NGO MINH CHIEU_2
TIẾP THEO NGO MINH CHIEU

   4.  THỌ PHÁP MÔN CAO ĐÀI.

     4.1.  Được chọn làm đệ tử đầu tiên (Phú Quốc -1921)

 

·             Ngày thứ ba < xml="true" ns="urn:schemas-microsoft-com:office:smarttags" prefix="st1" namespace="">26-10-1920 (Rằm tháng 9 Canh

Thân), Ngài Ngô Văn Chiêu ra làm chủ quận Phú Quốc.    Phú Quốc là một hải đảo khá lớn tận cuối miền Nam nước Việt, có núi non chập chùng, trời nước mênh mông.  Nơi đây, Ơn Trên như đã định sẵn, khi Ngài Ngô Văn Chiêu ra đến là trọn đủ ba điều kiện:  Thiên - Địa - Nhơn; đã đúng lúc gieo mối đạo Trời cho người đệ tử đầu tiên ấy.

 

            Dinh quận Phú Quốc - nơi Ngài Ngô tùng sự và cư ngụ - đặt tại thị trấn Dương Đông.  Trên núi Dương Đông có chùa Minh Sư là Quan Âm Tự .  Chùa Quan Âm cách dinh quận khoảng 500 mét. [1]

 

­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­            Trước khi Ngài ra đến, nơi Dương Đông đã có một nhóm thân sĩ thường cầu cơ thỉnh Tiên.  Cầu vài lần, Tiên gia mới giáng một lần (tương tự như ở Hà Tiên) mặc dù nhóm này có đồng tử và độc giả nhỏ tuổi. Cũng như ở Hà Tiên, từ khi Ngài Ngô Văn Chiêu gia nhập nhóm, mỗi khi thiết đàn, Ngài đọc bài cầu vừa xong là Tiên gia đều giáng hạ. 

 

            Ngài thường lập đàn cầu cơ thỉnh Tiên cùng với quý vị: ông Hương hào Trương Văn Khâu,         bà Năm Trương Thị Vàng (em ông Khâu), thầy giáo Nguyễn Văn Mẫn, ông Hội đồng Đinh Văn Phanh,  bà Phủ Phẩm, bà Đinh Thị Lang (Ba Lang) [2],      cùng nhiều vị  khác.  Đồng  tử  tên     Văn  Ngưng 

(Tư Ngưng) [3] còn  trẻ, là người công quả suốt thời gian Ngài học đạo tại Phú Quốc (và trọn cuộc đời hành đạo của Ngài sau này).

 

·             Ngài Ngô nhiều  lần   cầu   Tiên   trên    Quan       

Âm  Tự. Vào  cuối  năm  Canh  Thân  (1920),  một vị

Tiên Ông ẩn danh giáng đàn, muốn rằng nếu  Ngài  Ngô Văn Chiêu thuận làm đệ tử, Tiên Ông sẽ truyền đạo cho; đồng thời dạy Ngài ngưng tụng kinh             Minh Thánh [4] như  Ngài vốn tụng hằng đêm. Nhờ sẵn ý thức từ trước, Ngài Ngô Văn Chiêu mừng biết đã gặp được Thầy Trời nên nhận lời làm đệ tử Tiên Ông và ngưng tụng Minh Thánh Kinh.

 

            Ngày nọ, Tiên Ông giáng cơ dạy Ngài phải ăn chay mỗi tháng mười ngày (lúc ấy, Ngài chỉ ăn chay vào hai ngày Sóc, Vọng). 

 

            Ai cũng biết nơi hải đảo Phú Quốc thịnh hành nghề đánh bắt hải sản và làm nước mắm danh tiếng, nhưng lại ít rau quả, hàng bông.  Chốn này ăn chay có phần khó hơn các nơi khác.  Ngài Ngô lúc ấy đang e việc đời ràng buộc, Ngài làm quan chủ quận, thiên hạ nay thỉnh mai mời, hằng ngày phải tiếp xúc giao thiệp với kẻ dưới người trên, rủi phạm ăn mặn không tròn lời hứa nguyện.  Hơn nữa, theo Ngài nghĩ, ăn chay mười ngày, chỉ tinh tấn hơn hai ngày chút ít... Đang còn phân vân về việc chay lạt, Ngài Ngô định bụng có dịp hầu đàn, sẽ bạch rõ sự tình với Ơn Trên.  Lúc ấy vào cận cuối năm Canh Thân.

