NGO MINH CHIEU
(Trich LỊCH SỬ ĐẠO CAO ĐÀI-q1- KHAI ĐẠO 2005 / CƠ QUAN PHỔ THÔNG GIÁO LÝ ĐẠI ĐẠO)

NGÀI NGÔ VĂN CHIÊU VÀ

          CON ĐƯỜNG ĐẾN VỚI ĐẠO CAO ĐÀI

 

            Ngài Ngô Văn Chiêu (1878 - 1932) ra đời vào ngày 7 tháng Giêng Mậu Dần (28 - 2 - 1878), con của cụ ông Ngô Văn Xuân và cụ bà Lâm Thị Quí (1858 - 1919) (cụ bà còn có tên là Lâm Thị Tiền).

 

            Ngài Ngô Văn Chiêu là người được Đức Cao Đài chọn lựa thâu làm đệ tử đầu tiên.

 

            Xu hướng tín ngưỡng Phật Trời của Ngài Ngô bộc lộ từ buổi ấu thơ.  Hồi còn trọ học tại nhà người cô tên Ngô Thị Đây ở Mỹ Tho, nhà có thờ Đức Quan Thánh Đế Quân, hằng đêm, sau khi học bài, Ngài đọc kinh, cúng lạy xong mới đi ngủ.  Lúc ấy, Ngài Ngô chỉ khoảng mươi tuổi.

 

 

     1.  BƯỚC ĐẦU TIẾP XÚC VỚI THẦN TIÊN.

 

            Năm 1902 (Nhâm Dần) mẹ Ngài hay đau yếu.  Do muốn cầu thọ cho thân mẫu, mặt khác, cũng thường nghe đồn Tiên gia giáng cơ linh hiển, Ngài Ngô Văn Chiêu đến Thủ Dầu Một (nay thuộc tỉnh Bình Dương) hầu đàn Minh Thiện.  [4]

 

              Hôm ấy Ngài được một vị Tiên ban cho bài thơ tứ tuyệt sau đây:

 

             “Thủ bôi vị lễ diệt khả thông,

                         Trung dung hữu Đạo thị tâm không,

            Đắc vọng kỳ sự giả thân du,

                          Minh phong khả đối dữ thành công.”

 

            Bài thơ này nhiều ẩn nghĩa, chỉ riêng bốn chữ quán thủ “Thủ Trung Đắc Minh” đã hàm ý đến công trình công phu của Ngài sau này.  [5]

 

            Đây có thể được xem là lần đầu tiên Ngài Ngô Văn Chiêu tiếp xúc với các Đấng Thiêng Liêng.  Năm ấy Ngài 24 tuổi.

 

            Cuối năm 1917 (Đinh Tỵ) do thân mẫu lâm trọng bệnh, Ngài Ngô đến hầu đàn Hiệp Minh ở  Cái Khế tỉnh Cần Thơ để cầu thuốc.  [6]        

 

Đến nơi thì đàn cơ đã lập [1],  Ngài không dám đường đột vào, sợ làm náo động, nên đứng bên ngoài.  Bỗng nhiên, Tiên gia gọi Ngài Ngô vào hầu, ban cho thân mẫu Ngài bài thuốc trị bệnh và riêng Ngài hai bài lục bát.< xml="true" ns="urn:schemas-microsoft-com:office:office" prefix="o" namespace="">

 

            Bài thơ thứ nhất mười câu, như sau:

 

“Trời còn sông biển đều còn,

 Khắp xem cõi dưới núi non đượm nhuần.

      Thanh Minh trong tiết vườn Xuân

          Phụng chầu hạc múa, gà rừng gáy reo.

          Đường đi trên núi dưới đèo,

         Lặng tìm cao thấp ải  [2] trèo chông gai.

                         Phận làm con thảo há nài,

                Biết phương Tiên Phật, Bồng lai mà tìm.

                         Xem qua xét lại cổ kim,

                Một bầu trời đất thanh liêm chín mười.”

