... liên quan đến GIÁO DỤC TIỂU HỌC AN GIANG
[01] [02] [03] [04] [05] [06] [07] [08] [09] [10] [11] [12] [13] [14] [15]
[16] [17] [18] [19] [20] [21] [22] [23] [24] [25] [26] [27] [28] [29] [30] [31]

Thứ  tư  (16/08/2017)
[]









 Thứ  ba  (15/08/2017)
[]





 Thứ  hai  (14/08/2017)
[1]


ndphithanh: Công văn 1212 do bạn Dau Phu Do chia sẻ



[2]










Thứ  bảy  (12/08/2017)
[]


 

 1. Công văn 1212 không khẳng định Phó hiệu trưởng kiêm nhiệm Chủ tịch Công đoàn nếu dạy đủ 4 tiết/tuần thì hưởng tiền thừa giờ cả năm là 140 tiết. Nhưng cũng làm nhiều người hiểu là như vậy.

2. Sự hiểu này có thể bắt nguồn từ Thông tư 08 về giảm giờ dạy cho giáo viên kiêm nhiệm chức vụ Công đoàn:

 Cán bộ quản lý trường học (hiệu trưởng, phó hiệu trưởng) làm công tác công đoàn không chuyên trách vẫn phải dạy đủ số giờ dạy theo quy định. Nếu thời gian kiêm nhiệm làm công tác công đoàn dẫn đến tổng thời gian làm việc vượt định mức so với quy định thì được hưởng chế độ trả lương dạy thêm giờ theo quy định hiện hành.

3. Tổng thời gian định mức là bao nhiêu? Có phải là 2 tiết/tuần, 4 tiết/tuần hay 40 giờ/tuần?

4. Nếu cảm thấy Sở cho hưởng thì cứ hưởng. Sau này kiểm toán Trung ương vào yêu cầu xuất toán thì trả lại.

5. Hãy đọc lại một trả lời của báo Giáo dục thời đại dượi đây.









Thứ  sáu  (11/08/2017)
[1]

Số phận mô hình VNEN

Tuổi trẻ có thêm bài báo 4, làm cho những người phản đối bớt cằn nhằn

Ông Hữu cho biết:

- Phương pháp giáo dục VNEN tại Việt Nam được chính thức triển khai từ năm học 2012-2013 ở 1.447 trường tiểu học. Dự án GPE-VNEN được thực hiện ở cấp tiểu học kết thúc vào cuối tháng 5-2016.

Ngày 18-8-2016, Bộ GD-ĐT đã có công văn số 4068 gửi các địa phương về việc triển khai phương pháp giáo dục này từ năm học 2016-2017.

Theo đó, bộ khuyến khích các cơ sở giáo dục đang triển khai phương pháp giáo dục VNEN tiếp tục triển khai trên cơ sở tự nguyện, đảm bảo đạt hiệu quả thiết thực và duy trì suốt cấp học vì quyền lợi của học sinh, đảm bảo nguyên tắc “lấy hoạt động học của học sinh làm trung tâm”.

Năm học 2016-2017 có 3.067 trường tiểu học và 1.161 trường THCS thực hiện VNEN trên tinh thần tự nguyện.

* Nhiều người nhận xét VNEN không phù hợp với điều kiện Việt Nam, nhưng vẫn có những nhà trường cho rằng VNEN tăng hiệu quả giáo dục rõ rệt...

- Qua kiểm tra thực tế cho thấy địa phương nào có sự chuẩn bị đầy đủ về điều kiện cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, đặc biệt là năng lực của cán bộ quản lý và giáo viên, thì việc triển khai VNEN ở địa phương đó sẽ linh hoạt, sáng tạo và đạt hiệu quả tích cực.

Tuy nhiên, cũng còn một số nơi chưa nhận thức đúng về VNEN (vẫn coi VNEN là một chương trình giáo dục, trong khi đó chỉ là một phương pháp giáo dục); chưa chuẩn bị đủ điều kiện tối thiểu về thiết bị dạy học và kỹ năng sư phạm của giáo viên nên triển khai thực hiện máy móc, rập khuôn;

Tổ chức hoạt động học của học sinh một cách hình thức, chưa hiệu quả; một bộ phận học sinh không đạt được kết quả học tập mong muốn; chưa tạo được sự đồng thuận của cha mẹ học sinh, gây bức xúc trong xã hội.

