Trao đổi kiến thức

  • NGÀY NHÀ GIÁO VIỆT NAM NHẮC TỚI TRẺ TỰ KỶ TĂNG ĐỘNG     Tự kỷ là một loại khuyết tật phát triển suốt đời được thể hiện trong vòng 3 năm đầu đời. Tự kỷ là do rô ...
    Được đăng 09:04, 17 thg 11, 2017 bởi Điều Nguyễn Xuân
  • THIẾT BỊ ĐO NĂNG LƯỢNG CƠ THỂ NGƯỜI     Cách đây vài năm, Nhóm nhà khoa học thuộc Trung tâm nghiên cứu và sản xuất vật liệu kim loại, thuộc Viện Khoa học và Công nghệ mỏ - Luyện kim ...
    Được đăng 09:46, 14 thg 11, 2017 bởi Điều Nguyễn Xuân
  • PHÁT HIỆN HỆ THỐNG DI TÍCH KHẢO CỔ TIỀN SỬ TRONG HANG ĐỘNG NÚI LỬA Ở KRÔNG NÔ, TỈNH ĐẮK NÔNG TS. La Thế Phúc(1), PGS.TS. Nguyễn Khắc Sử(2), ThS. Vũ Tiến Đức(3); CN. Lương Thị Tuất(1), CN. Phan Thanh Toàn(2), CN. Nguyễn Thanh Tùng ...
    Được đăng 09:48, 27 thg 10, 2017 bởi Điều Nguyễn Xuân
  • VỀ OSHO                                                                                                                 Đàm Thanh Giang     Gần 20 năm trước tôi đọc Osho khá nhiều, giúp tôi phần nào cách nhìn, hiểu các vấn đề nhất nguyên bằng ngôn từ là sản phẩm ...
    Được đăng 19:18, 10 thg 9, 2017 bởi Điều Nguyễn Xuân
  • CHUYỆN BẠN TÔI                                                                                         TS Nguyễn Bá Hương BGBấy lâu nay, cứ đến ngày 8/3, 30/4. 2/9...là những ngày được ghi dấu trên lịch, tôi lại nhớ tới một ...
    Được đăng 09:29, 6 thg 9, 2017 bởi Điều Nguyễn Xuân
  • HAI PHẠM TRÙ THÔNG MINH VÀ TRÍ HUỆ                                                                                                  Đàm Thanh Giang     Thông minh là năng lực của con người, còn trí huệ là cảnh giới của tâm. Bề ngoài nhiều khi ta lẫn rằng là một. Kỳ thực ...
    Được đăng 18:52, 5 thg 9, 2017 bởi Điều Nguyễn Xuân
  • ĐIỀU CHỈNH TRẺ TỰ KỶ,TĂNG ĐỘNG BẰNG "MŨ TỪ TRƯỜNG" SINH HỌC (Phần 2)      Để hiểu thêm về phương pháp điều chỉnh trẻ "Tự kỷ" bằng từ trường, chúng ta tìm hiểu sơ bộ về điện từ trường và tương tác Trường ...
    Được đăng 09:06, 17 thg 8, 2017 bởi Điều Nguyễn Xuân
  • Trẻ "Tự kỷ, tăng động" điều chỉnh bằng từ trường (Phần 1)I. Từ trường     Để hiểu về từ trường, ta cần hiểu về một vật liệu mang từ tính là “Nam châm”.     “Nam châm” là vật được cấu tạo ...
    Được đăng 01:38, 21 thg 7, 2017 bởi Điều Nguyễn Xuân
  • BA KHÍ CHẤT GIÚP GIA ĐÌNH HƯNG THỊNH CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ Đàm Thanh GiangNgười phụ nữ là phúc khí quyết định sự thịnh suy của một gia đình. Dù người phụ nữ có đẹp đến mấy rồi cũng có ngày ...
    Được đăng 11:42, 23 thg 5, 2017 bởi Điều Nguyễn Xuân
Hiển thị bài đăng 1 - 9trong tổng số 80. Xem nội dung khác »



Bài đã đăng

NGÀY NHÀ GIÁO VIỆT NAM NHẮC TỚI TRẺ TỰ KỶ TĂNG ĐỘNG

đăng 09:04, 17 thg 11, 2017 bởi Điều Nguyễn Xuân

    Tự kỷ là một loại khuyết tật phát triển suốt đời được thể hiện trong vòng 3 năm đầu đời. Tự kỷ là do rối loạn của hệ thần kinh gây ảnh hưởng đến hoạt động của não bộ. Tự kỷ có thể xảy ra ở bất kỳ cá nhân nào không phân biệt giới tính, chủng tộc, giàu nghèo và địa vị xã hội. Tự kỷ được biểu hiện ra ngoài bằng những khiếm khuyết về tương tác xã hội, khó khăn về giao tiếp ngôn ngữ và phi ngôn ngữ, và hành vi, sở thích và hoạt động mang tính hạn hẹp và lặp đi lặp lại.


    Trong vài thập kỷ gần đây các nghiên cứu cho thấy tỷ lệ mắc tự kỷ tăng nhanh chóng. Tỷ lệ mắc tự kỷ theo Baird và cộng sự (1999) là 3‰ ; theo số liệu của Trung tâm Kiểm soát và Phòng bệnh (CDC) năm 2009 tại Mỹ là 1/110 trẻ sơ sinh sống (6,6‰) . Nghiên cứu của Kim và cộng sự tại Hàn Quốc cho tỷ lệ hiện mắc tự kỷ là 1/38 trẻ (2,6%).


    Ở Việt Nam, hiện nay có khoảng 200.000 người có chứng tự kỷ và con số này vẫn tiếp tục tăng nhanh trong thời gian tới. Nếu tính theo cách tính của WHO, con số này chừng 500.000. Thực tế số lượng trẻ được chẩn đoán và điều trị ngày càng tăng từ năm 2000 đến nay. Hàng năm có trên 3.000 lượt trẻ bị bệnh bại não và tự kỷ đến điều trị tại khoa Nhi của Bệnh viện Bệnh viện Châm cứu Trung ương. Nghiên cứu mô hình tàn tật ở trẻ em của khoa Phục hồi Chức năng Bệnh viện Nhi Trung ương giai đoạn 2000-2007 cho thấy: số trẻ tự kỷ đến khám năm 2007 tăng gấp 50 lần so với năm 2000; số trẻ tự kỷ đến điều trị năm 2007 tăng gấp 33 lần so với năm 2000. Tỷ lệ trẻ tự kỷ đến khám và được chẩn đoán bệnh muộn tại Bệnh viện Nhi Trung ương còn cao (43,86% trên 36 tháng tuổi).

 
    Nhiều nghiên cứu trên thế giới cũng như ở Việt Nam, các đề tài mới chỉ đề cấp đến mô tả các hành vi ở trẻ tự kỷ, các phương pháp chăm sóc cũng như giáo dục trẻ tự kỷ. Ở Việt nam các nghiên cứu về đặc điểm lâm sàng của trẻ tự kỷ còn hạn chế, có một nghiên cứu đặc điểm lâm sàng của trẻ tự kỷ từ 18 tháng đến 36 tháng tuổi(Nguyễn Thị Hương Giang, Bệnh viện Nhi TW).


    Theo quan điểm của Bộ môn Trường sinh học thì nguyên nhân trẻ (đa số là bé trai) bị "Tự kỷ tăng động" là do "Năng lượng lạ" xâm nhập vào hạch thần kinh vùng bán cầu não bên trái, còn bé gái thì ở bán cầu não phải. Tại các vùng này, tế bào thần kinh luôn bị các xung "Năng lượng lạ" gây hấn, làm "nhòe và gây rối loạn" các vùng thần kinh tiếng nói, hệ vận động... Kết quả là làm mất cân bằng động điện áp màng tế bào thần kinh, gây ra trạng thái "Tự kỷ tăng động" của trẻ. 


    Ngày 02/4 được Liên Hợp Quốc chọn là "Ngày Thế giới nhận thức về chứng tự kỷ". Qua thông tin truyền thông về chứng tự kỷ cho thấy tỷ lệ mắc tự kỷ tăng nhanh chóng, Y học chưa xác định được nguyên nhân, chưa có thuốc điều trị đặc hiệu; các phương pháp hỗ trợ chứng tự kỷ chỉ dừng lại ở vật lý trị liệu, phục hồi chức năng, hoặc hướng chăm sóc,giáo dục cho trẻ tự kỷ. Các phương pháp trên phần nào đã đem lại một số kết quả nhất định.
Bộ môn "Trường sinh học dưỡng sinh" qua thực tế và trải nghiệm xác định nguyên nhân gây trạng thái "tăng động, tự kỷ" chủ yếu là do "năng lượng lạ" xâm nhập.


   


    Đứng trước vấn đề này, để giúp trẻ mắc trạng thái tự kỷ, tăng động và giúp cha mẹ trẻ có được môi trường sống tốt hơn trên cơ sở "NIỀM TIN VÀ TÌNH THƯƠNG". Nhóm "Hỗ trợ trẻ tự kỷ" được thành lập, trực thuộc Bộ môn "Trường sinh học dưỡn sinh" của Trung tâm UNESCO Văn hóa Gia đình và Dòng họ Việt Nam, sẽ bổ sung và phổ biến phương pháp điều chỉnh bằng năng lượng sinh học, bằng từ trường và "Mũ từ trường" cho trẻ tự kỷ.

                                                                                                                                                             Hà nội, 17.XI.2017

THIẾT BỊ ĐO NĂNG LƯỢNG CƠ THỂ NGƯỜI

đăng 09:46, 14 thg 11, 2017 bởi Điều Nguyễn Xuân

    Cách đây vài năm, Nhóm nhà khoa học thuộc Trung tâm nghiên cứu và sản xuất vật liệu kim loại, thuộc Viện Khoa học và Công nghệ mỏ - Luyện kim vừa chế tạo thành công “vật hình trụ bí ẩn”, được các Pharaoh Ai Cập cổ đại mang trên tay. Tên của “vật hình trụ bí ấn” là "Bộ nạp và điều hòa năng lượng sống".

    Kỹ sư Phạm Bá Kiêm, nguyên Giám đốc Trung tâm nghiên cứu và sản xuất vật liệu kim loại, là tác giả của “vật hình trụ bí ấn”. Ông Kiêm cho biết, qua đọc tài liệu và tranh vẽ, tượng về Ai Cập cổ đại, thấy các vị vua (Pharao) của xứ sở Kim Tự Tháp luôn nắm chặt trong mỗi tay một vật hình trụ kỳ lạ. Nhờ nắm hai vật hình trụ này mà tuổi thọ của các Pharao tăng gấp nhiều lần so với dân thường Ai cập thời đó.

    Bộ nạp bao gồm hai thỏi kim loại hình trụ có chiều dài 150 mm, đường kính 28 mm. Một thỏi kim loại màu trắng được gọi là “mặt trăng”, một thỏi bằng hợp kim màu đỏ gọi là “mặt trời”. Khi tay phải cầm vật “mặt trời”, tay trái cầm vật “mặt trăng”, sau 25 phút sẽ thấy buốt ở các ngón tay, mạch đập nhanh. Sau đó là cảm giác thanh thoát, ấm áp lạ thường lan tỏa khắp thân thể và dường như có một luồng điện tích tụ ở vùng “con mắt thứ ba” trên trán (Luân xa 6). Rõ ràng là vật hình trụ này có tác động đến cơ chế hoạt động của các cơ quan trong cơ thể con người. Bước đầu thử nghiệm, Trung tâm sản xuất được 40 bộ nạp "điều hòa năng lượng sống".

    Ông Nguyễn Xuân Điều,Trưởng bộ môn Trường sinh học dưỡng sinh (thuộc Trung tâm UNESCO Văn hóa Gia đình & Dòng họ Việt Nam) cho biết: “Bộ môn Trường sinh học dưỡng sinh đã dùng một số bộ để thử nghiệm. Qua thử nghiệm, phải khẳng định, những người sử dụng bộ nạp năng lượng đều cảm nhận sự thay đổi rõ rệt của cơ thể, mạch đập rõ, điều hòa huyết áp...

    Ông Nguyễn Hữu Hùng, cán bộ của Viện Năng lượng và Nguyên tử Việt Nam, đã dùng bộ nạp này, cho biết hằng ngày trước khi ngồi tập Thiền, ông cầm hai thỏi kim loại khoảng 40 phút, bước đầu cho thấy nhiều biểu hiện tốt cho cơ thể. Vợ ông Hùng cũng đã dùng bộ nạp và thấy rằng chứng bệnh mất ngủ đã được cải thiện, giấc ngủ sâu hơn, tinh thần vui vẻ.

    Sau đó, Bộ môn "Trường sinh học dưỡng sinh" đã đem gép hai thỏi kim loại này với một đồng hồ AVO, thang đo Micro ampe. Đây là một ứng dụng sáng tạo đầu tiên trên thế giới. Kết quả đo năng lượng cho các người bệnh tập Thiền đã rút ra một kết luận bất ngờ: Những người đo ở chỉ số 50 là sức khỏe trung bình, dưới 50 là sức khỏe yếu. Trên 50 là khá và trên 100 là mạnh (người khỏe).

    Đây cũng là chiếc máy đo năng lượng đơn giản đầu tiên trên thế giới (Chi phí chỉ hơn 1 triệu VNĐ) mà "Bộ mônTrường sinh học dưỡng sinh" đã nghiên cứu và ứng dụng trong nhiều năm cho việc luyện tập dưỡng sinh của các học viên là những người có bệnh.

    Bộ môn "Trường sinh học dưỡng sinh" cảm ơn ông Phạm Bá Kiêm, ông Nguyễn Hữu Hùng và tập thể các nhà khoa học là những người đã nghiên cứu và chế tạo thành công hai vật hình trụ kim loại của các hoàng đế Pharao Ai cập.

    Bộ môn "Trường sinh học dưỡng sinh" hy vọng thiết bị đo năng lượng cơ thể này sẽ được phát triển và áp dụng trong phạm vi rộng của lĩnh vực y học.