     4.2.  Trường trai - thọ nhận pháp môn.

 

 

            Ngày mồng một Tết Tân Dậu (8-2-1921) một người thợ bạc ở thị trấn có lòng muốn lên Quan Âm Tự cầu Tiên, mời Ngài Ngô chứng đàn. Hôm ấy, Ngài chưa kịp bạch hỏi tâm sự riêng thì Tiên Ông đã điểm danh và ban lệnh:

 

Chiêu, tam niên trường trai”

 

            Ngài chỉ còn cách tuân lời và bạch rằng:“Bạch Tiên Ông, Tiên Ông đã dạy thì đệ tử phải vâng, song xin Tiên Ông bảo hộ đệ tử, chớ trường trai ba năm lâu quá chẳng biết đệ tử có chịu nổi hay không?  Và cầu xin Tiên Ông bảo lãnh, nếu đệ tử vâng theo lời dạy xin có chứng quả chi mới được.”

 

            Tiên Ông bảo, đại ý: “cứ việc làm theo lời dạy, sau rồi sẽ hiểu”.  Ba năm sau, tức là sẽ rơi vào đúng đầu Xuân Giáp Tý (1924).

 

Như vậy, kể từ mồng một Tết Tân Dậu (1921), Ngài Ngô Văn Chiêu trở nên người đầu tiên thời Tam Kỳ Phổ Độ thọ giáo Đức Thượng Đế.   Cũng từ đó, Ngài Ngô được lập những đàn cơ riêng biệt, chỉ một mình Ngài dự hầu, để học đạo lý và đạo pháp.  Sư vô vi dạy đạo vô vi. Đồng tử Lê Văn Ngưng được Ơn Trên đặc trách phò ngọc cơ cho những đàn dạy đạo riêng này. 

 

            Về sau, tín đồ Cao Đài phái Chiếu Minh chọn ngày mồng một Tết hàng năm làm lễ kỷ niệm ngày “Trường trai thọ pháp”.  Ba ngày lễ kỷ niệm Đức Ngô khác là: Mùng 7 tháng Giêng: Kỷ niệm sinh nhật;  Mùng 5 tháng Ba :  Kỷ niệm ngày hiển đạo tại thế [5]; Ngày 13 tháng Ba  : Kỷ niệm ngày quy Tiên. 


   5.  NHỮNG BƯỚC TU TIẾN TIẾP THEO.

 

     5.1. Thiên Nhãn xuất hiện (Phú Quốc - 1921)

           

            Từ đầu năm Tân Dậu (1921), đã là đệ tử của Tiên Ông, nhưng Ngài Ngô Văn Chiêu chưa biết nghi thức thờ phượng Đức Cao Đài.  Một hôm, Tiên Ông dạy Ngài hãy tìm ra một biểu tượng để thờ, biểu tượng ấy phải riêng biệt và thể hiện đầy đủ lý siêu việt của nền Đạo mới.  Như đã có ý chọn từ trước, Ngài bạch với Tiên Ông xin thờ “Chữ Thập”. Tiên Ông dạy tiếp, đại ý: “Chữ Thập cũng được, song đó là dấu hiệu riêng của một nền Đạo đã có rồi.  Phải suy nghĩ mà tầm cho ra, có Tiên Ông giúp sức.” [6].

 

            Hôm ấy, Ngài Ngô bạch xin được triển hạn một tuần để suy nghiệm.  Vấn đề quá khó, đến hết tuần Ngài vẫn chưa nghĩ ra nên thờ biểu tượng nào.

 

            Vào khoảng tám giờ sáng ngày 13-3 năm

 

Tân Dậu (20-4-1921) [7], Ngài đang ngồi trên võng phía sau dinh quận, nhìn hướng ra phía biển, chợt thấy trước mặt hiện rõ một CON MẮT lớn, chói ngời hào quang thật linh động, cách Ngài vài thước tây.  Sợ hãi, Ngài lấy hai tay che mắt.  Lúc sau, mở tay ra nhìn, cảnh tượng ấy vẫn còn.

 

            Ngài chấp tay vái và khấn rằng:

 

“Bạch Tiên Ông, đệ tử biết rõ huyền diệu của Tiên Ông rồi.  Đệ tử xin Tiên Ông đừng làm vậy, đệ tử sợ lắm.  Như phải Tiên Ông bảo thờ Thiên Nhãn thì xin biến mất tức thì.”

 

            Ngài Ngô khấn xong, CON MẮT lu dần rồi biến mất.  Dù vậy, vì là lần đầu tiên nhìn thấy Thiên Nhãn nên Ngài cũng còn phân vân, chưa họa hình Thiên Nhãn để thờ.

