TONG QUAN VE VU TRU

TIẾP THEO BAI "TỔNG QUAN VỀ VŨ TRỤ LUẬN ĐẠI ĐẠO TRÊN NCGL

2. SỰ VẬN ĐỘNG BIẾN HÓA CỦA VŨ TRỤ

Sự vận động và biến hóa trong vũ trụ không bao giờ ngừng nghỉ, và diễn ra theo hai quy luật:

·        Quy luật Âm Dương tương tác.

·        Quy luật tuần hoàn quy nguyên.

2.1. Quy luật Âm Dương tương tác

Theo Đại Thừa Chơn Giáo:

“Khí Âm Dương bắt đầu hóa sanh vạn vật, muôn loài vạn vật cứ hóa sanh mãi mãi đời nọ sang đời kia không bao giờ ngưng nghỉ. Đó là một sanh hai, hai sanh ba, ba sanh vạn vật.”[1]

Quy luật vận động này có thể được diễn tả theo hệ thống: Vô Cực – Thái Cực – Lưỡng Nghi của Dịch học.

2.2. Quy luật tuần hoàn quy nguyên

Tiếp theo đoạn kinh văn trên, Đại Thừa Chơn Giáo viết:

“Nhưng vạn vật cũng phải quay đầu về Một, là vì Nhất Bổn tán vạn thù, vạn thù quy Nhất Bổn.”[2]

Vậy sự vận động hóa sinh của vạn vật không phải là không có đường lối mà “cứu cánh” quay trở về gốc phát sinh. Gốc này gọi là Nhất (Bổn) để đối chiếu với Vạn (vạn thù, vạn vật). Do đó, chiều thứ nhất của sự vận động là chiều đi từ đơn giản đến phức tạp hay từ Vô đến Hữu. Chiều thứ hai là chiều đi từ phức tạp đến đơn giản hay chiều đi từ Hữu đến Vô.

Ý nghĩa của quy luật tuần hoàn này rất quan trọng. Và “Nhất Bổn tán vạn thù, vạn thù quy Nhất Bổn” là nguyên lý chi phối hệ thống giáo lý Đại Đạo, đặc biệt quan niệm về sự tiến hóa của vũ trụ.

3. VŨ TRỤ TÂM LINH

Càn Khôn vũ trụ không phải chỉ là vũ trụ hữu hình với vô số tinh cầu, thiên thể vận chuyển trong không gian, mà còn bao hàm vũ trụ vô hình của các cõi tâm linh.

Giáo lý Đại Đạo cho rằng, trong Bản thể đồng nhứt của vũ trụ, vũ trụ tâm linh có thể chia thành bảy cõi từ cao đến thấp, từ thanh đến trược, tương ứng với trình độ tiến hóa của những chơn linh thuộc về các cõi ấy.

Bảy cõi gồm: Thái cực, Lưỡng nghi, Tứ tượng, Bồ đề, Thượng giới, Trung giới, Hạ giới (trần gian).

Bảy thể tương ứng tùy theo nấc thang tiến hóa của các chơn linh: Tiên thể, Kim thân, Thượng trí, Hạ trí, Vía, Phách, Xác trược.

Vũ trụ Tâm linh:

BẢY CÕI

BẢY THỂ

Thái cực

Tiên thể

Lưỡng nghi

Kim thân

Tứ tượng

Thượng trí

Bồ đề

Hạ trí

Thượng giới

Vía

Trung giới

Phách

Hạ giới ( trần gian)

Xác

 

Xác tín vũ trụ tâm linh như trên, giáo lý Đại Đạo cho phép rút ra hai điểm quan trọng:

·        Trong vũ trụ, chẳng những có vật thể, sinh vật, còn hiện hữu vô vàn chủ thể tâm linh.

·        Trong vũ trụ có những nấc thang tiến hóa. Tiến càng cao, càng lột bỏ các cấu thể hữu hình hữu chất, trọng trược, u tối; để trở nên vô hình, vô chất, thanh khiết, sáng suốt và siêu việt.

Kinh Đại Thừa Chơn Giáo nêu rõ tiến trình ấy như sau:

“Ngày nào các con bỏ xác phàm này là ngày các con cổi bỏ bớt một cái áo của các con; rồi các con sanh qua Trung giái, thì các con cắt lìa cái Phách ra, tức là cổi thêm một cái thể nữa. Đến Thượng giái thì bỏ cái Vía; đến Bồ đề thì bỏ cái Hạ trí; đến Tứ tượng thì bỏ cái Thượng trí; đến Lưỡng nghi bỏ cái Kim thân; đến Thái Cực thì Linh Hồn được hiệp cùng Tạo Hóa.”[3]

4. SỰ TIẾN HÓA CỦA VŨ TRỤ

Quan niệm tiến hóa của giáo lý Đại Đạo dựa trên hai nguyên lý:

·        Thiên địa vạn vật nhất thể.

·        Nhất Bổn tán vạn thù, vạn thù quy Nhất Bổn.

