Tin tức báo chí

Tin tức cập nhật từ các báo chí trong và ngoài nước

Hiển thị bài đăng 1 - 15trong tổng số 78. Xem nội dung khác »



Bài đã đăng


CẢM NGHĨ KHI ĐỌC BÀI: “PHỤ NỮ À! ĐỌC ĐI ĐỂ BIÊT BẢN CHẤT THẬT CỦA ĐÀN ÔNG RỒI TỰ YÊU LẤY MÌNH” (Hương Cherry Báo điện tử lanhmanh.com, 21/11/2016,16:20)

đăng 00:33, 17 thg 1, 2017 bởi Hoàng Lê Vũ   [ đã cập nhật 00:40, 17 thg 1, 2017 ]



Tuyết Sơn


Ở đời, mỗi người đều có một chỗ của riêng mình, mỗi chỗ đều thích hợp với một người. Ra khỏi chỗ của mình, chẳng có gì là tốt. Đứng đúng chỗ của mình chẳng có gì là xấu.
Trên thế gian này chỉ có hai hạng người: hạng hiểu biết và hạng không hiểu biết.
Bất cứ người giàu nào cũng nuôi được xác thân, nhưng chỉ có người hiểu biết mới nuôi dưỡng được tinh thần.

Trong cuộc đời này không phải người đàn ông nào cũng xấu như những người đàn ông mà bạn đã gặp. Tốt hay xấu có chăng là do luật Nhân Quả được ứng nghiệm mà thôi!

Đứng trước những éo le mà bạn đã gặp phải, do chính người đàn ông (chưa chắc đã là xấu) của bạn gây ra, bạn cần có lòng Can Đảm, nhờ đó bạn có thể đương đầu không nao núng với những thử thách và gian nan trên con đường của mình, đó cũng có nghĩa là sự Bền chí Vững lòng. Đừng bao giờ cho phép bạn buồn bực hay nhụt chí. Nhụt chí là điều sai lầm, vì nó truyền nhiễm cho người đàn ông của bạn và làm cho đời sống của họ khó khăn và vấp ngã thêm, đó là điều bạn nên tránh và không nên làm.


Là phụ nữ, với trái tim yêu thương và đức tính dịu hiền của người Mẹ sẽ là sức mạnh chinh phục người đàn ông! Phụ nữ chớ nên có trái tim sắt đá vì “Một trái tim sắt đá còn nguy hiểm hơn cả một bàn tay đẫm máu”!


Bạn cần tránh xa tính kiêu căng, vì tính kiêu căng xuất phát từ sự dốt nát mà ra. Phải dẹp mọi ý tưởng về quyền sở hữu. Luật Nhân Quả có thể làm cho bạn mất những vật mà bạn quí chuộng thậm chí ngay trong những người mà bạn thương yêu nhất. Chúng là kết quả của những hành động trong quá khứ, và khi nó đến bạn hãy vui vẻ đón nhận, phải sẵn sàng chia lìa với tất cả mọi vật gì mà bạn đã từng yêu quý.

Chúng ta có thể làm cho cái tốt hoặc cái xấu mạnh hơn bằng cách nghĩ đến nó. Nếu nghĩ xấu về người đàn ông của bạn, thì bạn đang làm sai ba việc một lúc:

1- Bạn đang gieo rắc quanh mình những tư tưởng xấu xa thay vì những tư tưởng tốt lành, và do đó bạn đang làm cho đời bạn khổ não nhiều thêm.

2- Nếu đúng người đàn ông đó có điều xấu xa làm cho bạn luôn nghĩ tới, thì bạn đang làm cho nó mạnh lên và tính xấu đó ngày càng được nuôi dưỡng; và như vậy thì bạn đang làm cho người đàn ông của bạn trở nên xấu xa hơn thay vì làm cho tốt lành hơn. Nhưng thường thì người đàn ông không có điều xấu xa đó, mà chỉ tại bạn luôn tưởng như vậy thôi, thế rồi tư tưởng độc ác của bạn đã có tác động xúi giục làm cho người đàn ông ấy làm việc xấu. Cho nên nếu người đàn ông của bạn chưa tốt lành, bạn có thể làm cho họ tốt lành bằng chính tư tưởng trong sáng của bạn.

3- Bạn làm cho tâm trí của mình tràn đầy những tư tưởng xấu về tất cả đàn ông thay vì những tư tưởng tốt, và như thế bạn tự cản trở sự trưởng thành của chính mình, tự làm cho mình có hình ảnh xấu xí, đau thương thay vì những hình ảnh tốt đẹp và yêu thương. Để có được tư tưởng tốt lành, bạn cần kịp thời sửa chữa chính mình, bạn không thể thay thế ai làm được điều này cho bạn!

Minh triết khiến bạn giúp đỡ được người khác, ý chí dẫn đường cho Minh triết và lòng Yêu thương gợi lên ý chí. Ý chí, Minh triết và lòng Yêu thương là ba món quà của Tạo hóa ban tặng cho loài người. Nếu bạn muốn chứng minh bạn thực sự là con người, là Phụ Nữ, bạn phải biểu lộ ba phẩm chất đó trong đời!

Đừng trách Đàn Ông. Đàn ông không phải ai cũng “xấu xa” như bạn đã nghĩ và đã gặp trong sự lựa chọn “tối ưu” của bạn ở cuộc đời này! Có thể là sự lựa chọn “nhầm lẫn thơ ngây” đầu tiên!