 

            Bài thơ thứ hai cũng mười câu, trong đó xin trích bốn câu cuối:

 

 

                         “Sáu mươi hội điểm linh đằng,

                Cầu cho mẹ mạnh mới bằng lòng con.

                          Ba ngày trong điểm vuông tròn,

                Sớ dưng cho mẹ điểm son tha rày.”

 

            Nhờ vào lòng thành của Ngài được Ơn Trên chứng chiếu cho bài thuốc trị bệnh, thân mẫu Ngài mạnh khỏe thêm vài năm.

 

            Đến năm 1919 (Kỷ Mùi), thân mẫu trở đau nhiều, Ngài Ngô lại đến đàn Hiệp Minh Cái Khế xin thuốc.  Lần này Tiên gia không cho thuốc, Ngài chỉ được dạy hai bài thơ dài.  Một là bài “Khai xuất Thiên Hoàng” gồm 17 câu.  Bài thứ hai là “Hò xự xang” gồm 30 câu.  Cả hai bài có nhiều ẩn ý rất lạ.

 

            Vì lòng thương mẹ đang đau yếu, Ngài lại lên đàn Minh Thiện (Thủ Dầu Một) cầu xin thuốc lần nữa.  Hôm ấy, Đức Quan Thánh Đế Quân giáng cơ, ban cho Ngài bài thơ thất ngôn tứ tuyệt. 

 

            Cô Năm Ngô Thị Nguyệt còn nhớ được hai câu trong bài thi trên:

 

                        “Tỵ thủy huê lưu thiên bán lạc,

                          Hạnh lâm phong đảo hội tiền phi”

 

            Qua bài thơ, hiểu ý Đức Quan Thánh, Ngài biết rằng thân mẫu sẽ không còn sống bao lâu.        Ngày 15 tháng 11 năm 1919 (nhằm 24-9-Kỷ Mùi),  cụ bà từ trần.  [3]

     2.  LẬP ĐÀN CẦU TIÊN

 

           

            Sau nhiều lần tìm đến các đàn Tiên cầu thuốc cho mẹ, Ngài Ngô Văn Chiêu được thọ nhận - một cách gián tiếp - thêm một điều hệ trọng, đó là có được niềm tin.  Ngài tin rằng ngoài thế giới hữu hình này còn hiện hữu một thế giới vô hình, siêu linh, quyền năng tối thượng, và Ngài đã đặt  trọn lòng tin tưởng vào các Đấng Thiêng Liêng.  Niềm tin này khiến Ngài đi đến quyết tâm chủ động tìm phương cách tiếp xúc với cõi Thiên.

 

            Trong thời gian làm việc tại tòa Bố Tân An, khoảng cuối năm 1919, lúc gần đổi đi Hà Tiên, Ngài

 

Ngô Văn Chiêu cùng một số thân hữu gồm  quý  ông:  Trần Phong Sắc, Nguyễn Thiên Kim, Lê Kiển Thọ, Nguyễn Văn Vân [4] tập chấp bút cầu Tiên. Cách thức cầu Tiên dựa theo sự hướng dẫn của Đại Lão sư Nguyễn Đạo Tánh (ông Lão Sung) ở Châu Tế Phật Đường, một ngôi chùa Minh Sư gần vịnh Đá Hàn (Tân An) [5].  Lúc ấy, cả nhóm chọn ông Lê Kiển Thọ làm đồng tử, chấp cây bút son, ông Trần Phong Sắc làm pháp đàn, Ngài Ngô Văn Chiêu làm độc giả và ông Nguyễn Văn Vân làm điển ký.