Để triển khai tốt VNEN trong năm học 2017-2018 và những năm tiếp theo, Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ đã chỉ đạo các sở GD-ĐT phải rà soát, nếu trường nào chưa đủ điều kiện về giáo viên, cơ sở vật chất thì chưa áp dụng hoàn toàn mô hình để tiếp tục chuẩn bị; trước mắt lựa chọn một số thành tố của mô hình để bổ sung vào đổi mới phương thức giáo dục đang thực hiện, có giải pháp phù hợp để học sinh có nguyện vọng được tiếp tục học theo phương thức dạy học mới.

* Những thành công của phương pháp giáo dục VNEN có được tiếp thu để đưa vào chương trình giáo dục mới?

- VNEN thực chất là một phương thức dạy học mới, theo hướng tổ chức cho học sinh tự học, tự chủ, tự quản; chuyển từ việc truyền thụ kiến thức của giáo viên sang việc tổ chức, hướng dẫn học sinh cách học; lấy học sinh làm trung tâm nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học, đáp ứng định hướng phát triển năng lực, phẩm chất học sinh.

Trong chương trình giáo dục phổ thông mới, định hướng về phương pháp giáo dục là áp dụng các phương pháp tích cực hóa hoạt động của người học; trong đó giáo viên đóng vai trò tổ chức, hướng dẫn các hoạt động cho học sinh, tạo môi trường học tập thân thiện để phát triển năng lực phẩm chất học sinh.

Như vậy, các thành tố của phương pháp giáo dục VNEN phù hợp với định hướng về phương pháp trong chương trình giáo dục phổ thông mới. Các cơ sở giáo dục, giáo viên có thể chủ động vận dụng các thành tố của phương thức dạy học này vào thực hiện chương trình giáo dục phổ thông mới một cách linh hoạt, sáng tạo, phù hợp với điều kiện thực tiễn.

* Từ những bất cập trong quá trình triển khai VNEN, Bộ GD-ĐT rút kinh nghiệm gì khi thực hiện chương trình giáo dục phổ thông mới?

Ông Nguyễn Đức Hữu: Đó là cần có sự chuẩn bị chu đáo, đầy đủ về điều kiện cơ sở vật chất và đội ngũ; đặc biệt cần dành thời gian xứng đáng cho công tác tập huấn cán bộ quản lý và giáo viên.

Quá trình triển khai cần có lộ trình, bước đi phù hợp, không chủ quan nóng vội, phải có tinh thần cầu thị lắng nghe và kịp thời rút kinh nghiệm để có những điều chỉnh phù hợp với yêu cầu thực tế.

VĨNH HÀ thực hiện


[2]



 
 

1. Thầy giáo là lao động bình thường thì tuổi đời phải đủ 60 tuổi mới được nghỉ hưu.

2. Thầy giáo được nghỉ hưu sớm (trước 60 tuổi) khi bị suy giảm lao động từ 61% trở lên.

3. Nếu có giấy suy giảm khả năng lao động từ 61% (ra Hội đồng giám định) thì:

    15 năm đầu đóng BHXH thì tỉ lệ lương hưu là 45%

    Mỗi năm còn lại thêm 2% là: 2% x (35 - 15) = 40%, cộng chung là 45% + 40% =85%

    Nghỉ hưu sớm 1 năm bị trừ 2% nên còn lại: 85% - 2% = 83%. Nhưng cũng chỉ lãnh tối đa là 75% lương.

 Cần động viên thầy ráng thêm vài tháng nữa.







Thứ năm  (10/08/2017)
[]

Số phận mô hình VNEN

    Thời gian gần đây, Tuổi trẻ có 3 bài báo phê phán mô hình VNEN. Nhiều độc giả cùng chửi bới nó. Có bài báo yêu cầu Bộ trả lời.
    Bộ GDĐT đã nín thinh. Tại Hội nghị các Trưởng phòng GD Tiểu học Sở vào tháng 8/2017 tại Phú Thọ Bộ cũng nín thinh. Chỉ có Bộ trưởng nói đại ý: "Nơi nào có đủ điều kiện thì làm".
    Nay thì, Tuổi trẻ có 3 bài báo làm thuận lợi cho mô hình VNEN

Xin bắt đầu bài 1:

Chia sẻ với Tuổi Trẻ Online về mô hình này và những ồn ào xung quanh việc nên hay không nên tiếp tục VNEN, GS Đỗ Đức Thái cho biết:

-Tôi lấy ví dụ cụ thể là môn Toán trong mô hình VNEN cho dễ hình dung. Một môn học, tạm chia một cách cơ học bao gồm: nội dung chương trình; cách tiếp cận và tiến trình tổ chức dạy học (kể cả đánh giá giáo dục) để đạt được mục tiêu giáo dục của môn đó.