Hà nội, 15/XI/2017
BỘ MÔN TRƯỜNG SINH HỌC DƯỠNG SINH

 

YouTube Video

PHÁT HIỆN HỆ THỐNG DI TÍCH KHẢO CỔ TIỀN SỬ TRONG HANG ĐỘNG NÚI LỬA Ở KRÔNG NÔ, TỈNH ĐẮK NÔNG

đăng 09:48, 27 thg 10, 2017 bởi Điều Nguyễn Xuân

TS. La Thế Phúc(1), PGS.TS. Nguyễn Khắc Sử(2), ThS. Vũ Tiến Đức(3); CN. Lương Thị Tuất(1), CN. Phan Thanh Toàn(2), CN. Nguyễn Thanh Tùng(4), PGS.TS. Nguyễn Trung Minh(1).

(1)Bảo tàng Thiên nhiên VN, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam; (2)Viện Khảo cổ học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam; (3)Viện Khoa học Xã hội vùng Tây Nguyên, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam; (4)Công ty Phú Gia Phát.

Tóm tắt: Tính tới năm 2016, các nhà khảo cổ học Việt Nam đã phát hiện trong khu vực Công viên Địa chất Núi lửa Krông Nô có tới 12 di chỉ khảo cổ, hầu hết phân bố trên các gò đồi, nương rẫy hoặc ven sông suối, mà chưa hề được phát hiện trong các hang động núi lửa. Kết quả khai quật và nghiên cứu 12 di chỉ khảo cổ nêu trên cho thấy chúng là dấu tích văn hóa của cư dân Thời đại Đá mới và Sơ kỳ Kim khí, có tuổi từ 6.000 đến 3.000 năm cách ngày nay. Vào tháng 1/2017, đoàn khảo sát thực địa do Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam chủ trì đã phát hiện được các di tích và di vật khảo cổ với mật độ khá dày đặc trong các hang động núi lửa ở khu vực Krông Nô. Các di vật khảo cổ vừa được phát hiện gồm: công cụ đá, mảnh tước, phiến tước; hòn ghè, hòn kê, chày nghiền, mảnh gốm, xương động vật... . Phát hiện khảo cổ mới này đang được triển khai nghiên cứu chi tiết để bổ sung một loại hình cư trú mới, một hướng thích ứng mới của cư dân tiền sử ở vùng đất đỏ basalt Tây Nguyên và mở ra một hướng nghiên cứu mới về khảo cổ học hang động núi lửa ở Việt Nam và khu vực Đông Nam Á.

1. MỞ ĐẦU

Công viên Địa chất Núi lửa Krông Nô (Krongno Volcano Geopark - viết tắt KVG) không chỉ chứa đựng những giá trị khoa học quan trọng về địa chất, mà còn có cả những giá trị độc đáo về văn hoá, sinh thái và khảo cổ học, đáp ứng các tiêu chí của một công viên địa chất (CVĐC) toàn cầu mà UNESCO đề xuất [9].Vùng đề cử của KVG có diện tích khoảng 2.000 km2, gồm toàn bộ diện tích các huyện Krông Nô, Cư Jút, Đắk Mil và một số xã lân cận thuộc các huyện Đắk Song và Đắk Glong.

Trong quá trình triển khai Đề tài KHCN “Nghiên cứu, điều tra đánh giá di sản địa chất, xây dựng Công viên địa chất khu vực Krông Nô, tỉnh Đăk Nông”, một số những câu hỏi được đặt ra trong lĩnh vực nghiên cứu di sản văn hóa là giá trị nổi bật về khảo cổ học trong khu vực KVG là gì? Người tiền sử đã ứng xử như thế nào để sống thích ứng với những biến động của cảnh quan và môi trường sinh thái qua hàng nghìn năm? Và cách mà họ đã khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên tại chỗ ra sao để đáp ứng những nhu cầu của cuộc sống? v.v. Để trả lời những câu hỏi đó, vào tháng 1/2017, Đoàn khảo sát thực địa do Bảo tàng Thiên nhiên, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam chủ trì bao gồm các nhà nghiên cứu về địa chất, địa văn hóa và khảo cổ đã tiến hành thẩm định lại các di tích cũ, điều tra phát hiện mới một số di tích khảo cổ trong hang động trên địa bàn huyện Krông Nô. Cuộc khảo sát đem lại những kết quả hết sức bất ngờ.

Các tài liệu khảo cổ cho thấy, trước năm 2017, trên địa bàn tỉnh Đắk Nông, các nhà khảo cổ học đã phát hiện hơn 30 địa điểm khảo cổ [6;10], đều là di tích ngoài trời, chưa biết đến di tích hang động nào. Trong phạm vi KVG cũng đã thu thập dấu tích khảo cổ ở 12 địa điểm, đó là: Trung Sơn, Thác Lào, Suối Tre, Thôn Sáu, Thôn Bảy và Thôn Tám (huyện Cư Jút), Cánh Nam, Nam Xuân (huyện Krông Nô), Trường Xuân, Đăk Tơn (huyện Đăk Song), Đăk R’la, Đăk Lao (huyện Đăk Mil). Trong đó, di chỉ Thôn Tám, xã Đăk Wil, huyện Cư Jut đã được khai quật 2 lần vào các năm 2006 và 2013. Kết quả nghiên cứu bước dầu về các di tích khảo cổ này ghi nhận chúng là dấu tích văn hóa của cư dân Thời đại Đá mới và Sơ kỳ Kim khí, có tuổi từ 6.000 đến 3.000 năm cách ngày nay (CNN) [2, 3, 5, 6, 8, 10].

2. DI TÍCH KHẢO CỔ TRONG HANG ĐỘNG NÚI LỬA KVG

2.1. Sơ lược đặc điểm địa chất khu vực phân bố hang động núi lửa

Các thành tạo địa chất lộ trên bề mặt khu vực phân bố hang động có đặc điểm địa chất tương đối đơn giản, gồm hệ tầng La Ngà, hệ tầng Xuân Lộc và các thành tạo bở rời Đệ tứ (Hình 1).

Hình 1. Sơ đồ phân bố các hang động núi lửa khu vực Krông Nô.

* Hệ tầng La Ngà (J2 ln): phân bố với diện rộng chủ yếu ở phía tây khu vực hang động (Hình 1), thành phần chủ yếu là trầm tích lục nguyên và được chia thành 3 tập. Tập 1: bột kết màu xám bị phong hoá vỡ vụn cho màu xám vàng; sét kết màu đen, mặt lớp láng bóng, xen kẽ với các lớp mỏng cát kết màu vàng; cát bột kết màu xám đen, chiều dày khoảng 250 - 300 m. Tập 2: bột kết màu đen, phân lớp mỏng, mặt lớp có nhiều tinh thể pyrit tự hình xen với đá phiến sét và các lớp mỏng cát kết có những vẩy mica trắng; chiều dày 100 m. Tập 3: cát kết hạt vừa đến mịn màu xám, xám nhạt, xám vàng xen cát bột kết màu xám, xám vàng, bột kết và ít lớp mỏng sét kết; chiều dày 350 - 400 m [4].

* Hệ tầng Xuân Lộc (β/Q12 xl): phân bố với diện rộng ở phần trung tâm trong hình 1, thành phần chủ yếu là các sản phẩm phun trào basalt và được chia thành 3 tập. Tập 1: tro núi lửa màu xám nâu đến đen, đôi nơi có tuf xen với các lớp basalt lỗ hổng màu xám; chiều dày khoảng 35m. Tập 2: basalt thực thụ gồm basalt olivin, basalt dolerit màu xám sẫm, plagiobasalt, cấu tạo khối khá đồng nhất; chiều dày khoảng 45 - 50 m. Tập 3: ngoài dung nham phun trào còn có dung nham phun nổ, phun nghẹn với thành phần chủ yếu là basalt olivin màu đen, lục xám. Đá có cấu tạo đặc xít xen lỗ hổng, bọt, bom núi lửa, dăm núi lửa; chiều dày khoảng 45 - 51 m [4].

* Các thành tạo bở rời hệ Đệ tứ không phân chia (Q): phân bố với diện rộng ở phần phía đông khu vực hang động (Hình 1), thành phần chủ yếu là sét cát, sét bột màu loang lổ và kết vón laterit, phân bố dưới dạng các tích tụ bở rời ở các phần thấp địa hình, tạo thành thềm bậc I ven sông Sêrêpôk, có độ cao từ 3 - 6m; chiều dày khoảng 5 - 6 m [4].

* Khoáng sản: ở khu vực nghiên cứu chủ yếu là puzơlan liên quan đến basalt hệ tầng Xuân Lộc ở xã Buôn Choáh, Krông nô. Ngoài ra còn có đá basalt xây dựng, sét gạch ngói phân bố dọc thung lũng sông Sêrêpôk [4].

2.2. Sơ lược đặc điểm hang động liên quan tới di chỉ khảo cổ

Hệ thống hang động được phát hiện trong vùng nghiên cứu chủ yếu liên quan đến basalt của hệ tầng Xuân Lộc (Hình 1). Cho đến nay, các nhà địa chất mới chỉ phát hiện được một miệng núi lửa ở khu vực hang động là núi lửa Chư B'Luk (cao 601m so với mực nước biển, chiều sâu của họng ~63m), thuộc xã Buôn Choáh, huyện Krông Nô. Các hang động ở đây đều phân bố rải rác xung quanh miệng núi lửa này. Hầu hết các cửa hang hiện tại là cửa thứ sinh, kết quả của quá trình sập trần hang nên thường có dạng dạng vòm, trước cửa hang thường ngổn ngang những đống đá basalt đổ lở. Một số ít cửa hang nguyên sinh, được hình thành do thoát khí trong quá trình dòng dung nham basalt nóng chảy chuyển dần sang đông kết. Các cửa hang kiểu này thường có hình tròn, dốc đứng với độ sâu lớn (hang C7 có độ sâu >10m, hang "Trăn" sâu ~ 25m, hang P9 sâu ~53m v.v.). Hiện tại, chúng tôi chỉ mới phát hiện các di chỉ khảo cổ liên quan tới các hang động có cửa thứ sinh, đặc biệt các hang thứ sinh có nền hang ở gần cửa rộng rãi, dễ tiếp cận, ánh sáng tốt và thông thoáng, phân bố gần sông, suối là những hang phát hiện được nhiều hiện vật khảo cổ hơn cả. Ngược lại, các hang thiếu sáng, không thoáng khí, cửa hẹp, ra vào khó là những hang chưa tìm thấy hiện vật khảo cổ.

2.3. Kết quả khảo sát khảo cổ ở KVG

* Khảo sát di tích Thôn Tám

Di tích Thôn Tám, xã Đăk Will, huyện Chư Jút, tỉnh Đắk Nông được khai quật lần đầu vào năm 2006 với diện tích 52m2 và vào năm 2013 với diện tích 37,5m2. Di chỉ có tọa độ 120 42’31,3’’vĩ độ bắc và 1070 48’25,9’’ kinh độ đông, cao 382m so với mực nước biển. Cả hai lần đều cho kết quả như nhau. Các vết tích văn hóa của con người như công cụ lao động bằng đá, các phác vật công cụ, mảnh tước, đá nguyên liệu và đồ gốm nằm trong địa tầng dày trung bình 50cm, cấu tạo từ đất đỏ basalt. Trong đó chưa tìm thấy dấu tích kiến trúc nơi ở, xương cốt động vật, than tro. Kết quả nghiên cứu khảo cổ học cho thấy, Thôn Tám là di chỉ xưởng chế tác rìu đá, có niên đại Đá mới giữa (khoảng 5.000 CNN) [2, 3, 10]. 

Đoàn đã khảo sát xung quanh di tích Thôn Tám (xã Đăk Will, huyện Chư Jút) ở  độ cao tuyệt đối 335m đã phát hiện 15 đồi gò khác, hiện trồng tiêu hoặc cây công nghiệp. Bao quanh các gò này là các vùng trũng có nước. Trên mặt một số đồi gò này, chúng tôi đã thu thập được phác vật rìu đá, mảnh tước và đá nguyên liệu. Chúng tôi cũng cho rằng, đây là khu vực tập trung cao các di tích của cư dân tiền sử, có niên đại Đá mới ở Tây Nguyên với đặc trưng nổi bật là sự hiện diện của rìu hình bầu dục, rìu ngắn, nạo hình đĩa, ghè một mặt hoặc hai mặt và có mặt rìu chỉ mài ở rìa lưỡi, mang yếu tố kỹ thuật chế tác rìu đá của cư dân sơ kỳ Đá mới Hòa Bình nổi tiếng ở Việt Nam và Đông Nam Á.

* Khảo sát các di tích hang động

-  Hang C1 - Ảnh 2. (Điểm khảo sát: KVG107, ký hiệu trong máy định vị GPS: 083)

Hang cách đường mòn khoảng 300m, lối vào hang dễ dàng. Cửa hang quay hướng đông 900, có hình gần tam giác cân (Ảnh 2), đáy nền cửa hang rộng 3,5 - 4m, trần hang cao khoảng 3m, hang dài > 100m. Cửa hang C1 được hình thành do cơ chế sập trần tại nơi có lớp phủ trần hang mỏng và yếu. Nền hang ở phần giữa, khu vực gần cửa có gờ đá basalt nổi cao cùng với bề mặt xù xì bởi các nhũ đá dung nham rắn chắc, có hình dạng giống hình một con cá sấu kích thước lớn, trong tư thế nằm, quay đầu về phía cửa hang (Ảnh 3). Trên mặt nền hang thu lượm được một số mảnh gốm đất nung (pottery), xương gốm được làm từ sét pha cát mịn, có màu đỏ, độ nung thấp, một số mảnh gốm có hoa văn chấm dải. Ngoài ra, trong hang còn thu được các hòn thạch anh góc cạnh có kích thước từ 2 - 4cm Đây là đá phế thải của người tiền sử khi ghè đẽo “công cụ đá quartz” hay là những mảnh vỡ từ những viên đạn bắn dơi bằng súng cao su tự chế của người dân địa phương hiện tại vẫn đang còn là dấu hỏi. Trong hang thu được một số đoạn xương chi có vết thổ hoàng, có thể là xương người (?).

