Trao đổi kiến thức

  • THIỀN TRÊN MÁY BAY CÓ GÌ KHÁC                                                                                                                                                     Tuyết Sơn      Trong thời gian qua, có nhiều bạn đã từng  tập Thiền đưa ra những thắc mắc như: Tại sao các Đạo sĩ lại cứ phải tìm lên Tuyết ...
    Được đăng 04:09, 10 thg 12, 2018 bởi Điều Nguyễn Xuân
  • THIỀN SƯ NHẤT HẠNH                                                                                                                                                    Tuyết Sơn    Thiền sư Nhất Hạnh tên thật là Nguyễn Xuân Bảo, sinh ngày 11 tháng 10 năm 1926 tại Thừa Thiên Huế. Xuất gia năm 16 tuổi tại chùa ...
    Được đăng 02:13, 21 thg 8, 2018 bởi Điều Nguyễn Xuân
  • TÂM THỨC VÀ TRỤC NĂNG LƯỢNG HARA                                                                                                  Lưu Tuấn Anh        Khí công Đông Phương đặc biệt coi trọng ...
    Được đăng 04:40, 27 thg 7, 2018 bởi Điều Nguyễn Xuân
  • DÂY DUYÊN      Người Châu Á nói chung người Việt nói riêng tin rằng những sợi duyên ràng buộc người ta với nhau giữa cõi âm cõi trần xuyên ...
    Được đăng 03:54, 10 thg 7, 2018 bởi Điều Nguyễn Xuân
  • NÊN TỔ CHỨC CÁC HỘI THẢO TÌM PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN CHO DỰ ÁN NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NÒI GIỐNG VIỆT                                                                             Họa sĩ, nhà báo: Trịnh Yên Giám đốc TT UNESCO Văn hóa Gia đình & Dòng họ Việt Nam   Tại hội nghị này, chỉ là khúc dạo đầu được xới lên ...
    Được đăng 01:34, 17 thg 1, 2019 bởi Điều Nguyễn Xuân
  • GIỖ THÀNH HOÀNG HỌ NGUYỄN LÀNG PHÙ DỰC, PHÙ ĐỔNG (Ngày 1 tháng 3 Âm lịch - 16.IV.2018)                 ĐỨC "HOÀI ĐẠO HIẾU VŨ VƯƠNG" HỌ NGUYỄN (1154 -1229)      Ông  Nguyễn Nộn tức "Đức Hoài đạo hiếu Vũ vương" là người làng Phù Dực      Trước làng là Phù đổng ...
    Được đăng 21:30, 25 thg 4, 2018 bởi Điều Nguyễn Xuân
  • THIẾT BỊ ĐO NĂNG LƯỢNG CƠ THỂ NGƯỜI     Cách đây vài năm, Nhóm nhà khoa học thuộc Trung tâm nghiên cứu và sản xuất vật liệu kim loại, thuộc Viện Khoa học và Công nghệ mỏ - Luyện kim ...
    Được đăng 01:59, 17 thg 1, 2019 bởi Điều Nguyễn Xuân
  • PHÁT HIỆN HỆ THỐNG DI TÍCH KHẢO CỔ TIỀN SỬ TRONG HANG ĐỘNG NÚI LỬA Ở KRÔNG NÔ, TỈNH ĐẮK NÔNG TS. La Thế Phúc(1), PGS.TS. Nguyễn Khắc Sử(2), ThS. Vũ Tiến Đức(3); CN. Lương Thị Tuất(1), CN. Phan Thanh Toàn(2), CN. Nguyễn Thanh Tùng ...
    Được đăng 09:48, 27 thg 10, 2017 bởi Điều Nguyễn Xuân
  • VỀ OSHO                                                                                                                 Đàm Thanh Giang     Gần 20 năm trước tôi đọc Osho khá nhiều, giúp tôi phần nào cách nhìn, hiểu các vấn đề nhất nguyên bằng ngôn từ là sản phẩm ...
    Được đăng 19:18, 10 thg 9, 2017 bởi Điều Nguyễn Xuân
Hiển thị bài đăng 1 - 9trong tổng số 42. Xem nội dung khác »



Bài đã đăng

THIỀN TRÊN MÁY BAY CÓ GÌ KHÁC

đăng 02:45, 5 thg 12, 2018 bởi Điều Nguyễn Xuân   [ đã cập nhật 04:09, 10 thg 12, 2018 ]

                                                                                                                                                    Tuyết Sơn

     Trong thời gian qua, có nhiều bạn đã từng  tập Thiền đưa ra những thắc mắc như: Tại sao các Đạo sĩ lại cứ phải tìm lên Tuyết Sơn (thuộc dãy núi Hymalaya) để tu luyện? Thiền có phải xuất phát từ Phật giáo hay không? Có bao nhiêu môn phái tu Thiền? Thiền vào thời điểm nào là tốt nhất trong ngày? Phụ nữ tập Thiền có thành đạt hay không? Bao nhiêu tuổi thì được tập Thiền? Tại sao khi ở trên máy bay độ cao 10-11km Thiền lại thấy hiệu quả hơn dưới mặt đất?

     Như những ai đã từng chăm chỉ tập Thiền đều đã hiểu rằng: "Thiền, bản chất không phải là một triết học, không phải là một tín ngưỡng, một tôn giáo; mà là một kinh nghiệm trực tiếp đòi hỏi ta phải thâm nhập bằng cả con người mình..."

     Để tập luyện có hiệu quả, mỗi  người cần được hướng dẫn cẩn thận về lý thuyết và thực hành, dựa trên nền móng khoa học, đặc biệt không nên mang theo màu sắc hoang đường và mê tín.

    Hôm nay chúng ta sẽ trao đổi phần thắc mắc của một số bạn về việc Thiền trên máy bay.

    Ai đó đã từng tập Thiền khi đi trên máy bay và có cảm nhận rất khác so với ngồi tập ở dưới mặt đất. Áp suất, nhiệt độ và không khí trong máy bay được tạo ra bình thường như dưới mặt đất. Nhiệt độ trung bình bên ngoài máy bay là âm 45-50 độ C với độ cao trung bình so với mặt đất là từ10 đến 11km, tốc độ trung bình của máy bay là 900km/h,

    Để trả lời cho việc Thiền trên máy bay có gì khác, trước tiên chúng ta cũng cần tìm hiểu chút ít về Mặt trời và Trái đất, đó là những hành tinh liên quan chặt chẽ đến sự sống của loài người. Chúng ta cũng đã biết rằng trong hệ Mặt trời, Trái đất là hành tinh duy nhất có sự sống và có loài người, đó cũng là kết luận của các nhà khoa học thế giới vào cuối thế kỷ XX.

 MẶT TRỜI

- Trong hệ Mặt trời, Mặt trời là trung tâm, có 9 hành tinh quay quanh. Mặt trời chiếm khoảng 99,86% khối lượng của "Hệ mặt trời", nằm trong dải Ngân Hà.

- Khoảng cách trung bình đến Trái đất    149,6 triệu km

- Vận tốc bay quanh tâm Ngân Hà:          217 km/s

- Đường kính trung bình    1,392 triệu km,       gấp 109 lần Trái đất

- Diện tích bề mặt                 6,0877 ×1012 km²,  gấp 11.900 lần Trái đất

- Thể tích                             1,4122 ×1018 km³,   gấp 1.300.000 lần Trái đất 

- Khối lượng                        1,9891 ×1030 kg,      gấp 332.946 lần Trái đất

- Vận tốc tự quay tại xích đạo      7.284 km/h

 

TRÁI ĐẤT

- Chu kỳ quay quanh Mặt trời:  365,25696 ngày (1 năm)

                                                                                   

- Vận tốc quỹ đạo (Quay quanh mặt trời)    - trung bình     29,783 km/s.= 107 218,8km/h

                                                                        - tối đa             30,287 km/s.

                                                                        - tối thiểu         29,291 km/s.

- Chu kỳ tự quay (1 ngày):  23,934 giờ

 

- Chu vi vòng xích đạo:         40.075 km.

- Chu vi qua hai cực Bắc Nam                     40.008 km.

- Đường kính:

                                       - tại xích đạo            12.756,28 km

                                       - tại cực        12.713,56 km

                                       - trung bình  12.742,02 km

                                         Độ dẹp              0,0033528

Khi ta ở trong máy bay, so với máy bay là ta đứng yên. Nhưng thực tế trong cùng một thời gian, lúc này ta tham gia rất nhiều chuyển động:

  -Tốc độ máy bay (So với trái đất)                            900km/h

 - Vận tốc quỹ đạo Trái đất (Quay quanh mặt trời):   900km/h + 107.218,8km/h                           

 - Vận tốc Mặt trời bay quanh tâm Thiên Hà:             900km/h + 107.218,8km/h  +  781.200 km/h 

     Như vậy là khi ở trong máy bay, từng tế bào trong hệ thống kinh mạch của cơ thể chúng ta trực tiếp tham gia chuyển động tương đối trong Vũ trụ với tốc độ là  289 318,8 km/h. (Hai trăm tám mươi chín nghìn ba trăm mười tám phẩy tám km/giờ).

     Qua kết quả trên, chúng ta thấy Thiền trên máy bay kinh mạch thông nhanh, có tác dụng khác nhiều hơn so với Thiền ở dưới mặt đất.

     Có lẽ vì thế mà những ai muốn khám phá về "Thiền trên máy bay" thì cũng nên "thử một lần".

                                                                                               SYDNEY, 5.XII.2018





                                                                               







THIỀN SƯ NHẤT HẠNH

đăng 21:12, 15 thg 8, 2018 bởi Điều Nguyễn Xuân   [ đã cập nhật 02:13, 21 thg 8, 2018 ]

                                                                                                                                                   Tuyết Sơn

    Thiền sư Nhất Hạnh tên thật là Nguyễn Xuân Bảo, sinh ngày 11 tháng 10 năm 1926 tại Thừa Thiên Huế. Xuất gia năm 16 tuổi tại chùa Từ Hiếu (Huế). Ông là tổ của nhóm Từ HIếu đời thứ Tám của dòng Liễu Quán trong đời thứ 42 của phái Thiền Lâm Tế. Ông là nhà lãnh đạo Phật giáo có ảnh hưởng lớn thư hai ở Phương Tây chỉ sau Dalai Lama, từng vinh dự được đề cử giải Nobel hòa bình năm 1967.

    Thiền sư Nhất Hạnh đã xuất bản trên 100 cuốn sách, trong đó có hơn 40 cuốn bằng tiếng Anh.

     Các bậc tu hành tại gia phái Lâm tế có thể xây dựng gia đình, có vợ con, đến thời điểm nào đó muốn vào chùa, xuống tóc đi tu làm Sư. (Cụ thể như sư ở chùa Lệ Chi, Gia lâm Hà nội).

    Phái Lâm tế rất khác "Thiền phái Trúc Lâm" của Phật hoàng Trần Nhân Tông, vì thế phái Lâm tế vẫn còn những phong tục hạn chế như: đốt vàng mã, cúng lễ bằng thực phẩm...

    Thiền sư Nhất Hạnh là một nhà tu hành có tầm nhìn khoa học về Phật - Bụt.



TÂM THỨC VÀ TRỤC NĂNG LƯỢNG HARA

đăng 04:36, 27 thg 7, 2018 bởi Điều Nguyễn Xuân   [ đã cập nhật 04:40, 27 thg 7, 2018 ]

                                                                                                 Lưu Tuấn Anh

 

     Khí ng Đông Phương đặc biệt coi trọng đưng Trung mch hay trc khí xuyên tâm dc thân con ngưi nó là "Trc năng lưng" hp nhất Thiên, Đa, Nhân. Đ thông  thoáng  ca mch này th hin mc đ tinh tấn ca người tu tập khi thông mc đ cao nó khiến ngưi ta vưt ra khi cnh gii ca ngưi phàm trần.

