Nhà thơ Nguyễn Đức BạtNgàn

Ông tên thật Nguyễn Đức Cẩm, sinh năm 1948 tại Vĩnh An, Thừa Thiên và mất tại Calgary Canada ngày 27-9-2019. Trước 1975 đã xuất-bản chung với Miên Hành và Trần Huyền Thoại tập Giã Từ Ân Phúc (1970), sau đó các bản thảo đem theo tị nạn ra hải-ngoại mới xuất-bản: Từ Giã Ngày (1971;xb 1989), Giữa Triền Hạn Reo (1972, Toronto: Làng Văn &TGXB, 1988) và Bình Minh Câm (1975, xb 1985). Sau khi định cư ở Canada, ông tiếp tục làm thơ và thêm tập bút ký tự truyện Thầm Lặng Trời, Thầm Lặng Đất.

Giữa Triền Hạn Reo, một trường ca lục bát gồm 320 câu, viết năm 1972 lý do cùng thái độ sáng tác đã nói trong bài bạt ở cuối tập. Trường ca tình-yêu khai mở ở đoạn 1:

“cỏ yên tỉnh ngủ trên đồi
dưới hồn rêu mục đâm chồi kết hoa
không lời như bóng mây qua
đầy hoa bướm gọi an hòa đỉnh cây
cuối ngàn tình dụ say ngây
đành thôi nhức buốt sau này hạ phân
cùng nhau dăm ngụm tẩy trần
nhớ thuyền quyên khóc tử phần ban sơ
lưu linh tắt tiếng ai ngờ
xôn xao bãi cạn lấp bờ hồng nhan
đại hồ thổi nhịp hoài lang
sờn vai áo rách điêu tàn cõi xa
hiền ngoan đằm thắm lượt là
truyền thân hịch vọng yêu ma dại quằn …”

Và kết thúc với đoạn 7:

“đất mềm dìu dịu thiên lương
em đơm hạt phúc cúng dường trăng hoa
thượng nguồn điệp điệp hào ca
lộc non bừng nhụy mượt mà chồi xuân
tuần hoàn đốt nến thanh tân
mưa nghiêng nghiêng sợi ân cần lả lơi
hân hoan ngạo thế kiêu đời
chắp tay hư hoại dâng lời cùng đinh
từ đây tâm hướng viễn trình
cánh thiên di vạn dặm tình tiêu sơ
qua thân thềm đá ơ hờ
qua truông với khói nhang chờ quạnh mông
từ nghi sắc giới song trùng
vườn sinh linh mọng tơ chùng nhã quan
bên bờ hạ tứ vừa sang
vầng dương em đợi cung đàn viễn âm” Huế, 10-1972
(Bản điện tử TGXB, 2015, tr. 10-11 &57-58)

Thi ca ở Nguyễn Đức BạtNgàn là tình tự với người yêu, người thân, bạn bè, và đồng thời biểu tỏ tâm thức trai thời loạn trước thực cảnh đất nước:

“bây giờ thì em trôi xa
giữa tim anh nở hàng bông trắng
trong bàn tay tìm lại lần về
trong đời anh men tình dậy trắng
         hồn thì theo đêm khuya
em thì về biển cả / giữa vườn xanh nghe nước mắt đầm đìa
những lần sau là trăm lần vội vã
         còn mốt mai em ngoài hiên tìm nhau
trên tàng lá thẫm
có anh chong theo hơi hướng quê nhà
có anh lao xao trên thời rong ruổi
         nụ hôn thì sơn khê
anh ngã ngược trên tim mình
cùng xót xa em / giăng hàng mộng ảo
anh đứng thẳng trên đời mình
cùng tình yêu em giong buồm xa ngoài / hải đảo
         bây giờ anh biệt xứ
nhưng làm sao anh tự nhận mình là kẻ / lưu đày
cũng như lần anh đi ngang da thịt em
nghe mồ hôi / rỉ buồn / trách cứ
         em có còn là tiếng chuông
trên đỉnh trán mòn theo đầu ngón tay khô
làm hình tượng tặng nhau vùng trời quá khứ
trên ngọn tóc còn vương se một ý tình hoài
anh sẽ còn gì không sau cuộc đời / lỡ dở
         ngày mai là chuyến xe
với khi anh tìm môi em thì rượu
vẫn quay quắt / như đã bao giờ
anh uống cạn và / nghe núi sông
dâng đầy / một màu / quạnh quẽ
         cám ơn em, u tối
ánh sáng có còn là vòng đai như vòng tay anh
ánh sáng có còn là bóng đêm
như sau bờ lưng em
đang kiên nhẫn kiếm tìm
còn gọi em là một đời bất phục
         cám ơn em, nồng nàn
cùng hoan lạc đầu tiên
trong máu xương chúng mình / tinh khiết
cùng mỏi mê như hoài vọng chuyền tay
         anh tình nguyện làm tên giữ ngọn hải đăng
giữa biển đời lệ ứa
em hãy tự tay làm vòng hoa kết gió trên đầu
với băng giá đi theo
và cùng nhau như riêng phần / lần lữa
         cám ơn em, tù đày
hãy trở về cùng anh như những lần đi xa / thuở trước
bởi vì trong tim anh luôn là một kẻ dại khờ
bởi vì trong máu anh / đã là tinh anh
trút dần / cho kẻ khác
         xin hãy chào bóng anh cùng anh
xin hãy rời xa nhau giữa giờ hoan lạc
một đứa con là một chuyện buồn
em đã đến hợp tình / như sợi khói bay theo
một / đời / sống / khác”

1971 (Từ Những Tấc Lòng Cũ)

“Cám ơn em, tù đày”, người tình hay tha nhân đồng nghĩa như nhau, mà dù biết vậy mà kẻ lụy tình vẫn mong kinh qua chốn đày ải con tim!