Từ cửa hang C1 đi tiếp theo hướng đông 1000, thực chất là đoạn hang đã bị sập trần tạo nên hang có hai cửa. Gần cửa phía đông có một giếng trời, đường kính khoảng 1,7m. Đoạn hang này dài 17 - 20m vẫn phát triển theo hướng á vĩ tuyến. Đặc biệt, trên tường hang phía nam còn lưu lại một khuôn cây, đường kính ngoài khoảng 10cm, dài trên 5m.

Ở chân vách phía bắc của đoạn hang C1 - 1 đã phát hiện một rãnh đất màu đen, trong chứa nhiều mảnh gốm, xương gốm dày 2 - 3mm, một số mảnh có hoa văn khắc vạch. Ngoài ra còn thu được một số vỏ ốc núi, trong đó có loài Cycloporus sp.

  -  Hang C3 (Điểm khảo sát: KVG108, ký hiệu trong máy định vị GPS: C3)

Hang C3 dài 594,4m [1]; cách hang C1 khoảng 1 km về phía đông - đông nam, cửa hướng đông 1100. Cửa hang bị sập, có độ cao hạ thấp so với bề mặt địa hình chung khoảng 4,5 - 5m. Cửa hang rộng 20m, cao khoảng 1,5m. Trên mặt cửa hang là các khối đá basalt chất ngổn ngang do sập trần. Lớp phủ trần hang hiện tại dày khoảng 3 - 5m. Trên vách trái cửa hang là một khuôn cây lớn có đường kính khoảng 40cm. Nền hang có nhiều tảng đá kích thước lớn hàng m3 đổ ngổn ngang. Hang C3 hiện trạng là không thích hợp làm nơi cư trú hoặc nếu đã từng là nơi cư trú của người Tiền sử thì dấu vết của họ nay cũng đã bị vùi lấp dưới các đống đổ lở do sập trần hang. Khu vực hang chưa phát hiện di vật khảo cổ.

 -  Hang C4 (Điểm khảo sát: KVG109, ký hiệu trong máy định vị GPS: C4):

Hang C4 dài 251m [1]; cách hang C3 khoảng 300 - 400m về phía đông nam. Cửa hang là một vùng trũng sâu 5 - 8m do sập trần hang, có hình vòm (bán nguyệt), hướng nam 1900. Trần hang cao 4,5 - 5m, lòng hang rộng 12 - 15m. Nền hang khá bằng phẳng, phía cửa thấp, phủ lớp đất ẩm lẫn các cục đá basalt kích thước từ 10cm - 40cm. Khu vực phía trong hang cao dần và lộ rõ nền đá gốc do dung nham basalt đông kết (Ảnh 4). Lòng hang gần cửa dài 40m, sau đó hang chuyển hướng quẹo sang trái ăn sâu vào trong. Cửa hang cũng có một khối đá basalt lớn khoảng 1,5m3 là sản phẩm rơi xuống từ trần hang. Gần cửa hang đã phát hiện nhiều di vật khảo cổ như cuội nguyên liệu, rìu, mảnh tước, hòn kê bằng cuội được lấy từ sông, một mảnh opal - canchedon; xương răng động vật, thổ hoàng có vết răng của loài gặm nhấm. Gốm thô, xương gốm dày 2 - 3mm, trang trí hoa văn giống gốm thời Đá mới ở vùng này, có niên đại khoảng 4.000 - 5.000 năm cách ngày nay (Ảnh 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10).  

 -  Điểm khảo sát bổ sung khu vực hang C4 - 1 (Điểm khảo sát: KVG109/1).

Từ hang C4 nhìn về phía nam - đông nam, qua một vùng trũng do sập trần là hai nhánh hang ngắn nằm song song với nhau. Mỗi nhánh dài gần 100m và có hai cửa ở hai đầu (do sập trần hang). Hai cửa phía tây bắc (mỗi nhánh một cửa) nhìn về hướng 3300 (tây bắc), quay về phía cửa hang C4. Đây là hai nhánh hang có kích thước tương đương nhau, có lẽ được tách ra từ một nhánh hang chính là hang C4. Tiết diện của mỗi nhánh hang đều có hình elip dẹt, với chiều cao hang khoảng 12m, chiều rộng khoảng 15 - 20m. Cửa phía nam của nhánh hang phía đông có đống khối tảng basalt lớn do sập trần tạo nên. Tường hang tại cửa phía bắc của nhánh hang phía đông cấu tạo bởi basalt dạng bọt có độ rỗng khá lớn, có lớp thủy tinh núi lửa mỏng bao bọc phía ngoài. Trên nền nhánh hang phía tây có dấu vết khảo cổ là các mảnh vỡ cuội sông, đá có vết ghè (đá nguyên liệu) của người tiền sử.

 -  Hang C6 (Điểm khảo sát: KVG117, ký hiệu trong máy định vị GPS: 091):

Hang C6 dài 180.3m [1], cách hang C4 khoảng 200m về phía đông, cửa hướng đông nam 1400. Lòng hang từ cửa vào trong theo hướng đông nam - tây bắc. Phần cuối phía tây bắc của hang có một giếng trời (đường kính 2m). Lớp phủ trần hang khá chắc, dày 5 - 8m ở phía trên cửa hang và mỏng dần vào trong. Từ khu vực giếng trời phát triển một nhánh hang ăn thông về phía đông bắc, sau đó bẻ quặt về phía nam theo hình khuỷu tay để kết nối trở lại với nhánh chính của hang. Nền hang nhánh phụ cao hơn nhánh chính và tương đối bằng phẳng, có thể làm nơi sinh hoạt, kín và thoáng khí nhờ giếng trời ở cuối hang. Nền hang nhánh chính khá bằng phẳng, ngoại trừ một số hòn đá basalt đổ lở rải rác trên nền. Nhìn chung, hang C6 khá thuận lợi cho cư trú của người tiền sử. Trong hang đã phát hiện khá nhiều di vật khảo cổ như: phác vật rìu đá, mảnh tước đá basalt, thổ hoàng, cuội sỏi, cùng mảnh gốm thành dày 1,5 - 2mm, mặt ngoài để trơn hoặc trang trí hoa văn vặn thừng (Ảnh 11, 12, 13).

 -  Hang C6’ (Điểm khảo sát: KVG118, ký hiệu trong máy định vị GPS: 092)

Hang C6' cách hang C6 khoảng 200 - 300m về phía nam đông nam. Cửa hang có dạng vòm cao >10m (Ảnh 14). Lòng hang C6’ có hình elip, rộng ~15m và cao ~13m. Ban đầu, có thể hang C6 cà C6' cùng là 1 hang, nhưng do sập trần nên đã tạo ra những đoạn hang như C6, C6’. Nền hang C6’ khá bằng phẳng, hai bên vách hang có những “đê” dung nham. Quan sát trong hang thấy có những rãnh xước thể hiện hướng chảy của dòng dung nham trên tường hang C6’. Những rãnh xước này không phải là những rãnh xước nằm ngang, mà có chiều thẳng đứng hoặc rối, hoặc những nhũ đá định hướng kiểu trọng lực trên tường hang. Đây có thể là kết quả của những dòng dung nham chảy rối, chảy xoắn theo cơ chế trọng lực bám dọc theo tường hang trong quá trình hình thành hang động núi lửa của hang C6’. Tại khu vực phía trong, gần cửa hang đã thu thập được 13 di vật đá, 27 mảnh gốm và một số mảnh xương, răng động vật. Về loại hình đồ đá có: 3 mảnh đá nguyên liệu, vốn là cuội sông, suối có lẽ từ sông Sê rê pốk; chất liệu đá sét kết, thạch anh và đá sét bột kết bị sừng hóa; 6 mảnh tước ban đầu và mảnh tước thứ, tách ra từ đá sét, sét bột kết hạt mịn, kích thước dưới 7cm; 4 rìu đá, ghè một mặt, trong đó 2 chiếc làm từ đá basalt, 2 chiếc làm từ đá cát bột kết bị biến chất rắn chắc dạng quartzit (Ảnh 15, 16, 17, 18, 20).

Đồ gốm đất sét, pha cát, hạt thô; một số mảnh bị bong tróc lớp áo gốm. Mặt ngoài trang trí hoa văn khắc vạch, khắc vạch kết hợp trổ lỗ. Về loại hình có 2 mảnh miệng nổi, loại miệng loe, thành miệng dày; loại vê tròn, không có thành miệng; một mảnh miệng có trang trí hoa văn khắc vạch kết hợp trổ lỗ, thành dày: 0,4 - 0,6cm (Ảnh 19).

-  Hang C6.1 (Điểm khảo sát: KVG120 )

Hang C6.1 dài ~293m [1], cách hang C6 khoảng 270m về phía nam - đông nam. Khu vực là một vùng trũng sụt rất lớn, xung quanh phân bố 3 cửa hang:

+ Cửa 1: quay về phía bắc 100, ở cửa hang phát hiện được 2 mảnh gốm;

+ Cửa 2: quay về phía đông 1000. Tại đây, dân địa phương vào khai thác phân dơi, làm bật lên một số di vật khảo cổ.

+ Cửa 3: quayvề phía Nam 1600. Cũng như cửa 2, ở đây dân địa phương đào nền hang, lấy phân dơi và làm bật lên nhiều di vật khảo cổ, gồm: công cụ lao động – rìu bầu dục, rìu bầu dục mài lưỡi, rìu ngăn mài lưỡi (Ảnh 21, 22, 23), mảnh tước và đồ gốm, giống gốm ở hang C4.

3. MỘT VÀI NHẬN XÉT BAN ĐẦU

- Trong khuôn viên KVG có khá nhiều điểm khảo cổ. Riêng trong hệ thống hang động núi lửa cũng có nhiều hang chứa di chỉ khảo cổ. Bước đầu khảo sát ở khu vực các hang từ C1 đến C6.1 của KVG, chúng tôi đã phát hiện những di tích khảo cổ thời tiền sử, minh chứng cho vết tích cư trú, chế tác công cụ của người thời nguyên thủy trong các hang động núi lửa. Đây chính là những phát hiện khảo cổ học hang động núi lửa tiền sử đầu tiên ở Việt Nam;

- Đối với KVG nói riêng và vùng đất đỏ basalt Tây Nguyên nói chung, hệ thống các hang động núi lửa có ý nghĩa quan trọng đối với cư dân tiền sử, nhất là khi trình độ kỹ thuật của họ còn thấp. Những hang động ở KVG mà chúng tôi đã tiếp cận và khảo sát có diện tích nền hang khá rộng, nền hang tương đối bằng phẳng, thông thoáng, nhiều hang có cửa quay về hướng đông, đông nam hoặc chính nam nên tiếp thu được nhiều ánh sáng mặt trời, cửa hang tiếp cần khá dễ dàng, phân bố ở gần nguồn nước sinh hoạt là những tiền đề lý tưởng cho những người “huyệt cư”. Kết quả khảo sát và nghiên cứu cho thấy cư dân cổ đã cư trú trong hang động núi lửa và dưới các mái đá. Tại đấy, họ chế tác công cụ lao động bằng đá và sản xuất đồ gốm với trình độ khá cao;

- Trong việc chế tác công cụ đá, họ đã biết lựa chọn một số viên cuội sông, suối với chất liệu cứng và độ dẻo cao để chế tác công cụ như đá chert, đá phiến silic, quartzit, thạch anh v.v. Họ sử dụng kỹ thuật ghè đá, ghè trực tiếp trên một hoặc 2 mặt để tạo ra rìa lưỡi công cụ. Đôi khi họ sử dụng kỹ thuật bổ, tách đá lấy mảnh tước, từ mảnh tước chế tạo ra công cụ. Bên cạnh kỹ thuật ghè lớn, họ đã sử dụng kỹ thuật ghè nhỏ, tu chỉnh cho rìa lưỡi công cụ đỡ zích zắc, một số công cụ đã được mài rìa lưỡi;

Về loại hình, cư dân cổ ở đây đã chế tạo ra một số công cụ khá định hình, đó là những chiếc rìu hình bầu dục hoặc gần hình chữ nhật, những công cụ hình gần tròn, những công cụ mảnh tước, phiến tước; những hòn ghè, hòn kê, chày nghiền...  Đây là những công cụ thường gặp trong các bộ lạc ở trình độ Thời đại Đá mới. Bằng thực nghiệm va quan sát dân tộc học so sánh, các nhà khảo cổ cho biết, những công cụ này có thể sử dụng vào việc chặt cây, phát rừng, xẻ thịt thú rừng, cắt thái các loài thảo mộc, chế biến thực phẩm hoặc gia công tre gỗ làm công cụ và vũ khí săn bắt;

Đồ gốm phát hiện trong hang còn ít, nhưng cho thấy chúng được làm tại chỗ với kỹ thuật cao. Đó là gốm đất nung, làm từ đất sét pha cát, hạt nhỏ, nặn tay, loại hình đơn giản, chủ yếu là nồi và đồ đựng, xương gốm mỏng, một số có lớp áo phủ, một số trang trí văn đập, văn in ô vuông, văn khắc vạch, in chấm… Đây là những đồ gốm thường gặp trong các di tích Hậu kỳ Đá mới và Sơ kỳ Kim khí;

- Với loại hình công cụ bảo lưu kỹ thuật sau văn hoá Hòa Bình và đặc điểm đồ gốm, có thể ghi nhận ở trong các hang và dưới mái đá vùng KVG có nhiều lớp người kế tiếp nhau cư trú. Niên đại sớm nhất có thể từ Trung kỳ Đá mới, cách ngày nay khoảng 6.000 -  7.000 năm đến Thời đại Kim khí, cách ngày nay khoảng 2.000 - 3.000 năm, thậm chí cả những thế kỷ gần đây. Để làm sáng tỏ dự đoán này cần có các cuộc đào thám sát, khai quật, nghiên cứu địa tầng và làm một số phân tích, xét nghiệm bằng khoa học tự nhiên như bào tử phấn hoa, thành phần thạch học công cụ, thành phần gốm và niên đại tuyệt đối;

- Lần đầu tiên giới khoa học Việt Nam đã phát hiện ra các di tích cư trú của người tiền sử trong các hang động hoặc dưới mái đá núi lửa basalt, bổ sung thêm một loại hình cư trú mới, một hướng thích ứng mới của cư dân tiền sử ở vùng đất đỏ basalt Tây Nguyên Việt Nam; mở ra một hướng nghiên cứu mới về khảo cổ học hang động núi lửa ở Việt Nam và khu vực Đông Nam Á.

