế đóng làm sao[463]?

     Người em lấy viết, viết lại bốn câu nầy:

Tư bề sóng bổ xuyên.

Ở đây nhờ lộc thuyền.

Vợ xé gai chằm lưới.

Chồng đánh cá đổi tiền[464].

 

 

34. Thằng chồng khờ, ngồi ăn có dây dụi.

 

     Có hai vợ chồng. Vợ thì lanh lợi tử tế, còn chồng thì có chứng láu ăn[465]. Hễ ngồi lại lua láu[466] ăn hối ăn hả. Cho nên vợ nó lấn lướt[467] nó đặng.

     Bữa kia có anh em bạn tới nhà chơi, nó nói với vợ nó: Có khách, mầy phải thưa phải dạ cho tử tế, kẻo người ta chê cười. Vợ nó ừ. Một lát nó làm bộ xăng văng[468] chạy vô hối dọn cơm, thoắng đi mà ăn[469]. Con vợ thấy nó đặng nề[470] làm rộn bộ[471] quá, ních chiếc đũa bếp lên đầu[472] nó một cái cốc. (tr. 53)

     Nó giả đò nó đánh vợ: Tao đã biểu cho săn tay[473] nghé! Chậm sao hơn là rùa!

     Khách nghe mới la: Cái anh thì thôi, để thủng thẳng cho chỉ mần! Đói khát gì mà hối dữ vậy?

     Lộn ra ngồi cầm khách một chặp lại chạy vô. Nó lại đánh cho nữa[474]. Đến chừng gần bưng cơm, vợ nó ngắt nó vô dặn: Nầy! Có người ta, ăn thì phải cho tề chỉnh, đừng có giữ theo chứng cũ gắp lia băng cung[475] mà xấu hổ, chúng cười. É, mà anh hay quên lắm! Để tôi cột cái dây dụi, hễ chừng nào tôi giựt cái dây dụi, thì gắp thì ăn.

     Xong xả rồi, ra mời anh em ngồi lại. Ban đầu còn giữ, khi vợ nó nhắp[476], thì nó và nó ăn. Vợ nó mắc xớ rớ trong bếp. Rồi thì con gà chạy ngang qua, mắc dây giựt lia! Nó ở ngoài tưởng vợ nó giựt lia, bỏ đũa xuống, hai tay bốc thuồn vào họng. Khách ngồi sửng, không biết làm sao, mà nó làm dị cục làm vậy.

 

 

35. Đại Trượng Phu, Chí Quân Tử với Phú trưởng giả.

 

     Thuở xưa kia có hai người anh em bạn thiết, một người tên là Đại Trượng Phu, người kia tên là Chí Quân Tử. Anh trước giàu có, anh sau thì nghèo. Năng tới lui chơi bời với nhau. (tr. 54)

     Hai vợ chồng anh Đại Trượng Phu thấy anh kia nghèo cực, thì nói: Thôi anh gnhèo không có vốn mà buôn bán, có muốn lấy năm ba trăm chi đó thì lấy, mà dùng làm vốn đi buôn cho té ra một hai đồng, mà chi độ thê nhi.

     Anh Chí Quân Tử nghĩ đi nghĩ lại, mình lấy thì được đó, hai vợ chồng cũng tử tế có lòng thương, mà mai sau rủi có lỗ hay là điều nào, thì biết lấy chi mà trả. Nếu không dám lãnh, nghèo thì chịu vậy: Cám ơn anh chị có lòng với em út! Tôi tính cũng không buôn bán chi, mà hòng lấy của anh chị khó lòng.

     Vợ chồng Đại Trượng Phu, nhà thôi đã đủ đồ, chẳng thiếu vật chi, đồ nữ trang cũng hiếm chẳng thiếu gì, mới tính với nhau lấy vàng đem cho thợ khéo, kéo chỉ ra đậu một con rùa vàng để chơi. Đưa năm lượng.

     Cách ít lâu, Quân Tử lại nhà chơi. Đại Trượng Phu, mới hỏi:

     _Anh đã có thấy rùa vàng hay chưa?

     – Rùa vàng hiếm chi, thiếu gì?

     – Không, không phải rùa vàng ngoài đồng đâu. Cái nầy là rùa vàng làm bằng vàng thật.

     – Cái thì chưa thấy.

     Đại Trượng Phu mới biểu vợ đi lấy đem ra coi. Coi rồi để trong cái dĩa, ngồi uống rượu, nói chuyện hoài, rót thêm rót thêm hoài, hai anh em nằm ngủ quên đi. (tr. 55)

    Thằng con trai anh Đại Trượng Phu đi học trường xa, chạy về thăm nhà. Thấy con rùa tốt gói trong khăn cầm, đem đi chơi. Đến khi tỉnh dậy, quên lửng con rùa vàng.

     Quân Tử từ giã kiếu về, một chặp lâu Đại Trượng Phu sực nhớ lại con rùa, chạy về hỏi vợ, vợ nói không cất. Khó a! không biết tính làm sao, không có lẽ nghi cho anh em, người có bụng dạ tốt.

     Bữa kia Đại Trượng Phu đi lên nhà Quân Tử chơi, thì hỏi mánh rằng: Hôm trước đó, con rùa vàng anh có cầm về chị coi không? Chẳng lành thì chớ! Quân Tử sợ anh em nghi, thì chịu bốc lấy mình có cầm về. Đại Trượng Phu mới nói: Thôi để đó mà chơi, hề gì.

     Bước hơn ra về, hai vợ chồng Quân Tử không biết tính làm sao lo mà trả cho được, người ta thấy mình nghèo, người ta nghi cũng phải, không phép chối[477] đi. Vậy mới bán nhà bán cửa, dắt nhau đi tới với ông Phú Trưởng Giả giàu có muôn hộ, vào lạy ổng, xin ở làm tôi, mà xin năm lượng vàng[478] làm rùa mà trả cho ảnh. Ông Phú Trưởng Giả nghe biết việc, thì lấy vàng, kêu anh thợ làm con rùa vàng rước tới làm, rồi giao cho hai vợ chồng đem về trả. Mà không cho cố thân[479], giúp mà thôi. Đàng kia cũng không chịu, cứ ở làm bộ hạ chơn tay[480].

     Cách đôi ba bữa, con trai Đại Trượng Phu, (tr. 56) chơi no[481] con rùa, cầm về đi thăm nhà luôn trót thể, vào mới hỏi: Cha mẹ thì thôi! Hổm nay là tôi, phải người ta lạ, người ta đã lấy mất con rùa vàng đi còn gì? Hai vợ chồng chưng hửng, lấy làm lạ: Mẻ! Rùa nào con mình lấy đi chơi? Rùa nào anh kia đem trả, không hiểu được.

     Mới định chừng có khi anh Quân Tử sợ mình có nghi lòng ảnh, nên mới làm của khác đem mà thế.

     Đại Trượng Phu lật đật chạy lên trên nhà Quân Tử hỏi thăm, thì người ta nói: Quân Tử đã bỏ xứ đi đâu trên ông Phú Trưởng Giả, cố thân mà lấy vàng thường con rùa vàng nào đó, nghe nói vậy, không biết nữa.

     Nghe vậy lại càng thêm lo. Tìm tới nhà Phú Trưởng ông, hỏi thăm có hai vợ chồng Quân Tử hay không. Người ta nói có. Kêu ra, hai đàng khóc ròng. Đại Trượng Phu vào trả con rùa vàng cho Phú ông, mà lãnh vợ chồng Quân Tử về. Phú ông là người nhơn[482], không chịu lấy rùa: Ảnh có mượn của tôi sao anh trả? Còn hai vợ chồng Quân Tử, tôi có bắt buộc chi, mà anh xin lãnh?

    Tính không xong, trả vàng không lấy, hai vợ chồng Quân Tử mắc nợ không đi, trả rùa cho Quân Tử, Quân Tử không lấy. Túng mới đề điệu nhau ra quan, mà xin quan xử.

    Té ra ba nhà hết thảy đều thật là người ngay lành trung trực, chẳng biết kể của cải ra (tr. 57) giống gì[483], nguyên lo tu đạo đức, lấy nhơn ngãi mà ở với nhau. Ấy mới thật là người quân tử.

 

 

36. Chú lái ăn 30 đồng thịt heo.

 

     Chú lái mới xuất thân, mà chứng người rít róng hà tiện hà tặn[484] quá, vắt chày ra mỡ[485] đặng. Bạn bè[486] đi với va, ăn cực ăn khổ lắm. Tới chợ ghé lại mua ăn, sai một thằng bạn lên chợ, mua ba mươi đồng[487] thịt quay, đem xuống hối nó xắt ra: Bay lấy cái thớt, bay xắt cho tao một dĩa, còn bao nhiêu bay ăn với nhau.

     Ba mươi đồng thịt xắt một dĩa, thì có lẽ nào còn dư giống[488] gì?

 

37. Tham ăn với con.

 

     Người kia có vợ, lại có một đứa con nhỏ ba bốn tuổi. Ở không, mới chạy ra ngoài đồng, tát ao bắt được ba con cá rô. Mà chứng người tham ăn. Lụi cụi[489] đi chẻ gắp nướng ăn. Thằng con thấy thèm, khóc đòi ăn. Mẹ nó dỗ: (tr. 58)

     Cha chả! Kìa con cá vàng dữ! Để rồi cha cho con ăn. Cha nó mới nói: Vàng gì? Nghệ hay sao mà vàng? Con nó lại khóc nữa. Mẹ nó dỗ không nín. Mẹ nó mới nói: Kia cà, cá béo dữ, để rồi cha mầy cho ăn. Thằng cha lại đổ quạu: Cá đó, chớ heo hay sao mà béo?

     Thằng con cứ khóc hoài, dỗ hết sức không nín. Mẹ nó bồng lại chỉ gắp cá: Nầy con! Cá nướng kia cà, để chín, rồi cha cho coi con nào nhỏ, cha cho con một con mà ăn. Nín đi, đừng có khóc. Cha nó lại càng quạu: Ba con bằng nhau hết, không có con nào nhỏ.

 

 

38. Ăn cướp buồm vì thằng bạn khùng.

 

     Chiếc ghe bản lồng[490] đi hụt đoàn ở sau, chèo bơ vơ đi tới khúc vắng, ăn cướp ra chận đánh. Nào bạn bè, nào lái đều buông chèo, chịu phép, tính cự không lại. Chú lái ra ngồi chò hỏ[491] sau bóng lái, buồn xo, cái mặt bằng hai ngón tay tréo[492].

    Có một thằng bạn khùng khùng, ngồi xó khuông bếp, tay cầm hai chiếc đũa bếp. Ăn cướp bước qua, nó cầm đũa bếp chun vào trong mui, dỡ khoang ra, ngoắc ăn cướp vào mà dọn:

     Đây (tr. 59) nầy, vào mà dọn. Miệng thì kêu, tay thì cầm đũa bếp ngồi đó tỉnh táo, như tuồng không có chuyện chi vậy.

     Anh đầu đảng ăn cướp phát nghi: Mẻ! Thằng nầy, thế có khi tài nghề gì lắm đấy, nên nó làm bộ tỉnh queo. Thôi, buồm ta buồm[493]! Xô ghe ra đi mất.

     Việc cơ may nhờ anh bạn buồm[494], làm bậy, mà khỏi bị ăn cướp.

 

 

39. Ăn tham húp cháo cứt rùa.

 

     Có hai vợ chồng nghèo khổ làm bạn với nhau[495], mới được một ít lâu. Mà người chồng thì có tánh hay ăn tham. Bữa kia đi ngoài đồng, gặp con rùa, bắt đem về, mình ăn không có đã thèm. Vậy nó giấu đi.

     Về nhà nói với vợ. Thôi, bây giờ ăn riêng, tao làm tao ăn, mầy làm mầy ăn. Mới dừng ngang[496], chia hai cái nhà ra. Xong xả rồi, nó mới lấy chảo, bắt nước lên, mà làm thịt con rùa, nấu cháo ăn.

     Mà nghề đờn ông cụ kệ[497] không biết nấu, cho nên bắt con rùa để sống bỏ vào chảo nước. Bỏ đó chạy đi kiếm rau cỏ về mà ăn. Con rùa ỉa cho (tr. 60) một bãi trong chảo, rồi nước nóng thét lấy[498], bò ra đi mất, chun qua bên chỗ vợ nó ở.

     Đi mua rau về, chạy vô thăm, thấy cứt nổi lêu bêu, khen: Chả! Mới nấu nó đà nát bấy ra! Nhắc xuống đem ra húp cứt rùa một bữa no bụng, lại có[499] khen ngon.

     Bữa sau vợ nó xí được con rùa, làm thịt nấu nướng tử tế, qua mời chồng qua ăn. Hỏi thịt gì? Nói thịt rùa. Nó lại có khen: Chà bay! Con rùa có thịt béo biết ngon nầy! Hôm trước tao có bắt được một con, mà tao nấu nó ra nước hết.

    Từ ấy mới thôi, mới hết ăn riêng, ở riêng.

 

 

40. Làm tỉnh được việc, rộn không xong

 

     Có ông kia giàu có, mà nhà ở cheo leo một mình giữa cái cù lao[500]. Bữa ấy nước ròng, ăn cướp rủ nhau tới đánh, ghe nó đà áp vào tứ phía. Trong nhà bấn loạn[501] sợ đà té đái, mà ông chủ gượng làm oai, họa may nó có kiêng nó đi đi chăng, mới làm bộ kêu trẻ thức dậy thắp đèn.

     Trẻ thưa:

     _Có ăn cướp nó đà vây bốn phía.

     Ông chủ nói:

    _Vậy thì càng hay, may cha chả là (tr. 61) may! Bấy lâu nay trông cho các ảnh tới một chuyến, mà không thấy! Thôi, bay mở cửa ra hết cho khoảng khoát.

     Các bợm[502] ở dưới ghe nghe nói, thôi đà nổi ốc cùng mình[503]: Mẹ ôi! Lão nầy có khi tài lắm đây bay? Không biết cơ mưu nó làm sao mà mình dám vô... Thôi, chi bằng ta lui đi chỗ khác.

    Hè nhau chống ghe đi ráo[504].

 

41. Nước tới trôn mới nhảy

 

    Thuở ông Thượng trấn Nam Kỳ lục tỉnh, thì thiên hạ bằng yên[505]. Trộm cướp, gian giảo tịnh vô không có. Là vì người có oai lắm, người là bộ, mà tính khí cang cường, oai dõng nghiêm nhặt, binh dân ai nấy đều khiếp vía. Hễ dạy chém thì chém, không ai dám cãi lịnh. Quờn người lớn đặng tiền trảm hậu tấu.

Bữa kia người đang nghỉ trưa, mới biểu đem chém thằng kia ở phòng trà. Rồi người thức dậy, bộ buồn bực. Tới buổi ra khách, đứa tội nhơn bị án tử hồi nãy dẫn ra, mà nó lấy cái gáo múc nước kẹp dưới háng ra, nhảy cà tứng trước mặt ông ấy. Thì ổng tức cười, hỏi nó làm gì vậy? Nó mới gởi: Bẩm lịnh ông lớn, tôi nói (tr. 62) đã cùng, nước tới trôn mới nhảy, biết sao bây giờ. Thì ông lớn tha nó đi.

 

 

42. Trâu mọt chảy nước

 

     Thằng cha kia[506] nghèo, dại đặc không biết làm một cái gì hết. Nghe người ta nói nghề làm ruộng, thì khá chắc ăn. Vậy nó mới vác tiền đi coi trâu mà mua. Đi cùng xứ, tối ngày vác tiền về. Vợ nó hỏi: Chớ đi mua trâu, làm sao một ngày trọn, mà không đặng con nào hết? Nó mới nói: Trâu hiếm lắm, thiếu gì? Mà lựa không được con nào nên thân mà mua, con nào con nấy mọt ăn, chảy nước ra hết. Là vì nó ngó thấy trâu đái, nó nói trâu có mọt, chảy nước dưới bụng.

 

 

43. Trần Miên Khố Chuối

 

Thuở xưa có một anh học trò khó, tên là Trần Miên[507] Khố Chuối, con nhà khó khăn, mà hay siêng năng cần quyền[508] việc học hành, nghèo là quá đỗi nghèo, áo quần xơ xải[509] rách te rách (tr. 63) nát, vá trăm cật, lấy là chuối mà đóng khố. Theo chịu lòn học trò giàu, mà nhờ hột cơm rớt, ăn những cơm thừa cá cặn. Chúng bạn chẳng nghĩ hân hủi[510] đày đọa tất tưởi bắt quét trường, múc nước, mài mực. Tối tăm đèn dầu chẳng có, theo nhờ sáng trăng cùng là nháng đốm đốm[511] mà coi mà học, đêm ngày sôi kinh nấu sử chẳng nệ khó nhọc.

Đến buổi mở hội thi, thì chúng bạn tựu trường, anh ta cũng theo ôm trắp[512] cho chúng mà đi. Ai nói là tên học trò? Tưởng là đệ tử theo phò các thầy quần dài áo rộng. Mà nhờ hoàng thiên bất phụ độc thơ nhơn[513], phát phước thì đậu, sau được vinh vang. Còn mấy anh em bạn thì rớt hết.

Ở đời có kẻ giả dại qua ải cứ thủ phận, bèo theo bèo, sen theo sen[514], lần hồi mà trời độ vận[515] lập thân nên. Con nhà học trò cũng nên lấy đó mà bắt chước, lấy đó mà suy hai chữ thạnh suy, là đường con tạo hay đi với đời.

 

 

44. Bài thơ cái lưỡi.

 

Ông Nguyễn Đăng Dai[516], là người công thần với nhà nước, đánh Nam dẹp Bắc, trấn cõi Bắc mấy năm, thiên hạ bình yên, bá tánh an cư lạc nghiệp. Đang giữa đám công danh, lâm (tr. 64) bịnh mà chết. Để lại một người con, học hành chữ nghĩa văn chương cũng chẳng thua gì ai. Nối nghiệp cha, cũng làm quan ở phẩm hàm, hưởng lộc nước.

     Bữa kia nhằm lúc chuyện ông Hoàng Bảo[517] mới rồi, vua đãi yến các quan, ngài ăn cắn nhằm lưỡi, luôn dịp ngài ban mời các quan làm thơ chơi. Lấy việc ăn cắn nhằm lưỡi làm đề. Ai nấy đều làm. Coi thơ các quan rồi, tới con ông Dai, quì xuống dưng bài thơ mình. Bài thơ tứ cú đặt như vầy:

Ngã sinh chi sơ, nhữ vị sinh,

Nhữ sinh chi hậu, ngã vi huynh.

Kim triêu hạnh hưởng cao lương vị,

Hà nhẫn độc thương cốt nhục tình[518].

     Bài thơ làm thì hay, mà có xâm[519] trách vua sao chẳng nghĩ tình anh em cốt nhục, mà nỡ ra tay hại ông Hoàng Bảo là anh. Cho nên vua dạy đem ông ấy ra cửa Ngọ môn, mà phạt ít chục hồng côn[520]. Rồi đem vàng bạc thưởng tài người hay.

 

 

45. Anh học trò sửa liễn cửa ngõ phủ ông Hoàng.

 

     Có người học trò còn nhỏ tuổi mà đã già chữ nghĩa[521] lắm. Lúc dọn phủ[522] cho đức ông nhứt (tr. 65) ở, thì triều đình có hội nhau lại, mà đặt một câu liễn cửa ngõ đức ông. Đắp chữ vôi thếp vàng tử tế.

     Hai câu ấy đặt như vầy:

        Tử năng thừa phụ nghiệp,

                    Thần khả báo quân ân[523].

Anh học trò đi ngang qua cửa, thấy câu liễn, đứng lại coi, không ưng ý, đi học về giận đứng lại đó, không cất nón[524]. Quân canh nhựt[525] cửa đó, liền bắt, hỏi sao vô phép không cất nón? Có biết đó là phủ ông nào chăng?

     Người học trò nói:

     _Tôi biết, mà mắc tôi giận, thấy câu liễn đặt không nhằm, nên quên lấy nón xuống.

     Quân mới dẫn vào Thái tử Đông cung. Đức ông hỏi. Người học trò cũng cứ khai thiệt làm vậy. Chừng[526] đức ông cho mời đình thần vào, mới kể tự sự cho các quan nghe, rằng tên học trò chê câu liễn các quan đã đặt ngoài cửa.

     Vậy mới hỏi học trò, vì làm sao mà chê, bây giờ có dễ sửa lại hay không? Thì anh học trò nói: Đặng. Đức ông biểu: Bẻ làm sao thì bẻ đi[527], rồi sửa đi thử coi. Anh học trò mới bẩm:

     Câu liễn ấy thất lễ, là vì đặt con đứng trước cha, tôi đứng trước vua, làm vậy sao cho phải?

     – Ừ, nói nghe được. Mà bây giờ sửa lại làm sao?

     – Bẩm lịnh các ông lớn, sửa lại như vầy, thì hay quyết đi mà thôi. (tr. 66)

Phụ nghiệp tử năng thừa

Quân ân thần khả báo

     Các quan ai nấy đều khen. Vua cho người ấy đậu tiến sĩ, lại ban cho một ngàn quan tiền thưởng tài, triều đình lại thưởng ít ngàn nữa.

 

 

46. Trét chai cho trơn

 

    Tên thợ lắp vò[528] kia ngồi nơi trại[529] một mình, đang nấu chai mà trét ghe. Xảy đâu có một tên trên rẫy cỡi lừa đi ngang đó, thấy lạ, mới đứng lại, nhảy xuống, bước vô coi và hỏi rằng: không biết anh nấu chi đó hé?

      – Chú mầy không thấy nấu chai đó sao?

      – Nấu chai làm chi vậy, anh?

     – Nấu chai trét ghe, chớ làm chi? Thuở nay không thấy người ta trét ghe sao?

    – Tôi ở trên rẫy[530], ghe cộ đâu mà thấy? Mà trét làm chi vậy, anh?

    – Khéo hỏi không trét cho nó trơn, cho ghe đi cho mau.

    _ Vậy hà!... Tôi không có ghe, mà có con lừa đây, nó chạy tợ rùa bò. Không biết ước chừng trét chai nó, nó có trơn, có chạy mau hơn không?

    – Mau lắm chớ!

    – The thía[531]! Không dám nào xin anh làm ơn trét giùm nó cho tôi chút, được không?

    – Sao không được? Đâu chú mầy vén cạy đuôi nó lên, qua trét giùm cho mà coi. (tr. 67)

     Tên rẫy mừng, dắt lừa lại, vén luốc đuôi lên[532], chú thợ múc một vá chai sôi, bắt tạt vô chỗ ấy đó... Con lừa bèn nhảy nai, phóng riết... Tên rẫy mừng khen rằng: Phép hay thiệt! Cám ơn anh... Ủa cơ khổ! Thôi rồi! Nó chạy mau quá, mất rồi!... Tôi theo bắt sao cho kịp?... Thôi, anh chịu khó làm ơn trét tôi luôn thể, trét bằng hai, cho tôi rượt cho kịp.

      – Mặc ý.

     Chú thợ tạt cho một vá chai sôi, anh ta nhủi xuống la lên:

     _Cha ôi[533]! Chết tôi! Trơn đâu mà chạy!

 

 

47. Thầy bói bị trác[534] cổi quần vắt vai đi giữa chợ.

 

     Thằng cha thầy bói kia đi đâu, có mướn đứa dắt để chỉ chừng đường sá. Mà nhằm đứa lý lắc[535] hay chơi pha lửng[536], dặn nó hễ có mương thì nó la lên, cho thầy biết mà nhảy kẻo sụp.

     Đi ngang qua chợ đông, nó muốn khuấy chơi, nó nói: Mương, thầy, mương! Nhảy, thầy, nhảy! Thầy nghe nói nhảy một chặp. Rồi nó nói: Đây có cái hào lớn, thầy cổi quần ra mà lội mới được. Anh thầy tin tưởng là thật, cởi tuột quần ra vắt vai đi xung xăng[537] giữa chợ. Thiên hạ thấy trêu làm vậy, thì cười om cả chợ. (tr. 68)

 

48. Hà tiện đến chết cũng còn hà tiện.

 

     Ông kia cả đời những hà tiện rít róng[538], tiện tặn, không dám ăn dám mặc, bo bo giữ của[539] hoài. Xán bịnh xuống[540], tính thế cầm không đậu, mới kêu ba đứa con vào trối trăng mọi sự. Hỏi người con thứ tư: Cha chết rồi, con tính chôn cất làm sao, cho khỏi tốn kém? Thì nó nói: Mua một chiếc đệm rách bó xác vác đi, đào lỗ dập lại, thì khỏi tốn cơm tốn tiền.

