Sài gòn-Chợ Lớn: thế kỷ 17 đến thế kỷ 19 (phần 3)

Sài gòn-Chợ Lớn: thế kỷ 17 đến thế kỷ 19 (phần 3)

6. Sài Gòn mô tả chi tiết qua Trương Vĩnh Ký

Những chi tiết sau đây đa số là trích từ sách “Souvenirs historiques sur Saïgon et ses environs” của Petrus Trương Vĩnh Ký (3).

 

Trước khi có thành, ở đất Gia Định chỉ có đồn Dinh, lũy Hoa Phong, sau có lũy Bán bích. Thành này được gọi là thành Quy, xây theo kiểu thành Vauban của Pháp. Tường thành cao 5m20. Trung tâm thành là cột cờ và hành cung, ở vị trí gần nơi ngày nay là nhà thờ đức bà.

 

Thành xây hướng về Đông Bắc và cao độ 1 trượng 3 xích có ba bậc.Trong thành đặt nhà Thái miếu và kho về bên tả, bên hữu là xưởng trại, ở giữa là hành cung. Trại lính thì bố liệt chung quanh (4).

 

Ở phía đông là hai cửa tiền (đông môn), một gọi là Gia định môn nhìn ra công trường và rạch chợ Sài Gòn, cửa kia gọi là Phan Yên môn ngay cạnh các đại pháo, nằm trên đường chạy dọc xuống theo kênh Kinh Cây Cám. Rạch chợ Sài Gòn (rạch chợ Vải) sau này thời Pháp có hai con đường chạy dọc theo rạch gọi là đường Rigault de Genouilly (chạy xuống sông) và đường Charner (chạy từ sông lên). Khi rạch chợ Vải được lấp đi thì thành một đường lớn gọi là đường Charner (nay là đường Nguyễn Huệ). Người dân gọi là đường Kinh Lấp.

 

Hai cửa hậu ở phía Tây (tây môn) gọi là Vọng Khuyết môn và Cọng thìn môn hướng về cầu thứ hai (cầu Bông) và thứ ba (cầu xóm Kiệu) trên rạch Avalanche (Thị Nghè).

 

Hình 5. Vị trí thành Sài Gòn (Gia định thành)

 

Ở cửa trái về hướng bắc (bắc môn) là hai cửa Hoài Lai môn và Phục viễn môn, hướng về cầu trên rạch Thị Nghè (gọi là cầu thứ nhất). Cửa phải của thành (nam môn) có hai cửa Định biên môn và Tuyên hóa môn, ở phía đường sau này gọi là đường Mac Mahon (Nam Kỳ Khởi Nghĩa), góc Nam Kỳ Khởi Nghĩa và Nguyễn Thị Minh Khai (Định Biên môn) và góc Nam Kỳ Khởi Nghĩa và Nguyễn Trãi (Tuyên Hóa môn). Hai cửa này dần ra hai đường, một là đường chiến lược (rue strategique, đường đi Phú Thọ, Phú Lâm hay đường 3/2 ngày nay, và một nữa là đường cao đi Chợ Lớn (route haute, sau là gồm đường Frère Louis nay là đường Nguyễn Trãi chạy tới đường Nancy, hay Cộng Hòa trước 1975 nay là Nguyễn Văn Cừ và cuối cùng vào Chợ Lớn cũng theo con đường Nguyễn Trãi nối dài ngày nay). Xưa đi Chợ Lớn còn có một đường nữa từ trung tâm Sài Gòn dọc theo rạch Bến Nghé và kênh Tàu Hủ qua vùng cầu Ông lãnh và dưới Chợ quán ngày nay, gọi là “route basse” hay đường dưới, đường Trần Hưng Đạo sau này vào thế kỷ 20 mới có.

 

Hình 6: Đường Sài Gòn-Chợ Lớn (route haute, đường trên), từ Nguyễn Trãi, qua Nguyễn Văn Cừ (Thuận Kiều xưa) vào Chợ Lớn

 

Thành này nằm gọn trong khu vực các đường Lê Thánh Tôn (rue d’Espagne), Nguyễn Đình Chiểu (Rue Richaud hay Phan Đình Phùng trước 1975), Đinh Tiên Hoàng-Tôn Đức Thắng (Boulevard de la Citadelle (1865), Boulevard Luro (1901), hay Cường Để trước 1975), Nam Kỳ Khởi Nghĩa (Rue Mac Mahon hay Công Lý trước 1975) như trong hình 5. Thành xây hướng về Đông Bắc và cao độ 1 trượng 3 xích có ba bậc. Hào thành sâu 14 xích; bề ngang 10 trượng 5 xích; chu vi 794 trượng. Có xây điếu kiều, ngoài kiều có đắp thạch trại (4).

 

Thành Sài Gòn được Nguyễn Ánh ở trong 12 năm làm cơ dinh đánh Tây Sơn, năm 1802, sau khi lên ngôi ở Huế, Gia Long trao lại cho Lê Văn Duyệt làm tổng trấn Gia Định thành (1812-1815 và 1820-1832). Lê Văn Duyệt ở cung Hoàng cung, vị trí của cung này là đường Norodom (nay là Lê Duẩn), phía ngoài thành Gia Định (3). Vòng ngoài thành, vua Gia Long cũng có xây một ngôi nhà cho giám mục Pigneau de Béhaine (gọi là Evêque d'Adran tức Bá Đa Lộc hay cha Cả) trên đường sau này gọi là rue Richaud (đường Nguyễn Đình Chiểu ngày nay) để trả ơn cho sự giúp đỡ của ông này trong lúc còn chiến tranh với Tây Sơn. Ngày nay vị trí tòa nhà này là Tòa Tổng Giám mục (5). Nhà của ông giám mục Bá Đa Lộc trước đó ở cạnh thành Sài Gòn, vị trí ngày nay là trong khuôn viên sở thú gần viện bảo tàng. Khi chiếm lại thành Sài Gòn, ngôi nhà này đã bị Minh Mạng phá hủy sau khi dẹp loạn Lê Văn Khôi.

 

Hàng năm, sau Tết, Lê Văn Duyệt (gọi là Ông lớn thượng) tổ chức diễn tập lính từ 6 tỉnh Nam kỳ ở cánh đồng mả (plain de tombeaux), "đồn tập trận" ở phia đất giữa Sài Gòn và hướng trường đua, Phú Lâm (chú thích: sau này gọi là cánh đồng mả vì có nhiều mộ chôn, kể cả mả của những người bị chết trận hay bị vua Minh Mạng hành hình sau cuộc khởi loạn của Lê Văn Khôi, chôn ở “mả ngụy” gần khu ngã 6 đường 3/2 và cách mạng tháng 8, tức khu Vườn Chuối ngày nay)

 

Vào đêm trước ngày 16 tháng một năm mới, vị tổng trấn cùng đoàn tùy tùng đến bái (homage) vua trong đền thờ của ông, sau đó sau ba phát súng cà nông, ông lên kiệu giữa hàng đầu lính mở đường và hàng lính hộ tống phía sau ra khỏi thành, ngang qua cửa Gia Định môn, và cửa Phan yên môn, đi đến cạnh Chợ Vải (gần cửa rạch kế chợ Cũ), sau đó đi lên đường sau này gọi là đường Mac Mahon (Nam Kỳ Khởi Nghĩa) để lên các gò cao gọi là mô súng. Ở đó, là nơi các khẩu đại bác được bắn và trình diễn quân sự được tiến hành với các voi.

 

Tổng trấn sau đó đi vòng sau thành và đến xưởng tàu thủy quân xem tập trận rồi trở về thành. Trong khi diễn hành, dân chúng trong nhà đánh âm thanh lớn, đốt pháo để đuổi đi ma quỷ có thể ám nhà họ.

