Lược sử Nhạc đoàn

LƯỢC SỬ THÀNH LẬP NHẠC ĐOÀN LÊ BẢO TỊNH

Từ cuối năm 1945 trở đi khắp các xứ đạo cả Bắc, Trung, Nam đâu đâu cũng nghe tiếng Nhạc Đoàn Lê Bảo Tịnh qua những bản Thánh ca do các Nhạc sĩ của Nhạc đoàn này sáng tác.
Vậy Nhạc Đoàn Lê Bảo Tịnh xuất hiện bao giờ, trong bối cảnh nào của lịch sử Thánh ca Việt Nam?

Bối cảnh lịch sử Thánh ca Việt Nam:
Vì thiếu tài liệu nghiên cứu, hơn nữa chưa có điều kiện thuận tiện để tìm hiểu sâu về tình hình phát triển Thánh ca Việt Nam, nên chúng tôi xin lấy mốc 1945 để tạm chia bối cảnh lịch sử Thánh ca Việt Nam làm 2 thời kỳ chính: trước và sau năm 1945.

I.Trước năm 1945:

Trong thời kỳ này, hai việc phụng vụ chính là Thánh Lễ và Chầu Thánh Thể cũng như những nghi lễ khác đều được cử hành, ca hát bằng tiếng La Tinh.

Về Thánh lễ: Trên bàn thờ, Linh mục (thầy Cả) đọc hoặc hát bằng tiếng La Tinh, ở dưới hội hát (ca đoàn) cũng hát bằng tiếng La Tinh.
Lúc bấy giờ mọi nơi đều dùng 2 cuốn sách hát bằng tiếng La tinh theo nhạc bình ca :
Cuốn thứ nhất là cuốn Cantus liturgici (ca hát phụng vụ) gọi tắt là cuốn Cantus. Nội dung cuốn Cantus cũng tạm đầy đủ, gồm 3 phần chính :
- Phần bộ kinh chung : Kyrie, Gloria, Crédo, Sanctus, Agnus Dei.
- Phần 2 gồm các kinh hát cho mỗi Lễ Chúa Nhật, Lễ trọng.
- Phần 3 gồm các bài hát Chầu Thánh Thể, Đức Mẹ và các Thánh.

Cuốn thứ hai là cuốn Cantiones gồm nhiều bài hát về Đức Mẹ và Mùa Phụng vụ.
Sau này ở những giáo xứ lớn và nhất là trong các Dòng Tu, Chủng Viện, người ta đã dùng cuốn sách hát PAROISIEN ROMAIN với nội dung đầy đủ hơn về thánh lễ, các giờ kinh…cũng bằng tiếng La tinh, cũng theo nhạc bình ca nhưng có thêm phần chú thích bằng tiếng Pháp.
Ngoài ra các giáo xứ, nhất là các giáo xứ trong thành thị còn dùng cuốn Cantiques de la Jeunesse bằng tiếng Pháp. Cuốn này gồm những bài hát về Ca nguyện, về Thánh Tâm Chúa, về Đức Mẹ, Thánh Giuse…
Phần phụ lục có những bài bằng tiếng La tinh để tiện dụng khi Chầu Thánh Thể.
Trên đây chỉ đề cập sơ qua đến việc ca hát phục vụ Thánh lễ Chầu Thánh thể.
Tuy nhiên thiết nghĩ không thể bỏ qua những đặc điểm của sinh hoạt ca hát mà các giáo xứ thể hiện trong khi hiệp dâng thánh lễ các ngày thường, trong việc tôn kính Đức Mẹ và nhất là trong việc đọc sách ngắm trong Mùa Chay.
Thánh lễ ngày thường không có hát. Trên bàn thờ Linh Mục (Thầy Cả) vẫn cử hành thánh lễ bằng tiếng La tinh (đọc thầm), trong khi đó ở dưới phía giáo dân, thường có một đoàn thể quen gọi là "các cô học trò" (miền Bắc), "Ban đồng nhi hát" (miền Nam) tuy không được tổ chức chặt chẽ, nhưng cũng có thể coi như ca đoàn ngày nay, dưới quyền điều khiển của một Bà Quản Giáo, một Dì Phước, hay một Thầy Dòng.
Khi đi dâng lễ, những người này được bố trí ngồi một khu riêng, để tiện việc xướng kinh và ngắm lễ.
Tại sao gọi là ngắm lễ?
Trong khi Linh Mục thể hiện từng lễ nghi trên bàn thờ, thì ở dưới nhóm người này xuớng lên lời ngắm để cộng đoàn ngắm theo.
Thí dụ: "Khi Thầy Cả bước lên phần bàn thờ thì ta ngắm rằng…"
Ngoài ra Mùa Chay ở đâu cũng giữ một vai trò rất quan trọng trong sinh hoạt đạo đức của giáo xứ nói chung và của người giáo dân nói riêng.
Bắt đầu vào Mùa Chay xứ đạo nào cũng có chương trình cụ thể về những việc đạo đức phải thực hiện trong cấm phòng, nghe sách giảng sự Thương khó Đức Chúa Giê-su, ngắm 15 Sự Thương Khó Đức Chúa Giê-su…
Mỗi sinh hoạt trên đều có cung, giọng ngâm nga khác nhau, nhưng đều có một điểm chung là rất bi ai thống thiết.
Trong tháng Năm, tháng dành riêng kính Đức Mẹ, giáo xứ nào cũng thường tổ chức rước kiệu Đức Mẹ chung quanh Nhà thờ vào các chiều thứ bảy trong tháng.
Sau khi kiệu Đức Mẹ đã vào nhà thờ thì các em Thiếu nhi, thường là Nữ, dâng hoa kính Đức Mẹ trong khi "Các Cô học trò, Ban Đồng nhi hát" hát vãn dâng hoa.
Tất cả ca vãn, cung sách, giọng ngắm trên đây hầu như chỉ được truyền miệng chứ chưa có sách nào ghi chép lưu lại cho hậu thế.