     Mới hỏi đến người con thứ ba, thì con thứ ba nói: Cha một mai có nhắm mắt lại rồi thì rinh mà chuồi xuống sông[541] thì xong.

      Cha cũng chưa ưng bụng: Vậy cũng chưa hay mấy, vì phải mất công mà vô ích.

      Mới kêu con trưởng nam đầu lòng ra hỏi: Trẻ em[542] nó tính làm vậy đó, mà như con, con tính làm sao? Vậy con thứ hai mới thưa với cha rằng: Cha mạng một[543] đi rồi, thì con chất lửa thui cái xác đi, lấy tro làm phân trồng hành, bán có lợi. Cha nghe nói ưng ý mới chịu, mà lại khen: Con thiệt giống ý cha. Tính vậy là phải lắm.

      Hà tiện làm sao đến đỗi đã gần chết hòng lìa bỏ mọi sự[544], mà hãy còn so hơn tính thiệt, tính lợi tính hại! (tr. 69)

 

49. Ba anh dốt làm thơ.

 

     Có ba anh học trò dốt, ngồi nói chuyện với nhau. Mới nói: Mình tiếng con nhà học trò, mà không có làm thơ làm phú với người ta, thì té ra mình dở lắm. Mấy người kia mới nói phải. Hè nhau[545] làm ít câu chơi.

     Anh thứ nhứt thấy con cóc ở trong hang nhảy ra, mới làm câu mở như vầy:

Con cóc trong hang, con cóc nhảy ra.

     Người thứ hai tiếp lấy:

Con cóc nhảy ra, con cóc ngồi đó.

     Người thứ ba:

Con cóc ngồi đó, con cóc nhảy đi.

     Lấy làm hay lắm. Rồi nghĩ lại giựt mình, vì trong sách nói: Hễ học hành giỏi, thì sao cũng phải chết. Cho nên tin như vậy, mới biểu thằng tiểu đồng ra đi mua ba cái hàng đất[546] để dành cho sẵn đó.

     Tiểu đồng lăng căng[547] đi mua, ra ghé quán uống nước, ngồi xớ rớ[548] đó. Có anh kia hỏi nó đi đâu? Mua giống gì[549]? Thì nó nói: Ba thầy tôi thông minh trí tuệ làm thơ hay lắm, sợ lời sách quở[550], có khi không sống, nên sai tôi đi mua ba cái hòm.

     – Mầy có nghe họ đọc thơ ấy không?

     – Có.

     – Mà có nhớ, nói lại nghe chơi, coi thử sức nó hay làm sao! (tr. 70)

     Thằng tiểu đồng mới nói: Tôi nghe đọc một người một câu như vầy:

Con cóc trong hang, con cóc nhảy ra,

Con cóc nhảy ra, con cóc ngồi đó,

Con cóc ngồi đó, con cóc nhảy đi.

     Anh kia nghe tức cười nôn ruột, mới nói với tiểu đồng: Mầy chịu khó mua giùm cho tao một cái hòm cho luôn trót thể[551].

     Tiểu đồng hỏi: Mua làm chi? Lão nọ mới nói: Tao mua hờ[552] để đó, vì tao sợ tao cười lắm, có khi cũng chết theo ba thầy làm thơ đó nữa.

 

50. Bốn anh học trò đặt thơ trong chùa.

 

     Bốn anh học trò đi đường, ghé vào chùa chơi. Ngồi coi ba bàn thấy tượng đồ treo thờ đó, mới rủ nhau làm ít câu thơ chơi.

     Anh thứ nhứt thấy tượng Quan Đế, thì mở rằng:

Hớn vương ăn ớt mặt đỏ gay!

     Người thứ hai thấy tượng Quan Bình, thì đặt:

Bên kia Thái tử đứng khoanh tay.

     Người thứ ba ngó quanh ngó quất, thấy tượng Châu Xương, thì đặt rằng:

Thằng mọi râu rìa cầm cái mác. (tr. 71)

     Còn anh thứ bốn ngó ra, thấy con hạc đạp lưng qui, thì thêm:

Ngoài nầy cò quắm đạp cần thay[553].

 

51. Học phép hà tiện.

 

     Anh kia đi tìm thầy dạy học phép hà tiện. Tới nhà thầy, hỏi thầy phải mua chi mà làm lễ cúng tổ. Thầy mới biểu đi mua một cái bánh tráng mà thôi, đừng có mua gì nữa mà tốn tiền.

     Nó mới đi chợ mua một cái bánh tráng, lại có mua một con gà, ôm về. Thầy nó thấy gà thì la: Cái thằng dại, ai biểu mua gà làm chi cho uổng của? Học trò mới thưa với thầy: Tôi tính làm vầy mới mua gà: là khi bẻ bánh tráng mà ăn, thì làm sao cho khỏi rớt vụn vằn xuống cũng uổng, nên mua con gà, để phòng khi có rớt mảnh mún[554], thì nó lượm nó ăn, lớn lên thì bán được lời.

     Thầy nghe nói lý ấy, thì nói: Thôi, mầy hà tiện quá cha tao[555] đi rồi, còn đi học gì nữa?

 

52. Thiên lực, không phải nhơn lực.

 

     Ông kia làm quan tước phẩm cũng đã cao. Mà bởi công mình có chí học hành, chớ (tr. 72) chẳng phải là nhờ có ai đùm bọc nưng đỡ[556] mà làm nên. Cho nên đề một tấm biển hai chữ Nhơn lực treo giữa nhà. Mà người vợ bé cũng là tay hay chữ, ra vô thấy chữ Nhơn lực, thì giận chịu không được.

      Bữa ấy chồng cô ấy đi việc quan khỏi, ở nhà cô ấy bắt thang lên, thêm vào hai ngang[557], mà sửa ra chữ Thiên lực. Chồng về ngó trực lên thấy Thiên lực, thì hỏi trong nhà ai mà cải chữ thiên làm vậy. Thì người vợ bé ra chịu sửa[558]. Ổng lại hỏi: Chớ sao mà nói Thiên lực? Cô ấy thưa rằng: Người sinh ở thế, mạng hệ ở trời, mọi sự cũng nhờ mạng trời dạy, trời khiến mới nên. Có ai mà bởi sức riêng mà làm nên được đâu?

      Ông ấy mới nói: Có ở đâu: Tao đây cực khổ từ bé đến lớn, lo học hành hết hơi hết sức, mới ra làm vậy, nào có thấy sức trời giúp chi mô? Ơ, mầy nói làm vậy thì thôi, để coi thử cậy sức trời có xong gì không cho biết[559].

      Ổng đuổi cô ấy đi, lấy áo quần với đồ nữ trang lại hết. Để cho cái áo cái quần rách xài xể[560] bận mà đi. Vậy cô ấy ra thắp đèn nhang khói, mà vái với trời, xin: hễ chính ngọ tôi ra đàng mà gặp một người đờn ông nào, thì ấy là chồng tôi, được mà gởi tấm thân mà nhờ.

      Khấn vái xong xả, ra đi. Đi tới cái cầu vừa trưa đứng bóng, gặp một người đang câu cá, bộ quê mùa dốt nát, rách rưới túm trước túm sau[561], (tr. 73) mới lại mới hỏi: Chú kia, chú ở đâu mà đi câu đó, nhà chú ở đâu? Người câu cá mới xớ rớ[562] thưa: Tôi nghèo khổ, ngày đi câu cá, tối về ngủ trong hang đá, có che ba cái lá khô kia kìa.

     Vậy cô ta xách gói vào hang ở đó, nấu cơm nấu nước dọn dẹp tử tế, có mâm trên mâm dưới bỉ bàng[563]. Anh kia tới buổi cuốn câu vác về nghỉ. Bước vào hang thấy mâm cao cỗ đầy, thì lấy làm lạ lắm. Cô kia mới mời chú chàng ngồi lên trên, còn cô ấy ngồi dưới.

     Ăn rồi cô ấy mới nói sự tình trước sau, lại bày lời mình khấn vái xin gặp ai đang chính ngọ, thì lấy người ấy làm chồng. Vậy bây giờ thiếp đã thề nguyền làm vậy, xin chàng cho thiếp theo mà làm vợ. Người kia nói rằng: Phận tôi khác, phận cô khác. Cô là người dung nhan tài sắc, tôi là đứa bá vơ khốn nạn[564], làm làm vậy sao xứng. Cô kia rằng: Chẳng hề gì đều ấy mà lo, việc trời đã định vậy, thì hay vậy.

     Chồng cứ lệ cũ, thường bữa vác cần câu đi câu cá. Vợ ở nhà dọn dẹp, sắm áo sắm quần cho chồng mặc, đêm lại vợ khuyên chồng thôi đi câu đi. Đem tiền bạc ra, biểu đi chơi bời, tới đám tới đình cho quen, cho biết việc đời, lịch thiên hạ sự[565] với người ta.

     Anh ta đã dốt lại khờ, chiều theo ý vợ, cột tiền đi chợ búa quán xá chơi. Ngửa nón ra, mua bún mắm nêm[566], đứng mời ai nấy, không ai ăn. Giận mình có của, mời người không ai thèm. (tr. 74) ăn, mà vợ căn vặn biểu đi làm quen làm lớn[567] với người ta. Vậy mới mua thêm đồ, vào chùa gần đó nghỉ, thấy tượng phật nhiều, thì lại mời ăn. Tượng ngồi trơ trơ mặt địa[568], không ừ hử nói đi nói lại gì hết. Nổi nóng mới lật ngửa các tượng ấy xuống, lấy bún mắm nêm đút trây[569] cả miệng cả mồm: Khinh người ta chi làm vậy? Ở sao bất lịch sự quá!

     Xong rồi bỏ phật nằm ngửa nằm nghiêng đó, xách nón về. Mà phật linh. Người ta vô chùa cúng, thấy tượng ngã chinh chòng[570], thì lo thưa với làng với xã. Thiên hạ tới coi đông nức[571], mà dựng dậy không được. Phật hờn trì xuống[572] không chịu dậy, lại cho ôn dịch chết dân trong làng nhiều lắm.

     Làng báo với quan địa hạt, quan lại báo bộ[573]. Vậy vua giáng chỉ: Hễ ai dựng tượng lên được, thì cho chức quan lớn. Người vợ thấy yết thị dán, về học lại với người chồng. Chồng nói: Tưởng là chi, cái điều dựng phật, thì tao làm dư đi chớ, tao lật xuống đó. Hôm trước tao mua bún thịt bánh trái đem vào đó ăn, thấy các ổng tử tế mời họ ăn, họ làm lẽ[574], tao giận, tao vật họ xuống, tao nhét đồ ăn và đổ rượu cho họ đó. Vợ hỏi: Có chắc làm vậy hay không? Lão chồng[575]: Sao lại không chắc? Hổm tao vật họ xuống đó tao đi, bữa sau tao vào nữa, thấy còn nằm, tao dựng dậy tao lại mời nữa. Họ cũng cứ miếng cũ làm đời làm lẽ[576], tao giận tao lật vật họ xuống lại. (tr. 75)

     Vợ mới biểu chồng ra đình, đánh mõ lân[577] cho làng xóm tựu lại, cho có đông người ta coi, rồi chịu ra mà dựng tượng lên. Vậy nó dựng dậy được. Thiên hạ mừng rỡ khen ngợi.

     Ít bữa tờ tư về tỉnh, tỉnh cụ sớ[578] về bộ, bộ làm sách tấu. Vua ban phong quờn cao lộc cả[579], lại triệu về dẫn kiến[580]. Thình lình đâu xa ngựa quân gia tới hang người ở, lều tranh chiếu rách, thấy hai vợ chồng nghèo cui cút[581], một ngày tới tối những đi câu cá mà ăn. Bây giờ vinh vang võng giá dù lọng tử tế.

     Tới kinh vào chầu cả hai vợ chồng. Khi ấy người chồng cũ cô ấy cũng chầu đó. Liếc ngó thấy vợ bé mình, khi xưa bởi cải chữ Nhơn lực, mà đặt Thiên lực, mà mình đuổi đi, bây giờ nhờ thiên lực, mà nên cơ hội nầy, thì mới biết mình đặt chữ quấy.

 

53. Cọp mắc bẫy, không ai thèm cứu.

 

     Con cọp làm chúa lâm, đến lúc se da cấm cung lại[582], ở nhà không đi đâu. Các loài cầm thú đâu đó nghe tin chúa lâm khó ở[583], thì phép phải tới lui thăm viếng. Con nào con nấy tới thôi đà đủ mặt. Mà chúa lâm cấm cung, thôi, bụng đà đói, nên tính bắt lỗi kẻ vô thăm mà ních thịt[584]. (tr. 76)

     Vậy đầu hết anh chồn cáo vào, thì chú biểu lại gần mà hỏi: Mình đau làm vậy, mà thơm hay là thúi? Thì anh chồn thiệt thà thưa rằng: Thúi. Thì chúa nói sao mầy dám nói tao thúi, tao làm chúa lâm, ngồi trên đầu trên óc thiên hạ mà thúi làm sao? Giẩng gáy[585] lên, chụp anh chồn, mà anh kia lẹ nhảy trái ra khỏi.

     Ra được mới trầm trồ nói:

     _Ý cha chả! Khó lắm!

     Con cò nói:

     _Thôi, cho tôi vô.

     – Vô mà tính nói làm sao cho chảy[586] thì vô. Cò nói không hề gì.

     Bước vô, chúa lâm hỏi: Ai đó?

     Cò thưa: Tôi đây.

     – Xích lại đây cho gần. Chúa cứ hỏi: Chớ ông đau ốm làm vậy, mà ông thơm hay là thúi?

     Cò nói: Thơm.

     Chúa lâm nổi giận nói rằng: Thằng nầy nịnh nầy. Vùng chụp nó mà hụt đi. Cò chạy ra sợ, mặt tái ngắt[587].

     Chuột nghe nói, thì nói: Thôi, để tôi vô. Chúa lâm thấy bóng vào, thì biểu lại gần, rồi hỏi: Chớ sao? Ông đau, mà ông thơm hay là thúi? Chuột nói cũng không thơm cũng không thúi. Thì chúa lại chụp, nói sao có nói bậy. Chuột ra nói lại, ai nấy đều kinh tâm thảy thảy.

     Cách năm bảy bữa, cọp đi rủi mắc bẫy cần vọt bật lên trên khí[588], may gặp chuột đi ngang qua đó.

     Thấy vậy mới hỏi:

     –Ủa? Ông làm gì leo lên trên ấy?

     – Ôi thôi! Đừng có hỏi, ông mắc bẫy rồi, có phương chi cứu với. Chuột mới nói: Tôi cứu thì được: là tôi leo lên ra ngoài chót (tr. 77) vót[589], nhỏ mình nhẹ, không sợ gãy té, rồi tôi cắn dây cho đứt đi thì xong. Mà tôi sợ một điều, là ông sẽ chụp tôi như bữa hổm. Tôi nầy là bao nhiêu, ăn cả lông cũng chưa đủ một miếng, mà hổm[590] ông cũng hằm hằm[591] đi nữa là. Nói vậy rồi bỏ đi mất.

 

54. Ruồi, muỗi, chim sắc với con rùa.

 

     Con ruồi, con muỗi với con chim sắc, rủ nhau đi dạo đồng chơi, ra đậu trên lá sen ở dưới bàu, nước trong mát mẻ lắm. Mới hỏi thăm nhau việc ăn ở thế nào, sướng cực làm sao. Anh ruồi mới nói: Tôi thì là sướng nhứt, có ai ví cho bằng. Tự Thiên tử chỉ ư thứ dân[592], hễ có dọn yến tiệc gì, thì tôi ăn trước hết. Mâm cao cỗ đầy, ăn trên ngồi trước, hưởng trước chúng hết cả.

     Anh muỗi lại nói: Tôi giống gì chẳng hay, chớ mặt son má phấn[593] nào, tôi cũng hưởng hết, sướng lắm.

     Anh chim sắc nói: Tôi cũng sướng nữa: hễ là lúa sớm lúa mùa chi, thì tôi hưởng trước đi hết.

     Con rùa ở đâu dưới, bò lại cũng tranh sướng với chúng. Các con thượng cầm[594] đó mới hỏi: Ừ, (tr. 78) anh sướng làm sao, nói cho tôi nghe với.

     – Tôi ở đây mát mẻ ăn uống vui chơi.

     – Mà anh ăn những vật gì nói nghe thử?

     – Thiếu gì món ăn: hột sen, củ sen, cá rô, cá sặc, cá lóc, cá trê, đủ thứ.

     – Anh nói anh ăn nó, mà sao hãy còn thấy lên đánh móng[595] đầy đi vậy?

     Con rùa nói: Là không, tôi có rau muống, tôi ăn rau muống thôi, tôi không có ăn các thứ ấy.

     Các con thượng cầm mới kêu nhau đi về. Anh rùa ra cầm lại: Khoan đã nào, ở chơi về chi lật đật? Con ruồi mới nói: Thôi, tưởng anh làm sao, cái nầy anh ăn những rau muống không, mấy tôi[596] ở lại làm chi, đến trưa đói bụng chết còn gì?

 

 

55. Con cóc với con chuột.

 

      Con cóc làm bạn với con chuột đã lâu ngày. Mà con cóc bụng dạ tử tế, hay chiêu hiền đãi sĩ[597]. Thường bữa cóc hay đi chợ mua đồ về dọn tiệc mời anh chuột tới ăn uống chơi. Anh cóc thì ở hang, còn anh chuột thì làm ổ trên ngọn cây.

     Bữa kia con chuột mua đồ về dọn ăn, tới mời con cóc lên nhà uống rượu chơi, mà con cóc không biết làm thế nào mà lên cho được. Thì con chuột biểu thì cắn lấy cái đuôi nó mà lên (tr. 79) theo. Tới vừa gần cửa, thì chị chuột trong nhà ra chào: Anh cóc đi dạo trên nầy. Con cóc hả miệng thì sút té xuống chết.

     Khi ấy vợ chồng con chuột nói với nhau, mà cười con cóc rằng: Ba mươi đời thứ bay nhạy miệng[598], thì hay chết[599].

 

56. Hữu dõng vô mưu.

 

     Thằng cày mở trâu ra sắm sửa đi cày. Ra đồng cày đàng kia qua đàng nọ. Trâu mệt đà le lưỡi. Mà mắc cày ruộng gần chơn núi. Khi cày, thì thằng trai cầm cày hò hét, đánh đập thá ví[600] con trâu đà cơ khổ, lại thêm chửi rủa hành hạ quá chừng.

     Con cọp ngồi rình trong bụi, ngó thấy vậy, thì giận lắm. Đến buổi thôi cày, thằng chăn thả trâu ra đi ăn. Con cọp mới lại gần kêu con trâu, mắng nhiếc sao có chịu làm vậy: Mầy có vóc giạc, mạnh mẽ sức lực, lại có hai cái sừng nhọn, là khí giái[601] mầy, sao mầy không cự không chống? Để gằm đầu[602] mà chịu nó? Theo làm đầy tớ cho nó hành phạt mầy? Nó leo nó cỡi lưng cỡi cổ[603] mầy như vậy?

     Con trâu mới nói rằng: Trời sinh muôn vật, mà khôn thì làm sao cũng hơn mạnh thôi. Dầu mầy nữa cũng phải thua nó, huống chi là tao. (tr. 80)

     Con cọp tức giận, mới nói rằng: Tao có nghề[604] trong mình, tao lại mạnh, cho mười nó đi nữa tao cũng làm chết, lựa là một. Con trâu nói: Vậy thì mầy đi lại đây, đặng cho tao kêu nó đánh với mầy cho biết sức. Con trâu mới đi kêu thằng cày lại. Anh trai cày lơn tơn[605] lại nói với cọp rằng: Tao bây giờ đang đói bụng, không có lẽ mà đánh với mầy đặng. Con cọp nói: Vậy thì mầy đi ăn cơm đi, rồi có lại mà đánh với tao. Thằng cày nói: Mầy hay nói láo lắm. Tao bỏ tao về, thì mấy chạy đi mất, còn gì mà đánh? Con cọp nói: Tao chẳng thèm trốn, mầy nói tao dọa kiếp[606]. Mặt nào, chớ mặt nầy có chạy đâu! Thằng cày nói: Như có thiệt làm vậy, thì để tao trói mầy lại đây, đặng tao về tao ăn cơm cho no, rồi tao ra tao mở mầy ra, đặng mầy đánh với tao. Như vậy mới chắc, không thì mầy trốn đi, tao có biết đâu đặng.

     Con cọp ỷ mình mạnh, thì nói: Tao chẳng có sợ gì, trói thì trói. Nó mới để cho thằng cày trói nó xong xả rồi, thằng cày mới chạy đi bẻ cây lại đánh con cọp. Con cọp mắc trói thất thế, vùng vẫy không được, bị đòn[607] mà chết. Con trâu khi ấy mới khẻ miệng[608] con cọp rằng: Tao đã nói với mầy ấy, mầy không muốn nghe tao: mầy ỷ mầy sức lực mạnh mẽ mà thôi. Bây giờ mầy chết là đáng số mầy lắm. Không thương hại lấy một chút.

      Ấy là mạnh mà không mưu, ỷ thế mạnh mà khinh dễ người ta. Có người tuy yếu thế yếu (tr. 81) sức, mà cao mưu, nên nhiều khi thắng được, kẻ mạnh quờn mạnh thế mà thấp mưu[609].

 

 

57. Thầy cho thuốc trừ muỗi.

 

     Người kia bất tài lỡ vận[610], không biết làm chi mà làm giàu. Ngày nọ đi lỡ đàng vào xóm đỗ nhờ[611]. Đi từ sớm mai cho tới trưa, đói đã lủi[612]. Không phép ngồi không mà đợi cơm[613], mới bày chuyện nói mình có phép trừ muỗi. Mà chỗ ấy thì nhiều muỗi lắm.

    Ai nấy nghe, ngồi trông, rồi có xin đem về trừ muỗi, ai xin cũng chịu cho, dọn cơm thầy ăn, rồi thầy vò cơm có cục tròn tròn như hoàn thuốc tiêu, bỏ vô hầu bao. Cơm nước xong rồi, lấy ra mới đưa cho một người một ít viên. Người ta hỏi đem về làm làm sao? Thì thầy mới nói: Hễ khi muỗi cắn, thì sẽ lén mà lấy viên thuốc, mà châm cho trúng nó[614], thì nó chết.

    Té ra thầy nói khào[615] mà nuốt cho qua ba miếng cơm. Rồi từ giã ra đi. No bụng thì thôi, chẳng còn lo ai bàn bạc khen chê gì nữa[616]. (tr. 82)

 

58. Thợ hàn kim.

 

     Có một người cũng có chứng hay nói xạo[617] mà kiếm ăn. Đi tới nhà người ta lạ, tính la lết đó chấyba hột cơm[618]  dằn bụng, mới bày chuyện nói.

     Người ta hỏi anh làm việc chi, thì anh ta nói mình là thợ hàn kim. Trong nhà mừng, lo dọn cơm nước cho chú thợ ăn. Ních cho một bụng cơm no nóc, trầu thuốc[619] tử tế.

     Trong nhà với hàng xóm nghe đem kim lại, cậy thợ hàn giùm. Thợ lãnh lấy hốt cả bụm[620], rồi mới hỏi: Vậy chớ còn mấy cái miểng sứt[621] ra ở đâu, kiếm đem lại đây, tôi hàn mới được.

     Mà đời nào ai lượm cái miểng nhỏ để dành? Té ra tốn một bữa cơm vô lối, chẳng nhờ đặng cái cóc rác[622] gì hết.[623]

 

 

59. Thầy pháp chữa ma mèo.

 

     Lão kia nghèo, đi gặt mướn, vùi lấy lông lúa[624] gặp một lũ con nít bắt thoa[625] cho đứa nầy, đứa kia cùng mình. Nó về nó xót nó ngứa, nổi mày đay[626], sinh ghẻ sinh chốc. Thì lão tới giả đò làm thầy pháp. (tr. 83)

     Cha mẹ mấy đứa con nít nghe nói, chạy tới hỏi thầy có phương chi[627] giùm cho trẻ nhỏ. Thì thầy nói: Nó bị ma mèo khuấy nó[628] đó, giống gì? Bây giờ phải nấu cơm nếp cho nhiều.