 

Vào dịp tết thứ hai (tức vào tháng năm, tổng trấn trở về nơi tịch điền (nơi nhà vua hay đại diện vua, làm gương cho dân bằng sự làm việc lao động chính mình). Nơi làm nghi lễ này rất gần mặt nhà thương của các sơ Sainte-Enfance, ở Thị Nghè.

 

Từ tường của thành Sài Gòn xuống đến bến sông Sài Gòn tức là từ đường Espagne (Lê Thánh Tôn) xuống bến Bạch Đằng là một phần chính của thành phố thương mại xưa của người Việt gồm một số nhà, cửa tiệm xen kẽ với các đường hẻm ít được bảo trì nằm trong địa phận của bốn làng từ cửa rạch Thị nghè (arroyo de l'Avalanche) đến rạch Bến Nghé (arroyo chinois): làng Hòa Mĩ (nơi xưởng Ba son), làng Tân Khai, Long Điền và Trường Hòa, mà giới hạn là đường Mac Mahon (Nam Kỳ Khởi Nghĩa).

 

Làng Mĩ Hội bao gồm thành Sài Gòn trở lên trên. Thời kỳ này thì lý trưởng của làng này là một trong những lý trưởng quan trọng nhất của thành phố, ông ta có quyền đội nón hình trái bí và có quyền hành chính như huyện trưởng (canton). Làng có xây một đình, một chùa hay một nhà họp và nhà vua có gởi người mang ấn chiếu trên một khâm vàng, năm dây vải thắt (ligatures) và các tặng phẩm để khai trương các tòa nhà này. Khu này gọi là Hàng đinh nằm ở phía trên đường Catinat, từ cạnh khách sạn Laval cho đến chỗ ở của giám đốc nội vụ. Ở tòa đô chính Sài Gòn, có một kênh băng qua ống cống trên cầu gọi là “Cống cầu dầu”.

 

Dọc theo bờ sông Sài Gòn phủ đầy các nhà sàn dựng trên cột sông. Ở cuối đường Catinat nơi bến phà Thủ Thiêm có một nhà "Thủy các" (kiosk hoàng gia), nhà tắm "lương tạ" cho vua được xây trên những bè nổi làm bằng tre.

 

Người ta gọi chỗ này là Bến ngự (Kompong Luong theo tiếng Khmer), tức bến của vua. Từ cửa rạch Thị nghè đến đường thành Sài Gòn là các xưởng đóng tàu và các thuyền hải quân. Từ bờ chạy ra sông có một bến gọi là "Cầu gọ" hay "Cầu quan".

 

Trước khi đến pháo đài trước thành Sài Gòn là một rạch nhỏ gọi là Kinh Cây Cám, kinh này lên đến tận đường Lê Thánh Tôn (rue d'Espagne), băng qua pháo đài đến thành. Kênh chợ Sài Gòn là Kinh chợ vải, chạy lên đến tận giếng nước cùng tên, đối diện với nhà của ông Brun, người làm và bán yên ngựa.

 

Giữa nhà của ông Vương Thái (Wang Tai) góc kênh Chợ Vải và sông Sài Gòn trên đường Rigault de Genouilly và hướng về cảng thuơng mại Sài Gòn có một rạch nhỏ nữa, gọi là Rạch cầu sấu chạy lên đến tận đầu phía trên của kinh Chợ Vải. Nối Rạch cầu sấu và kinh Chợ Vải là kinh Coffine mà đại tá Coffine đã cho đào để nối hai đầu kinh.  Nhà ông Vương Thái, năm 1868 được hội đồng thành phố mướn làm trụ sở tạm thời, nhà ở vị trí đằng sau sở thương chánh (Douanes ) nằm giữa đại lộ Nguyễn Huệ (Charner) và Hàm Nghi (Boulevard de la Somme). Ngôi nhà này còn được dùng làm phòng thương mãi và chứng khoán. Năm 1880, thị trưởng Blancsubé đặt vấn đề xây cất một tòa thị chánh cho Sài Gòn.

 

Kinh Coffine sau này được lấp và trở thành đường Bonard (đường Lê Lợi ngày nay) và rạch cầu sấu (tên gọi vì nơi đây trước có trại nuôi cá sấu) khi được lấp trở thành đường Boulevard de la Somme (nay là đường Hàm Nghi).

 

Từ nhà của ông Vương Thái về hướng cảng thương mại Sài Gòn, dọc theo rạch Bến Nghé (arroyo chinois) là các xưởng làm gạch và ngói của ông Vương Thái. Trong các ngói đỏ hơn trăm năm trên nóc nhà thờ đức bà ở Sài Gòn là một số ngói làm từ các xưởng gạch này của ông, số còn lại là nhập từ Pháp. Gần đây năm 2009 chi tiết này được biết khi một số ngói bị hư tháo xuống ở nhà thờ thì thấy có chữ đề xuất xứ “Wang-Tai Sài Gòn” trên mặt các ngói. Các xưởng làm gạch của ông Vương Thái sản xuất gạch tốt được dùng ở Sài Gòn và ở nhiều nơi trong Nam kỳ. Trong cuộc triển lãm công nghiệp và nông nghiệp năm 1880, các sản phẩm gạch của ông được huy chương bạc (16).

 

Ở phía cảng thương mại Sài Gòn là nơi có xây một đồn và nơi cư ngụ của các chức sắc từ Huế vào, và cũng là nơi xưa kia Duệ tông, Mục Vương và Gia Long đến lánh nạn. Đối diện với Sài Gòn bên kia bờ sông thời Gia Long là Xóm tàu ô (xóm thuyền đen). Đây là nơi trú ở của các hải tặc người Hoa mà  tàu họ sơn đen. Vì họ chịu thần phục vua Gia Long, nên nhà vua cho họ đến cư trú và cho làm Tuần hải đô dinh và đặt họ dưới quyền của tướng họ là "Tướng quân Xiền". Họ có nhiệm vụ tuần tra bờ biển và những người ở lại trên bờ được dùng để bảo trì, làm kín vỏ tàu của hạm đội nhà vua. 

 

Hình 7: Khu vực phía tây thành phố Sài Gòn 1772

 

Năm 1822, khi lệnh cấm đạo thiên chúa nói riêng và người Âu nói chung, cùng lúc là lệnh phá hủy nhà thờ được vua Minh Mạng ban hành. Ngài phó vua (tổng trấn Lê Văn Duyệt) đang xem đá gà, thì lệnh được đưa đến tay ông "Làm sao, ông kêu lên, chúng ta có thể đối xử những người cùng đạo với giám mục Adran (Bá Đa Lộc hay cha Cả) và những người Pháp đã giúp chúng ta trước kia như vậy, nhờ họ mà ngày nay chúng ta vẫn còn nhai gạo giữa hai hàm răng của chúng ta ?”.  “Không”, ông nói tiếp, trong lúc tức giận về sự phản bội này, đã xé tờ lệnh của vua trong tay, “khi nào mà ta còn sống thì không thể làm như vậy được, nhà vua có thể làm như ý muốn sau khi ta chết." (3).

 

Lê Văn Duyệt trị rất nghiêm khắc, làm dân ở Nam kỳ và Cao Miên nể sợ, tuy vậy có lúc hơi quá đáng. Ông xử trảm trước không hỏi ý kiến vua hay thượng thư bộ hình.

 

Một thí dụ điển hình là ông đã xử tử một thơ lại của ông không thương tiếc. Người thơ lại này lúc đi ra khỏi văn phòng thấy ở cửa thành một người đàn bà đang bán cháo hay bán đường. Ông ta muốn giỡn chọc ghẹo bà ấy, ông để tay lên hộp trầu mà bà đã để trên nắp giỏ của bà. Bà này kêu lên ăn cắp. Ông thơ lại bị bắt và bị xử trảm trên cánh đồng theo lệnh của Lê Văn Duyệt không qua một quá trình xét xử nào cả. Chẳng bao lâu, vụ này được truyền làm sợ hãi khắp Nam kỳ.

