... liên quan đến GIÁO DỤC TIỂU HỌC AN GIANG
[01][02] [03] [04] [05] [06] [07] [08] [09] [10] [11] [12] [13] [14] [15]
[16] [17] [18] [19] [20] [21] [22] [23] [24] [25] [26] [27] [28] [29] [30] [31]

 Thứ  sáu (20/01/2017)
[1]



[2]

 

Hướng dẫn còn chung chung

Thời điểm gần cuối năm học, nhiều trường tiểu học trên địa bàn Hà Nội đã rục rịch chuẩn bị áp dụng thông tư 22/2016/TT- BGDĐT vào việc nhận xét, khen thưởng cuối kì. Ghi nhận của PV Dân trí tại Hà Nội, hầu hết các trường đã nhận được hướng dẫn thực hiện thông tư 22 của Phòng GD&ĐT các quận huyện, cũng như đã được triển khai tập huấn thực hiện từ vài tháng trước.

Theo một hiệu trưởng trường tiểu học tại Hà Nội, hướng dẫn thực hiện TT22 mà phòng GD&ĐT vừa đưa về trường mình có nêu rõ, hiệu trưởng nhà trường chịu trách nhiệm chỉ đạo việc kiểm tra định kì, đề kiểm tra định kì phù hợp với chuẩn kiến thức, kĩ năng và định hướng phát triển năng lực, gồm các câu hỏi và bài tập và được thiết kế theo 4 mức độ được quy định tại điểm c, mục 2, Điều 10 Thông tư số 22.

Đề kiểm tra định kì môn Tiếng Việt, môn Toán thiết kế theo 4 mức độ. Trên cơ sở khung ma trận, các đơn vị vận dụng dụng linh hoạt, phù hợp với điều kiện thực tế; đảm bảo chuẩn kiến thức, kĩ năng và định hướng phát triển năng lực học sinh...

Nhận xét về điều này, cô Tạ Thị Bích Ngọc, Hiệu trưởng Trường tiểu học Nam Trung Yên (quận Cầu Giấy, Hà Nội) cho biết, trường mình cũng vừa nhận được hướng dẫn thực hiện TT22 của Phòng GD&ĐT quận gửi đến. Tuy nhiên, tương tự trên đây, hướng dẫn này còn chung chung, khiến giáo viên và nhà trường rất khó triển khai.

Chẳng hạn, việc hiệu trưởng nhà trường chỉ đạo kiểm tra định kì, nghiên cứu để ra đề kiểm tra sao cho phù hợp chuẩn kiến thức, kĩ năng và định hướng phát triển năng lực, gồm các câu hỏi và bài tập được thiết kế theo 4 mức độ. Thế nhưng trong hướng dẫn này, lại không quy định cụ thể từng mức đó như thế nào khiến nhà trường rất khó thực hiện.

“Hiệu trưởng phải tự nghiên cứu để triển khai việc kiểm tra định kì. Tuy nhiên, trong hướng dẫn không quy định cụ thể từng mức ra sao, không cụ thể đâu là vận dụng, đâu là kĩ năng... để nhà trường làm căn cứ. Mà đề của giáo viên ra thì không đủ cơ sở để áp dụng cho toàn bộ học sinh kiểm tra. Do đó, hiệu trưởng lại phải nghiên cứu kĩ hướng dẫn để từng bước thực hiện”, cô Ngọc nói.

Cần đề kiểm tra “minh họa”

Theo lý giải của Bộ GD&ĐT, rút kinh nghiệm của TT30, ở TT22 quy định, có thêm bài kiểm tra định kì giữa học kì đối với môn Tiếng Việt và môn Toán ở lớp 4, lớp 5 bởi lớp 4, lớp 5 là các lớp cuối cấp tiểu học. Các khối lớp này so với các khối lớp 1, lớp 2, lớp 3 có yêu cầu kiến thức, kĩ năng cơ bản ở mức sâu hơn, khái quát hơn, tường minh hơn.

Thứ hai, môn Tiếng Việt và môn Toán ở các khối lớp này là hai môn học công cụ, chiếm nhiều thời lượng hơn so với các môn học khác. Thứ 3, việc có thêm bài kiểm tra định kì nhằm tạo điều kiện cho học sinh quen dần với cách kiểm tra đánh giá ở cấp trung học cơ sở và các cấp học cao hơn.

Cô Nguyễn Thị Bích Hạnh, Hiệu trưởng Trường tiểu học Hoàng Liệt (Hoàng Mai, Hà Nội) cho hay, về cơ bản, TT22 cũng gần giống với TT30/2014/TT-BGDĐT hoặc TT32 trước đây. Tuy nhiên, các trường thấy khó là vì chưa có hướng dẫn cụ thể chi tiết.