 

            Vài ngày sau, Ngài lại mục kích cảnh tượng y như vậy, và cũng chỉ sau khi khấn hứa xin thờ  Thiên Nhãn, CON MẮT mới biến đi.

 

 

Ảnh chụp Thánh tượng Thiên Nhãn tại nhà bà

Đinh Thị Lang (cô Ba Lang) ở Phú Quốc.

 

Thánh tượng này cùng mẫu với Thánh tượng xưa (hiện còn) tại nhà Đức Ngô ở Tân An.  Điểm đặc biệt là chỉ riêng ở Thánh tượng này:  nhánh trên Thập Tự Tam Thanh chỉ có 5 chữ   “Ngọc Hoàng  Đại Thiên Tôn”, thay vì 10 chữ “Huyền Khung Cao Thượng Đế Ngọc Hoàng Đại Thiên Tôn”.

 

            Sau khi Thiên Nhãn xuất hiện lần thứ hai, Ngài đến hầu đàn tại Quan Âm Tự.  Hôm ấy Tiên Ông dạy Ngài hãy vẽ Thiên Nhãn (mắt trái, vì bên trái là bên dương ), y như đã thấy để thờ.[8]

             Từ đấy, phát khởi nghi thức thờ biểu tượng Thiên Nhãn của Cao Đài Giáo hay Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.

 

      5.2.  Thừa tiếp đầy đủ hồng danh Cao Đài        Tiên Ông  (Phú Quốc - 1921)

 

 

            Chính trong buổi đàn dạy thờ Thiên Nhãn tại Quan Âm Tự hôm ấy, Tiên Ông cho phép Ngài Ngô Văn Chiêu gọi Tiên Ông bằng Thầy.  Và, cũng trong đàn này, lần đầu tiên ở thế gian, Đức Thượng Đế xưng danh hiệu đầy đủ là:  Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát.

 

            Nhờ hai lần trước, tại Tân An (cuối năm Kỷ Mùi - 1920) và sau đó tại Hà Tiên (Rằm tháng 8 Canh Thân), Ngài Ngô đã được nghe hồng danh Cao Đài nên lần này không còn bỡ ngỡ, biết rõ Thầy chính là Thượng Đế Chí Tôn.

 

            Các tư liệu đạo sử hiện có vẫn chưa xác định rõ buổi đàn này được cầu vào ngày nào, nhưng suy luận đơn giản :  Hai lần Thiên Nhãn xuất hiện chỉ cách nhau vài ngày.  Và, Ngài Ngô Văn Chiêu phải thiết đàn ngay sau lần hai, tức vào khoảng từ Rằm đến 20 - 3 - Tân Dậu (cuối tháng 4 - 1921).  Đàn hôm ấy mang ý nghĩa rất lớn:

 

- Thứ nhất:  Xác định sự tu tiến của Ngài Ngô Văn Chiêu.  Đức Cao Đài đã khẳng định việc chấp nhận Ngài làm đệ tử đầu tiên sau ba tháng Ngài thành tâm cầu học pháp môn.

 

- Thứ nhì:  Xác lập đầy đủ những yếu tố căn bản của một nền tân tôn giáo:  Giáo Chủ,  Giáo Đồ,  Giáo Pháp,  Giáo Tượng, ...

 

            Ngài Ngô Văn Chiêu hầu đàn và học đạo tại Quan Âm Tự trước sau được bảy, tám tháng.  Đến giữa năm Tân Dậu (1921), do tính khí thất thường, đôi khi quá đáng của ông thủ tự Đỗ Văn Đồ (Tám Gia), Ngài không lập đàn tại Quan Âm Tự nữa.  Ngài Ngô cùng các đạo hữu khác chuyển xuống Sùng Hưng Tự dưới núi Dương Đông (cách đó khoảng 200m, khuôn viên hai ngôi chùa liền rào), nhờ Hòa Thượng trụ trì tại đây cho mượn chỗ cầu cơ.  [9]

            Thời gian tiếp theo, tại Sùng Hưng Tự, Ngài Ngô Văn Chiêu tiếp tục được thiết những đàn riêng,  tu học đạo pháp.  Ngài một lòng tu tiến bất thối chuyển. Tuy nhiên, các pháp môn học được Ngài vẫn phải giữ kín, khi ấy chưa được phép truyền trao người khác, còn đợi lệnh Ơn Trên.