 

Để làm người Cao Miên kính nể và sợ hãi, ông cho vua Cao Miên Udong thấy con người phi thường và đầy quyền lực của ông. Ngồi trên bệ cao kế vua Oudong, ông ăn đường phèn và uống trà. Những người Cao Miên ngồi gần đó nghe tiếng kêu gảy giòn dưới răng của Lê Văn Duyệt lúc nhai mấy cục đường, bèn hỏi những quan lại Việt nam có mặt ở buổi chiêu đãi này là ông tướng trời đang ăn gì vậy. Những người này trả lời là đó là những viên đá sỏi mà ngài tướng trời đang nhai trong miệng.

 

Hình 8: Sài Gòn – 1815, vẽ theo bản đồ của Trần Văn Học, người theo vua Gia Long và giáo sĩ Bá Đa Lộc trong những năm bôn tảo và chiến tranh với Tây Sơn ở Gia Định (nguồn: “Địa chí văn hóa thành phố Hồ Chí Minh”, Nguyễn Đình Đầu)

 

Cao Miên lúc đó đang dưới sự bảo hộ của Việt nam, vị vua xứ này hàng năm vào dịp tết buộc phải đến Sài Gòn để thần phục hoàng đế Việt Nam trong chùa hoàng gia, cùng lúc với phó vương tổng trấn Gia định thành. Nhà vua cao Miên đi cùng sứ giả Việt có nhiệm vụ lo việc bảo hộ đến đêm trước của ngày đầu năm; nhưng thay vì ở Sài Gòn, lại ngủ qua đêm ở Chợ Lớn. Đến 5 giờ sáng đầu năm, tổng trấn cử hành nghi thức lễ trong tiếng nhạc mà nhà vua không có mặt. Nhà vua Cao Miên đến thì buổi lễ đã chấm dứt. Ông bị phạt không thương tiếc 3000 tiền franc bắt buộc phải trả trước khi trở lại Cao Miên.

 

Ông tổng trấn rất thích chơi đá gà, hài kịch và hát tuồng. Ông nâng đỡ, nuôi nhiều nghệ sĩ và có rạp hát riêng. Các toà nhà dùng trong các giải trí này ở ngoài tường thành Sài Gòn (thành Quy) trên vùng đất mà ngày nay là dinh thống đốc và trường Chasseloup Laubat (Lê Quý Đôn).

 

Trong cánh đồng mả (plaine des tombeaux) có vài mộ nổi tiếng, có liên hệ đến lịch sử. Một ngôi mộ ở cạnh đường rầy xe lửa (tramway), kế nhà Vandelet (chú thích: Octave Vandelet là thương gia người Pháp, chủ trại đầu tư trồng nho nhưng thất bại ở Vũng Tàu, cố vấn và là bạn vua Cam Bốt Norodom và Sri Sowath). Ngôi mộ này được vua Minh Mạng xây và săn sóc cẩn thận để tưởng niệm cha vợ của nhà vua, ông Huỳnh Công Lý. Huỳnh Công Lý là quan trấn của tỉnh Gia Định (Sài Gòn) dưới quyền của tổng trấn Lê Văn Duyệt, bị xử trảm qua lệnh của Lê Văn Duyệt vì trong lúc ngài phó vương ra Huế, Lý có gian díu với các người vợ của ngài phó vương tổng trấn. Khi trở về, được nghe nói lại như vậy, đã xử trảm Huỳnh Công Lý không cần phải có lý do hệ trọng nào và không để ý đến vua Minh Mạng. Một mộ lớn khác kế lăng mộ Cha Cả là mộ Tả dinh, em của phó vương Lê Văn Duyệt, chết một năm trước ngài phó vương mất.

 

Năm 1832, tổng trấn Lê Văn Duyệt mất. Sau khi ông mất, Minh Mạng bổ người thay thế và thẳng tay trừng trị Lê Văn Duyệt và những người theo ông đã không theo chánh sách bài ngoại, đóng cửa, bảo thủ phong kiến tập trung quyền lực của Minh Mạng, bằng cách đàn áp và bắt nhốt các người thân cận theo ông. Người con nuôi của ông là một người Mường, tên là Lê Văn Khôi đã nổi lên, giết viên tổng trấn mới, rồi đứng lên kêu gọi chống lại triều đình Minh Mạng. Lê Văn Khôi được sự ủng hộ của các người Hoa ở Sài Gòn - Chợ Lớn, giáo dân theo đạo, người Chăm ở Pandagura, người Khmer, các dân tộc bản xứ gốc Tây nguyên, các lưu dân Việt và của kiều dân và giáo sĩ Pháp trước đây theo Gia Long ở Sài Gòn. Sự khởi nghĩa của Lê Văn Khôi phản ảnh sự bất bình cao độ của người dân Gia Định về chính sách của Minh Mạng. Cuộc khởi nghĩa này đồng thời với cuộc khởi nghĩa lớn ở Cao bằng vùng Bắc bộ của người Tày-Nùng do Nông Văn Vân lãnh đạo. Miền Nam đã có liên hệ lịch sử và cảm tình với các chúa Nguyễn từ bao đời qua công sức mở đất cho lưu dân tứ xứ đủ mọi dân tộc và tinh thần bao dung và chấp nhận sự đa dạng, nhưng đây là một sứt mẻ to lớn về ý thức hệ và niềm tin vào triều đình nhà Nguyễn, bước đầu cho sự chia cắt về nhân sinh quan và ý thức hệ giữa hai miền.

 

Sau khi khởi nghĩa của Lê Văn Khôi không thành, thành Sài Gòn nơi Lê Văn Khôi rút vào trấn thủ bị quân triều đình chiếm lại tháng 9-1835. Lê Văn Khôi đã mất vì bệnh trước đó nhưng có 1137 người bị triều đình Minh Mạng xử tử ở “cánh đồng mả” (plaine de tombeaux), ngay tại “cánh đồng đa giác” (champ du polygone), gần đường Thuận Kiều (nay là đường Cách mạng tháng 8) và chôn ngay tai đó gọi là mả biền tru hay mả ngụy. Người con của Lê Văn Khôi mới 7 tuổi cùng 4 đồng đảng trong đó có một người Hoa và một giáo sĩ người Pháp tên là Joseph Marchand (có mặt trong thành) đã bị đóng cũi nhốt và mang ra Huế chịu nhục hình. Thủ cấp sau đó được mang bày ở miền Bắc để răn đe. Người Hoa chịu nhục hình có tên là Mạch Tấn Giai, là tác giả bài thơ truyện lục bát 308 câu kể lại cuộc khởi nghĩa trước khi bị xử tử. Bài thơ truyện này có tên là Bốn bang. Có thể Bốn bang ở đây là ý chỉ 4 bang người Hoa đã tham gia vào cuộc khởi nghĩa.

 

Thành Gia Định kiên cố theo kiểu Vauban của Victor Olivier de Puymaniel bi Minh Mạng ra lệnh phá đi và cho xây lại nhỏ và yếu hơn, được gọi là thành Phụng hay thành Phiên An mà sau này vào năm 1859 quân Pháp đã đánh chiếm. Minh Mạng còn cho phá mộ của ông Lê Văn Duyệt ở làng Bà Chiểu, xiềng xích trên mộ với hàng chữ “Quyền yêm hoạn Lê Văn Duyệt phục pháp xứ” (nơi đây viên hoạn quan Lê Văn Duyệt chịu phép nước), Năm 1848, vua Tự Đức đã minh oan cho Lê Văn Duyệt và cho xây lại lăng mộ.

