PHÁT HIỆN HỆ THỐNG DI TÍCH KHẢO CỔ TIỀN SỬ TRONG HANG ĐỘNG NÚI LỬA Ở KRÔNG NÔ, TỈNH ĐẮK NÔNG

đăng 09:48, 27 thg 10, 2017 bởi Điều Nguyễn Xuân

TS. La Thế Phúc(1), PGS.TS. Nguyễn Khắc Sử(2), ThS. Vũ Tiến Đức(3); CN. Lương Thị Tuất(1), CN. Phan Thanh Toàn(2), CN. Nguyễn Thanh Tùng(4), PGS.TS. Nguyễn Trung Minh(1).

(1)Bảo tàng Thiên nhiên VN, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam; (2)Viện Khảo cổ học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam; (3)Viện Khoa học Xã hội vùng Tây Nguyên, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam; (4)Công ty Phú Gia Phát.

Tóm tắt: Tính tới năm 2016, các nhà khảo cổ học Việt Nam đã phát hiện trong khu vực Công viên Địa chất Núi lửa Krông Nô có tới 12 di chỉ khảo cổ, hầu hết phân bố trên các gò đồi, nương rẫy hoặc ven sông suối, mà chưa hề được phát hiện trong các hang động núi lửa. Kết quả khai quật và nghiên cứu 12 di chỉ khảo cổ nêu trên cho thấy chúng là dấu tích văn hóa của cư dân Thời đại Đá mới và Sơ kỳ Kim khí, có tuổi từ 6.000 đến 3.000 năm cách ngày nay. Vào tháng 1/2017, đoàn khảo sát thực địa do Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam chủ trì đã phát hiện được các di tích và di vật khảo cổ với mật độ khá dày đặc trong các hang động núi lửa ở khu vực Krông Nô. Các di vật khảo cổ vừa được phát hiện gồm: công cụ đá, mảnh tước, phiến tước; hòn ghè, hòn kê, chày nghiền, mảnh gốm, xương động vật... . Phát hiện khảo cổ mới này đang được triển khai nghiên cứu chi tiết để bổ sung một loại hình cư trú mới, một hướng thích ứng mới của cư dân tiền sử ở vùng đất đỏ basalt Tây Nguyên và mở ra một hướng nghiên cứu mới về khảo cổ học hang động núi lửa ở Việt Nam và khu vực Đông Nam Á.

1. MỞ ĐẦU

Công viên Địa chất Núi lửa Krông Nô (Krongno Volcano Geopark - viết tắt KVG) không chỉ chứa đựng những giá trị khoa học quan trọng về địa chất, mà còn có cả những giá trị độc đáo về văn hoá, sinh thái và khảo cổ học, đáp ứng các tiêu chí của một công viên địa chất (CVĐC) toàn cầu mà UNESCO đề xuất [9].Vùng đề cử của KVG có diện tích khoảng 2.000 km2, gồm toàn bộ diện tích các huyện Krông Nô, Cư Jút, Đắk Mil và một số xã lân cận thuộc các huyện Đắk Song và Đắk Glong.

Trong quá trình triển khai Đề tài KHCN “Nghiên cứu, điều tra đánh giá di sản địa chất, xây dựng Công viên địa chất khu vực Krông Nô, tỉnh Đăk Nông”, một số những câu hỏi được đặt ra trong lĩnh vực nghiên cứu di sản văn hóa là giá trị nổi bật về khảo cổ học trong khu vực KVG là gì? Người tiền sử đã ứng xử như thế nào để sống thích ứng với những biến động của cảnh quan và môi trường sinh thái qua hàng nghìn năm? Và cách mà họ đã khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên tại chỗ ra sao để đáp ứng những nhu cầu của cuộc sống? v.v. Để trả lời những câu hỏi đó, vào tháng 1/2017, Đoàn khảo sát thực địa do Bảo tàng Thiên nhiên, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam chủ trì bao gồm các nhà nghiên cứu về địa chất, địa văn hóa và khảo cổ đã tiến hành thẩm định lại các di tích cũ, điều tra phát hiện mới một số di tích khảo cổ trong hang động trên địa bàn huyện Krông Nô. Cuộc khảo sát đem lại những kết quả hết sức bất ngờ.