Chúng ta đều biết: Mọi phát minh sáng tạo vĩ đại trong nhiều lĩnh vực trên thế giới qua nhiều thời đại chủ yếu là do “Đàn Ông”! Tình yêu là cả cuộc đời của người Phụ nữ, nhưng chỉ là một phần của người Đàn ông, vì Đàn ông chúng ta còn rất nhiều việc phải gánh vác, còn cả một sự nghiệp đang phải cố gắng phấn đấu hoàn thành trong một đời người!

Nhà bác học nguyên tử PIE QUYRI đã từng viết: “Người Mẹ cố giữ lấy tình yêu của Con, chính vì thế làm cho Con trở nên ngu dại. Người Phụ nữ khi yêu thì luôn muốn độc chiếm người mình yêu và sắn sàng hy sinh một nhân vật giỏi nhất trần gian để đổi lấy một giờ ái ân… Trong cuộc sống chúng ta luôn luôn phải đấu tranh với họ, nhưng họ có ưu thế hơn bời vì họ viện cớ luật tự nhiên để lôi kéo chúng ta trở về với họ”.

Qua những điều chia sẻ của bạn, với những kinh nghiệm thực tế và những bài học xác đáng đã cho mọi người thấy để làm tròn bổn phận của người Đàn ông thì quả là một thử thách lớn! Nếu Đàn ông có “Hư” một tí thì Phụ nữ nhẹ nhàng chỉ bảo, chớ có dại mà “trì triết, nghiệt ngã” thì Đàn ông sẽ hiểu và chịu lắng nghe . Bạn nên tin rằng, với khả năng chinh phục và hiểu biết sâu sắc của mình thì người Đàn ông của bạn sẽ tiến bộ, dù có “Hư” một tí nhưng không đến nỗi “Hỏng” như bạn nghĩ. Nên tháo bỏ những xiềng xích mà bấy lâu nay bạn đã đang áp dụng với người Đàn ông của mình, đó là điều kiện tuyệt vời giúp choTình yêu của bạn được chắp cánh!



“Trái tim nhìn được những điều mà con mắt không thể nhìn thấy”.


Hà nội, 9.I.2017



https://lanhmanh.com/tam-su/phu-nu-doc-di-de-biet-ban-chat-cua-dan-ong-roi-tu-yeu-lay-minh-70667.html

"THỜ LONG HOA DI LẶC" - TÀ ĐẠO BỊ XÓA SỔ Ở VIỆT NAM

đăng 19:57, 28 thg 12, 2016 bởi Hoàng Lê Vũ   [ đã cập nhật 19:24, 31 thg 1, 2017 ]




Cách đây gần 20 năm, ở miền Bắc Việt Nam xuất hiện một tín ngưỡng thờ cúng gọi là "Thờ Long hoa Di lặc". Giáo chủ của tín ngưỡng này là một phụ nữ, sinh năm 1937, người tỉnh Tuyên Quang.

Về hình thức, giáo phái "Thờ Long hoa di lặc" có những điểm rất xảo quyệt: trên bàn thờ bày ảnh lãnh tụ Hồ Chí Minh, bên cạnh là cờ Tổ quốc (Cờ đỏ sao vàng). Giữa là các bát hương và đồ cúng lễ.

Giáo phái "Thờ long hoa di lặc" không có giáo lý tôn chỉ cụ thể, không có kinh kệ. Mục đich dựng bàn thờ là để lễ bái, nhất là lúc trong gia đình có người bị ốm bệnh, họ không cho đi bệnh viện hoặc mời thấy thuốc, mà chỉ cần lấy một chai nước để lên bàn thờ, thắp hương cúng bái, sau đó cho người bệnh uống nước cúng là xong. Có nhiều gia đình vì đi theo con đường tà đạo này mà đã bị chết người.

Qua một thời gian, những hoạt động này đã bị tố cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng. Đứng trước tình hình đó chính quyền đã vào cuộc. Nhưng khi chính quyền đến những gia đình theo giáo phái này để xử lý, nhìn lên bàn thờ thấy ảnh "lãnh tụ Hồ Chí Minh" và "Cờ đỏ sao vàng"", đã ái ngại và lúng túng trong cách giải quyết vụ việc!

Nhưng rất may, nhờ sự sáng suốt của Chính quyền Nhân dân đồng thời với sự kiên quyết và nỗ lực hành động của lực lượng An ninh, cùng với sự lên án mạnh mẽ của đồng bào, nên chỉ trong một thời gian ngắn, tà đạo "Thờ long hoa di lặc" đã bị đập tan, không có thời cơ ngóc đầu dậy!

Qua sự kiện trên đây, đồng bào chúng ta cần nhìn rõ bản chất của "Thờ long hoa di lặc" là một trò mê tín dị đoan, "mượn đạo để tạo đời". Cái nham hiểm nhất của giáo phái này là đã lấy ảnh của lãnh tụ và cờ Tổ quốc làm bình phong, che đậy cho những việc làm đen tối, nhằm mê hoặc và huỷ hoại cuộc sống bình yên của cộng đồng, làm ảnh hưởng tới an ninh chính trị của đất nước!

Hòa thượng Thích Thanh Từ
(Ngài họ Trần), là hậu duệ của Phật hoàng Trần Nhân Tông đã viết:

"Mê tín là lối tin mù quáng khiến con người mất hết trí thông minh. Những kẻ chủ trương mê tín là người làm hoặc loạn thế gian, đưa Dân tộc lùi lại bán khai. Môt tôn giáo chân chính, một dân tộc văn minh, không cho phép mê tín len lỏi trong tín đồ mình, trong Dân tộc mình. Thế mà, đồng bào chúng ta, trong Phật gáo chúng ta, tệ đoan mê tín vấn còn nhiều".