 

            Trong giai đoạn tu học này, Ngài Ngô thọ lệnh tụng bài Nhụy Châu (Nhụy châu Chơn Võ du du…), về sau là một trong những bài kinh  nhật  tụng (đọc vào hai thời Tý, Ngọ) của phái Chiếu Minh.

 

      5.3.  Lễ dâng rượu nho cảm tạ chư Thiên

 

            Qua đến giữa năm Quí Hợi (1923), sau gần ba năm thọ nhận được ân phước trực tiếp học đạo với Thiêng liêng, Ngài Ngô Văn Chiêu tự cảm thấy mình đã mang nặng ơn giáo hóa.  Trong một buổi hầu đàn, Ngài bạch rằng:  “Bạch Thầy, đệ tử ở chốn phàm trần này biết lấy chi mà đền ơn chư Tiên, chư Phật cho xứng đáng.  Vậy đệ tử xin dâng lên chư Tiên, chư Phật một tiệc rượu Champagne, chẳng biết được hay không?  Xin Thầy dạy cho đệ tử rõ”.

 

            Thầy đã trả lời rằng :

 

            “Tự nơi lòng đệ tử”.

 

            Ngài Ngô cũng hiểu rằng ân phước này không phải chỉ riêng cho cá nhân mình, mà có ảnh hưởng lớn hơn rất nhiều.  Ngày 31-8-1923, từ Phú Quốc Ngài đã viết thơ về Tân An cho gia đình đồng hiệp tâm thành.  Trong thơ, Ngài căn dặn:

            “Các con phải sắm bàn ghế, hoa quả hương đăng mà cúng Tiên Ông và đọc bài Nhụy Châu, day về hướng Bắc mà lạy, hướng Bắc là ở ngoài sân ngó vô nhà là hướng Bắc 42.  Tối 11 giờ khuya đêm 30 tháng bảy, sáng mùng một tháng tám, nghĩa là tối 9 tây.  Vì ngày ấy là ngày cha cám ơn Ông Tiên đã dạy cha tu thân”.

 

            Như vậy, vào Tý thời ngày 1 tháng 8 năm Quí Hợi (1923) Ngài Ngô thiết lễ dâng rượu cảm tạ chư Thiên tại Phú Quốc.  Đó cũng là sự tích về lễ dâng rượu nho (bồ đào) đặc biệt của phái Chiếu Minh.  Mỗi khi làm lễ “Dâng rượu lễ” này, người đệ tử Chiếu Minh đọc ba lần bài kinh sau:

 

“Bồ đào cam giá tửu Tây phương,

 Bả trản cung trần mỹ vị hương.

 Đệ tử thành tâm kiền phụng hiến,

 Cao Đài hoan lạc kiết trinh tường”.

 

     5.4.  Thoáng hiện cảnh Bồng lai  (1924)

 

            Do thấy Ngài chuyên cần tu học, một lần, Tiên Ông động viên:

 

“Ba năm lao khổ độ nhứt nhơn,

    Mắt Thầy xem rõ lòng dạ chắc. 

 

  Thương vì con trẻ hãy còn thơ,

              Gắng chí tầm phương biết Đạo mầu”.

 

            Lần khác, vào khoảng tháng Giêng năm Giáp Tý (tháng Hai-1924), Tiên Ông ban ân để khích lệ, có hỏi Ngài Ngô muốn điều chi, Tiên Ông sẽ thuận cho.  Ngài bạch đại ý :  “Bạch Thầy, nghe rằng cảnh Bồng lai xinh đẹp vô cùng.  Thầy có thể nào cho đệ tử thấy cảnh ấy được không? ”.

 

            Tiên Ông lúc ấy không trả lời.

 

            Vài ngày sau, vào một buổi chiều, Ngài Ngô đang ngồi trên một mỏm đá ngoài Dinh Cậu (Dinh Cậu cách dinh quận khoảng 300m, cùng cặp bờ biển Dương Đông).   Ngài hóng mát, mắt nhìn ra biển: 

 

            “Bổng chốc, Ngài trông thấy lần lần từ chỗ trời nước giáp nhau, lộ ra một cảnh chẳng biết là cảnh nào mà thiệt là xinh đẹp. Cảnh ấy vừa khuất lại lộ ra cảnh khác.  Chót hết, Ngài thấy cảnh trên có Thiên Nhãn sổ ngay xuống một hàng có Nhựt-Nguyệt-Tinh cũng đẹp đẽ vô cùng. Ngài ngồi coi mê mẩn quên lửng rằng thân còn ở chốn phàm trần.  Được chừng lối 15 phút đồng hồ thì cảnh ấy lu lần lần rồi biến mất.” [10]

            Một lúc sau định thần lại, trở về thực tại, Ngài thấy mình vẫn ngồi trên mỏm đá ấy, phía trước mắt cũng trời mây, cũng nước non như cũ...