 

Theo Nguyễn Công Tánh trích dẫn Đại nam Nhất thống chí (9) thì “Thành tỉnh Gia Định do Minh Mạng xây cất có chu vi 429 trượng (1960m), cao 10 thước 3 tấc (4m70), hào rộng 11 trượng 4 thước (52m07), sâu 7 thước (3m19), có 4 cửa ở địa phận thôn Nghĩa Hòa huyện Bình Dương.

 

Trên bản đồ thành phố Sài Gòn ngày nay thành Gia Định của Minh Mạng thường được gọi là thành Phụng xây cất nằm ở góc đông bắc của thành cũ (thành Quy của Gia Long) tức là nằm trong chu vi của 4 con đường: Nguyễn Du là mặt trước, Nguyễn Đình Chiểu là mặt sau, Nguyễn Bỉnh Khiêm là mặt bên trái, Mạc Đĩnh Chi là ở bên phía tay mặt. Thành Phụng (1836) mặt trước nhìn ra đường Cường Để-Bến Bạch Đằng; mặt sau nhìn ra đường Đinh Tiên Hoàng; mặt trái và phải đều hướng ra đường Hồng Thập Tự (Chasseloup Laubat)” (9).

 

Hình 9:  Sài Gòn 1867 – Thành Sài Gòn vẫn còn trên bản đồ. Có thể chỉ còn là khu đất trống với mấy bức tường vì năm 1859, Rigault de Genouilly đã cho đốt phá hết các kho lương thực gạo, trại lính, dinh điện... sau khi đã hạ được thành.

 

Thành Sài Gòn (thành Phụng) nhỏ hơn và không kiên cố như Gia Định thành (thành Quy) bị Minh Mạng phá đi. Theo bản đồ Sài Gòn 1867 ở trên, để ý là đường Chasseloup Laubat (Nguyễn Thị Minh Khai ngày nay) và đường Boulevard de la Citadelle (Tôn Đức Thắng và Đinh Tiên Hoàng) giao nhau ở ngay trung tâm thành Phụng. Thành Phụng nằm gọn giữa bốn đường: rue Taberd (Nguyễn Du), rue des Mois (Nguyễn Đình Chiểu), rue de Bangkok (Mạc Đĩnh Chi) và rue Rousseau (Nguyễn Bỉnh Khiêm trước sở thú). Miếu Barbé nằm bên phải đường Chasseloup Laubat đi về hướng Phú Lâm - Chợ Lớn ở cánh đồng mả (plaine des tombeaux) đối diện với dinh Độc Lập (Thống Nhất). Tại miếu Barbé trước đây, viên tướng Pháp Charner đã đặt trọng pháo cùng với các trọng pháo khác ở phía đồn Cây Mai chĩa mũi tấn công vào đồn Chí Hòa (Pháp gọi là Kỳ Hòa) vào năm 1861 trong một thời gian, cuối cùng họ đã chiếm và hạ được đồn Kỳ Hòa, nơi Nguyễn Tri Phương trấn thủ.

 

(chú thích: Nicolas Barbé là viên đại úy Pháp trấn giữ chùa Khải Tường, khi đề đốc Rigault de Genouilly để một ít quân lại ở Sài Gòn để ra Đà Nẵng. Ngày 7/12/1860, Barbé bị quân Việt Nam phóng lao phục kích khi đi ngựa ra ngoài trên đường đến chùa Hiển Trung (pagoda des Mares) và thủ cấp ông được mang về thành Kì Hòa, được thiết lập gần đó để bao vây quân Pháp trấn đóng ở “phòng tuyến chùa” từ Sài Gòn đến Chợ Lớn. Nhà văn Le Verdier dùng Barbé là một nhân vật chính trong tác phẩm ”Scène de la vie annammite, Ki-Hoa”).

 

Ta hãy đi theo hành trình mà ông Trương Vĩnh Ký mô tả (3) trên con đường từ Sài Gòn đến Chợ Lớn (người Pháp gọi là route haute tức đường trên), qua các địa danh cũ của Sài Gòn - Chợ Lớn trước khi người Pháp đến trong các đoạn sau.

 

Đường trên đi từ Sài Gòn đến Chợ Lớn bắt đầu từ khu tòa án ngày nay (thời Trương Vĩnh Ký, Pháp mới xây thay thế tòa án trong thành Sài Gòn đã bị phá) và nhà tù gần đó. Khu tòa án ngày xưa gọi là xóm Vườn Mít vì nơi đây có một vườn mít lớn. Tại nơi tòa án và nhà giam xưa có một chợ gọi là “Chợ da còm”, nơi đây có một cây đa rất lớn với thân cong queo. Sau chợ này về phía phải đi về hướng Chợ Lớn là “Chợ đũi” bán vải.

 

Xa chút nữa trước khi đến đường Thuận Kiều (nay là Cách mạng tháng 8) là “Xóm đệm buồm”. Trên đường Thuận Kiều đi qua “Chợ cây đa thằng mọi” và “Chợ điều khiển”. Sở dĩ gọi là “Chợ cây đa thằng mọi” vì ở chợ này có nhiều người bán đèn dầu bằng đất có hình thằng mọi đội đèn trên đầu. Chợ này kéo dài từ trước nhà ông Blancsubé cho đến đường sắt. Đi xa hơn qua cánh đồng mả (plaine des tombeaux), nước từ vùng này đổ vào một rạch sau nhà Blancsubé. Khúc đường ở đây lúc nào cũng ẩm. Người ta gọi khúc đường này là "Nước nhĩ" do nước chảy nhĩ ra.

 

(ghi chú của dịch giả: Jules Blancsubé là thị trưởng Sài Gòn và chủ tịch Hội đồng quản hạt. Ông là luật sư cải cách, chống lại sự lạm quyền, và quyền hạn độc đoán của chức vụ thống đốc Nam kỳ như (Duperré) mà ông cho là đi ngược lại nguyên lý bình đẳng của hiến pháp cách mạng Pháp, và nguyên lý phân cách quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp; ông có tư tưởng cộng hòa chống độc tài của hoàng đế Napoleon III của Pháp. Công lý theo ông phải được áp dụng như nhau cho mọi công dân Sài Gòn không kể chủng tộc, tư pháp phải độc lập với hành pháp mà chức vụ tối cao là thống đốc, thống đốc không được quyền bổ nhiệm người vào tòa án, tòa án xét lại, kiểm tra. Ông tự nhận mình là công dân Sài Gòn và khi đắc cử thị trưởng ông đã thiết lập những cải cách rộng lớn về luật pháp (13). Sau này có con đường Blancsubé đi qua gần nhà ông, sau đổi thành rue d’Arras, ngày nay là đường Cống Quỳnh. Đường Blancsubé về sau là đường Catinat nối dài nay là Phạm Ngọc Thạch. Quảng trường hồ con rùa ngày nay trước đây cũng được gọi là quảng trường Blancsubé)

 

Sau đó là đến chùa Kim Chương. Chùa Kim Chương do vua Gia Long xây trên nền một chùa xưa của người Khmer. Nơi đây có hai biến cố mà lịch sử chưa được biết nhiều. Chúa Duệ Tông, chú của vua Gia Long và hoàng tử Mục vương bị Tây sơn bắt ở Bassac (Cà Mau) năm 1776 và Mục Vương bị bắt ở Ba vác (xưa thuộc tỉnh Vĩnh Long, nay trong phạm vi tỉnh Bến Tre phía đông bắc Mỏ Cày) không lâu sau đó. Cả hai bị xử tử trong chùa này năm 1776. Ngày nay (thời Trương Vĩnh Ký) trong chùa này có hai điện: Hiển trung tự và miễu công thần.