Tuy nhiên, đây mới chỉ là những phát hiện ban đầu, các nhà địa chất thuộc Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam và các nhà khảo cổ học ở Viện Khảo cổ học Việt Nam cần tiếp tục tìm kiếm, phát hiện mới các di tích hang động, tiến hành đào thám sát, tiến tới khai quật và nghiên cứu chuyên sâu có hệ thống các di tích này, góp phần nghiên cứu diễn trình lịch sử văn hóa các cộng đồng cư dân trên đất Đắk Nông nói riêng và Tây Nguyên nói chung, bổ sung một giá trị nổi bật về văn hóa lịch sử cư dân tiền sử trong khu vực KVG.

Để có những phát hiện mới này, Đoàn khảo sát thực địa xin trân trọng cám ơn các cấp Lãnh đạo: Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Đắk Nông, và Lãnh đạo tỉnh Đắk Nông đã đặc biệt quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi nhất về mọi mặt cho Đoàn triển khai nhiệm vụ nghiên cứu khoa học. Bài báo được hoàn thành trong quá trình thực hiện đề tài “Nghiên cứu, điều tra đánh giá di sản địa chất, xây dựng Công viên địa chất khu vực Krông Nô, tỉnh Đăk Nông”.

 


VĂN LIỆU

1.        La Thế Phúc, Hiroshi Tachihara, Tsutomu Honda, Trương Quang Quý, Lương Thị Tuất, 2015. Di sản địa chất hang động núi lửa độc đáo ở Đắk Nông đã được phát hiện và xác lập kỷ lục. Tạp chí Địa chất, loạt A, số 349, 1 - 2/2015, tr. 28 - 38.

2.        Lê Hải Đăng, nnk (2013). Kết quả sơ bộ khai quật lần thứ 2 di chỉ Thôn Támk Nông), trong Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 2013, tr. 103 - 105.

3.        Nguyễn Gia Đối, Lê Hải Đăng và nnk, 2006. Phát hiện di chỉ xưởng chế tác đồ đá ở Thôn Tám (Đăk Nông). Trong Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 2006. Nxb. Khoa học xã hội:

4.        Nguyễn Đức Thắng (Chủ biên), 1989. Địa chất và khoáng sản nhóm tờ Bến Khế -  Đồng Nai, tỷ lệ 1:200.000. Tổng cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam. Hà Nội.

5.        Nguyễn Khắc Sử (chủ biên), 2004. Khảo cổ học tiền sử Đắk Lắk. Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.

6.        Nguyễn Khắc Sử, 2007. Sách “Khảo cổ học tiền sử Tây Nguyên”. Nhà xuất bản giáo dục Hà Nội.

7.        Nguyễn Văn Trần, Hoàng Thu Nguyên, 2011. Phát hiện rìu đá Đắc Song (Đắc Nông). Trong Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 2009. Nxb. Khoa học xã hội: 96 - 97.

8.        Trương Quang Quảng và nnk, 2011. Về bộ cuốc đá mới phát hiện ở  Cư Jút (Đắc Nông). Trong Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 2010. Nxb. Khoa học xã hội: 97 - 98.

9.        UNESCO Division of Ecological and Earth Sciences, 2009. Global Geopark Network.

10.   Vũ Tiến Đức, 2015. Báo cáo đề tài khoa học cấp cơ sở Viện Khoa học xã hội Tây Nguyên “Điều tra nhóm di tích Khảo cổ học tiền sử xã Đắk Wil, huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông”.

 

VỀ OSHO

đăng 19:12, 10 thg 9, 2017 bởi Điều Nguyễn Xuân   [ đã cập nhật 19:18, 10 thg 9, 2017 ]

                                                                                                                Đàm Thanh Giang


    Gần 20 năm trước tôi đọc Osho khá nhiều, giúp tôi phần nào cách nhìn, hiểu các vấn đề nhất nguyên bằng ngôn từ là sản phẩm của đa nguyên khi đọc kinh điển. Năm 2001 tôi xem chương trình của một trung tâm tu tập theo phương pháp của osho ở TP Hanover thì thấy họ lợi dụng để kinh doanh hơn là tu tập.

     Chỉ cách đây quãng chục năm tôi mới thấy ra những bất cập của pháp môn của ông khi nghiên cứu sâu hơn kinh điển Phật giáo.

   Dưới đây là tôi lược trích lại bài về Osho của "Cội nguồn".

   Osho (1931-1990) là một vị đạo sư hết sức kỳ lạ của thế kỷ hai mươi. Tên thật của ông là Rajneesh Chandra Mohan Jain. Khoảng trong thập kỷ 70 người ta biết đến ông với tên Bhagwan Shree Rajneesh. Tháng 2 năm 1989, ông tự đổi tên là Osho vốn là danh xưng tiếng Nhật Bản cổ, có nghĩa là “đạo sư” của một dòng Thiền. 
   Osho để lại một số lượng tác phẩm đồ sộ với hàng trăm cuốn sách và vô số các bài thuyết giảng. Ông là một người gây nên rất nhiều tranh cãi trong số những ai quan tâm đến triết học phương Đông, trong giới những người tầm cầu tôn giáo và đạo sư. Có thể nói, ông là một trong những người gây phân hoá cùng cực nhất về mặt đạo lý, nhưng cũng là người có sức thu hút mạnh mẽ nhất trong các bài giảng về tôn giáo và triết học. 
   Trong những năm 60, Osho là giáo sư triết học tại đại học Jabalpur, Ấn Độ. Về bản thể luận, ông là người có quan niệm Nhất thể về vũ trụ. Với ông, Thượng đế nằm trong mọi vật, nằm trong mọi con người. Không hề có sự phân biệt nào giữa “Thượng đế” và “phi Thượng đế”. Toàn thể mọi con người, dù là người tồi tệ nhất, đều thiêng liêng cả. Mọi dạng xuất hiện của một thứ năng lượng mang tên là “Thượng đế” đối với ông đều đáng ngưỡng mộ và điều này sẽ thể hiện trong quan niệm hành trì mà ông muốn truyền bá.
   Đối với đời người, Osho cho rằng giá trị cao cả nhất của cuộc đời là lòng yêu thương, sự vui cười và thiền định. Niềm ân thưởng vô giá nhất của cuộc đời là trải nghiệm được sự giác ngộ tâm linh . Sự giác ngộ đó được ông miêu tả là “nằm yên trong trạng thái bình thường của sự hiện hữu của tất cả mọi vật đang dựng xây vũ trụ”. Con người chúng ta lẽ ra ai cũng có thể trải nghiệm được trạng thái giác ngộ đó, nhưng sự thực là con người bị đánh lạc hướng do hoạt động tư duy cũng như do mong ước và dục vọng sinh ra bởi sự ràng buộc của xã hội. Vì thế, thay vì hưởng được niềm vui cao cả của sự hữu hiện, con người rơi vào một tình trạng của sợ hãi và ức chế. Ông quan niệm rằng, muốn trở lại trạng thái hồn nhiên và an lạc, con người phải tự mình giải thoát khỏi sợ hãi và ức chế.
   Với nhận thức này, Osho hoàn toàn nằm trọn vẹn trong truyền thống của triết học Ấn Độ, nhất là trong Đại thừa Phật giáo. Nếu nhớ đến tư tưởng của Mã Minh trong Đại thừa khởi tín luận, hay Thiền ngữ “Tâm bình thường là đạo” của Nam Tuyền, hay các phép hành trì của Phật giáo Tây Tạng, hay tư tưởng của các vị đạo sư của thời hiện đại như Aurobindo hoặc Krishnamurti, ta dễ dàng thấy sự trùng hợp tuyệt đối về nhận thức luận giữa ông và các truyền thống đó. Chỉ có điều khác biệt là, Osho nói về các nhận thức này một cách hùng biện và mới mẻ. Nhất là với tính cách của một giáo sư triết học, trong các luận giải, ông phối hợp một cách tài tình những truyền thống của Phật giáo, Kỳ-na giáo (Jainism), Ấn Độ giáo, Lão giáo, Cơ-đốc giáo, Sufism (một truyền thống của Hồi giáo), và triết học cổ của Hy Lạp. Thế nhưng, cũng như mọi nhà đạo học khác, ông không quên chỉ rõ, không một nền triết học nào có thể diễn bày được chân lý, có thể thay thế được sự chứng thực cá nhân.
   Do đó sự trải nghiệm, sự chứng thực của trạng thái giác ngộ là cốt tuỷ của mọi sự. Ông tự nhận mình đã đạt trạng thái này năm 21 tuổi. Phương pháp khả dĩ đưa đến giác ngộ là phép thiền định. Nhưng thiền định là gì và hành trì thiền định như thế nào? Theo Osho thiền định là một trạng thái “nằm ngoài tâm”. Thiền định không phải là sự tập trung. Thiền định không hề là một dạng của sự tư duy có tính tâm linh mà là một tình trạng vắng bặt tư duy. Mọi triết lý về thiền định có thể ví như to tiếng bàn luận về sự lặng yên, còn thiền định là bản thân sự lặng yên. Đó là một tình trạng có thể xảy ra bất chợt, một tình trạng mà ta có thể ở trong đó, chứ không phải là một sản phẩm do ta tạo ra. Quan niệm này về thiền của Osho không hề khác với các phát biểu xưa nay của các vị Thiền sư của miền Đông Á, trong đó có Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam. Nhưng cách hành trì thiền định do Osho đề ra thì khác hẳn. Osho cho rằng con người hiện đại, nhất là người phương Tây rất khó áp dụng phép toạ thiền, tìm sự an tĩnh và ngưng bặt tư tưởng bằng cách ngồi yên. Vì thế ông đề xuất những phép thiền tích cực và cho rằng những phép hành trì của thiền tích cực sẽ đưa con người vào trạng thái thiền định một cách tự nhiên. Nội dung của các phép thiền tích cực này là cho phép con người rũ bỏ những gì ức chế mình bằng cách để cho chúng được thể hiện một cách tự nhiên. Trong các phép thiền tích cực do Osho đề ra, ta có thể kể phép thiền năng động (Dynamic Meditation), thiền Kundalini, Nadabrahma, Natajai, trong đó phép thiền năng động được chú ý nhiều nhất.