     Ai nấy chạy về nấu đem tới. Thầy mới lấy nắn tinh những mèo[629] bằng cổ tay, cổ chơn, để đầu ghế. Rồi biểu múc hai ba thùng nước để đó, biểu đem con nít đến. Thầy đứng dậy hò hét một chặp, rồi mới đọc: Mèo mẻo, mèo meo, mèo đừng ghẹo trẻ, tao bẻ mèo ra, tao tra vào đãy, tao quảy mèo đi... Kim niên, kim nhựt, kim ngoạt, kim thì... kim năng, thỉnh giải[630].

     Đọc rồi bẻ cổ mèo bỏ vào đãy hết. Rồi biểu đem con nít tắm đi thì hết.

     Ba mươi đời thứ xót[631], hễ tắm thì hết, thầy làm lối[632], lấy cơm nếp đem về ăn một bữa lứ lừ[633].

 

60. Con gái cầu chồng đại vương.

 

     Có một con kia[634] nhan sắc đẹp đẽ, mà trong ý[635] ước trông cho được một người sang trọng đứng vì vương vì tướng. Cho nên thường bữa thường ra chợ mua nhang mua đèn, đem vô chùa vái cùng phật bà, xin xui khiến cho mình đặng như tình mình sở nguyện[636] vậy. (tr. 84)

     Người bán nhang còn nhỏ tuổi, thấy cô ấy mỗi bữa mỗi ra mua nhang, thì lấy làm lạ: quảy giỗ[637] thì cũng có khi[638], có đâu mà mỗi ngày, ngày nào như ngày nấy. Đánh mò[639] theo coi, thấy vô chùa vái xin chồng sang. Anh ta dòm hiểu được ý, thì bữa ấy mượn người khác bán thế cho mình. Liệu vừa chừng[640] cô ấy vô chùa, anh ta vô núp sau tượng phật. Cô vào thắp nhang, đốt đèn, ngồi lạy xin một hai cho được chồng làm vua làm tướng mà thôi. Chú chàng[641] ở sau ứng tiếng lên nói: Con muốn làm vậy mà không nên, con phải lấy thằng bán nhang ngoài chợ. Số con làm vậy đó.

     Cô ta ra về, vưng theo lời phật bà dạy ra tìm người bán nhang. Hẹn hò ngày kia buổi nọ[642], thì ra chỗ nọ cho nó đem về nhà. Vậy nó bỏ con ấy vào cái bao không, bỏ một đầu thì cô nọ, một đầu thì nhang, gánh thẳng về nhà.  Đàng về nhà thì phải đi ngang qua cái rừng.

     Bữa ấy có Thái tử đông cung đi săn trong ấy. Anh ta sợ gặp quân gia quan quyền, có khi họ hỏi han khó lòng, mới đứng ngừng lại. Quân gia đâu vừa đi trợt tới[643]. Nó thấy vậy để gánh dẹp lại một bên đường, chạy tuốt vào bụi trốn trỏng[644]. Quân thấy gánh, mà không có người, thì lại lục mà coi, mở cái bao ra thấy một nàng xinh tốt lắm, nằm khoanh trong ấy, thì dẫn lại cho Thái tử xem. (tr. 85)

     Đức ông mới hỏi tự sự trước sau. Thì cô ấy gởi rõ duyên cớ đầu đuôi gốc ngọn lại cho đức ông nghe. Sẵn có săn được một con cọp, thì Thái tử dạy đem con cọp bỏ vào cái bao cột lại, để lại trong gánh im lìm như trước. Còn cô ấy Thái tử đem về làm vợ.

     Anh kia núp trong bụi nghe coi đã vắng tiếng[645], thì đã biết họ đã đi rồi, thì ra, lại rờ cái bao thăm coi vợ mình còn hay không. Bóp coi thấy còn, thì kê vai gánh về nhà.

     Cha mẹ anh em ra mừng, hỏi chớ giống gì trong cái bao nầy vậy: thì nó nói nộ[646] rằng: Cọp đó chớ gì? Cất nhang đồ rồi, nó rinh các bao ấy vào phòng, đóng cửa lại, rồi lại mở miệng bao. Được có đem vợ ra. Chẳng ngờ vợ đâu chẳng thấy, cọp ở trỏng nhảy ra, bẻ cổ anh ta chết tươi đi tức thì.

    Bởi thiên lý vị nhiên, nên nghịch thiên giả tử[647].

 

 

61. Ông huyện thanh liêm cả đời, vì một lời nói mất đức thanh liêm.

 

     Ông huyện kia đắc chỉ[648] ra ngồi huyện nơi kia. Mà ông ấy là người thanh liêm lắm, cho nên không dụng lễ mễ của ai, lấy một đồng, (tr. 86) đem cửa trước cũng không xong, đem cửa sau cũng không lọt. Bà huyện thấy tính chồng không có ưa, thì cũng không dám lãnh lấy của ai vật gì.

     Có cái làng kia nhờ ông huyện lắm, mà đền ơn nghĩa không được. Hễ đem tới giống gì, giống gì bất kỳ, vàng bạc tiền của gì, ổng cũng không thèm gì hết, tức mình mới lo đem đút cho bà huyện. Mà bả cũng rằng rằng quyết một[649], một hai không dám lãnh: Ngài tôi thanh liêm, tính không có chịu, tôi mà có lấy sau nữa rầy tôi. Làng càng nài, xin bà cất, nhậm lấy lễ, biểu trẻ thâu cho[650]. Bã thấy làng năn nỉ, cầm lòng không đậu, thì bày rằng: Ông huyện tôi, ngài là tuổi tí, vậy làng có bụng làm vậy thì thôi, làng có muốn, thì về đúc một con chuột bằng bạc đem tới đây, để tôi chịu khó, tôi nói giùm cho, họa may có được chăng.

     Vậy làng nghe lời, về đúc một con chuột cống đặc ruột bằng bạc ròng, đem vô. Bà huyện lãnh lấy cất đi, không dám nói với chồng hay.

     Đến sau khi ông huyện thôi làm quan, về hưu trí thì nghèo, nhiều khi túng ngặt thiếu trước thiếu sau. Mà bà huyện thì lấy con chuột, chặt lần ra mà bán, lấy tiền mua sắm ăn sắm mặc.

     Bữa kia ông huyện nói với mụ rằng: Bây giờ ta túng xây túng xài hơn thuở trước khi ta (tr. 87) còn làm quan lắm, mà mụ lấy đâu mua ăn mua mặc làm vậy? Thì bà huyện mới học lại chuyện làng đem của đền ơn, mà không lấy: Thuở ông ngồi huyện, làng kia mắc ơn ông, mà tới năn nỉ đem lễ vật, mà tôi không chịu, họ nài quá, tôi mới bày cho họ về đúc con chuột bạc đem dưng, vì ông là tuổi tí. Bây giờ nhờ con chuột ấy, tôi chặt một khi một ít bán đi mà tiêu dụng. Thì ông huyện mới tiếc mới nói rằng: Vậy sao bà không có nói là tuổi sửu, cho họ đúc con trâu? Phải nói vậy, bây giờ chẳng khá khiển[651] đi à?

 

62. Mưu trí hơn là sức mạnh.

 

     Trong thú vật thì con cọp làm lớn, có oai quờn[652], hễ nó đi tới đâu, thì con nào cũng đều sợ nó. Có một con chồn cáo hay phản nghịch, kiêu ngạo, lại dễ ngươi, gặp cọp thì nhún trề[653] trở đít cho nó[654], rồi chạy tách đi mất. Cọp giận sao nó có dám khinh dị[655] mình làm vậy.

     Bữa nọ chồn cáo nằm ngủ, cọp đi tới gặp chụp bắt lấy. Muốn ăn thịt đi, mới mắng chồn ba điều, rồi có trị tội nó: Mầy ỷ mầy có tài chạy hay, nên mầy khinh dể tao ghe phen[656]. Bây giờ tới số mầy rồi, tao nhai xương mầy, tao chẳng tha. (tr. 88)

Con chồn mới nói với cọp rằng: Mầy đừng làm phi ngãi, mà tao biểu các muôn thú hại mầy, mà khốn giờ[657]. Cọp mới nói: Mầy ấy là giống gì[658], mà làm điều ấy được, mầy nói tao nghe coi thử? Chồn mới nói lại như vầy: Tao có phép mà sai khiến đặng, vì Ngọc hoàng có phong cho tao làm vua quản trị hết thảy, mầy cũng phải kính sợ tao nữa. Cọp nói: Tao không tin ngay, có lẽ nào mầy hèn hạ làm vậy, mà ai đi cho mầy chức quờn sang trọng thể ấy, mầy nói láo mà thôi. Chồn cáo lại gắng điều nầy nữa: Như mầy không tin, thì mầy để tao leo trên lưng mầy tao cỡi, mà đi dạo các nẻo đường rừng mà coi, thì mầy biết. Chớ tao nói tay hai với mầy cũng không cùng. Cọp chịu: Ừ, mầy đã quả quyết làm vậy, thì mầy leo lên, tao đem mầy đi, nếu không có thiệt như lời, thì tao sẽ nhai xương mầy cho đáng tội.

Khi ấy chồn lên cỡi, đi tới đâu tới đó, thì con chi cũng đều thất kinh chạy hết, mà con cọp dại tưởng chúng nó sợ con chồn, chớ không dè chúng nó sợ mình, cho nên trở lại xin lỗi với con chồn cáo. Vưng phục đầu lụy[659] con chồn. Cọp bái tạ đi, thì chồn dặn biểu cọp: Từ nầy về sau mầy đừng dễ ngươi[660] tao nữa, mới một lần, thì tao tha cho đi, mà sau có làm vậy, thì tao không dung[661] nữa đó, chẳng chơi đâu.

Chuyện nầy nói xâm kẻ tiểu nhơn hèn hạ bất tài, mà hay nương thế kẻ có oai quờn mà (tr. 89) húng hiếp người bình dân. Lại nói người có quờn thế lớn hùng hào, mà lại hữu dõng vô mưu, để cho kẻ dưới mình gạt được.

 

 

63. Thằng quáng manh[662] đi làm rể.

 

Thằng cha kia quáng manh đi hỏi vợ. Con mắt thì tử tế lành lẽ như thường, mà có tật quáng. Tới nhà làm rể. Bữa ấy ra đi cày ruộng, đánh mò[663] theo chúng đi trước, ra làm được một buổi. Trưa lại, tới buổi thả cày[664], chúng lật đật về ăn. Anh ta theo không kịp, đi sau lịch ịch[665] sao sụp xuống dưới giếng loạn[666], không biết đường nào mà lên.

Một chặp lâu lâu ở nhà bà mẹ vợ nói: Ủa! Thằng rể nó ham làm[667] thì thôi! Trẻ, chạy ra kêu nó về ăn cơm. Trẻ chạy đi kiếm, và đi và lằm bằm! Cực thì thôi!... Nó ở dưới nghe, leo lên, đi theo về nhà.

Ngồi lại mâm ăn, bà mẹ vợ ngồi gần đó, chỉ món nọ món kia cho nó ăn. Nó khôn cứ lừa lừa theo lời mẹ vợ mà gắp trúng, không biết là quáng[668]. Ở đâu con chó hỗn, nó ăn trong mâm. Bà mẹ nói: Sao con không có đánh chó, để nó ăn vô làm vậy? Thì nó thưa: Thưa mẹ, chớ đánh chó kiêng chủ (tr. 90) nhà[669], tôi không dám đánh. Mẹ vợ nó nói: không có hề gì, cái dùi đục[670] đây, nó có lại nó hỗn, thì đánh đại nó đi, đừng có sợ gì.

     Bà mẹ thấy nó nết na, nhát không dám ăn không dám gắp, thì lại làm tài khôn[671], gắp đồ bỏ vô chén nó cho nó ăn. Nó nghe rọc rạch[672], nó tưởng là con chó lại ăn hỗn, nó đập cho một cái dùi đục chảy máu đầu ra.

 

64. Ông thầy ăn khín[673] bánh của học trò.

 

    Có một nhà giàu có, sinh đặng một đứa con trai. Con nhà giàu, lại là con một, nên tưng lắm. Khi được năm sáu tuổi, cha mẹ nó muốn cho con đi học, mà sợ tới trường học, học trò nhiều đứa ngang tàng rắn mắt ăn hiếp chăng.

     Mà anh thầy ấy hay ăn thép[674]. Bữa kia mẹ thằng ấy đi chợ về, mua cho một tấm đường hay là cái bánh ngọt tròn tròn mà lớn. Con nó ra mừng mẹ đi chợ về, mẹ nó đưa bánh cho nó, nó mừng cấp ca cấp củm[675] ôm lấy tiếc, chưa dám ăn, cầm chơi để dành.

     Thầy thấy thèm, mới kêu thằng học trò lại. (tr. 91)

     Nầy, con đem lại cho thầy tập nghe nghĩa cho con. Nó tình ngay thiệt thà, lật đật cầm đem lại. Thầy lấy lấy, rồi để ra giữa cái ghế, mới giả đò nghe sách[676] cho nó coi: Ngôi Thái cực là như vầy (để ra giữa nguyên y lé như vậy). Rồi bẻ hai ra mà nói rằng: Như vầy là Thái cực sinh Lưỡng nghi. Rồi lại bẻ ra làm bốn, mà nói rằng: Như vầy là Lưỡng nghi sinh tứ tượng. Rồi thầy cầm lấy cái bánh, nói: Còn như vầy là Tứ tượng biến hóa vô cùng, cầm đem lủm phứt cái bánh đi.

     Thằng học trò nó mới lăn ra, nó giãy, nó khóc. Mẹ nó nghe mới kêu mới hỏi, thì nó nói: Thầy nói để thầy tập nghe nghĩa[677] cho tôi, rồi thầy ăn cái bánh của tôi đi.

 

65. Con thỏ gạt con cù, cứu cá mà ra khỏi nơm.

 

     Con thỏ ở nhằm chỗ đồng khô cỏ cháy, không có cỏ rác mà ăn cho no, tính qua sông, đi sang xứ khác thì nói với con cù[678] rằng: Anh chịu khó chở tôi qua bên kia sông, thì sau tôi sẽ gả chị tôi cho anh. Cù đưa tới giữa sông, cù hỏi: Cái lưng tôi vậy ngồi có êm, có tốt không? Thỏ nói: còn nói chi nữa, đã láng thì chớ, mà lại mát nữa. Con cù chở qua tới bờ, (tr. 92) nó lên rồi nó lại nói: ‘Cực chẳng đã tao mới ngồi trên lưng mầy mà thôi, tanh hôi dơ dáy quá, chị ở đâu mà đem gả cho uổng. Nói vậy rồi bỏ đi đi.’

     Lên bờ, thấy cảnh mới vui vẻ xinh tốt, đi lần vô moi khoai người ta mà ăn. Chủ vườn giận gài bẫy đánh[679]. Thỏ quen chừng qua bữa sau cũng tới đó ăn, mắc bẫy.

     Người ta bắt được đem về, lấy cái nơm chụp lại để gần một bên cái chậu cá. Mà trong nhà bữa ấy tính làm việc chi đó, nghe nói: hai con cá với con thỏ thì đủ dọn. Con thỏ nói với hai con cá rằng: Hai anh biết, họ tính làm thịt ta đó. Mà hai anh có muốn ra cho khỏi hay không?

     Cá nói:

     _Làm sao không muốn? Muốn lắm mà không được chớ.

     – Vậy thì làm vầy: hai anh nghe lời tôi thì xong: cắn đuôi nhau mà vùng cho mạnh cho sạt bể hai cái chậu ra, thì lóc mà xuống hồ thì thôi, họ bắt không đặng đâu.

     Hai con cá nghe lời ra sức vùng bể chậu đi. Thỏ cao mưu kêu: Bớ ông chủ, cá đi cà. Trong nhà lật đật ra xách nơm theo mà chụp cá. Thỏ vùng chạy vụt đi mất. Đã cứu đặng cá mà lại cứu đặng mình nữa. (tr. 93)

 

66. Cọp mắc mưu thỏ làm mà cứu voi.

 

     Lần khác thỏ đi chơi, gặp con voi đang rầu rĩ bần xừ: mới lại hỏi vì làm sao mà làm bộ buồn bực vậy? Thì con voi nói: Bữa hổm con cọp gặp biểu tôi thì ngày kia tháng nọ tới chỗ nọ  nộp mình cho nó ăn thịt, mà nay đã gần tới kỳ, không biết liệu làm sao. Thỏ thấy tội nghiệp thì nói: Thôi để tôi tính giùm mà cứu cho, cho khỏi nó ăn thịt, hễ tới ngày thì lại rước tôi, tôi đi với, tôi làm phước cứu cho.

     Đến ngày đi nộp mình, thì voi tới rước thỏ. Cỡi trên lưng mà đem tới chỗ hẹn. Thỏ dặn voi: Cứ nằm đó, đừng nói gì hết, để mặc tôi. Dặn dò xong rồi. Cọp đâu vừa tới. Thỏ ngó thấy cọp đến, thì nhảy ra trước đầu, táp một miếng, và táp và nói: không có con chi vừa. Nhảy đàng sau, nhảy bên nầy, nhảy bên kia cũng nói làm vậy. Rồi ngó quanh ngó quấy* thấy cọp lại: Ờ, ờ, có cọp đây, thịt ngon hơn thịt voi.

     Cọp nghe nói thất kinh, không hiểu đặng con gì nhỏ nhỏ mà dữ làm vậy, vật voi xuống mà ăn, lại đòi ăn tới thịt cọp nữa. Nên nhảy trái ra chạy miết dài một thể.

     Bầy khỉ thấy cọp chạy, thì kêu hỏi: Việc gì mà chạy hung làm vậy? Thì cọp nói: Úy! Đừng (tr. 94) hỏi. Cái con chi nhỏ thó, mà nó vật voi nó ăn, nó thấy tôi, nó nói: Ờ, thịt cọp ăn ngon hơn thịt voi. Tôi sợ tôi chạy. – Anh dắt mấy tôi tới coi cho biết với. Cọp nói: Tao mạnh lại lẹ chơn, có sao tao chạy được, mà bay đến chừng làm vậy, mà chạy sao khỏi? Khỉ nói: không hề gì, để mấy tôi bứt dây cột xâu lại với nhau, rồi cột vào mình anh, rủi có làm sao, anh chạy anh kéo đùa với tôi theo, có hề gì.

     Cọp chịu, mới để cột dòng theo sau một bầy khỉ, dắt nhau tới. Tới mới ngó vào thấy con thỏ còn đang táp làm ào ào trên mình con voi, cọp lại sợ quày chạy đi, kéo hết bầy khỉ, va đầu trong gai gốc, chết nhăn răng hết cả bầy. Tới chỗ khỉ, cọp mới đứng lại, thả khỉ ra. Ngó ngoái lại thấy bầy khỉ nhăn răng nằm thài lai, thì cọp mắng nó: Tao chạy mệt đà hết hơi, mà bay còn vui sướng nỗi gì mà cười?

   Mạnh mà dại mắc chúng quỉ dọa hẩm mà thua, thì là anh cọp.

 

 

67. Nói phạm thượng.

 

     Có một người kia trong xóm chạy lại nhà người quen, có việc chi đó. Hỏi trẻ ở nhà: Chớ cha bay đi đâu khỏi? Thì trẻ trong nhà nói:  (tr. 95)

     Cha mấy tôi đi điền điệp[680]. Nghe nói tiếng nói về vua, thì giận chạy qua nhà ông nó mắng vốn: Bầy trẻ ở bên nhà nó, nó phạm phép quá, nó nói: Cha nó đi điền điệp. Ông nó mới hỏi: Vậy mà hoàng nam hay là công chúa? Người ấy lại tức mình, tưởng là trẻ nhỏ nó phạm thượng làm vậy thì thôi, có đâu ông nó cũng nói loát[681] làm vậy nữa.

     Giận, về, lại hỏi cha bầy trẻ, mắng vốn và con và ông. Cha nó mới hỏi: Nó nói làm sao? Lão nói lại: Tôi hỏi trẻ, anh đi đâu? Nó nói anh đi điền điệp. Rồi tôi qua bên nhà ông nó tôi nói. Ổng hỏi: hoàng nam hay là công chúa? Thì người cha mới nói: Vậy là ngoại tổ hay nội tổ?

     Thì lão lại càng giận, ra về, đi thưa với làng. Ra nhà vuông[682], thấy có làng nhóm mới thưa: Nầy tôi xin thưa với làng, con chú kia ở trong làng, nói phạm phép: đi điền điệp. Hỏi ông nó, ông nó lại hỏi hoàng nam hay công chúa? Rồi tôi nói với cha nó. Cha nó hỏi: vậy mà ngoại tổ hay nội tổ? Xin làng phân xử. Làng mới nói: Thôi, bữa nay còn mắc, để bữa nào hiệp nghị[683] đã, sẽ xử. Anh ta nghe giận mới nói: Tôi tức mình, tôi muốn băng[684] đi cho rồi. (tr. 96)

 

68. Người hay đi kiếm ăn.

 

     Có người kia có tài hay đi ăn chực. Hễ đâu có đám tiệc, thì có anh ta, tới cà xốc[685] kiếm ăn mà thôi. Có một người ở lối đó thấy gai con mắt[686], tính gạt nó một chuyến chơi, cho nên biểu vợ xách tiền đi chợ, giả đồ đi mua đồ về dọn tiệc.

     Chú chàng gặp bưng rổ đi mua đồ về nấu dọn. Anh ta nghe men tới, thấy dọn dẹp lớn, la lết[687] ở đó chờ ăn. Chồng láy[688], vợ giả đò đau bụng, nhào lộn đứng sức, rên la om sòm.

     Tiệc dọn đã rồi, bỏ đó chạy lo thuốc men. Anh bợm ta cũng chạy xăng văng hỏi thăm người chồng: Sao, đã nhẹ chưa? Chồng bứt đầu bứt óc nói: Cha chả! Khó lòng thì thôi! Rủi bữa nay có việc sai thằng kia đi khỏi! Chứng bịnh nầy có một thứ máu cam[689] làm thuốc trị mới đặng mà thôi, thằng đó mọi lần có vậy thì nó kiếm mau lắm.

     Anh ta nóng, sợ đồ ăn nguội đi: thôi biểu trẻ đưa cái chén đây cho tôi kiếm cho. Nó mới giang cánh tay nó ra, nó đấm mũi nó cho chảy máu ra.

     Ngồi đợi coi có khá không, một lát chạy hỏi thăm, mà lần lần mũi nó sưng lên đau lắm, đến chừng nó đã sưng vù lên rồi. Chủ nhà nói vợ mình đã nhẹ[690], ra mời ăn. Thì anh ta đau ăn không được, xin kiếu. (tr. 97)

     Té ra có ý kiếm ăn, mà phải chịu đói mà về, vì đau quá, ăn không đặng[691].

 

 

69. Thầy trừ chồn.

 

     Cái nhà kia hay nuôi gà nuôi vịt bán, mà bị chồn nó phá, nó ăn hết nhiều lắm. Gài bẫy, đánh nó hoài, mà cũng không trừ nó cho lại được.

     Anh kia nghe vậy, tính gạt ăn của nó một bữa chơi. Nên tới nói: Nghe nói chồn nó phá gà phá vịt đây lắm. Có muốn trừ thì tôi trừ cho.

     Chủ nhà nghe chịu liền. Vậy thầy mới biểu: Đâm bột cho nhỏ, đậu cà ra làm nhuân, cho đầy một cái thúng, đến mai tôi đến, tôi làm phép cho một bữa thì hết. Thầy xách chiết[692] tới, lấy bột, lấy đậu, đem ra nắn chồn lớn, chồn nhỏ, để nơi ghế. Lại nắn một con lớn hơn hết để giữa.

Rồi đứng dậy, biểu vợ chủ nhà ra lạy. Thầy đứng vòng tay đọc: chồn đèn, chồn cáo, láo đáo ăn gà, tao chẳng có tha, tao tra vào chiết.

     Nói vừa rồi, bắt chồn bỏ bột vào chiết, bẻ lia bỏ vô túi. Con mẹ nọ thấy vậy tiếc, thấy thầy lấy đã nhiều quá, thì nóng ruột, thì lồm cồm chổi dậy, và lạy và la: chồn nào chồn nấy, tôi cũng lấy một chồn. Rồi ôm con chồn lớn chạy vô mất. (tr. 98)

 

70. Thợ may bị đập dùi đục trên đầu.

 

     Anh thợ may kia có tiếng hay đi nhà nầy nhà kia may đồ cho người ta, mà đi thì có đem theo một đứa để mang gói. Tới đâu, chúng dọn cơm dọn nước cho ăn, rồi kêu thằng đi theo ăn, thì anh thợ biểu đừng[693], nói nó đã ăn rồi. Thằng ấy đi bữa nào về bữa ấy, về đói xơ mép[694].