 

     Barbara Brennan gi trc này là đường Hara theo cách riêng ca bà trong các cun sách viết về năng lưng sinh hc. Theo bà thì đường Hara kết ni năng lượng t lõi trái đất ti các tng thiên gii ca đng sáng to. Hara cũng là mch ni gc các cặp Luân xa trưc sau, trên dưới tiếp nhận năng lượng trc tiếp t các Luân xa. Khi con ngưi mnh khe hoàn toàn hòa hp vi vũ tr thì đưng này s thng, sáng trong cnh gia tâm ca cơ thể.

 

     Vi mt đưng Hara lành mnh thì ch th s hiểu rõ mc đích ca cuc đi mình, d đạt được các mc tiêu bản thân đ ra thc hin s mnh ca mình mt cách hết sc t nhiên. Đưng Hara lành mnh khiến ngưi ta luôn biết mình mun gì, cần làm gì làm mi việc mt cách sáng to. Ngưc lại khi con người không mnkhe hòa hp vi vũ tr thì đường Hara thường b cong, vẹo không cnh tâm ca cơ thể. Ngoài ra nó có th b các mng ti ca năng lượng bám vào gây tắc nghẽn   các tn thương th hiện trên c các luân xa biến dng. Còn vi mt đưng Hara đã b biến dng, tn hại thì ch th s không hiểu đuợc mc đích ca cuc đi mình, gặp rất nhiều khó khăn trong việc đạt các mc tiêu bản thân đ ra thưng  b ging xé trong mâu thuẫn  ni tâm. Đường Hara có vấn đ skhiến người ta mt phương hưng nhiều khi không biết mình mun gì, phải làm làm như thế nào. Các mâu thun thường trc bên trong khiến năng lượng sáng tạo b triệt tiêu và hình thành trng thái "Lc bất tòng tâm".

 


     Điều khiến Barbara Brennan cùng ngạc nhiên là qua nhiều năm quan sát đ loại ngưi trên thế gii bng thiên nhãn, bà không thấy mt ai có đưng Hara hoàn toàn lành mnh k c nhng đạo sư đã tu lên rất cao cùng ni tiếng. Tất c mi ngưi đều b bế tắc ít nhiều trên đường Hara ca nh không ai không có mâu thuẫn ni ti. T quan sát này bà kết luận rng Nhân loại s n phải đi mt quãng đưng rất dài na đ tạo ra mt mô hình xã hi giác ngộ nht th.

 

     Kết luận này ca bà da trên nghiên cu về nguyên  nhân khiến đường Hara b biến dng hoặc bế tc. Các trải nghiệm  tiêu cc hoặc chấn thương  tâm lý tình cảm thưng  làm đường Hara biến dng. Nhưng tác nhân gây nh hưởng bao trùm lên tất c không khác hơn là nim tin nh nguyên  ca con ngưi vn thưng  chi phi suy nghĩ hành vi ca chúng ta. Qua nhiều ngàn năm b giáo dc sai lm, niềm tin nh nguyên này đã biến thành quan niệm ph cập ca nhân loại rng thế gii được chia thành các thế lc đi lập như tt và xu, sáng ti, ta nhng ngưi khác vi ta.

 

     Tâm thc "nh nguyên" khiến năng lưng bên trong mi con người b chia r thành các cc đi lập chúng t triệt tiêu nhau đng thi làm cạn kiệt năng lc sáng to. Trong khi đó, đường Hara ch có th thông sut lành mnh khi nó được nuôi dưng bng năng lưng không b phân tách ca mt niềm tin "nhất thể" da vào tình yêu thương, đc nhẫn nhn lòng tôn kính.

 

     Làm lành mnh hóa đưng Hara là mt hành trình cha lành khai phóng kh năng sáng tạo ca bản thân đ tìm về chân ngã. Ngoài các k thuật cơ hc kết ni đất tri như Thiền trong tư thế đng (trong khí ng gi là k thuật trạm trang) n mt điều rt quan trng na mà chúng ta cần ghi nh là thoát khi các tư duy quan niệm "nh nguyên", cảm nhn s "nhất th ca trụ" hướng tâm ti yêu thương t bi ngày càng nhiều hơn.

 

 

Tổng hợp t sách Core Light Healing của Barbara Brennan

Hà nội, tháng Bảy năm 2018

DÂY DUYÊN

đăng 20:55, 9 thg 7, 2018 bởi Điều Nguyễn Xuân   [ đã cập nhật 03:54, 10 thg 7, 2018 ]

     Người Châu Á nói chung người Việt nói riêng tin rằng những sợi duyên ràng buộc người ta với nhau giữa cõi âm cõi trần xuyên qua các kiếp sống. Quan niệm tiền duyên Việt Nam thường xoay quanh các trường hợp muộn vợ muộn chồng được quy nguyên nhân do đối tượng bị trói buộc với một người yêu hình thế giới âm. Việc cắt duyên một nghi thức nhằm giải tỏa ràng buộc giữa một người sống với một người yêu hình nào đó đang sở hữu họ từ thế giới âm ngăn cản không cho họ người yêu hoặc lập gia đình. Giới tâm linh phương Tây hóa ra cũng quan niệm tương tự cái nhìn của họ về vấn đề dây duyên còn rộng và đa diện hơn.  

   

    Theo quan sát bằng thấu thị của Barbara Brennan thì rất nhiều loại dây mang năng lượng tâm thức kết nối với một con người các thực thể khác từ con người tới đồ vật.  Khi một đứa trẻ yêu quý một món đồ chơi nào đó, một cách thức thể tạo ra những sợi dây năng lượng tình cảm nối nó với món đồ chơi đó. vậy nếu bạn lấy món đồ chơi đó đi đứa trẻ không chỉ đau khổ về mặt tâm bị tổn thương về năng lượng. Do một phần năng lượng của vẫn gắn với món đồ chơi kia nên tách đứa trẻ ra khỏi đồ chơi là chia cắt năng lượng của nó. Trong quan hệ giữa người với nhau, những người ruột thịt họ hàng luôn sẵn các ống nối với nhau từ luân xa tương ứng của người này sang người kia. 


    Qua các ống này năng lượng năng lượng được trao đi đổi lại. Người năng lượng mạnh hơn chủ động hơn sẽ thường chi phối năng lượng của người năng lượng yếu và bị động hơn. Và trong một mối quan hệ một người luôn mong muốn kiểm soát người kia thì thể liên tục hút năng lượng của người bị chi phối đến mức kiệt quệ. Hình thái các ống nối thể loại năng lượng được truyền dẫn thể hiện đúng trạng thái quan hệ giữa các đối tượng với nhau. Nếu quan hệ êm đẹp bình đẳng thì các ống này rất mềm năng lượng được truyền dẫn giữa 2 bên cũng rất êm dịu. Còn nếu quan hệ khó khăn thì các ống rất cứng, gai thô năng lượng truyền dẫn qua đó cũng rất thô và gắt.  


     Mối duyên giữa mẹ con điểm rất đặc biệt hình thành trước khi linh hồn đứa được thụ thai. Thông thường thì linh hồn một đứa trẻ sẽ phải giao tiếp với linh hồn người mẹ tiềm năng trước xin được đầu thai làm con. Nếu người phụ nữ đồng ý thì ống dây duyên mới hình thành kết nối từ hồn đứa trẻ vào luân xa tim của người mẹ. Trong trường hợp luân xa tim của người mẹ một do nào đó bị lỗi khiến ống duyên từ linh hồn đứa trẻ không thể gắn được  vào gốc của luân xa tim thông vào trục Hara thì người mẹ sẽ không thể thụ thai đứa trẻ kia mặc đã đồng ý. Chỉ khi ống dây duyên kết nối thành công với gốc luân xa tim của người mẹ tiềm năng thì việc thụ thai cho linh hồn đứa trẻ lúc đó mới có thể xảy ra.

 

 

                                                   Ống duyên đó là sự cộng hưởng của dòng năng lượng sinh học

     

     Quay lại chuyện duyên tiền kiếp theo cái nhìn của người phương Đông. Sự thực các ống dây năng lượng thể tồn tại qua nhiều kiếp người nối từ thế giới âm sang thế giới trần. Một người sống thể vẫn lưu giữ kết nối với những người thân đã khuất thậm chí với tổ tiên xa xưa của mình trong quá khứ cả ngàn năm hoàn toàn không hay biết. biệt người còn giữ kết nối với linh hồn các bậc tổ tiên từ rất xa xưa. Các ống dây này nối linh hồn người đã khuất với người đang sống tiếp tục gây ảnh hưởng tới cuộc đời đối tượng theo chiều hướng tích cực hoặc tiêu cực. Mặc một số mối liên hệ tác dụng hỗ trợ tích cực với người sống thì đa phần các kết nối này gây cản trở một cách không lợi. Đặc biệt các dây duyên lâu đời của dòng họ tổ tiên nối tới các thế hệ sau khả năng bám rất chắc, ảnh hưởng rất mạnh phần lớn là ảnh hưởng tiêu cực. 

 

     Những người đã khuất nhiều tham sân si thường sẽ cố gắng tiếp tục kiểm soát người sống qua các ống dây duyên y. Họ liên tục tác động bắt đối tượng làm theo mong muốn của mình khiến đối tượng ngày càng trở nên bất an mất tự chủ. Điều này rất hay xảy ra với những gia đình truyền thống bảo thủ, cứng nhắc gia trưởng. dụ một người phụ nữ lúc sống chỉ thích con trai vâng lời mình bất luận đúng sai thì sau khi chết sẽ dùng các dây duyên này để tiếp tục bắt anh ta phục tùng mình điều kiện. Đứa con trai trong trường hợp này thực sự trở thành nạn nhân bị hồn người mẹ ám và tình thương không phải lối của người mẹ trở thành nỗi đày đọa cho anh ta.


     Tình thương sai cách đã tạo duyên đau khổ như vậy thì chúng ta hãy tưởng tượng tác động của các mối duyên dựa trên năng lượng của các tình cảm xấu như đố kỵ hoặc căm ghét. Các mối duyên ấy sẽ xiềng xích với tất cả các đối tượng liên quan bất kể họ đang làm người sống cõi trần hay đã là vong hồn cõi âm (chiều không gian số 4 theo cách gọi của giới tâm linh phương Tây). Linh hồn người sống trong nhiều trường hợp phản ứng vô thức chống lại các dây duyên này và muốn dứt chúng ra. Nhưng các dây duyên không những không đứt   chúng kéo rách luôn các luân xa của người đó gây tổn thương nghiêm trọng cho hệ năng lượng rất khó phục hồi.

 

 

     Vậy ta phải làm với những dây duyên không lành mạnh đây? nhiều quan điểm được đưa ra quanh câu hỏi này sẽ không câu trả lời tuyệt đối. Theo Barbara thì các sợi duyên không lành mạnh đều cần được chữa lành bằng tình thương để qua đó chữa lành cho tất cả các đối tượng liên quan tạo hội cho họ giác ngộ. Chữa lành là cách Barbara cho là đúng đắn, từ bi trọn vẹn nhất. Để minh chứng cho quan điểm này nêu cụ thể trường hợp một người đàn ông tầm 30 tuổi tên Donald bị kiệt quệ do vong hồn người mẹ độc đoán đã khuất của anh ta liên tục kiểm soát anh qua dây duyên. Barbara dùng năng lực tâm linh của mình thuyết phục vong hồn của người mẹ cho phép can thiệp vào các ống dây duyên vì mục đích tái tạo  mối quan hệ mẹ con  tốt  lành hơn. Được  người  mẹ đồng  thuận, Barbara đã làm lành trường năng lượng các luân xa của Donal. Sau đó bà gỡ các ống dây duyên giữa hai người ra, làm sạch chúng rối mới nối lại. Trường năng lượng của cả mẹcon sáng lên trông thấy do quan hệ giữa họ bắt đầu được cải thiện cùng với những thay đổi về nhận thức.