   Trong phép thiền năng động, thường thường thiền sinh bắt đầu với những hoạt động mạnh mẽ về thể chất, sau đó là sự lặng yên và cử hành tế lễ. Phép thiền này tin rằng, qua đó con người sẽ vượt thắng sự sợ hãi, giảm bỏ sự ức chế, phát sinh được một dạng của tánh Không và đạt giác ngộ. Đối với Osho, muốn đối trị sự ức chế nào ta phải kích động nó lên, nếm trải, chứng nghiệm nó và cuối cùng trực nhận nó chỉ là “không” thì mới thực sự siêu việt được nó. Theo ông một con người giác ngộ sẽ là “phi quá khứ, phi tương lai, không ràng buộc, không tâm thức, vô ngã, vô bản chất”.
   Đó là những nét cơ bản về quan niệm của Osho về phép hành thiền. Thật ra thì phương pháp chủ động kích thích dục vọng của con người lên để chứng nghiệm, quán chiếu và siêu việt chúng không phải là một điều gì mới lạ. Trong truyền thống Ấn Độ, người ta vẫn còn nhắc đến 84 vị Đại Thành tựu giả (Mahasiddha), các vị được xem là sống trong khoảng thế kỷ thứ 8 đến thứ 12 sau công nguyên . Đó là các vị hành giả lòng còn chất chứa đầy các loại dục vọng khác nhau, nhưng nhờ biết cách quán chiếu chúng, biết chúng chẳng qua đều là những dạng của Không tính mà đạt được thành tựu. Đọc tiểu sử các vị đó, ta sẽ thấy đó toàn là những người mang đầy thói hư tật xấu, thậm chí có kẻ là người chuyên đánh bạc hay ăn trộm, nhất là có rất nhiều vị đam mê tình dục. Thế nhưng, nhờ một cách hành trì thiền định, trong đó họ quán tưởng “đối tượng đam mê” và “người đam mê” đều chỉ là những dạng của “Không”, họ đạt giác ngộ ngay trong đời này. Các vị đó là những người tiên phong của một truyền thống được mệnh danh là Kim cương thừa. Trong thời đại gần đây hơn, các vị tu sĩ trong truyền thống Kim cương thừa của Tây Tạng cũng là những người chủ trương “chuyển hoá” năng lực của dục vọng thành động lực của sự giác ngộ. Thậm chí trong nền phân tâm học hiện đại của phương Tây người ta cũng biết đến phép chữa bệnh Gestalt Therapy, trong đó bệnh nhân được khuyến khích hãy sống thực với nền tảng tâm lý của mình, hãy tận lực khóc cười hay la hét với những ức chế của mình với mục đích giải thoát ra khỏi sự đè nén của chúng.
   Dĩ nhiên phương pháp của Osho có một tầm cỡ hoàn toàn khác so với phép chữa bệnh tâm lý nói trên, vì ở đây nó có tính chất tôn giáo cao độ. Còn so với các truyền thống xưa thì điều kỳ lạ là ông dám đem ra áp dụng cho quảng đại quần chúng. Ở đây ta dễ dàng đoán biết điều gì sẽ xảy ra. Đó là khi con người bình thường được khuyến khích chủ động cho những ức chế của mình được vận hành thì một năng lực thuộc về bản năng sẽ vùng dậy, đó là tình dục.
   Osho vốn là một con người “nổi loạn”, luôn luôn chống lại qui tắc của xã hội. Không những ông không hề sợ bị xã hội lên án, xưa nay ông chuyên khiêu khích sự ổn định của một định chế có sẵn, kể cả một nền đạo lý chung của con người. Nhất quán với quan niệm thiền định tích cực của mình, cuối những năm 60, ông bắt đầu thuyết giảng một số bài về tình dục, được ghi lại dưới nhan đề Từ tình dục đến ý thức siêu việt (From Sex toSuperconsciouness), trong đó ông cho rằng “đối với phép Tantra thì mọi thứ đều thiêng liêng, không có gì không thiêng liêng” và mọi sự đè nén tình dục đều là sự tự huỷ vì người ta không thể chuyển hoá tình dục nếu không nếm trải nó “một cách đích thực và đầy ý thức”. Quả thực, trong phong trào của ông, môn đệ của ông thực hành lời dạy này một cách đầy hoan lạc. Liệu hành động của họ là “đích thực và đầy ý thức” như ông giảng giải, là một vấn đề khác. 
   Trên quan niệm đạo học phương Đông, tình dục là một dạng vận hành của năng lượng. Năng lượng hàm chứa trong con người biểu hiện dưới nhiều dạng của ái dục mà dạng ái dục quan trọng nhất là hữu ái , tức là sự khao khát được tồn tại. Trong sự khao khát đó thì tình dục là dạng ái dục cụ thể nhất, mang nặng tính vật chất nhất. Tình dục do đó là bản năng cơ bản nhất của mọi loài, nó không dính líu gì đến các giá trị do xã hội loài người đặt ra như thiện-ác, xấu-tốt, phải-trái. Sở dĩ tình dục hay bị lên án là vì mọi hoạt động xuất phát từ nó thường sinh ra những hậu quả phiền toái cho đời sống xã hội của con người. Cũng chính vì thế mà con người thường bị ức chế về tình dục, tuy luôn luôn nhớ nghĩ về nó nhưng cũng luôn luôn phải đè nén nó. Do đó tình dục là một trong những ức chế lớn nhất của con người, thật ra là ức chế chủ yếu của đời làm người. Nền tâm lý học phương Tây cũng đã có những phát hiện tương tự.
   Vì vậy khi Osho chủ trương con đường giải thoát là phải đối diện, nếm trải mọi năng lực bị ức chế để có thể siêu việt và chuyển hoá chúng, thật ra ông không thể không nói đến tình dục, nếu ông thật sự nhất quán với chính mình. Và thực ra mỗi kẻ tầm đạo, một khi đã đi vào con đường tích cực và chuyển hoá, cũng phải tìm cho mình một phương thức riêng để chuyển hoá năng lực của tình dục. Đó là một con đường chứa nhiều hiểm nguy. Nhưng muốn “chuyển hoá” thì đó là con đường không thể tránh né, cũng như hoa sen không thể toả hương thơm nếu không bám chặt vào bùn đất để rút tỉa tinh hoa của năng lực nằm trong bóng tối. Và đó chính là con đường Kim cương thừa mà từ thế kỷ thứ 8, con người đã thực hành để đạt đến sự thành tựu.
   Osho chỉ là người muốn thực hiện rộng rãi Kim cương thừa trong thế kỷ 20 tại phương Tây, nhưng có lẽ ông đã phạm một sai lầm. Đó là Kim cương thừa chỉ dành cho những bậc thượng căn, không phải cho quần chúng. Nếu Osho nghe những lời này, hẳn ông sẽ nói “tất cả là thượng căn” vì ông quan niệm ai cũng là Thượng đế cả, không có gì là không thiêng liêng.
Chúng ta sẽ không ngạc nhiên về câu trả lời của một người được mệnh danh là “nổi loạn” như ông, nhưng những gì ông hứng chịu trong cuối đời do chính đệ tử của ông gây ra cho thấy nhiều học trò của ông xem ra không hề “thiêng liêng” gì cả. Phần lớn môn đệ của ông tìm đến vì tò mò, không ít người phản bội ông, làm giàu trên lòng tin ngây thơ của người khác. Trong quá khứ người ta cũng chỉ biết vỏn vẹn có 84 vị Thành tựu giả trong số hàng triệu người tu học tại Ấn Độ thì tại sao ngày nay lại có thể khác. Hơn thế nữa, con người của thời đại này lại càng vô cùng khó khăn hơn nữa khi muốn chuyển hoá một năng lực gắn liền với thân vật chất để thăng hoa, tiến gần với cái thiêng liêng. Thời đại này là kỷ nguyên của chủ nghĩa duy vật, những người tưởng như muốn tìm đến cái thiêng liêng thực chất cũng là môn đệ của chủ nghĩa duy vật tâm linh (spiritual materialism) như Chogyam Trungpa đã nói. Thời nào cũng thế, con người chỉ thấy những gì họ muốn thấy, chỉ tìm những gì họ khao khát. Vì thế khi ông đã lỡ nổi danh là một “sex-guru”, ta có thể đoán biết thành phần và mục đích của những người hướng về ông. Quả thực sau khi ông mất, không có ai đủ sức trình bày một bài thuyết giảng cho xứng đáng là người đã từng theo học với ông.
   Ông mất đi trong sự tan rã của phong trào theo học giáo phái Osho. Thế nhưng, hơn 15 năm sau ngày ông mất, người ta vẫn tìm đọc Osho vì trong sách báo của ông để lại, quả thực có một điều gì có giá trị nội tại, quả thật đây là những lời nói của một con người phi thường. Nhưng mặt khác, người ta cũng thấy phương pháp thiền định của ông không phải dành cho tất cả mọi người. Nếu xét Kim cương thừa và những vị tu sĩ cao cấp đã tu luyện theo phép này, người ta nhớ lại một câu nói giản đơn của một người biết mức độ chọn lọc đối với người hành giả có thể theo học phép tu này. “Chỉ những ai đã xả bỏ tâm phân biệt, những ai mà đối với họ một đĩa thực phẩm sang trọng và một đĩa phân là như nhau, thì kẻ đó mới được theo học Kim cương thừa”. Đó là lời của Đạt-lai Lạt-ma thứ V (1617-1682). Các đệ tử của Osho không hề là những người như thế. Một số đến với ông vì tính cách nổi loạn như ông nhưng một cái khác thì họ không có, một số khác vì tò mò, vì thất bại, vì ưu phiền cá nhân. Dĩ nhiên, nếu thảng có ai trong số đó đã đạt giác ngộ như ông thì điều đó chúng ta không bao giờ biết.

(Lược trích lại bài của Cội nguồn)

CHUYỆN BẠN TÔI

đăng 18:42, 5 thg 9, 2017 bởi Điều Nguyễn Xuân   [ đã cập nhật 09:29, 6 thg 9, 2017 ]

                                                                                        TS Nguyễn Bá Hương BG

Bấy lâu nay, cứ đến ngày 8/3, 30/4. 2/9...là những ngày được ghi dấu trên lịch, tôi lại nhớ tới một người bạn trong nhóm của thế hệ 4X.

   Chúng tôi cùng trạc tuổi với nhau, biết nhau từ thuở học trò. Bạn tôi đã hàng chục năm tham gia chiến trường, là quân Giải phóng. Khi hòa bình trở lại, bạn tôi giải ngũ trở về và chuyển ngành. Sau một thời gian tham gia công tác được cử làm Phó giám đốc một khách sạn của tỉnh.

   Bạn tôi  vốn gốc trưởng thành từ người lính, đã từng ra vào "sinh tử", vì thế luôn sống trung thực, là người cần cù, tốt tính, chịu khó trong mọi việc. Ngoài giờ làm ở cơ quan ra, về nhà lại lao vào việc gia đình... Khi mới chuyển ngành, vợ chồng con cái và bố đẻ ở trong một căn nhà tạm, chật hẹp, sinh hoạt khó khăn. Hàng ngày  bạn tôi đã phải mua rất nhiều xỉ than về, một mình đóng hàng mấy nghìn viên cay xỉ để xây nhà trên mành đất vài trăm mét vuông, cạnh một ngôi chùa gọi là "Chùa Dên". Nỗi vất vả nhất trong thời gian này là bạn tôi đã phải di chuyển hơn hai trăm chiếc tiểu sành có hài cốt nằm dưới  khu đất làm nhà. Mảnh đất này ngày xưa là bãi tha ma của làng Dên.

   Cố gắng của bạn tôi qua một thời gian cũng đã có kết quả. Một căn nhà đổ mái bằng, xây bằng cay xỉ đã được dựng lên. Bạn bè chúng tôi, khoảng gần hai mươi cặp vợ chồng tổ chức chúc mừng nhà mới bạn tôi, và từ đó ngôi nhà bạn tôi trở thành "Trụ sở" tụ tập vui vẻ vào những dịp mồng 8/3, 30/4, 2/9...

   Bạn tôi lao động chăm chỉ, trồng thêm các loại cây ăn quả trên mảnh đất này. Ngoài ra còn chăn nuôi lợn, nuôi gà và nuôi cả vịt vì nhà ngay cạnh ao chùa Dên.

   Thấm thoắt qua hơn chục năm không gặp bạn, do điều kiện thay đổi công việc, tôi phải chuyển sang tỉnh khác và ít có cơ hội để "tụ tập" với các bạn như trước nữa.

   Bạn tôi có hai con trai, các cháu đều ngoan. Thằng cu lớn cũng chăm chỉ lao động. Nhưng không hiểu sao có một thời gian bị dính "nghiện ma túy", cũng đã có vợ và một con, khi thằng cu bị đi tù thì vợ bỏ về mẹ đẻ, vợ chồng bạn tôi phải nuôi bộ cháu nội rất vất vả.

    Cậu con trai thứ hai lại rất hiền lành, chịu khó giúp việc cho bố mẹ. Nhưng thật rủi ro, vào một chiều cậu ta đi chơi với bạn bè ở tỉnh khác bằng xe máy, đến đêm trên đường về thì bị tai nạn chết. Thật đau xót không gì tả nổi nữa!!!

   Gia đình chỉ còn đôi vợ chồng và thằng cháu nội.  Thế rồi đến một ngày, bạn tôi bị tai biến đột ngột và ra đi, vợ bạn tôi từ đó cũng như người mất hồn và bị "lẩn thẩn". Cậu con trai lớn đến kỳ mãn hạn tù trở về, công việc khan hiếm, việc kiếm tiền nuôi mẹ và  nuôi con là cả một gánh nặng khôn lường!

    Câu chuyện về bạn tôi thật đau thương và buồn vô hạn! 

    Nhưng cho đến giờ tôi mới hiểu rõ nguyên nhân của những tai họa mà gia đình bạn tôi vấp phải là do đã làm nhà trên đất mồ mả có rất nhiều hài cốt. Khi khánh thành nhà lại "trấn trạch" bằng những lá Bùa của một chùa nổi tiếng ác nhất miền Bắc nước ta!

   Tôi thấy làm tiếc cho những giọt mồ hôi và công sức mà bạn tôi đã bỏ ra trong quãng đời ngắn ngủi này. Một người bạn chân thành, giản dị, hết lòng vì gia đình, vì bè bạn, luôn cởi mở vui vẻ và sẵn lòng chia sẻ với những ai đang gặp khó nguy!

   Một lần nữa xin gửi tới bạn tôi những tình cảm thiêng liêng và lòng cảm nhớ chân thành của những người bạn đang còn trên quãng đời này!

  Thử thách luôn là thước đo của chính mình !

                                                                                                BG. 2.IX.2017

HAI PHẠM TRÙ THÔNG MINH VÀ TRÍ HUỆ

đăng 09:17, 30 thg 8, 2017 bởi Điều Nguyễn Xuân   [ đã cập nhật 18:52, 5 thg 9, 2017 ]

                                                                                                 Đàm Thanh Giang

    

Thông minh là năng lực của con người, còn trí huệ là cảnh giới của tâm. Bề ngoài nhiều khi ta lẫn rằng là một. Kỳ thực đó là hai phạm trù khác nhau về nguồn gốc cũng như cách biểu hiện.

    Trên thế giới người thông minh không nhiều, mười người thì có một, nhưng người có trí huệ thì lại càng hiếm, có khi đi cả vạn người cũng không thấy một ai.

    Trong cuộc sống sinh hoạt thường ngày, người thông minh thường không dễ chịu thiệt, nhưng đối với người trí huệ điều đó lại là bình thường.

    Người thông minh luôn cố gắng bảo vệ lợi ích bản thân.nhưng người có trí huệ thì ngược lại, họ có thể chấp nhận bỏ lợi ich bản thân thực hiện công việc cần thiết.

    Người thông minh biết rằng bản thân mình có thể làm được những gì, nhưng người có trí huệ thì hiểu rõ bản thân không thể làm được những gì.

    Người thông minh thường tìm kiếm, nắm bắt cơ hội, cố gắng để đạt được nó; nhưng người có trí huệ thì hiểu rõ lúc nào cần buông tay. Vậy nên, người thông minh là người biết chớp thời cơ, người có trí huệ là người biết xả bỏ.

    Đôi khi người thông minh thái quá sẽ trở nên khôn ranh, họ có thể tìm cách thoái thác công việc, nhưng người trí huệ lại ít tính lợi ích cá nhân, việc gì cần thì họ sẽ nỗ lực làm.

   Người thông minh là có thể hiển thị tất cả tài năng của mình cho người khác biết, nhưng người trí huệ lại là người biết nhìn nhận vẻ đẹp của người khác.

    Người thông minh thường chú ý đến từng tiểu tiết; người trí huệ thường coi trọng cả chỉnh thể.

    Người thông minh trong tâm nhiều phiền não, khó được an giấc, vì người thông minh thường hay mẫn cảm với người khác, mà người trí huệ thường ít có phiền não, có thể buông bỏ được nhiều thứ, đối với họ tâm tình dễ thản nhiên.