Theo cách nhìn đó, mô hình VNEN giữ nguyên nội dung chương trình giáo dục hiện hành, hầu như không thêm, bớt. Còn về cách tiếp cận và tiến trình dạy học, phải nhìn nhận một cách công bằng là mô hình VNEN có thể khắc phục những điểm yếu nhất của cách dạy truyền thống.

* Ông có thể so sánh cụ thể hơn về nhận định này không?

- Cách dạy truyền thống với chương trình giáo dục hiện hành quan tâm nhiều đến việc học sinh biết được kiến thức gì, giải các dạng bài như thế nào và lối dạy chủ yếu là thuyết giảng một chiều, học sinh ít có cơ hội được chủ động trong việc kiến tạo kiến thức.

Trong mô hình VNEN, mục tiêu đầu tiên là tăng tính chủ động cho người học thông qua quá trình tự kiến tạo, chiếm lĩnh kiến thức với sự hướng dẫn của giáo viên.

Mô hình VNEN cũng đưa ra hình thức học tập theo nhóm. Việc này góp phần tăng khả năng giao tiếp, tự chủ, tính tương tác giữa các học sinh, rèn khả năng trình bày mạch lạc - đây vốn là điểm yếu không chỉ của học sinh mà của người Việt Nam nói chung do cách dạy học truyền thống ít chú trọng.

Tư tưởng của mô hình trường học mới nguyên gốc mang tính nhân văn sâu sắc vì nó sẽ tạo ra sự dân chủ trong trường học, tạo cơ hội bình đẳng cho mọi học sinh được học, được quan tâm, được thể hiện mình.

Mô hình dạy học truyền thống khó làm được như vậy. Trong một lớp học truyền thống, giáo viên thường quan tâm hơn đến các học sinh giỏi mà dễ bỏ quên những học sinh còn kém. Tâm lý “bị bỏ rơi” này sẽ ít đi với cách dạy học theo “đúng chuẩn” của VNEN.

* Ưu điểm nhiều thế, vì sao khi đưa vào áp dụng thực tế lại có nhiều ý kiến phản ứng gay gắt, cho rằng mô hình này làm học sinh học kém đi, không phù hợp với điều kiện VN và mang nặng tính hình thức?

- Những gì tôi nói ở trên chỉ là đánh giá khách quan về những ý tưởng tốt đẹp của mô hình VNEN. Còn một mô hình tốt, áp dụng thành công hay thất bại còn lệ thuộc vào nhiều yếu tố.

Giáo viên là yếu tố quyết định nhất đến sự thành bại của bất kì mô hình giáo dục nào, kể cả mô hình VNEN. Giáo viên muốn đảm nhiệm đúng và tốt nhiệm vụ theo mô hình VNEN thì rất vất vả trong thời gian đầu. Các thầy cô sẽ phải thay đổi cách soạn giáo án, thay đổi phương pháp dạy học và quan trọng là thay đổi nếp nghĩ.

Trên thực tế, có những trường triển khai mô hình này hiệu quả, phụ huynh hoc sinh yên tâm, nhưng có những nơi thực hiện không tốt. Tôi cho rằng nguyên nhân lớn là ở việc tập huấn giáo viên không tốt khiến họ hiểu sai hoặc hiểu chưa thấu đáo, làm không đúng yêu cầu.

Tôi ví dụ có những giáo viên nghĩ học theo VNEN là cho học sinh quây lại với nhau theo nhóm. Học sinh tự bàn bạc, học với nhau, giáo viên không cần dạy gì. Nghĩ như thế thì rất nguy hiểm vì những học sinh học kém sẽ càng kém.

Một nguyên nhân nữa đó là công tác truyền thông làm chưa hiệu quả nên không chỉ giáo viên, nhà quản lý, mà phụ huynh và người dân đã hiểu không thật thấu đáo.