 

 

                                        Dây duyên cũng là dòng năng lượng sinh học ở dạng sóng

 

                                                Năng lượng sinh học dạng sóng được hòa đồng


      Sal Rachele, một nhà tâm linh tiếng khác tác giả cuốn sách “Thông điệp từ các Đấng sáng tạo” lại quan điểm hoàn toàn trái ngược về các dây duyên. Ông cho rằng tất cả những mối dây liên hệ mang năng lượng tâm thức không tích cực dẫu bắt nguồn từ đâu, cùng hay khác cảnh giới đều chẳng ích lợi gì. Thay vào đó chúng chỉ làm nhiễu loạn cản trở tiến bộ tâm linh của người sống thôi. vậy nên cắt bỏ chúng không cần phải băn khoăn luyến tiếc. Cắt hết các dây duyên theo ông một cách để con người được tự do khỏi các ảnh hưởng hình thu hồi năng lượng gốc của linh hồn mình để đưa về dạng thuần khiết nguyên thủy. Trong cuốn sách “Hợp nhất linh hồn” của mình, Sal Rachele còn đưa ra hướng dẫn chi tiết về kỹ thuật cắt các dây duyên trong đó phép "Thiền quán tưởng" một cây kéo vàng lớn cắt quanh khắp châu thân khiến các dây duyên đứt rời ra. Nhiều  người  thử  áp  dụng  phép  Thiền  cắt  duyên  theo  cách  của  Sal Rachele cảm nhận năng lượng của bản thân như được thanh lọc và nâng cấp lên rệt. Thân thể của họ bỗng nhiên thấy nhẹ nhõm và sảng khoái hơn nhiều so với trước khi thực hành kỹ thuật cắt này.

 

 

     Tóm lại với dây duyên bạn sẽ 3 sự lựa chọn ứng xử từ dễ tới khó. Dễ nhất bạn mặc kệ chúng, chấp nhận các kết nối không làm can thiệp cả. Khó nhất bạn chữa lành chúng bạn chỉ làm được việc này nếu gặp được một chuyên gia tâm linh phù hợp đủ năng lực. Lựa chọn còn lại không dễ quá cũng không khó quá cắt duyên. Việc này thì bạn thể tự thực hiện theo hướng dẫn nhưng kết quả tới đâu sẽ phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó có vấn đề tâm thức và mức độ giác ngộ của chính bạn.

 

 

                                                                                                  HN, 28.6.2018

                                                                  (Lưu Tuấn Anh Biên dịch từ một số sách của Barbara  Sal Rachele)

NÊN TỔ CHỨC CÁC HỘI THẢO TÌM PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN CHO DỰ ÁN NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NÒI GIỐNG VIỆT

đăng 10:03, 19 thg 5, 2018 bởi Điều Nguyễn Xuân   [ đã cập nhật 01:34, 17 thg 1, 2019 ]

                                                                            Họa sĩ, nhà báo: Trịnh Yên

Giám đốc TT UNESCO Văn hóa Gia đình & Dòng họ Việt Nam

 

Tại hội nghị này, chỉ là khúc dạo đầu được xới lên chủ trương và định hướng giáo dục chăm sóc sức khỏe cộng đồng hướng tới nâng cao chất lượng nòi giống dân tộc Việt, nói chung chúng ta cứ nêu chủ đề từ bấy lâu nay nhưng thiếu phương pháp tuyên truyền và hệ thống nó thành chuỗi liên kết các khoa học và xã hội mới có thể xây dựng được ý tưởng hóa phương pháp mà con người cần hướng tới các lợi ích này.

Tuy không mới mẻ gì về quan niệm thành ngữ “Nâng cao chất lượng nòi giống”, bởi người xưa đã thực hiện nó với các phương pháp thuộc về kinh nghiệm như xem ngày lành tháng tốt để hợp cẩn hôn nhân, thụ thai và sinh đẻ, trong đó có nhiều mã số được coi là bí truyền, gia truyền, tín ngưỡng và tôn giáo truyền…Nhìn chung các mã số kia đều có tính thuận và tính ứng, tính dụng, tính thể theo sức khỏe và năng lực đôi lứa, thực hiện các sinh hoạt lành mạnh, bồi bổ thực phẩm, hoạt chất và các khoa học bấm quẻ, độn dịch, cát hướng, cát tường phong thủy…v.v…đều có yếu tố nâng cao chất lượng giống nòi, nhưng các cách thực hiện này thuộc cá nhân, gia đình và chưa bao giờ người ta hệ thống nó để biến cái tinh thần “nâng cao chất lượng giống nòi” này vào ứng dụng cộng đồng, kể cả ngày nay, khi mà khoa học kĩ thuật và văn hóa đã vươn lên các đỉnh tiến bộ và làm được nhiều việc thay thế tạo hóa, nhưng góc khuất cho cải tạo giống nòi vẫn nằm trong các vùng đệm bản năng mà thôi.

Có dịp ở hội thảo về chuyên đề này chúng tôi sẽ trình bày cụ thể về các căn nguyên rõ hơn.

Trước hết ngay tại Hội nghị này, chúng tôi chỉ xin nêu các ý tưởng hoặc đề cương dành cho định hướng, dành cho liên kết các khoa học thì UNESCO là một tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục, các chức năng này đã nói rõ về mặt liên kết của nó với một trong một hoặc nhiều trong nhiều vấn đề liên kết bằng tri thức chuyên môn và chuyên sâu trong xã hội hiện đại này. Ví dụ Năm 2017, UNESCO đã đưa ra tiêu chí: “Toàn thế giới, toàn nhân loại hãy liên kết về di sản để cùng nhau làm sáng tỏ cho các di sản của mình”, thì chúng tôi coi ý tưởng dành cho Dự án nâng cao chất lượng giống nòi cũng là di sản lớn lao không chỉ của người Việt mà còn là của nhân loại. Muốn làm rõ điều đó, trước hết chúng ta phải phân tích và hệ thống nó dù chỉ là một (đề tài), nhưng liên quan đến rất nhiều vấn đề sẽ nêu trong đề cương dưới đây:

VỀ KHOA HỌC XÃ HỘI

1.     Môi trường: Môi trường là một trong yếu tố quan trọng để duy trì sức khỏe và bảo tồn các sinh thái thế giới. Không có môi trường sạch thì không có vạn vật phát triển, nếu không muốn nói sẽ bị biến đổi gen dẫn đến tiêu diệt.

2.     Con người và nhận thức: Con người hiện đại hay cổ xưa vẫn có chung nhận thức về tâm sinh lý không thay đổi trong mối duy trì giống nòi, nhưng càng về sau càng lệch lạc nhận thức về giống nói vì đa số chỉ hướng tới hưởng thụ.

3.     Các phương pháp thụ tinh: Các chất lượng thụ tinh bản năng giảm sút, công nghệ bán tinh trùng, bán trứng phôi và đăng kí đẻ thuê xuất hiện trên toàn cầu. Mã số biến đổi gen đồng tính, đồng dạng và đồng thoái hóa xuất hiện ở cả hai giới tính sang giới tính thứ ba, có thể là thứ tư.

 

KHOA HỌC KINH NGHIỆM

1.     Quẻ dịch và Tử vi: Người xưa đã biết lựa chọn nhiều phương pháp nâng cao chất lượng nòi giống thông qua quẻ dịch, tử vi, tia đất huyền hoặc không trạch và nhiều phép tính khác với cách gọi chung là “để sinh một quý tử”.

2.     Thời gian và không gian các hằng số kinh nghiệm dành cho quý tử là các phân biệt với đúc kết ở thời hiện đại là chỉ số IQ càng cao thì chất lượng giống nòi càng hoàn thiện. Chính vì thế mà các quốc gia đều có hệ thống gián điệp lai giống giữa người tài với mỹ nhân.

3.     Không thể nói là ăn may trong các phép tính về hằng số sinh lý, tâm lý tạo nhân tài mang chỉ số IQ ngày càng cao, điều này đi song song với việc chiến tranh tiêu diệt người tài như Hitsle đã diệt chủng người Do Thái.

 

KHOA HỌC NHÂN KÉN NÒI GIỐNG

1.     Tại sao phải kén nòi giống: Đây làm việc làm đầu tiên là tạo nguồn, nguồn giống không hoàn thiện thì dòng chảy không thể mãn phúc đức và trí tuệ: Người xưa nói đúng: “Lấy vợ kén tông, lấy chồng kén giống”.

2.     Tại sao phải chăm sóc nòi giống: Nòi giống tốt mà nuôi không tốt thì không bàn đến ra hoa kết quả. Ta đang giáo dục: “Nuôi con khỏe, dạy con ngoan” vẫn chưa đủ, ta còn thiếu cái phần “dạy con khôn”. Khỏe (dưỡng), Ngoan (đức) mà không Khôn (tài) thì chỉ là người thừa của xã hội.

3.     Tại sao phải duy trì nòi giống: Duy trì nòi giống là trách nhiệm tạo nguồn và vô cùng lớn lao của gia đình và của dòng họ, xã hội chỉ biết đón nhận và tôn vinh nó.

 

KHOA HỌC GIÁO DỤC

1.     Tại sao phải giáo dục đúng cách: Nhìn nhận đúng cách sẽ tạo được giáo dục thế hệ đúng chất.

2.     Tại sao phải là công dân toàn cầu: Tri thức hội nhập về Giáo dục, khoa học và văn hóa đã đòi hỏi đặc thù mới cho công dân toàn cầu không có đối kháng chính trị mà chỉ tập hợp kĩ năng sống hoàn chỉnh trên đỉnh cao IQ mà giống nòi đem lại chất lượng tiến bộ cho toàn nhân loại của công dân toàn cầu.

3.     Giáo dục không đúng sẽ trả giá cho sự phân biệt ở các bậc cao tri thức, cho nên vai trò của nguồn không kết với giáo dục toàn bích, thì chúng ta sẽ làm hỏng thế hệ thông minh đã đành, mà gây tai họa mặt trái với đạo đức và tài năng trở thành cái ác truyền hệ. Chú ý một câu nói đúc kết qua chiến tranh: “Con người càng thông minh bao nhiêu thì càng tự hủy diệt mình bấy nhiêu”.

Qua đây chúng tôi khuyến nghị về việc cải tạo và nâng cao chất lượng giống nòi Việt, để mở rộng toàn cầu bởi thế giới là cuộc hôn nhân toàn cầu. Việc này cần trải qua nhiều hội thảo khoa học để tìm ra định hướng, phương pháp và phân bố nguồn có thể là Viện, là Nhân Chủng học, nhưng chắc chắn nó phải được hình thành bằng các khoa học đa năng.

           Xin cảm ơn mọi người đã chú ý lắng nghe.

 

                                                                                                                            Hà nội, 19/5/2018

GIỖ THÀNH HOÀNG HỌ NGUYỄN LÀNG PHÙ DỰC, PHÙ ĐỔNG (Ngày 1 tháng 3 Âm lịch - 16.IV.2018)

đăng 10:14, 20 thg 4, 2018 bởi Điều Nguyễn Xuân   [ đã cập nhật 21:30, 25 thg 4, 2018 ]

                ĐỨC "HOÀI ĐẠO HIẾU VŨ VƯƠNG" HỌ NGUYỄN (1154 -1229)

      Ông  Nguyễn Nộn tức "Đức Hoài đạo hiếu Vũ vương" là người làng Phù Dực

     Trước làng là Phù đổng, sau đổi tên là Phù minh, đến đời vua Thiệu Trị năm thứ hai đổi tên làng là Phù dực. Là một trai làng thạo về võ vật, giỏi về cung kiếm, khi đất nước không bình yên, ông đầu quân, phát huy tài năng và trí tuệ của mình. Ông Nguyễn Nộn lúc bấy giờ chiếm cứ vùng Đông ngàn, là người có tài đánh đông dẹp bắc, tính tình ông bình thản, thanh cao và có lòng bao dung nhân hậu, vì thế ông được đông đảo nhân dân vùng Kinh Bắc, Hải dương, Hưng yên... tôn kính và phục tùng tin theo.

     Với danh nghĩa dựng lại cơ nghiệp nhà Lý, khi thấy thế của mình đủ mạnh, ông đã tự xưng là "Hoài đạo vương". Vua Trần cử người về hòa hoãn nhưng ông vẫn quyết tâm dẹp loạn.