Vì vũ trụ vạn vật có chung một bản thể, mà bản thể này vừa là phẩm chất tốt đẹp tối thượng bất diệt, vừa là nguồn gốc hóa sinh vạn vật, nên nấc thang tiến hóa của vạn vật – trong đó có con người – chính là trở về được, là đạt được sự toàn chân, toàn thiện, toàn mỹ của Bản Thể.

Chính tính nhất thể trong vạn vật là năng lực và động lực của cuộc tiến hóa.

Nguyên lý “Nhất Bổn tán vạn thù, vạn thù quy Nhất Bổn” trong sự tiến hóa đã trở thành “Thiên cơ”, “Thiên luật” của Thượng Đế, và “quy Nhất” trở nên “cứu cánh” của con người.

Là Thiên cơ, Thiên luật vì chính Đức Thượng Đế (cũng là Đạo, là Khí Hư Vô) thúc đẩy vạn vật – đặc biệt là con người – tiến hóa để hiệp nhất với Ngài:

“Thầy là Hư Vô Chi Khí, thì Đạo cũng đồng nghĩa đó thôi. Nên chi trong thời Hạ Nguơn chính mình Thầy dùng Khí Hư Vô trực tiếp hữu hình đến thế gian để dẫn dắt thâu hồi những điểm Linh Quang đã cho xuống trần gian trở về với khối Đại Linh Quang”[4]

Dù vậy, cuộc trở về này không phải là sự biến hóa của phép thần thông, mà phải noi theo con đường Đại Đạo chính là theo đúng quy luật vận hành của vũ trụ:

“Các con đã sinh trong Đại Đạo, hãy noi theo Đại Đạo mà thành về cõi Thượng Thiên Vô Cực.”[5]

Nơi con người, cuộc tiến hóa trở thành con đường phản bổn hoàn nguyên. Hoàn nguyên không phải chỉ là trở về khởi điểm, mà có ý nghĩa tiến hóa trở nên một chủ thể hoàn thiện, không đơn thuần là một điểm Tiểu Linh Quang như khi tách ra khối Đại Linh Quang, mà còn vượt lên đến phẩm vị Thiêng Liêng cõi Thiên Đình:

“Trời với muôn loài một Bổn Nguyên,

Cũng trong Linh Tánh, cũng tâm điền;

Linh Quang một khối chia nhiều ức,

Người, vật, tương đồng với Phật, Tiên.

 

Luật Trời mầu nhiệm lắm ai ơi,

Một kiếp vi nhân quý một đời;

Linh tánh khôn ngoan hơn vạn vật,

Tu hành chắc thiệt sẽ thành Trời.”[6]

Cho nên sự kỳ diệu của nguyên lý “Thiên Địa vạn vật Nhất Thể và nguyên lý “Nhất Bổn tán vạn thù – vạn thù quy Nhất Bổn” được tìm thấy ngay nơi con người đang vươn mình tiến hóa.

“Người hành giả muốn tu chứng đắc quả, giải thoát luân hồi, phải đi theo con đường phản Bổn huờn Nguyên là trở về nguồn gốc con người; mà nguồn gốc con người không ngoài cái vũ trụ riêng tư của con người.”[7]

Trong vũ trụ con người, chính Chơn Thần là nguồn gốc (Thần, Phật giáo gọi là Tánh; Đạo học còn gọi là Khí Thể Tiên Thiên)[8]. Cho nên cuộc tiến hóa của vạn vật chí đến con người không chỉ đơn thuần là những biến đổi thể xác hay tinh thần của muôn ngàn thế hệ tại thế gian và chấm dứt tại thế gian cho mỗi cá thể, mà đây là cuộc tiến hóa xuyên suốt từ vũ trụ hữu hình sang vũ trụ tâm linh:

“Bậc chơn tu tỉ như hột giống tốt, hễ gieo xuống thì cây lên, cây lên thì trổ bông, trổ bông rồi sanh trái mà biến biến sanh sanh càng tăng số. Vì vậy mà các con phải bỏ xác trần, mà bông trái thiêng liêng các con sanh hóa Chơn Thần, Chơn Thần lại biến hằng muôn thêm số tăng lên hoài. Ấy là Đạo.”[9]

Cho nên cứu cánh tiến hóa của chúng sanh chính là cứu cánh giải thoát khỏi cái tồn tại hữu hình hữu hạn để bước sang sự tồn tại vô hình vô hạn của tâm linh. Đây là con đường xuất thế gian đã được giáo lý Đại Đạo khẳng định, và con đường tiến hóa xuất thế gian cũng phải có nhiều nấc thang mới đến được hiệp nhất với Đức Thượng Đế:

“Có Thầy mới có các con, có các con rồi mới có Thần, Thánh, Tiên, Phật.”[10]

“Thầy là Phật, chủ cả Pháp và Tăng, lập thành các Đạo mà phục hồi các con hiệp một cùng Thầy.”[11]

Tóm lại, giáo lý Đại Đạo trình bày một vũ trụ luận gồm đủ ba mặt của một hệ thống tồn tại khách quan: Nguồn gốc, sự vận động, sự tiến hóa của vũ trụ vạn vật. Vũ trụ luận Đại Đạo bao hàm các nguyên lý quan trọng:

·        Thái Cực – Âm Dương,

·        Thiên Địa vạn vật Nhất Thể,

·        Nhất Bổn tán vạn thù, vạn thù quy Nhất Bổn.

