ĐIỀU CHỈNH TRẺ TỰ KỶ,TĂNG ĐỘNG BẰNG "MŨ TỪ TRƯỜNG" SINH HỌC

đăng 11:28, 23 thg 5, 2017 bởi Điều Nguyễn Xuân   [ đã cập nhật 09:06, 17 thg 8, 2017 ]

(Phần 2)

     Để hiểu thêm về phương pháp điều chỉnh trẻ "Tự kỷ" bằng từ trường, chúng ta tìm hiểu sơ bộ về điện từ trường và tương tác Trường sinh học.

1. Điện trường 

     Là đại lượng vật lý có hướng, được biểu diễn thông qua vector cường độ điện trường (thường được ký hiệu là E). Cường độ điện trường trong không gian có thể được biểu diễn bằng các đường sức điện trường. Vector cường độ điện trường có phương trùng với phương tiếp tuyến của đường sức điện trường và có chiều trùng với chiều của đường sức điện trường. Tập hợp các đường sức cường độ điện trường gọi là điện phổ.

Cường độ điện trường gây ra bởi điện tích điểm được tính bằng công thức:

                                        Trong đó:

                                            *   q là độ lớn điện tich

                                       *   Ɛₒ là độ điện thẩm chân không

                                           *    Ɛ là hằng số điện môi của môi trường

                                           *    r là khoảng cách từ điện tích đến điểm ta xét

     Với cường độ điện trường này, một điện tích khác nằm trong nó sẽ chịu lực điện tỷ lệ với tích hai điện tích và tỷ lệ nghịch với bình phương khoảng cách. Đó chính là lực Coulomb.

     Để tính được điện trường do một vật mang điện gây ra, có thể chia nó ra thành nhiều vật nhỏ hơn. Nếu phép chia tiến đến một giới hạn nào đó, vật nhỏ mang điện sẽ trở thành một điện tích. Khi đó có thể áp dụng nguyên lý chồng chất cho điện trường (hay còn gọi là nguyên lý tác dụng độc lập).

     Cường độ điện trường tại một điểm trong điện trường do N điện tích điểm gây ra bằng tổng vectơ cường độ điện trường do từng điện tích điểm gây ra tại điểm đó.

 

2.Từ trường 

     Là môi trường vật chất đặc biệt sinh ra quanh các điện tích chuyển động hoặc do sự biến thiên của điện trường hoặc có nguồn gốc từ các mômen lưỡng cực từ như nam châm. Mỗi điểm trong từ trường được miêu tả bằng toán học thông qua hướng  độ lớn tại đó; từ trường được miêu tả bằng trường vector. Người ta hay sử dụng khái niệm lực Lorentz tác dụng lên một điện tích điểm chuyển động để định nghĩa từ trường. Ký hiệu từ trường  B hoặc H cho từng trường hợp cụ thể.


     Các hạt điện tích chuyển động hoặc mômen từ nội tại của các hạt cơ bản đi kèm với tính chất lượng tử căn bản là spin là nguyên nhân của từ trường. Trong thuyết tương đối hẹp, điện trường và từ trường là hai khía cạnh của cùng một thực thể, mô tả bằng tenxơ điện từ; tenxơ này trở thành điện trường hay từ trường phụ thuộc vào hệ quy chiếu tương đối giữa người quan sát và hạt điện tích. Trong vật lý lượng tử, trường điện từ bị lượng tử hóa và tương tác điện từ là kết quả của sự trao đổi các photon giữa các hạt cơ bản, như mô tả bởi điện động lực học lượng tử.

     Từ trường đã được ứng dụng từ thời cổ đại và có nhiều thiết bị ngày nay hoạt động dựa trên nó. Trong định vị hướng và vị trí, người ta sử dụng la bàn do Trái Đất sinh ra từ trường. Từ trường quay được áp dụng trong các động cơ điện hay máy phát điện. Thông qua hiệu ứng Hall lực từ cho biết thông tin về hạt tích điện trong vật liệu. Ngoài ra từ trường là cơ sở cho sự hoạt động của máy biến áp và các mạch từ.

 

3. Tương tác Trường sinh học

    Năng lượng sinh học của cơ thể sống là loại vật chất mịn. Tương tác "Trường NLSH" là tương tác của các hạt vi mô mịn. Người ta nhận thấy rằng tương tác loại vật chất này có tính tức thời, không tuân thủ các quy luật vật lý như truyền dẫn, tiêu hao, v.v.