Ngài còn nói về đồng cốt: " Đồng cốt là hiện tượng mê hoạc khủng khiếp. Những kẻ làm ông đồng, bà cốt đều là người sống trong trạng thái bất thường. Bản thân họ đã mất hết khả năng tự chủ, họ bị sai sử bởi một ma lực nào đó. Khi ma lực ấy dựa vào họ, liền lạm dụng các danh hiệu thánh, nhưng bậc vĩ nhân của thuở xưa dùng mạo xưng để lừa bịp người đời. Những kẻ yếu vía dễ tin nghe xưng danh hiệu Phật, Bồ tát hay những vị tiên thánh liền khiếp đảm kính tin. Họ không dám phê phán đó là Tà hay Chánh. Thế rồi, họ một mực quỳ mọp để được phong chức hay nhận phép lành. Họ bị gạt bằng những danh hão trong cõi vô hình, hoặc bằng những bùa tà phép lạ, những huyễn hoặc về quá khứ vị lai. Từ đây họ sống bằng ảo vọng mơ huyền, mất hêt lý trí thực tại. Chúng ta phải khám phá dẹp tan những lối mê hoặc ấy". (THÍCH THANH TỪ . Mê tín chánh tín. NXB Tôn giáo 2004).

Ngày nay, trong cộng đồng chúng ta cũng đang có hiện tượng nhen nhóm một số những hình thức lễ bái mang màu sắc "Mượn đạo để tạo đời, buôn thần bán thánh". Ở trong những "ngóc ngách" đầy sự rối rắm này, chúng ta luôn phải tỉnh táo để tránh không bị lạc vào những ngõ cụt tối tăm của sự mê muội!

"Cái xảo quyệt nhất của Con Quỷ là làm cho mọi người tin rằng không có nó"!

Kẻ nào vì lợi ích cá nhân mà cố tình làm những việc tổn hại tới lợi ích của Tố quốc, của Dân tộc thì đều phải gánh luật "Nhân Quả"!

Hà nội, 19.12.2016 Tuyết Sơn

Nhà nghiên cứu khoa học tiên phong và dũng cảm

đăng 21:50, 31 thg 8, 2016 bởi Hoàng Lê Vũ   [ đã cập nhật 05:24, 9 thg 12, 2016 ]



NGUYỄN PHÚC GIÁC HẢI
Nhà nghiên cứu khoa học tiên phong và dũng cảm



MẤT VIỆC VÌ HAM THÍCH NGHIÊN CỨU NGOẠI CẢM.


Nguyễn Phúc Giác Hải hiện nay là một trong những người tiên phong trong lĩnh vực tìm hiểu điều kỳ lạ của con người. Vì đam mê nghiên cứu nên ông sẵn sàng chấp nhận tất cả để theo đuổi đề tài tâm huyết của mình. Ông Hải sinh năm Giáp Tuất, 1934 vào giờ Chính Ngọ, chính tay nhà tử vi nổi tiếng thời đó là Phạm Ứng Long (Nhì Lùng) lập lá số cho cậu bé, theo đó cậu bé này lắm tài, nhưng phạm tuần triệt cả hai cung Quan Lộc và Điền Trạch, một chút may mắn là “tuần triệt đắc địa”.

Hồi nhỏ đi học say mê môn vật lý và có ý định theo học ngành này. Đang là học sinh đã biết sáng tác truyện thám hiểm Tây Nguyên, tưởng tượng ra cuộc chiến tranh sinh tử giữa Voi và Sư tử. Truyện sau đó được in, được một người lớn đọc xong khen, nhưng cũng chê… vì Tây Nguyên làm gì có sư tử. Ông Hải nhớ lại, lúc ấy rất xấu hổ, nên quyết tâm lao vào học thêm môn sinh vật.

Ông Hải kể rằng: “Từ ngày tốt nghiệp Đại học Sư phạm về dạy ở trường Bổ túc Công Nông tôi đã ham mê nghiên cứu về những khả năng kỳ diệu của con người, như khả năng ngoại cảm, khả năng chữa bệnh từ xa… Khi được về làm việc ở Uỷ ban Khoa học Nhà nước tôi như cá gặp nước, ngoài công việc ở viện tôi còn lao vào nghiên cứu các hiện tượng lạ như chữa bệnh không dùng thuốc của cụ Nguyễn Đức Cần… Nào ngờ, có người không tin những gì tôi nghiên cứu là có thật, họ còn cho tôi là lợi dụng khoa học để tuyên truyền mê tín dị đoan và quyết định cho tôi ra khỏi biên chế nhà nước”.

Khoảng năm 1974, ông Hải chú ý đặc biệt về khả năng chữa bệnh kỳ lạ của cụ Trưởng Cần, vì hồi ấy chưa thể công khai nên ông âm thầm tiến hành nghiên cứu tìm hiểu. Một lần ông giới thiệu cho một quan chức đến cụ Trưởng Cần chữa bệnh và có hiệu quả. Đùng một cái ngày 19-5 tại họa đến, báo chí Hà Nội cho rằng cụ Trưởng Cần hành nghề “mê tín dị đoan”, phê phán việc làm của “một lão phù thuỷ và nhà khoa học”. Sau đó cơ quan xét kỷ luật ông Hải, nếu như ông nhận khuyết điểm thì chỉ bị xử lý nhẹ, tuy nhiên ông không đồng ý ký biên bản vi phạm pháp luật, nên giữa năm 1976 người ta buộc ông thôi việc.