Đó là những nguyên lý dẫn đạo cho các luận thuyết về Bản Thể, về sự biến hóa, sanh hóa của vũ trụ vạn vật.

Thuyết tiến hóa chính là hệ quả của ba nguyên lý đó, hoàn thành một luận thuyết nhất quán về sự chuyển hóa của tiểu vũ trụ con người từ hữu hình đến Hư Vô.

Vũ trụ luận Đại Đạo còn nêu lên sự hiện hữu giữa vũ trụ tổng thể với hai chủ thể trung tâm là Thượng Đế và Con Người. Giáo lý Đại Đạo đã đồng nhất quan niệm vô ngã với quan niệm hữu ngã trong phạm trù Thượng Đế (chủ thể vận hành vũ trụ) và trong phạm trù Con Người (chủ thể nhận thức cứu cánh tiến hóa và chủ động thực hiện cuộc tiến hóa). Cặp phạm trù Đại Linh Quang - Tiểu Linh Quang khẳng định hai chủ thể Trời Người đồng một Bản Thể (đồng nhất thể), đó là Linh Quang.

 

5. KẾT LUẬN

Vũ trụ luận Đại Đạo với quan niệm về con đường tiến hóa của vũ trụ vạn vật cho thấy sự hiện hữu của một vũ trụ tâm linh vượt lên trên và bao quát vũ trụ vạn vật. Trung tâm của vũ trụ tâm linh là Chơn Thần của Đức Thượng Đế, nơi quy tụ Chơn Thần của các hàng chủ thể đã và đang giải thoát.

Nói cách khác, vũ trụ luận Đại Đạo còn là nền tảng để xây dựng hệ thống tư tưởng về con người, nhân sinh và đạo pháp, để người tu nhận thức một đạo lý nhất quán dẫn đến cứu cánh cao tột của mình là hiệp một cùng Trời, cũng như dẫn đến sứ mạng cứu độ cộng đồng nhân loại là trực tiếp tham gia cùng Trời, vận hành cho vạn loại cùng tiến hóa.◙

 



[1] Đức Đại Đức Cao Tiên; 03-8 Bính Tý (1936); Đại Thừa Chơn Giáo (bản in 1950), thiên 30 “Tiên thiên cơ ngẫu”, tr.276.

[2] Đức Đại Đức Cao Tiên; 03-8 Bính Tý (1936); Đại Thừa Chơn Giáo (bản in 1950), thiên 30 “Tiên thiên cơ ngẫu”, tr.276.

[3] Đức Nam Phương Giáo Chủ; 22-9 Bính Tý (5 Novembre 1936); Đại Thừa Chơn Giáo (bản in 1956), bài “Điều Cần Yếu Của Người Luyện Đạo”, tr.48.

[4] Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế; Ngọc Minh Đài, Tuất thời, 29-12 Bính Ngọ (02-02-1967); Thánh Giáo Nguyên Bổn.

[5] Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế; Minh Lý Thánh Hội, 09-01 Mậu Thân (07-02-1968); Thánh Giáo Sưu Tập 1968-1969, tr.7.

[6] Đức Quan Âm Bồ Tát; Thánh Tịnh An Tiên (Giáo Hội Tiên Thiên), Tý thời, 01 rạng 02-02 Đinh Mùi (11-03-1967); Thánh Giáo Sưu Tập 1966-1967, tr.117.

[7] Đức Đông Phương Chưởng Quản, Vĩnh Nguyên Tự, 04.12 Ất Mão (11-03-1976); Thánh Giáo Nguyên Bổn.

[8] Đức Như Ý Đạo Thoàn Chơn Nhơn. Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý, Tuất thời, 29-03-Mậu Ngọ (05-05-1978);Thánh Giáo Nguyên Bổn.

[9] Đức NgHoàng Thượng Đế; 13-06 Bính Dn (Jeudi 22 Juillet 1926); Thánh Ngôn Hip Tuyn, Q.1, tr.31.

[10] Đức Thích Ca Mậu Ni Phật tá danh Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát Giáo Đạo Nam Phương; Phước Linh Tự, 15-09 Bính Dần (Dimanche 24 Octobre 1926); Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Q.1, tr.52.

[11] Đức Thích Ca Mu Ni Pht tá danh Cao Đài Tiên Ông Đại B Tát Ma Ha Tát Giáo Đạo Nam Phương; Phước Linh T, 15-09 Bính Dn (Dimanche 24 Octobre 1926); Thánh Ngôn Hip Tuyn, Q.1, tr.52.