 

Hình 10: Bản đồ Sài Gòn-Chợ Lớn sau khi Pháp chiếm 1859

 

Hình 11: Bản đồ Sài Gòn - Chợ Lớn lúc người Pháp đến 1859 (nguồn: Tour du Monde 1860). Để ý gần Chợ Lớn có một chùa (pagode) trên bản đồ đó là chùa Cây Mai. Sông “Donnai” trên bản đồ là sông Sài Gòn hay sông Tân Bình và trước khi vào cảng Sài Gòn có 2 đồn (fort) ở hai bên bờ sông, có thể là pháo đồn Cá Trê (Tả binh pháo) và pháo đồn Giao khẩu (hữu binh pháo). Bên trong thành Sài Gòn có ghi vị trí “điện vua”, “điện hoàng hậu”, “điện hoàng tử”,  các trại lính, nhà thương, cột cờ, kho thuốc súng…như trong bản đồ hình 5.

 

Bắt đầu vào Chợ Lớn, trước hết là gặp “Xóm bột”, làng này làm và bán bột vì thế gọi là xóm bột. Sau làng này là “Chợ hôm” (chợ, họp lúc chiều tối). Sau chợ này là một ngôi chùa gọi là Trần tướng, Trần tướng là một trong các tướng của Gia Long bị Tây sơn giết và được vua Gia Long xây một ngôi chùa tại đây để tưởng niệm.

 

Trên một rạch nhỏ, nơi có các chùa của nghĩa địa người Hoa, có một cầu nhỏ gọi là “Cầu Linh Yển”. Theo truyền thống thì một binh sĩ tên là Yển đã cõng vua Gia Long lên vai trốn chạy Tây sơn rượt đuổi. Khi đến cầu này, một binh sĩ khác đã thay thế binh sĩ Yển để tiếp tục cõng vua chạy. Vì mệt nên anh ta (Yển) đã phải dừng lại để nghỉ mệt và vì thế bị quân Tây Sơn đuổi kịp và giết chết. Vua Gia Long đã xây tại nơi này một ngôi chùa để tưởng niệm. Làng này gọi là Tân Thuận hay Hàm luông. Khu này có một cây me lớn và dưới báng cây me này là các quán gọi là “Quán bánh nghệ”. Ở đó trên đường nay (thời Trương Vĩnh Ký) gọi là Rue des Marins (nay là Trần Hưng Đạo nối dài) có nhiều nhà tập trung lại thành “Xóm cốm” và “Xóm chỉ”.

….

Giờ chúng ta trở bước lại ra về, chúng ta đến Chợ quán. Tên Chợ quán, áp dụng cho các làng Tân Kiểng, Nhơn Giang, Bình Yên, là tên một chợ họp ở dưới các cây me lớn ở đại lộ nhà thương Chợ Quán (avenue de l'hôpital de Chợ Quán). Ở đây cũng có nhiều quán trọ nên gọi là Chợ quán.

 

Giữa đại lộ nhà thương và một nông trại trong khu các đầm ao (des Mares, khu này thời Trương Vĩnh Ký gọi là ao đầm vì có nhiều đầm và ao, sau này là trạm quân sự thành Ô Ma hay Camp des Mares và là trụ sở công an thành phố giáp đường Nguyễn Văn Cừ ngày nay) là làng thợ đúc, Nhơn ngãi (nay, tức thời Trương Vĩnh Ký, gọi là Nhơn Giang). Nơi đây người ta có thể thấy được các vết tích của một làng cổ Cao Miên với nhiều tháp làm bằng đá được tìm thấy ở một khu nhà. Lúc đào ở đây, người ta tìm thấy những đá Khmer, các đá nung hình lục bình, các tượng phật nhỏ bằng đồng, bằng đá. Còn có hai tảng đá granit lớn được đánh bóng với các tượng chạm trổ khắc nổi trên đá.

 

Từ Chợ quán (làng Nhơn Giang) cho đến đường xuống "Cầu kho", bên đường là các nhà chung quanh có vườn rải rác cách nhau. Phía trên đường Cầu kho cho đến nhà Blancsubé, cũng có một số người ở. Vùng này thời Gia Long, có nhiều người ăn mày sống rất cực khổ.

 

Khi thấy quân Tây Sơn rượt đuổi vua Gia Long đi ngang qua, họ đã tụ lại đánh trống khiêng nghe rất lớn kinh thiên động địa. Quân Tây Sơn phải dừng lại, tưởng là gặp phải một chướng ngại khó vượt qua. Vua Gia Long sau đó đã xây khu nhà cho những người ăn mày này để thưởng công họ. Làng này có tên là Tân lộc phường.

 

Cầu trên rạch sau nhà ông Blancsubé gọi là "Cầu gạo", nơi đây người ta bán gạo. Ngày xưa người Cao Miên trồng lúa và làm chiếu ở vùng này. Trước nhà ông Spooner, người ta bán lá buôn và các nhà tụ lại gọi là "xóm lá buôn". Từ đây đi đến nhà giam thành phố, bên bờ đường là các nhà vườn quê của các quan (mandarin) và chức sắc triều đình. Phía trên đường Boresse (rue Boresse, tức đường Yersin ngày nay) là "Cầu quan" (rue des mandarins).

 

(Chú thích dịch giả: “Cầu quan” ở trên rạch cùng tên. Boresse là tên trung úy hải quân Pháp được đô đốc Jauréguiberry chỉ định thiết lập cảnh sát và cơ quan hành chánh Sài Gòn sau khi Pháp chiếm, có đi cùng với phái bộ Phan Thanh Giản trở về Sài Gòn năm 1864 sau khi phái đoàn qua Pháp điều đình. Ông Andrew Spooner là thương gia có cơ sở nhà máy xay lúa chạy bằng hơi nước đầu tiên ở Chợ Lớn. Ông là người Mỹ sinh năm 1840, mất ngày 29/7/1884.  Từ năm 18 tuổi đã qua Á châu làm ăn, ông là thuơng gia (negociant) ở Singapore 1 năm, sau đó đến Sài Gòn. Hai năm sau ông là ký giả cho báo “l’Ilustration” ở Nam kỳ năm 1861, theo đoàn quân Pháp đánh Biên Hòa ngày 9/12/1861 và tường trình trận đánh này trên tờ báo “l’Illustration”. Trong giai đoạn phôi thai Pháp đến Sài Gòn, vì có tài thương mại, ông được nhà cầm quyền Pháp cử làm Ủy viên (commissaire) quản lý Sở quan thuế (Douanes et Regis) từ năm 1870 đến lúc chính thức thành lập năm 1882. Sở này nằm cạnh sông Sài Gòn, gần nhà ông Vương Thái và gần Xưởng làm thuốc phiện. Ông cũng hợp tác với người Hoa làm thuốc phiện. Năm 1862, đề đốc Bonard cử ông dẫn đầu đoàn thám hiểm đi ngược dòng sông Mekong lên Angkor và Battambang để nghiên cứu và tường trình về kinh tế, khả năng thương mại ở Cam Bốt (55). Ông đầu tư vào một nhà máy xay lúa chạy bằng hơi nước đầu tiên ở Chợ Lớn, mở dịch vụ chuyên chở Sài Gòn - Pnom Penh bằng tàu hơi nước hai lần mỗi tháng. Ông làm thêm dịch vụ cung cấp gas đốt đèn đường và nhà trong thành phố Sài Gòn. Ông cũng là hội viên của Hội đồng tư vấn thuộc địa (conseil prive de la colonie) (54). Ông là người Mỹ đầu tiên sống và định cư ở Sài Gòn)

 

Trở lại lên đường Mac Mahon cho đến đường Mọi, nơi có toà án mới, dinh thống đốc, trường Chasseloup Laubat (Lê Quí Đôn) mà chúng ta thấy bên trái, tất cả đều nằm ngoài thành Sài Gòn xưa. Ở đây dưới thời quan tổng trấn hoạn quan, phó vương Lê Văn Duyệt, là dinh của vợ ông (dinh bà lớn), nhà hoa của phó vương, nhà hát và trường ná (trường bắn). 