* Nếu khắc phục những điểm yếu này, theo ông liệu mô hinh VNEN có thể tiếp tục duy trì, mở rộng không?

- Quan điểm của tôi là mô hình VNEN chỉ nên là bước quá độ tiến đến chương trình giáo dục phổ thông mới. Vì sao tôi nói như vậy? VNEN là một bước chuyển tiếp để từ chương trình giáo dục hiện hành chủ yếu tiếp cận nội dung kiến thức bước sang một chương trình mới nhằm phát triển năng lực, phẩm chất người học.

Khi bắt đầu cho cuộc đổi mới giáo dục phổ thông, bên cạnh VNEN, Bộ GD-ĐT cũng có nhiều thử nghiệm, nhiều sáng kiến khác được áp dụng nhằm tạo những bước chuyển để giáo viên, học sinh không bị sốc khi  tiếp nhận chương trình mới.

Tôi ví dụ như những chỉ đạo dạy học tích hợp liên môn, dạy học gắn với thực hành, nghiên cứu sáng tạo, hoạt động trải nghiệm, chủ động xây dựng kế hoạch dạy học (chương trình nhà trường)… Chính những kết quả đó là cơ sở thực tiễn để xây dựng một chương trình mới tiếp thu những thành công, ưu điểm.

Còn nhược điểm, thất bại là bài học để những người thực hiện chương trình mới lường trước, có giải pháp khắc phục. Tôi tin rằng khi xây dựng một chương trình mới, những thành công của VNEN và những sáng kiến đổi mới giáo dục khác đã được nghiên cứu, tiếp thu để đưa vào chương trình.

Và vì thế tôi nghĩ là cần cân nhắc thật thận trọng khi kéo dài VNEN như một mô hình giáo dục độc lập khác với mô hình giáo dục chung của toàn quốc khi toàn bộ nền giáo dục của đất nước ta đã thực hiện chương trình giáo dục phổ thông mới.

* Như vậy giữa chương trình giáo dục mới đang được xây dựng và mô hình VNEN cũng có những điểm giao thoa, tương đồng?

- Đúng vậy, những giáo viên, hoc sinh từng thực hiện tốt VNEN sẽ đỡ bỡ ngỡ hơn với việc dạy học theo hướng phát triển năng lực, phẩm chất, cho phép học sinh bộc lộ sáng tạo cá nhân… Các nhà trường đã triển khai VNEN vẫn có thể tận dụng những ưu điểm của VNEN trong việc chủ động thiết kế chương trình giáo dục.

* Từ bài học của VNEN theo ông, có thể rút ra điều gì có ích khi triển khai chương trình giáo dục phổ thông mới?

- Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể đã nêu ra những điều kiện thực hiện. Tôi quan tâm nhiều đến vấn đề đào tạo, tập huấn để nâng cao trình độ giáo viên.

Ngoài ra, ở một đất nước trải dài với các vùng miền có địa lý khác nhau, nhiều dân tộc, điều kiện kinh tế xã hội, dân trí không đồng nhất thì phải đặc biệt quan tâm đến tính vùng miền, đến nội dung giáo dục địa phương.

Mà để làm tốt việc này, hạt nhân của nó là thúc đẩy phát triển chương trình nhà trường (tăng cường quyền chủ động cho nhà trường trên cơ sở khung chương trình chung). Theo đó, không riêng những ưu điểm của mô hình VNEN mà rất nhiều những thử nghiệm thành công khác trong quá trình dạy học có thể được các nhà trường vận dụng linh hoạt tùy theo điều kiện.

Những người soạn thảo chương trình như chúng tôi sẽ cố gắng triển khai quan điểm này và tôi tin nếu nó được đưa vào chương trình chính thức thì sẽ có sự chuyển động.

* Trở lại mô hình VNEN, theo ông trách nhiệm của Bộ GD-ĐT trong việc này nên như thế nào?

- Theo tôi cần có sự tổng kết bài bản trên cơ sở khảo sát, phân tích kĩ thực trạng, những cái gì là ưu điểm có thể tiếp thu nhân rộng, cái gì không phù hợp thì có giải pháp cụ thể để khắc phục.