II. Sau năm 1945:

a)- Sự xuất hiện của Nhạc Đoàn Lê Bảo Tịnh.
Chính trong bối cảnh thiếu thốn, những bài Thánh ca thực sự bằng tiếng Việt như đã đề cập ở trên mà Nhạc Đoàn Lê Bảo Tịnh đã ra đời vào tháng 7 năm 1945 tại Giáo xứ Sở Kiện, tỉnh Nam Hà, miền Bắc Việt Nam với tôn chỉ:
"Phụng sự Thiên Chúa và Tổ quốc" và với đường lối sáng tác là "Cải lương hình thức, duy trì quốc tính"
Người có sáng kiến đầu tiên về tổ chức sáng tác những bài Thánh ca bằng tiếng Việt là Nhạc sĩ Hùng Lân (Phêrô Hoàng văn Hường. Những sáng tác đầu tay của Nhạc sĩ tài năng và đầy nhiệt tình này được thể nghiệm tại "Trường Kẻ Giảng" - một trường huấn luyện các "Thầy Kẻ Giảng" - nằm trong khuôn viên của Nhà Chung Sở Kiện, nơi mà Thầy Hoàng văn Hường đã được đấng Bề trên sai về dạy học, sau khi mãn 2 năm học triết tại Đại học Xuân Bích, Hà Nội.

Nhạc đoàn Lê Bảo Tịnh ra đời:

Thấy có kết quả rất tích cực, Thầy Hường đã gặp gỡ và trao đổi với 2 người bạn cùng Chủng viện là Thầy Trần Quang Phụng và Thầy Nguyễn Văn Để. Ba Thầy đã nhất trí thành lập một Nhạc đoàn, lấy tên một Thánh Tử đạo Việt Nam là thánh Lê Bảo Tịnh đặt tên cho Nhạc Đoàn và 3 Vị sáng lập viên lấy bút hiệu:
- HÙNG LÂN (Phêrô Hoàng Văn Hường) (xem hình bên)
- THIÊN PHỤNG (Anrê Trần Quang Phụng)
- TÂM BẢO (Giuse Nguyễn Văn Để)
Trong những năm 1945 – 1946 có sự tham gia lần lượt của Hoài Đức (linh mục Lê Đức Triệu), Nguyễn Khắc Xuyên, Duy Tân (Trần Duy Tân), Hoài Chiên (Nguyễn Văn Chiên), Hùng Thái Hoan, Vĩnh Phước (Bùi Vĩnh Phước).
Ngay trong mấy năm đầu, Nhạc Đoàn đã cho ra mắt 3 Tập Cung Thánh :
- Tập Cung Thánh 1: về Thánh Lễ,
- Tập Cung Thánh 2: về Đức Mẹ,
- Tập Cung Thánh 3: về Giáng Sinh.
Khắp nơi đều đón nhận với một niềm hân hoan hứng khởi. Đây chính là động lực, là tiền đề cho sự tự tin và hăng say sáng tác của Nhạc Đoàn.
Từ đó các Tập Cung Thánh của Nhạc Đoàn càng ngày càng được phổ biến rộng rãi, đáp ứng được một phần nào lòng khao khát hát Thánh ca bằng tiếng mẹ đẻ của giáo dân Việt Nam khắp 3 miền.
Cùng hiểu rõ nhu cầu đó, vào những năm 1949 – 1950, một số giáo phận miền Bắc cũng đã thành lập Nhạc đoàn riêng cho giáo phận mình :
Bùi Chu có "Sao Mai", Phát Diệm có "Ca Thánh", Thanh Hóa có "Tiếng Chuông Nam", Hải Phòng có "Thiên Cung". Tuy nhiên rất tiếc sau biến cố 1954 các Nhạc Đoàn trên không còn hoạt động nữa.
Riêng Nhạc Đoàn Lê Bảo Tịnh sau một thời gian ngắn xáo trộn đã tiếp tục hoạt động cho đến ngày nay, lần lươt cho ra đời 18 tập Cung Thánh sáng tác theo lối cũ và 6 tập Cung Thánh bộ mới với chủ trương đáp ứng những đòi hỏi và hướng dẫn của Công Đồng Vaticanô II.