            Những buổi chấp bút cầu Tiên thường lệ tổ chức tại nhà ông Lê Kiển Thọ để chữa bệnh làm phước, và vào các ngày Rằm hằng tháng tại nhà Ngài Ngô Văn Chiêu số 31 đường Lagrange, xã Bình Lập (nay đã đổi số lại thành 27 Phan Đình Phùng - Tân An).  Lúc này Ngài Ngô thờ Đức Quan Thánh Đế Quân, Đức Văn Xương Đế Quân và Đức Phật Quan Âm.[6] Bài cầu Tiên “Thỉnh Tiên Chú” lấy trong sách “Vạn Pháp Quy Tông”[7], do các đồng nhi ăn mặc sạch sẽ quỳ đọc.  Phần đầu bài cầu ấy như sau:

 

“Kiềng thiềng cung khấu thỉnh,

Phù Sứ vị thông truyền.

Bất phân thời dữ khắc,

Trực chỉ đáo Đào nguyên.

Tiên cung trần tịch tịch,

Động phủ nguyệt quyên quyên.

Ngã kim bẩm khai nguơn quân lịnh,

Hiệu triệu Bồng Lai thỉnh chúng Tiên.

    Ngũ chơn bửu khí lâm trần thế,

         Giá hạc đằng vân xiển từ nguyên

Cao Đài Tiên bút thư văn tự,

Tốc giáng oai linh phó cẩm tiên.

Khấu khải chư Tiên chư Địa phủ,

Thông linh vị thượng tử cô tiên.

Kim thời hữu thỉnh tốc báo ứng,

Tế độ Càn Khôn vạn cổ truyền...” [8]

 

            Bước đầu lập đàn chấp bút như vậy, nhưng nhóm của Ngài đã tiếp nhận được điển lành, chữa trị giúp nhiều người hết bệnh rất lạ kỳ, nhờ đó tăng thêm niềm tin cho Ngài và nhiều người khác.

 

            Xin ghi lại đây một trong những trường hợp được trị lành bệnh điển hình là bà Phạm Thị Thống, vợ của ông Nguyễn Văn Bạch (ông bà là song thân của ông Nguyễn Văn Vân trong nhóm cầu Tiên).  Bà Phạm Thị Thống bị bệnh đường huyết đã nhiều năm, đến lúc chuyển nặng, các thầy thuốc tại Tân An lúc ấy xem như bó tay.  Trong một buổi lập đàn, bệnh nhân đến dự hầu và kỉnh thành cầu nguyện.  Sau đàn, Ngài Ngô dùng bạch thủy (đã dâng trước trên Thiên bàn trong một chén nhỏ) cho bà Phạm Thị Thống uống.  Qua ba lần như vậy, bà đã hết hẳn bệnh một cách kỳ diệu.

 

            Ông Nguyễn Văn Thông, tên tục là Đồ (1902 – 1998) (ông có lẽ là người cuối cùng trong hàng lãnh đạo phái “Tam Kỳ Nguyên Nguyên Bản Bản”, và là em thứ sáu của ông Nguyễn Văn Vân) kể câu chuyện trên, còn nhớ nhiều trường hợp được trị lành bệnh khác cũng bằng những chén bạch thủy hay nước dừa tươi trên Thiên bàn . Thuở ấy, ông cùng con quý ông Nguyễn Văn Kiêm, Lê Kiển Thọ... được cho theo đọc kinh và phụ việc cúng lễ, nhờ tận mắt chứng kiến nên không thể quên.

 

            Những buổi cầu đàn trị bệnh này kéo dài không lâu, chỉ một vài tháng, nhưng như là phương tiện giúp Ngài Ngô Văn Chiêu củng cố đức tin và làm công quả trong bước đầu hướng thượng. Chính qua những buổi hầu đàn ấy, cả nhóm hầu đàn tại Tân An này đã thọ nhận Thánh ý:  Chỉnh đốn lại nghi thức cầu Tiên, tập đồng tử sử dụng Đại ngọc cơ thay vì chấp bút.

 

   3.  THỪA TIẾP HỒNG DANH CAO ĐÀI.

 

     3.1.  Nghe hồng danh Cao Đài lần đầu (Tân An - 1920) - Đại Ngọc Cơ.

 

            Như phần trước đã đề cập, khoảng hai tháng trước khi Ngài Ngô Văn Chiêu chuyển đi Hà Tiên, nhóm chấp bút tại Tân An của quý ngài nhận được lệnh Ơn Trên chỉnh đốn lại nghi thức lập đàn, tập sử dụng Đại ngọc cơ.