     Thái sư Trần Thủ Độ lôi kéo Đoàn Thượng để ra chống lại Nguyễn Nộn. Năm Giáp thân (1224), Đoàn Thượng bất ngờ tiến công Nguyễn Nộn. Nhưng các tướng lĩnh của Đoàn Thượng đều bị Nguyễn Nộn tiêu diệt gần hết ở núi Đông cứu (Thuộc cụm núi Thiên thai, Gia lương, Bắc ninh ngày nay). Vài năm sau đó Nguyễn Nộn tiến đánh Đoàn Thượng, dùng "Thần kiếm" chém chết Đoàn Thượng.

     Trần Thừa và Trần Thủ Độ nghe tin này tỏ ra rất lo lắng nhưng không dám động binh mà sai sứ giả đến chúc mừng việc Nguyễn Nộn chiến thắng Đoàn Thượng, đồng thời phong chức "Hoài đạo hiếu Vũ vương" cho Nguyễn Nộn. Tiếp theo gả công chúa Trần Thị Ngạn Thiềm (con gái Thái quốc Thái úy Trần Thừa, em gái vua Trần Thái Tông) cho Nguyễn Nộn để giao hòa.

     Ông nhận thấy cơ nghiệp nhà Lý không thể khôi phục lai được và đã nhận lời cầu hòa trong lúc Nhà Trần vừa dựng cơ nghiệp, đất nước thực sự chưa bình yên, dư âm ánh sáng triều đại Nhà Lý vẫn còn đọng lại trong lòng người...

     Khi Lý Chiêu Hoàng cởi áo bào,  khoác lên người Trần Cảnh, cũng là lúc đất nước Đại Việt bắt đầu bước vào một thời kỳ mới, Nguyễn Nộn phải ngược xuôi khắp đất nước góp sức cho công cuộc kiến thiết lại đất nước và cùng Nhà Trần giữ gìn kỷ cương phép nước sau chiến tranh.

     Danh tướng Nguyễn Nộn có ảnh hưởng rộng lớn đến lịch sử, văn hóa Thăng Long và của cả nước ta.

     Ông lâm bệnh và qua đời vào ngày mồng 1 tháng Ba, năm Kỷ Sửu (1229). Thi hài ông được đưa về quê mai táng ở cánh đồng Mặc, Thượng lăng Hạ mộ.

     Tại đình làng thờ ông còn lưu giữ đôi câu đối:

                                                         "Lý dĩ tiền thiên cổ danh tướng

                                                           Trần nhi hậu vạn thế uy Thần"

 

                   Dịch nghĩa:  Trước là Danh tướng nhà Lý ngàn năm vẫn là Danh tướng

                                          Sau là Thần tôi nhà Trần muôn năm vẫn là Thần tôi)

 

                                                                                                                    Dịch từ Thần phả Đền Gióng

                                                                                                                                 Phụng sao

                                                                                                                         NGUYỄN XUÂN SẢN






  
  



















           Anh Em họ Nguyễn luôn luôn đoàn kết yêu thương để xây dựng dòng tộc ngày một phát triển vững mạnh





 
      
   

THIẾT BỊ ĐO NĂNG LƯỢNG CƠ THỂ NGƯỜI

đăng 09:46, 14 thg 11, 2017 bởi Điều Nguyễn Xuân   [ đã cập nhật 01:59, 17 thg 1, 2019 ]

    Cách đây vài năm, Nhóm nhà khoa học thuộc Trung tâm nghiên cứu và sản xuất vật liệu kim loại, thuộc Viện Khoa học và Công nghệ mỏ - Luyện kim vừa chế tạo thành công “vật hình trụ bí ẩn”, được các Pharaoh Ai Cập cổ đại mang trên tay. Tên của “vật hình trụ bí ấn” là "Bộ nạp và điều hòa năng lượng sống".

    Kỹ sư Phạm Bá Kiêm, nguyên Giám đốc Trung tâm nghiên cứu và sản xuất vật liệu kim loại, là tác giả của “vật hình trụ bí ấn”. Ông Kiêm cho biết, qua đọc tài liệu và tranh vẽ, tượng về Ai Cập cổ đại, thấy các vị vua (Pharao) của xứ sở Kim Tự Tháp luôn nắm chặt trong mỗi tay một vật hình trụ kỳ lạ. Nhờ nắm hai vật hình trụ này mà tuổi thọ của các Pharao tăng gấp nhiều lần so với dân thường Ai cập thời đó.

    Bộ nạp bao gồm hai thỏi kim loại hình trụ có chiều dài 150 mm, đường kính 28 mm. Một thỏi kim loại màu trắng được gọi là “mặt trăng”, một thỏi bằng hợp kim màu đỏ gọi là “mặt trời”. Khi tay phải cầm vật “mặt trời”, tay trái cầm vật “mặt trăng”, sau 25 phút sẽ thấy buốt ở các ngón tay, mạch đập nhanh. Sau đó là cảm giác thanh thoát, ấm áp lạ thường lan tỏa khắp thân thể và dường như có một luồng điện tích tụ ở vùng “con mắt thứ ba” trên trán (Luân xa 6). Rõ ràng là vật hình trụ này có tác động đến cơ chế hoạt động của các cơ quan trong cơ thể con người. Bước đầu thử nghiệm, Trung tâm sản xuất được 40 bộ nạp "điều hòa năng lượng sống".

    Ông Nguyễn Xuân Điều,Trưởng bộ môn Trường sinh học dưỡng sinh (thuộc Trung tâm UNESCO Văn hóa Gia đình & Dòng họ Việt Nam) cho biết: “Bộ môn Trường sinh học dưỡng sinh đã dùng một số bộ để thử nghiệm. Qua thử nghiệm, phải khẳng định, những người sử dụng bộ nạp năng lượng đều cảm nhận sự thay đổi rõ rệt của cơ thể, mạch đập rõ, điều hòa huyết áp...

    Ông Nguyễn Hữu Hùng, cán bộ của Viện Năng lượng và Nguyên tử Việt Nam, đã dùng bộ nạp này, cho biết hằng ngày trước khi ngồi tập Thiền, ông cầm hai thỏi kim loại khoảng 40 phút, bước đầu cho thấy nhiều biểu hiện tốt cho cơ thể. Vợ ông Hùng cũng đã dùng bộ nạp và thấy rằng chứng bệnh mất ngủ đã được cải thiện, giấc ngủ sâu hơn, tinh thần vui vẻ.

    Sau đó, Bộ môn "Trường sinh học dưỡng sinh" đã đem gép hai thỏi kim loại này với một đồng hồ AVO, thang đo Micro ampe. Đây là một ứng dụng sáng tạo đầu tiên trên thế giới. Kết quả đo năng lượng cho các người bệnh tập Thiền đã rút ra một kết luận bất ngờ: Những người đo ở chỉ số 50 là sức khỏe trung bình, dưới 50 là sức khỏe yếu. Trên 50 là khá và trên 100 là mạnh (người khỏe).

    Đây cũng là chiếc máy đo năng lượng đơn giản đầu tiên trên thế giới (Chi phí chỉ hơn 1 triệu VNĐ) mà "Bộ mônTrường sinh học dưỡng sinh" đã nghiên cứu và ứng dụng trong nhiều năm cho việc luyện tập dưỡng sinh của các học viên là những người có bệnh.

    Bộ môn "Trường sinh học dưỡng sinh" cảm ơn ông Phạm Bá Kiêm, ông Nguyễn Hữu Hùng và tập thể các nhà khoa học là những người đã nghiên cứu và chế tạo thành công hai vật hình trụ kim loại của các hoàng đế Pharao Ai cập.

    Bộ môn "Trường sinh học dưỡng sinh" hy vọng thiết bị đo năng lượng cơ thể này sẽ được phát triển và áp dụng trong phạm vi rộng của lĩnh vực y học.

                                                                                                       Hà nội, 15/XI/2017
                                                                                                             BỘ MÔN TRƯỜNG SINH HỌC DƯỠNG SINH

 

YouTube Video

PHÁT HIỆN HỆ THỐNG DI TÍCH KHẢO CỔ TIỀN SỬ TRONG HANG ĐỘNG NÚI LỬA Ở KRÔNG NÔ, TỈNH ĐẮK NÔNG

đăng 09:48, 27 thg 10, 2017 bởi Điều Nguyễn Xuân

TS. La Thế Phúc(1), PGS.TS. Nguyễn Khắc Sử(2), ThS. Vũ Tiến Đức(3); CN. Lương Thị Tuất(1), CN. Phan Thanh Toàn(2), CN. Nguyễn Thanh Tùng(4), PGS.TS. Nguyễn Trung Minh(1).

(1)Bảo tàng Thiên nhiên VN, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam; (2)Viện Khảo cổ học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam; (3)Viện Khoa học Xã hội vùng Tây Nguyên, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam; (4)Công ty Phú Gia Phát.

Tóm tắt: Tính tới năm 2016, các nhà khảo cổ học Việt Nam đã phát hiện trong khu vực Công viên Địa chất Núi lửa Krông Nô có tới 12 di chỉ khảo cổ, hầu hết phân bố trên các gò đồi, nương rẫy hoặc ven sông suối, mà chưa hề được phát hiện trong các hang động núi lửa. Kết quả khai quật và nghiên cứu 12 di chỉ khảo cổ nêu trên cho thấy chúng là dấu tích văn hóa của cư dân Thời đại Đá mới và Sơ kỳ Kim khí, có tuổi từ 6.000 đến 3.000 năm cách ngày nay. Vào tháng 1/2017, đoàn khảo sát thực địa do Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam chủ trì đã phát hiện được các di tích và di vật khảo cổ với mật độ khá dày đặc trong các hang động núi lửa ở khu vực Krông Nô. Các di vật khảo cổ vừa được phát hiện gồm: công cụ đá, mảnh tước, phiến tước; hòn ghè, hòn kê, chày nghiền, mảnh gốm, xương động vật... . Phát hiện khảo cổ mới này đang được triển khai nghiên cứu chi tiết để bổ sung một loại hình cư trú mới, một hướng thích ứng mới của cư dân tiền sử ở vùng đất đỏ basalt Tây Nguyên và mở ra một hướng nghiên cứu mới về khảo cổ học hang động núi lửa ở Việt Nam và khu vực Đông Nam Á.

1. MỞ ĐẦU

Công viên Địa chất Núi lửa Krông Nô (Krongno Volcano Geopark - viết tắt KVG) không chỉ chứa đựng những giá trị khoa học quan trọng về địa chất, mà còn có cả những giá trị độc đáo về văn hoá, sinh thái và khảo cổ học, đáp ứng các tiêu chí của một công viên địa chất (CVĐC) toàn cầu mà UNESCO đề xuất [9].Vùng đề cử của KVG có diện tích khoảng 2.000 km2, gồm toàn bộ diện tích các huyện Krông Nô, Cư Jút, Đắk Mil và một số xã lân cận thuộc các huyện Đắk Song và Đắk Glong.

Trong quá trình triển khai Đề tài KHCN “Nghiên cứu, điều tra đánh giá di sản địa chất, xây dựng Công viên địa chất khu vực Krông Nô, tỉnh Đăk Nông”, một số những câu hỏi được đặt ra trong lĩnh vực nghiên cứu di sản văn hóa là giá trị nổi bật về khảo cổ học trong khu vực KVG là gì? Người tiền sử đã ứng xử như thế nào để sống thích ứng với những biến động của cảnh quan và môi trường sinh thái qua hàng nghìn năm? Và cách mà họ đã khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên tại chỗ ra sao để đáp ứng những nhu cầu của cuộc sống? v.v. Để trả lời những câu hỏi đó, vào tháng 1/2017, Đoàn khảo sát thực địa do Bảo tàng Thiên nhiên, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam chủ trì bao gồm các nhà nghiên cứu về địa chất, địa văn hóa và khảo cổ đã tiến hành thẩm định lại các di tích cũ, điều tra phát hiện mới một số di tích khảo cổ trong hang động trên địa bàn huyện Krông Nô. Cuộc khảo sát đem lại những kết quả hết sức bất ngờ.