 

            Đến dịp hầu đàn cơ, Tiên Ông cho Ngài Ngô biết đó là cảnh Bồng Lai mà Ngài ước nguyện được thấy. 

 

Nhớ lại, đúng ba năm trước, vào ngày mồng Một Tết Tân Dậu, Đức Cao Đài ban lệnh:                 “Chiêu, tam niên trường trai và căn dặn “cứ làm theo lời dạy, sau này rồi sẽ hiểu”.  Ngài Ngô đã chấp hành nghiêm túc lệnh trên, qua ba năm tu hành tinh tấn, đến ngày này thấy được cảnh Bồng Lai.

 

          Cảnh Bồng Lai thoáng hiện chẳng mấy chốc,

nhưng là một bằng chứng, xác định có tiến bộ vượt bậc trên bước đường tu hành của Ngài Ngô Văn Chiêu.  Đây là lần thứ ba Ngài Ngô Văn Chiêu trực tiếp     nhìn  thấy  Thiên  Nhãn  bằng  mắt  trần,      lần      

hoàn hảo nhất (Ngài không sợ như hai lần trước).  Có thể nói rằng Ngài Ngô đã hoàn thành phần công phu tự độ của mình; thần lực của Ngài đã thích ứng với cảnh Tiên Thiên.

 

            Hơn nữa, cảnh Bồng Lai xuất hiện tại cõi trần vào đầu Xuân Giáp Tý quả là một dấu ấn đặc biệt để khởi đầu ngươn hội mới của cơ đạo, Ngươn Tái Tạo: Tam Kỳ Phổ Độ.

 

     5.5.  Chuyển về Sài Gòn (1924)

 

            Giữa năm 1924 (Giáp Tý), Ngài Ngô Văn Chiêu được chuyển công vụ về Sài Gòn.  Trước khi Ngài rời Phú Quốc, Đức Cao Đài có ban cho một bài lục bát trường thiên:

 

“Kín ngoài rồi lại kín trong,

Đường xa phong cẩn thưởng lòng để vui.

Công đầu chịu cực đừng lui,

Thiên Tào thăng thưởng đạo mùi ngọt ngon.

Ba năm lòng sáng như son,

Trèo non xuống biển vuông tròn công phu

Chớ phiền mỏi mệt lòng tu,

Trăng kia mây vẹt Đường Ngu gặp hiền.

Mựa toan vụ mấy thanh thiên,

Các đào rõ biết mối truyền chánh tông.

 

 

Giờ này Thầy điểm thâm công,

         Ngày sau con sẽ cỡi rồng về nguyên . [11]

Ngoài trong sạch tợ bạch liên,

Khá lòng gìn giữ mối giềng chớ xao.

Chiêu chiêu nguyệt thấu thanh thao,

Trên đầu cũng có Thiên Tào xét xem.

Thắm mùi con biết lân nem,

Đề hồ con uống Thầy xem ân cần.

Đạo luyện khắc kỷ phục thân,

Chiêu con khá giữ Thầy phân cạn lời”.

 

 

            Các đạo hữu mến tiếc chia tay, trong đó có đồng tử Lê Văn Ngưng là người hằng kế cận sớm khuya, giúp Ngài học Đạo (Ít lâu sau, tái ngộ lại tại Sài Gòn).  Rời đảo Phú Quốc ngày 29-7-1924         (28 - 6 - Giáp Tý),  Ngài Ngô Văn Chiêu về đến Sài Gòn ngày hôm sau (30-7-1924). [12]

            Gia đình, vợ con vẫn còn ở Tân An, Ngài Ngô mướn nhà tại Bá Huê Lầu đường Pellerin (nay là Pasteur).  Sau đó dời chỗ ở vài lần.

 

Ngài sống kín đáo giữa chốn phồn hoa đô hội, hằng ngày đi làm việc ở dinh Thống Đốc Nam Kỳ, tan sở về nhà đóng cửa tịnh luyện tứ thời... Phải chăng Ơn Trên chuyển Ngài Ngô về Sài Gòn làm nhân tố xúc tác, trong lúc Thiêng Liêng chuẩn bị bầu điển lành, để đúng một năm sau, tại đây - cũng vào cuối tháng bảy dương lịch - Đức Chí Tôn chuyển cơ khai mở nguồn đạo mạch thứ nhì (Ngoại Giáo Công Truyền.