     Bữa kia hai thầy trò dắt nhau tới nhà ông huyện đi cắt đồ mà may. Thằng ôm gói, giận đã sẵn, tính báo[695] anh thợ may một bữa. Khi anh thợ cắt đồ rồi xong xả ra tiểu. Ở trong nầy thằng đi theo mới nói nhỏ với ông huyện rằng: Bẩm ông, thầy tôi có chứng điên: đồ ông là đồ lớn tiền ông phải giữ, hễ ngó thấy mằn mằn dưới chiếu bộ dớn dác, thì là tới cơn điên, bứt xé đồ đi hết.

     Ông huyện hỏi: Mà lấy gì mà trừ nó? Nó bẩm: Dùi đục đập trên đầu một cái cho mạnh thì hết. Nói rồi, nó lấy kim nó giấu đi. Anh thợ vào thấy mất kim, hai tay gõ dưới chiếu, cho nó dậy[696], con mắt thì láo luân[697] ngó chăm chỉ mà kiếm.

     Ông huyện tưởng đã tới cơn điên nó, thì cầm dùi đục, lại đập trên đầu một cái bộp: Mầy điên xé áo xé quần nghé! Nó nói: Bẩm ông, tôi không điên mà, tôi kiếm kim. Ậy! Ông huyện nói: (tr. 99) Thằng đi với mầy nó nói mầy điên. Nó[698] mới hỏi: Chớ sao mầy nói tao điên. Thằng kia nói: Còn không điên nữa? Tới đâu nói tôi ăn cơm rồi, làm tôi đói bụng chết cha đi, không điên làm sao?

 

71. Con chó và chồn.

 

     Bữa kia sói và chồn rủ nhau đi câu. Sói nói với chồn rằng: Nề[699], đứa nào đem giỏ theo, rồi kéo cá về? Mầy hay là tao? Chồn rằng: Đuôi anh chắc, thôi anh lãnh chuyện ấy. Sói chịu. Vậy chồn lấy dây chắc, cột giỏ vào đuôi sói, rồi đi câu với nhau.

     Bữa đó câu trúng quá[700], được cho một giỏ đầy cóng[701], sói kéo đi một đỗi, vụt đứt đuôi phứt. Ôi! Cha chả là đau!

    Sói giận nói với chồn rằng. Mầy gạt tao hử, thôi, để tao nhai xương mầy cho rồi. Chồn năn nỉ rằng: Ăn tôi làm chi tội nghiệp, anh? Anh theo tôi vô nhà chú thợ rèn gần đây, tôi mướn chú rèn cái đuôi anh chắc lại như thường, cho anh coi, mà có khi nó chắc hơn trước, không gãy, không đứt nữa.

    Sói nghe lời vô nhà chú thợ rèn: chú thợ thổi lửa nướng một miếng sắt đỏ, rồi đắp vào cây đuôi anh ta, nóng quá anh ta vụt chạy sải, la lối inh ỏi. (tr. 100)

    Chồn cũng chạy theo, gặp sói đang ngồi một bên đàng. Sói thấy mặt chồn, thì phát nổi gan[702], mà nói rằng: Chuyến nầy tao ăn mầy đi cho rồi, chớ không dung[703] nữa.

    Chồn rằng: Anh Cụt ơi, chơi chút vậy, mà anh oán chi, anh? Thịt tôi nó dai nhách, anh ăn mỏi răng, chẳng ích lối gì, chi bằng anh chịu khó theo tôi đây, nay mình trúng to: tôi biết có nhà kia có thịt dồi ngon quá đi, để mình đi ăn cắp ăn chơi cho sướng bụng.

   Sói ta nghe nói thịt dồi, nhễu nước miếng, đi theo chồn. Tới nơi, đỡ chồn lên treo lấy mấy khúc dồi đem ra ngoài bụi.

    Bấy giờ chồn bày mưu rằng: Ở đây không xong, sợ mấy đứa khác đánh hơi tới dành, thì ta ăn không được mấy miếng, thôi mình kiếm cây nào cao, leo lên để trên, rồi mình ăn với nhau cho vững bụng.

    Sói nghe bày chịu liền. Vậy chồn đem mấy khúc dồi lên trên cháng hai cây đầu[704] cao, rồi ngồi ăn một mình.

    Sói trèo lên không được, mới nói rằng: Thôi, thì mầy ăn phần của mầy, còn phần của tao thì quăng xuống cho tao chớ. Chồn ném xuống một hai miếng vụn mà rằng: Ừ đây, cho mầy ít miếng đây, Cụt. Sói giận nói rằng: Tao có bắt được mầy, thì tao nhai đi, thịt mầy có cứng bằng vỏ cây, tao cũng nuốt không dung. (tr. 101)

    Nó liền la hét dậy rừng, mấy con chó sói khác nghe tiếng chạy tới nhiều lắm, anh Cụt ta mới học lại chuyện con chồn ăn ở bất nhơn với mình. Mấy con kia nghe nói thì thương xót, quyết hại chồn mà báo cừu giùm cho anh ta.

   Vậy bọn nó bày thế mà bắt chồn, nó tính con nầy leo lên vai con kia, chồng tiếp lên luôn dựa theo cây cho tới con chồn, nó bắt Cụt ta chịu gốc, rồi nhảy trên vai nhau, mà lên lần lần.

   Khi gần tới, thì chồn la: Bớ Chú thợ rèn, đem miếng sắt cháy đỏ đây mà sửa đuôi anh Cụt một chút! Cụt ta nghe tên thợ rèn, nhớ trực bữa hổm, hoảng hồn vụt chạy, mấy con kia nhào xuống lục cục[705], giận quá, rượt theo anh Cụt bắt vặn họng chết. Chồn thấy vậy tức cười ngồi ăn cho hết dồi, rồi xuống đi mất.

    Mạnh sức mà thua mưu người yếu là sự cũng thường[706].

 

 

72. Thầy dạy ăn trộm, thử học trò.

 

    Có ông thầy kia làm thầy dạy phép đi ăn trộm. Học trò cũng được năm bảy đứa. Có một đứa mới vô sau, thầy muốn thử coi cho biết nó có dạn dĩ lanh lợi hay không, thì thầy dắt nó đi ăn trộm với thầy. (tr. 102)

    Thầy đem rình cái nhà có đứa con gái hay làm hàng lụa. Biết có cây lụa dệt rồi, nó gói nó để trên đầu giường kê đầu mà ngủ, thầy mở cửa biểu nó vô lấy cây lụa đem ra. Thầy thì đứng giữ nơi cửa, nó vào thắp đèn ló[707] lên, rọi thấy rồi, thụt đèn đi, thò tay lấy cây lụa. Mà chưa từng đứng dựa cái giường sợ run rẩy, động con ấy thức dậy, nắm đầu chú bợm, nó thất kinh kêu: Nó nắm đầu tôi rồi, thầy ôi! Thầy nó mới nói mưu: tưởng nắm đâu, chớ nắm đầu không hề gì nắm mũi mới sợ.

    Con kia nghe tưởng nắm mũi chắc, bỏ đầu nắm lấy mũi, nó giựt nó chạy ra được. Mõ ống[708] làng xóm chạy tới rượt theo, nó sợ quá nhè bụi tre gai chun phóc[709] vào trỏng. Gai đâm trầy trụa nát cả và mình[710], và khi ấy không biết đau. Thủng thẳng càng lâu càng đau, nhứt nhối rát rao[711] lắm. Còn ông thầy chạy thẳng về nhà chỏng cẳng ngủ.

    Sáng ngày ra, thầy nói với vợ nó phải lo mà đi kiếm nó về. Chỉ phải đi kiếm đàng nào. Vợ nó ra đi kiếm, nó ở trong bụi tre gai thấy cỏn[712] đi ngang qua, mới kêu vô: Mầy về nói với thầy cứu tao với. Tao hồi hôm sợ quá chun vô đây. Họ rượt thét lấy[713], chun đại vào không biết đau, bây giờ chun ra không được: Mình mảy[714] nát hết.

    Vợ nó về thưa lại với thầy. Thầy xách gậy ra. Nó lạy lục xin cứu. Thầy nó mới vùng la làng lên: Bớ làng xóm! Thằng ăn trộm đây! Nó sợ đã (tr. 103) sẵn, thất kinh quên đau, vụt chạy tuốt ra được. Về nhà thuốc men hai ba tháng mới lành.

     Còn có thằng học trò khác dạn lắm, thầy nó muốn thử coi nó có khôn ngoan biết làm mưu, mà thoát thân khi túng nước hay không, thì đem anh ta tới nhà kia giàu lắm, thầy đánh ngạch[715] vô được giở rương xe ra, biểu nó vô khuân đồ.

     Nó chun vô, ở ngoài thầy khóa quách lại[716], bỏ đó ra về ngủ. Nó ở trong không biết làm làm sao ra cho được, mới tính dùng mưu. Vậy nó mới quơ hết các áo quần tốt mặc vào sùm sùm sề sề. Lại lấy cái bung đội trên đầu, khuất mặt khuất mầy đi hết. Ở trong rương mới kêu lên: Ớ chủ nhà, ta là thần, bấy lâu nay ta ở với, cho mà làm giàu, nay mở rương cho ta đi dạo chơi ít bữa. Mở rương rồi, đờn bà ô uế phải đi đi cho xa. Còn đờn ông thì nhang đèn, mà đứng nới ra xa xa, đừng có lại gần không nên.

     Trong nhà ngờ là thần thật, vật heo vật bò, để tạ thần. Lại có mời tổng xã tới thị đó nữa. Dọn dẹp xong, tiêm tất, mở rương chống nắp lên dẹp lại hai bên[717] đứng ra xa xa chờ ông thần ra.

     Đâu ở trỏng thấy mặc đồ sùm sề đầu đội cái bung[718] đen đen, đi ra, rồi đi luôn đi, thần dạy: Ai có muốn cúng dưng vật chi, thì đi theo sau xa xa. Tới chùa thần mới vô ngự cho mà lạy. Thiên hạ ai nấy nghe đồn, rủ nhau đô hội đi theo coi. (tr. 104)

     Tới cái chùa kia, ông thần vô chùa, leo lên trên bàn thờ ngồi, cất cái bung đi. Thiên hạ vô thì đứng xa ngoài sân không dám vô. Bữa ấy anh học trò nhát, mà bị chúng rượt chun bụi tre gai, có đi theo coi. Biết là bạn học mình, thì thưa với quới chức[719], xin cho va vô coi cho gần. Mà mắc có lời thần đã phán, hễ ai lại gần, thì thần phạt sặc máu ra mà chết.

     Làng tổng mới nói với nó: Mặc ý, muốn chết thì vô. Nó bươn[720] nó vô leo lên đàng sau dòm mặt, biết. Anh kia mới nói: Anh đừng có nói ra, để nữa về tôi chia đồ cho. Nó không tin nói: Rồi về anh chối đi, anh không chia. Anh kia nói: không thì thề. Thằng nọ hỏi: Thề làm sao? Nó nói: Anh le lưỡi tôi liếm, rồi tôi le lưỡi anh liếm, thì là thề đó. Vậy thằng kia le lưỡi ra, anh nọ cắn ngang đứt lưỡi đi, máu chảy ra, dầm dề, leng teng[721] chạy ra, mà nói không được, lấy tay chỉ biểu làng vô bắt.

     Ai nấy thấy máu mủ vậy, thì ngờ là nó bị thần phạt sặc máu, liền sợ thất kinh bỏ chạy ráo[722].

     Thần ta mới mang đồ về nhà thầy, chia cho thầy mà đền ơn. Thầy khen nói: Mầy học phép ăn trộm được rồi đó. Có muốn ra riêng[723], thì thầy cho ra được. (tr. 105)

 

73. Con ruồi bị thưa, bị đập.

 

     Một người kia ở xứ rẫy bái quê mùa. Đến bữa nó đơm quải [724] dọn ra một mâm cúng, con ruồi lên đậu ăn. Thì người chủ giận sao nó có hỗn, mới đi thưa với quan huyện rằng: Lạy ông, tôi cúng cho cha mẹ tôi, mà con chi không biết, nó bay lên, nó ăn trước đi, hỗn hào quá lắm. Ông huyện mới biểu nó: Hễ nó hỗn hào vô phép, thì gặp nó đâu đánh nó đó. Nói vừa buông miệng[725], con ruồi ở đâu bay lại, đậu trên mặt ông huyện ấy, thì thằng ấy nói: Bẩm ông, ông mới xử nó làm vậy, mà nó còn dễ ngươi, nó tới đậu trên mặt ông. Và nói và giơ tay ra giang cánh, đánh một vả trên mặt ông huyện xửng vửng[726].

 

74. Làm ơn mắc oán.

 

    Ngày kia, con beo buồn bắt khỉ võng đi dạo sơn thủy chơi[727], thình lình nghe tiếng chó sói đi săn. Khỉ, cái nghiệp nó nghe giớn giác[728], nghe động thất rừng kinh[729], quăng võng, leo lên cây (tr. 106) ngồi hết. Còn con beo cong lưng chạy miết dài. Chó sói cứ rượt mãi.

    Con beo túng nước sợ có khi nó bắt được, may đâu gặp một ông già, theo lạy lục xin ông già cứu, ông già không biết làm làm sao[730], mới mở cái đãy[731], ổng biểu nó chun vô, rồi thắt lại vác trên vai mà đi. Chó sói chạy tới thấy đâu mất đi, mới hỏi thăm ông già. Ông già nói không có thấy. Chó sói bỏ về.

     Ông già đi được một đỗi xa xa, rồi mở miệng đãy thả con beo ra. Con beo phần thì mệt, phần thì đói bụng quá chừng, nó đòi ăn thịt ông già đi[732]. Ông già: Tao làm ơn  cứu mầy cho khỏi miệng chó sói, mà mầy đòi ăn thịt sao? Con beo nói: Cứu gì ông bỏ tôi vô đãy ngột[733], thiếu một chút nữa chết còn gì? Bây giờ đói bụng quá, phải ăn mới xong. Ông già nói: Thôi thì đi hỏi chứng cớ cho hẵn hòi rồi sẽ ăn.

     Vậy tới chòm cây cao lớn, dắt nhau lại hỏi, thì cây nói: Người ta là giống bất nhơn, ăn nó đi để làm chi? Mấy tôi[734] hằng giúp nó làm nên lương đống cửa nhà[735], mà nó còn lấy búa, lấy rìu nó chặt, chém chúng tôi hoài. Ơn ngãi gì mà để? Ăn nó đi. Con beo nói: Đó, còn từ chối gì nữa? Nó xốc lại nó đòi ăn.

     Ông già lại nói. Cây cối biết gì? Nói vậy chưa đủ tin. Dắt nhau đi tới nữa, gặp một bầy trâu già. Con beo lại hỏi có nên ăn đi hay không? (tr. 107) thì trâu nói: Chúng tôi làm đầy tớ nó già đời[736], cày bừa, làm ruộng cho có lúa gạo cho nó ăn cho no, đến khi chúng tôi chết rồi, nó còn phân thây, xẻ thịt, cái xương thì làm vạch[737], da thì bịt trống, đóng giày, đóng dép, cứt thì làm phân, không có biết công ơn chúng tôi chút nào, huống gì là anh? Ăn nó đi là đáng lắm.

     Con beo lại đòi ăn, ông già nói: Lục súc vô đồ[738] cũng chưa có chắc. Lời tục ngữ có nói rằng: Sự bất quá tam[739]. Xin mầy để hỏi một lần nữa, rồi mầy hãy ăn tao cho đáng số tao[740].

     Dắt nhau đi nữa, một đỗi đàng khá xa, mới gặp một người con trai đi đường, đứng dừng lại hỏi: Thì người biểu nói gốc tích lại ban đầu[741] cho nó nghe. Nghe biết rồi, mới nói: Nào con beo hồi đầu mầy thâu mình lại[742], mà chun vô đãy ông già làm sao, thì làm lại coi thử, rồi hãy ăn thịt ông già.

    Con beo chun vô rồi, thì nó thắt miệng đãy lại, vô bẻ cây đập con beo chết đi, và đánh và dặn: Mầy vô ơn bạc ngãi với kẻ làm ơn cứu mầy, thì tội mầy đập chết đi, thì đáng lắm.

     Lấy đó mà xét: Ở đời biết là mấy[743] người bạc tình[744], đặng chim bẻ ná, đặng cá quên nơm? Chẳng những là bội ơn mà thôi, mà lại dĩ ơn báo oán[745] nữa. Mấy người làm vậy bụng dạ vạy vò[746], chẳng người thì trời cũng hại nó đi có thuở[747]. Hễ làm lành thì gặp lành, mà làm dữ thì gặp dữ, chẳng (tr. 108) chầy thì kíp, chạy đàng trời không khỏi. Làm ơn mắc oán sự thường. Nhưng vậy ơn cũng chẳng mất đi đâu, làm sao cũng sẽ trả, chẳng người nầy thì người khác, chẳng thế nầy thì thế khác. Nên ai nấy cứ làm lành thì sẽ gặp lành mà chớ[748].

 

 

 

MỤC LỤC

 


01. Con chồn với con cọp

02. Chàng rể bắt chước cha vợ

03. Con cóc tía với con cọp và con khỉ

04. Thằng chồng khờ

05. Hai thầy đi làm đám

06. Thằng khờ đi mua vịt

07. Đặt lờ trên ngọn cây

08. Nhơn vật đạo đồng

09. Nói láo mắc nói láo

10. Láo dinh láo quê

11. Kén rể hay trớ trinh láo xược

12. Bụng làm dạ chịu

13. Cháu nói láo hại chú trả thù

14. Thầy pháp râu đỏ

15. Bốn anh tài

16. Bạn học một người đậu một người rớt

17. Trên vua dưới tôi

18. Đút sáp cho cọp ăn khỏi chết

19. Trách người ít đánh chầu

20. Cha điếc, mẹ điếc, con điếc, rể điếc

21. Thằng cha nhảy cà tứng

22. Hai anh sợ vợ

23. Mẹ chồng, nàng dâu ăn vụng

24. Tích hang ông Từ Thức

25. Cọp bị đá

26. Cạp mắc đuôi trong bụi dừa nước

27. Ăn trộm và cọp rình nhà

28. Thằng ăn trộm gà bỏ quần mà chạy

29. Thằng ăn trộm được mời uống trà

30. Ông Cống Quình

31. Con chó với con gà

32. Bốn anh thầy chùa làm phước mà phải chết

33. Anh làm quan, em làm dân

34. Thằng chồng khờ, ngồi ăn có dây dụi

35. Đại Trượng Phu, Chí Quân Tử với Phú trưởng Giả

36. Chú lái ăn ba mươi đồng thịt heo

37. Tham ăn với con

38. Ăn cướp buồm vì thằng bạn khùng

39. Ăn tham húp cứt rùa

40. Làm tỉnh được việc, rộn không xong

41. Nước tới trôn mới nhảy

42. Trâu mọt chảy nước

43. Trần Miên Khố Chuối

44. Bài thơ cái lưỡi

45. Anh học trò sửa liễn cửa ngõ phủ ông Hoàng

46. Trét chai cho trơn

47. Thầy bói bị trác cổi quần vắc vai đi giữa chợ

48. Hà tiện, đến chết cũng còn hà tiện

49. Ba anh dốt làm thơ

50. Bốn anh học trò đặt thơ trong chùa

51. Học phép hà tiện

52. Thiên lực, không phải nhơn lực

53. Cọp mắc bẫy, không ai thèm cứu

54. Ruồi, muỗi chim sắc với con rùa

55. Con cóc với chuột

56. Hữu dõng vô mưu

57. Thầy cho thuốc trừ muỗi

58. Thợ hàn kim

59. Thầy pháp chữa ma mèo

60. Con gái cầu chồng đại vương

61. Ông huyện thanh liêm cả đời, vì một lời nói mất đức thanh liêm

62. Mưu trí hơn là sức mạnh

63. Thằng quáng manh đi làm rể

64. Ông thầy ăn khín bánh của học trò

65. Con thỏ gạt con cù, cứu cá, mà ra khỏi nơm

66. Cọp mắc mưu thỏ làm mà cứu voi

67. Nói phạm thượng

68. Người hay đi kiếm ăn

69. Thầy trừ chồn

70. Thợ may bị đập dùi đục trên đầu

71. Chó sói và chồn

72. Thầy dạy ăn trộm thử học trò

73. Con ruồi bị thưa bị đập

74. Làm ơn mắc oán


 

 

Chung.

 

 


Nguyễn Văn Sâm và Trần Ngọc Ánh.




[1] Mục tiêu thứ nhứt, giáo dục: đưa ra chuyện nầy kia để giúp sửa đổi cách sống cho người đọc

[2] Ta: Cách nói xưa của tôi.Trương Vĩnh Ký xài nhiều chữ nầy.

[3] Cũng là mục tiêu thứ nhứt, giáo dục: giúp người ta thấy xấu thì bỏ, thấy hay thì bắt chước theo.

[4] Trộn trạo: Trộn lẫn lộn.HTC giải thích là làm cho lộn lạo.

[5] Mục tiêu thứ hai: giúp cho một số người học tiếng Annam.

[6] Cũng là mục tiêu thứ hai: Không viết theo cách văn chương mà viết theo cách nói của người dân: Dùng tiếng Annam ròng, dùng những câu thường thấy lúc đó.

[7] Ngày kia: Hôm nọ, bữa nọ. Ông TVK không viết ngày xưa mà viết ngày kia chắc hẵn vì ông không muốn chuyện của mình mang tính cách thần thoại, truyền kỳ…

[8] Mắc hơ hỏng: Bị lơ đảng, không chú ý, không cẩn thận.

[9] Chẳng biết làm làm sao: Nay nói chẳng biết làm sao, các trường hợp phải dùng hai chữ giống nhau của ngày trước nay chỉ còn một chữ thôi.

[10] Hết sức tính: Suy nghĩ nhiều, tính toán lắm mà cũng chẳng giải quyết được gì. Hết cách.

[11] Khôn bề tấn thối: Chẳng giải quyết được tình huống.

[12] Cá mắc lờ: Cá vô lờ rồi thì có thể lội trong vòng lờ nhưng không thoát ra được. Lờ, thứ bẩy để bắt cua, cá. Cá trong lờ đỏ hoe con mắt/Cá ngoài lờ ngúc ngắc muốn vô. Hay Tung tăng như cá trong lờ/Trong ra không được, ngoài ngờ là vui. Ca Dao.

[13] Tưởng đã xong đời: Tưởng rằng sẽ phải chết,

[14] Thịch thịch: Nay nói thình thịch, tiếng động bước đi của thú lớn trên mặt đất.

[15] Chớ: Tiếng đầu câu hỏi, ngày xưa hay dùng.

[16] Kiếm chác: Kiếm thứ gì đó để ăn hay để làm của, không dùng cho việc kiếm đồ đã mất. Nay dùng từ nầy trong ý nghĩa xấu như lợi dụng, ăn cắp, ăn hối lộ, cửa quyền…

[17] Trở cách: Đổi giọng ra bộ niềm nỡ hay lạnh lùng.

[18] Đi gì: HTC, Tiếng hỏi giống gì vậy, sự chi, ra làm sao, thế nào. Cách nói nầy thấy nhiều trong sách Thiên Chúa giáo từ hồi thế kỷ 18.

[19] Cơ khổ: Tiếng đầu câu để tỏ ý ngạc nhiên, than thở.

[20] Không hay một đều: Không hay chuyện gì hết. Một điều cũng không ngơ!

[21] Đồn huyễn: Lời đồn không có thiệt.

[22] Kẻo đến nữa: Để không thôi sau nầy…

[23] Nghĩ tình cũ ngãi xưa: Nhớ tới tình nghĩa ngày trước (của hai đàng).

[24] Chớ như không: Nếu không, nếu không có lòng nghĩ đến…

[25] Mặc ý: Mặc tình, kệ anh, tùy ý anh…

[26] Chuyện vãn: Chuyện trò.

[27] Chọc lét: Chọc cho nhột, cù lét.

[28] La: Rầy, biểu không được làm điều gì đó.

[29] Lẻo đẻo theo khuyấy: Đi theo chọc phá hoài.

[30] Ngăm: hăm, hăm he. HTC, Lấy lời nói, hoặc ra bộ, tỏ ra sự mình muốn làm hung dữ thế gì. 

[31] Xách cẳng ném: Nắm cẳng ai đó nhỏ con hơn mình mà quăng đi. Cử chỉ của kẻ mạnh và ác độc.