MẤT VỢ VÌ MẤT VIỆC

Đúng là họa vô đơn chí!
Cú sốc không chỉ mình ông gánh chịu, vợ ông và hai con ông cũng vô cùng hoang mang… Thời bao cấp, bản lý lịch và biên chế nhà nước như hai lá bùa hộ mệnh. Ông nói: Có người gợi ý với tôi rằng muốn giữ được lý lịch trong sạch cho vợ con thì chỉ có con đường tốt nhất là … ra toà ly dị! Và vợ chồng tôi đã nghe theo như vậy!?”.

Nào ngờ cuộc ly hôn giả hoá thật! Năm 1977, bà vợ ông không chịu đựng nổi cuộc sống vất vả, nên đã mang theo một đứa con rời Hà Nội đi tìm đường sống.

Khi còn là một nhà nghiên cứu, nguồn thu nhập chính của ông là viết báo về lĩnh vực ông say mê am hiểu là những tiềm năng con người, được độc giả đón nhận, nhưng từ khi nhận “án”, không tờ báo nào dám đăng bài của ông. Không kiếm tiền bằng ngòi bút được ông phải tự xoay xở ngày luyện thi đại học, đêm tay kìm tay búa làm đồ chơi trẻ con bán lấy tiền mua gạo và đóng góp nuôi con. Ông làm thơ về cái thời đen tối của mình:

Cũng kìm cũng búa cũng như ai
Khoa học đem ra chế đồ chơi
Con trẻ phen này đà thích thú
Giáo dục mầm non hẳn kịp thời.

Nhà nước phong người chức Giáo sư
Còn ta há chịu kém người ư?
Luyện thi mấy trẻ ta là giáo
Không vợ mười năm hẳn là Sư…


SỐNG LÀ PHẢI CÓ NIỀM TIN

Ông Hải nói trong hoạ có phúc, vì bây giờ ông được tự do nghiên cứu những gì trực giác mách bảo. Ngày ngày ông miệt mài đến thư viện đọc sách. Sau ngày giải phóng ông có dịp vào TP Hồ Chí Minh lục tìm trong các thư viện. Một số sách của ông viết trước đây được cho tái bản, có tiền, ông dành dụm tất cả để mua sách, đặc biệt mua được hai bộ Kinh Dịch của Ngô Tất Tố và của Phan Bội Châu. Từ đó ông bước vào nghiên cứu Kinh Dịch và ngộ ra rất nhiều điều.

Năm 1990 đơn khiếu nại của ông Hải đã đến được tay Phó Thủ tướng và ông được phục hồi công việc nghiên cứu khoa học. Nguyễn Phúc Giác Hải vui vẻ kể lại: Tôi vô cùng cảm động vì cuối cùng công việc nghiên cứu về tiềm năng con người của tôi đã không vô ích và có nhiều người hiểu. Điều ấy là quan trọng nhất! Tôi vô cùng sung sướng được tham gia cùng các đồng nghiệp và không đặt ra bất kỳ điều kiện gì về án kỷ luật 15 năm của tôi!

Ông tự kết luận chân lý cuộc đời: "Người ta sống trên đời là phải có niềm tin, cho dù ngày hôm nay có đen tối như thế nào đi chăng nữa, làm khoa học thì càng phải có bản lĩnh"!


CHUYỆN LẠ VIỆT NAM

Hiện nay ông giữ cương vị chủ nhiệm bộ môn Dự báo tại Trung tâm Nghiên cứu Tiềm năng Con người ( nay là Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu và Ứng dụng tiềm năng con người-BT) thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học Kỹ thuật Việt Nam. Ông dành thời gian nghiên cứu về Nguyễn Bỉnh Khiêm, nhà lý học nổi tiếng thế kỷ XV-XVI của nước ta, giải mã một số điều thú vị về Sấm Trạng Trình.

Giải thích vì sao ông quan tâm đặc biệt đến vấn đề dự báo và tiên tri, ông cho biết: “Đây là một vấn đề bí ẩn lớn nhất của khoa học. Vì sao một nhà ngoại cảm, không dựa vào những quan trắc nào lại có thể biết trước mọi điều sẽ xảy ra trong tương lai. Phải chăng trong vũ trụ đã có chứa một trường thông tin về vấn đề đó? Hiểu biết về vấn đề đó cũng chính là hiểu biết về mối quan hệ giữa con người và vũ trụ”.

Ông Nguyễn Phúc Giác Hải đang là cố vấn cho chương trình “Những chuyện lạ VN” trên VTV3, từ đó người ta thường gắn luôn thành tên của ông, đúng cả nghĩa đen và nghĩa bóng


ĐI TÌM TÊN NƯỚC VIỆT NAM

Ông Nguyễn Phúc Giác Hải nói:
“Đã từ lâu trong sách giáo khoa của ta không hề nhắc gì đến sự ra đời của quốc hiệu Việt Nam. Tên Việt Nam có từ bao giờ. Trong khi đó “Đại bách khoa toàn thư Anh” (Encyclopaedia Britannica, 1992 đã viết như sau: “Năm 1802, một triều đại mới đã hình thành ở Việt Nam (Đại Việt), do Nguyễn Phúc Ánh, một thành viên của hoàng tộc nhà Nguyễn ở Huế. Ông đã xoá bỏ được nhà Tây Sơn và thống nhất được đất nước. Nhà Thanh lúc bấy giờ là thời của Gia Khánh Hoàng đế, đã nhìn nhận vấn đề này như một việc đã rồi, nhưng một cuộc tranh cãi đã nảy ra về tên gọi của đất nước mới này. Nguyễn Phúc Ánh đề nghị gọi tên là Nam Việt, nhưng nhà Thanh đã đảo ngược hai chữ và đề nghị là Việt Nam. Cuối cùng hai bên đã nhất trí và Nguyễn Phúc Ánh trở thành vua của Việt Nam”. Một số sử liệu khác cũng nói vậy.