Các tài liệu khảo cổ cho thấy, trước năm 2017, trên địa bàn tỉnh Đắk Nông, các nhà khảo cổ học đã phát hiện hơn 30 địa điểm khảo cổ [6;10], đều là di tích ngoài trời, chưa biết đến di tích hang động nào. Trong phạm vi KVG cũng đã thu thập dấu tích khảo cổ ở 12 địa điểm, đó là: Trung Sơn, Thác Lào, Suối Tre, Thôn Sáu, Thôn Bảy và Thôn Tám (huyện Cư Jút), Cánh Nam, Nam Xuân (huyện Krông Nô), Trường Xuân, Đăk Tơn (huyện Đăk Song), Đăk R’la, Đăk Lao (huyện Đăk Mil). Trong đó, di chỉ Thôn Tám, xã Đăk Wil, huyện Cư Jut đã được khai quật 2 lần vào các năm 2006 và 2013. Kết quả nghiên cứu bước dầu về các di tích khảo cổ này ghi nhận chúng là dấu tích văn hóa của cư dân Thời đại Đá mới và Sơ kỳ Kim khí, có tuổi từ 6.000 đến 3.000 năm cách ngày nay (CNN) [2, 3, 5, 6, 8, 10].

2. DI TÍCH KHẢO CỔ TRONG HANG ĐỘNG NÚI LỬA KVG

2.1. Sơ lược đặc điểm địa chất khu vực phân bố hang động núi lửa

Các thành tạo địa chất lộ trên bề mặt khu vực phân bố hang động có đặc điểm địa chất tương đối đơn giản, gồm hệ tầng La Ngà, hệ tầng Xuân Lộc và các thành tạo bở rời Đệ tứ (Hình 1).

Hình 1. Sơ đồ phân bố các hang động núi lửa khu vực Krông Nô.

* Hệ tầng La Ngà (J2 ln): phân bố với diện rộng chủ yếu ở phía tây khu vực hang động (Hình 1), thành phần chủ yếu là trầm tích lục nguyên và được chia thành 3 tập. Tập 1: bột kết màu xám bị phong hoá vỡ vụn cho màu xám vàng; sét kết màu đen, mặt lớp láng bóng, xen kẽ với các lớp mỏng cát kết màu vàng; cát bột kết màu xám đen, chiều dày khoảng 250 - 300 m. Tập 2: bột kết màu đen, phân lớp mỏng, mặt lớp có nhiều tinh thể pyrit tự hình xen với đá phiến sét và các lớp mỏng cát kết có những vẩy mica trắng; chiều dày 100 m. Tập 3: cát kết hạt vừa đến mịn màu xám, xám nhạt, xám vàng xen cát bột kết màu xám, xám vàng, bột kết và ít lớp mỏng sét kết; chiều dày 350 - 400 m [4].

* Hệ tầng Xuân Lộc (β/Q12 xl): phân bố với diện rộng ở phần trung tâm trong hình 1, thành phần chủ yếu là các sản phẩm phun trào basalt và được chia thành 3 tập. Tập 1: tro núi lửa màu xám nâu đến đen, đôi nơi có tuf xen với các lớp basalt lỗ hổng màu xám; chiều dày khoảng 35m. Tập 2: basalt thực thụ gồm basalt olivin, basalt dolerit màu xám sẫm, plagiobasalt, cấu tạo khối khá đồng nhất; chiều dày khoảng 45 - 50 m. Tập 3: ngoài dung nham phun trào còn có dung nham phun nổ, phun nghẹn với thành phần chủ yếu là basalt olivin màu đen, lục xám. Đá có cấu tạo đặc xít xen lỗ hổng, bọt, bom núi lửa, dăm núi lửa; chiều dày khoảng 45 - 51 m [4].