 

            Tuân hành lời dạy đó, bộ phận thông công được sắp xếp lại:  ông Trần Phong Sắc làm pháp đàn, ông Nguyễn Văn Vân ngồi đồng dương, ông Lê Kiển Thọ ngồi đồng âm (song đồng âm dương), ông Nguyễn Văn Kiêm làm điển ký và Ngài Ngô Văn Chiêu làm độc giả.  Như vậy, hình thức lập đàn cơ đã tương tự như tại đàn Minh Thiện và đàn Hiệp Minh mà Ngài Ngô đã từng dự hầu khi trước.

 

            Trong một lần lập đàn tại nhà Ngài Ngô, nhiều phần chắc là vào ngày Rằm tháng Chạp - Kỷ Mùi (4-2-1920), chư vị đang đọc bài cầu cơ, đến câu:

 

                   “Ngũ chơn bửu khí lâm trần thế

                    Giá hạc đằng vân xiển từ nguyên...”

 

            Chợt, cơ gõ mạnh, một vị Tiên Ông giáng hạ,  xưng là :  Cao Đài Tiên Ông !

            Tiên Ông bảo pháp đàn sửa lại hai câu trên - Ông Trần Phong Sắc  [9] chần chừ, trả lời đại ý: “Bài cầu cơ này có đã trăm năm rồi, từ Trung Quốc truyền qua chưa ai dám cho là sai, nay sao Ngài bảo sửa ? Có thiệt trật chăng ?”.

 

            Ngay lúc đó, ngọc cơ gạt ngang cảnh cáo. Ông Trần Phong Sắc bị quở vì câu nói suồng sã của mình.  Tiên Ông gọi tiếp Ngài Ngô Văn Chiêu, Ngài đổi câu ấy lại thành:

 

                “ Bửu chơn ngũ khí, lâm trần thế...”

 

            Tiên Ông khen sửa vậy là đúng.

 

            Vì chưa hiểu Cao Đài Tiên Ông là Đấng nào, các vị bạch hỏi, Tiên Ông trả lời bằng hai câu thơ:

 

           Cao Đài ứng hóa theo lòng chúng sanh,

             Đố ai biết được cái danh Cao Đài

 

            Hồng danh Cao Đài hôm ấy Ơn Trên nhắc đến ba lần, nhưng làm sao mọi người hiểu nổi.  Riêng Ngài Ngô Văn Chiêu, Ngài đã tin rằng Cao Đài Tiên Ông là Đấng Tối Cao.  Chỉ có Trời mới dám sửa kinh sách xưa như vậy.  Cũng từ ngày ấy, ông Trần Phong Sắc không làm pháp đàn nữa.

 

            Bài cầu cơ “Thỉnh Tiên Chú” nêu trên đã được Ơn Trên thay đổi vào thời gian tiếp sau đó. < xml="true" ns="urn:schemas-microsoft-com:office:smarttags" prefix="st1" namespace="">Chư vị chuyển sang dùng bài thơ lục bát thứ nhất Tiên gia ban cho Ngài Ngô Văn Chiêu cuối năm Đinh Tỵ (1917) tại đàn Hiệp Minh. Ngài Ngô thọ lệnh Ơn Trên viết tiếp bốn câu cuối, như sau:

 

               “Vàng trau ngọc chuốt càng tươi,

          Bền lòng theo Phật cho người xét suy,

                Thần Tiên vốn chẳng xa chi.

          Có lòng triêm ngưỡng nhứt thì giáng linh”

 

            Bài kinh cầu cơ mới này thường được gọi là bài “Trời còn” do câu đầu tiên là: “Trời còn sông biển đều còn...”