 

            Khoảng thời gian 1924 - 1926, tại Sài Gòn, Ngài Ngô có hướng dẫn một số ít vị như quý ngài  Vương Quan Kỳ, Đoàn Văn Bản, Nguyễn Văn Hoài, Võ Văn Sang ... thờ Thiên Nhãn và tụng đọc vài bài kinh như:  bài Cửu Thiên, bài Nhụy Châu... nhưng Ngài không truyền thụ pháp môn tịnh luyện cho các vị ấy;  xem  như  vẫn  chưa  chính thức  phổ truyền mối đạo Ngài đã học.

 

           

 



[1]  Tên Dương Đông phải chăng do tình cờ trùng với nơi khai sinh mối Đạo vô vi. Hướng Đông theo Bát Quái Tiên Thiên và Hậu Thiên đều thuộc dương. Hướng Đông theo Ngũ hành thuộc Mộc (khởi phát); là mùa Xuân; là đức Nguyên trong Đạo Kiền. Mặt nhựt ló dạng cũng ở phương này.

 

      Ông Huỳnh Kim Chung (em rễ ông Lâm Tấn Đức) là người xây dựng nên Quan Âm Tự. Xin xem thêm phần bổ sung nơi trang 431.

[2]   Đinh Thị Lang (1884 - 1972) con của ông Đinh Văn Nhiều và bà Nguyễn Thị Thìn.  Bà có hai con trai là Nguyễn Văn Huỳnh (Hai Huỳnh) (1906 - 1945) và Nguyễn Văn Xuân (Ba Xuân) (1912 - 1988), đều có làm đồng tử  thời ấy.  Bà Đinh Thị Lang là em bà con bên ngoại với Ngài Ngô.  Ngài thường đến thăm cô Ba Lang (tại số 286 xóm 6 khu 2) và được bà may giúp một số áo quần.  Bà Ba Lang mất ngày 28-5-1972.  Ngôi nhà hiện vẫn được hai cô Nguyễn Thị Ba và Nguyễn Thị Tư (con ông Hai Huỳnh) chăm sóc, bảo tồn được gần như trước với hệ thống bàn thờ chạm trổ tinh vi.  Đặc biệt nơi đây còn lưu giữ một Thánh tượng Thiên Nhãn rất xưa, có lẽ có từ thời Ngài Ngô còn ở Phú Quốc (dù gia đình hiện nay không tu theo Chiếu Minh nhưng vẫn để thờ). (Xin xem ảnh Thiên Nhãn này nơi tr. 85).

            Ngoài ra, do  ông  Huỳnh Kim Chung  (chủ  chùa  Quan Âm)

 

 

lại là em rễ ông Lâm Tấn Đức ở Hà Tiên, chắc hẳn hai nhóm cầu tiên ở Hà Tiên và Phú Quốc này có quen biết nhau.

[3]  Theo lời bà Phan Thị Trung (bà sanh năm 1919), hiện ngụ tại Thánh thất Phú Hữu gần phà Cát Lái (thuộc Tòa Thánh Tây Ninh, dù bà tu theo Chiếu Minh), bà là người sống kề cận ông Lê Văn Ngưng nhiều năm, đến những ngày cuối trước khi ông mất:  Ông Lê Văn Ngưng sanh năm Bính Ngọ (1906) được người mẹ (tu theo Tông Đức Tế chi Minh Sư tại Quang Nam Phật Đường, số 17 Trần Quang Khải Quận 1 - Sài Gòn) cho theo làm đồng tử và hầu cận Ngài Ngô.  Do tánh tình khá phóng khoáng, ông Tư Ngưng không tu theo pháp môn Chiếu Minh.  Đến khi Ngài Ngô sắp liễu đạo (1932), ông có quỳ xin thọ pháp nhưng Ngài Ngô không đồng ý, lúc ấy Ngài có trao cho ông Tư mẩu bánh đang cầm  trên tay, nói đại ý:  “Con thành tâm ăn bánh này đi, ngày sau sẽ được độ về phần hồn”, ông vâng theo.  Sau khi Ngài Ngô đăng Thiên, ông Tư  có ở lại Cần Thơ một thời gian, phụ việc với ông Nguyễn Văn Huỳnh (Tư Huỳnh).  Sau đó, về cư ngụ tại Trước Tiết Tàng Thơ (Thủ Thiêm).  Đến năm 1945, Trước Tiết Tàng Thơ bị cháy, ông Tư Ngưng và Bà Phan Thị Trung về ngụ tại nhà ông Phan Quang (cạnh chùa Ngọc Hoàng, Đa Kao).  Thời gian này ông Tư theo xe kiểm lâm của ông Đốc Lệ (con ông Trương Duy Toản) đi về Ban Mê Thuột mua bán áo quần.  Năm 1948, sau một chuyến buôn vừa  về, ông bị mệt và qua ngày sau thì mất.Ông được  an táng tại nghĩa trang gần cầu Bình Lợi. Đến khoảng 1985, nghĩa trang giải tỏa, ông Tư được cải táng về Nha Trang. (Xin xem hình ông Lê Văn Ngưng nơi trang 356).