    Tương tác "Trường NLSH" còn gọi là "Tương tác hào quang". Những hạt vi mô mịn đều tuân theo một quy luật quan hệ nằm ngoài tầm khống chế của không gian ba chiều và thời gian tuyến tính, do đó điều gì đã xảy ra đối với một hạt thì đồng thời ảnh hưởng lên các hạt khác; ảnh hưởng này có định hướng và mang thông tin.

 

4.  Sự khác nhau giữa tương tác vật lý và tương tác Trường NLSH

 

                   TƯƠNG TÁC                                                  TƯƠNG TÁC

                  TRƯỜNG ĐIỆN TỪ                                          HÀO QUANG

 

1.  - Lực tương tác tỷ lệ nghịch                     - Tương tác không phụ thuộc

       với bình phương khoảng cách.                       không gian và thời gian.

    

2.   -Tương tác lên vật có từ tính,                 - Tương tác lên bất kỳ vật gì,                                                                      

       vật dẫn điện...                                           đặc biệt có tác động mạnh

                                                                                   lên cơ  thế sống.

 

3.   - Khác dấu thì hút, cùng dấu thì đẩy.         - Giống nhau thì hút. Khác nhau 

                                                                                  thì chinh phục

 

4.   - Nguồn phát có thể                                    - Mọi nguồn phát đều

        không chứa thông tin.                                        chứa thông tin.

 

5.   - Quá trinh truyền dẫn bị tiêu hao.               - Rất ít bị tiêu hao khi truyền tải.

 

Tác dụng của tương tác hào quang:

                - Tạo khuôn mẫu cho cơ thể sống.

                - Hình thành tư tưởng, tình cảm.

                - Định hình thái hành đông.

                - Đồng hóa, cộng hưởng hào quang khác.

                - Phản ứng  và phòng vệ năng lượng.

 

5. Sử dụng "Mũ từ trường" trong điều chỉnh "Trẻ tự kỷ"

    Bộ não con người có cấu tạo tinh vi nhất trong vũ trụ này. Nó hoạt động giống như một nhà máy phát điện với các đường dẫn là các nơron thần kinh. Mọi tác động từ bên ngoài vào bộ não đều được biến thành các tín hiệu xung điện đặc biệt và truyền tải đến nơi cần thiết của các cơ phận trong cơ thể người.

    Mũ từ trường được thiết kế theo nguyên lý "đóng mạch từ" cho toàn bộ những vật mang từ tính được cấu tạo hình cầu như từ trường Trái đất. Đây là một thao tác mang "tính kỹ thuật" rất mới trong quá trình xếp sắp hơn một trăm các hình cầu đặt vào vị trí của mũ có liên quan tới hai bán cầu não, vùng LX6, vùng chẩm và vùng LX7. Từ thời cổ đại, người Ả rập, Trung Quốc, Ai cập, Do Thái, Bách Việt... đã từng dùng vật từ tính để chữa bệnh. Khi đeo trước trán một vật từ tính thì từ tính này sẽ ảnh hưởng đến từ tính của vùng gần tuyến Tùng, một tuyến tiết ra các hormon cần thiết cho cơ thể, trong đó có chất melatonin gây trạng thái an thần. Các nhà khoa học đã tìm thấy trong mô não, mô của một số tổ chức khác có các chất từ tính. Từ tính ấy trong cơ thể có thể làm ảnh hưởng đến các đám sắt từ ở gần và ngược lại.

    Thế kỷ XV, Paracelus- một người khá am hiểu về các dòng năng lượng trong cơ thể đã chỉ ra rằng: Từ trường có thể tiếp sinh lực cho người bệnh và thúc đẩy quá trình lành bệnh. Đến thế kỉ XVIII, Franz Anton Mesmer chịu sự ảnh hưởng của công trình nghiên cứu của Paracelus đã dùng nam châm và thôi miên để chữa một số bệnh. Tuy nhiên khi đó, cách chữa bệnh bằng thuốc đang chiếm vị trí độc tôn nên cách chữa của Franz Anton Mesmer bị rơi vào quên lãng. Đến thế kỷ XX (nhất là cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI) đã có những thí nghiệm ghi nhận về từ trường của con người, mối quan hệ của từ trường bên ngoài, từ trường bên trong cơ thể và bệnh tật. Không những thế, người ta còn đo được cường độ của các từ trường dù có lúc cường độ đó là cực nhỏ. Trực tiếp hay gián tiếp ảnh hưởng đến việc điều tiết các chất hướng sinh học như hormon và qua đó sẽ ảnh hưởng tới các quá trình do các hormon điều chỉnh. Làm thay đổi hoạt tính các enzym và qua đó ảnh hưởng tới các quá trình chuyển hóa do các enzym này xúc tác. Kích thích dòng năng lượng điện từ thông qua các đường kinh, huyệt châm cứu. Những tác động này sẽ giúp chữa hoặc hỗ trợ chữa bệnh. 