Các tài liệu khảo cổ cho thấy, trước năm 2017, trên địa bàn tỉnh Đắk Nông, các nhà khảo cổ học đã phát hiện hơn 30 địa điểm khảo cổ [6;10], đều là di tích ngoài trời, chưa biết đến di tích hang động nào. Trong phạm vi KVG cũng đã thu thập dấu tích khảo cổ ở 12 địa điểm, đó là: Trung Sơn, Thác Lào, Suối Tre, Thôn Sáu, Thôn Bảy và Thôn Tám (huyện Cư Jút), Cánh Nam, Nam Xuân (huyện Krông Nô), Trường Xuân, Đăk Tơn (huyện Đăk Song), Đăk R’la, Đăk Lao (huyện Đăk Mil). Trong đó, di chỉ Thôn Tám, xã Đăk Wil, huyện Cư Jut đã được khai quật 2 lần vào các năm 2006 và 2013. Kết quả nghiên cứu bước dầu về các di tích khảo cổ này ghi nhận chúng là dấu tích văn hóa của cư dân Thời đại Đá mới và Sơ kỳ Kim khí, có tuổi từ 6.000 đến 3.000 năm cách ngày nay (CNN) [2, 3, 5, 6, 8, 10].

2. DI TÍCH KHẢO CỔ TRONG HANG ĐỘNG NÚI LỬA KVG

2.1. Sơ lược đặc điểm địa chất khu vực phân bố hang động núi lửa

Các thành tạo địa chất lộ trên bề mặt khu vực phân bố hang động có đặc điểm địa chất tương đối đơn giản, gồm hệ tầng La Ngà, hệ tầng Xuân Lộc và các thành tạo bở rời Đệ tứ (Hình 1).

Hình 1. Sơ đồ phân bố các hang động núi lửa khu vực Krông Nô.

* Hệ tầng La Ngà (J2 ln): phân bố với diện rộng chủ yếu ở phía tây khu vực hang động (Hình 1), thành phần chủ yếu là trầm tích lục nguyên và được chia thành 3 tập. Tập 1: bột kết màu xám bị phong hoá vỡ vụn cho màu xám vàng; sét kết màu đen, mặt lớp láng bóng, xen kẽ với các lớp mỏng cát kết màu vàng; cát bột kết màu xám đen, chiều dày khoảng 250 - 300 m. Tập 2: bột kết màu đen, phân lớp mỏng, mặt lớp có nhiều tinh thể pyrit tự hình xen với đá phiến sét và các lớp mỏng cát kết có những vẩy mica trắng; chiều dày 100 m. Tập 3: cát kết hạt vừa đến mịn màu xám, xám nhạt, xám vàng xen cát bột kết màu xám, xám vàng, bột kết và ít lớp mỏng sét kết; chiều dày 350 - 400 m [4].

* Hệ tầng Xuân Lộc (β/Q12 xl): phân bố với diện rộng ở phần trung tâm trong hình 1, thành phần chủ yếu là các sản phẩm phun trào basalt và được chia thành 3 tập. Tập 1: tro núi lửa màu xám nâu đến đen, đôi nơi có tuf xen với các lớp basalt lỗ hổng màu xám; chiều dày khoảng 35m. Tập 2: basalt thực thụ gồm basalt olivin, basalt dolerit màu xám sẫm, plagiobasalt, cấu tạo khối khá đồng nhất; chiều dày khoảng 45 - 50 m. Tập 3: ngoài dung nham phun trào còn có dung nham phun nổ, phun nghẹn với thành phần chủ yếu là basalt olivin màu đen, lục xám. Đá có cấu tạo đặc xít xen lỗ hổng, bọt, bom núi lửa, dăm núi lửa; chiều dày khoảng 45 - 51 m [4].

* Các thành tạo bở rời hệ Đệ tứ không phân chia (Q): phân bố với diện rộng ở phần phía đông khu vực hang động (Hình 1), thành phần chủ yếu là sét cát, sét bột màu loang lổ và kết vón laterit, phân bố dưới dạng các tích tụ bở rời ở các phần thấp địa hình, tạo thành thềm bậc I ven sông Sêrêpôk, có độ cao từ 3 - 6m; chiều dày khoảng 5 - 6 m [4].

* Khoáng sản: ở khu vực nghiên cứu chủ yếu là puzơlan liên quan đến basalt hệ tầng Xuân Lộc ở xã Buôn Choáh, Krông nô. Ngoài ra còn có đá basalt xây dựng, sét gạch ngói phân bố dọc thung lũng sông Sêrêpôk [4].

2.2. Sơ lược đặc điểm hang động liên quan tới di chỉ khảo cổ

Hệ thống hang động được phát hiện trong vùng nghiên cứu chủ yếu liên quan đến basalt của hệ tầng Xuân Lộc (Hình 1). Cho đến nay, các nhà địa chất mới chỉ phát hiện được một miệng núi lửa ở khu vực hang động là núi lửa Chư B'Luk (cao 601m so với mực nước biển, chiều sâu của họng ~63m), thuộc xã Buôn Choáh, huyện Krông Nô. Các hang động ở đây đều phân bố rải rác xung quanh miệng núi lửa này. Hầu hết các cửa hang hiện tại là cửa thứ sinh, kết quả của quá trình sập trần hang nên thường có dạng dạng vòm, trước cửa hang thường ngổn ngang những đống đá basalt đổ lở. Một số ít cửa hang nguyên sinh, được hình thành do thoát khí trong quá trình dòng dung nham basalt nóng chảy chuyển dần sang đông kết. Các cửa hang kiểu này thường có hình tròn, dốc đứng với độ sâu lớn (hang C7 có độ sâu >10m, hang "Trăn" sâu ~ 25m, hang P9 sâu ~53m v.v.). Hiện tại, chúng tôi chỉ mới phát hiện các di chỉ khảo cổ liên quan tới các hang động có cửa thứ sinh, đặc biệt các hang thứ sinh có nền hang ở gần cửa rộng rãi, dễ tiếp cận, ánh sáng tốt và thông thoáng, phân bố gần sông, suối là những hang phát hiện được nhiều hiện vật khảo cổ hơn cả. Ngược lại, các hang thiếu sáng, không thoáng khí, cửa hẹp, ra vào khó là những hang chưa tìm thấy hiện vật khảo cổ.

2.3. Kết quả khảo sát khảo cổ ở KVG

* Khảo sát di tích Thôn Tám

Di tích Thôn Tám, xã Đăk Will, huyện Chư Jút, tỉnh Đắk Nông được khai quật lần đầu vào năm 2006 với diện tích 52m2 và vào năm 2013 với diện tích 37,5m2. Di chỉ có tọa độ 120 42’31,3’’vĩ độ bắc và 1070 48’25,9’’ kinh độ đông, cao 382m so với mực nước biển. Cả hai lần đều cho kết quả như nhau. Các vết tích văn hóa của con người như công cụ lao động bằng đá, các phác vật công cụ, mảnh tước, đá nguyên liệu và đồ gốm nằm trong địa tầng dày trung bình 50cm, cấu tạo từ đất đỏ basalt. Trong đó chưa tìm thấy dấu tích kiến trúc nơi ở, xương cốt động vật, than tro. Kết quả nghiên cứu khảo cổ học cho thấy, Thôn Tám là di chỉ xưởng chế tác rìu đá, có niên đại Đá mới giữa (khoảng 5.000 CNN) [2, 3, 10]. 

Đoàn đã khảo sát xung quanh di tích Thôn Tám (xã Đăk Will, huyện Chư Jút) ở  độ cao tuyệt đối 335m đã phát hiện 15 đồi gò khác, hiện trồng tiêu hoặc cây công nghiệp. Bao quanh các gò này là các vùng trũng có nước. Trên mặt một số đồi gò này, chúng tôi đã thu thập được phác vật rìu đá, mảnh tước và đá nguyên liệu. Chúng tôi cũng cho rằng, đây là khu vực tập trung cao các di tích của cư dân tiền sử, có niên đại Đá mới ở Tây Nguyên với đặc trưng nổi bật là sự hiện diện của rìu hình bầu dục, rìu ngắn, nạo hình đĩa, ghè một mặt hoặc hai mặt và có mặt rìu chỉ mài ở rìa lưỡi, mang yếu tố kỹ thuật chế tác rìu đá của cư dân sơ kỳ Đá mới Hòa Bình nổi tiếng ở Việt Nam và Đông Nam Á.

* Khảo sát các di tích hang động

-  Hang C1 - Ảnh 2. (Điểm khảo sát: KVG107, ký hiệu trong máy định vị GPS: 083)

Hang cách đường mòn khoảng 300m, lối vào hang dễ dàng. Cửa hang quay hướng đông 900, có hình gần tam giác cân (Ảnh 2), đáy nền cửa hang rộng 3,5 - 4m, trần hang cao khoảng 3m, hang dài > 100m. Cửa hang C1 được hình thành do cơ chế sập trần tại nơi có lớp phủ trần hang mỏng và yếu. Nền hang ở phần giữa, khu vực gần cửa có gờ đá basalt nổi cao cùng với bề mặt xù xì bởi các nhũ đá dung nham rắn chắc, có hình dạng giống hình một con cá sấu kích thước lớn, trong tư thế nằm, quay đầu về phía cửa hang (Ảnh 3). Trên mặt nền hang thu lượm được một số mảnh gốm đất nung (pottery), xương gốm được làm từ sét pha cát mịn, có màu đỏ, độ nung thấp, một số mảnh gốm có hoa văn chấm dải. Ngoài ra, trong hang còn thu được các hòn thạch anh góc cạnh có kích thước từ 2 - 4cm Đây là đá phế thải của người tiền sử khi ghè đẽo “công cụ đá quartz” hay là những mảnh vỡ từ những viên đạn bắn dơi bằng súng cao su tự chế của người dân địa phương hiện tại vẫn đang còn là dấu hỏi. Trong hang thu được một số đoạn xương chi có vết thổ hoàng, có thể là xương người (?).

Từ cửa hang C1 đi tiếp theo hướng đông 1000, thực chất là đoạn hang đã bị sập trần tạo nên hang có hai cửa. Gần cửa phía đông có một giếng trời, đường kính khoảng 1,7m. Đoạn hang này dài 17 - 20m vẫn phát triển theo hướng á vĩ tuyến. Đặc biệt, trên tường hang phía nam còn lưu lại một khuôn cây, đường kính ngoài khoảng 10cm, dài trên 5m.

Ở chân vách phía bắc của đoạn hang C1 - 1 đã phát hiện một rãnh đất màu đen, trong chứa nhiều mảnh gốm, xương gốm dày 2 - 3mm, một số mảnh có hoa văn khắc vạch. Ngoài ra còn thu được một số vỏ ốc núi, trong đó có loài Cycloporus sp.

  -  Hang C3 (Điểm khảo sát: KVG108, ký hiệu trong máy định vị GPS: C3)

Hang C3 dài 594,4m [1]; cách hang C1 khoảng 1 km về phía đông - đông nam, cửa hướng đông 1100. Cửa hang bị sập, có độ cao hạ thấp so với bề mặt địa hình chung khoảng 4,5 - 5m. Cửa hang rộng 20m, cao khoảng 1,5m. Trên mặt cửa hang là các khối đá basalt chất ngổn ngang do sập trần. Lớp phủ trần hang hiện tại dày khoảng 3 - 5m. Trên vách trái cửa hang là một khuôn cây lớn có đường kính khoảng 40cm. Nền hang có nhiều tảng đá kích thước lớn hàng m3 đổ ngổn ngang. Hang C3 hiện trạng là không thích hợp làm nơi cư trú hoặc nếu đã từng là nơi cư trú của người Tiền sử thì dấu vết của họ nay cũng đã bị vùi lấp dưới các đống đổ lở do sập trần hang. Khu vực hang chưa phát hiện di vật khảo cổ.