* Các thành tạo bở rời hệ Đệ tứ không phân chia (Q): phân bố với diện rộng ở phần phía đông khu vực hang động (Hình 1), thành phần chủ yếu là sét cát, sét bột màu loang lổ và kết vón laterit, phân bố dưới dạng các tích tụ bở rời ở các phần thấp địa hình, tạo thành thềm bậc I ven sông Sêrêpôk, có độ cao từ 3 - 6m; chiều dày khoảng 5 - 6 m [4].

* Khoáng sản: ở khu vực nghiên cứu chủ yếu là puzơlan liên quan đến basalt hệ tầng Xuân Lộc ở xã Buôn Choáh, Krông nô. Ngoài ra còn có đá basalt xây dựng, sét gạch ngói phân bố dọc thung lũng sông Sêrêpôk [4].

2.2. Sơ lược đặc điểm hang động liên quan tới di chỉ khảo cổ

Hệ thống hang động được phát hiện trong vùng nghiên cứu chủ yếu liên quan đến basalt của hệ tầng Xuân Lộc (Hình 1). Cho đến nay, các nhà địa chất mới chỉ phát hiện được một miệng núi lửa ở khu vực hang động là núi lửa Chư B'Luk (cao 601m so với mực nước biển, chiều sâu của họng ~63m), thuộc xã Buôn Choáh, huyện Krông Nô. Các hang động ở đây đều phân bố rải rác xung quanh miệng núi lửa này. Hầu hết các cửa hang hiện tại là cửa thứ sinh, kết quả của quá trình sập trần hang nên thường có dạng dạng vòm, trước cửa hang thường ngổn ngang những đống đá basalt đổ lở. Một số ít cửa hang nguyên sinh, được hình thành do thoát khí trong quá trình dòng dung nham basalt nóng chảy chuyển dần sang đông kết. Các cửa hang kiểu này thường có hình tròn, dốc đứng với độ sâu lớn (hang C7 có độ sâu >10m, hang "Trăn" sâu ~ 25m, hang P9 sâu ~53m v.v.). Hiện tại, chúng tôi chỉ mới phát hiện các di chỉ khảo cổ liên quan tới các hang động có cửa thứ sinh, đặc biệt các hang thứ sinh có nền hang ở gần cửa rộng rãi, dễ tiếp cận, ánh sáng tốt và thông thoáng, phân bố gần sông, suối là những hang phát hiện được nhiều hiện vật khảo cổ hơn cả. Ngược lại, các hang thiếu sáng, không thoáng khí, cửa hẹp, ra vào khó là những hang chưa tìm thấy hiện vật khảo cổ.

2.3. Kết quả khảo sát khảo cổ ở KVG

* Khảo sát di tích Thôn Tám

Di tích Thôn Tám, xã Đăk Will, huyện Chư Jút, tỉnh Đắk Nông được khai quật lần đầu vào năm 2006 với diện tích 52m2 và vào năm 2013 với diện tích 37,5m2. Di chỉ có tọa độ 120 42’31,3’’vĩ độ bắc và 1070 48’25,9’’ kinh độ đông, cao 382m so với mực nước biển. Cả hai lần đều cho kết quả như nhau. Các vết tích văn hóa của con người như công cụ lao động bằng đá, các phác vật công cụ, mảnh tước, đá nguyên liệu và đồ gốm nằm trong địa tầng dày trung bình 50cm, cấu tạo từ đất đỏ basalt. Trong đó chưa tìm thấy dấu tích kiến trúc nơi ở, xương cốt động vật, than tro. Kết quả nghiên cứu khảo cổ học cho thấy, Thôn Tám là di chỉ xưởng chế tác rìu đá, có niên đại Đá mới giữa (khoảng 5.000 CNN) [2, 3, 10]. 

Đoàn đã khảo sát xung quanh di tích Thôn Tám (xã Đăk Will, huyện Chư Jút) ở  độ cao tuyệt đối 335m đã phát hiện 15 đồi gò khác, hiện trồng tiêu hoặc cây công nghiệp. Bao quanh các gò này là các vùng trũng có nước. Trên mặt một số đồi gò này, chúng tôi đã thu thập được phác vật rìu đá, mảnh tước và đá nguyên liệu. Chúng tôi cũng cho rằng, đây là khu vực tập trung cao các di tích của cư dân tiền sử, có niên đại Đá mới ở Tây Nguyên với đặc trưng nổi bật là sự hiện diện của rìu hình bầu dục, rìu ngắn, nạo hình đĩa, ghè một mặt hoặc hai mặt và có mặt rìu chỉ mài ở rìa lưỡi, mang yếu tố kỹ thuật chế tác rìu đá của cư dân sơ kỳ Đá mới Hòa Bình nổi tiếng ở Việt Nam và Đông Nam Á.