“lúc ngái ngủ nắng vỡ bờ lên mặt
tự trấn an như nước chảy theo triền
nơi quán chợ có tình em đem bán
đừng hỏi rằng làm sao anh vui
nghe lấp ló hình hài vừa tượng hình
rồi cũng như tao
mày sẽ ăn / sẽ ngủ / sẽ thở
rồi mày thù hằn như đêm
mày căm hờn như tối
bước chân lạ trong khu vườn thánh
thật vàng son như đồng đen
và mặn nồng hơn bão tố
ta ngửa mặt tặng người
ta ngửa mặt tặng đời
tặng em chuyến tàu khởi hành chín giờ mai
hẹn em bên kia đèo năm ngoái
trời có khuya như em tự tình
trời có xưa như em kể lể / một vì sao

động nhật nguyệt đã rơi vào bụng

chuột bỏ cống theo người trú ẩn
trên hầm rác hôm qua / có ta vừa khai tử
nhụy tình em cho gió bụi đời
thuở thủ thỉ đã chờn vờn cánh hạc
thuở hẹn hò còn ngời lại trong cây
thuở với nhau cầm tay thật ấm
thuở khánh kiệt như sáng mười đồng
thuở ấu thơ ta cho em cục đường
thì sá gì một vì sao đã rụng
thì sá gì cả chòm sao / đã rụng
nửa đêm hết lửa tau tìm mày
tìm mày trong túi áo
tìm mày trong túi quần
tìm mày trong đồ lót
tìm mày trên đỉnh mùng / cũng vô vọng
tại sao mày bỏ đi / không cho tao biết trước
có con đường sắt dẫn tàu xuống biển
anh bước lên làm hành khách một mình
em ẩn mặt đâu đây nghe mặn
có tìm theo tiếng hát mù lòa
tiếng hát nửa chừng đã thành định hệ
khi sóng vỗ mạn thuyền báo hiệu

đã ngút ngàn ngày tháng đem theo
trong thân ta có muối
và ngăn chia hồn sâu mọt gia tài
đã gió cuốn thời em u tối

đã hút mình theo cánh chim bay
em hãy vui ôm tình đóng cửa
làm hành trang cho ý đại hùng
làm ân phúc cho bọt réo trong lòng
anh hoang phí nhìn hoài có thấy”

(Hành Trang Cho Sao Đại Hùng, Trích từ Thơ Tự Do Miền Nam, TẤQ, 2008, tr. 350-352).

Nhà thơ trừu tượng hóa chiến-tranh như sự thể không chối bỏ được, như kiếp người Việt-Nam hôm nay:

11- khi bầy chim kia bay về đầy trời trắc ẩn
là vạn hồn oan trải lá hoang đường
có ta lũi sâu trong chiến hào / buổi giao tranh
tặng người / sự sống
em giữ nỗi lòng mình để làm vốn liếng mai sau
có thấy gì không trong đêm trăng mờ / đã khuyết
còn mơ gì không trong bóng tối mịt mùng
người thợ đóng hòm cuối đời mỏi mệt
tính nhẫm trên tay từng / mỗi một / quan tài
ta còn nước mắt tặng thời đọa kiếp
em còn không em yêu dấu nồng nàn
mai cũng hết trong thân người
mai cũng đành như em giọt lửa
ta hiện hình đầy râu tóc
ta mỏi mê ta / ta yêu em
như bạo động / kẻ thù
ta hôn em như giờ / khai hỏa

17 – em ngồi trơ vơ kết sợi tình hoài
như kiếp tằm trải hồn lên mặt lụa
ta đứng bên này giữa mảnh vườn âm u
em làm sao khai phá
những ưu tư làm ruột thắt lưng còng
em hiện hình trái phá / bắn ra ngoài đại dương
anh hóa thân tiếng nổ / nhuộm phai hàng tà dương
em có hẹn cùng đôi vồng lá cỏ
sáng mai nay sương phủ ướt mặt người
bên nớ bên này chừ xa vạn dặm
em ngồi không chờ đợi trong mình
(ta là ai trở về từ đêm khuya khoắt / ta là ai ra đi)
thân xác nhiễu nhương
trong bóng tối giữa ngày đầy mặt trời
giữa thân oan ngậm vành thân ái
em đứng trong đời / gõ hai bàn tay
từng âm vang em xanh mù mưa nắng
em thở hương mùa / bông cau / đầy thân ta
như chuyến tàu giữa biển theo hải đăng em phụ tình
như thuở ta thì thầm yêu em
như thuở ta vẽ vời
nỗi niềm gửi gió ngại ngần
giữa thân biển hồn trở về đại lục
hơi thở em đã mùa đông
hương phấn bay bay hàng song trắng
cho em vành khăn tang tự cuộc đời mình
như đầu tiên ta mĩm miệng cười làm dấu
em làm sao soi được mặt mình
khi ánh sáng đã đè ngang thân bóng
em làm sao thấy được nỗi lạ lùng
trong tim mình / với máu người / trú ẩn”
– 1972
(Thuở Hẹn Người. Trích từ Thơ Tự Do Miền Nam, sđd, tr. 352-353).

Nhịp thơ Nguyễn Đức BạtNgàn thiết tha, kể lể, lời thơ trau chuốt, cẩn trọng với nhắc nhở và kỷ niệm nhưng đầy bất ngờ của thơ Tự do cộng với tâm thức muốn và chấp nhận sống cái hôm nay trong cõi nhân sinh đa đoan đầy mưu chước, bất ngờ!