“TT22 rất tốt, khuyến khích học sinh và nâng cao tính nhân văn khi áp dụng đánh giá thường xuyên bằng nhận xét, không so sánh học sinh này với học sinh khác, đánh giá vì sự tiến bộ của học sinh... Khi có thay đổi ở TT22, giáo viên đã rất phấn khởi vì họ không cần nhận xét nhiều, gánh nặng sổ sách vào cuối năm học không nặng nề như trước đây. Tuy nhiên, về phía phụ huynh thì lại lo lắng vì ít thấy giáo viên nhận xét hơn trước”, hiệu trưởng này chia sẻ.

Cũng theo cô Hạnh, để triển khai thông tư 22, nhà trường đã được Sở GD&ĐT tập huấn, sau đó giao cho nhà trường chủ động. Do trước đó, nhà trường đã được làm quen với TT32 và sau này là TT30 nên việc ra đề kiểm tra vẫn được nhà trường thực hiện. Cái chính là khi áp dụng một thông tư mới, cần có hướng dẫn cụ thể hơn.

“Chẳng hạn trước đây, khi áp dụng TT32, chúng tôi có một quyển sách giáo viên hướng dẫn cụ thể tiết nào thì kiểm tra và có đề mẫu. Giáo viên căn cứ vào đó, chỉ việc đổi số liệu một chút từ đề mẫu là có đề thi chuẩn cho học sinh.

Tuy nhiên, ở thông tư mới này, nhà trường chưa được hướng dẫn cụ thể nên thấy khó. Vì thế, chúng tôi mạo muội đề xuất, giá như có đề thi mẫu như trước đây thì sẽ tốt hơn. Nhà trường cũng bám theo đó để triển khai”, cô Hạnh đề xuất.

Về ý kiến này, cô Bích Ngọc cũng đồng tình và mong muốn giá như có đề kiểm tra mẫu để trên cơ sở đó, nhà trường áp dụng triển khai sẽ có ít sai sót hơn. “Việc để nhà trường chủ động rất tốt nhưng cái gì mới, cũng cần có hướng dẫn cụ thể để nhà trường và giáo viên đỡ lo lắng hơn. Chứ chung chung thế này, chúng tôi không biết tham khảo vào đâu cả”, cô Ngọc cho hay.

Mỹ Hà

 [3]




 
Bạn là công chức? là viên chức? là người về hưu? là ...? Đã nhận 600 ngàn tiền tết chưa?
 






 Thứ  năm (19/01/2017)
[1]




 [2]

80 triệu USD hỗ trợ đổi mới giáo dục phổ thông

17/01/2017  16:09 GMT+7

 - Một dự án hỗ trợ đổi mới giáo dục phổ thông trị giá 80 triệu USD vừa được khởi động chiều 17/1.

Trong số này, 77 triệu USD là vốn ODA vay ưu đãi từ Ngân hàng Thế giới và 3 triệu USD vốn đối ứng.

Dự án được phê duyệt từ năm 2015, có hiệu lực từ ngày 8/8/2016 và kết thúc vào năm 2020.

Ông Đoàn Văn Ninh, Giám đốc dự án cho biết, kết quả đầu ra chính của dự án gồm 7 nội dung: Chương trình giáo dục phổ thông mới; Tài liệu hướng dẫn dạy học và tài liệu hướng dẫn biên soạn sách giáo khoa cho các tổ chức, cá nhân; Bộ sách giáo khoa do Bộ GD-ĐT biên soạn được phê duyệt cho phép sử dụng; Học sinh khó khăn được mượn sách giáo khoa mới; sách giáo khoa song ngữ (tiếng Việt – tiếng dân tộc thiểu số); Hệ thống bồi dưỡng giáo viên qua mạng; Hệ thống đánh giá định kỳ năng lực giáo dục quốc gia.

Dự án bao gồm 4 thành phần, trong đó thành phần “Hỗ trợ biên soạn và thực hiện sách giáo khoa theo chương trình mới” chiếm 25% kinh phí. Thành phần “Hỗ trợ đánh giá và phân tích kết quả học tập để liên tục cải tiến chương trình và chính sách giáo dục phổ thông” chiếm gần 50% kinh phí.

Hai thành phần còn lại là “Hỗ trợ phát triển chương trình” và cuối cùng là “Quản lý dự án”.

Gần 50% kinh phí dự án (thuộc thành phần “Hỗ trợ đánh giá và phân tích kết quả học tập để liên tục cải tiến chương trình và chính sách giáo dục phổ thông”) dành cho các “đầu việc”: Xây dựng trung tâm quốc gia phát triển bền vững chất lượng giáo dục phổ thông và trung tâm quốc gia khảo thí ngôn ngữ; Tăng cường năng lực phát triển chương trình và đánh giá giáo dục học sinh; Triển khai đánh giá diện rộng quốc gia kết quả học tập của học sinh.