 

·             Trở lại hai câu thơ:

 

            “Cao Đài ứng hóa theo lòng chúng sanh,

              Đố ai biết được cái danh Cao Đài”

 

Đây    lần  đầu tiên Đức Thượng Đế giáng

trần xưng danh Cao Đài.  Hai câu thơ trên không những được Ngài Ngô nhắc nhở suốt quãng đời tu hành của Ngài, mà còn tạo nên một “công án” để hậu bối suy nghiệm. Đó là nguồn gốc phát xuất hai chữ Cao Đài khi khai đạo[10]

 

     3.2. Nghe hồng danh Cao Đài lần thứ hai         (Hà Tiên - 1920)

 

            Vừa xong tuần bá nhựt thọ tang thân mẫu       (cụ bà mất ngày 15-11-1919), ngày 1-3-1920 (nhằm ngày 11-1-Canh Thân), Ngài Ngô Văn Chiêu chuyển công vụ đi Hà Tiên.

 

            Tại Hà Tiên, trước đó, theo sự hướng dẫn của vị Lão sư ở Quảng Tế Đường (Minh Sư), đã có một nhóm cầu cơ thỉnh Tiên gồm quý ông:  Lâm Tấn Đức, Nguyễn Thành Diêu, Đốc phủ Cao Văn Sự, ông Phán Ngàn ... Thường khi, nhóm này phải qua năm bảy lần cầu, Tiên gia mới giáng một lần.  Sau khi ổn định việc công, Ngài Ngô Văn Chiêu được ông Cao Văn Sự (bạn đồng sự tại tòa bố) giới thiệu và gia nhập nhóm cầu cơ trên.  Và, kể từ lúc Ngài Ngô gia nhập, việc cầu cơ thỉnh Tiên dễ dàng hơn nhiều. Các vị thường lập đàn trên núi Thạch Động (Tiên Sơn Động) và tại lăng Mạc Cửu.  Một lần, tại Thạch Động, vị Tiên cô Ngô Kim Liên ban cho Ngài Ngô Văn Chiêu hai vé thơ, ngụ ý khuyến tu:

 

             “Văng vẳng nhạn kêu bạn giữa thu,

        Rằng Trời cùng Đất vẫn xa mù.

        Non Tây ngoảnh lại đường gai góc,

       Gắng chí cho thành bực trượng phu.”

    

           “Ngần ngần trăng tỏ giữa trời thu,

            Cái cảnh Tây Phương vẫn mịt mù.

            Mắt tục ai nào trông thấy đấy,

            Lắm công trình mới đúng công phu.”

 

            Vào đêm Trung Thu năm ấy (Chủ nhật 26-9-1920), đàn cầu Tiên được tổ chức tại nhà ông Lâm Tấn Đức.  Đồng tử gồm ông Lâm Tấn Đức và ông Cao Văn Sự.  Tiên Ông giáng cho bài thơ sau [11]:

 

                  “Cao Đài minh nguyệt Ngô Văn Chiêu,

                    Linh lung vạn hộc thể Quan Diêu.

                    Vô thậm Sự Đức nhiệm ngao du,

                    Bích thủy thanh sơn tương đối tiếu.”

 

            Bài thơ ấy điểm danh những vị hầu đàn (Chiêu, Diêu, Sự, Đức).  Riêng Ngài Ngô Văn Chiêu được điểm trước và trọn tên.  Đặc biệt, đây là lần thứ hai, Ngài Ngô nghe hồng danh Đức Cao Đài. 

 

            Tùng sự tại Hà Tiên được tám tháng.  Đúng một tháng sau khi nghe hồng danh Cao Đài lần hai, Ngài Ngô Văn Chiêu được lệnh chuyển công vụ ra làm Quận trưởng hải đảo Phú Quốc. 

 

Phú Quốc là đất lành, thi sĩ Đông Hồ trong một dịp ra thăm đã viết lời khen ngợi đăng trong Nam Phong tạp chí số 124 (12/1927), có đoạn như sau: “Ở Phú Quốc phần nhiều là còn giữ được cái phong tục, cái đức tính cổ thời, rõ là xã hội “gia vô bế hộ”.  Nhà ở không bao giờ có làm cửa.  Những nhà hào phú muốn làm cửa là cho tốt coi chớ ban đêm cũng vẫn không khóa.  Cửa bỏ ngỏ mà không bao giờ có kẻ trộm. 