Một lần, khi nghiên cứu các tư liệu về nhà tiên tri Nguyễn Bỉnh Khiêm, tôi thấy hai chữ Việt Nam đã có trong tư liệu này. Điều đó làm tôi băn khoăn: Liệu Đại bách khoa toàn thư Anh và các sử liệu khác ghi như vậy có đúng không? Đó chính là lý do để tôi từ năm 1991 là một người “ngoại đạo” “nhảy sang” nghiên cứu lịch sử”.

Với đức tính trung thực và chính xác của người nghiên cứu khoa học, Nguyễn Phúc Giác Hải đã lặn lội khắp trong Nam Ngoài Bắc để tìm những cứ liệu lịch sử. Điều ông rất tâm đắc là tới nay ông đã tìm thấy trên những bia đá có khắc hai chữ Việt Nam trước năm 1802. Đó là những tấm bia ở Chùa Bảo Lâm (1559); Chùa Phúc Thánh (1604); Thuỷ Môn Đình (1670)… Những cứ liệu này vô cùng quan trọng để tìm ra nguồn gốc tên gọi Việt Nam có từ bao giờ và ai đặt tên? Đây là cả một vấn đề lớn của lịch sử.

Ông cho biết dự định có đủ tiền sẽ bay sang thư viện Hoàng gia Anh, theo ông, ở đó còn lưu giữ được tấm bản đồ của một người Hoa trong đó có rất nhiều tư liệu quý để tiếp tục hành trình tìm danh xưng, quốc hiệu của dân tộc Việt.

Nhìn vào đôi mắt ông, dù đã hơn 70 tuổi, trải bao thăng trầm mất mát trong cuộc đời mà vẫn thấy niềm tin và khoa học!

(Nguồn: Viện Nghiên cứu và Ứng dụng tiềm năng con người)


TIN BUỒN

Viện Nghiên cứu và Ứng dụng tiềm năng con người
và gia đình vô cùng thương tiếc báo tin

Nhà nghiên cứu Nguyễn Phúc Giác Hải, Sinh ngày 28-11-1934, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu và Ứng dụng tiềm năng con người, mắc bệnh hiểm nghèo, mặc dù được gia đình và các bác sĩ chăm sóc tận tình, song do tuổi cao sức yếu đã tạ thế vào hồi 14 giờ 27 phút ngày 27-8-2016 (tức ngày 25 tháng 7 năm Bính Thân) tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Xô, hưởng thọ 83 tuổi.

NHÀ SỬ HỌC NGÔ SĨ LIÊN

đăng 21:43, 31 thg 8, 2016 bởi Hoàng Lê Vũ   [ đã cập nhật 19:51, 5 thg 12, 2016 ]




Ngô Sĩ Liên người làng Chúc Lý, huyện Chương Đức (nay thuộc huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây). Là sử thần đời Lê, ông đã góp phần công sức chủ yếu trong việc soạn thảo
Đại Việt sử ký toàn thư - bộ quốc sử đầu tiên của Việt Nam được khắc in vào cuối thế kỷ 17 và còn lại nguyên vẹn cho tới ngày nay.

Theo các tài liệu mới được công bố gần đây, Ngô Sĩ Liên tham gia khởi nghĩa Lam Sơn khá sớm, cùng với Nguyễn Nhữ Soạn (em cùng cha khác mẹ với Nguyễn Trãi) giữ chức vụ thư ký trong nghĩa quân, nhiều lần được Lê Lợi cử đi giao thiệp với quân Minh trong những thời kỳ đôi bên tạm hòa hoãn để củng cố lực lượng.

Rất đáng tiếc, về năm sinh và năm mất của ông, hiện nay vẫn chưa được biết thật đích xác, nhưng theo Đại Việt lịch triều đăng khoa lục thì ông thọ tới 98 tuổi, đỗ tiến sĩ khoa Nhâm Tuất, niên hiệu Đại Bảo thứ 3 đời Lê Thái Tông (1434 - 1442). Đây là khoa thi đầu tiên được triều đình tổ chức lễ xướng danh, yết bảng; các vị tiến sĩ tân khoa được vua ban mũ áo, vào cung dự yến, được ban ngựa quý để đi dạo chơi thăm phố xá kinh kỳ, được "ân tứ vinh quy" với lễ đón rước rất trọng thể. Và sau này, theo lệnh vua Lê Thánh Tông, họ tên lại được khắc vào bia đá, đặt ở Văn Miếu, để "làm gương sáng cho muôn đời".