    Người thông minh thường muốn thay đổi người khác, muốn người khác phải thuận theo ý của mình, nhưng người trí huệ lại thường thuận theo tự nhiên. Do đó các mối quan hệ của người thông minh thường phức tạp, còn người trí huệ thường có các mối quan hệ hài hòa hơn.

    Người thông minh đa phần là do trời sinh, nhưng người trí huệ là người luôn tự rèn luyện, tu dưỡng bản thân mình.

    Người thông minh có thể tích lũy nhiều tri thức nhưng người trí huệ thường lấy văn (cái đúng, cái tốt, cái đẹp) để hóa (dạy mình dạy người). 
Cho nên người càng có nhiều tri thức thì càng thông minh, nhưng người càng có nhiều văn hóa càng thể hiện là người có trí huệ.

    Người thông minh thường dựa vào tai, mắt, hay gọi là “tai thính mắt tinh”, nhưng người trí huệ thường dựa vào Tâm , trí huệ xuất phát từ Tâm.

    Các khoa học gia thường dạy con người phải biết thông minh, còn Tôn giáo dạy người ta trí huệ.

    Người thông minh có thể có nhiều của cải và quyền lực, người trí huệ lại giàu niềm vui. Vì người thông minh thường có nhiều kỹ năng hơn, có thể chuyển hóa thành tài phú và quyền lực. Nhưng của cải, quyền lực cùng sự vui vẻ không đồng nhất, vui vẻ đến từ chính Tâm thái của chúng ta.

   Do đó, để cầu tài sản nếu có thông minh dễ có thể được; còn để cầu thoát khỏi phiền não, nếu không có trí huệ thì khó thể được.

                                                                                        (29.VIII.2017)

ĐIỀU CHỈNH TRẺ TỰ KỶ,TĂNG ĐỘNG BẰNG "MŨ TỪ TRƯỜNG" SINH HỌC

đăng 11:28, 23 thg 5, 2017 bởi Điều Nguyễn Xuân   [ đã cập nhật 09:06, 17 thg 8, 2017 ]

(Phần 2)

     Để hiểu thêm về phương pháp điều chỉnh trẻ "Tự kỷ" bằng từ trường, chúng ta tìm hiểu sơ bộ về điện từ trường và tương tác Trường sinh học.

1. Điện trường 

     Là đại lượng vật lý có hướng, được biểu diễn thông qua vector cường độ điện trường (thường được ký hiệu là E). Cường độ điện trường trong không gian có thể được biểu diễn bằng các đường sức điện trường. Vector cường độ điện trường có phương trùng với phương tiếp tuyến của đường sức điện trường và có chiều trùng với chiều của đường sức điện trường. Tập hợp các đường sức cường độ điện trường gọi là điện phổ.

Cường độ điện trường gây ra bởi điện tích điểm được tính bằng công thức:

                                        Trong đó:

                                            *   q là độ lớn điện tich

                                       *   Ɛₒ là độ điện thẩm chân không

                                           *    Ɛ là hằng số điện môi của môi trường

                                           *    r là khoảng cách từ điện tích đến điểm ta xét

     Với cường độ điện trường này, một điện tích khác nằm trong nó sẽ chịu lực điện tỷ lệ với tích hai điện tích và tỷ lệ nghịch với bình phương khoảng cách. Đó chính là lực Coulomb.

     Để tính được điện trường do một vật mang điện gây ra, có thể chia nó ra thành nhiều vật nhỏ hơn. Nếu phép chia tiến đến một giới hạn nào đó, vật nhỏ mang điện sẽ trở thành một điện tích. Khi đó có thể áp dụng nguyên lý chồng chất cho điện trường (hay còn gọi là nguyên lý tác dụng độc lập).

     Cường độ điện trường tại một điểm trong điện trường do N điện tích điểm gây ra bằng tổng vectơ cường độ điện trường do từng điện tích điểm gây ra tại điểm đó.

 

2.Từ trường 

     Là môi trường vật chất đặc biệt sinh ra quanh các điện tích chuyển động hoặc do sự biến thiên của điện trường hoặc có nguồn gốc từ các mômen lưỡng cực từ như nam châm. Mỗi điểm trong từ trường được miêu tả bằng toán học thông qua hướng  độ lớn tại đó; từ trường được miêu tả bằng trường vector. Người ta hay sử dụng khái niệm lực Lorentz tác dụng lên một điện tích điểm chuyển động để định nghĩa từ trường. Ký hiệu từ trường  B hoặc H cho từng trường hợp cụ thể.


     Các hạt điện tích chuyển động hoặc mômen từ nội tại của các hạt cơ bản đi kèm với tính chất lượng tử căn bản là spin là nguyên nhân của từ trường. Trong thuyết tương đối hẹp, điện trường và từ trường là hai khía cạnh của cùng một thực thể, mô tả bằng tenxơ điện từ; tenxơ này trở thành điện trường hay từ trường phụ thuộc vào hệ quy chiếu tương đối giữa người quan sát và hạt điện tích. Trong vật lý lượng tử, trường điện từ bị lượng tử hóa và tương tác điện từ là kết quả của sự trao đổi các photon giữa các hạt cơ bản, như mô tả bởi điện động lực học lượng tử.

     Từ trường đã được ứng dụng từ thời cổ đại và có nhiều thiết bị ngày nay hoạt động dựa trên nó. Trong định vị hướng và vị trí, người ta sử dụng la bàn do Trái Đất sinh ra từ trường. Từ trường quay được áp dụng trong các động cơ điện hay máy phát điện. Thông qua hiệu ứng Hall lực từ cho biết thông tin về hạt tích điện trong vật liệu. Ngoài ra từ trường là cơ sở cho sự hoạt động của máy biến áp và các mạch từ.

 

3. Tương tác Trường sinh học

    Năng lượng sinh học của cơ thể sống là loại vật chất mịn. Tương tác "Trường NLSH" là tương tác của các hạt vi mô mịn. Người ta nhận thấy rằng tương tác loại vật chất này có tính tức thời, không tuân thủ các quy luật vật lý như truyền dẫn, tiêu hao, v.v.

    Tương tác "Trường NLSH" còn gọi là "Tương tác hào quang". Những hạt vi mô mịn đều tuân theo một quy luật quan hệ nằm ngoài tầm khống chế của không gian ba chiều và thời gian tuyến tính, do đó điều gì đã xảy ra đối với một hạt thì đồng thời ảnh hưởng lên các hạt khác; ảnh hưởng này có định hướng và mang thông tin.

 

4.  Sự khác nhau giữa tương tác vật lý và tương tác Trường NLSH

 

                   TƯƠNG TÁC                                                  TƯƠNG TÁC

                  TRƯỜNG ĐIỆN TỪ                                          HÀO QUANG

 

1.  - Lực tương tác tỷ lệ nghịch                     - Tương tác không phụ thuộc

       với bình phương khoảng cách.                       không gian và thời gian.

    

2.   -Tương tác lên vật có từ tính,                 - Tương tác lên bất kỳ vật gì,                                                                      

       vật dẫn điện...                                           đặc biệt có tác động mạnh

                                                                                   lên cơ  thế sống.

 

3.   - Khác dấu thì hút, cùng dấu thì đẩy.         - Giống nhau thì hút. Khác nhau 

                                                                                  thì chinh phục

 

4.   - Nguồn phát có thể                                    - Mọi nguồn phát đều

        không chứa thông tin.                                        chứa thông tin.

 

5.   - Quá trinh truyền dẫn bị tiêu hao.               - Rất ít bị tiêu hao khi truyền tải.

 

Tác dụng của tương tác hào quang:

                - Tạo khuôn mẫu cho cơ thể sống.

                - Hình thành tư tưởng, tình cảm.

                - Định hình thái hành đông.

                - Đồng hóa, cộng hưởng hào quang khác.

                - Phản ứng  và phòng vệ năng lượng.

 

5. Sử dụng "Mũ từ trường" trong điều chỉnh "Trẻ tự kỷ"

    Bộ não con người có cấu tạo tinh vi nhất trong vũ trụ này. Nó hoạt động giống như một nhà máy phát điện với các đường dẫn là các nơron thần kinh. Mọi tác động từ bên ngoài vào bộ não đều được biến thành các tín hiệu xung điện đặc biệt và truyền tải đến nơi cần thiết của các cơ phận trong cơ thể người.

    Mũ từ trường được thiết kế theo nguyên lý "đóng mạch từ" cho toàn bộ những vật mang từ tính được cấu tạo hình cầu như từ trường Trái đất. Đây là một thao tác mang "tính kỹ thuật" rất mới trong quá trình xếp sắp hơn một trăm các hình cầu đặt vào vị trí của mũ có liên quan tới hai bán cầu não, vùng LX6, vùng chẩm và vùng LX7. Từ thời cổ đại, người Ả rập, Trung Quốc, Ai cập, Do Thái, Bách Việt... đã từng dùng vật từ tính để chữa bệnh. Khi đeo trước trán một vật từ tính thì từ tính này sẽ ảnh hưởng đến từ tính của vùng gần tuyến Tùng, một tuyến tiết ra các hormon cần thiết cho cơ thể, trong đó có chất melatonin gây trạng thái an thần. Các nhà khoa học đã tìm thấy trong mô não, mô của một số tổ chức khác có các chất từ tính. Từ tính ấy trong cơ thể có thể làm ảnh hưởng đến các đám sắt từ ở gần và ngược lại.

    Thế kỷ XV, Paracelus- một người khá am hiểu về các dòng năng lượng trong cơ thể đã chỉ ra rằng: Từ trường có thể tiếp sinh lực cho người bệnh và thúc đẩy quá trình lành bệnh. Đến thế kỉ XVIII, Franz Anton Mesmer chịu sự ảnh hưởng của công trình nghiên cứu của Paracelus đã dùng nam châm và thôi miên để chữa một số bệnh. Tuy nhiên khi đó, cách chữa bệnh bằng thuốc đang chiếm vị trí độc tôn nên cách chữa của Franz Anton Mesmer bị rơi vào quên lãng. Đến thế kỷ XX (nhất là cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI) đã có những thí nghiệm ghi nhận về từ trường của con người, mối quan hệ của từ trường bên ngoài, từ trường bên trong cơ thể và bệnh tật. Không những thế, người ta còn đo được cường độ của các từ trường dù có lúc cường độ đó là cực nhỏ. Trực tiếp hay gián tiếp ảnh hưởng đến việc điều tiết các chất hướng sinh học như hormon và qua đó sẽ ảnh hưởng tới các quá trình do các hormon điều chỉnh. Làm thay đổi hoạt tính các enzym và qua đó ảnh hưởng tới các quá trình chuyển hóa do các enzym này xúc tác. Kích thích dòng năng lượng điện từ thông qua các đường kinh, huyệt châm cứu. Những tác động này sẽ giúp chữa hoặc hỗ trợ chữa bệnh. 

      Khi "Mũ từ trường" được đội vào đầu, các vòng từ trường sẽ tương tác với các điện tích ion của tế bào thần kinh và làm cân bằng động điện áp màng tế bào, quân bình Âm Dương, hoàn thiện khuôn mẫu năng lượng sinh học của hệ thồng thần kinh trung ương. Nguyên lý này dựa trên "Hiệu ứng Hall". Sự tác động của từ trường bên ngoài lên từ trường bên trong cơ thể có thể tạo ra các tác dụng không ngờ: Tăng cường lưu lượng dòng máu, mang thêm chất dinh dưỡng và ôxy đến nuôi dưỡng các tổ chức và mang ra khỏi tổ chức các chất cặn bã. Điều chỉnh dòng calci, từ đó làm ảnh hưởng đến nhiều quá trình sinh lý khác (như quá trình tạo xương, sự tăng giảm huyếp áp). Làm thay đổi tính chất acid hay kiềm của cơ thể sống và lập lại cân bằng vốn bị rối loạn khi suy yếu.

     Từ trường được sớm ứng dụng trong y học và phát triển nhanh chóng trên các lĩnh vực chẩn đoán, điều trị, dược học… mà thành tựu tiêu biểu là kỹ thuật ghi hình ảnh bằng cộng hưởng từ (Magnetic Resonance Imaging – MRI). Chữa bệnh bằng từ trường đã góp phần làm phong phú ngành vật lý trị liệu – phục hồi chức năng của con người.

      Cho đến bây giờ việc chữa bệnh bằng từ trường cũng chưa phổ biến bằng cách dùng thuốc, song nguyên lý khoa học của liệu pháp đã dần dần được xác định, tạo nên niềm tin và sự hấp dẫn. Chỉ tính riêng các nam châm từ chữa bệnh, doanh số bán hàng năm tại Mỹ cũng đã lên tới 2 tỷ USD. Nhưng điều quan trọng hơn doanh số là chính các nhà bảo hiểm đã chấp nhận thanh toán, đồng nghĩa với việc công nhận chúng như các liệu pháp truyền thống khác. 

 

    Trong giai đoạn thử nghiệm và ứng dụng, khi dùng "Mũ từ trường" cho những người bị căng thẳng thần kinh, đau đầu, huyết áp... thấy có kết quả rất tốt và có tác dụng rất nhanh chóng.


 photo M T trng.jpg



 photo IMG_5661.jpg



 photo IMG_5659.jpg

  
Thực nghiệm "Mũ từ trường"

 

     Bước vào thực hành, "Bộ môn hỗ trợ trẻ tự kỷ" đang có sự nỗ lực của các thành viên trong việc thực hiện giúp đỡ cho trẻ. Cần chú ý quan sát và lao động một cách nghiêm túc, trung thực với kết quả và thực hiện chính xác đối với kỹ thuật điều chỉnh. Đây là công việc thật sự mới mẻ, trước mắt luôn luôn có nhiều thử thách và còn nhiều khó khăn mà mỗi người cần tự nguyện vào cuộc và cùng nhau chung vai gánh vác với tinh thần đoàn kết chặt chẽ để người người được bộc lộ tấm lòng yêu thương đồng loại của riêng mình.

     Mọi thành công trong cuộc sống đều phải có sự góp sức của từng giọt mồ hôi.