* Khảo sát các di tích hang động

-  Hang C1 - Ảnh 2. (Điểm khảo sát: KVG107, ký hiệu trong máy định vị GPS: 083)

Hang cách đường mòn khoảng 300m, lối vào hang dễ dàng. Cửa hang quay hướng đông 900, có hình gần tam giác cân (Ảnh 2), đáy nền cửa hang rộng 3,5 - 4m, trần hang cao khoảng 3m, hang dài > 100m. Cửa hang C1 được hình thành do cơ chế sập trần tại nơi có lớp phủ trần hang mỏng và yếu. Nền hang ở phần giữa, khu vực gần cửa có gờ đá basalt nổi cao cùng với bề mặt xù xì bởi các nhũ đá dung nham rắn chắc, có hình dạng giống hình một con cá sấu kích thước lớn, trong tư thế nằm, quay đầu về phía cửa hang (Ảnh 3). Trên mặt nền hang thu lượm được một số mảnh gốm đất nung (pottery), xương gốm được làm từ sét pha cát mịn, có màu đỏ, độ nung thấp, một số mảnh gốm có hoa văn chấm dải. Ngoài ra, trong hang còn thu được các hòn thạch anh góc cạnh có kích thước từ 2 - 4cm Đây là đá phế thải của người tiền sử khi ghè đẽo “công cụ đá quartz” hay là những mảnh vỡ từ những viên đạn bắn dơi bằng súng cao su tự chế của người dân địa phương hiện tại vẫn đang còn là dấu hỏi. Trong hang thu được một số đoạn xương chi có vết thổ hoàng, có thể là xương người (?).

Từ cửa hang C1 đi tiếp theo hướng đông 1000, thực chất là đoạn hang đã bị sập trần tạo nên hang có hai cửa. Gần cửa phía đông có một giếng trời, đường kính khoảng 1,7m. Đoạn hang này dài 17 - 20m vẫn phát triển theo hướng á vĩ tuyến. Đặc biệt, trên tường hang phía nam còn lưu lại một khuôn cây, đường kính ngoài khoảng 10cm, dài trên 5m.

Ở chân vách phía bắc của đoạn hang C1 - 1 đã phát hiện một rãnh đất màu đen, trong chứa nhiều mảnh gốm, xương gốm dày 2 - 3mm, một số mảnh có hoa văn khắc vạch. Ngoài ra còn thu được một số vỏ ốc núi, trong đó có loài Cycloporus sp.

  -  Hang C3 (Điểm khảo sát: KVG108, ký hiệu trong máy định vị GPS: C3)

Hang C3 dài 594,4m [1]; cách hang C1 khoảng 1 km về phía đông - đông nam, cửa hướng đông 1100. Cửa hang bị sập, có độ cao hạ thấp so với bề mặt địa hình chung khoảng 4,5 - 5m. Cửa hang rộng 20m, cao khoảng 1,5m. Trên mặt cửa hang là các khối đá basalt chất ngổn ngang do sập trần. Lớp phủ trần hang hiện tại dày khoảng 3 - 5m. Trên vách trái cửa hang là một khuôn cây lớn có đường kính khoảng 40cm. Nền hang có nhiều tảng đá kích thước lớn hàng m3 đổ ngổn ngang. Hang C3 hiện trạng là không thích hợp làm nơi cư trú hoặc nếu đã từng là nơi cư trú của người Tiền sử thì dấu vết của họ nay cũng đã bị vùi lấp dưới các đống đổ lở do sập trần hang. Khu vực hang chưa phát hiện di vật khảo cổ.