      Khi "Mũ từ trường" được đội vào đầu, các vòng từ trường sẽ tương tác với các điện tích ion của tế bào thần kinh và làm cân bằng động điện áp màng tế bào, quân bình Âm Dương, hoàn thiện khuôn mẫu năng lượng sinh học của hệ thồng thần kinh trung ương. Nguyên lý này dựa trên "Hiệu ứng Hall". Sự tác động của từ trường bên ngoài lên từ trường bên trong cơ thể có thể tạo ra các tác dụng không ngờ: Tăng cường lưu lượng dòng máu, mang thêm chất dinh dưỡng và ôxy đến nuôi dưỡng các tổ chức và mang ra khỏi tổ chức các chất cặn bã. Điều chỉnh dòng calci, từ đó làm ảnh hưởng đến nhiều quá trình sinh lý khác (như quá trình tạo xương, sự tăng giảm huyếp áp). Làm thay đổi tính chất acid hay kiềm của cơ thể sống và lập lại cân bằng vốn bị rối loạn khi suy yếu.

     Từ trường được sớm ứng dụng trong y học và phát triển nhanh chóng trên các lĩnh vực chẩn đoán, điều trị, dược học… mà thành tựu tiêu biểu là kỹ thuật ghi hình ảnh bằng cộng hưởng từ (Magnetic Resonance Imaging – MRI). Chữa bệnh bằng từ trường đã góp phần làm phong phú ngành vật lý trị liệu – phục hồi chức năng của con người.

      Cho đến bây giờ việc chữa bệnh bằng từ trường cũng chưa phổ biến bằng cách dùng thuốc, song nguyên lý khoa học của liệu pháp đã dần dần được xác định, tạo nên niềm tin và sự hấp dẫn. Chỉ tính riêng các nam châm từ chữa bệnh, doanh số bán hàng năm tại Mỹ cũng đã lên tới 2 tỷ USD. Nhưng điều quan trọng hơn doanh số là chính các nhà bảo hiểm đã chấp nhận thanh toán, đồng nghĩa với việc công nhận chúng như các liệu pháp truyền thống khác. 

 

    Trong giai đoạn thử nghiệm và ứng dụng, khi dùng "Mũ từ trường" cho những người bị căng thẳng thần kinh, đau đầu, huyết áp... thấy có kết quả rất tốt và có tác dụng rất nhanh chóng.


 photo M T trng.jpg



 photo IMG_5661.jpg



 photo IMG_5659.jpg

  
Thực nghiệm "Mũ từ trường"

 

     Bước vào thực hành, "Bộ môn hỗ trợ trẻ tự kỷ" đang có sự nỗ lực của các thành viên trong việc thực hiện giúp đỡ cho trẻ. Cần chú ý quan sát và lao động một cách nghiêm túc, trung thực với kết quả và thực hiện chính xác đối với kỹ thuật điều chỉnh. Đây là công việc thật sự mới mẻ, trước mắt luôn luôn có nhiều thử thách và còn nhiều khó khăn mà mỗi người cần tự nguyện vào cuộc và cùng nhau chung vai gánh vác với tinh thần đoàn kết chặt chẽ để người người được bộc lộ tấm lòng yêu thương đồng loại của riêng mình.

     Mọi thành công trong cuộc sống đều phải có sự góp sức của từng giọt mồ hôi.

     Thận trọng, kiên trì, trung thực là đức tính của những người làm khoa học.

    "Mỗi người đều có một bộ mặt biết ngẩng lên để nhìn trời cao"!

 

                                                                                                                                   Hà nội, 1h29' 24.V,2017

Comments