Trong số 25% kinh phí của thành phần 2, Bộ GD-ĐT sẽ tổ chức biên soạn một bộ sách giáo khoa (do Bộ GD-ĐT thực hiện) gồm các đầu việc: Xây dựng bản thảo và lấy ý kiến đối với bản thảo một bộ sách giáo khoa; Thẩm định, thực nghiệm và phê duyệt cho phép sử dụng đối với một bộ sách giáo khoa; Biên soạn sách giáo khoa song ngữ cấp tiểu học (tiếng Việt – tiếng một số dân tộc thiểu số có chữ viết) và Biên soạn, thử nghiệm sách giáo khoa điện tử. Bên cạnh đó, dự án sẽ thẩm định các sách giáo khoa (bao gồm sách của Bộ GD-ĐT và sách giáo khoa khác do cá nhân, tổ chức biên soạn.

Ngoài ra, dự án cũng dự kiến cung cấp 50.000 bộ sách giáo khoa cho học sinh khó khăn.

Dự án này do Bộ trưởng Bộ GD-ĐT làm trưởng ban chỉ đạo, với các bộ phận giúp việc gồm: Chủ tịch Hội đồng tư vấn quốc tế, Giám đốc Ban Quản lý dự án và Giám đốc kỹ thuật (được gọi là Tổng chủ biên của chương trình giáo dục phổ thông mới).

Phát biểu tại hội nghị, GS Nguyễn Minh Thuyết, Giám đốc kỹ thuật của dự án cho biết, quan điểm phát triển chương trình giáo dục phổ thông thực hiện theo triết lý Thực học – thực nghiệp (cụ thể là học đi đôi với hành, lý luận gắn với thực tiễn, Phân luồng và hướng nghiệp) và triết lý Dân chủ (cụ thể là lấy người học làm trung tâm, tích cực hoá hoạt động học tập, kết hợp giáo dục nhà trường với xã hội, chương trình mở...).

GS Nguyễn Minh Thuyết cũng giới thiệu chi tiết về “chân dung của người công dân mới” (xem chi tiết TẠI ĐÂY).

·         Hạ Anh

 




 Thứ  tư (18/01/2017)
[1]


Ông Tuyên tham khảo Thông tư liên tịch số 09/2016/TTLT-BGDĐT-BTC-BLĐTBXH thấy có nội dung, đối tượng học sinh người dân tộc thiểu số ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn được hưởng chính sách hỗ trợ và danh mục vùng đặc biệt khó khăn được nêu tại Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị định 118/2015/NĐ-CP. Trong danh mục này, tỉnh Tuyên Quang có 3 huyện là Na Hang, Chiêm Hóa, Lâm Bình.

Tuy nhiên, Văn bản số 1458/UBDT-VP135 ngày 31/12/2015 của Ủy ban Dân tộc lại hướng dẫn, chỉ các xã khu vực III, các thôn được quy định tại Quyết định số 447/QĐ-UBDT và các Quyết định sửa đổi, bổ sung Quyết định số 447/QĐ-UBDT mới là các xã, thôn đặc biệt khó khăn.

Ông Tuyên đề nghị giải đáp, học sinh dân tộc thiểu số có hộ khẩu tại 3 huyện Na Hang, Chiêm Hóa, Lâm Bình có thuộc đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ theo Thông tư liên tịch số 09/2016/TTLT-BGDĐT-BTC-BLĐTBXH không?

Về vấn đề này, Bộ Giáo dục và Đào tạo trả lời như sau:

Tại Phụ lục I ban hành theo Thông tư liên tịch số 09/2016/TTLT-BGDĐT-BTC-BLĐTBXH ngày 30/3/2016 của Liên Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Tài chính, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 86/2015/NĐ-CP ngày 2/10/2015 của Chính phủ thì các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn được quy định tại Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị định số 118/2015/NĐ-CP ngày 12/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư.

Đối chiếu với quy định trên thì các huyện: Na Hang, Chiêm Hóa, Lâm Bình là địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.

Bộ Giáo dục và Đào tạo trả lời để Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Tuyên Quang nghiên cứu, thực hiện.

Chinhphu.vn








[2]


 

7 năm, 3 mẫu học bạ khác nhau

Khi chương trình sách giáo khoa 2000 đi vào thực hiện, cùng với nó là quy định đánh giá học sinh tiểu học theo quyết định 30/2005. Nội dung của quyết định 30/2005 tồn tại 4 năm. Đến năm 2009, Bộ GD-ĐT đổi mới cách đánh giá học sinh tiểu học, và thông tư số 32 ra đời.