Về nhân sự, lớp Nhạc sĩ lớn tuổi hầu hết đã lần lượt về Nhà Cha: Hùng Lân 1986, Thiên Phụng 1983, Tâm Bảo 1984? Còn lại có Hoài Đức (hình bên), Nguyễn Khắc Xuyên, Duy Tân, Hoài Chiên, thì mỗi người một hoàn cảnh nên không tiện gặp nhau. Hoài Đức bị đi học tập cải tạo ở miền Bắc, Hoài Chiên và Nguyễn Khắc Xuyên đi định cư ở nước ngoài, và cũng đã qua đời trong năm 2005.
Theo tư liệu của Nhạc sĩ Hải Ánh viết về "Linh Mục Nhạc sĩ Hoài Đức" đăng trong Đặc San, thì Nhạc sĩ Hùng Lân chính là Đoàn Trưởng tiên khởi từ năm 1945, khi Hoài Đức thụ phong Linh Mục năm 1960 thì Nhạc sĩ Hùng Lân nhường lại chức Đoàn Trưởng Nhạc Đoàn cho Linh mục Nhạc sĩ Hoài Đức.
Sau một thời gian học tập cải tạo, Linh mục Nhạc sĩ Hoài Đức đã được tha về trong tình trạng sức khỏe kém, tuy vậy, lòng nhiệt tình và tha thiết với Nhạc Đoàn đã thôi thúc Ngài cố gắng liên lạc và mời gọi anh chị đoàn viên hoạt động trở lại, đặc biệt là 2 Linh mục Vương Diệu và Anh Kha, rồi đến Hải Ánh, Thiên Quang, Hiếu Anh… Chính trong thời gian này Ngài đã mời được một số anh em Nhạc sĩ trẻ có tài năng và thiện chí tham gia vào Nhạc Đoàn trong số đó phải kể đến nhạc sĩ Vũ Đình Ân, nhạc sĩ Trường Thanh.
Nhờ vậy mà vào năm 1985, Cung Thánh 17 rồi 18 được ra mắt công chúng, và từ năm 1998 đến nay, 6 Tập Cung Thánh bộ mới ra đời, đem đến một sinh khí mới cho đường lối sáng tác của Nhạc Đoàn.

b)- Những thành quả chính của Nhạc Đoàn Lê Bảo Tịnh:
Trong hơn 60 năm qua, Nhạc Đoàn đã đạt được những thành quả chính sau đây về các phương diện nghiên cứu, giáo dục, nghệ thuật…

1.-Nghiên cứu, có những tác phẩm:
- Tìm Hiểu Dân Ca Việt Nam của Hùng Lân
- Cây Đàn Sống của Hùng Lân
- Nhạc Lý Toàn Thư của Hùng Lân
- Hòa Âm của Thiên Quang
- Ca Điệu Grêgôriô của Hoài Đức
- Tìm Hiểu Giáo Nhạc của Nguyễn Khắc Xuyên
- Tiến Trình Thánh Nhạc Việt Nam của Nguyễn Khắc Xuyên
2.-Giáo dục:
- Một Bộ sách Giáo khoa để giảng dạy âm nhạc cho các lớp Trung học (cấp II) của Hùng Lân
- Sư Phạm Âm Nhạc Thực Hành của Hùng Lân
3.-Nghệ thuật:
Nhạc Tôn Giáo: 24 Tập Cung Thánh
- Hương Kinh La Vang của Hải Ánh
- Thánh Ca Hoài Đức của Hải Ánh
- Ca Nhập Lễ của Hải Ánh
- Đáp ca, Alleluia của Hải Ánh
Một số ấn phẩm của Linh mục Nhạc sĩ Vương Diệu :
- Diệu Ca Người Yêu Tôi
- Bụi Tro – Hát mừng Chúa Phục sinh
- Emmanuel – Hát mừng Chúa Giáng sinh
- Thiên Thần gồm 456 bài ca giáo lý…
- Vui Vui, Thương Thương, Mừng Mừng
- Giáo Ca Tin Mừng
- Mùa hoa 97 của Anh Kha – Thanh Bình
- Tôn vinh Mẹ của Thế Thông
Nhạc yêu nước: 2 Tập cho Thiếu Nhi:
- Lời Chim Xanh 1952 của nhiều tác giả
- Cùng Hát Múa của nhiều tác giả
- Một số tác phẩm nổi tiếng một thời của Nhạc sĩ Hùng Lân: Việt Nam minh châu trời đông, Rạng đông, Khỏe vì nước, Hè về, Phụ Nữ Việt Nam.
Ngoài ra, còn rất nhiều thành tích của các thành viên góp phần trong nhạc thánh không sao kể hết.
Tương lai còn rộng mở, hy vọng những thành quả trên đây sẽ làm tiền đề cho những sáng kiến và những sáng tác mới của lớp người đi sau, hầu đem hết khả năng của mình ra phụng sự Thiên Chúa và duy trì, phát triển Nhạc đoàn ngày càng phong phú và bền vững.

(Tài liệu do NS Đặng Ngọc Ẩn - Đoàn viên Nhạc Đoàn chuyển tải)

Comments