[32] Trời sập đè giẹp ruột đi giờ: …bây giờ. Chữ đi giờ nay không còn dùng, đuợc thay bằng bây giờ, bi giờ, chừ… Có lẽ đi>bi>bây.

[33] Không nao: Không nao núng, không sợ.

[34] Dồi quách: Liệng lên đại.

[35] Rắn mắt: nghịch ngợm.  HTC, Trì trợm, nặng nề, không biết sợ; khó khiến, khó dạy. (Xấu, tốt, hai nghĩa).

[36] Lên trển: Lên trên ấy. Để ý cách dùng từ nói gộp lại như thế nầy thường thấy ở văn ông Trương Vĩnh Ký: cổ, ổng, trển…

[37] Mừng quá bội mừng: Mừng quá xá.

[38] Mắc mớp: Mắc bẩy lừa gạt của ai bằng lời nói, xua giục, hứa hẹn…

[39] Đâm cọp sa hầm: Giết cọp bị xụp hầm do người dân đánh bầy.

[40] Trương Vĩnh Ký nhiều lúc kết thúc chuyện bằng những lời ‘dạy đời’ rất có ích lợi cho người đọc. Những bài học đó làm cho người đọc sáng nước hơn trong cuộc sống và tử tế hơn với người chung quanh. 

[41] Ít oi: Không khôn, khờ, không biết tính toán, dễ tin nên thường bị gạt.

[42] Lo đôi bạn: Lo chuyện lấy vợ, lấy chồng.

[43] Mai dong: Người làm mai mối giới thiệu hai đàng. Xưa mai dong là một nghề vì người ta ít đi xa, ít giao thiệp, ít đến trường… nên sự quen biết nhau của trai gái rất khó khăn, vai trò của mai dong do đó cần thiết.

[44] Bỏ trầu cau: Làm đám hỏi, đám nói.

[45] Làm rể: Chàng rể sau đám hỏi phải đến nhà cha mẹ vợ tương lai ở để làm công việc nhà.Nhà vợ đánh giá để chấp nhận luôn hay từ chối tùy theo cách sống lúc nầy của chàng rể. Cũng là dịp để nhà gái lợi dụng nếu họ xấu. Ca Dao: Công anh làm rể có tài/ Một mình ăn hết mười hai vại cà…

[46] Lấy làm khó lòng: Không biết phải làm sao cho đúng. Khó nghĩ.

[47] Ông gia: Ông già vợ. Gần đây người ta thường dùng chữ ông bô là do ảnh hưởng của Pháp.  Hết Tàu rồi tới Tây!

[48] Làm giống gì: Làm chuyện gì.

[49] Thấy làm đi gì: Thấy làm chuyện gì. Cách nói xưa.

[50] Rựa: Thứ dao lớn dài, có nghéo ở đầu, dùng để chặt cây phá rẫy.

[51] Giựt mình: Lo sợ.

[52] Lăng căng: Bộ mau mắn, lanh lẹ.

[53] Người đàn ông xưa khăn thường được quấn trên đầu, hay vắt trên vai. Ở đây là đội trên đầu. (Thằng rể lột khăn.)

[54] Cong lưng chạy riết: Cắm đầu cắm cổ chạy hoài hủy.

[55] Chổng chồng mông thổi lửa: Nấu nướng xưa cực nhọc, nhúm lửa rồi phải thổi cho củi bắt lửa. Xưa bếp đặt dưới đất nên phải ngồi mà thổi lửa. Nay nói chổng mông, không nói chổng chồng mông.

[56] Mủ: Mụ ấy. Petrus Ký thường dùng cách nói gọn nầy: ổng, trển …

[57] Chạy xợt: Chạy ngang qua thiệt mau.

[58] Sợ dại nó có làm hung chăng: Sợ e nó làm dữ.

[59] La làng: Kêu lên lớn cho bà con làng nước chung quanh ai đó tới cứu.

[60] Làm nhăng: Làm chuyện gì không đúng, ở đây là con cọp ăn thịt con cóc.

[61] Léo đến: Tới nơi nào mà đáng lẽ không nên tới. Léo hánh. Nay không còn dùng chữ léo đi một mình nữa.

[62] Mầy tao mi tớ (với ai): Nói chuyện ngang hàng hoặc coi thường người đối thoại.

[63] Giỏi quá tao: Hay hơn tao. So sánh ngày nay ít dùng chữ quá mà dùng chữ hơn.

[64] Xấc: Làm tàng, làm mặt bãnh. HTC: Ỷ mình, cậy thế, càng ngang, không biết kính vì ai.

[65] Tài gì, tài gì cũng đủ miếng: Có nhiều cách thế trổ tài để thắng. Trong nghề võ người có nhiều miếng thua kẻ đủ miếng nhưng hay hơn kẻ chỉ có một vài miếng nghề. Thời Trương Vĩnh Ký nói tài gì tài gì, nay nói tất cả tài hoặc hết cả mọi tài. Cũng vậy thời nầy nói ban mai, ban mai có nghĩa là mỗi buổi mai

[66] Thách nhảy thi: Thách để đua coi ai nhảy hay hơn. Thách: Thách đố.

[67] Mương cái: Mương lớn. Trong vườn, nước vô ra nhiều mương nhỏ nhờ có mương cái chuyển nước. Để ý mương cái khác với cái mương.

[68] Làm tài hay: Ra vẽ mình hay hơn người khác. Nhóm chữ nầy tương tợ với làm tài khôn, làm tài lanh

[69] Chấp (ai): chịu thiệt thòi, không kể, không tính. Trong cuộc thi, trong cá độ chấp là chịu cho phe kia hơn mình một vài chi tiết nào đó khi nghĩ rằng chấp như vậy mình vẫn thắng: chấp điểm, chấp tiền, chấp đi tiên, chấp đá trước, chấp chạy trước. Xưa có đánh chấp cây là cho địch thủ cầm cây mình chơi tay không. Đọc chấp sách là đọc thuộc lòng không cần mở sách….

[70] Cóc quỉ: Cóc lém lỉnh, tinh ma.

[71]Xuống vai dưới: Chịu là mình dở hơn đối thủ.

[72] Tài gì tài gì: Cách nói xưa của bất cứ tài gì hoặc tài gì, không cần lập lại. X. chú về chữ làm làm ở trên.

[73] Vùi đầu vùi óc: Cắm đầu cắm cổ (đi, chạy, học hành, làm việc...)

[74] Hào hển: Thở không ra hơi. Mệt đứ đừ. Trương Vĩnh Ký viết hào hễn, chúng tôi sửa theo Huình Tịnh Của.

[75] Sảng hồn (sợ): Sợ thất kinh hồn vía nên quên tuốt. Sợ tới tên con cóc cũng không nhớ nó là con gì.

[76] Như chơi: Dễ dàng.

[77] Đánh phách: Nói miệng tài.

[78] Vật như vật nhái: Vật rất dễ dàng, không chút nào khó khăn. Trương Vĩnh Ký quá hay khi cho con khỉ nói như vậy vì nhái với cóc cũng cùng một thứ loại.

[79] Báo hại tôi giờ: Báo hại tôi bây giờ. Chữ bây/bi đã được nuốt.

[80] Đậu cật tôi lại với lưng anh: Cột hai đàng lưng đâu nhau. Cật: lưng. Cật ngựa thanh gươm vẹn chữ tòng/ Ngàn thu vẹn tiết gái Giang Đông. (Tôn Thọ Tường) Cật ngựa: Lưng ngựa. Chỉ Tôn Phu Nhơn xách gươm lên ngựa đi theo chồng. Đậu có nghĩa là chung lại, như ở đậu, đậu tiền (tiếng trong cờ bạc). Đâu có nghĩa hai đàng ráp lại, đối mặt, như gà nhà đâu mặt đá nhau. HTC: Đậu mối: Làm cho hai mối đâu lại. Ta thấy hai chữ đậu và đâu nghĩa gần giống nên ngày nay tiếng đậu cật đã được thay bằng đâu cật.

[81] Tôi hủy nó đi: Tôi giết, tôi diệt nó. Xóa sổ nó. Làm cho nó biến đi.

[82] Đâm đầu chạy miết dài: Cắm đầu cắm cổ chạy không nghỉ một hồi thiệt lâu.

[83] Nằm chinh chòng: HTC, Chinh chòng: Bộ nghiêng đầu nầy, vòng đầu kia không yên một mực; bộ không tề chỉnh. Nằm chinh chòng thì nằm gác tay, gác chơn không xuôi xả. Khỉ chết nhăn răng, ngay đơ tay chưn thì nằm chinh chòng là phải.

[84] Nhiếc: Mắng; nhiếc mắng là rầy trách nhẹ hơn chưởi.

[85] Báo người ta cho đến sức: Hại người ta đã đời. Hại cho nhiều.

[86] Ít oi: Ngây thơ, dễ dãi, ít nói. Ít oi thiệt thà: HTC, Chất phát, quê mùa, ít ăn ít nói, không biết đua tranh, không hay làm hung dữ, làm quỉ quái.

[87] Khờ không đi: Khờ quá chừng chừng, khờ quá mạng.

[88] Có mang: Có bầu, có chửa.

[89] Nằm bếp: Sanh đẻ. Trước đây, độ 6, 70 năm trước, khi sanh đẻ người đàn bà thường được đốt cho một lò than để dưới gầm giường sưởi ấm nên thời gian nầy gọi là nằm bếp.

[90] Nó khờ nên nghĩ là chó cũng như người.

[91] Không dám léo lại gần: Chẳng dám léo hánh tới.

[92] In trí sẵn: Trong trí đã nghĩ rằngmsự thế là như vậy

[93] Nói trong mình: Nghĩ thầm, nói thầm.

[94] Hễ đẻ thì hung: Hễ đẻ thì dữ. Khái niệm nầy quá sai. Hung: Dữ.

[95] Nghé: Như nghen, hen, hén, ha. Âm cuối câu chỉ có cảm xúc mạnh, tùy theo người mà âm nầy thay đổi.

[96] Non da yếu gối: Người xưa tin đàn bà mới sanh rất ương yếu.

[97] Giường cữ: Giường nằm của đàn bà mới sanh con. Cữ rất nhiều thứ cho chồng, cho người đàn bà đẻ, cho người thân tộc. Cữ là cấm kỵ không phải sanh đẻ. Từ nằm cữ, ở cữ với nghĩa sanh đẻ là hiểu theo nghĩa liên hệ đến sự việc khiến cho nghĩa ban đầu bị phôi pha đi. Cũng vậy người ta nói nằm lửa, nằm bếp để chỉ sanh đẻ.

[98] Thầy sãi: Sư trong chùa, để ý danh từ nầy, ngày nay không dùng nữa. Trong Chuyện Đời Xưa có vài ba bài châm chọc thầy sãi, tôi không cho là phỉ báng gì đạo Phật, mà chỉ vì các thầy hiện diện nhiều trong sinh hoạt xã hội lúc đó. Cha cố, không được nhắc đến vì thành phần nầy ngày đó không có bao nhiêu, sự hiện diện trong xã hội mờ nhạt nên không có mặt trong sách nầy. Tuồng San Hậu có hai sãi mầm là Đạo Chuối và Đạo Xôi làm chuyện sai quấy nhưng tuồng nầy được hoan nghinh từ bao nhiêu năm qua chứng tỏ người đọc biết phân biệt giữa đạo Phật và thành phần xấu làm nhơ danh đạo nói chung.

[99] Làm đám: Cúng đám, tụng kinh siêu độ cho người chết.

[100] Chủ đám: Chủ nhà, người chịu trách nhiệm trong việc tổ chức, chi tiêu của đám (quan, hôn, tang, tế) hôm đó.

[101] Lót lòng (ăn): Ăn uống chút đỉnh cho đở đói. Nay từ nầy chỉ có nghĩa là ăn sáng, điểm tâm. Đói bụng ăn giữ bữa ăn sơ sơ ba hột mà gọi là ăn lót lòng thì bị cho là nói trật…

[102] Bổn đạo: Tín hữu của một đạo nào đó.

[103] Lua: Và thức ăn vô miệng một cách mau lẹ, ăn uống vội vã. Thí dụ: Lua ba hột rồi còn có ra đồng kẻo trưa…

[104] Nước nôi xong xả: Trà nước xong xuôi.

[105] Kiến cắn bụng: Đói bụng, đói cồn cào như bị kiến cắn trong bụng.

[106] Nhắm chừng: Đồ chừng, đoán chừng, độ chừng.

[107] Đánh một bụng: Ăn uống cho thiệt no bụng.

[108] Đánh mò theo: Đi theo dấu, đi theo cách của người đi trước

[109] Ai hay đâu: Ai dè, ngờ đâu.

[110] Chày mổ: Chày giả gạo. HTC, Chày có cán cầm mà mổ xuống. Tôi cũng chưa hình dung chày mỗ thời Petrus Ký như thế nào. Xin ai đó chỉ giùm.

[111] Coi thử giống gì: Xem coi là cái gì, chuyện gì.

[112] Men: Đi rón rén, đi cẩn thận, đi lần lần theo, như men theo bờ ruộng bờ kinh, bờ đất, bờ rừng…

[113] Petrus Ký muốn đưa ra hình tượng con người ai cũng thế, khi đói thì phải kiếm gì đó để cho vô bụng. Nhưng lúc đói mà biết giữ ghìn tư cách thì đáng trọng hơn. Tôi từng nghe nhiều chuyện khí tiết của những thầy Tuyên Úy, Phật giáo cũng như Thiên Chúa giáo trong các trại tù gọi là Cải Tạo rất đáng khâm phục.

[114] Đứa dại: Người khờ khạo.

[115] Chắc mót để dành: Tiện tặng dành để phòng thân.

[116] Để dập: Để dành. HTC, Dành dập: Làm cho có ngằn, cần kiệm, giấu để; nhín nhúc. Từ để dập chưa thấy ở đâu khác, kể cả trong sách của Huình Tịnh Của hay Trương Minh Ký.

[117] Té ra một hai đồng: Sanh lời vài đồng. Được một chút tiền lời.

[118] Chi độ: Tiêu dùng, xài.

[119] Lấy tiền cột lưng: Xưa tiền thường được đúc bằng kim loại, có lổ ở giữa, người ta xỏ dây số tiền cần mang đi rồi cột trong mình, thường là ngang lưng quần.

[120] Bá vơ (đi): Đi không có định hướng, chẳng cần biết tới đâu. HTC, Đi bá vơ: Đi bậy bạ, đi rông vát.

[121] Đang có chơi với nhau: Đương chơi đùa cùng nhau.

[122] Bàu sen: Bàu thường là hồ, có nước, tương đối nhỏ hơn đầm nhiều. Đầm thường là bùn, sình lầy, ít nước, thường có một loại chim sinh sống như đầm chim, đầm cò. Bàu, khác với đầm. Khu bàu sen tại Sàigòn ngày trước 1975 bị đổi thành đầm sen là do người ta không phân biệt được hai từ nầy. Người dân ở đây vẫn còn dùng từ bàu sen để chỉ vùng mình ở trước đây có hồ sen lớn, và đầm sen để chỉ khu vui chơi mới lập ở đó.

[123] Lanh: Không vặt, mau miệng.

[124] Bó tiền: Xâu tiền coi bộ hơi nặng.

[125] Đếm xỉa rồi (tiền): Đem tiền ra đếm rồi trao cho ai xong xuôi (để đổi lấy vật gì).

[126] Uớt, nguyên bản in sai thành ước.

[127] Xăn tròng vo: Xăn quần thiệt chặc khi lội nước.

[128] Mệt đà le lưỡi: Mệt quá thở không ra phải há miệng để thở.

[129] Lật bật mặt trời đã xen lặn: Chẳng bao lâu thì mặt trời đã lặn. Xế chiều, tối tới nơi.

[130] Lằm lủi: Cắm đầu cắm cổ mà đi. HTC, lằm lủi: Cứ lủi lủi đi tới một bề.

[131] Mua được giống gì?: Mua được thứ gì? Mua được gì?

[132] Mắc mớp: Bị gạt. Bị lừa.

[133] Gạt lớp: Gạt. Lừa, phỉnh…

[134] Kể lại đầu đuôi gốc ngọn: Kể lại chi tiết từ đầu đến cuối.

[135] Mắng cho một cấp: Chưởi một hồi.

[136] Gằm đầu: Cúi đầu, chẳng dám ngước lên khi bị rầy la. Gụt mặt. Chỉ tình trạng xấu hổ hay sợ sệt.

[137] Lão kia: Người kia, cách nói nầy như nói thằng cha kia, cha kia…không có nghĩa là một người già.

[138] Cực thì thôi: Nhóm chữ chỉ sự xót thương, tội nghiệp. Cơ khổ.

[139] Khéo lo khéo liệu: Biết tính toán, biết lo xa.

[140] Mạnh giỏi: Có sức khỏe.

[141] Ngặt: Cái khó khăn. HTC, Ngặt: Nguy hiểm, gian nan, túng cùng hết thế.

[142] Cứt cò: Cò kiếm ăn, tìm chỗ có nhiều cá, thường đậu trên cây gần đó, ỉa cứt, dính trắng cây, nông dân có kinh nghiệm biết chỗ nước ở đó có cá.

[143] Lăng căng: Vội vã, lo túi bụi. Nay ta nói lăng xăng mặc dầu thời Petrus Ký hai từ nầy đều được dùng.

[144] Đó (cái): Dụng cụ để bắt cá.

[145] Bần (cây): Loại cây mọc mé nước, có nhiều ở vùng sông nước miền Nam, trái chua chua chát chát, con nít nhà quê thường bẻ ăn cho vui miệng khi đi tắm song, leo cây… CD: Bần gie đơm đớm đâu sáng ngời./ Lỡ duyên tại bậu trách trời sao đang.

[146] Thường trong dân gian ngày trước có nhiều chuyện như cười ngạo người khuyết tật, Petrus Ký ở đây chỉ ghi lại bằng giọng văn của ông. Nên đọc chuyện nầy để hiểu rằng lời dặn không rõ ràng thì người nghe dễ hiểu sai lệch hơn là để ý đến sự thiếu thông minh của người khờ khạo mà cười ngạo.

[147] Gành (cái): Chỗ đất gie ra bên mé biển, như Gành Ráng, gành Hào.

[148] Cứng gối: Nói đàn bà sau khi sanh để một thời gian thì mạnh trở lại. Đây chỉ cua cái, vỏ cứng lại sau khi lột.

[149] Kế lấy: Kế đó, sau đó.

[150] Rát rao: Rát, rát lắm.

[151] Vô tình: Không có tình cảm với ai. Nay nói vô cảm, chữ vô tình chỉ nói về trường hợp vô ý, không để ý

[152] Không màng đến: Chẳng để tâm đến.

[153] Ngồi lê đôi mách: Đi xạo sự đằng nầy đằng nọ. Nay nói là đi tám chuyện, đi buôn chuyện.

[154] Nhơn vật đạo đồng: Tánh người và tánh thú vật có điều giống nhau. Chuyện nầy gần đây được viết thành bài ca Vọng cổ rất hay. Thiệt ra một vài trường hợp chứ không phải là tất cả. Ông Trương Vĩnh Ký có qua bi quan chăng?

[155] Mắc: bị, bị thua.

[156] Bắt trước mũi: Từ đằng trước mũi mà đi tới.

[157] Rừng cao: Rừng nhiều cây cao lớn.

[158] Quá cha tao đi nữa: Hơn cha tao nữa. Nay  nói: quá cha tao, hơn cha tao, quá cha tao nữa, hơn cha tao nữa. Tiếng đi trong câu nầy đã bị biến mất.

[159] Láo dinh láo quê: Nói láo ở thành phố, ở nông thôn.

[160] Ngồi ghé: Ngồi chỉ để một phần đít lên ghế thôi, tỏ ý kính trọng người đương ngồi ở đó

[161] Lật độ: Làm cho lòi chành, làm cho thấy bên kia là sai trái mà cứ nói mình phải. HTC đưa ra một nghĩa khác nữa: Lật độ: Phá việc tức ngang. Đàng gái lật độ, không chịu gả con.

[162] Sẽ cho tôi: Chia cho tôi.

[163] Miếng sành: Miểng sành, mảnh bể của chai lọ, đồ sứ…

[164] Lả mặt: Rách mặt.

[165] Tôi đi đây: Tôi đây. Cũng cũng như nhiều câu nói khác, chữ đi nay đã bị biến mất

[166] Ăn trọn một mình không đặng: Câu nầy không đúng với sự kiện trong chuyện vì thằng kia đem tiền của mình ra mà đùa giai.

[167] Trớ trinh: Nói qua nói lại, lật lọng, HTC, Trớ trinh: Nhiều lời nói, dối trá, láo xược.

[168] Lịch sự: Đẹp, có nhan sắc. Chữ nầy nay đã biến nghĩa thành ra là người biết cách giao tế.

[169] Gắm ghé: Muốn đi hỏi cưới.

[170] Đi nói: Đi hỏi cưới con gái nhà ai.

[171] Hết sách hết vở: Hay quá. Hay còn hơn sách.

[172] Vậy thì ngày trước chuyện làm rể bị xù, bị lật độ, nói theo ngày nay là bị bẻ chỉa không cho cưới cũng là khá bộn bàng!

[173] Cứ mực thiệt mà làm: Sống, hành động thiệt thà, chơn chất.

[174] Tới nước: Tới lúc, tới cở, tới hoàn cảnh… chữ nước nghĩa nầy còn thấy ở từ hết nước, thua nước, nước tiên, nước hậu…

[175] Đường câu ống: HTC, Câu ống: Câu có ống nối cũng là cách câu dầm. HTC giải thích hà tiện lời quá, tôi chưa thấy cái câu ống nên đọc lời giải thích nầy cũng chưa hình dung được câu ống ra làm sao. Xin chỉ giùm.

[176] Cái đường câu: Theo nghĩa của đoạn nầy thì đây là cái cần câu. HTC: Đàng câu: Sợi dây câu. Điều nầy cho ta suy ra ngày xưa có lúc người ta câu không dùng cần câu mà chỉ thả xuống nước sợi dây câu thôi, như trẻ nhỏ nhà quê thường dùng.

[177] Lỡ bữa: HTC, Đương ăn nửa bửa; không nhằm bữa ăn, quá bữa ăn. Anh tới lỡ bữa, không biết làm sao. Ở đây có nghĩa là lúc thiếu thức ăn.

[178] Vàm: Chỗ cửa sông, như Vàm Cỏ, vàm Tượng, vàm Tuần.

[179] Câu đồ: Có lẽ là đồ câu in sai?

[180] Đá hàn: Đá ngầm dưới long song, lòng rạch.

[181] Hò lơ hò dịch (kéo câu/lưới): Kéo hết sức, kéo mệt thở le lưỡi. Hò lơ là tiếng hò cuối câu để làm khiến cho bớt mệt khi nhiều người làm công việc nặng nhọc.

[182] Bọc trong lưng: Giấu trong lưng quần.

[183] Giập bã trầu: Thời gian ngắn chừng ăn xong một miếng trầu.

[184] Nhai nguồm nguàm: Nhai miệng đầy thiếu điều rớt thức ăn ra ngoài. HTC, Nhai ngỏm ngoãm: Nhai lớn miệng, miệng cham bam.

[185] Quải cho ông bà: Cúng cơm cho vong linh ông bà hưởng. Đám giỗ ông bà.

[186] Ầm ạp: HTC không có từ nầy mà chỉ có từ ầm ầm ai cũng đã biết nghĩa.

[187] Kiếu về: Xin phép về sớm trogn đám tiệc, đám hội… Lời nói lịch sự.

[188] Dùn dây: Thả lỏng, thả thêm cho dây dùn lại. CD: Dây dùn khó đứt bạn lang khó tìm.

[189] Xẻ (đầu ) ra: Tét đầu. Thương tích hở miệng.

[190] Xát vô: Trét vô.

[191] Rát rao: Rát, xót xa, rát quá.

[192] Thú thiệt là tôi không thích cái chuyện nầy, ghét nữa là khác. Ai đời ông già có con gái cưng mà quyết gả cho thằng nào láo thiên láo địa,vậy thì nói láo lên ngôi sao? Hay là Trương Vĩnh Ký có tài tiên tri cho cả trăm năm sau?

[193] Ngay từ câu đầu Trương Vĩnh Ký đã cho thấy ông chê bai nghề nầy. Bói ra ma!

[194] Ứng (bói): Bói trúng.

[195] Đánh phách: Làm phách.

[196] Khua miệng rân: Ba hoa về tài của mình.