 -  Hang C4 (Điểm khảo sát: KVG109, ký hiệu trong máy định vị GPS: C4):

Hang C4 dài 251m [1]; cách hang C3 khoảng 300 - 400m về phía đông nam. Cửa hang là một vùng trũng sâu 5 - 8m do sập trần hang, có hình vòm (bán nguyệt), hướng nam 1900. Trần hang cao 4,5 - 5m, lòng hang rộng 12 - 15m. Nền hang khá bằng phẳng, phía cửa thấp, phủ lớp đất ẩm lẫn các cục đá basalt kích thước từ 10cm - 40cm. Khu vực phía trong hang cao dần và lộ rõ nền đá gốc do dung nham basalt đông kết (Ảnh 4). Lòng hang gần cửa dài 40m, sau đó hang chuyển hướng quẹo sang trái ăn sâu vào trong. Cửa hang cũng có một khối đá basalt lớn khoảng 1,5m3 là sản phẩm rơi xuống từ trần hang. Gần cửa hang đã phát hiện nhiều di vật khảo cổ như cuội nguyên liệu, rìu, mảnh tước, hòn kê bằng cuội được lấy từ sông, một mảnh opal - canchedon; xương răng động vật, thổ hoàng có vết răng của loài gặm nhấm. Gốm thô, xương gốm dày 2 - 3mm, trang trí hoa văn giống gốm thời Đá mới ở vùng này, có niên đại khoảng 4.000 - 5.000 năm cách ngày nay (Ảnh 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10).  

 -  Điểm khảo sát bổ sung khu vực hang C4 - 1 (Điểm khảo sát: KVG109/1).

Từ hang C4 nhìn về phía nam - đông nam, qua một vùng trũng do sập trần là hai nhánh hang ngắn nằm song song với nhau. Mỗi nhánh dài gần 100m và có hai cửa ở hai đầu (do sập trần hang). Hai cửa phía tây bắc (mỗi nhánh một cửa) nhìn về hướng 3300 (tây bắc), quay về phía cửa hang C4. Đây là hai nhánh hang có kích thước tương đương nhau, có lẽ được tách ra từ một nhánh hang chính là hang C4. Tiết diện của mỗi nhánh hang đều có hình elip dẹt, với chiều cao hang khoảng 12m, chiều rộng khoảng 15 - 20m. Cửa phía nam của nhánh hang phía đông có đống khối tảng basalt lớn do sập trần tạo nên. Tường hang tại cửa phía bắc của nhánh hang phía đông cấu tạo bởi basalt dạng bọt có độ rỗng khá lớn, có lớp thủy tinh núi lửa mỏng bao bọc phía ngoài. Trên nền nhánh hang phía tây có dấu vết khảo cổ là các mảnh vỡ cuội sông, đá có vết ghè (đá nguyên liệu) của người tiền sử.

 -  Hang C6 (Điểm khảo sát: KVG117, ký hiệu trong máy định vị GPS: 091):

Hang C6 dài 180.3m [1], cách hang C4 khoảng 200m về phía đông, cửa hướng đông nam 1400. Lòng hang từ cửa vào trong theo hướng đông nam - tây bắc. Phần cuối phía tây bắc của hang có một giếng trời (đường kính 2m). Lớp phủ trần hang khá chắc, dày 5 - 8m ở phía trên cửa hang và mỏng dần vào trong. Từ khu vực giếng trời phát triển một nhánh hang ăn thông về phía đông bắc, sau đó bẻ quặt về phía nam theo hình khuỷu tay để kết nối trở lại với nhánh chính của hang. Nền hang nhánh phụ cao hơn nhánh chính và tương đối bằng phẳng, có thể làm nơi sinh hoạt, kín và thoáng khí nhờ giếng trời ở cuối hang. Nền hang nhánh chính khá bằng phẳng, ngoại trừ một số hòn đá basalt đổ lở rải rác trên nền. Nhìn chung, hang C6 khá thuận lợi cho cư trú của người tiền sử. Trong hang đã phát hiện khá nhiều di vật khảo cổ như: phác vật rìu đá, mảnh tước đá basalt, thổ hoàng, cuội sỏi, cùng mảnh gốm thành dày 1,5 - 2mm, mặt ngoài để trơn hoặc trang trí hoa văn vặn thừng (Ảnh 11, 12, 13).

 -  Hang C6’ (Điểm khảo sát: KVG118, ký hiệu trong máy định vị GPS: 092)

Hang C6' cách hang C6 khoảng 200 - 300m về phía nam đông nam. Cửa hang có dạng vòm cao >10m (Ảnh 14). Lòng hang C6’ có hình elip, rộng ~15m và cao ~13m. Ban đầu, có thể hang C6 cà C6' cùng là 1 hang, nhưng do sập trần nên đã tạo ra những đoạn hang như C6, C6’. Nền hang C6’ khá bằng phẳng, hai bên vách hang có những “đê” dung nham. Quan sát trong hang thấy có những rãnh xước thể hiện hướng chảy của dòng dung nham trên tường hang C6’. Những rãnh xước này không phải là những rãnh xước nằm ngang, mà có chiều thẳng đứng hoặc rối, hoặc những nhũ đá định hướng kiểu trọng lực trên tường hang. Đây có thể là kết quả của những dòng dung nham chảy rối, chảy xoắn theo cơ chế trọng lực bám dọc theo tường hang trong quá trình hình thành hang động núi lửa của hang C6’. Tại khu vực phía trong, gần cửa hang đã thu thập được 13 di vật đá, 27 mảnh gốm và một số mảnh xương, răng động vật. Về loại hình đồ đá có: 3 mảnh đá nguyên liệu, vốn là cuội sông, suối có lẽ từ sông Sê rê pốk; chất liệu đá sét kết, thạch anh và đá sét bột kết bị sừng hóa; 6 mảnh tước ban đầu và mảnh tước thứ, tách ra từ đá sét, sét bột kết hạt mịn, kích thước dưới 7cm; 4 rìu đá, ghè một mặt, trong đó 2 chiếc làm từ đá basalt, 2 chiếc làm từ đá cát bột kết bị biến chất rắn chắc dạng quartzit (Ảnh 15, 16, 17, 18, 20).

Đồ gốm đất sét, pha cát, hạt thô; một số mảnh bị bong tróc lớp áo gốm. Mặt ngoài trang trí hoa văn khắc vạch, khắc vạch kết hợp trổ lỗ. Về loại hình có 2 mảnh miệng nổi, loại miệng loe, thành miệng dày; loại vê tròn, không có thành miệng; một mảnh miệng có trang trí hoa văn khắc vạch kết hợp trổ lỗ, thành dày: 0,4 - 0,6cm (Ảnh 19).

-  Hang C6.1 (Điểm khảo sát: KVG120 )

Hang C6.1 dài ~293m [1], cách hang C6 khoảng 270m về phía nam - đông nam. Khu vực là một vùng trũng sụt rất lớn, xung quanh phân bố 3 cửa hang:

+ Cửa 1: quay về phía bắc 100, ở cửa hang phát hiện được 2 mảnh gốm;

+ Cửa 2: quay về phía đông 1000. Tại đây, dân địa phương vào khai thác phân dơi, làm bật lên một số di vật khảo cổ.

+ Cửa 3: quayvề phía Nam 1600. Cũng như cửa 2, ở đây dân địa phương đào nền hang, lấy phân dơi và làm bật lên nhiều di vật khảo cổ, gồm: công cụ lao động – rìu bầu dục, rìu bầu dục mài lưỡi, rìu ngăn mài lưỡi (Ảnh 21, 22, 23), mảnh tước và đồ gốm, giống gốm ở hang C4.

3. MỘT VÀI NHẬN XÉT BAN ĐẦU

- Trong khuôn viên KVG có khá nhiều điểm khảo cổ. Riêng trong hệ thống hang động núi lửa cũng có nhiều hang chứa di chỉ khảo cổ. Bước đầu khảo sát ở khu vực các hang từ C1 đến C6.1 của KVG, chúng tôi đã phát hiện những di tích khảo cổ thời tiền sử, minh chứng cho vết tích cư trú, chế tác công cụ của người thời nguyên thủy trong các hang động núi lửa. Đây chính là những phát hiện khảo cổ học hang động núi lửa tiền sử đầu tiên ở Việt Nam;

- Đối với KVG nói riêng và vùng đất đỏ basalt Tây Nguyên nói chung, hệ thống các hang động núi lửa có ý nghĩa quan trọng đối với cư dân tiền sử, nhất là khi trình độ kỹ thuật của họ còn thấp. Những hang động ở KVG mà chúng tôi đã tiếp cận và khảo sát có diện tích nền hang khá rộng, nền hang tương đối bằng phẳng, thông thoáng, nhiều hang có cửa quay về hướng đông, đông nam hoặc chính nam nên tiếp thu được nhiều ánh sáng mặt trời, cửa hang tiếp cần khá dễ dàng, phân bố ở gần nguồn nước sinh hoạt là những tiền đề lý tưởng cho những người “huyệt cư”. Kết quả khảo sát và nghiên cứu cho thấy cư dân cổ đã cư trú trong hang động núi lửa và dưới các mái đá. Tại đấy, họ chế tác công cụ lao động bằng đá và sản xuất đồ gốm với trình độ khá cao;

- Trong việc chế tác công cụ đá, họ đã biết lựa chọn một số viên cuội sông, suối với chất liệu cứng và độ dẻo cao để chế tác công cụ như đá chert, đá phiến silic, quartzit, thạch anh v.v. Họ sử dụng kỹ thuật ghè đá, ghè trực tiếp trên một hoặc 2 mặt để tạo ra rìa lưỡi công cụ. Đôi khi họ sử dụng kỹ thuật bổ, tách đá lấy mảnh tước, từ mảnh tước chế tạo ra công cụ. Bên cạnh kỹ thuật ghè lớn, họ đã sử dụng kỹ thuật ghè nhỏ, tu chỉnh cho rìa lưỡi công cụ đỡ zích zắc, một số công cụ đã được mài rìa lưỡi;

Về loại hình, cư dân cổ ở đây đã chế tạo ra một số công cụ khá định hình, đó là những chiếc rìu hình bầu dục hoặc gần hình chữ nhật, những công cụ hình gần tròn, những công cụ mảnh tước, phiến tước; những hòn ghè, hòn kê, chày nghiền...  Đây là những công cụ thường gặp trong các bộ lạc ở trình độ Thời đại Đá mới. Bằng thực nghiệm va quan sát dân tộc học so sánh, các nhà khảo cổ cho biết, những công cụ này có thể sử dụng vào việc chặt cây, phát rừng, xẻ thịt thú rừng, cắt thái các loài thảo mộc, chế biến thực phẩm hoặc gia công tre gỗ làm công cụ và vũ khí săn bắt;

Đồ gốm phát hiện trong hang còn ít, nhưng cho thấy chúng được làm tại chỗ với kỹ thuật cao. Đó là gốm đất nung, làm từ đất sét pha cát, hạt nhỏ, nặn tay, loại hình đơn giản, chủ yếu là nồi và đồ đựng, xương gốm mỏng, một số có lớp áo phủ, một số trang trí văn đập, văn in ô vuông, văn khắc vạch, in chấm… Đây là những đồ gốm thường gặp trong các di tích Hậu kỳ Đá mới và Sơ kỳ Kim khí;

- Với loại hình công cụ bảo lưu kỹ thuật sau văn hoá Hòa Bình và đặc điểm đồ gốm, có thể ghi nhận ở trong các hang và dưới mái đá vùng KVG có nhiều lớp người kế tiếp nhau cư trú. Niên đại sớm nhất có thể từ Trung kỳ Đá mới, cách ngày nay khoảng 6.000 -  7.000 năm đến Thời đại Kim khí, cách ngày nay khoảng 2.000 - 3.000 năm, thậm chí cả những thế kỷ gần đây. Để làm sáng tỏ dự đoán này cần có các cuộc đào thám sát, khai quật, nghiên cứu địa tầng và làm một số phân tích, xét nghiệm bằng khoa học tự nhiên như bào tử phấn hoa, thành phần thạch học công cụ, thành phần gốm và niên đại tuyệt đối;

- Lần đầu tiên giới khoa học Việt Nam đã phát hiện ra các di tích cư trú của người tiền sử trong các hang động hoặc dưới mái đá núi lửa basalt, bổ sung thêm một loại hình cư trú mới, một hướng thích ứng mới của cư dân tiền sử ở vùng đất đỏ basalt Tây Nguyên Việt Nam; mở ra một hướng nghiên cứu mới về khảo cổ học hang động núi lửa ở Việt Nam và khu vực Đông Nam Á.