Sau khi thi đỗ, Ngô Sĩ Liên đã từng giữ các chức Đô ngự sử dưới triều Lê Nhân Tông, Lễ bộ Hữu thị lang, Triều liệt đại phu kiêm Quốc Tử Giám Tư nghiệp, kiêm Sử quan tu soạn dưới triều Lê Thánh Tông. Đóng góp to lớn mà Ngô Sĩ Liên còn để lại cho đời sau chính là bộ Đại Việt sử ký toàn thư mà ông đã biên soạn theo lệnh nhà vua và đã hoàn thành vào năm Kỷ Hợi, niên hiệu Hồng Đức thứ 10 đời Lê Thánh Tông, gồm 15 quyển, chia thành hai phần:

Phần một (ngoại kỷ), gồm 5 quyển, chép từ thời Hồng Bàng đến hết thời Bắc thuộc (năm 938). Phần hai (bản kỷ) gồm 10 quyển, chép từ thời Ngô Quyền dựng nước (năm 938) đến khi vua Lê Thái Tổ lên ngôi (năm 1428).
Bài tựa "Đại Việt sử ký ngoại kỷ toàn thư" cũng do Ngô Sĩ Liên viết, có đoạn nêu rõ: "Trộm nghĩ: may gặp buổi thịnh trị, tự thẹn không chút báo đền, nên không tự nghĩ sức học kém cỏi, lấy hai bộ sách của các bậc tiên hiền làm trước đây, sửa sang lại, thêm vào một quyển Ngoại kỷ, gồm một số quyển, gọi là Đại Việt sử ký toàn thư. Trong bộ sách này, về sự việc, có việc nào trước kia quên sót thì bổ sung vào; về thể lệ có lệ nào chưa thật đúng thì chỉnh lý lại; về văn có chỗ nào chưa ổn thì đổi thay đi; thảng hoặc có việc nào hay việc nào dở có thể làm gương khuyên răn được thì góp thêm ý kiến quê kệch ở dưới... Tuy những lời khen chê ấy chưa có thể làm công luận cho muôn đời về sau nhưng may ra cũng có thể giúp ích phần nào cho việc tra cứu tìm hiểu...". Qua những đoạn trích trên đây cũng có thể thấy được đôi nét tổng quát về quan niệm, bút pháp sử học... của Ngô Sĩ Liên.

Bộ "Đại Việt sử ký toàn thư" hiện đang lưu hành, tuy do Ngô Sĩ Liên khởi thảo (hoàn thành vào năm 1479), nhưng đã được các sử thần các đời khác như: Vũ Quỳnh, Lê Tung, Phạm Công Trứ, Lê Hy... hiệu chỉnh bổ sung thêm. Phần đóng góp chủ yếu của tiến sĩ họ Ngô vào bộ quốc sử lớn này là: đặt tên cho bộ sách là Đại Việt sử ký toàn thư, được triều đình và các đời sau chính thức công nhận. Cuốn Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên đã dựa vào Đại Việt sử ký của Lê Văn Hưu và Đại Việt sử ký tục biên của Phan Phu Tiên. Ông viết thêm 1 quyển thuộc Ngoại kỷ, trình bày lại tiến trình lịch sử của Việt Nam từ họ Hồng Bàng cho tới khi quân xâm lược Minh bị đánh đuổi về nước; viết Tam triều bản kỷ, sau này được đưa vào phần Bản kỷ toàn thư và Bản kỷ thực lục; viết bài tựa Đại Việt sử ký ngoại kỷ toàn thư, biểu dâng sách Đại Việt sử ký toàn thư, phần Phàm lệ Đại Việt sử ký toàn thư; viết những lời bình luận (hiện còn thấy 166 đoạn) có ghi rõ "sử thần Ngô Sĩ Liên viết"... Khác với phần lớn các lời bình của Lê Văn Hưu hoặc Phan Phu Tiên, những đoạn bình luận lịch sử của Ngô Sĩ Liên thường dài hơn, do đó cũng thường cặn kẽ hơn, sinh động hơn; nhiều đoạn có thể coi như lời tổng kết cả một giai đoạn lịch sử. Những dòng ca tụng các bậc trung thần nghĩa sĩ vì nước quên thân; những lời chỉ trích các hành động tham bạo của kẻ gian tà, những lời tố cáo vạch trần những âm mưu quỷ kế của kẻ thù được viết với ngọn bút tài hoa của Ngô Sĩ Liên vốn là người học sâu biết rộng, có ý thức vươn tới sự hoàn thiện như Sử Mã (Sử ký của Tư Mã Thiên), Lâm kinh (Kinh Xuân Thu do Khổng Tử san định), thực sự đã làm cho biết bao thế hệ người đọc đời sau cảm phục sâu sắc.

Bộ Đại Việt sử ký toàn thư là một cống hiến to lớn của Ngô Sĩ Liên vào kho tàng văn hóa dân tộc.



(Nguồn http://thptngosilienbg.edu.vn)




Thiên nhiên làm dịu não và chữa trị cho cơ thể của bạn

đăng 01:58, 25 thg 7, 2016 bởi Hoàng Lê Vũ   [ đã cập nhật 02:16, 28 thg 7, 2016 ]

Thiền giữa thiên nhiên tươi đẹp như thế này, đem lại cho cơ thể những cảm giác trải nghiệm đặc biệt!


Tác giả: David Suzuki | Dịch giả: TCM

23 Tháng Năm , 2016


Nói chung não của chúng ta không tiến hóa ở các thành phố. Nhưng chỉ trong một vài thập kỷ sắp tới, gần 70 phần trăm dân số thế giới sẽ sống trong môi trường đô thị. Mặc dù chúng ta thường liên hệ thành phố với sự thịnh vượng, nhưng đô thị hóa là một thách thức lớn đối với sức khỏe. Các thành phố, cùng với đời sống nhộn nhịp hối hả, có thể gây căng thẳng. Và các hệ quả đang được nhận thấy trong bộ não và hành vi của những người lớn lên hoặc đang sống ở thành phố.