[197] Có mất con rùa vàng: Cách nói kiểu dư chữ nay không được dùng nhiều nữa.

[198] Võng dá: Nguyên bổn viết như thế, tự điển viết võng giá, tức võng lọng, những thứ dùng mời rước quan chức hay người đáng kính trọng. Như xe limousine ngày nay! Nói láo đời nào cũng vậy, ăn trên ngồi trước thiên hạ.

[199] Bấn bíu: Lo lắng quá nhiều. Bấn xúc xích.

[200] Lo đái ra cây: Lo quá sức.

[201] Bay đầu: Bị xử trảm. Xưa làm việc với vua, ngán cái chuyện nầy do thất bại hay không vừa ý vua

[202] Bịt khăn bận áo: Sửa soạn áo quần tề chỉnh. Nhờ TRươgn Vĩnh Ký dùng chữ bịt khăn ta nay hình dung được phần nào lối ăn mặc ngày xưa: Khăn bị trên đầu khi ra đường. Nó là hình thức đầu tiên của khăn đóng sau nầy.

[203] Liệu phương nào: Tính cách nào, nghĩ cách gì đó để giải quyết vấn đề.

[204] Thông thiên đạt địa: Biết chuyện trên trời dưới đất. biết nhiều điều người khác không biết.

[205] Anh thầy: Dùng từ kiểu nầy cũng là dụng ý của tác giả, như chữ va ở dưới, coi thường tên thầy bói.

[206] Hở hơi: Thở ra khoan khoái, hết lo rầu.

[207] Mà hòng sợ: Đừng lo sợ.

[208] Mới hở hơi: Mới thở được, mới hết lo lắng.

[209] Lới bình luận thường có cuối truyện của ông Trương.

[210] Vạc đồng (cái): thứ chảo thiệt lớn làm bằng đồng. Vạc đồng (con): Loài chin ăn đêm tiếng kêu nghe như vạc vạc từ đó có tên

[211] Bán quách: Bán liền. Từ quách đi sau một động từ làm cho động từ có tính cách thực hiện liền ngay, không chần chờ, chẳng suy nghĩ: mua quách, lấy quách con đó cho xong, bỏ quách nó đi..

[212] Cứ cù lần hoài: Cứ hẹn nay hẹn mai, cứ lần lữa. Nay nói: Cù cưa cù nhằng, cù nhầy. Chữ cù lần nay mang nghĩa khác là ngu ngốc, không được lanh lợi, hoặc là tên một giống khỉ nhỏ con.

[213] Túng thế: Không còn cách nảo khác.

[214] Đơn quì: Tôi không hiểu từ nầy, chẳng lẽ làm đơn thưa đến qua phải đội đơn mà quì chờ nghe xét?

[215] Vạc đồng: Con vạc sống, không phải con vạc làm bằng đồng. CD: Cái cò cái vạc cái nông/ Sao mầy đạp lúa nhà ông hỡi cò…

[216] Không có rạch: Không rạch ròi, chẳng rõ ràng.

[217] Mắc lý: Bị thua lý với đối phương trong sự tranh kiện….

[218] Báo cho bỏ ghét: Báo thù, báo hại cho hả giận, như cô kia tạ acid tình địch….

[219] Xúc gan: Tức mình, giận quá sức giận. HTC cắt nghĩa hơi khác chút đỉnh: Chọc giận, làm cho tức mình. Các bản in sau nầy không hiểu chữ xúc gan nên đã sửa lại là tức gan. Hết biết!

[220] Mang nhơ xấu tiếng: Bị chê bai.

[221] Trẻ: Tiếng gọi chung chỉ người giúp việc.

[222] Cũi: HTC, Đồ đóng bằng cây, tra song mà không đóng bịt (bít bùng); đồ nhốt thú vật làm bằng cây có thể mà khiêng, cũng có khi dùng mà nhốt người ta; nhốt người nặng tội mà khiêng đi.

[223] Nhào nó xuống: Liệng nó xuống, đạp nó xuống.

[224] Bực sông: Mé giáp nước của bờ sông. Chỗ cao thấp xuống gọi là bực, nay còn bực thềm, bực thang, bực tam cấp… nhưng không còn ai nói bực song.

[225] Làm mưu: Lập mưu kế.

[226] Tran: Cái khám thờ, thường đặt trên cao trong nhà. Tran thờ, Phật, thờ thần tài. Nay thường dùng nói châm ngạo kẻ sợ vợ: Nó lập tran thờ bà!

[227] Nghe lọt vào tai: Nghe phải lý lẽ, nghe vừa ý.

[228] Lăng căng: Lật đật. Cử chỉ lẹ làng.

[229] Mấy chục năm trước tôi còn thấy người cùi đi ăn xin nhan nhãn ngay ở Sàigòn. Thời Đệ Nhứt Cộng Hòa hình như có chủ trương gom lại những người xấu số nầy nên không thấy nữa.

[230] Làm tỉnh: Giữ thái độ bình tỉnh không cho người khác biết mình đang gặp rắc rối hay đang mưu tính điều gì.

[231] Lành trơn: Thường phung cùi thì bị lỡ lói. Bây giờ lành trơn nghĩa là hết, da lại trơn tru…

[232] Đã tật: Tức đả tật nghĩa là trừ bịnh, đánh bạt bịnh đi. HTC trường hợp nầy cho là có nghĩa làm cho bớt, cho hết, như dã thuốc  độc, dã rượu, dã say, ông còn dẩn và giải thích câu tục ngữ: Thuốc đắng dã tật, lời thật mất lòng: Thuốc đắng khó uống mà bịnh lành, lời thật mất lòng mà hay sửa tính nết.

[233] Đi xẹo: Tránh đi chỗ khác. HTC, đi tránh, đi lãng. Chữ xéo ngày nay là có nguồn từ chữ xẹo.

[234] Táo tác: Kiếm tở mỡ.

[235] Đạp dộng: Đạp nhầu, đạp đại. HTC, Đạp đùa, đạp tống. Lấy chơn mà đánh cho ngã ra. Đạp dộng cữa ngõ.

[236] Đi miết: Đi thẳng một lèo, đi không ghé nơi nào, lầm lũi mà đi.

[237] Mất công mất linh: Mất công, uổng công. Công linh/công lênh: Công việc. Quốc Văn Giáo Khoa Thư: Công lênh chẳng quản bao nhiêu./ Ngày nay nước bạc ngày sau cơm vàng.

[238] Kiếm phương thế gạt chúng: Tìm cách lừa đão người ta.

[239] Lăng căng: Lật đật, lăng xăng.

[240] Thấy dị: Lấy làm lạ.

[241] Và khóc và nói: Vửa khóc vừa nói.

[242] Bệu bạo: Nói không rõ ràng trong khi khóc nên tiếng khó nghe.

[243] Lộn lưng: Cách đem tiền theo mình ngày xưa. Bỏ vô lưng quần lộn lại vài ba lần cho tiền khỏi rớt. Kẻ lộn lưng thường bị bợm bãi lật lưng lấy hết tiền. Cũng dễ bị rớt tiền vì chỉ vô ý hay bị ai giựt quần cho tiền rớt ra.

[244] Lặn hết hơi không được: Lặn không đủ hơi nên không thể xuống sâu được.

[245] Ních đồ vô: Bận đồ vô. Nay chữ ních nầy chỉ còn dùng cho nghĩa chữ ăn mà thôi

[246] Tử tế: Nói về sự ăn mặc tươm tất, có vẽ phong lưu.

[247] Nhờ tổ: Nhờ ông bà, tổ tiên.

[248] Đủ no mọi bề: Đầy đủ mọi thứ.

[249] Ngay cán cuốc: Ngay đơ, thẳng cẳng.

[250] Chuyện nầy theo tôi ông Trương Vĩnh Ký không nên kể lại vì tính chất vô luân của nó. Có đâu vì một chút giận hờn mà tính kế giết cháu ruột. Rồi thằng đó gạt để cho người cùi bị chết, gạt để giết chết chú nó… Bậy! Bậy! Bậy! Quá bậy!

[251] Kiếm chước nói giải cho xuôi: Tìm cách giải thích cho nghe được.

[252] Râu tài: Sợi râu thường mọc đơn lẽ hay mọc trên nốt ruồi, được giải thích là râu tài: râu của người có tài nghệ gì đó hay dễ kiếm được tiền…

[253] Anh va: Anh chàng, anh ta, hắn…

[254] Bịnh rước thầy đi chữa: Nhà có người bịnh nên rước thầy đến trị..

[255] Truông: Chỗ đi nguy hiểm trong rừng, trong núi, thường có cọp voi hay cướp đảng.

[256] Ném qua bên kia: Về phía bên kia.

[257] Bánh lớ: Bánh làm bằng bắp đâm nhỏ rang lên rồi pha với đường, vắt lại thành viên. Như một loại cốm. Miền Tây cách nay chừng gần thế kỷ còn có. Nay không thấy nữa, hiện chỉ còn ở vùng Nam Trung Việt và đã được biến cải bằng nhiều thứ bột khác nhau.

[258] Xợt xợt: HTC, Bộ đi xăm xúi; đi trờ tới, đi lỡ bước.

[259] Sạt (tiếng): Tiếng động khi đánh vào khóm lá..

[260] Một chặp: Một lúc khá lâu.

[261] Mặt cắt không đặng một chút máu: Sợ xanh mặt.

[262] Thất thanh đi vậy: Sợ quá vậy? Chữ đi nầy bây giờ không dùng nữa.

[263] Chú chàng: Như chữ anh va ở trên. Tiếng chỉ ngôi thứ ba có chút diễu cợt.

[264] Sợ té đái: Sợ quá, nước tuông ra quần.

[265] Mượn sợ: Không sợ, biệt sợ, nỏ sợ.

[266] Chú nghỉ: Như tiếng anh va, chú chàng ở trên. HTC, chú nghỉ: Tiếng kêu chơi, hiểu là nó, tên ấy, chú ấy, người ấy, anh ta. Kiều: Gia tư nghỉ cũng thường thường bậc trung. Vậy thì nghỉ không phải là tiếng riêng của Hà Tỉnh, có điều là chữ nầy ít thấy ở miền Nam.

[267] Mẻ: Tiếng đầu câu chỉ sự ngạc nhiên như quái, lạ

[268] Phải ở đâu: Đâu phải!

[269] Bá láp: Không đúng, bậy bạ. HTC, Bá láp: Hư, cà lếu, không nên việc gì. Đi bá láp; làm bá láp. Vậy nhìn bá láp là nhìn tầm bậy thứ gì của ai, không đúng. Nói bá láp là nói lộn xộn, chẳng đâu vô đâu, vô lý.

[270] Chạng vạng: Lúc trời vừa sâm sẩm tối.

[271] Chạy sảng hốt: Chạy trong kinh hoàng. HTC, Sảng hốt: Hoảng kinh, không còn nhớ sự chi.

[272] Cho mà coi: Nay thường nói cho coi. Tiếng nói có khuynh hướng đơn giản từ từ.

[273] Quả (thấy): (Thấy) thiệt như vậy, đúng như vậy.

[274] Chưng hửng: Ngạc nhiên. HTC, Chưng hửng: Sửng sốt, lấy làm lạ, không dè.

[275] Hồi: Hồi đó, lúc đó.

[276] Ông bà son: Cặp vợ chồng trẻ, hiểu là cưới nhau không lâu lắm.

[277] Trời độ vận: Gặp may mắn. Hên.

[278] Thỉnh thoảng ta gặp trường hợp dùng chữ khác với chữ trong Nam thường dùng như thế nầy, như chữ ném, chữ chú nghỉ trong chuyện thứ 14.

[279] Ăn hung quá: Ăn nhiều quá, ăn dữ quá xá. Hung đi sau động từ  tạo nên nghĩa nhiều, lắm như đánh hung cải hung, giãy dụa hung lắm…

[280] Bung kia chảo nọ: Các nồui lớn nhỏ đựng nấu thức ăn.

[281] Túng thế: Hết cách.

[282] Còn đang hào cường: Lúc khá giả, lúc có của ăn của để.

[283] Và vàng và bạc: Vừa vàng vừa bạc. Cách nói và… và nay nói vừa… vừa thấy rất nhiều trong chuyện Đời Xưa.

[284] Bảy mươi muôn lượng: Cách nói xưa của bảy trăm ngàn lượng. Muôn: Mười ngàn. Học Lạc nói xách mé người bạn giàu keo kiệt khi dùng chữ muôn (10 000) để nói chữ muông (thú vật): Tôi khó anh giàu đã hóa muôn.

[285] Túng (tiền): Lúc thắt ngặt không có tiền chi dụng. Túng (thế): Hết cách. Bí lối giải quyết

[286] Nhẹ hều: Nhẹ tênh.Nhẹ hễu.

[287] Vạm vỡ: thân thể cường tráng, bắp thịt rắn chắt.

[288] Ở rừng ở buội chèo queo: Ở cô độc trong rừng

[289] Đảnh núi: Đỉnh núi, chóp núi.

[290] Búng má: Phùng má lấy hơi.

[291] Coi khá mòi: thấy có vẽ được, ưng ý.

[292] Cuốn áo: Sửa soạn, chuẩn bị quần áo để đi đâu.

[293] Dị kỳ tướng: Hình dáng lạ lùng. tướng tá lạ lùng.

[294]Lục thục: HTC, Lục thục: Thủng thỉnh, chẫm rải, lần lần, kế theo. Tôi nghĩ là Ông Petrua Ký muốn diễn tả ý nhởn nhơ. Chữ lục thục khiến ta nhớ đến chữ lúc thúc, mà HTC định nghĩa là: Lui cui, lục đục, xây ra xây vô trong một chỗ. Vậy thì lục thục mang nghĩa vui thích ở chỗ vắng trong khi lúc thúc chỉ sự cô độc cũng ở chỗ vắng vẻ.

[295] Để rục: Để cho rữa nát mất thịt còn trơ xương. Nấu thịt cho rục là nấu tho thiệt là mềm.

[296] Bắc thảo: HTC rất ích lợi khi cho từ nguyên của chữ nầy: Bắc thảo: Nó là Bắc-đẩu, nói theo tiếng Phúc-kiến. Tên xứ ở bên Trung-quấc. Hàng bắc thảo, hiểu là hàng tốt.

[297] Gởi dộng: N:hắn gởi. Dộng là nói với kẻ bề trên, như nói với vua, với quan lớn.

[298] Quách (hại): Giết nó ngay đi.

[299] Làm nhăng mà khốn: (Họ) đánh ta, hại ta thì ta rất nguy hiểm.

[300] Léo: Mưu chước. Từ nầy tôi chưa từng thấy ở chỗ khác.

[301] Rập xuống: Ngả rạp xuống.

[302] Bợm: Người.

[303] Ăn (nó ăn ta đi): Thắng trong cuộc đánh nhau, cờ bạc, tranh giải, thi tuyển…

[304] Hểu hểu: Nhẹ hều nhẹ huể.

[305] Tốt phước: May mắn nhờ phước đức ông bà để lại. Quan niệm xưa về sự thi đậu, sự làm quan, chuyện gặp hên…

[306] Tham tâm: Lòng tham.

[307] Lỡ vận: Vận không may, chẳng thi đậu hay làm nên chuyện gì…

[308] Không ra khách được: Chẳng thể ra tiếp khách.

[309] Lễ mễ: Vật làm lễ cho người nào đó để mong cầu cạnh hay tỏ lòng tôn kính.

[310] Lẻo đẻo: Đi tới chỗ nào hay đi theo ai hoài hoài.

[311] Heo choai: Heo vừa vừa, không lớn không nhỏ.

[312] Lếu láo: Làm chuyện gì cho có, miễn cưỡng, chẳng thiết tha.

[313] Bỏ ra về một thể: Bỏ ra về thẳng, bỏ đi một nước, chẳng cần quay mặt lại.

[314] Bay/bây: Tiếng ở cuối câu chỉ nghĩa ngạc nhiên mà muốn nói cho người khác nghe. Ở đây cùng tác dụng của chữ ha ngày nay. Thằng nầy phạm thương ha!

[315]Điềm chỉ: Lăn tay, lăn tay để lấy dấu như chữ ký ngày nay.

[316] Làm tờ: Làm tờ cam đoan, làm giấy cam kết. Xưa người biết chữ ít nên cần giấy tờ gì phải mướn người có học (học trò) làm giùm. Thơ tuồng hát bội Trương Ngộ có một đoạn dài mô tả rõ ràng chuyện làm tờ…

[317] Dưới kế lấy đó: Nay nói gọn hơn nhiều: kế đó; ở dưới; kế ở dưới; dưới đó…. thường không cần chữ lấy.Ghi nhận nầy để cho thấy cách nói hơn trăm năm trước đến nay đã thay đổi nhiều.

[318] Bài nầy tôi đọc lại hai ba lần mới hiểu hết ý nghĩa. Tại sao lại là thằng đi ăn ong? Sáp giống như thứ gì?

[319] Thằng hát bội: Cách nói khinh thị nầy là theo quan niệm xưa, chắc là phổ thông chớ không riêng gì của Petrus Ký.

[320] Xâm (nói): Nói xa gần để chọc mà người nghe khó lòng bắt bẻ. HTC, Nói xâm: Nói lời châm chích, xóc hông, nói bài biếm.

[321] Đi ăn ong: Đi lấy mật ong trong rừng.

[322] Xong đời: Chết.

[323] Chàng hảng: Đứng bẹt hai chưn ra.

[324] Xí hụt: Tiếng ngạo cười rằng bắt không được, chụp không trúng.

[325] Cũng có thằng khác… Lại  là cách nói khi dễ diễn viên hát bội như bài trên. Tư tưởng xướng ca vô loại  đến thời nầy vẫn còn…

[326] Ít đàng: Vài đường cày. Ruộng, cày bắt từ đầu  nầy tới đầu kia là một đường.  Mới cày ít đàng là không cày được bao nhiêu.

[327] Nổi thần hung: Nổi giận.

[328] Xóc tâm (nói): Nói chạm khiến  người ta phát giận mà khó thể lên tiếng. HTC có từ nói xóc óc mà không có từ nói xóc tâm.

[329] Trong khi diễn tuồng hát bội, phía dưới khán quan người ta chọn ông nào có vai vế ở địa phương và biết rành hát bội được vinh dự cầm chầu để đánh trống thưởng. Khi diễn viên diễn hay hát hay thì người cầm chầu gỏ vào tang trống (thành trống) để chầu hay đánh vào mặt trống để thưởng. Nên nhớ rằng mặt trống lúc trước được làm bằng da trâu thuộc…

[330] Điếc lác: Điếc.

[331] Năng: Thường.

[332] Mới tới nhậm: Mới đến nơi nhận việc cai trị.

[333] Chẳng lành thì chớ: Bị xui xẻo.

[334] Quở: Rầy.

[335] Ngang quá ghẹ: Con ghẹ, cua bò ngang chớ không bò tới nên người ta nói nó là ngang. Nay nói ngang như/hơn cua.

[336] Dễ ngươi: Coi thường, lờn mặt.

[337] Cờ bơ cờ bấc (đánh): theo văn cảnh ở đây thì ta có thể cắt nghĩa là: Đánh cho te tua… HTC viết nhóm từ nầy cách khác hơn và giải thích cách khác. Cù bơ cù bất: Bộ tất bất nghèo nàn, không chỗ nương dựa.

[338] Lếu: Làm chuyện lăng nhăng, không đúng.

[339] Leng keng: Thú thiệt là tôi không biết nghĩa từ nầy. Theo văn cảnh thì đây có thể là chữ lơn tơn đã bị đọc theo âm miền ngoài. Nhưng sao Trương Vĩnh Ký lại viết theo âm của miền ngoài? Hơi khó hiểu. Cần có người cao kiến.

[340] Mét: Mách lại chuyện gì đó cho người lớn về việc quấy của ai.

[341] Quạu quọ: HTC cắt nghĩa từ nầy rất đạt. Quạu quọ: hay giận, hay gây, chuyện lành sanh dữ , tuồng mặt không vui vẻ.

[342] Lảng tai: Tai bị bịnh nghe không rõ, tiếng được tiếng mất.

[343] Khuấy chơi: Chọc phá nho nhỏ để mua vui. Chẳng hạn giấu đồ vật của ai cho người ta tìm đã rồi mới chỉ..…

[344] Nhảy cà tứng: Nhảy lên nhảy xuống vì vui mừng. Petrus Ký viết cà tứng hai lần trong bài nên không thể cho là in sai, nhưng tôi nghe nói cà tửng bao nhiêu năm nay. Dấu thinh theo thời gian biến đổi là thường.

[345] Con mẻ: Con mẹ ấy. Nay mấy từ kiểu nầy (thằng chả, ổng…) dùng cho người mình không ưa, không nói một cách bình thường như thời của Petrus Ký.

[346] Lùi (khoai lang): Nhét khoai lang vô trong đống than đương nóng để nướng. Thay vì đống than là đống tro đương nóng gọi là lùi tro. Hột mít lùi tro, ăn no té địt…(con nít hát chơi.)

[347] Lơn tơn: HTC, Lơn tơn: Bộ lật đật đi một mình. Lơn tơn xách gói đi theo. Lúc nhỏ tôi nghe người lớn hỏi: Mầy đi đâu mà lơn tơn đây? Chữ lơn tơn trong trường hợp nầy cắt nghĩa khác với HTC!

[348] Thấy bóng: Thấy dạng ở xa xa.

[349] Mà mắc nó nóng quá: Vì nó nóng quá. Lối nói xưa ở miền Nam ưa dùng từ mắc: Mắc cười mắc ỉa…, mắc coi chừng con nít…

[350] Vợ chồng ngày xưa thường mầy tao với nhau. Người bình dân ở trong đồng ruộng xa xôi hiện tại cũng còn dùng lối xưng hô nầy.

[351] Lục đục: Lúc thúc làm công chuyện dưới nhà bếp. HTC: Lục đục: Khua động; khua cái nầy động cái kia; bộ hay chuyển chệ; soạn sành khua động; xây ra xây vô ở trong nhà; chậm chạp. Ngày nay từ lục đục mang thêm nghĩa mới rộng hơn là vợ chồng xào xáo cơm chẳng lành canh chẳng ngọt.

[352] Nhớ trực: Giựt mình nhớ lại chuyện chưa hoàn thành, Nay có thể nói trực nhớ.

[353] Tốt kiếp thì thôi thê: Tiếng than chỉ bất hạnh, chẳng may. Chữ thê nhấn giọng nay đã không còn!

[354] Nổi xung: Nổi hung, phát giận. Từ hung biến thành từ xung chăng?

[355] Trỏng (ở trỏng): Ở trong ấy, trong đó.

[356] Cũng là một sanh hoạt đáng ghi của hơn thế kỷ trước.

[357] Bồ lúa: Đồ dựng lên để cho lúc khỏi tràn ra ngoài.

[358] Đói bụng thét: Thét là thúc tới, đói bụng thét là đói bụng nhiều, bắt muốn ăn.

[359] Ngó quanh ngó quất: Ngó chung quanh để tìm một chỗ vừa ý  hoặc coi có ai để ý đến mình hay không.

[360] Trờm tới: Đi trờ tới. HTC cắt nghĩa là: Xơm tới, lố tới. Trong khi Xơm tới thì ông cắt nghĩa là Áp tới, xốc tới, xốc vào. Vậy thì ta có thể hiểu thêm rằng đi trờm tới là đi tới chỗ nào đó mà mình vô tình không chú ý đến chung quanh.

[361] Sớt: Đem từ phần nầy chia cho phần kia. Ở đây con dâu nói rằng mình đem ra để sớt bớt cho mẹ chồng, chị ta không nói bưng cho mẹ nguyên chén chè.

[362] Viết chuyện có giải thích kiểu nầy Petrus Ký muốn người đọc hiểu hơn nhưng làm cho kỷ thuật viết mất cái hay ho đi. Khuyết điểm nầy thấy nhiều trong tập chuyện Đời Xưa.

[363] Bốn bề đá dựng: Bốn bên đều là đá cao ngất.

[364] Sóng tạt bổ ầm ầm: Sóng đánh mạnh vỗ vào ầm ầm.

[365] Canh giữ nhặt nhiệm: Canh giữ nghiêm nhặt.

[366] Thiên hạ đồn dực: Người ta đồn om lên, đồn rần. HTC viết là đồn rực và định nghĩa là nói om, nói rân. G. Hue viết như Trương Vĩnh Ký.

[367] Rờ rẫm: Rờ với sự nâng niu sung sướng. Nàng tiên thích cái hoa đó quá!

[368] Ấy là các tiên cùng đi với Từ Thức.