Cả những thất bại, những điều dư luận phản đối cũng cần nghiên cứu kĩ lưỡng nguyên nhân xem đó như bài học cho tiến trình đổi mới tiếp theo chứ không nên đóng lại hoặc để nơi nào có điều kiện thì làm, không có thì thôi.

VĨNH HÀ thực hiện

 Bài 2:

Trên 95 triệu bản sách bổ trợ, sách tham khảo, bản đồ - tranh phục vụ dạy học cũng đã được NXB này cung ứng.

Tuy nhiên, theo đại diện NXB Giáo dục, trên thị trường đang xuất hiện nhiều SGK in lậu chất lượng kém, giá bán khác nhau. Vì thế, NXB Giáo dục khuyến cáo phụ huynh nên mua sách ở các công ty sách và thiết bị trường học.

Theo ông Vũ Văn Hùng, tổng giám đốc NXB Giáo dục, năm học tới NXB Giáo dục vẫn tiếp tục phát hành tài liệu hướng dẫn học cho các trường theo mô hình VNEN. Những nơi ngừng thực hiện mô hình này thì sẽ được cung ứng sách truyền thống.

Trước đó, ông Vũ Bá Khánh, tổng giám đốc Công ty cổ phần đầu tư và phát triển Giáo dục Hà Nội (thuộc NXB Giáo dục) cho biết đơn vị này đang chuẩn bị ba bộ SGK theo chương trình mới: Một bộ của nhóm tác giả miền Bắc, một bộ của nhóm tác giả miền nam và một bộ biên soạn theo phương pháp giáo dục của mô hình VNEN.

Bộ sách VNEN sẽ biên soạn dựa trên tài liệu hướng dẫn học đang được sử dụng trong các nhà trường thực hiện mô hình này, với 156 người tham gia viết. Ngoài các chuyên gia, có các giáo viên đã tham gia đứng lớp giảng dạy mô hình VNEN. 

V.HÀ

    

 Bài 3:


Tại văn bản này, Bộ GD-ĐT nhận định một số trường trong thời gian qua chưa nhận thức đúng về mô hình trường học mới (coi mô hình này là chương trình giáo dục mới), chưa chuẩn bị các điều kiện cần thiết, trong đó có đội ngũ giáo viên, dẫn tới thực hiện máy móc, rập khuôn, tổ chức hoạt động học của học sinh một cách hình thức, chưa hiệu quả.

Một bộ phận học sinh không đạt kết quả học tập như mong muốn, chưa tạo được đồng thuận của cha mẹ học sinh, gây bức xúc trong xã hội.

Để thực hiện phương thức dạy học lấy hoạt động học của học sinh làm trung tâm theo mô hình trên đạt hiệu quả, Bộ GD-ĐT yêu cầu các sở GD-ĐT chỉ đạo các phòng GD-ĐT, các trường tiểu học, THCS rà soát, đánh giá tình hình triển khai mô hình trường học mới tại địa phương.

Việc rà soát này căn cứ vào các điều kiện tối thiểu để thực hiện như giáo viên đạt trình độ đào tạo và chuẩn nghề nghiệp theo quy định của từng cấp học, có kĩ năng thiết kế bài học và tổ chức hoạt động học của học sinh theo phương pháp dạy học tích cực; cán bộ quản lý hiểu rõ, nắm chắc phương thức dạy học theo mô hình trường học mới, có cán bộ chuyên trách theo dõi giám sát thực hiện và chịu trách nhiệm về kết quả triển khai phương thức dạy học mới; cán bộ quản lý, giáo viên phải được tập huấn về phương thức dạy học theo mô hình trường học mới ở mức đạt yêu cầu trở lên; các nhà trường phải phối hợp chặt chẽ với cộng đồng, phụ huynh trên cơ sở tự nguyện và đồng thuận.

Những nơi thực hiện phải đảm bảo đủ điều kiện về cơ sở vật chất, đảm bảo sĩ số học sinh theo quy định, có đủ sách, tài liệu hướng dẫn dạy học.

Bộ GD-ĐT yêu cầu các sở GD-ĐT căn cứ vào kết quả rà soát để chỉ đạo các phòng GD-ĐT, các nhà trường xây dựng kế hoạch tiếp tục áp dụng mô hình trường học mới trong năm học 2017 - 2018 và những năm tiếp theo; chịu trách nhiệm về chất lượng và hiệu quả thực hiện mô hình, đảm bảo mục tiêu phát triển năng lực và phẩm chất học sinh trên nguyên tắc đảm bảo đạt chuẩn kiến thức, kĩ năng theo chương trình giáo dục phổ thông hiện hành.