 -  Hang C4 (Điểm khảo sát: KVG109, ký hiệu trong máy định vị GPS: C4):

Hang C4 dài 251m [1]; cách hang C3 khoảng 300 - 400m về phía đông nam. Cửa hang là một vùng trũng sâu 5 - 8m do sập trần hang, có hình vòm (bán nguyệt), hướng nam 1900. Trần hang cao 4,5 - 5m, lòng hang rộng 12 - 15m. Nền hang khá bằng phẳng, phía cửa thấp, phủ lớp đất ẩm lẫn các cục đá basalt kích thước từ 10cm - 40cm. Khu vực phía trong hang cao dần và lộ rõ nền đá gốc do dung nham basalt đông kết (Ảnh 4). Lòng hang gần cửa dài 40m, sau đó hang chuyển hướng quẹo sang trái ăn sâu vào trong. Cửa hang cũng có một khối đá basalt lớn khoảng 1,5m3 là sản phẩm rơi xuống từ trần hang. Gần cửa hang đã phát hiện nhiều di vật khảo cổ như cuội nguyên liệu, rìu, mảnh tước, hòn kê bằng cuội được lấy từ sông, một mảnh opal - canchedon; xương răng động vật, thổ hoàng có vết răng của loài gặm nhấm. Gốm thô, xương gốm dày 2 - 3mm, trang trí hoa văn giống gốm thời Đá mới ở vùng này, có niên đại khoảng 4.000 - 5.000 năm cách ngày nay (Ảnh 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10).  

 -  Điểm khảo sát bổ sung khu vực hang C4 - 1 (Điểm khảo sát: KVG109/1).

Từ hang C4 nhìn về phía nam - đông nam, qua một vùng trũng do sập trần là hai nhánh hang ngắn nằm song song với nhau. Mỗi nhánh dài gần 100m và có hai cửa ở hai đầu (do sập trần hang). Hai cửa phía tây bắc (mỗi nhánh một cửa) nhìn về hướng 3300 (tây bắc), quay về phía cửa hang C4. Đây là hai nhánh hang có kích thước tương đương nhau, có lẽ được tách ra từ một nhánh hang chính là hang C4. Tiết diện của mỗi nhánh hang đều có hình elip dẹt, với chiều cao hang khoảng 12m, chiều rộng khoảng 15 - 20m. Cửa phía nam của nhánh hang phía đông có đống khối tảng basalt lớn do sập trần tạo nên. Tường hang tại cửa phía bắc của nhánh hang phía đông cấu tạo bởi basalt dạng bọt có độ rỗng khá lớn, có lớp thủy tinh núi lửa mỏng bao bọc phía ngoài. Trên nền nhánh hang phía tây có dấu vết khảo cổ là các mảnh vỡ cuội sông, đá có vết ghè (đá nguyên liệu) của người tiền sử.

 -  Hang C6 (Điểm khảo sát: KVG117, ký hiệu trong máy định vị GPS: 091):

Hang C6 dài 180.3m [1], cách hang C4 khoảng 200m về phía đông, cửa hướng đông nam 1400. Lòng hang từ cửa vào trong theo hướng đông nam - tây bắc. Phần cuối phía tây bắc của hang có một giếng trời (đường kính 2m). Lớp phủ trần hang khá chắc, dày 5 - 8m ở phía trên cửa hang và mỏng dần vào trong. Từ khu vực giếng trời phát triển một nhánh hang ăn thông về phía đông bắc, sau đó bẻ quặt về phía nam theo hình khuỷu tay để kết nối trở lại với nhánh chính của hang. Nền hang nhánh phụ cao hơn nhánh chính và tương đối bằng phẳng, có thể làm nơi sinh hoạt, kín và thoáng khí nhờ giếng trời ở cuối hang. Nền hang nhánh chính khá bằng phẳng, ngoại trừ một số hòn đá basalt đổ lở rải rác trên nền. Nhìn chung, hang C6 khá thuận lợi cho cư trú của người tiền sử. Trong hang đã phát hiện khá nhiều di vật khảo cổ như: phác vật rìu đá, mảnh tước đá basalt, thổ hoàng, cuội sỏi, cùng mảnh gốm thành dày 1,5 - 2mm, mặt ngoài để trơn hoặc trang trí hoa văn vặn thừng (Ảnh 11, 12, 13).