 

Cạnh nhà của ông de Lanneau, người ta vẫn còn thấy 2 cây phi lao, ở đây ngày xưa là Nền xã tắc, hình cái nón cúng thần đất. Công viên của thành phố là Xóm lụa xưa kia (nơi làm lụa, tẩy trắng và bán lụa). Trên đường chiến lược (route strategique, đi Chợ Lớn, tức đường Chasseloup Laubat sau này, ngày nay là Nguyễn Thị Minh Khai)) cho đến phía trên của Sở nuôi ngựa, là Xóm thuẫn, Xóm chậu và Xóm củ cải.

 

(chú thích: de Lanneau là giám đốc hành chánh và tài chánh ở Nam kỳ, l’inspecteur des services administratives et financiers)

 

Giờ ta hãy quay về phía phải đi theo con đường Mọi (rue des Mois, Nguyễn Đình Chiểu ngày nay) cho đến cầu thứ hai trên Rạch Thị Nghè, chúng ta sẽ thấy bên phải đối diện với nhà ông Potteaux, là nhà tù xưa của Sài Gòn và xa hơn nữa là công viên cho voi (xưa thành Sài Gòn có nuôi voi dùng trong chiến tranh và để di chuyển) và một chợ tên là Chợ vông, ở giữa nghĩa địa và cầu thứ hai.

 

(chú thích: Ernest Potteaux là người đứng ra làm tờ Gia Định báo năm 1865, báo quốc ngữ đầu tiên mà sau này Trương Vĩnh Ký thay thế làm chủ nhiệm năm 1869. Potteaux thông thạo tiếng Việt và làm thông ngôn cho chính quyền Pháp).

 

Cầu thứ ba, Cầu Xóm kiệu (nay là Tân Định), cho đến chợ Chợ xã tài, ngày xưa là một làng lớn có 72 chùa. Giờ chúng ta đi xuống cầu thứ hai ở cửa rạch Thị Nghè. Cầu thứ hai ngày xưa có tên là Cầu Cao mên; sau đó gọi là Cầu Hoa. Từ "Hoa" bị kị húy bởi tên của một hoàng tử, vì thế người ta đổi tên là Cầu Bông.

 

Sự cấm đạo gay gắt dưới thời Minh Mạng được tiếp tục trong thời Thiệu Tri và Tự Đức. Từ năm 1857 khi linh mục Pellerin từ Nam kỳ trở về Pháp, Pellerin đã vận động với các cấp trong Công giáo (như Père Huc), nữ hoàng Eugenie, bộ ngoại giao Pháp ở quai d’Orsay và báo chí. Qua bức thư của cha Huc gởi Hoàng đế Napoleon III, một Ủy ban đặc biệt về Nam kỳ (Commission spéciale pour la Cochinchine) được thành lập sau đó. Pellerin và Huc thuyết trình ở Ủy ban và gặp hoàng đế Napoleon III. Tháng 9 năm 1857, vua Tự Đức xử trảm Monsignor Diaz, một linh mục người Tây Ban Nha ở Bắc hà. Thêm một cái cớ để Pháp đánh Việt Nam. Liên quân Pháp - Tây Ban Nha được thành lập dưới sự chỉ huy của đề đốc (amiral) Rigault de Genouilly. Hạm đội của Genouiily tháng 9 năm 1858 đánh phá và đổ bộ Đà Nẵng, nhưng gặp khó khăn do quan quân triều đình Huế chống trả. Để lại một số quân và chiến thuyền ở Đà Nẵng, đề đốc Genouilly mang hạm đội vào Nam tấn công Gia Định. Thành Sài Gòn thất thủ ngày 17 tháng 2 1859. Nhưng vì thành quá lớn để có thể giữ được, quân Pháp phá hủy thành Sài Gòn và đốt cháy kho lương chứa gạo khổng lồ. Để lại một số quân giữ Sài Gòn, Genouilly quay trở lại Đà nẵng nhưng tại đấy không đạt được tiến triển mong muốn. Rigault de Genouilly bị chỉ trích ở Pháp và được thay bởi đề đốc Francois Page.

 

 

Quân Pháp tấn công thành Sài Gòn 17-2-1859

 

Pháp lập phòng tuyến các chùa (ligne des pagodes) gồm chùa Cây Mai, chùa Barbé (chùa Khải Tường), chùa Clochetons (Kiểng Phước, theo Vương Hồng Sển thì ở đầu đường Phù Đổng Thiên Vương ngày nay, trước kia mang tên là đường Clochetons, gần thánh đường Hồi giáo trên vùng đất cao ráo nay là nền trường Đại học Y khoa), chùa Pagode des Mares (chùa Hiển Trung). Phòng tuyến này trải dài từ Chợ Lớn đến Sài Gòn để bao vây đánh đồn Kỳ Hòa (Chí Hòa), viện binh do Nguyễn Tri Phương chỉ huy mà triều đình Huế gởi vào để đánh chiếm lại Sài Gòn khỏi tay người Pháp. Hai chùa Barbé và Kiểng Phước là gạch nối liên lạc giữa Sài Gòn và Chợ Lớn nơi có đồn Cây Mai. Chùa Kiểng Phước vào năm 1860 đã bị lính Pháp do đại úy Malet chỉ huy chiếm đóng và biến thành đồn “clochetons” làm nơi đóng quân, phòng thủ trong khi đề đốc Charner đang ở Trung Quốc. Chùa Kiểng Phước (đồn clochetons) là đầu mối liên lạc giữa Chợ Lớn với Sài Gòn và Chợ quán.

 

Trong lúc liên quân Pháp-Tây Ban Nha ở lại cầm cự trấn giữ Sài Gòn sau khi Genouilly ra Đà Nẵng, thì cảng Sài Gòn được Pháp cho mở cửa tự do thông thương với các tàu nước ngoài. Tàu từ nhiều nơi đến mua bán hàng hóa ở cảng Sài Gòn-Chợ Lớn tấp nập gần sông và kinh rạch Chợ Lớn trong khi đại binh Nguyễn Tri Phương đóng ở phòng tuyến Kỳ Hòa cách đó không xa đang tìm cách phản công lấy lại Sài Gòn. Lúc này là thời vàng son của người Hoa buôn bán ở Chợ Lớn: không thuế má, cản trở và hoàn toàn tự do với hàng từ mọi nơi đổ về. Quân Pháp mua lương thực tiếp vận từ Chợ Lớn vì thế không lạ gì mà việc đầu tiên Nguyễn Tri Phương sau khi củng cố đồn Kỳ Hòa là bắt đầu tấn công vào đồn Cây Mai và chùa Kiểng Phước để cắt đứt sự liên lạc của Pháp với Chợ Lớn.