Căn cứ vào quy định của Bộ GD-ĐT, các sở GD-ĐT phải hướng dẫn cụ thể việc áp dụng mô hình trường học mới tại địa phương, quy định rõ trách nhiệm của từng cấp quản lý giáo dục và nhà trường, quy định việc kiểm tra, đánh giá quá trình thực hiện.

Bên cạnh đó, Bộ GD-ĐT cũng yêu cầu các sở GD-ĐT tổ chức tốt việc tập huấn giáo viên, cán bộ quản lý, giám sát tư vấn để hỗ trợ kịp thời nếu các nhà trường gặp khó khăn, tăng cường tuyên truyền để cha mẹ học sinh hiểu rõ bản chất và lợi ích của mô hình này.

Kế hoạch triển khai và danh sách các trường thực hiện mô hình trường học mới phải được các sở GD-ĐT gửi về Bộ GD-ĐT trước ngay 25-8.

V.HÀ





Thứ tư (09/08/2017)
[1]



[2]




Thứ ba (08/08/2017)
[]

Điều lệ Trường tiểu học và Dự thào Điều lệ mới





Thứ hai (07/08/2017)
[1]



[2]










Thứ bảy (05/08/2017)
[1]

Quyết định của UBND tỉnh An Giang về Học phí năm học 2017-2018

[2]

    Có thể tải tại VĂN BẢN TW hoặc tải tại đây


[3]

ndphithanh:
1. Hiện tại, ndphithanh không còn giữ công văn 1448.
2. Bạn nào có cho bạn Nguyễn Thiện xin. Cảm ơn.




Thứ sáu (04/08/2017)
[]

Dự thảo Điều lệ Trường tiểu học mới


Điều 39. Hồ sơ phục vụ hoạt động nhà trư­ờng

1. Đối với nhà tr­ường:

a) Sổ đăng bộ;

b) Sổ phổ cập giáo dục tiểu học;

c) Hồ sơ giáo dục đối với học sinh khuyết tật;    

d) Học bạ;

đ) Bảng tổng hợp chất lượng giáo dục.

e) Sổ nghị quyết và kế hoạch công tác;

g) Sổ quản lí cán bộ, giáo viên, nhân viên;

h) Sổ khen thưởng, kỉ luật;

i) Sổ quản lí tài sản, tài chính;

k) Sổ quản lí các văn bản.

2. Đối với giáo viên:

a) Giáo án (bài soạn);

b) Sổ ghi chép sinh hoạt chuyên môn và dự giờ;

c) Sổ chủ nhiệm;

d) Sổ công tác Đội (đối với Tổng phụ trách Đội).

3. Đối với tổ chuyên môn, tổ văn phòng: Sổ ghi nội dung các hoạt động của tổ.

4. Nhà trường, các cá nhân trong trường chủ động ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý nhà trường như sử dụng sổ điện tử, phần mềm quản lý tổng hợp các số liệu, hồ sơ quản lý nhà trường.






Thứ năm (03/08/2017)
[]






Thứ tư (02/08/2017)
[1]


ndphithanh:
1. Có phải bạn muốn xin Chỉ thị 30 về Chống bỏ học?
2. Nếu thế thì: "Vào năm ban hành chỉ thị 30, ít người có được văn bản bằng file vi tính".
3. Bạn có thể vào VĂN BẢN AG để tải Kế hoạch 15 của UBND tỉnh về thực hiện Chỉ thị 30 để dùng tạm.

[2]
motgiaovien:
Thầy ơi! Nghị định 88 đâu có chỗ nào nói bỏ viết Sáng kiến kinh nghiệm.

ndphithanh: Có đấy


Nghị định 56 yêu cầu Hoàn thành xuất sắc phải có:


Nghị định 56 yêu cầu Hoàn thành tốt, Hoàn thành cũng phải có:



Nghị định 88 đã bỏ mục đ










Thứ ba (01/08/2017)
[1]

.....................................


Có thể tải Nghị định 88 tại VĂN BẢN TW hoặc tải tại đây.