 -  Hang C6’ (Điểm khảo sát: KVG118, ký hiệu trong máy định vị GPS: 092)

Hang C6' cách hang C6 khoảng 200 - 300m về phía nam đông nam. Cửa hang có dạng vòm cao >10m (Ảnh 14). Lòng hang C6’ có hình elip, rộng ~15m và cao ~13m. Ban đầu, có thể hang C6 cà C6' cùng là 1 hang, nhưng do sập trần nên đã tạo ra những đoạn hang như C6, C6’. Nền hang C6’ khá bằng phẳng, hai bên vách hang có những “đê” dung nham. Quan sát trong hang thấy có những rãnh xước thể hiện hướng chảy của dòng dung nham trên tường hang C6’. Những rãnh xước này không phải là những rãnh xước nằm ngang, mà có chiều thẳng đứng hoặc rối, hoặc những nhũ đá định hướng kiểu trọng lực trên tường hang. Đây có thể là kết quả của những dòng dung nham chảy rối, chảy xoắn theo cơ chế trọng lực bám dọc theo tường hang trong quá trình hình thành hang động núi lửa của hang C6’. Tại khu vực phía trong, gần cửa hang đã thu thập được 13 di vật đá, 27 mảnh gốm và một số mảnh xương, răng động vật. Về loại hình đồ đá có: 3 mảnh đá nguyên liệu, vốn là cuội sông, suối có lẽ từ sông Sê rê pốk; chất liệu đá sét kết, thạch anh và đá sét bột kết bị sừng hóa; 6 mảnh tước ban đầu và mảnh tước thứ, tách ra từ đá sét, sét bột kết hạt mịn, kích thước dưới 7cm; 4 rìu đá, ghè một mặt, trong đó 2 chiếc làm từ đá basalt, 2 chiếc làm từ đá cát bột kết bị biến chất rắn chắc dạng quartzit (Ảnh 15, 16, 17, 18, 20).

Đồ gốm đất sét, pha cát, hạt thô; một số mảnh bị bong tróc lớp áo gốm. Mặt ngoài trang trí hoa văn khắc vạch, khắc vạch kết hợp trổ lỗ. Về loại hình có 2 mảnh miệng nổi, loại miệng loe, thành miệng dày; loại vê tròn, không có thành miệng; một mảnh miệng có trang trí hoa văn khắc vạch kết hợp trổ lỗ, thành dày: 0,4 - 0,6cm (Ảnh 19).

-  Hang C6.1 (Điểm khảo sát: KVG120 )

Hang C6.1 dài ~293m [1], cách hang C6 khoảng 270m về phía nam - đông nam. Khu vực là một vùng trũng sụt rất lớn, xung quanh phân bố 3 cửa hang:

+ Cửa 1: quay về phía bắc 100, ở cửa hang phát hiện được 2 mảnh gốm;

+ Cửa 2: quay về phía đông 1000. Tại đây, dân địa phương vào khai thác phân dơi, làm bật lên một số di vật khảo cổ.

+ Cửa 3: quayvề phía Nam 1600. Cũng như cửa 2, ở đây dân địa phương đào nền hang, lấy phân dơi và làm bật lên nhiều di vật khảo cổ, gồm: công cụ lao động – rìu bầu dục, rìu bầu dục mài lưỡi, rìu ngăn mài lưỡi (Ảnh 21, 22, 23), mảnh tước và đồ gốm, giống gốm ở hang C4.