 

Nơi đây sẽ là môi trường thích hợp cho Ngài Ngô Văn Chiêu tu học tân pháp Cao Đài.

 

Đọc tiếp: http://nhipcaugiaoly.googlepages.com/ngominhchieu_2



[1]   Xin đọc thêm phần tìm hiểu về cơ bút trang 455.

 

[2]   Chữ  ải  có nghĩa là xa xôi cách trở.  Nhiều quyển sách in bài thơ này xếp chữ  “phải trèo” là không đúng nguyên gốc.

[3]   Theo lời Đạo huynh Ngô Mạnh Thường (cháu nội Ngài Ngô) : Lúc ấy gia cảnh còn nghèo, Ngài Ngô an táng thân mẫu theo phương thức “mộc táng”, kim tĩnh chỉ tấn ván, không có xây hồ.  Xưa, ngôi mộ trong khuôn viên ngôi chùa gần lăng Nguyễn Huỳnh Đức.  Đến 24 - 9 Bính Thân (1956), nhờ cô Năm Ngô Thị Nguyệt có tài may thêu, làm ra tiền xây mộ lại khang trang.  Qua thời gian, cảnh vật chung quanh thay đổi, hiện nay ngôi mộ nằm trong sân trường Tiểu học Khánh Hậu (Tân An).  Trước kia nhờ ông Ngô Văn Nhựt làm trong ngành giáo dục tỉnh nên ngôi mộ không bị di dời, tương lai chưa biết ra sao.

 

[4]   Ông Nguyễn Thiên Kim (1870 - 1946) (con của ông Đoàn Văn Vào và bà Huỳnh Thị Thể), Tên lúc nhỏ là Đoàn Thiên Kim. Gia đình ngụ tại số 82A Phan Đình Phùng Tân An. Về sau, ông tu theo Minh Chơn Lý đến phẩm Thái Đầu Sư (Hòa Phong La Hán).

 

         Ông Nguyễn Văn Vân (1893 - 1981) lúc ấy là giáo viên trường Nam Tỉnh lỵ Tân An (nơi ông Trần Phong Sắc làm hiệu trưởng), nhà ở làng Lợi Bình Nhơn (nay có số 233/26 Bình Yên Đông 2, Tân An), về sau ông tu theo Minh Chơn Lý đến phẩm Thượng Đầu Sư (Thượng Kim Tiên).

 

          Ông Lê Kiển Thọ (1879 -1946)  làm Hương Bộ ở làng nên còn gọi là ông Bộ Thọ, nhà nay có số 76 Phan Đình Phùng, Tân An (đối diện nhà Ngài Ngô). Về sau ông hành đạo tại Thánh Thất Tân An (Tòa Thánh Tây Ninh) đến cuối đời.

           

[5]   Ngôi chùa này là một nhánh của Quan Âm Phật Đường (Thâm Nhiên).   Sau khi Đại Lão sư Nguyễn Đạo Tánh quy liễu (1946), thiếu người tiếp nối, ngôi chùa bị hư hoại dần.  Ngày nay, nơi đây chỉ còn ngôi mộ của Đại Lão sư Nguyễn Đạo Tánh mà thôi.

 

[6]   Các bài vị ấy hiện vẫn còn thờ phía dưới Thánh tượng ở tại nhà Ngài (Tân An).  Nhìn vào,  bên phải thờ Phật Bà, bên trái thờ  Đức Quan Thánh Đế Quân và Đức Văn Xương Đế Quân.

 

[7]   Quyển Bí Truyền Vạn Pháp Quy Tông xưa hơn trăm năm, từ Trung Hoa truyền sang Việt Nam, là sách chuyên về phù chú, về sự thông linh với cõi vô hình.