[2]



[3]




Thứ bảy (29/07/2017)
[1]

Các môn học từ năm học 2018-2019:


[2]

[3]









Thứ sáu (28/07/2017)
[]






Thứ năm (27/07/2017)
[1]


[2]
Một số từ Hán Việt được lưu trữ ở Kho lưu trữ




Thứ tư (26/07/2017)
[1]

Phụ cấp cho vùng khó khăn.
Ba câu hỏi dưới đây được lưu trữ ở trang HỎI NHANH-ĐÁP NHANH

1

Tôi là giáo viên dạy Âm nhạc tiểu học tại trường vùng II nhưng trường tôi có 3 điểm trường ở làng đặc biệt khó khăn với 8 lớp. (tôi dạy 8 tiết thuộc làng khó khăn và 17 tiết vùng thuận lợi).

Vậy tôi có được hưởng chế độ thu hút hay không, nếu có tôi có được truy lĩnh không và truy lĩnh từ thời điểm nào?

Luật sư tư vấn:

Khoản 1 Điều 8 Nghị định 61/2006/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung bằng Nghị định 19/2013/NĐ-CP) quy định: “Nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục (thuộc địa phương hoặc từ địa phương khác đến) được điều động đến công tác hoặc hiện đang công tác tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn được hưởng phụ cấp thu hút bằng 70% mức lương hiện hưởng và phụ cấp chức vụ lãnh đạo, phụ cấp thâm niên vượt khung (nếu có).”

Vấn đề trên được hướng dẫn chi tiết tại điểm a Mục 4 Phần II Thông tư liên tịch 06/2007/TTLT-BGDĐT-BNV-BTC quy định về điều kiện được hưởng phụ cấp thu hút như sau:“Nhà giáo, CBQLGD thuộc đối tượng áp dụng tại khoản 1 mục I Thông tư này kể cả những người mới tốt nghiệp được cấp có thẩm quyền tuyển dụng và bố trí công tác (bao gồm người thuộc địa phương và từ địa phương khác đến) được cơ quan quản lý giáo dục có thẩm quyền điều động từ nơi không thuộc vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn đến công tác tại các cơ sở giáo dục và đào tạo thuộc vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn.”

Như vậy, những giáo viên công tác ở cơ sở giáo dục, đào tạo thuộc vùng điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn thuộc diện được hưởng chế độ phụ cấp thu hút.

Cách tính phụ cấp thu hút: “Tiền phụ cấp thu hút được hưởng trong 1 tháng = Mức lương tối thiểu chung x [hệ số lương theo ngạch, bậc hiện hưởng + hệ số phụ cấp chức vụ lãnh đạo (nếu có) + % (quy theo hệ số) phụ cấp thâm niên vượt khung (nếu có)] x 70%” (tại điểm c Mục 4 Phần II Thông tư liên tịch 06/2007/TTLT-BGDĐT-BNV-BTC). Phụ cấp này được chi trả cùng kỳ lương hàng tháng.

Theo Luật sư Phạm Thị Bích Hảo
Vietnamnet

2.

GD&TĐ - Tôi là giáo viên đang dạy ở Phước Vinh (Châu Thành, Tây Ninh) - một xã biên giới không phải xã đặc biệt khó khăn nhưng được đầu tư theo Chương trình 135 theo Quyết định 900 ngày 20/6/2017. 

Vậy giáo viên dạy ở xã này có được hưởng phụ cấp thu hút không? – Nguyễn Hân (hantung112011@gmail.com).

* Trả lời:

Theo Khoản 2 Điều 2 Văn bản hợp nhất số: 27/VBHN-BGDĐT ngày 23/12/2014 của Bộ GD&ĐT, quy định: Vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn quy định tại Nghị định này bao gồm:

- Các huyện đảo: Trường Sa, Hoàng Sa;

- Các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc và miền núi, các xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển và hải đảo theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ;

- Các thôn, buôn, xóm, bản, làng, phum, sóc, ấp…(gọi chung là thôn) đặc biệt khó khăn theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền.

- Các huyện nghèo theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2008 của Chính phủ được áp dụng hưởng chính sách như quy định đối với vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.