[369] Gãy lưỡi (nói): Năn nĩ hết lời, hết sức.

[370] Quan lão: Ông quan, tiếng gọi tang bốc, không phải là quan già.

[371] Nưng cái hoa: Bợ cái bông lên, nâng lên.

[372] Cổ: Cô ấy.

[373] Khoăn khoái: Nhớ lắm. Từ xưa không phải khoan khoái chữ thường dung hiện giờ.

[374] Lồm cồm chổi dậy: Đương nằm bỗng chống tay ngồi dậy mau mắn.

[375] Xuồng ong: Xuồng nhỏ chỉ dùng cho một người ngồi.

[376] Đủ no mọi đàng: Đầy đủ mọi thứ. Để ý chữ no ngày xưa có nghĩa là đầy đủ, nhiều.

[377] Ổng: Ông ấy.

[378] Mà khốn: Mà bị nguy hại. Bị gặp chuyện không may.

[379] Mẽ: Tiếng đầu câu tò sự ngạc nhiên và tự hỏi. Như tiếng Oh! của Pháp.

[380] Giống gì: Thứ gì, chuyện gì.

[381] Lục tặc: Theo giáo lý nhà Phật sáu thứ: sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp, điều khiển bởi 6 phần trong con gười ta là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, làm cho người có khuynh hướng thụ hưởng khiến khó tu hành nên được gọi là sáu giặc. Trong dân gian, người bình dân hiểu lục tặc là sự tò mò không chính đáng.

[382] Lục tặc đem vùng mở phứt ra: Ta nên hiểu câu nầy như sau. Sự tò mò khiến ông ta mở liền cánh của ra, không nghĩ ngợi gì.

[383] Còn nhỏ trai: Thanh niên, con trai còn trẻ.

[384] Hay cầu vui: Ham vui.

[385] Chó vện: Chó có nhiều sọc lông vàng. Vện, HTC, Chó vện: Chó văn xiên xiên mà dài.

[386] Lợt xợt vô: Đi vô mà không chú ý gì tới chung quanh.

[387] Đạp lăn cù: Đạp khiến đối tượng ngã lăn.

[388] Nổi ốc: Sợ quá, trên da ở mỗi chơn lông nổi lên những chấm nhỏ, người ta kêu là ốc.

[389] Tởn không dám: Sợ, chừa không dám nữa. Nay ta nói tởn hay không dám. Không cần dùng cả hai.

[390] Gò Quao, cũng như nhiều vùng khác của Lục Tỉnh ngày xưa có nhiều cọp. Gia Định Nhất Thống Chí của Trịnh Hoài Đức có nói nhiều chuyện về cọp ở Gia Định. Những nơi xây dựng thônlàng trên đất cao thường có địa anh là gò: Gò Đen, Gò Dầu, Gò Kén, Gò Dưa. Gò Chén.

[391] Lỉnh nghỉnh: Nhiều quá, nói về thú, khi nói về loài bò sát thì người ta nói lểnh nghểnh.

[392] Sinh hoạt nầy cũng rất hay khó thể tìm ở đâu: Ăn dừa nước non thế chuối chát mà phải chống xuồng đi vô rừng để kiếm.

[393] Thấy cọp dội lại: Đương chạy tới, thấy con cọp nên lật đật ngừng lại. Dội lại: Đương làm chuyện gì mà ngừng lại không làm vì nhận thấy bất lợi gọi là dội lại.

[394] Chạy miết: Chạy không ngửng nghỉ.

[395] Lòn bóng: Theo những chỗ không có ánh sang mà đi vô đâu…

[396] Trính: Cây đòn ngang nối liền hai khu đĩ.

[397] Khu đĩ: Trên vách nhà phía sát nóc phần hình tam giác là khu đĩ.

[398] Chưng hửng: Ngạc nhiên vô cùng.

[399] Đừng léo tới đây: Chớ có vát mặt tới, đừng léo hánh đến…

[400] Pha lửng: Chọc phá thiên hạ.

[401] Ăn phức: Ăn liền tức khắc, ăn ngay.

[402] Lý luận hay nhưng nếu bị vua giam vô ngục hay phạt đánh bổng thì nói sao cho khỏi đây!

[403] Thiên trùng vạn điệp: Đông vầy.

[404] Ôm quách: Ôm liền, bắt đại. Nguyên bản của Trương Vĩnh Ký in sai thành ôm quác nên rất khó hiểu.

[405] Thịt thà: Thịt cá, nói chung là thức ăn ngon.

[406] Đầu tôm xương cá: Nói chung là thức ăn dở, cơm thừa canh cặn…

[407] Kiếm táo tác: Tìm khắp nơi. Kiếm tìm tở mở.

[408] Có khi nó đó: Có thể là nó.

[409] Quấy quá (đồ ăn): Thức ăn không ngon, bậy bạ cho có ăn để mà sống. Làm quấy quá là làm cho có chừng, không đàng hoàng. Nói quấy quá vài ba câu là nói chẳng ra gì nói xho xong, cho có..

[410] Lợt xợt (đi) vô: Đi vô lẹ làng, mau mắn. HTC, Lợt xợt: Bộ đi tới một bề, bộ đi săn (sái) chưn, bộ đi xăm xúi; đi trờ tới, đi lỡ bước.

[411] Dùi đục: Khúc cây tạp dùng để đập vật gì. Khúc cây xấu không dùng làm việc gì khác. HTC, Dùi đục: Cán đục, đồ đóng nhỏ, khúc cây vắn vắn để mà đóng vỗ cái đục. TN: Dùi đục chấm mắm nên.

[412] Báng lộn: Trâu bò lấy sừng chem. Nhau.

[413] Ăn hết: Thắng tất cả.

[414] Trâu tiếng Tàu: ?

[415] Lăng căng: vui vẻ chạy tới. HTC cắt nghĩa là bộ vội vã.

[416] Xúc xúc: Theo văn cảnh thì ông Trương Vĩnh Ký muốn nói nút nút. Các từ điển không thấy chữ xúc xúc.

[417] Nhột: HTC, Nhột (n.): Nghe rờ rẩm nhẹ nhẹ ngoài da, bắt phải nôn phải tức cười; bị chọc léc.

[418]  Giải thích kiểu nầy nói chơi thì được nhưng lý luận không ổn chút nào.

[419] Thả day ngang qua sông: thả cây nằm ngang với nước song.

[420] Trôi theo giọt nước: Trôi theo dòng nước.

[421] Tấn Sĩ: Tiến Sĩ, xưa học vị Tiến Sĩ là cao nhứt, mỗi kỳ thi ba người Tiến Sĩ cao nhứt được gọi là Trạng Nguyên, Bảng Nhãn, Thám Hoa.

[422] Thấy sẵn: biết trước, nghe trước, có kinh nghiệm về điều gì trước đó. Cách viét nầy rất khó hiểu đối với ngày nay.

[423] Chữ tháu: Chữ viết mau, ẩu, khó coi.

[424] Liệt địa cùng đàng: Khắp nơi. Truyện Tàu có Liệt Địa Trận là trận rất lớn, đại quy mô bày ra để giết gọn địch quân.

[425] Mời gãy lưỡi: Mời nhiều lần, mời cách thiết yếu lắm.

[426] Túng: Tức túng thế, không còn cách nào khác.

[427] Khuấy chơi: Phá chơi. Chọc chơi cho vui.

[428] Chửng: Chừng ấy? Thiệt tình tôi chưa chắc cái nghĩa nầy.

[429] Lải rải: Lai rai, lài rài, rải rác.

[430] Bộn bàng: Nhiều lắm, nhiều tới dư thừa.

[431] Bằm thớt: Để thịt trên thớt mà bằm cho nhuyển.

[432] Trọng thể: Lớn, nhiều, quan trọng.

[433] Dọn thoáng: Dọn (cổ bàn) mau ra. Từ nầy bây giờ không còn nghe nói nữa, chỉ còn nghe thoáng, đi thoáng qua

[434] Inh sình: Inh ỏi, ồn ào, om sòm.

[435] Dập thêm hoài: Rót đầy hoài hoài.

[436] Thài lai (nằm): Nằm sãi tay sãi chưn, nằm mệt mõi. HTC viết thài lai, G. huê vuết thài lài.

[437] Mê mết: Tôi nghĩ là bản in của ông Trương sai. Đúng ra là mê mệt mà Ông Huình cắt nghĩa là mệt nhọc, bất tỉnh. từ mê mệt ngày nay đã sang nghĩa khác, trai phong lưu đều biết.

[438] Dàn võng giá ra: Sửa soạn những thứ ngày xưa để đưa rước các quan lớn.Võng để nằm cho chúng khiên và giá để che nắng  che mưa.

[439] Xẻn lẻn: Mắc cở.

[440] Căm căm trong bụng: Giận thầm, để bụng giận mà không nói ra.

[441] Ngoan lắm: Khôn lắm.

[442] Cơ khổ: Tiếng đầu câu ngõ ý tiếc cho ai sự gì.

[443] Quân đưa đò: Những người đưa đò. Quân tiếng chỉ số nhiều cho người, không phải quân lính. chữ quân lính cũng có nghĩa là những người lính.

[444] Đò đưa đà không lập: ? Tôi thiệt tình không hiểu chữ lập nầy. Có thể là: Đò đưa đà không kịp? Có thể lắm!

[445] Nói tinh những chuyện ấy: Nói toàn mấy chuyện đó. Tinh có nghĩa là ròng, thuần, toàn

[446] Cỡi voi, giữ voi cũng là sinh hoạt thời đó, nay không còn. Người lớn tuổi hơn tôi vài chục tuổi nói đường Chi Lăng của thời VNCH trước đây là Đường Voi Đi. Nghe thì biết vậy chớ chưa tìm được bằng chứng sách vỡ.

[447] Tòn teng: Treo lủng lẳng chưa rớt xuống.

[448] Áo nhựt bình: HTC cắt nghĩa là áo của sư hay ni thường mặc. Cũng chưa hình dung được ra làm sao!

[449] Vác quách ra: Vác liền ra, vác vội vội vàng vàng.

[450] Khỏa đất không dện: Lấp đất lại không nện. Làm việc chon cất vội vội vàng vàng.

[451] Lót cót: Nay nói lót tót. Lục đục đi trở về.

[452] Vác lịch ịch: Mang vác nặng nề nên đi đừng khó khăn.

[453] Lụm cụm: Bộ già cả, lum khum.

[454] Dện diệt: Dện, nện. Đánh đập xuống cho đất cứng lại.

[455] Thầy sãi ở đâu ngồi ỉa đó: Ông sư ở đâu đến đó ngồi bài tiết.

[456] Rớt chủm: Rớt cái ùm xuống nước.

[457] Sôi kinh nấu sử: Học hành cần mẫn. "Sĩ thì nấu sử sôi kinh, Làm nên khoa bảng công danh để truyền." (Cadao)

[458] Xầm xì xầm xà: Xì xầm.

[459] Như mặt trời mặt trăng: Tránh nhau, không chịu gặp mặt. Như là kẻ thù, rất ghét nhau.

[460] Rừng sác: Rừng cây mọc theo đất thấp ở ven biển. Còn gọi là rừng nước mặn.

[461] Thì may: Gặp chuyện may mắn. Nay nói thời may thấy chữ thì may hơi bợ ngợ.

[462] Vãng dân: Quan đi thăm dân cho biết sự tình.

[463] Hay ở chỗ người anh hỏi đời sống của em nhưng vẫn không quên chuyện của mình, kẻ cầm quyền, hỏi về tiền đóng thuế.

[464] Chúng tôi kiếm tiền cực lắm, cả vợ chồng đều phải cật lực…

[465] Láu ăn (chứng): Tật ham ăn.

[466] Lua láu: Ăn uống lật đật, và liên tu như sợ người ta ăn hết.

[467] Lấn lướt: Hổn hào, cầm quyền, lớn lối.

[468] Xăng văng: Làm bộ mau mắn nhặm lẹ nhưng chẳng ra tích sự gì.

[469] Thoắng đi mà ăn: Mau lên để dọn ra ăn.

[470] Đặng nề: Đắc thế, được thế, được mợi. 

[471] Làm rộn bộ: HTC, Làm bộ lăng xăng, rộn ràng mà thường không được sự gì.

[472] Ních chiếc đủa bếp lên đầu: Khỏ đủa bếp lên đầu. Ních: Đánh, như ních đòn là đánh đòn

[473] Săn tay: Mau tay, làm cho nhanh.

[474] Chữ đây chỉ người vợ.

[475] Lia băng cung: HTC: Cho mau, mau quá. (Tiếng hối cũng là tiếng trách).

[476] Nhắp: Thả cho dùn rồi giựt. Nhắp nhắp: thả giựt, thả giựt cho cá thấy mồi.

[477] Không được phép chối: Không nên nói là không có trách nhiệm, không phải mình làm…

[478] Năm lượng vàng, số tiền coi bộ bộn à nha!

[479] Cố thân: Làm mướn để trừ nợ.

[480] Bộ hạ chơn tay: Người tín cẩn giúp việc.

[481] Chơi no: Chơi tới chán không muốn chơi nữa.  Chơi đã đủ cho sự ham thích. No: Tiếng xưa có nghĩa là đủ, đầy, nay còn từ no trong nghĩa no bụng. No ngày khẳm tháng: Đủ ngày đủ tháng, nói về thai nhi.

[482] Người nhơn: Người nhơn đức, nhơn hậu, có long thương người.

[483] Chẳng biết của cải ra giống gì: Không coi trọng của cải bạc tiền.

[484] Chứng người rít róng hà tiện hà tặn: Tánh hà tiện.

[485] Vắt chày ra mỡ: Hà tiện quá sức. Có khi nói vắt chày ra nước.

[486] Bạn bè, thằng bạn: Kẻ ăn người làm.

[487] Ba mươi đồng nầy không biết giá trị nó là bao nhiêu, đừng phải là ba mươi đồng của thế kỷ 21!

[488] Còn dư giống gì: Cách nói xưa, còn dư thứ gì, còn dư gì đâu.

[489] Lụi cụi: Làm việc mtột mình. Như lui cui.

[490] Ghe bản lồng: HTC, Ghe có cữa khuông, ván khuông. TGrương Vĩnh Ký có một bài viết về cqác thứ ghe rất ích lợi vì nhiều thứ ghe đó đã biến mất,

[491] Chò hỏ (ngồi): Ngồi xổm một mình với vẽ buồn.

[492] Mặt bằng hai ngón tay tréo: Mặt buồn so. Mặt choắt lại rất xấu. Hai ngón tay tréo, người Mỹ cho là chúc may mắn, đối với người Việt thì là cái giống của phụ nữ. Nay dân nhậu nói: Mặt như mặt phụ khoa.

[493] Buồm/buồm đi: Tiếng lóng của bọn cướp có nghĩa là rút lui, chạy đi.

[494] Tôi nghĩ chữ buồm nầy bản in của Trương Vĩnh Ký sai, phải là chữ khùng mới đúng với toàn truyện.

[495] Làm bạn với nhau: Kết tình chồng vợ. Lấy nhau, cưới nhau.

[496] Dừng ngang: Dựng vách ngang chia hai cái nhà ra.

[497] Cụ kệ: từ nầy coi vậy mà khó dàng mây. GS. Đàm Quang Hưng nói với tôi rằng kệ là ông tổ trên cụ cố tổ cho nên nguời ta thường chưởi nhau là kệ mày, thây kệ mày. HTC giải thích hơi khác. Cụ kệ: Bộ cứng cỏi, võ tướng và ông thí dụ: Đờn ông cụ kệ. Theo ý trong câu của Trương Vĩnh Ký thì cụ kệ mang nghĩa vụng về, chẳng biết gì về việc bếp núc.

[498] Thét lấy: Đuổi tới, thúc tới, thúc lấy. Từ nầy nay đã mất.

[499] Lại có: Lại còn. Còn.

[500] Cù lao: Đảo nhỏ.

[501] Bấn loạn: HTC, Bối rối quá. Bộ lăng xăng, rối rắm.

[502] Các bợm: Các tên ấy, mấy thằng đó.

[503] Nổi ốc cùng mình: Sợ quá, mình mẩy nổi ốc ở chưn lông

[504] Ráo (đi): Đi hết. Vài động từ có tiếng ráo đi theo trở thành nghĩa mạnh hơn, có nghĩa hết như mua ráo, bán ráo, xài ráo, đổ ráo. Tiếng ráo đi trước danh từ có nghĩa khô: ráo nước mắt, ráo mực…

[505] Bằng yên: Thái bình, bình yên.

[506] Thằng cha kia: Người kia, chú kia. Cách nói thằng cha, con mẹ nay trở thành tiếng khinh thị thường thấy ở chợ búa.

[507] Miên: Đọc cách khác của Minh vì tránh tên của ông lớn nào đó. Trong Nam trước đây có cậu hai Miên là con của tồng đốc Phương, và thơ Cậu Hai Miên nói về nhân vật nầy.

[508] Cần quyền: Siêng năng, chịu khó.

[509] Xơ xải: HTC, Rách rã, tơi bời, tan tác.

[510] Hân hủi: Bạc đãi, ăn hiếp. Nay nói hất hủi.

[511] Nháng đốm đốm: Ánh sang chớp tắt của com đơm đớm.

[512] Trắp: Cái hộp vuông dùng chứa đồ vật ít ít. Học trò xưa có trắp để đựng sách vỡ…

[513] Hoàng thiên bất phụ độc thơ nhơn: Trời không bạc đãi người đọc sách.

[514] Bèo theo bèo, sen theo sen: giữ phận mình nghèo, không lân la đua đòi với người giàu.

[515] Trời độ vận: Nhờ trời giúp nên thành công.

[516]  Ông Nguyễn Đăng Giai. Đậu cử nhân năm 1820, làm quan lớn dưới ba triều Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự  Đức, nhiều lần cầm quân dẹp giặc có công lớn, mất năm 1854).

[517] Hoàng Bảo: Ông hoàng tử Nguyễn Phúc Hồng Bảo (1825-1854), là anh cả nhưng không được chiếu truyền ngôi mà ngôi vua về tay Nguyễn Phúc Hồng Nhậm tức Tự Đức nên có hành động như muốn cướp lại ngôi vua. Có lần ông định trốn qua Tân Gia Ba nhưng bị bắt lại và phải quỳ lạy khóc lóc thảm thiết mới được tha.

[518] Ngã sinh chi sơ, nhữ vị sinh 我生之初汝未生 (Khi ta sinh ra thì nhà ngươi chưa sinh), Nhữ sinh chi hậu, ngã vi huynh 汝生之後我爲兄 (Nhà ngươi sanh sau nên ta là anh). Kim triêu hạnh hưởng cao lương vị 今朝幸享 (Ngày nay ngươi được hưởng món ngon vật lạ) Hà nhẫn độc thương cốt nhục tình 何忍毒傷骨肉情 (Sao lại nhẫn tâm làm thương tổn tình cốt nhục?)

[519] Xâm (nói): Nói xiên xẹo, xa gần để châm chọc kẻ khác. HTC, Nói xâm: Nói lời châm chích, xóc hông, bài biếm.

[520] Hồng côn: Gậy để đánh kẻ có tội theo luật xưa.

[521] Già chữ nghĩa: Học giỏi, nhớ sách hơn người.

[522] Dọn phủ: con trai của vua khi lớn lên được cấp cho một cái nhà gọi là phủ. Lúc sửa soạn phủ cho ông hoàng thì gọi là dọn phủ.

[523] Tử năng thừa phụ nghiệp 子能乘父業: Con cái nên tiếp nối công trình của cha. Thần khả báo quân ân 臣可報君恩 : Bề tôi phải báo đáp ơn vua.

[524] Không cất nón: Không giở nón ra, chứng tỏ long tôn kính. Xưa đi ngang phủ ông hoàng phải tỏ ra kính cẩn kiểu giở nón.

[525] Canh nhựt: Canh giữ.

[526] Chừng: Cho tới khi. Nguyên bản in sai thành chửng.

[527] Bẻ (bắt): Nói  ra lý lẽ để chê trách chuyện gì.

[528] Thợ lắp vò: Thợ làm nghề xảm trét dầu chai cho ghe thuyền. Lấp Vò là tên quận ở giửa sông Tiền và sông Hậu. có thể ngày trước ở đây nghề làm ghe, trét ghe thành hành.

[529] Trại: Nhà lớn rộng, trống trải được dựng lên để làm công việc hay chứa đồ vật: Trại ghe, trại hòm, trại cưa…

[530] trên rẫy: Ở chỗ trồng rau đậu, cây củ… cũng có nghĩa là nơi quê mùa, không phải nơi sông nước có người qua lại.

[531] The thía: HTC: May lắm, tốt vía vang; tiếng con buôn gặp mối hàng bán, được mầng rỡ mà la lên, cũng như nói rằng gặp vía vang tốt. Từ nầy tôi chưa từng nghe/ thấy, cũng chẳng biết nghĩa, may quá nhờ tự điển của ông HTC và sách của ông Trương Vĩnh Ký.

[532] Vén luốc đuôi lên: Vén hết cái đuôi lên, ý hết nầy suy từ chữ luốt mà G. Hue cắt nghĩa là hoàn toàn, complètement, entièrement. Vậy thì Trương Vĩnh Ký viết chánh tả sai chỗ nầy!

[533] Cha ôi: Tiếng than kiểu nầy bây giờ là Trời ơi, mẹ ơi, không nghe nói cha ơi nữa.

[534] Trác (bị): Bị gạc chuyện nhè nhẹ, thuờng là không phải chuyện tiền bạc. Tổ trác.

[535] Lý lắc: Ưa trửng giởn, ưa chọc phá.

[536] Pha lửng: Nói chơi, nói đùa.

[537] Xung xăng (đi): Đi lăng xăng, tung tăng một cách hồn nhiên.

[538] Rít róng: Hà tiện quá mức.

[539] Bo bo giữ của: Bỏn xẻn quá, không lòi ra đồng nào cho ai.

[540] Xán bịnh: Bị bịnh nặng thình lình.

[541] Chuồi xuống sông: Thả nhẹ vật gì xuống sông theo chiều dọc. Kẻ gian có thể chuồi xuống sông để không tạo tiếng động.

[542] Trẻ em: Nói chung là mấy đứa em. Trẻ, trái lại chỉ người làm công cho gia đình giàu có.

[543] Mạng một: Tức mệnh một, chết.

[544] Hòng lìa bỏ mọi sự: Sắp bỏ hết tất cả mọi thứ.

[545] Hè nhau: Cùng nhau, xúm nhau làm chuyện gì chung hay làm một lượt.

[546] Hàng đất: HTC, Hòm để mà chôn. Không biết có phải làm bằng đất hay không! Xin được mách.

[547] Lăng căng: Cử chỉ vội vã.

[548] Ngồi xớ rớ: Ngồi lơ ngơ vì không ai nói chuyện với.

[549] Mua giống gì: Mua thứ gì, cách nói xưa.

[550] Sách quở: Người xưa dị đoan cho rằng mình hay giỏi quá, hơn cả sách thì thần sách quở làm cho mình bị bịnh, có khi phải chết. Tin tưởng của người làm biếng!

[551] Mua giống gì: Mua thứ gì?

[552] Mua hờ: Mua dự phòng có việc cần dùng đến.

[553] Cần thay: Bản in sai thành cầy thay. Đọc hoài mà không thông sau nhớ trực lại là con cần thay, nhờ mày mò theo quyển tự điển của Huình tiên sinh: Con cần thay: Loài rùa; trấng nó ngon, vua Cao-mên có lệ cấm dân không đặng ăn phải để dành cho vua. G. Hue: Con cần thay là loài rùa sống trong sông và con cần đước là rùa sống ở ao hồ,

[554] Mảnh mún: Những miếng nhỏ do vật gì bể ra. HTC có từ manh mún. Manh mún: Rã ra từ miếng nhỏ mọn. Mảnh mún là danh từ và mảnh mún là trạng từ chỉ thể cách.

[555] Quá cha tao: Hơn tao nhiều lắm.

[556] Đùm bọc nưng đỡ: Bao biện giúp đỡ trong công việc làm.

[557] Thêm hai ngang: Chữ nhơn thêm hai nét ngang thành chữ thiên .

[558] Ra chịu sửa: Đi ra nhận là mình đã sửa chữ. Văn xưa không mấy rõ ràng.

[559] Để ý vợ chồng xưng hô mầy tao như vậy. Đây không phải là lời quan nói với dân. Trong Chuyện Đời Xưa có nhiều chỗ vợ chồng xưng hô ‘thân mật’ kiểu nầy.