Xét về mặt tích cực, cư dân thành phố nói chung đang giàu có hơn và nhận được chăm sóc sức khỏe, dinh dưỡng và vệ sinh tốt hơn so với người dân nông thôn. Nhưng ở khía cạnh tiêu cực, họ đang tăng nguy cơ mắc các bệnh mãn tính, trong một môi trường xã hội nhiều đòi hỏi hơn và áp lực hơn, và sự bất bình đẳng cũng sâu sắc hơn. Trong thực tế, người dân thành phố có nguy cơ cao hơn 21% đối với các rối loạn lo âu và gia tăng 39% khả năng gặp các rối loạn cảm xúc.


Một nghiên cứu được công bố trên tạp chí Nature đã cho thấy mối liên hệ giữa cuộc sống thành phố với việc dễ bị stress trong các mối quan hệ xã hội. Hình chụp MRI cho thấy việc tiếp xúc nhiều hơn với môi trường đô thị có thể làm tăng mức hoạt động ở hạch hạnh nhân, một cấu trúc não liên quan đến cảm xúc như sợ hãi và tiết ra các hormone liên quan đến stress. Theo nghiên cứu, hạch hạnh nhân “có liên quan mạnh mẽ đến các chứng bệnh rối loạn lo âu, trầm cảm, và các hành vi khác như bạo lực đang gia tăng ở các thành phố”.


Các nhà nghiên cứu cũng phát hiện rằng những người sống ở các thành phố trong 15 năm đầu đời của họ có sự gia tăng hoạt động ở một khu vực của não giúp kiểm soát hạch hạnh nhân. Vì vậy, nếu bạn lớn lên ở thành phố, bạn có nhiều khả năng trường kỳ tạo ra sự nhạy cảm với stress hơn những người chuyển đến ở đó khi đã trưởng thành.


Tác giả, giáo sư David Gessner nói chúng ta đang biến thành loài động vật có chủ yếu là cơ vân co rút nhanh. Nó giống như chúng ta có một đồng hồ báo thức cứ rung chuông trong não của mình mỗi 30 giây, bào mòn khả năng tập trung dài hơn của chúng ta. Cuộc sống đô thị yêu cầu chúng ta phải thường xuyên lọc thông tin, tránh xao lãnh, và đưa ra quyết định. Chúng ta dành quá ít thời gian để não hồi phục.

Làm thế nào để chúng ta làm cho mọi thứ chậm lại? Thiên nhiên dường như là câu trả lời. Giả thuyết của nhà nhận thức tâm lý học David Strayer là “hòa mình vào thiên nhiên cho phép phần vỏ não trước trán, trung tâm chỉ huy của não, giống như một cơ (bắp) bị sử dụng quá mức, được giảm tải và nghỉ ngơi”.


 Thành phố Crescent, California, Mỹ (Ảnh: Steve Carter/Unsplash.com)

Nghiên cứu cho thấy thậm chí chỉ những tương tác nhỏ với thiên nhiên cũng có thể làm dịu não của chúng ta. Gregory Bratman của Đại học Stanford đã làm một thí nghiệm trong đó người tham gia được chia làm 2 nhóm đi bộ trong 50 phút, một nhóm đi bộ trong môi trường thiên nhiên và một nhóm đi bộ trong môi trường đô thị. Những người đi bộ trong thiên nhiên đã thực sự giảm lo lắng, suy tư, và cảm xúc tiêu cực và tăng trí nhớ.

Đội nghiên cứu của Bratman nhận thấy rằng đi bộ trong môi trường tự nhiên có thể làm giảm sự ngẫm nghĩ, một thói quen không lành mạnh nhưng rất thông dụng, cứ suy nghĩ tới nghĩ lui về nguyên nhân và kết quả của những trải nghiệm tiêu cực. Nghiên cứu của họ cũng cho thấy hoạt động thần kinh trong một khu vực của bộ não liên quan đến nguy cơ mắc bệnh tâm thần đã được giảm xuống đối với những người tham gia đi bộ trong thiên nhiên, không như những người đi bộ trong môi trường đô thị.

Ảnh: Samuel Zeller/Unsplash.com

Các nhà nghiên cứu Hàn Quốc nghiên cứu sự khác biệt trong hoạt động của não khi tình nguyện viên chỉ nhìn vào khung cảnh thành thị so với khung cảnh thiên nhiên. Đối với những người xem khung cảnh đô thị, hình ảnh MRI cho thấy lưu lượng máu đến vùng hạch hạnh nhân đã tăng lên. Ngược lại, đối với những người xem những cảnh thiên nhiên thì khu vực của não liên quan với sự đồng cảm và vị tha lại đột nhiên sinh động lên.

Tại Nhật Bản, các nhà khoa học nhận thấy những người dành nhiều thời gian trong tự nhiên – gọi là “shinrin-yokuor” nghĩa là “tắm rừng” – họ hít vào cơ thể “những vi khuẩn có lợi, các loại tinh dầu có nguồn gốc thực vật, và các ion âm-tính” tương tác với vi khuẩn đường ruột giúp tăng cường hệ thống miễn dịch của cơ thể và cải thiện cả sức khỏe tâm thần và thể chất.