3. MỘT VÀI NHẬN XÉT BAN ĐẦU

- Trong khuôn viên KVG có khá nhiều điểm khảo cổ. Riêng trong hệ thống hang động núi lửa cũng có nhiều hang chứa di chỉ khảo cổ. Bước đầu khảo sát ở khu vực các hang từ C1 đến C6.1 của KVG, chúng tôi đã phát hiện những di tích khảo cổ thời tiền sử, minh chứng cho vết tích cư trú, chế tác công cụ của người thời nguyên thủy trong các hang động núi lửa. Đây chính là những phát hiện khảo cổ học hang động núi lửa tiền sử đầu tiên ở Việt Nam;

- Đối với KVG nói riêng và vùng đất đỏ basalt Tây Nguyên nói chung, hệ thống các hang động núi lửa có ý nghĩa quan trọng đối với cư dân tiền sử, nhất là khi trình độ kỹ thuật của họ còn thấp. Những hang động ở KVG mà chúng tôi đã tiếp cận và khảo sát có diện tích nền hang khá rộng, nền hang tương đối bằng phẳng, thông thoáng, nhiều hang có cửa quay về hướng đông, đông nam hoặc chính nam nên tiếp thu được nhiều ánh sáng mặt trời, cửa hang tiếp cần khá dễ dàng, phân bố ở gần nguồn nước sinh hoạt là những tiền đề lý tưởng cho những người “huyệt cư”. Kết quả khảo sát và nghiên cứu cho thấy cư dân cổ đã cư trú trong hang động núi lửa và dưới các mái đá. Tại đấy, họ chế tác công cụ lao động bằng đá và sản xuất đồ gốm với trình độ khá cao;

- Trong việc chế tác công cụ đá, họ đã biết lựa chọn một số viên cuội sông, suối với chất liệu cứng và độ dẻo cao để chế tác công cụ như đá chert, đá phiến silic, quartzit, thạch anh v.v. Họ sử dụng kỹ thuật ghè đá, ghè trực tiếp trên một hoặc 2 mặt để tạo ra rìa lưỡi công cụ. Đôi khi họ sử dụng kỹ thuật bổ, tách đá lấy mảnh tước, từ mảnh tước chế tạo ra công cụ. Bên cạnh kỹ thuật ghè lớn, họ đã sử dụng kỹ thuật ghè nhỏ, tu chỉnh cho rìa lưỡi công cụ đỡ zích zắc, một số công cụ đã được mài rìa lưỡi;

Về loại hình, cư dân cổ ở đây đã chế tạo ra một số công cụ khá định hình, đó là những chiếc rìu hình bầu dục hoặc gần hình chữ nhật, những công cụ hình gần tròn, những công cụ mảnh tước, phiến tước; những hòn ghè, hòn kê, chày nghiền...  Đây là những công cụ thường gặp trong các bộ lạc ở trình độ Thời đại Đá mới. Bằng thực nghiệm va quan sát dân tộc học so sánh, các nhà khảo cổ cho biết, những công cụ này có thể sử dụng vào việc chặt cây, phát rừng, xẻ thịt thú rừng, cắt thái các loài thảo mộc, chế biến thực phẩm hoặc gia công tre gỗ làm công cụ và vũ khí săn bắt;

Đồ gốm phát hiện trong hang còn ít, nhưng cho thấy chúng được làm tại chỗ với kỹ thuật cao. Đó là gốm đất nung, làm từ đất sét pha cát, hạt nhỏ, nặn tay, loại hình đơn giản, chủ yếu là nồi và đồ đựng, xương gốm mỏng, một số có lớp áo phủ, một số trang trí văn đập, văn in ô vuông, văn khắc vạch, in chấm… Đây là những đồ gốm thường gặp trong các di tích Hậu kỳ Đá mới và Sơ kỳ Kim khí;

- Với loại hình công cụ bảo lưu kỹ thuật sau văn hoá Hòa Bình và đặc điểm đồ gốm, có thể ghi nhận ở trong các hang và dưới mái đá vùng KVG có nhiều lớp người kế tiếp nhau cư trú. Niên đại sớm nhất có thể từ Trung kỳ Đá mới, cách ngày nay khoảng 6.000 -  7.000 năm đến Thời đại Kim khí, cách ngày nay khoảng 2.000 - 3.000 năm, thậm chí cả những thế kỷ gần đây. Để làm sáng tỏ dự đoán này cần có các cuộc đào thám sát, khai quật, nghiên cứu địa tầng và làm một số phân tích, xét nghiệm bằng khoa học tự nhiên như bào tử phấn hoa, thành phần thạch học công cụ, thành phần gốm và niên đại tuyệt đối;