[4]   Kinh Minh Thánh xưng tụng Đức Quan Thánh Đế Quân.  Lời dạy này hàm ý Tiên Ông Thiên vị cao hơn Đức Quan Thánh.

37 Ngày 5-3-Tân Mùi (22 - 4 - 1931), trong thời tịnh giờ Ngọ tại lầu 2, số 110 Bonard, Sài Gòn;  Ngài Ngô xuất chơn thần giáng cơ tại đàn Hiệp Minh (Cần Thơ) cho bài Đường thi, trong đó có 2 câu:

“Thanh tâm thủ lễ sanh Chiêu địa

 Lạc ý quan nhơn vận đạt Thiên”.

     Sau này, khi được hỏi, Ngài Ngô đã xác nhận sự kiện trên.                                                   Xin lưu ý :  Một số sách viết “Thành tâm..quang nhơn...”  cũng như năm Canh Ngọ thay vì Tân Mùi là không đúng theo thủ bút (chữ Hán và chữ Việt) của Ngài Ngô để lại. (in bên cạnh, thu nhỏ 40%)

[6]   Chữ Thập, theo Đạo học biểu thị âm dương kết hợp, chiều ngang là âm; chiều đứng là dương.  Chữ Thập cũng biểu thị chiều không gian và thời gian, tức vũ trụ.

         Thiên Chúa Giáo đã chọn Thập Tự Thánh Giá làm biểu tượng thờ phượng.

[7]   Trước nay, các sách viết về giai đoạn này không ghi rõ thời điểm, chỉ ước đoán vào giữa tháng 3 âm lịch.  Ngày 14-3-Đinh Mùi (23-4-1967), Đức Ngô có về đàn tại Cao Đài Hội Thánh,  Dương Đông, Phú Quốc,  Ngài xác định rõ ngày Thiên Nhãn xuất hiện là 13-3 (Hiệp Thiên Đài Cơ Quan PTGL/CĐGVN).

[8]  Trong buổi đầu khai đạo, do lúc ấy còn mới chưa thể dạy giáo lý cao sâu được, vì vậy Thầy chưa giảng rõ ý nghĩa biểu tượng Thiên Nhãn. Đến khi Nhóm Hai (xin xem tiếp phần "Đức Thượng Đế hóa độ nhóm Hai" nơi trang 98)  đã được độ dẫn, ngày 25-2-1926, Thầy mới chỉ giải nghĩa một phần :

...Chưa phải hồi các con biết đặng tại sao vẽ Thánh Tượng “Con Mắt” mà thờ Thầy, song Thầy nói sơ lược cho hiểu chút đỉnh: 

                                                Nhãn thị chủ Tâm,

                                                Lưỡng quang chủ tể,

                                                Quang thị Thần,

                                                Thần thị Thiên,

                                                Thiên giả ngã dã.

           Thần là khiếm khuyết của cơ mầu nhiệm, từ ngày Đạo bị bế.  Lập Tam Kỳ Phổ Độ này, duy Thầy cho Thần hiệp Tinh Khí đặng đủ Tam Bửu, là cơ mầu nhiệm siêu phàm nhập Thánh.”

           Mười năm sau, ý nghĩa về Đạo học của Thiên Nhãn được Thầy giảng thêm trong Đại Thừa Chơn Giáo :

        “Tại sao Thiên Nhãn là Thầy? Thầy có dạy trước:  Nhãn thị chủ Tâm, lưỡng quang chủ tể. Quang thị Thần, Thần thị Thiên, Thiên giả ngã dã.

 

        Nhãn là cửa Trái Tim của con người.  Trái Tim ấy là Tạo Hóa, tức là Thần, mà Thần là cái Lý Hư Vô.  Lý Hư Vô ấy là Trời vậy.