[560] Rách xài xể: Rách quá chừng đổi. HTC không có từ nầy.

[561] Túm trước túm sau: Quần áo vá chằn vá chịt.

[562] Xớ rớ: Đứng không yên, coi bộ bối rối không biết phải làm gì. HTC, Xớ rớ: Thơ thẩn, không có chuyện mà mần. Đi ra đi vô, không có công chuyện mần. Đây mang nghĩa bối rối.

[563] Bỉ bàng: Đầy đủ. Nói về thức ăn là nhiều.

[564] Bá vơ khốn nạn: Chẳng ra gì, nghèo khổ.

[565] Lịch thiên hạ sự: Giao tiếp với bên ngoài để biết cách sống. Lịch sự. Từng trãi trong giao tiếp.

[566] Cũng là điều đáng chú ý về sinh hoạt ngày xưa.

[567] Làm quen làm lớn: Nay nói quen lớn, tức quen nhiều người sang giàu.

[568] Trơ trơ mặt địa: Chẳng nhúc nhích.

[569] Đút trây: Đút ăn nhưng làm cho người được đút dính đầy mặt, mũi.

[570] Chinh chòng (ngã): chênh chòng, ngã nghiêng, ngã xó. G.Hue có chữ chênh chòng: sens dessus dessous. HTC, cắt nghĩa rộng hơn: Chinh chòng: Bộ nghiêng đầu này, vòng đầu kia không yên một mực; bộ không tề chỉnh. Nằm chinh chòng thì nắm gác tay, gác chơn không xuôi xả.

[571] Đông nức: Đông thiệt đông. từ đông nức quá hay!

[572] Trì xuống: Kéo xuống lại, chống lại lực kéo lên. Như đứa nhỏ trì xuống không chịu cho ẳm lên.

[573] Quan lại báo bộ: quan chức trình lên cấp Trung ương.

[574] Làm lẽ: Ra vẽ mình không muốn khi được mời, thỉnh.

[575] Lão chồng: Người chồng, như nay ta nói ông chồng, thằng chồng, không có nghĩa là người chồng già.

[576] Làm đời làm lẽ: Nghĩa như chữ làm lẽ. Tiếng làm đời sanh ra tiếng làm trời hiện đương được sử dụng.

[577] Mõ lân: Cái mõ có tạc hình con lân (tỏ sự may mắn), như mõ cá  là mõ tạc hình con cá (tỏ sự cần mẫn trong việc canh phòng, báo tin). Xưa người ta đánh mõ để báo tin hay để kêu gọi dân làng tụ họp. Thành ngữ: Réo mõ không bằng gõ thớt: Dân không hào hứng đến họp hành nhưng hào hứng khi nghe có chuyện động dao động thớt (có tiệc tùng, ăn uống). 

[578] Cụ sớ: Dâng sớ về vua, trình văn thơ lên quan chức ở Trung ương.

[579] Quờn cao lộc cả: Chức tước lớn, quyền nhiều.

[580] Dẫn kiến: Triều kiến nhà vua; giới thiệu với khán giả.

[581] Cui cúc: Đơn độc, không kẻ thân ở cạnh kề. Côi cúc. Nguyễn Đình Chiểu: Cui cúc làm ăn, riêng lo nghèo khó (Văn tế Nghĩa sĩ Cần Giuộc) .

[582] Se da cấm cung lại: Bịnh nhè nhẹ, ở nhà không đi ra ngoài.

[583] Khó ở: Như chữ se da, bịnh nhẹ.

[584] Ních thịt: Ăn thịt. Tôi nghĩ chữ ních nầy phải viết nít như chữ con nít là trẻ nhỏ chỉ lo biết ăn thôi. Các tự điển đều viết hai chữ khác nhau, chắc là có lý do khác mà kẻ chú giải nầy chưa tìm ra vì học chưa tới.

[585] Giẩng gáy: Xù lông gáy lên, dựng/xửng lông gáy lên. Như nói giẩng tóc, giẩng mày, giẩng tai. HTC đưa thêm một yếu tố mới: Giẩng gáy: Dựng lông gáy như cọp, như ngựa là khi nó làm hung. Giẩng biến thành dựng, xửng, (như từ xửng cồ), hai từ nầy đánh bạt từ giấng đi vào tự điển từ cổ.

[586] Chảy (nói): Nói cho xuôi, không có chuyện gì trục trặc xảy ra. Nói trôi chảy.

[587] Tái ngắt (mặt): Mặt sợ quá hóa xanh, mặt cắt không còn một chút máu!

[588] Bật lên trên khí: Bật lên trên không, bật lên trên. Để ý từ không khí ngày nay dùng chữ không, ngày xưa dùng chữ khí.

[589] Chót vót: Tuối lên tới trên đỉnh. Tuốt trên cao.

[590] Hổm: Hốm ấy, bữa đó.

[591] Hằm hằm: Bộ mặt biểu lộ giận dữ muốn làm điều gì đó ghê gớm lắm.

[592] Tự thiên tử chí ư thứ dân: Từ vua cho đến dân.

[593] Mặt son má phấn: Mặt đàn bà, thiếu nữ.

[594] Thượng cầm: Loài chim. Thứ loại sống nhiều trên bầu trời.

[595] Đánh móng: Đớp móng, ăn móng. Cá lên mặt nước hớp hơi thở tạo ra bong bong nho nhỏ gọi là móng. Huình Tịnh Của có ghi lại nhóm từ cũng khá hay: Cá ăn móng nhâm mặt nước: Cá ăn móng nhiều lắm, thấy đầy ngay trên mặt nước.

[596] Mấy tôi: Bọn chúng tôi.

[597] Chiêu hiền đãi sĩ: Trọng than những người tốt, kẻ hiền. Đây có nghĩa là thân thiện, trọng bạn bè.

[598] Nhạy miệng: Hay nói không phải lúc.

[599] Làm bạn với kẻ xấu, chết nó không thương thì chớ lại còn nói nhiếc!

[600] Thá ví: Điều khiển kêu đi bên phải, bên trái. Đây có nghĩa là điều khiển.

[601] Khí giái: Khí giới. Xưa thường đọc chữ giới bằng chữ giái, như thế giái, Trư Bát Giái…

[602] Gằm đầu: cúi đầu, gục mặt.

[603] Cỡi lưng cỡi cổ: Điều khiển, hành hạ.làm nhục..

[604] Có nghề: Biết cách để thắng nhờ mạnh, nhờ những thế võ…

[605] Lơn tơn: Đi mà không chú ý chung quanh. HTC, Lơn tơn: Bộ lật đật đi một mình. lơn tơn xách gói đi theo.

[606] Đọa kiếp: HTC, tiếng chỉ bậc qua lắm. Trong đoạn nầy chữ đọa kiếp cho ta hiểu là nói láo quá lắm.

[607] Bị đòn: Bị đánh mà không chống trả được, hoặc không quyền chống trả.

[608] Khẻ miệng: Đánh nhè nhẹ vô miệng.

[609] Chuyện nầy và cả chục chuyện khác có ý nghĩa, sau nầy có thấy trong sách Quốc Văn Giáo Khoa Thư. Ảnh hưởng của Chuyện Đời Xưa, cách nầy cách khác lên chúng ta cả mấy thế hệ vô cùng lớn lao.

[610] Bất tài lỡ vận: Bất tài thi không đậu, nghèo cũng hoàn nghèo.

[611] Đỗ nhờ: Xin ở tạm.

[612] Đói đã lũi: Đới tới đi không vững, muốn chúi đầu tới hoài.

[613] Không phép ngồi không mà đợi cơm: Chẳng/Không lẽ ngồi không mà đợi cơm. Cách viết nầy ngày nay không còn thấy nữa.

[614] Châm cho trúng nó: Ịn lên cho trúng nó. Ai đời! Làm sao mà giết được muỗi kiểu nầy.

[615] Nói khào: HTC, Nói khào: Nói chuyện không ăn thua, nói chuyện bá vơ. Nói khào mà kiếm ăn.

[616] Lời nhắn người đọc của TVK!

[617] Có chứng hay nói xạo: Có tật hay đặt chuyện gạt người.

[618]  La lết đó chấy ba hột cơm: La lết ở đó để kiếm chát một bữa ăn. Chấy: Kiếm chát chút ít.G. Hue: Grapiller: thu nhặt, chút đỉnh..

[619] Trầu thuốc: Sau khi mời ăn uống thì cho ăn trầu, xĩa thuốc. Chỉ sự kính trọng.

[620] Hốt cả bụm: Đầy chứa cả bàn tay khum khum. Nhiều quá!

[621] Mấy cái miểng sứt: Đầu kim gảy kia… Hình như chỗ nầy ông TVK dùng chữ không đúng!

[622] Cái cóc rác: Chẳng đáng một chút tí tẹo nào. Chẳng có gì, như nói cái cóc khô. Văn chương chẳng phải bợm mèo quào. Danh phận chẳng qua cái cóc rác. (Học Lạc)

[623] Cũng là lời bình luận!

[624] Vùi lấy lông lúa: Người chú giải không hiểu rõ hành động nầy! Tiếc quá.

[625] Thoa: Xoa, gãy nhè nhẹ.

[626] Nổi mày đay: Nay nói nổi mề đay. Da dị ứng nổi lên từng chỗ dầy giống như cái mề đai. Một bịnh ngoài da lành tính do dị ứng mà có. HTC: Mày đay: Mận mụt nổi ngoài da, làm cho phải ngứa ngẩm khó chịu, như nó không lặn thì có khi làm ra đơn phong.

[627] Phương chi: Cách gì.

[628] Ma mèo: Cái nghề thầy pháp là đặt chuyện ma nầy ma kia!

[629] Nắn tinh những mèo: Nặn toàn mèo là mèo. Tinh: Toàn là.

[630] Thỉnh giải: Xin cứu giúp. Câu nầy ông ta đặt bụng ra cho có, chưa chắc là câu của thầy pháp.

[631] Ba mươi đời thứ xót: Ối, cái chuyện xót mà… Cài dòng xót, nó..

[632] Làm lối: HTC, Làm lối: Làm bộ làm tịch, làm mặt giỏi, làm phách, dối giả.

[633] Lứ lừ: Mệt nghĩ, ở đây là no cành hông luôn.

[634] Con kia: Cô gái nọ.

[635] Trong ý: Trong lòng, ý muốn, ước ao.

[636] Như tình sở nguyện: Được như ý muốn.

[637] Quảy giỗ: Cúng kiến, giỗ chạp.

[638] Cũng có khi: Ở đây là có ngày tháng nhứt định.

[639] Đánh mò: Rình đi theo dấu. HTC, Đánh mò: Lò mò đi theo. Bắt mò. Coi dấu mà theo, men theo, lần theo sau, rình mò cho biết ở đâu.

[640] Liệu vừa chừng: Canh vừa lúc…

[641] Chú chàng: Anh chàng. Va, hắn.

[642] Ngày kia buổi nọ: Lúc nào đó.

[643] Đi trợt tới: Tình cờ đi tới. Nay nói: đi trờ tới, đi chợt tới.

[644] Trốn trỏng: Nay nói trốn ở trỏng, trốn trong trỏng, trốn trong đó. chữ ở đã bị nuốt đi trogn trường hợp nầy.

[645] Nghe đã vắng tiếng: Nghe không còn tiếng người, nghe êm êm.

[646] Nộ: Nhát, nói cho người ta sợ. Nay nói nồ.

[647] Bởi thiên lý vị nhiên, nên nghịch thiên giả tử: Vì thiên lý là như thế nên nghịch với thiên lý là chết. Chuyện nầy có nhiều điểm vô lý…

[648] Đắc chỉ: Được lịnh.

[649] Quyết một: Nhứt định là… Nhứt quyết rằng…

[650] Biểu trẻ thâu cho: Khiến người trong nhà nhận lấy. Đồng ý nhận của biếu xén nhung không đưa tay nhận mà biểu người nhà ra nhận.

[651] Khá khiển: Giàu có. Như khá lung, tức khá lắm.

[652] Oai quờn: Oai quyền.

[653] Nhún trề: Chê bay, nói lời bất kính, cười ngạo bằng cách khi nói tới người mình muốn chê thì trề môi mím miệng…

[654] Trở đít cho nó: Đưa đít trước mặt ai. Tỏ vẽ khi dễ.

[655] Khinh dị: Khi dễ, không coi ra gì. HTC nhắc tới chữ dễ duôi, quá hay!

[656] Ghe phen: Nhiều lần. Ghe: nhiều.

[657] Khốn giờ: Bị hại bây giờ. Tiếng bây trong văn nói đã bị lướt nên khó nghe hay đã biến mất.

[658] Giống gì: Thứ gì, ‘thớ’ gì?

[659] Vưng phục đầu lụy: chịu lịnh sai khiến, chịu dưới quyền.

[660] Dễ ngươi: Lờn mặt, coi thường.

[661] Không dung: Chẳng tha thứ, chẳng dung tha. Bắt tội.

[662] Quáng manh: Mắt bị bịnh nhìn không rõ, chỉ thấy lờ mờ. Còn gọi là quáng mỏng.

[663] Đánh mò: Lò mò đi theo, theo dấu mà lần theo.

[664] Thả cày: Buông cày, nghỉ cày.

[665] Lịch ịch (đi): Đi bộ nặng nề. HTC, Lịch ịch: Bộ bầng xách nặng nề, đi không muốn nổi, (lệch ệch).

[666] Giếng loạn: Giếng cạn không xài nữa. HTC, Giếng loạn: Giếng bỏ hoang, bùn đất lấp xuống

[667] Ham làm: Siêng năng.

[668] Quáng:Quáng manh, không thấy rõ.

[669] Đánh chó kiêng chủ nhà: thành ngữ nói rằng nên nễ mặt người nhà kẻ mà ta định hiếp đáp.

[670] Dùi đục: HTC, Dùi đục: Cán đục, đồ đóng nhỏ. Khúc cây vắn vắn để mà đóng vỗ cái đục. Thứ đồ chẳng có giá trị gì: Dùi đục chắm mắm nêm, Thành ngữ. Lời nói sẵng,nghe chướng tai.

[671] Làm tài khôn: Ra bộ lanh, ra bộ biết chuyện. thường kẻ làm tài không không làm nên sự việc.

[672] Rọc rạch: Tiếng động nho nhỏ.

[673] Ăn khín: Ăn chực, ăn của người khác. Xưa nói ăn nhờ, ăn thép. Từ ngữ ăn khín ít xài hơn từ bận quần/ áo khín vì thói thường mặc áo khín bị chật quá hay rộng quá con nít hay chọc. Con nít xưa có bài hát chọc nhau: Mặc áo khín. Lấy chồng lính. Đẻ con so. Bắt vô lò. Nổ cái bụp. Lâu nay không còn nghe nữa, xin chép lại để dành.

[674] Ăn thép: X. Ăn khín.

[675] Cấp ca cấp củm: Giữ vật gì với cách thế trân quí.

[676] Giả đò nghe sách cho nó coi: Làm bộ như nó sẽ được giảng sách để học..,

[677] Thầy tập nghe nghĩa: Thầy tập cho học trò nghe giảng nghĩa theo sách.

[678] Con cù: Loài vật huyền thoại sống ở đáy sông biển, rất lớn. Cù thường nằm im, khi dậy thì nổi sóng hay tạo thành cù lao.

[679] Gài bẫy đánh:  Đặt bẫy, giăng bẫy, gài bẫy để bắt…

[680] Điền điệp (đi) 田蹀: Đạp ruộng, tức cày ruộng, cách nói chữ theo kiểu dùng cho vua chúa.

[681] Nói loát: Nói lớn lối vì dùng chữ của hoàng gia.

[682] Nhà vuông: Nhà làng, nhà họp hội tề của làng.

[683] Hiệp nghị : Cuộc họp hành quan trọng.

[684] Băng: Tiếng chết dùng cho thiên tử mà thôi. Cái cười nằm ở chữ băng nầy. Ông ta không chịu được người dùng chữ lớn lối mà ông ta lại xài.

[685] Cà xốc: Nghinh ngang, vô phép. Ở đây có nghĩa là ‘tự nhiên như thanh niên Hà nội’.

[686] Gai con mắt: xốn con mắt, thấy khó chịu vì người nào đó làm bậy/nói bậy..

[687] La lết: Chỗ người ta không thích mà cứ tới lại ở lâu chẳng có chuyện gì làm.’

[688] Láy [mắt]: nháy, nheo mắt ra dấu cho người kia ngầm hiểu phải làm gì.

[689] Máu cam: Máu chảy từ lỗ mũi.Thường trẻ con dễ bị chảy máu cam.

[690] Nhẹ (đã nhẹ bịnh): Bớt bịnh, sắp lành.

[691] Cũng là lời giải thích câu chuyện.

[692] Chiết: Cái giỏ xách, thường làm bằng gỗ.

[693] Biểu đừng: Kêu đừng làm chuyện gì đó. Anh thợ may biểu người nhà đừng cho tên thợ phụ ăn cơm. Ca Dao: Anh ôm em mà em cứ biểu đừng. Nay em mai mối mình thành người dưng mất rồi.

[694] Đói xơ mép: Đói tới nỗi miệng khô, mép muốn lỡ. Như đói lũi

[695] Báo: Báo hại, trả thù.

[696] Dậy (cho nó dậy): Lòi ra, làm cho lòi ra.

[697] Láo luân: HTC không có từ láo luân mà có từ láo liên: Con mắt hay dòm hay ngó, dòm nghiêng dòm ngữa.

[698] đây chỉ người thợ may. Văn xưa không rõ rang kiểu nầy là thường.

[699] Nề: Nói trại của nầy, tiếng bắt đầu để sai biểu của người có quyền thế.

[700] Trúng (câu): Thường làm việc gì mà được lợi nhiều gọi là trúng. Câu trúng: Câu được nhiều cá. Trúng mối: Được mối hàng có lời lớn. Trúng mánh: Được tiền. Trúng cờ bạc, trúng me, trúng số. trúng thưởng. Nghĩa rộng là ngay, gặp như trúng thực, trúng độc…

[701] Đầy cóng: Đầy ngập, đầy chật tới miệng giỏ.

[702] Nổi gan: Nổi giận, phát giận.

[703] Không dung: chẳng tha thứ, chẳng bỏ qua.

[704] Cháng hai cây đầu: Chỗ cây đầu chẻ ra làm hai nhánh, chỗ dễ ngồi trên cây, như cháng ba. Cây đầu: theo HTC thì có hai thứ cây đầu. 1. Cây đầu heo: Cây lớn, da trơn, có nhiều u giống cái đầu heo. 2. Cây đầu rái: Thứ cây có nhiều dầu, phải mổ bộng mà đốt thì dầu chảy ra.

[705] Lục cục: Lỏng chỏng từ đứa từ đứa như những cục đá nằm kế nhau.

[706] Lại một lời giải thích câu chuyện của người kể chuyện.

[707] Đèn ló: Đèn của ăn trộn, để trong ống tre cho khỏi tỏa sáng ra chỗ không cần thiết, có nắp đậy, khi cần lấy nắp để đènló ra. Như kiểu đèn pin ngày nay.

[708] Mõ ống: Mõ làm bằng ống tre gõ tiếng kêu vang hơn mõ thường. Thời xưa còn có mõ gió là người ta treo những vật có thể gây tiếng động khi có gió làm cho chim chóc thú nhỏ sợ mà không dám tới phá mùa màng. Kiểu nhu utrong chiến tranh vừa qua nhhững lo hộp thiếc được treo lên hang rào quanh đồn…

[709] Chun phóc: Chung thẳng vô không do dự, không vạch gai … Như nhảy phóc.

[710] Nát cả và mình: Nát cả mình mẫy. Cách nói xưa.

[711] Rát rao: Rát

[712] Cỏn: Con ấy.

[713] Rượt thét: Rượt thúc bách lắm. Thét: Tiếng trạng từ đi sau động từ làm cho hành động trở nên mãnh liệt hơn. (G. Hue: Thét: violemment, vivement.) như Dộng thét: đập dồn dập, Đói thét: đói quá. Làm thét: làm nhiều, Mắng thét: rầy rà quá đỗi, Quở thét: quở mắng nghiêm khắc. Riêng chữ nói thét nay dùng thường nhưng nghĩa hơi trại đi thành nói nhiều lần để khuyên lơn rầy biểu ai.

[714] Mình mảy: Mình mẩy.

[715] Đánh ngạch: Đào lỗ dưới vách mà chung vô ăn trộm. Xưa ăn trộm thường đào chỗ ngạch cữa vì vô sẽ mở cửa liền khỏi đi lại trong nhà tìm cửa có thể nguy hiểm.

[716] Khóa quách lại: Khóa lại liền.

[717] Dẹp lại hai bên: Biểu tránh ra hai bên để có đường trống chừa lối đi ở giữa. Nguyên bản: đẹp lại. nghĩ là in sai.

[718] Cái bung: Nồi lớn, phình ra ở hông, đít rộng.

[719] Quới chức: Quí vị có chức tước.

[720] Bươn: Lách mình đi mau qua, lật đật. Bươn bả, bươn tới, bươn ra…

[721] Leng teng chạy ra: Chạy ra một cách thần thờ.  Như lơn tơn: bộ đi lật đật..

[722] Bỏ chạy ráo: Bỏ chạy hết trơn.

[723] Ra riêng: Làm ăm một mình không chung, không hùn hạp, không lệ thuộc nữa. Nay còn thấy trong nghĩa con cái lớn lên có gia đình không ở với cha mẹ nữa.

[724] Đơm quải: Cúng cơm, cúng giỗ.

[725] Nói vừa buông miệng: Nói vừa dứt tiếng, nói vừa xong.

[726] Xửng vửng: Đứng không vửng, lảo đảo.

[727] Đây là sự bao biếm quan lại có quyền bắt dân phục dịch.

[728] Giớn giác: HTC, Bộ sợ sệt con mắt láo liên, ngó đầu này, coi đầu kia, không tề tỉnh.

[729] Nghe động thất rừng kinh:  Nghĩ là bản in sai, phải là Nghe động rừng thất kinh: Nghe tiếng động trong rừng, quá sợ…

[730] Không biết làm làm sao là cách nói xưa, nay nói không biết làm sao.

[731] Đãy (cái): HTC, Cái túi; đồ may bằng vải lụa để mà đựng trầu thuốc. Thiệt ra đãy có khi được may lớn bằng cái bị như trong chuyện nầy. Đãy thao lăm chờ vận khả vi, gương trí dốc đợi thời kinh tế. (Trần Nhạc Võ, 6b).

[732] Chữ đi theo cách nói nầy nay cũng không còn xài.

[733] Ngột: Bí hơi không thở được, nay nói ngộp

[734] Mấy tôi: Bọn chúng tôi.

[735] Lương đống cửa nhà: Nhà cửa, cột kèo. chỉ những thứ làm bằng cây.

[736] Già đời: Cả đời, chỉ thời gian lâu. Nay còn thành ngữ ưa được dùng: Già đời còn dạy.

[737] Vạch (cái): Dụng cụ của thợ may dùng để vạch đường theo đó mà cắt, hình như  dấu huyền, làm bằng sừng trâu bò.

[738] Lục súc vô đồ: Lục súc thì không vô nhóm nào. Câu nói không rõ nghĩa. HTC có ghi: Lục súc chi đồ, được cắt nghĩa là loài súc vật, thường được dùng làm câu chưởi. Có thể là người bình dân thời đó nói như Trương Vĩnh Ký đã ghi lại và đặt vô miệng ông lão trong chuyện.

[739] Sự bất quá tam: Chuyện gì cũng không xảy ra quá ba lần.

[740] Cho đáng số tao: cho đáng kiếp, đáng đời tao vì đã cứu kẻ vong ơn như mầy.

[741] Nói gốc tích lại ban đầu: Kể lại từ đầu.

[742] Thâu mình lại: Rút mình lại, co mình…

[743] Ở đời biết là mấy: Ở đời nầy có quá nhiều…

[744] Người bạc tình: kẻ ở không có tình cảm, vô ơn, bội tình…

[745] Dĩ ơn báo oán: Mang ơn người nhưng đáo trả lại bằng oán cừu. Đây là nói theo kiểu người Việt mình

[746] Vạy vò: Cong queo, không ngay thẳng.

[747] Trời cũng hại nó có thuở: Có lúc cũng bị trời hại. Chữ có thuở được thay bằng có lúc, có khi ngày nay hầu như được đặt ở đầu câu.

[748] Mà chớ: Chữ mà chớ nầy xưa dùng ở cuối một câu khuyên lơn hay răn đe, không thêm nghĩa gì cho toàn câu.