     Thận trọng, kiên trì, trung thực là đức tính của những người làm khoa học.

    "Mỗi người đều có một bộ mặt biết ngẩng lên để nhìn trời cao"!

 

                                                                                                                                   Hà nội, 1h29' 24.V,2017

Trẻ "Tự kỷ, tăng động" điều chỉnh bằng từ trường

đăng 08:39, 29 thg 3, 2017 bởi Hoàng Lê Vũ   [ cập nhật 01:38, 21 thg 7, 2017 bởi Điều Nguyễn Xuân ]

(Phần 1)



I. Từ trường


     Để hiểu về từ trường, ta cần hiểu về một vật liệu mang từ tính là “Nam châm”.

     “Nam châm” là vật được cấu tạo từ các vật liệu từ cứng có khả năng giữ từ tính không bị mất từ trường, được sử dụng như những nguồn tạo từ trường.



 Đường sức từ trường quanh hai cực của một nam châm



    Nam châm là các vật có khả năng hút vật khác bằng sắt hay thép non và đẩy các nam châm cùng cực. Trong từ học, nam châm là một vật có khả năng sinh một lực dùng để hút hay đẩy một từ vật hay một vật có độ cảm từ cao khi nằm gần nam châm. Lực phát sinh từ nam châm gọi là từ lực.

    Nam châm là một nguồn từ có hai cực: Bắc (N), Nam (S) và một từ trường được tạo từ các đường từ (đường sức) đi từ cực Bắc đến cực Nam. Các đường sức từ còn gọi là từ phổ. Các từ phổ này gồm hai dạng: một là các đường sức từ song song nằm trong lõi dây; hai là các đường cong từ cực Bắc sang cực Nam của nam châm.

    Nhờ có từ trường mà trái đất chuyển động quanh mặt trời hàng bao nhiêu tỷ năm cho đến nay vẫn không hề ngừng nghỉ, như một “động cơ vĩnh cửu lý tưởng” mà loài người trên trái đất hằng ước mơ chế tao. Từ trường trái đất tạo thành hình xuyến ra cực Bắc vào cực Nam. Vì vậy, khi ngồi Thiền, nhất là vào lúc 23h cho đến 1h sáng, quay mặt về hướng Nam – Bắc, sẽ nhận được nhiều sóng năng lượng một cách đặc biệt, lúc đó ta giống như một thỏi nam châm vậy. Con người đã có cơ hội để hòa đồng với vũ trụ.


II. Cơ thể người giống như một thanh nam châm

     Cơ thể người như một thanh nam châm: có hào quang bao quanh và giao thoa của các sóng năng lượng (giống như đường sức từ trường), tạo ra các huyệt đạo trên hệ thống kinh lạc mà y học Phương Đông đã phát hiện ra cách đây hàng vạn năm.



                                           
                                           Hào quang (Aura)                                       



     Theo quan niêm của triêt học Phương Đông, con người là một tiểu vũ trụ.Trên cơ thể người có nhiều đại huyệt nằm trên mạch Nhâm và mạch Đốc, trực tiếp tác động liên quan chặt chẽ tới các cơ phận trong cơ thể sống, các đại huyệt còn gọi là Luân xa. Có hai đại huyệt được chú ý nhiều là LX 7 ở huyệt Bách hội (giống như cực Bắc của thanh nam châm) và LX1 ở huyệt Hội âm ( giống như cực Nam của thanh nam châm).

     Trục LX 7 (huyệt Bách hội) và LX 1 (huyệt Hội Âm) tạo ra quanh cơ thể các sóng năng lượng “hình xuyến” (giống như điện trường, từ trường). Các sóng năng lượng này chỉ xuất hiện khi cơ thể con người còn sống, nó tác động lên toàn bộ các cơ phận trong cơ thể thông qua việc tiếp thu năng lượng từ Địa khí và Sinh khí trong vũ trụ. Sóng năng lượng hòa đồng với “khuôn mẫu năng lượng” hay còn gọi là “hào quang” (Aura) trên cơ thể, khi cơ thể được kích hoạt, mức năng lượng đạt tới đỉnh cao, kinh mạch được khai thông mạnh mẽ, năng lượng thoát ra khỏi LX7, quay trở về LX1 tạo thành các sóng hình xuyến giống như đường sức của từ trường, nó cộng hưởng với hào quang bao quanh cơ thể và có khả năng phát sáng một cách kỳ lạ! Thời điểm này Hạnh phúc dâng lên tràn đầy và có thể kéo rất dài...



Dòng năng lượng bao quanh cơ thể người giống từ trường


III. Điều chỉnh trẻ "Tự kỷ, Tăng động" bằng từ trường nam châm


1- Nguyên nhân trẻ "Tự kỷ tăng động"


Trạng thái trẻ bị "Tự kỷ tăng động" cho đến nay y học hiện đại chưa tìm ra được nguồn gốc. Có rất nhiều nguyên nhân, trong đó có một nguyên nhân phổ biến hiện nay hay gặp phải là gia đình bố mẹ các bé dùng Bùa ngải: Bùa đeo vào cổ, nhét trong gối ngủ của bé, cho vào cắp sách, hộp bút...và đa số là trấn yểm Bùa ngải trong nhà mà bé ở hàng ngày, hoặc đến trường đến lớp, trong lớp có dán Bùa, có bàn thờ thổ công thổ địa, thần tài! Ngoài ra còn một nguyên nhân khác nữa là bé mới được vài tháng, gia đình đem "bán khoán" cũng dễ sinh ra Tăng động, Tự kỷ!

Các bé bị trạng thái Tăng động, Tự kỷ thường được gia đình phát hiện lúc từ 1-3 tuổi. Theo thống kê phần nhiều là bé trai và rất đẹp trai. Bé gái ít bị. (Có lẽ vì bé trai được quan tâm chăm sóc và cưng chiều nhiều hơn)!


2- Phương pháp dùng từ trường điều chỉnh cho trẻ Tự kỷ tăng động


Vật lý phổ thông đã chứng minh: Khi một khung dây kim loại chuyển động trong từ trường thì sinh ra dòng điện. Dựa trên hiện tượng cảm ứng điện từ.



Khung dây kim loại quay trong từ trường sinh ra dòng điện trong khung


    Trẻ "Tự kỷ tăng động" đa số là bé trai, bị "Năng lượng lạ" xâm nhập vào hạch thần kinh vùng bán cầu não bên trái, còn bé gái thì ở bán cầu não phải. Tại các vùng này, tế bào thần kinh luôn bị các xung "Năng lượng lạ" gây hấn, làm "nhòe và gây rối loạn" các vùng thần kinh tiếng nói, hệ vận động... Kết quả là làm mất cân bằng động điện áp màng tế bào thần kinh, gây ra trạng thái "Tự kỷ tăng động" của trẻ. Trẻ chậm nói, khó nói. Chân tay luôn hoạt động không ngưng nghỉ, thậm chí đập phá, chạy lao như tên, miệng la hét, vớ gì ăn nấy...trông rất thương tâm.


    Để giải quyết hiện tượng này, ta dùng 1 thỏi nam châm hình tròn, độ dày cỡ 1cm, đường kính từ 4-5cm. Nam châm được đánh dấu cực Nam và cực Bắc.

    Thời gian để điều chỉnh cho bé vào lúc 23h, trong lúc bé đang ngủ. Người nhà cầm thỏi nam châm xoay tròn trên bán cầu não bên trái, nếu là bé trai, hoặc bãn cầu não bên phải nếu là bé gái. Thời gian xoay 30 phút. Từ trường đã tháo gỡ các nút thắt trong hạch thần kinh có chứa "Năng lượng lạ".


Chú ý: Từ ngày mồng 1 đến ngày 15 (rằm) thì hướng cực Bắc vào bán cầu não, từ ngày 16 đến cuối tháng thì hướng cực Nam. Đây là một kỹ thuật đòi hỏi cần thực hành nghiêm túc và chuẩn xác. Trong quá trình thực hiện, cần quan sát sự biến chuyển của bé hàng ngày.

    Sau này, có thể dùng 2 thỏi nam châm trong lúc điều chỉnh. Bước đầu chỉ nên dùng 1 thỏi cho thuần thục. Phương pháp dùng 2 thỏi nam châm sẽ được giới thiệu sau.


    Một nguyên tắc không thể thiếu được trong quá trình tiến hành phương pháp này là trong nhà tuyệt đối không được có Bùa ngải. Điều quan trọng là ngôi nhà bé đang sống cần có trường năng lượng tốt thì mới có kết quả!


    Chúc những gia đình có bé "Tự kỷ, tăng động" thành công!

(còn nữa...)

(HN, 28.III.2017)

BA KHÍ CHẤT GIÚP GIA ĐÌNH HƯNG THỊNH CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ

đăng 01:27, 24 thg 3, 2017 bởi Hoàng Lê Vũ   [ cập nhật 11:42, 23 thg 5, 2017 bởi Điều Nguyễn Xuân ]



Đàm Thanh Giang

Người phụ nữ là phúc khí quyết định sự thịnh suy của một gia đình. Dù người phụ nữ có đẹp đến mấy rồi cũng có ngày hương sắc tàn phai, nhưng có những khí chất, những giá trị càng lâu năm càng tỏa sáng.
Khí chất của người phụ nữ giống như tinh hoa được tinh luyện từ hàng ngàn vạn nhụy hoa tinh túy nhất. Nó ẩn sâu bên trong mà từ từ tỏa ra bên ngoài thông qua tính cách, lời nói, hành vi. Một người phụ nữ giúp gia đình hưng thịnh có 3 khí chất dưới đây:

1 - Có nội tâm thuần thiện
Trong “Kinh Thi”, người xưa miêu tả về một người phụ nữ đẹp là: “Khéo cười tươi, đôi mắt đẹp, trắng trong thuần khiết”. Ý nói người phụ nữ đẹp thể hiện ở khuôn mặt tươi sáng, trắng trong thuần tịnh.“Trắng trong thuần tịnh” ở đây là chỉ nội tâm, một tấm lòng thuần khiết.
Người phụ nữ có khí chất này không đố kỵ, không giả dối, không phán xét, hoài nghi người khác, không oán hận mà luôn dùng sự lương thiện, tốt lành để nghĩ đến người khác. Họ luôn thương cảm, khoan dung với mọi người. Đây là khí chất phát ra từ nội tâm trong sáng, khiến cho những người ở gần họ, dù là nam hay nữ, người già hay trẻ đều cảm nhận thấy họ là người phụ nữ thực sự đẹp và lương thiện. Ai khi gặp gỡ cũng vui vẻ mong muốn được kết giao với người phụ nữ có khí chất này.

2 - Có phẩm chất đạo đức truyền thống
Con người nhất định phải có đủ ba yếu tố “thiên mệnh”, “đức hạnh” và “tài năng”nếu muốn có một cuộc sống hạnh phúc. Trong đó, “đức hạnh” là yếu tố quan trọng nhất. Khi một người có đức hạnh cao thượng, như nhân, nghĩa, lễ, trí, tín…thì thiên thượng mới có thể an bài cho họ những gì tốt nhất và ban phát cho tài năng tương xứng. Đây không chỉ là yêu cầu đối với người đàn ông mà đối với người phụ nữ cũng có yêu cầu như vậy.
Thời xưa, “giúp chồng, dạy con” là một loại tiêu chuẩn quan trọng để đánh giá trình độ và đức hạnh của một người phụ nữ, và cũng là sự khen ngợi đối với người vợ hiền thục.
Người phụ nữ có khí chất này không dùng lời nói thẳng khó nghe mà luôn đoan trang, hiền dịu, khoan thai bình tĩnh. Tất cả những yếu tố này đều phát ra từ nội tâm tôn trọng chồng, lặng lẽ dạy dỗ con. Nhìn địa vị của người phụ nữ này thì tưởng như thấp kém, không quan trọng nhưng kỳ thực nó là cái gốc, nền tảng tạo nên sự thịnh suy của một gia đình

3 - Ôn hòa thùy mị
Người xưa thường dùng “nước” để hình dung về người phụ nữ là vì nước mềm mại và có thể bao dung tất cả. Người xưa cũng có câu: “Bậc cao của thiện là như nước”, “biển dung nạp trăm sông”, “nước chảy đá mòn”. Nhìn người phụ nữ ôn nhu, mềm mại nhưng một khi sự ôn nhu được tích súc lại có thể đỡ được cả gánh nặng trăm cân.
Người phụ nữ như nước còn là vì họ luôn lấy khổ làm vui, ngày tháng thanh lọc tâm hồn giống như nước hàng ngày chảy mãi làm sạch mọi vật. Nước chảy theo dòng, khi gặp chướng ngại thì uốn thành một dòng chảy khác. Người phụ nữ khi gặp mâu thuẫn, nghịch cảnh thì dùng sự mềm mại, nhẹ nhàng để hóa giải. Người phụ nữ ôn nhu, thùy mị có thể bao dung tất cả, đó cũng là nền tảng giúp gia đình ngày càng hưng thịnh.

(Lược bài của ĐKN)

"HẦU ĐỒNG" QUA MỘT BÀI BÁO

đăng 19:00, 25 thg 12, 2016 bởi Hoàng Lê Vũ   [ cập nhật 01:43, 21 thg 7, 2017 bởi Điều Nguyễn Xuân ]



Hà Nội 26.XII.2016 Tuyết Sơn 



     Khi đọc bài báo "Ông Tây mê hầu đồng" của Thanh Hương, đăng trên mạng 06:49 ngày 13 tháng 11 năm 2016, chúng ta thấy rằng: Ông Tewfic El-Sawy chỉ là một người chụp ảnh chuyên nghiệp. Ông ta không phải là nhà Sử học, không phải là nhà Khoa học tự nhiên hay xã hội. Ông ta giống như người khách đi chợ, vào chợ thấy thứ gì thích mắt thì dùng theo ý của riêng mình, ông ta không thể đại diện cho tất cả những người tham gia trong cuộc họp chợ ấy! Ông ta không thể hiểu kỹ các phong tục tập quán của người Việt bằng chính người Việt nam chúng ta, trong đó có hoạt động "Đồng cốt đồng bóng".