 

Theo Midan (15) thì qua các bản vẽ sơ đồ 1:5000 kế hoạch thành phố “Sài Gòn, ville de 500.000 âmes” có chữ ký của thượng sĩ Clipet, trung tá công binh Coffyn và đề đốc Bonard mà Midan tìm được trong kho lưu trữ “Archives de la Direction de l’Artillerie à Sài Gòn” thì có ghi vị trí chùa pagode des clochetons thành đồn clochetons. Dùng bản đồ kế hoạch tương lai xây cất Sài Gòn thành phố 500000 dân xưa nhất này của trung tá Coffyn và so sánh với bản đồ thật sự lúc đó (1934) với cùng tỉ lệ, Midan đi đến kết luận: “Chùa Kiểng Phước (clochetons) ở đại lộ Marechal Foch kéo dài từ đường Rue des clochetons, bắt ngang qua hai lô đất 21 và 22 của bản đồ mới, phần chính là nằm trên địa điểm thật sự của trường Ecoles des Filles và khu đất cạnh đường Armand Rousseau”. (chú thích: đại lộ Marechal Foch là Lý Thường Kiệt và Armand Rousseau là Nguyễn Chí Thanh ngày nay)

 

Cũng theo Midan, thì trong thơ của ông Passerat de la Chapelle, kế toán trưởng Chợ Lớn, gởi cho ông chủ tịch thành phố nói là khi ông mới đến Chợ Lớn vào tháng 6-1891, ông được thành phố cho ở trong một tòa nhà trong khu chùa Kiểng Phước, mà ông nói thật ra là một trường mẫu giáo. Trường mẫu giáo (ecole maternelle) đổi thành trường nữ sinh (ecole des filles) vào năm 1917. Như vậy trái với Vương Hồng Sển, chùa Kiểng Phước không nằm ở phía đại học y dược ngày nay mà ở nhích phía trên, nơi trường mầm non gần bệnh viện Chợ Rẫy góc đường Lý Thường Kiệt và Nguyễn Chí Thanh ngày nay. Tư liệu cho thấy chùa Kiểng Phước của người Hoa có cột bằng gỗ, hai cổng và tường là gạch và đã biến mất chỉ còn mấy cây gỗ mục trong khuôn viên chùa vào năm 1866 (14). 

 

Chùa Khải Tường (Berbet) là nơi vua Minh Mạng sanh năm 1790 khi Nguyễn Ánh còn trú tại Sài Gòn trong cuộc chiến với Tây Sơn. Sau này để tưởng nhớ, vua Gia Long đã dâng cúng tượng Phật A di Đà rất đẹp cho chùa, tượng này nay ở Viện bảo tàng lịch sử thành phố Hồ Chí Minh (trong sở thú).

 

Vi trí chùa Khải Tường ngày nay là Viện bảo tàng chứng tích chiến tranh, số 28 đường Võ Văn Tần (đường Testard thời Pháp, Trần Quí Cáp trước 1975). Trước đó khi chùa không còn, chỉ còn lại là nền, người ta cho xây một biệt thự sau này bà bác sĩ Henriette Bùi Quang Chiêu (con ông Bùi Quang Chiêu) mướn làm dưỡng đường sản phụ khoa mà sau này năm 1947 trở thành chi nhánh của Đại Học Y-Dược Khoa Hà Nội và vào năm 1954 thành Đại Học Y-Dược Khoa Sài Gòn, trước khi đại học y-dược dời đi nơi khác lớn hơn (6). Theo Midan, sau khi Pháp đánh chiếm Sài Gòn, thì 10 năm sau (1869), chuẩn đô đốc G. Ohier cho xây lại chùa và trong khuôn viên xây các trại lính cảnh sát. Hợp đồng xây sau đó được ký kết giữa ông Hermite, kiến trúc sư thuộc địa, trưởng phòng sở công chánh với một doanh nhân người Hoa giàu có ở Sài Gòn tên là A-Fo. Nhưng hợp đồng không được thực hiện.

 

Dùng bản đồ 1:2000 năm 1871, so sánh với bản đồ năm 1931, Midan đưa đến kết luận: “Chùa Berbet ở lô đất 1 (số 93 đường Richaud, xưa là rue no. 27, đường 27, sau đó là rue des Mois, đường người Mọi) và lô đất 8 và 9 (số 26 đường Testard). Lô 1 ngày nay (1934) là tòa nhà của Chartered Bank, lô 8 và 9 là biệt thự của ông Matthieu ở góc đường Testard và Berbet. Đồn Berbet mà chỉ dụ của thống đốc Ohier ban ngày 10 tháng 9 năm 1869  nói đến là ở lô 24 nay là nhà của Chủ tịch Tòa án đầu tiên, số 6 đường Berbet” (chú thích: đường Richaud là Nguyễn Đình Chiểu, Testard là Võ Văn Tần và Berbet là Lê Quý Đôn ngày nay). Theo Bouchot thì chùa Barbé (đúng hơn tên mà nhiều người gọi nhầm lẫn Berbet) bị phá hủy năm 1904 (17).

 

Chùa Hiển Trung gồm hai miếu miếu Công thần và miếu Hội đồng do vua Gia Long xây dựng ở khu xóm nhiều đầm lầy gần làng Chợ Quán về phía Chợ Lớn gọi là xóm Ô Ma (sau này thành nơi đóng quân, nuôi ngựa của Pháp gọi là thành Ô Ma, đường Nancy nay là trụ sở công an đường Nguyễn Văn Cừ).

 

Quân thủy binh, bộ binh Pháp - Tây Ban Nha chiếm giữ các phòng tuyến chùa này cùng các đại pháo mang từ các tàu chiến đậu trên sông, rạch Sài Gòn và Chợ Lớn tham gia cuộc tấn công đồn Kỳ Hòa năm 1860-1861. Chỉ huy trong trận này là phó đô đốc Charner, người thay thế đề đốc Francois Page và Rigault de Genouilly mà năm trước đó (1859) đứng đầu liên quân Pháp - Tây ban Nha đã hạ và phá hủy thành Sài Gòn. Grenouilly chiếm giũ và thành lập các đồn gần trung tâm Sài Gòn, như đồn Sài Gòn, chùa Berbet để phòng sự phản công của triều đình Huế.

 

Sau chiến dịch ở Trung quốc, đoàn tàu chiến hạm Pháp đi vào Sài Gòn để tiếp viện cho quân Pháp - Tây Ban Nha đang cầm cự và đánh chiếm nốt các tỉnh thành chung quanh Sài Gòn.

 

Khu trú ngụ của nhiều thủy quân là khu vực Rue des Marins (đường Đồng Khánh, ngày nay gọi là Trần Hưng Đạo nối dài) gần đường Tản Đà (rue de Jacccario) nơi trước kia chiến hạm Jaccario đậu để hỗ trợ thủy binh và lính đóng tại đồn Cây Mai trong trận vây đánh thành Kì Hòa do Nguyễn Tri Phương trấn giữ.  Đa số quân Tây Ban Nha đóng dinh trại tại vùng sau này gọi là rue d’ Espagne (Lê Thánh Tôn ngày nay).

 

Hình 13: Thành Sài Gòn 1870 – bên trong người Pháp đã thay đổi tất cả, xây chỗ ở cho sĩ quan, trại lính, kho bạc, nhà tù.

 

Năm 1860, vừa sau khi đánh chiếm Sài Gòn, đã có đề nghị trong Hội đồng quản hạt (consei colonial) về vấn đề lấp kinh chợ Vải (ngay đường Nguyễn Huệ ngày nay). Vấn đề này đưa đến sự tranh cãi sôi nổi giữa hai bên: nhóm ủng hộ về vấn đề vệ sinh rạch và nhóm thương nhân chống vì lợi ích thực tiễn thương mại (10). Vấn đề lấp kinh được hoãn cho tới 25 năm sau. 

 

7. Tổng kết: Sài Gòn giai đoạn thế kỷ 17 đến đầu thế kỷ 19

Sài Gòn từ thế kỷ 17 đến đầu thế kỷ 19 là thời kỳ lưu dân người Việt từ miền Trung và người Hoa từ nam trung quốc đến lập nghiệp và biến vùng đất hoang vu ít người này thành một vùng định cư trù phú mang dấu ấn văn hóa Việt-Hoa hấp thụ và thay thế dần nét văn hóa và đời sống của các dân tộc bản xứ và người Khmer. Dù vậy cho đến đầu thế kỷ 20, chung quanh Sài Gòn vẫn còn nhiều người bản xứ như ở vùng Biên Hòa, Tân Uyên, Thủ Dầu Một, Thủ Đức, Bà Rịa (còn được gọi là xứ Mọi và là nơi có nhiều thú dữ như voi, cọp) và người Khmer cư ngụ như ở Long An. Ngay tại Sài Gòn, cho đến đầu thế kỷ 19, vẫn còn một số người bản xứ và nhiều người Khmer. Người Âu từ phương tây cũng đã đến Sài Gòn và các vùng phụ cận từ trước thế kỷ 18. Những người này là người Bồ, Pháp, Ý, đa số là giáo sĩ, thương gia và các người mạo hiểm. Sau này có thêm các quân nhân, sĩ quan hải quân Pháp tình nguyện đi cùng giám mục Bá Đa Lộc giúp Nguyễn Ánh.