- Lần đầu tiên giới khoa học Việt Nam đã phát hiện ra các di tích cư trú của người tiền sử trong các hang động hoặc dưới mái đá núi lửa basalt, bổ sung thêm một loại hình cư trú mới, một hướng thích ứng mới của cư dân tiền sử ở vùng đất đỏ basalt Tây Nguyên Việt Nam; mở ra một hướng nghiên cứu mới về khảo cổ học hang động núi lửa ở Việt Nam và khu vực Đông Nam Á.

Tuy nhiên, đây mới chỉ là những phát hiện ban đầu, các nhà địa chất thuộc Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam và các nhà khảo cổ học ở Viện Khảo cổ học Việt Nam cần tiếp tục tìm kiếm, phát hiện mới các di tích hang động, tiến hành đào thám sát, tiến tới khai quật và nghiên cứu chuyên sâu có hệ thống các di tích này, góp phần nghiên cứu diễn trình lịch sử văn hóa các cộng đồng cư dân trên đất Đắk Nông nói riêng và Tây Nguyên nói chung, bổ sung một giá trị nổi bật về văn hóa lịch sử cư dân tiền sử trong khu vực KVG.

Để có những phát hiện mới này, Đoàn khảo sát thực địa xin trân trọng cám ơn các cấp Lãnh đạo: Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Đắk Nông, và Lãnh đạo tỉnh Đắk Nông đã đặc biệt quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi nhất về mọi mặt cho Đoàn triển khai nhiệm vụ nghiên cứu khoa học. Bài báo được hoàn thành trong quá trình thực hiện đề tài “Nghiên cứu, điều tra đánh giá di sản địa chất, xây dựng Công viên địa chất khu vực Krông Nô, tỉnh Đăk Nông”.

 


VĂN LIỆU

1.        La Thế Phúc, Hiroshi Tachihara, Tsutomu Honda, Trương Quang Quý, Lương Thị Tuất, 2015. Di sản địa chất hang động núi lửa độc đáo ở Đắk Nông đã được phát hiện và xác lập kỷ lục. Tạp chí Địa chất, loạt A, số 349, 1 - 2/2015, tr. 28 - 38.

2.        Lê Hải Đăng, nnk (2013). Kết quả sơ bộ khai quật lần thứ 2 di chỉ Thôn Támk Nông), trong Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 2013, tr. 103 - 105.

3.        Nguyễn Gia Đối, Lê Hải Đăng và nnk, 2006. Phát hiện di chỉ xưởng chế tác đồ đá ở Thôn Tám (Đăk Nông). Trong Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 2006. Nxb. Khoa học xã hội:

4.        Nguyễn Đức Thắng (Chủ biên), 1989. Địa chất và khoáng sản nhóm tờ Bến Khế -  Đồng Nai, tỷ lệ 1:200.000. Tổng cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam. Hà Nội.

5.        Nguyễn Khắc Sử (chủ biên), 2004. Khảo cổ học tiền sử Đắk Lắk. Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.

6.        Nguyễn Khắc Sử, 2007. Sách “Khảo cổ học tiền sử Tây Nguyên”. Nhà xuất bản giáo dục Hà Nội.

7.        Nguyễn Văn Trần, Hoàng Thu Nguyên, 2011. Phát hiện rìu đá Đắc Song (Đắc Nông). Trong Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 2009. Nxb. Khoa học xã hội: 96 - 97.

8.        Trương Quang Quảng và nnk, 2011. Về bộ cuốc đá mới phát hiện ở  Cư Jút (Đắc Nông). Trong Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 2010. Nxb. Khoa học xã hội: 97 - 98.

9.        UNESCO Division of Ecological and Earth Sciences, 2009. Global Geopark Network.

10.   Vũ Tiến Đức, 2015. Báo cáo đề tài khoa học cấp cơ sở Viện Khoa học xã hội Tây Nguyên “Điều tra nhóm di tích Khảo cổ học tiền sử xã Đắk Wil, huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông”.

 

Comments