        Người tu hành chừng nào luyện Tinh hoá Khí, luyện Khí hóa Thần, luyện Thần huờn Hư, luyện Hư huờn Vô, thì Huyền quang nhất khiếu ấy mở hoát ra.  Huyền quang nhất khiếu ấy là chi ?  Là Thiên Nhãn vậy”.

        Ý nghĩa ca vic Cao Đài Giáo ly Thiên Nhãn làm biu tượng th phượng đã được minh gii trong nhiu bài viết. Điu quan trng nht mà người Cao Đài ngày nay đã hiu rõ rng: Biu tượng Thiên Nhãn còn là mt bí pháp thi Tam K. Nh đó, t mi hành gi tu theo tân pháp Cao Đài s trc tiếp nhn được ơn cu ri ca Thượng Đế, tùy theo chơn tâm ca mình hin l đến tng mc nào.

[9] Năm ấy (1921),  Sùng Hưng Tự  do Hòa Thượng Thích Ngộ Tiên (Tịnh Nghĩa) trụ trì đời thứ bảy.  Hòa Thượng người gốc tại Quan Âm Cổ Tự (Long Thuận - Tân Châu) được phái qua đây giữ mối đạo Cổ Sơn Môn.  Hòa Thượng Thích Ngộ Tiên viên tịch Rằm tháng Hai Bính Tuất (1946) thọ 61 tuổi.  Bửu tháp hiện còn phía sau Sùng Hưng Tự (Phú Quốc).

42 Phương hướng ngôi nhà 31 (nay là 27) Phan Đình Phùng - Tân An đã được kiểm chứng bằng la bàn, kết quả chính xác như Ngài Ngô đã viết. 

[10]   Lịch Sử Quan Phủ Ngô Văn Chiêu, 1962,  Trang 34.  Trong đoạn này, cuối câu:  “Chót hết, Ngài thấy cảnh trên có Thiên Nhãn sổ ngay xuống một hàng có Nhựt Nguyệt Tinh cũng đẹp đẽ vô cùng”, sách có chú thích thêm:  “Về Sài Gòn, Ngài bảo một người đệ tử cấp nhứt của Ngài là ông Phạm Văn Thới vẽ lại y như của Ngài đã thấy để mà thờ.  Ông Đốc học Thới có đọc lại cho đạo hữu

 

Truyện, Tượng nghe lại một lần nữa”.  Được biết, ông Đốc Thới là người viết quyển Lịch sử trên cùng quý vị đệ tử Chiếu Minh khác như: Ô.Ô. Lê Minh Huấn, Nguyễn Minh Lý, Nguyễn Minh Dương...

      Mặt khác, theo nữ sĩ Mộng Tuyết (vợ thi sĩ Đông Hồ), bà nhớ khá chắc chắn rằng tại Phú Quốc - Hà Tiên, Thánh Tượng Thiên Nhãn có Nhựt Nguyệt Tinh đầu tiên do ông Đốc học Lý Văn Nhơn (1900 - 1967) họa. Ông Đốc Nhơn (anh rễ thi sĩ Đông Hồ) khi ấy đang tu Minh Sư cấp Chứng Ân (Đạo hiệu Minh Đạo) đã tùng giáo Cao Đài, cùng vợ tên Lâm Ngọc Anh theo pháp môn Chiếu Minh đến cuối đời.

[11]   Câu thơ “Ngày sau con sẽ cỡi rồng về nguyên” được xem như lời tiên tri, ứng nghiệm khi Ngài đăng Thiên trên sông Cửu Long, lúc đang trên Bắc Mỹ Thuận.

     Thêm một ý Đạo nữa , trong bài kinh “Ngọc Hoàng Bửu Cáo”  có câu :  “Thời thừa lục long du hành bất tức”.  Có nghĩa là:  đúng thời cơ cỡi sáu rồng vân du không nghỉ.  Câu kinh này diễn ý quẻ Kiền (Kinh Dịch): “ Thời thừa lục long dĩ ngự Thiên”.  Đây là giai đoạn công thành quả mãn của hành giả:  Đạt Đạo, phối Thiên.

 

[12]   Nếu lưu ý, tự tên năm Giáp Tý cho thấy nhiều lý.  Giáp là khởi đầu Thập Thiên Can; Tý khởi đầu Thập Nhị Địa Chi. Có câu:  Thiên khai ư Tý , Địa tịch ư Sửu, nhân sanh ư Dần”.  Năm 1925 (Ất Sửu) Đức Chí Tôn hóa độ nhóm Hai tại Sài Gòn để qua năm Bính Dần, Đạo Trời sẽ Khai Minh trước nhân sanh.