     Cái ngày ông lên Sapa, vô tình gặp được một cuộc "Hầu đồng", cũng là ngày định mệnh! Có lẽ ông ta đã bị nhiễm một năng lượng lạ làm cho tinh thần ông không còn được như ngày trước. Trên Sapa, chúng ta thường thấy một số Tây mũi lõ bế con lẻo rẻo lang thang trên đường, họ không biết rằng đã bị chài ém mà trở nên như vậy, không có đường về. Mọi người đêu biết ở những vùng miền núi xa xôi, có nhiều phong tục rất bí hiểm như "Thờ ma xó, thờ ma gà, bùa chú, thư, ém". Những người lạ nhất là những người phương Tây, khi đến những nơi này, thì họ làm sao mà biết được những năng lượng "vô hình" ấy đã tác động vào họ "mê mẩn ngất ngây" như thế nào!

     Cách đây it lâu có một câu chuyện đang trên báo kể về một anh bộ đội người miền xuôi lên đóng quân tại Hà giang, anh đã có vợ và 2 con ở quê. Do bị chài ém mà anh ta đã chung sống như vợ chồng với một cô gái người dân tộc. Khi đã hết hạn nghĩa vụ quân sự, anh phải về quê, cô gái dân tộc cố giữ anh ở lại nhưng không được, cô đã cài một chiếc Bùa hình con rắn vào đáy ba lô của anh. Khi về quê một thời gian, Bùa ngải phát tác, anh bị điên dở và đã ra tay giết vợ và 2 con, sau đó tự sát. Một câu chuyện án mạng rất đau lòng!

     Tewfic El-Sawy cũng đã thừa nhận: Quay về Mỹ, ông lập tức tìm kiếm thông tin về tín ngưỡng dân gian của người Việt. “Nhưng tôi đã rất ngạc nhiên vì có rất ít thông tin trên mạng, hay các cuốn sách tư liệu bằng tiếng Anh hoặc tiếng Pháp về đạo Mẫu và nghi lễ hầu đồng". Bên cạnh nguồn tư liệu ít ỏi có được, ông tìm hiểu, nghiên cứu về đạo Mẫu, nghi lễ hầu đồng từ chính những cuộc trò chuyện với các thanh đồng, đồng thời từ việc quan sát điệu bộ, hành động, quần áo... của họ trong các buổi lễ.

     Như vậy toàn bộ những gì ông ta biết về "hầu đồng" đều là do tham dự các cuộc hầu đồng mà có được, chứ không phải nghiên cứu qua các tài liệu lịch sử văn hóa của dân tộc Việt!

     Nghi lễ hầu đồng chưa bao giờ được ghi nhận trong lịch sử văn hóa của Người Việt. Qua rất nhiều triều đại từ Đinh, Lê, Lý Trần, Lê...có bao giờ thấy nói tới tín ngưỡng "Hầu đồng"? Bản thân mọi người, kế cả những người có học vấn ở Việt Nam, cũng không hề được nhà trường dạy hay tuyên truyền về hầu đồng. Từ xưa đến nay, ở Việt Nam mọi người vẫn coi "hầu đồng" là một hoạt động mê tín dị đoan khủng khiếp!

     Hòa thượng Thích Thanh Từ, Ngài họ Trần, là hậu duệ của Phật Hoàng Trần Nhân Tông đã viết: "Đồng cốt là hiện tượng mê hoặc khủng khiếp! Những kẻ làm ông đồng, bà cốt đều là người sống trong trạng thái bất thường. Bản thân họ đã mất hết khả năng tự chủ, họ bị sai sử bởi một ma lực huyền bí nào đó. Khi ma lực ấy dựa vào họ, liền lạm dụng các danh hiệu thánh, những bậc vĩ nhân của thuở xưa dùng mạo xưng để lừa bịp người đời. Những kẻ yếu vía dễ tin, nghe xưng danh hiệu Phật, Bồ tát hay những vị tiên thánh, liền khiếp đảm kính tin. Họ không dám phê phán đó là Tà hay Chính. Thế rồi, họ một mực quỳ mọp để được phong chức, hoặc nhận phép lành. Họ bị gạt bằng những danh hão trong cõi vô hình, hoặc bằng những bùa phép lạ, những huyễn hoặc về quá khứ vị lai. Từ đây họ sống bằng ảo vọng mơ huyền, mất hết lý trí thực tại...Những ma lực tựa vào đồng cốt đều là sức của quỷ thần. Vì sợ người đời không tin, nên chúng mạo xưng những danh hiệu cho to để gây uy tín.Chúng ta phải khám phá dẹp tan những lối mê hoặc ấy". (THÍCH THANH TỪ, Mê tín Chánh tín, NXB Tôn giáo 2004)

     Như vậy chúng ta đều hiểu rõ về "đồng cốt" qua thực tế xã hội của người Việt và lời dạy của vị Hòa Thượng họ Trần. Bởi vì đã có mấy ai nhìn thấu được các mặt Chính-Tà của các sự việc trong cuộc đời này như các bậc tu hành chân chính và trí tuệ.

      Thoạt nhìn và đọc bài báo của Thanh Hương, cứ nhầm tưởng rằng "đồng cốt" là một món ăn tinh thần không thể thiếu được của đồng bào người Việt Nam chúng ta! Sự thật không phải như vậy! Thực chất đằng sau những việc cổ súy cho "đồng cốt" là cả một sự kiện "đặc biệt", bởi vì kết quả của việc "đồng cốt" là "Một cơn lốc" có một không hai cho những ai đang mò mẫm đi trên con đường đầy bí hiểm đó!

     "Thà thắp lên một ngọn nến còn hơn là nguyền rủa bóng tối" !




Ông Tây mê hầu đồng

06:49 ngày 13 tháng 11 năm 2016

Thanh Hương


TP - Trong không gian ấm cúng, tiếng đàn hát của cung văn thánh thót, nhịp nhàng. Cạnh đó, một ông Tây cao lênh khênh, đứng dựa vào tường, chân gõ nhịp, đầu đung đưa, những ngón tay chụm lại múa múa theo giai điệu, đầy say mê. Ông là nhiếp ảnh gia người Mỹ Tewfic El-Sawy.

Đi theo tiếng nhạc

Tiếng nhạc réo rắt, tiếng trống xập xình như chất dẫn truyền đưa Tewfic ngược dòng thời gian trở về thời điểm cách đây 2 năm, khi ông bắt đầu biết đến nghi lễ kỳ lạ: Hầu đồng.

Ông là nhiếp ảnh gia tự do đến từ New York, người đã đi khắp nhiều quốc gia châu Á, Mỹ La-tinh và châu Phi để thâm nhập vào đời sống văn hóa bản địa và chụp lại những bức ảnh về cuộc sống, con người.

Một buổi sáng năm 2014, tại Việt Nam, khi đang lang thang ở những bản làng Sa Pa, Tewfic El-Sawy đã “bị” tiếng nhạc dập dìu và những tiếng hô hào reo gọi dẫn dắt, lôi cuốn. Ông men theo đồi núi, lần theo âm thanh ấy và đến trước một ngôi đền. Đó cũng là lần đầu tiên nhiếp ảnh gia người Mỹ được tham dự một buổi lễ hầu đồng. “Tôi thực sự ngạc nhiên. Đó là một nghi lễ tôn giáo hỗn hợp giữa thời trang, vũ đạo và nghệ thuật sân khấu, tất cả những người tham gia đều say mê, hào hứng theo một cách mà tôi chưa bao giờ thấy trước đây”- Tewfic nói.

Hình ảnh cô đồng qua con mắt của nhiếp ảnh gia người Mỹ.- Ads by Adsia

Ông nhớ lại: “Rất may mắn là tôi được phép tham dự từ đầu đến cuối, được chụp ảnh, thậm chí một người phụ nữ còn đưa tiền cho tôi. Tôi cảm ơn bà nhưng bảo rằng tôi không cần tiền. Mọi người xung quanh đều cười bảo tôi phải cầm lấy. Lúc sau, tôi mới biết đó được coi là món quà linh thiêng, mang lại may mắn cho tôi”. Rào cản ngôn ngữ khiến ông không hiểu hết được buổi lễ nhưng hai từ mà người dân nói với ông nhiều nhất là “lên đồng” và “đạo mẫu”. Hai từ ấy cứ ám ảnh tâm trí nhiếp ảnh gia, dù ông không hiểu gì về nó.


Theo kế hoạch, tháng 12/2016, hồ sơ Tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt sẽ chính thức được UNESCO chính thức xem xét, công nhận trong danh mục văn hóa phi vật thể của nhân loại.

Quay về Mỹ, ông lập tức tìm kiếm thông tin về tín ngưỡng dân gian của người Việt. “Nhưng tôi đã rất ngạc nhiên vì có rất ít thông tin trên mạng, hay các cuốn sách tư liệu bằng tiếng Anh hoặc tiếng Pháp về đạo Mẫu và nghi lễ hầu đồng. Thậm chí, tôi đã tới thư viện tôn giáo tại New York nhưng cũng không thể tìm thấy. Điều đó càng khiến tôi thêm tò mò và nảy ra ý định thực hiện một dự án ảnh về tín ngưỡng dân gian độc đáo này”, Tewfic kể.

Trở lại Việt Nam, Tewfic dấn thân vào cuộc hành trình tìm hiểu về hầu đồng, lịch sử và những người thực hành tín ngưỡng này. Ông tham dự các buổi hầu đồng ở khắp mọi nơi, từ thành phố cho đến các làng quê, phỏng vấn những ông đồng, bà cốt nổi tiếng. Bên cạnh nguồn tư liệu ít ỏi có được, ông tìm hiểu, nghiên cứu về đạo Mẫu, nghi lễ hầu đồng từ chính những cuộc trò chuyện với các thanh đồng, đồng thời từ việc quan sát điệu bộ, hành động, quần áo... của họ trong các buổi lễ.

Ra sách ảnh về nghi lễ hầu đồng

Sau 2 năm “phải duyên” với hầu đồng, đi nhiều nơi trên đất nước Việt Nam, chụp ảnh, trò chuyện với những cô đồng, cậu đồng, Tewfic El-Sawy khoe với tôi cuốn sách ảnh mang tên “Hầu Đồng: The Spirit Mediums of Viet Nam” vừa xuất bản mới đây. Sách in đẹp, cứng cáp, gồm 100 bức ảnh lớn và 60 trang thông tin giải thích tôn giáo cổ xưa của đạo Mẫu, những nghi lễ, đền thờ các vị thần cùng với trải nghiệm của chính ông trong quá trình thu thập những bức ảnh này.

Nhiếp ảnh gia người Mỹ Tewfic El-Sawy và cuốn sách “Hầu Đồng: The Spirit Mediums of Viet Nam”. Ảnh: Nhã Khanh.


Tư liệu ít, ông phải tìm những cuốn sách do các học giả, chuyên gia Việt Nam viết, sau đó nhờ dịch sang tiếng Anh để nghiên cứu. Tuy nhiên, phải sau hơn 10 lần tham dự nghi lễ hầu đồng, Tewfic mới bắt đầu hiểu được ý nghĩa của chúng. Cuốn sách là những hình ảnh được ông chụp và chọn lọc tại 30 - 35 nghi lễ hầu đồng ở các tỉnh miền Bắc, từ Hà Nội tới Lào Cai, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Hải Phòng, Nam Định... Để chụp được những bức hình ấy, Tewfic phải học cách di chuyển rất từ tốn trong các buổi hầu và cố gắng không làm ảnh hưởng đến buổi lễ. Ngoài ra, cuốn sách cũng ghi lại hình ảnh những nơi cung cấp trang phục, đồ lễ, ban nhạc biểu diễn… tạo nên bức tranh khá tổng thể về nghi lễ hầu đồng.

Nó cũng trở thành cuốn sách ảnh hiếm hoi về đạo Mẫu và nghi lễ hầu đồng ngay tại Việt Nam cũng như trên thế giới. “Hầu Đồng: The Spirit Mediums of Viet Nam” do Nhà xuất bản Blurb (Mỹ) phát hành, đang được bán trên các trang mạng lớn như Amazon, Ingram... Nhiếp ảnh gia người Mỹ cũng chia sẻ, ngoài cuốn sách được xuất bản, sắp tới ông cũng giới thiệu bản online trên mạng internet. “Tôi chỉ mong nhiều người phương Tây biết đến phong tục này và hy vọng nó có thể giúp Việt Nam được UNESCO ghi nhận Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại”, Tewfic nói.

Suốt 15 năm liên tiếp thực hiện các chuyến đi để chứng kiến nhiều nghi lễ tôn giáo cổ xưa, các lễ hội trên khắp thế giới nhằm lưu lại những truyền thống văn hóa có nguy cơ mai một của các đất nước, Tewfic El-Sawy nhìn nhận đạo Mẫu và hầu đồng là tín ngưỡng và nghi thức tôn giáo vô cùng đặc biệt. “Các nghi lễ này còn chứa đựng cả lịch sử hàng nghìn năm của Việt Nam, với nhiều nhân vật lịch sử có công với đất nước được thần thánh hóa và tôn vinh. Tiếng nhạc réo rắt, không khí hân hoan trái ngược hẳn so với nhiều lễ nghi tôn giáo hà khắc ở nhiều nơi. Mọi người tham gia cũng như chứng kiến nghi lễ này đều cảm thấy vui vẻ. Mỗi lần nghe tiếng nhạc, thấy người ta nhảy, tôi cũng tự nhiên lắc lư theo. Những lúc đó, tôi thấy mình như là người Việt Nam” - ông Tây mê hầu đồng nói về trải nghiệm đầy thú vị. Nhiếp ảnh gia người Mỹ cũng chia sẻ dự định thời gian tới sẽ thực hiện các dự án khác với nghệ thuật ca trù, chèo cổ của Việt Nam

1-10 of 80

Comments