TT32/2009 tương đối ổn với việc xếp loại giáo dục theo 4 mức giỏi, khá, trung bình, yếu. Dù chẳng ai phàn nàn gì, nhưng Bộ GD-ĐT lại tiếp tục đổi mới, với phương châm không so sánh học sinh này với học sinh khác. Thế là thông tư số 30 được ban hành, và có hiệu lực vào tháng 11-2014.

Suốt 2 năm thực hiện thông tư 30, nhiều than phiền rằng học sinh không có động lực học tập, cộng thêm việc lạm dụng giấy khen với nội dung lộn xộn, không theo quy tắc nào cả. Chính vì những bất cập đó mà năm 2016 vừa qua, lại thêm một thông tư nữa ra đời, đó là thông tư mang số hiệu 22.

Cứ mỗi lần thông tư mới ban hành, kèm theo đó là một mẫu học bạ mới. Nếu tính từ năm 2005 đến nay, tiểu học có 4 mẫu học bạ. Nhưng thôi, ta cứ tính 7 năm gần đây, tiểu học 3 lần thay học bạ của học sinh.

Đó là học bạ của TT32/2009, học bạ của TT30/2014, học bạ của TT22/2016.

Đổi học bạ xoành xoạch

Em Nguyễn Văn Thịnh sinh năm 2007. Năm 2013, Thịnh vào lớp 1, học bạ của Thịnh khi đó là học bạ theo mẫu thông tư 32 (TT32/2009).

Năm 2014, Thịnh lên lớp 2, thông tư 30 (TT30/2014) ra đời, Thịnh lại được thay học bạ theo mẫu mới.

Năm 2016, Thịnh lên lớp 4, bộ tiếp tục đổi mới, Thịnh lại có học bạ mới theo thông tư 22. Như vậy, tính từ khi Thịnh vào lớp 1 tới nay - lớp 4, Thịnh có 3 mẫu học bạ với 3 lần thay đổi.

Không biết sang năm lên lớp 5, Thịnh còn tiếp tục thay học bạ nữa hay không?

Trường hợp của Nguyễn Văn Thịnh là một ví dụ điển hình về việc thay đổi học bạ cho các học sinh sinh năm 2007 trên cả nước.

Nếu em học sinh nào sinh năm 2006, hết năm học 2016-2017 này các em lên lớp 6, vào trung học cơ sở, các em sẽ mang theo 3 mẫu học bạ để chuyển cấp và làm hồ sơ tuyển sinh.

Có cần thiết phải tốn kém?

Trong tình hình bình thường, không có “đổi mới”, mỗi học sinh vào lớp 1 chỉ phải sử dụng 1 học bạ theo mẫu của TT32/2009, giá khoảng 10.000 đồng/cuốn, và cuốn học bạ này sẽ theo các em suốt những năm tiểu học. Nhưng vì thực hiện theo đổi mới giáo dục, năm 2014, các em lại được ghi học bạ mới của TT30/2014, mỗi học bạ chi phí khoảng 10.000 đồng nữa.

Năm 2016, tiếp tục đổi mới theo tinh thần thông tư 22, học bạ lại có mẫu mới, và các nhà trường lại phải in cho các em để kẹp vào học bạ của thông tư 30. Chi phí học bạ lần này thấp hơn, nhưng cũng khoảng 5.000 đồng/HS. Như thế, phần chi phí phát sinh theo đổi mới học bạ khoảng 15.000 đồng/HS.

Không rõ con số cụ thể mà các lứa tuổi phải chịu cảnh 3 học bạ là bao nhiêu em. Nhưng nếu cứ tính cả nước có khoảng 1 triệu học sinh tiểu học, thì xã hội phải chi vào đây hơn chục tỉ đồng!

Trên đây, chúng ta chỉ nói về sự tốn kém tiền bạc của các bậc phụ huynh. Còn công sức ghi chép của giáo viên vào học bạ mỗi lần thay đổi thì không biết bao nhiêu mà kể.

Như vậy, tính từ 7 năm trở lại đây, giáo dục tiểu học nước nhà có 3 lần đổi mới. Diện mạo mới mà chúng ta đang có, rõ rệt nhất chính là chỉ trong một giai đoạn ở tiểu học mà học sinh phải gánh nhiều loại học bạ!

Phải chăng đó là sự phong phú trong đổi mới giáo dục? Hay là việc đem lại sự rắc rối cho giáo viên và gây tốn kém cho người dân.

TÙNG SƠN

 







 Thứ  ba (17/01/2017)
[]




 Thứ  hai (16/01/2017)
[]









 

 






Lịch Google