 

Các biến cố quan trọng ở Sài Gòn trong thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 19

- Sài Gòn là chiến trường giữa Tây Sơn và Nguyễn Ánh. Trong giai đoạn này có sự có mặt của Bá Đa Lộc là một người thông thạo tiếng Việt, để lại nhiều sách, bài viết về ngôn ngữ, văn hóa (22). Không thành công khi trở lại Pháp với hoàng tử Cảnh trong sự việc mang đoàn tàu Pháp đến Gia Định giúp Nguyễn Ánh như mong ước, nhưng đã có một số lính và sĩ quan tình nguyện bỏ Hải quân theo Bá Đa Lộc đến Việt Nam như Dayot, Chaigneau, Vannier..

 

- Lê Văn Duyệt làm tổng trấn sau khi Nguyễn Ánh trở lại Huế. Chính sách của Lê Văn Duyệt phản ảnh tư tưởng mở rộng đa chiều mà xã hội Sài Gòn và miền Nam được tạo thành. Nguyễn Ánh sau khi thống nhất đất nước thay vì ở lại Sài Gòn, vùng đất với tinh thần khai phóng lại trở về nguồn để tái lập truyền thống phong kiến xưa. Sài Gòn nói riêng và Việt Nam nói chung mất cơ hội phát triển với hệ thống mở, trở nên đầu nguồn của các tư tưởng mới

 

- Khởi nghĩa của Lê Văn Khôi.  Sự bất đồng giữa tổng trấn Lê Văn Duyệt với chính sách độc đoán, bài ngoại, và đóng cửa với thế giới bên ngoài của vua Minh Mạng dẫn tới sự trừng phạt những người thân tín và theo tổng trấn của Minh Mạng sau khi Lê Văn Duyệt mất dẫn đến sự nổi dậy của Lê Văn Khôi với sự tham dự của lưu dân người Việt, Hoa, người Chăm, Khmer và bản xứ. Sự thất bại của khởi nghĩa và Việt Nam, qua Minh Mạng, đã chọn lựa đi theo một chủ thuyết độc tôn văn hóa, cứng rắn tập trung, bài thương mại, dẫn đến sự chạm trán các nền văn minh sau này. /.

 

Tham khảo

 

(1) Trịnh Hoài Đức, Gia Định thành thông chí, Lý Việt Dũng dịch và chú giải, Nxb Đồng Nai,

http://namkyluctinh.org/a-sachsuvn/

giadinhthanh-thongchi%5Bp3%5D.pdf

(2) Anatole Petiton, La Cochinchine française: la vie à Saïgon, notes de voyage, Éditeur: Impr. de L.

Danel (Lille), 1883.

(3) Jean Baptiste Pétrus Trương Vĩnh Ký (1837-1898), Souvenirs historiques sur Saïgon et ses

environs, conférence faite au collège des interprètes par M. P. Truong Vinh Ky, Éditeur: Impr.

coloniale (Saïgon), 1885.

(4) Les colonies françaises: notices illustrées / publ. par ordre

 du sous-secrétaire d'état des colonies sous la dir. de

M. Louis Henrique, Quantin (Paris), 1889-1890.

(5) Trần Ngọc Quang, Sài Gòn và những tên đường xưa, http://namkyluctinh.org/a-lichsu/tngocquang-

Sài Gòntenduongxua.pdf.

(6) Vương Hồng Sển, Sài Gòn năm xưa, 1992, Nxb Trẻ

(7) John Crawfurd, Journal of an embassy from the governor of India to the courts of Siam and Cochinchina; exhibiting a view

of the actual state of those kingdom by John Crawfurd. London. Henri

Colburn and Richard Bentley, New Burlingtong Street. 1830.

(8) John White, A Voyage To Cochin China; by John White, Lieutenant in The United State Navy, London, 1824. Online:

http://www.archive.org/stream/

voyagetocochinch00whitrich#page/

n15/mode/2up

(9) Nguyễn Công Tánh, Thay đổi tên đường của Thành Phố Sài Gòn

từ năm 1928 đến năm

1993, http://motgocpho.com/forums/showthread.php?

1895-L%E1%BB%8Bch-S%E1%BB%AD-Sài Gòn

(10) Hình ảnh, tư liệu, http://belleindochine.free.fr/Sài Gòn1882.htm

(11) Albert Morice, Voyage en Cochinchine pendant les années 1872-73-74, par M. le Dr Morice, H.

Georg (Lyon), 1876.

(12) John Barrow, A voyage to Cochinchina in the years 1792 and 1793: containing a general view of the valuable productions and the political importance of this flourishing kingdom, T. Cadell and W.

Davies in the Strand, London, 1806. online : http://purl.pt/126

(13) Jules Blancsubé, Notes sur les réformes les plus urgentes à apporter dans l'organisation des pouvoirs publics en Cochinchine (Signé : Jules Blancsube [31 Décembre 1878]), Impr. de Ve

Remondet-Aubin (Aix), 1879.

(14) Réveillère, Paul-Émile-Marie (dit Paul Branda), Ça et là. Cochinchine et Cambodge. L'âme

khmère. Ang-Kor. Troisième edition, Fischbacher (Paris), 1887.

(15) P. Midan, La Pagode des clochetons et la pagode Barbé, contribution à l'histoire de Saïgon-

Cholon, Impr. de l'Union Nguyên-van-Cua (Saïgon), 1934.

(16) Excursions et reconnaissances,

No. 4, Imprimerie du gouvernement, Saïgon, 1880.

http://gallica.bnf.fr/ark:/12148/bpt6k5747850m.image.hl.r=Wang-Tai.f5.langEN.pagination

(17) J. Bouchot, Sài Gòn sous la domination cambodgienne et annamite, Bulletin de la Société des études indochinoises, année 1926, 1926 (Nouv Ser,T1), pp. 3-82, Société des études indochinoises (Saïgon).

(18) Nguyễn Đình Đầu, Địa lý lịch sử thành phố Hồ Chí Minh, trong “Địa chí văn hóa thành phố Hồ Chí Minh”, Nxb Tph Hồ Chí Minh, 1987, Quyển I, trang 125-231.

(19) Trần Văn Giàu, Lược sử thành phố Hồ Chí Minh, trong Địa chí văn hóa thành phố Hồ Chí Minh”, Nxb Tph Hồ Chí Minh, 1987, Quyển I, trang 235-420.

(20) Josiah Conder, Birmah, Siam, and Anam, London: printed for J. Duncan, Oliver & Boyd,

Edingburgh, M. Ogle, Glasgow and R. M. Tims, Dublin, 1826,

http://www.archive.org/stream/birmahsiamanam00condrich#page/n11/mode/2up

(21) George Finlayson, The mission to Siam and Hue the capital of Cochin China in the years 1821-2,

London, John Murray,  Albemale Street, 1826.

http://www.archive.org/stream/missiontosiaman00

raffgoog#page/n7/mode/1up

(22) R. Purefoy, Cursory remarks on Cochin-China, The Asiatic journal and monthly register for Bitish India and its dependencies,

Vol. 22, pp. 143-147, pp. 652-655 London, 1826.

(23) Charles Darwin, The Descent of Man: and selection in relation to sex, John Murray, London,

1879.

(24) Charles Lemire, Cochinchine française et royaume de Cambodge, avec l'itinéraire de Paris à

Saïgon et à la capitale cambodgienne, Challamel aine, Paris, 1869.