Tuy nhiên, đây mới chỉ là những phát hiện ban đầu, các nhà địa chất thuộc Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam và các nhà khảo cổ học ở Viện Khảo cổ học Việt Nam cần tiếp tục tìm kiếm, phát hiện mới các di tích hang động, tiến hành đào thám sát, tiến tới khai quật và nghiên cứu chuyên sâu có hệ thống các di tích này, góp phần nghiên cứu diễn trình lịch sử văn hóa các cộng đồng cư dân trên đất Đắk Nông nói riêng và Tây Nguyên nói chung, bổ sung một giá trị nổi bật về văn hóa lịch sử cư dân tiền sử trong khu vực KVG.

Để có những phát hiện mới này, Đoàn khảo sát thực địa xin trân trọng cám ơn các cấp Lãnh đạo: Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Đắk Nông, và Lãnh đạo tỉnh Đắk Nông đã đặc biệt quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi nhất về mọi mặt cho Đoàn triển khai nhiệm vụ nghiên cứu khoa học. Bài báo được hoàn thành trong quá trình thực hiện đề tài “Nghiên cứu, điều tra đánh giá di sản địa chất, xây dựng Công viên địa chất khu vực Krông Nô, tỉnh Đăk Nông”.

 


VĂN LIỆU

1.        La Thế Phúc, Hiroshi Tachihara, Tsutomu Honda, Trương Quang Quý, Lương Thị Tuất, 2015. Di sản địa chất hang động núi lửa độc đáo ở Đắk Nông đã được phát hiện và xác lập kỷ lục. Tạp chí Địa chất, loạt A, số 349, 1 - 2/2015, tr. 28 - 38.

2.        Lê Hải Đăng, nnk (2013). Kết quả sơ bộ khai quật lần thứ 2 di chỉ Thôn Támk Nông), trong Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 2013, tr. 103 - 105.

3.        Nguyễn Gia Đối, Lê Hải Đăng và nnk, 2006. Phát hiện di chỉ xưởng chế tác đồ đá ở Thôn Tám (Đăk Nông). Trong Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 2006. Nxb. Khoa học xã hội:

4.        Nguyễn Đức Thắng (Chủ biên), 1989. Địa chất và khoáng sản nhóm tờ Bến Khế -  Đồng Nai, tỷ lệ 1:200.000. Tổng cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam. Hà Nội.

5.        Nguyễn Khắc Sử (chủ biên), 2004. Khảo cổ học tiền sử Đắk Lắk. Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.

6.        Nguyễn Khắc Sử, 2007. Sách “Khảo cổ học tiền sử Tây Nguyên”. Nhà xuất bản giáo dục Hà Nội.

7.        Nguyễn Văn Trần, Hoàng Thu Nguyên, 2011. Phát hiện rìu đá Đắc Song (Đắc Nông). Trong Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 2009. Nxb. Khoa học xã hội: 96 - 97.

8.        Trương Quang Quảng và nnk, 2011. Về bộ cuốc đá mới phát hiện ở  Cư Jút (Đắc Nông). Trong Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 2010. Nxb. Khoa học xã hội: 97 - 98.

9.        UNESCO Division of Ecological and Earth Sciences, 2009. Global Geopark Network.

10.   Vũ Tiến Đức, 2015. Báo cáo đề tài khoa học cấp cơ sở Viện Khoa học xã hội Tây Nguyên “Điều tra nhóm di tích Khảo cổ học tiền sử xã Đắk Wil, huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông”.

 

VỀ OSHO

đăng 19:12, 10 thg 9, 2017 bởi Điều Nguyễn Xuân   [ đã cập nhật 19:18, 10 thg 9, 2017 ]

                                                                                                                Đàm Thanh Giang


    Gần 20 năm trước tôi đọc Osho khá nhiều, giúp tôi phần nào cách nhìn, hiểu các vấn đề nhất nguyên bằng ngôn từ là sản phẩm của đa nguyên khi đọc kinh điển. Năm 2001 tôi xem chương trình của một trung tâm tu tập theo phương pháp của osho ở TP Hanover thì thấy họ lợi dụng để kinh doanh hơn là tu tập.

     Chỉ cách đây quãng chục năm tôi mới thấy ra những bất cập của pháp môn của ông khi nghiên cứu sâu hơn kinh điển Phật giáo.

   Dưới đây là tôi lược trích lại bài về Osho của "Cội nguồn".

   Osho (1931-1990) là một vị đạo sư hết sức kỳ lạ của thế kỷ hai mươi. Tên thật của ông là Rajneesh Chandra Mohan Jain. Khoảng trong thập kỷ 70 người ta biết đến ông với tên Bhagwan Shree Rajneesh. Tháng 2 năm 1989, ông tự đổi tên là Osho vốn là danh xưng tiếng Nhật Bản cổ, có nghĩa là “đạo sư” của một dòng Thiền. 
   Osho để lại một số lượng tác phẩm đồ sộ với hàng trăm cuốn sách và vô số các bài thuyết giảng. Ông là một người gây nên rất nhiều tranh cãi trong số những ai quan tâm đến triết học phương Đông, trong giới những người tầm cầu tôn giáo và đạo sư. Có thể nói, ông là một trong những người gây phân hoá cùng cực nhất về mặt đạo lý, nhưng cũng là người có sức thu hút mạnh mẽ nhất trong các bài giảng về tôn giáo và triết học. 
   Trong những năm 60, Osho là giáo sư triết học tại đại học Jabalpur, Ấn Độ. Về bản thể luận, ông là người có quan niệm Nhất thể về vũ trụ. Với ông, Thượng đế nằm trong mọi vật, nằm trong mọi con người. Không hề có sự phân biệt nào giữa “Thượng đế” và “phi Thượng đế”. Toàn thể mọi con người, dù là người tồi tệ nhất, đều thiêng liêng cả. Mọi dạng xuất hiện của một thứ năng lượng mang tên là “Thượng đế” đối với ông đều đáng ngưỡng mộ và điều này sẽ thể hiện trong quan niệm hành trì mà ông muốn truyền bá.
   Đối với đời người, Osho cho rằng giá trị cao cả nhất của cuộc đời là lòng yêu thương, sự vui cười và thiền định. Niềm ân thưởng vô giá nhất của cuộc đời là trải nghiệm được sự giác ngộ tâm linh . Sự giác ngộ đó được ông miêu tả là “nằm yên trong trạng thái bình thường của sự hiện hữu của tất cả mọi vật đang dựng xây vũ trụ”. Con người chúng ta lẽ ra ai cũng có thể trải nghiệm được trạng thái giác ngộ đó, nhưng sự thực là con người bị đánh lạc hướng do hoạt động tư duy cũng như do mong ước và dục vọng sinh ra bởi sự ràng buộc của xã hội. Vì thế, thay vì hưởng được niềm vui cao cả của sự hữu hiện, con người rơi vào một tình trạng của sợ hãi và ức chế. Ông quan niệm rằng, muốn trở lại trạng thái hồn nhiên và an lạc, con người phải tự mình giải thoát khỏi sợ hãi và ức chế.
   Với nhận thức này, Osho hoàn toàn nằm trọn vẹn trong truyền thống của triết học Ấn Độ, nhất là trong Đại thừa Phật giáo. Nếu nhớ đến tư tưởng của Mã Minh trong Đại thừa khởi tín luận, hay Thiền ngữ “Tâm bình thường là đạo” của Nam Tuyền, hay các phép hành trì của Phật giáo Tây Tạng, hay tư tưởng của các vị đạo sư của thời hiện đại như Aurobindo hoặc Krishnamurti, ta dễ dàng thấy sự trùng hợp tuyệt đối về nhận thức luận giữa ông và các truyền thống đó. Chỉ có điều khác biệt là, Osho nói về các nhận thức này một cách hùng biện và mới mẻ. Nhất là với tính cách của một giáo sư triết học, trong các luận giải, ông phối hợp một cách tài tình những truyền thống của Phật giáo, Kỳ-na giáo (Jainism), Ấn Độ giáo, Lão giáo, Cơ-đốc giáo, Sufism (một truyền thống của Hồi giáo), và triết học cổ của Hy Lạp. Thế nhưng, cũng như mọi nhà đạo học khác, ông không quên chỉ rõ, không một nền triết học nào có thể diễn bày được chân lý, có thể thay thế được sự chứng thực cá nhân.
   Do đó sự trải nghiệm, sự chứng thực của trạng thái giác ngộ là cốt tuỷ của mọi sự. Ông tự nhận mình đã đạt trạng thái này năm 21 tuổi. Phương pháp khả dĩ đưa đến giác ngộ là phép thiền định. Nhưng thiền định là gì và hành trì thiền định như thế nào? Theo Osho thiền định là một trạng thái “nằm ngoài tâm”. Thiền định không phải là sự tập trung. Thiền định không hề là một dạng của sự tư duy có tính tâm linh mà là một tình trạng vắng bặt tư duy. Mọi triết lý về thiền định có thể ví như to tiếng bàn luận về sự lặng yên, còn thiền định là bản thân sự lặng yên. Đó là một tình trạng có thể xảy ra bất chợt, một tình trạng mà ta có thể ở trong đó, chứ không phải là một sản phẩm do ta tạo ra. Quan niệm này về thiền của Osho không hề khác với các phát biểu xưa nay của các vị Thiền sư của miền Đông Á, trong đó có Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam. Nhưng cách hành trì thiền định do Osho đề ra thì khác hẳn. Osho cho rằng con người hiện đại, nhất là người phương Tây rất khó áp dụng phép toạ thiền, tìm sự an tĩnh và ngưng bặt tư tưởng bằng cách ngồi yên. Vì thế ông đề xuất những phép thiền tích cực và cho rằng những phép hành trì của thiền tích cực sẽ đưa con người vào trạng thái thiền định một cách tự nhiên. Nội dung của các phép thiền tích cực này là cho phép con người rũ bỏ những gì ức chế mình bằng cách để cho chúng được thể hiện một cách tự nhiên. Trong các phép thiền tích cực do Osho đề ra, ta có thể kể phép thiền năng động (Dynamic Meditation), thiền Kundalini, Nadabrahma, Natajai, trong đó phép thiền năng động được chú ý nhiều nhất.