 

[8]   Bài Thỉnh Tiên Chú này gồm tất cả 52 câu, trong đó câu thứ 11:  “Cao Đài Tiên bút thư văn tự” được nhiều người xem như là lời tiên báo về thần cơ diệu bút Cao Đài.  Khi đọc bài cầu này, đến sáu câu cuối phải đọc thầm.  Ngoài ra, nơi hai câu 9 và 10, nhiều sách viết “Lâm triều thế… xiển tự nguyên” là không đúng theo bản gốc chữ Hán .

[9]  Ông Trần Phong Sắc (1873 - 1928) tên tộc là Diệm, bút hiệu Đằng Huy.  Ông quê ở Vĩnh Long và là một nhà Nho hữu danh thời ấy.  Dạy chữ Hán ở trường tỉnh (Tân An), ông đã dịch nhiều truyện Tàu qua tiếng Việt như:  Phong Thần Diễn Nghĩa, Anh Hùng Náo Tam Môn Giai...  Ngoài ra, ông còn là một nhà văn sáng tác nhiều truyện, thơ, tuồng hát... với tổng cộng 59 đầu sách (bản sách đầu tiên in năm 1906).  Ông mất ngày 24 - 8 - 1928.

 

[10] Có l cũng cn trình bày qua v ý nghĩa hai ch Cao Đài, da theo nhng li gii thích được Ơn Trên dy thêm v sau:

 

                -  “Ý nghĩa hai ch Cao Đài.

 

                Để giải thích tá danh của Ngài, Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế vào năm 1927, trong một đàn cơ tại Cần Thơ, có dạy rằng:

 

            Linh Tiêu nht tháp th Cao Đài,

                Đại hi qun Tiên th ngc giai.

                Vn trượng hào quang tùng th xut,

                Cổ danh bửu cảnh :  Lạc Thiên Thai.

 

            Gii nghĩa:  Nơi đin Linh Tiêu trên Thiên Đình, có mt ngôi tháp gi là Cao Đài; qun Tiên thường nhóm Đại hi trước b ngc y; hào quang muôn trượng do đó mà chiếu ra.  Tên xưa ca cnh quý báu này là Lc Thiên Thai.  Vy, Đức Ngc Đế k này ly tên ch Ngài ng làm tá danh ca Ngài”

 

(Trích trong quyn Cao Đài Giáo Sơ Gii - 1963 - tr.31, Tác gi Hu Lương)

 

Đó là trên Thiên Đình (Đại vũ tr), còn nơi con người (Tiu vũ tr) thì sao? Kinh Đại Tha Chơn Giáo nơi trang 56  ( bn in 1956 ),  có đon:

 

“Ch Cao Đài là gì?Là Côn Lôn đnh hay là Nê Hun, thuc v thượng gii... Tri có tam gii là:  vô sc gii, sc gii và dc gii. Còn trong thân th con người cũng có tam gii. Chng nào linh hn phá Thiên môn đng, là nhp vào Thượng Thanh Cung. Thiên môn là cái gì? Là cái khiếu Nê Hun Cung đó”

           

Đức Thượng Đế Chí Tôn m đo k ba, dùng tá danh Cao Đài, chc chn danh y còn mang nhiu ý nghĩa cao siêu khác na.

 

[11]   Bài thi này trích từ quyển “Lịch Sử Quan Phủ Ngô Văn Chiêu”, theo đó câu thứ hai có chữ Quan in đậm.  Diêu là ông Nguyễn Thành Diêu,  một vị có mặt hầu đàn.  Quan chưa rõ là vị nào.  Một số sách khác in câu thứ hai là:  “Linh lung vạn hộc thể quang Diêu”

       Riêng về ông Lâm Tấn Đức ( 1866 - 1934) (dưỡng phụ của nhà thơ Đông Hồ Lâm Tấn Phác) là một nhân sĩ đất Hà Tiên xưa. Ngôi nhà của ông nơi bến Đông Hồ, nay là nhà lưu niệm thi sĩ Đông Hồ. Xin xem hình ông nơi trang 76