Tuy nhiên tại Điểm c Khoản 2 và Khoản 3 Điều 2 Thông tư liên tịch số: 08/2011/TTLT-BNV-BTC ngày 31/8/2011 của liên bộ gồm: Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính “Hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số: 116/2010/NĐ-CP ngày 24/12/2010 của Chính phủ về chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức và người hưởng lương trong lực lượng vũ trang công tác ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn” – có hướng dẫn về xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc và miền núi, các xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển, hải đảo và các thôn đặc biệt khó khăn quy định tại Điểm b và Điểm c, khoản 2 Điều 1 Nghị định số 116/2010/NĐ-CP như sau:

- Các quyết định khác của Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc về việc sửa đổi, bổ sung danh sách các thôn xã đặc biệt khó khăn (nếu có).

- Khi Thủ tướng Chính phủ; Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc hoặc cơ quan có thẩm quyền ban hành các Quyết định mới phê duyệt các xã, thôn đặc biệt khó khăn thay thế các Quyết định quy định tại Khoản 1 và Khoản 2, Điều này thì thực hiện theo các Quyết định mới đó.

Như vậy Quyết định số: 900/QĐ-TTg ngày 20/6/2017 của Thủ tướng Chính phủ “Phê duyệt danh sách xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, xã an toàn khu vài diện đầu tư của Chương trình 135 giai đoạn 2017 -2020” là quyết định mới, có hiệu lực kể từ ngày ký ban hành.

Theo đó, xã Phước Vinh (Châu Thành, Tây Ninh) thuộc diện được đầu tư của Chương trình 135 giai đoạn 2017 - 2020. Do đó, nếu các bạn đang là giáo viên dạy học tại xã này sẽ được hưởng các chế độ chính sách theo Nghị định số: 116/2010/NĐ-CP ngày 24/12/2010 của Chính phủ, trong đó có chế độ phụ cấp thu hút.

 

Sỹ Điền

3.

GD&TĐ - Hỏi: Trường chúng tôi là trường THPT đóng chân trên địa bàn xã đặc biệt khó khăn theo Quyết định số: 900/QĐ-TTg. Vậy giáo viên dạy ở trường đó có được hưởng chế độ ưu đãi vùng đặc biệt khó khăn không? - Bùi Quang Thiện (mualu2008@gmail.com).

* Trả lời:

Theo Điều 2 Nghị định số: 116/2010/NĐ-CP ngày 24/12/2010 của Chính phủ, quy định: Cán bộ, công chức, viên chức và người hưởng lương trong lực lượng vũ trang quy định tại khoản 1 Điều 1 Nghị định này công tác ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, bao gồm:

- Cán bộ, công chức, viên chức và người làm việc theo chế độ hợp đồng lao động, kể cả người tập sự, thử việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị sự nghiệp của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội từ Trung ương đến xã, phường, thị trấn;

- Sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sỹ quan chuyên môn kỹ thuật và người hưởng lương từ ngân sách nhà nước, kể cả người làm việc theo chế độ hợp đồng lao động trong quân đội nhân dân và công an nhân dân;

- Các đối tượng quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này công tác ở các xã không thuộc diện đặc biệt khó khăn thuộc các huyện nghèo theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP ngày 27/12/2008 của Chính phủ được áp dụng chính sách quy định tại Nghị định này.

Đối tượng quy định tại khoản 1, khoản 2 và khoản 3 Điều này bao gồm người đang công tác và người đến công tác ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn sau ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành.

Như vậy, nếu trường học các bạn đang công tác nằm trên vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn được nhà nước công nhận thì các bạn hoàn toàn đủ điều kiện được hưởng chế độ chính sách theo quy định hiện hành.

Lưu ý: Cán bộ, công chức, viên chức và người hưởng lương trong lực lượng vũ trang thuộc đối tượng áp dụng của chính sách quy định tại Nghị định này, đồng thời thuộc đối tượng áp dụng của chính sách cùng loại quy định tại văn bản quy phạm pháp luật khác thì chỉ được hưởng một mức cao nhất của chính sách đó (theo Điều 3 Nghị định số: 116/2010/NĐ-CP).

Sỹ Điền




Thứ ba (25/07/2017)
[1]



Tải tại web vndoc hoặc tải  tại đây


[2]


Thứ hai (24/07/2017)
[]

........

Tải tại web vndoc hoặc tải  tại đây
[2]












Lịch Google