   Trong phép thiền năng động, thường thường thiền sinh bắt đầu với những hoạt động mạnh mẽ về thể chất, sau đó là sự lặng yên và cử hành tế lễ. Phép thiền này tin rằng, qua đó con người sẽ vượt thắng sự sợ hãi, giảm bỏ sự ức chế, phát sinh được một dạng của tánh Không và đạt giác ngộ. Đối với Osho, muốn đối trị sự ức chế nào ta phải kích động nó lên, nếm trải, chứng nghiệm nó và cuối cùng trực nhận nó chỉ là “không” thì mới thực sự siêu việt được nó. Theo ông một con người giác ngộ sẽ là “phi quá khứ, phi tương lai, không ràng buộc, không tâm thức, vô ngã, vô bản chất”.
   Đó là những nét cơ bản về quan niệm của Osho về phép hành thiền. Thật ra thì phương pháp chủ động kích thích dục vọng của con người lên để chứng nghiệm, quán chiếu và siêu việt chúng không phải là một điều gì mới lạ. Trong truyền thống Ấn Độ, người ta vẫn còn nhắc đến 84 vị Đại Thành tựu giả (Mahasiddha), các vị được xem là sống trong khoảng thế kỷ thứ 8 đến thứ 12 sau công nguyên . Đó là các vị hành giả lòng còn chất chứa đầy các loại dục vọng khác nhau, nhưng nhờ biết cách quán chiếu chúng, biết chúng chẳng qua đều là những dạng của Không tính mà đạt được thành tựu. Đọc tiểu sử các vị đó, ta sẽ thấy đó toàn là những người mang đầy thói hư tật xấu, thậm chí có kẻ là người chuyên đánh bạc hay ăn trộm, nhất là có rất nhiều vị đam mê tình dục. Thế nhưng, nhờ một cách hành trì thiền định, trong đó họ quán tưởng “đối tượng đam mê” và “người đam mê” đều chỉ là những dạng của “Không”, họ đạt giác ngộ ngay trong đời này. Các vị đó là những người tiên phong của một truyền thống được mệnh danh là Kim cương thừa. Trong thời đại gần đây hơn, các vị tu sĩ trong truyền thống Kim cương thừa của Tây Tạng cũng là những người chủ trương “chuyển hoá” năng lực của dục vọng thành động lực của sự giác ngộ. Thậm chí trong nền phân tâm học hiện đại của phương Tây người ta cũng biết đến phép chữa bệnh Gestalt Therapy, trong đó bệnh nhân được khuyến khích hãy sống thực với nền tảng tâm lý của mình, hãy tận lực khóc cười hay la hét với những ức chế của mình với mục đích giải thoát ra khỏi sự đè nén của chúng.
   Dĩ nhiên phương pháp của Osho có một tầm cỡ hoàn toàn khác so với phép chữa bệnh tâm lý nói trên, vì ở đây nó có tính chất tôn giáo cao độ. Còn so với các truyền thống xưa thì điều kỳ lạ là ông dám đem ra áp dụng cho quảng đại quần chúng. Ở đây ta dễ dàng đoán biết điều gì sẽ xảy ra. Đó là khi con người bình thường được khuyến khích chủ động cho những ức chế của mình được vận hành thì một năng lực thuộc về bản năng sẽ vùng dậy, đó là tình dục.
   Osho vốn là một con người “nổi loạn”, luôn luôn chống lại qui tắc của xã hội. Không những ông không hề sợ bị xã hội lên án, xưa nay ông chuyên khiêu khích sự ổn định của một định chế có sẵn, kể cả một nền đạo lý chung của con người. Nhất quán với quan niệm thiền định tích cực của mình, cuối những năm 60, ông bắt đầu thuyết giảng một số bài về tình dục, được ghi lại dưới nhan đề Từ tình dục đến ý thức siêu việt (From Sex toSuperconsciouness), trong đó ông cho rằng “đối với phép Tantra thì mọi thứ đều thiêng liêng, không có gì không thiêng liêng” và mọi sự đè nén tình dục đều là sự tự huỷ vì người ta không thể chuyển hoá tình dục nếu không nếm trải nó “một cách đích thực và đầy ý thức”. Quả thực, trong phong trào của ông, môn đệ của ông thực hành lời dạy này một cách đầy hoan lạc. Liệu hành động của họ là “đích thực và đầy ý thức” như ông giảng giải, là một vấn đề khác. 
   Trên quan niệm đạo học phương Đông, tình dục là một dạng vận hành của năng lượng. Năng lượng hàm chứa trong con người biểu hiện dưới nhiều dạng của ái dục mà dạng ái dục quan trọng nhất là hữu ái , tức là sự khao khát được tồn tại. Trong sự khao khát đó thì tình dục là dạng ái dục cụ thể nhất, mang nặng tính vật chất nhất. Tình dục do đó là bản năng cơ bản nhất của mọi loài, nó không dính líu gì đến các giá trị do xã hội loài người đặt ra như thiện-ác, xấu-tốt, phải-trái. Sở dĩ tình dục hay bị lên án là vì mọi hoạt động xuất phát từ nó thường sinh ra những hậu quả phiền toái cho đời sống xã hội của con người. Cũng chính vì thế mà con người thường bị ức chế về tình dục, tuy luôn luôn nhớ nghĩ về nó nhưng cũng luôn luôn phải đè nén nó. Do đó tình dục là một trong những ức chế lớn nhất của con người, thật ra là ức chế chủ yếu của đời làm người. Nền tâm lý học phương Tây cũng đã có những phát hiện tương tự.
   Vì vậy khi Osho chủ trương con đường giải thoát là phải đối diện, nếm trải mọi năng lực bị ức chế để có thể siêu việt và chuyển hoá chúng, thật ra ông không thể không nói đến tình dục, nếu ông thật sự nhất quán với chính mình. Và thực ra mỗi kẻ tầm đạo, một khi đã đi vào con đường tích cực và chuyển hoá, cũng phải tìm cho mình một phương thức riêng để chuyển hoá năng lực của tình dục. Đó là một con đường chứa nhiều hiểm nguy. Nhưng muốn “chuyển hoá” thì đó là con đường không thể tránh né, cũng như hoa sen không thể toả hương thơm nếu không bám chặt vào bùn đất để rút tỉa tinh hoa của năng lực nằm trong bóng tối. Và đó chính là con đường Kim cương thừa mà từ thế kỷ thứ 8, con người đã thực hành để đạt đến sự thành tựu.
   Osho chỉ là người muốn thực hiện rộng rãi Kim cương thừa trong thế kỷ 20 tại phương Tây, nhưng có lẽ ông đã phạm một sai lầm. Đó là Kim cương thừa chỉ dành cho những bậc thượng căn, không phải cho quần chúng. Nếu Osho nghe những lời này, hẳn ông sẽ nói “tất cả là thượng căn” vì ông quan niệm ai cũng là Thượng đế cả, không có gì là không thiêng liêng.
Chúng ta sẽ không ngạc nhiên về câu trả lời của một người được mệnh danh là “nổi loạn” như ông, nhưng những gì ông hứng chịu trong cuối đời do chính đệ tử của ông gây ra cho thấy nhiều học trò của ông xem ra không hề “thiêng liêng” gì cả. Phần lớn môn đệ của ông tìm đến vì tò mò, không ít người phản bội ông, làm giàu trên lòng tin ngây thơ của người khác. Trong quá khứ người ta cũng chỉ biết vỏn vẹn có 84 vị Thành tựu giả trong số hàng triệu người tu học tại Ấn Độ thì tại sao ngày nay lại có thể khác. Hơn thế nữa, con người của thời đại này lại càng vô cùng khó khăn hơn nữa khi muốn chuyển hoá một năng lực gắn liền với thân vật chất để thăng hoa, tiến gần với cái thiêng liêng. Thời đại này là kỷ nguyên của chủ nghĩa duy vật, những người tưởng như muốn tìm đến cái thiêng liêng thực chất cũng là môn đệ của chủ nghĩa duy vật tâm linh (spiritual materialism) như Chogyam Trungpa đã nói. Thời nào cũng thế, con người chỉ thấy những gì họ muốn thấy, chỉ tìm những gì họ khao khát. Vì thế khi ông đã lỡ nổi danh là một “sex-guru”, ta có thể đoán biết thành phần và mục đích của những người hướng về ông. Quả thực sau khi ông mất, không có ai đủ sức trình bày một bài thuyết giảng cho xứng đáng là người đã từng theo học với ông.
   Ông mất đi trong sự tan rã của phong trào theo học giáo phái Osho. Thế nhưng, hơn 15 năm sau ngày ông mất, người ta vẫn tìm đọc Osho vì trong sách báo của ông để lại, quả thực có một điều gì có giá trị nội tại, quả thật đây là những lời nói của một con người phi thường. Nhưng mặt khác, người ta cũng thấy phương pháp thiền định của ông không phải dành cho tất cả mọi người. Nếu xét Kim cương thừa và những vị tu sĩ cao cấp đã tu luyện theo phép này, người ta nhớ lại một câu nói giản đơn của một người biết mức độ chọn lọc đối với người hành giả có thể theo học phép tu này. “Chỉ những ai đã xả bỏ tâm phân biệt, những ai mà đối với họ một đĩa thực phẩm sang trọng và một đĩa phân là như nhau, thì kẻ đó mới được theo học Kim cương thừa”. Đó là lời của Đạt-lai Lạt-ma thứ V (1617-1682). Các đệ tử của Osho không hề là những người như thế. Một số đến với ông vì tính cách nổi loạn như ông nhưng một cái khác thì họ không có, một số khác vì tò mò, vì thất bại, vì ưu phiền cá nhân. Dĩ nhiên, nếu thảng có ai trong số đó đã đạt giác ngộ như ông thì điều đó chúng ta không bao giờ biết.

(Lược trích lại bài của Cội nguồn)

HAI PHẠM TRÙ THÔNG MINH VÀ TRÍ HUỆ

đăng 09:17, 30 thg 8, 2017 bởi Điều Nguyễn Xuân   [ đã cập nhật 00:32, 17 thg 1, 2019 ]

                                                                                                 Đàm Thanh Giang

    

Thông minh là năng lực của con người, còn trí huệ là cảnh giới của tâm. Bề ngoài nhiều khi ta lẫn rằng là một. Kỳ thực đó là hai phạm trù khác nhau về nguồn gốc cũng như cách biểu hiện.

    Trên thế giới người thông minh không nhiều, mười người thì có một, nhưng người có trí huệ thì lại càng hiếm, có khi đi cả vạn người cũng không thấy một ai.

    Trong cuộc sống sinh hoạt thường ngày, người thông minh thường không dễ chịu thiệt, nhưng đối với người trí huệ điều đó lại là bình thường.

    Người thông minh luôn cố gắng bảo vệ lợi ích bản thân.nhưng người có trí huệ thì ngược lại, họ có thể chấp nhận bỏ lợi ich bản thân thực hiện công việc cần thiết.

    Người thông minh biết rằng bản thân mình có thể làm được những gì, nhưng người có trí huệ thì hiểu rõ bản thân không thể làm được những gì.

    Người thông minh thường tìm kiếm, nắm bắt cơ hội, cố gắng để đạt được nó; nhưng người có trí huệ thì hiểu rõ lúc nào cần buông tay. Vậy nên, người thông minh là người biết chớp thời cơ, người có trí huệ là người biết xả bỏ.

    Đôi khi người thông minh thái quá sẽ trở nên khôn ranh, họ có thể tìm cách thoái thác công việc, nhưng người trí huệ lại ít tính lợi ích cá nhân, việc gì cần thì họ sẽ nỗ lực làm.

   Người thông minh là có thể hiển thị tất cả tài năng của mình cho người khác biết, nhưng người trí huệ lại là người biết nhìn nhận vẻ đẹp của người khác.

    Người thông minh thường chú ý đến từng tiểu tiết; người trí huệ thường coi trọng cả chỉnh thể.

    Người thông minh trong tâm nhiều phiền não, khó được an giấc, vì người thông minh thường hay mẫn cảm với người khác, mà người trí huệ thường ít có phiền não, có thể buông bỏ được nhiều thứ, đối với họ tâm tình dễ thản nhiên.

    Người thông minh thường muốn thay đổi người khác, muốn người khác phải thuận theo ý của mình, nhưng người trí huệ lại thường thuận theo tự nhiên. Do đó các mối quan hệ của người thông minh thường phức tạp, còn người trí huệ thường có các mối quan hệ hài hòa hơn.

    Người thông minh đa phần là do trời sinh, nhưng người trí huệ là người luôn tự rèn luyện, tu dưỡng bản thân mình.

    Người thông minh có thể tích lũy nhiều tri thức nhưng người trí huệ thường lấy văn (cái đúng, cái tốt, cái đẹp) để hóa (dạy mình dạy người). 
Cho nên người càng có nhiều tri thức thì càng thông minh, nhưng người càng có nhiều văn hóa càng thể hiện là người có trí huệ.

    Người thông minh thường dựa vào tai, mắt, hay gọi là “tai thính mắt tinh”, nhưng người trí huệ thường dựa vào Tâm , trí huệ xuất phát từ Tâm.

    Các khoa học gia thường dạy con người phải biết thông minh, còn Tôn giáo dạy người ta trí huệ.

    Người thông minh có thể có nhiều của cải và quyền lực, người trí huệ lại giàu niềm vui. Vì người thông minh thường có nhiều kỹ năng hơn, có thể chuyển hóa thành tài phú và quyền lực. Nhưng của cải, quyền lực cùng sự vui vẻ không đồng nhất, vui vẻ đến từ chính Tâm thái của chúng ta.

   Do đó, để cầu tài sản nếu có thông minh dễ có thể được; còn để cầu thoát khỏi phiền não, nếu không có trí huệ thì khó thể được.

                                                                                        (29.VIII.2017)

1-10 of 42

Comments