Seven Mile Beach, Sydney, Úc. (Ảnh: Rafael Leão/Unplash.com)

Thường xuyên dành nhiều thời gian trong thiên nhiên không phải là phương thuốc trị bách bệnh cho sức khỏe tâm thần nhưng đó là một phương cách phụ trợ thiết yếu cho sức khỏe và tâm lý. Thiên nhiên giúp chúng ta trụ vững và hồi phục trước những thử thách trong cuộc sống. Ngay cả các cư dân đô thị cũng có thể tìm thấy thiên nhiên ở gần mình – một khu vườn, một công viên gần nhà, hay một con đường – để cho bộ não đã quá tải của họ có chút giải lao.

Hãy dành tình yêu cho bộ não – cho cơ thể của chúng ta. Hãy đi ra ngoài!


Rönningesjön, Täby, Thụy Điển. (Quỹ: Julia Caesar/Unplash.com)

Mỗi mùa xuân, Quỹ David Suzuki kêu gọi công dân Canada tham gia vào cuộc thi dành nhiều thời gian ngoài trời hơn để tốt cho sức khỏe và tâm thần. Thử thách 30 x 30 với thiên nhiên yêu cầu người tham gia dành ít nhất 30 phút mỗi ngày ngoài thiên nhiên trong 30 ngày trong tháng 5. Khi tham gia 30 x 30 tại 30×30.DavidSuzuki.org bạn sẽ nhận được nghiên cứu mới nhất về lợi ích sức khỏe từ việc dành thời gian ở với thiên nhiên cùng các bí quyết thực tế để có thêm thời gian “xanh” vào thời gian biểu hàng ngày của bạn.


Trolltunga, Na Uy. (Ảnh: Julia Caesar/Unplash.com)

Được viết với sự đóng góp của Aryne Sheppard, Chuyên gia cao cấp về giao tiếp công chúng (senior public engagement specialist) của quỹ David Suzuki. Bài viết này được đăng tại Nature calms the brain and heals the body


ĐẦU XUÂN, NÓI CHUYỆN “DÂNG SAO GIẢI HẠN” VÀ NHÂN QUẢ Ở ĐỜI

đăng 19:17, 1 thg 3, 2015 bởi Hoàng Lê Vũ   [ đã cập nhật 19:36, 1 thg 3, 2015 ]

THIÊN LƯƠNG



Cứ vào dịp đầu xuân, những người nước ngoài tại Việt Nam sẽ rất ngạc nhiên với lòng hướng Phật, sùng đạo của người Việt khi chứng kiến cảnh “ngựa xe như nước, áo quần như nêm” (truyện Kiều), với cơ man là hương khói, vàng tiền, lễ lạt...tại các đền chùa, nhất là những nơi có tiếng là linh thiêng bấy nay. Họ sẽ càng kinh ngạc hơn khi tận thấy cảnh cả ngàn người kiên nhẫn và kính cẩn ngồi chật kín trong và ngoài khuôn viên nhiều ngôi chùa, tràn ra hết cả lòng đường suốt đêm để làm các khóa lễ “dâng sao giải hạn”. Cầu kỳ hơn, nhiều gia đình khá giả và doanh nghiệp, người buôn bán còn tìm đến các thầy, các vị trụ trì có tiếng để đặt lễ và lên lịch mời đến tận nhà làm với chi phí hàng chục, hàng trăm triệu đồng. Thiết nghĩ, việc cầu cúng, xin giải hạn xấu, mong cầu bình an là nhu cầu tự thân chính đáng. Tâm lý cầu may, tránh rủi, chuộng sự phú quý, thành đạt cũng là sự thường của người đời. Nhưng hiểu cho thật đúng về điều này và làm thế nào để có được bình an, may mắn thật sự cho mình và người thân thì không phải ai cũng tường tận.

Quan niệm xưa về sao hạn chiếu mệnh

Thật ra, trong giáo lý gốc của nhà Phật vốn không có khái niệm “sao xấu, sao tốt” và cũng chưa từng tồn tại hình thức lễ gọi là “dâng sao giải hạn”. Việc này xuất phát từ quan niệm và tín ngưỡng dân gian, lan truyền từ Trung Quốc thông qua người gốc Hoa, người Minh Hương sang làm ăn và sinh sống tại Việt Nam từ vài trăm năm nay. Theo quan niệm này, mỗi tuổi vào một năm nhất định có một ngôi sao chiếu mệnh. Tất cả có
9 sao, gọi là “cửu diệu”, trong đó có 3 sao tốt: Thái Dương, Thái Âm, Mộc Đức; 3 sao xấu: La Hầu, Kế Đô, Thái Bạch; 3 sao nửa tốt nửa xấu: Vân Hán, Thổ Tú, Thủy Diệu. Các sao này được lập thành bảng để tra cứu cho những người có độ tuổi khác nhau. Cùng một năm, phụ nữ và đàn ông lại có sao chiếu mệnh khác nhau. Nếu năm nào có sao xấu chiếu mệnh, sẽ gặp sự rủi ro, hay bị ốm đau, bệnh tật..., từ đó sinh ra nhu cầu cúng vì sao đó, gọi là lễ “dâng sao giải hạn”! 

Tùy từng gia chủ mà mức độ, chi phí cho lễ cúng khác nhau, nhưng có cùng một cách chung về bài trí, đăng nến, màu sắc và nội dung bài vị cho việc cúng mỗi sao. Có người cầu kỳ còn cũng lễ hàng tháng trong cả năm 12 tháng, với quan niệm cho rằng mỗi sao chỉ xuất hiện và “tiếp nhận lòng thành” của người dâng cúng vào mỗi ngày (âm lịch) nhất định trong tháng đó. Cụ thể là: sao La Hầu: ngày mùng 8 ; sao Thái Bạch: ngày 15; sao Kế Đô: ngày 18; sao Thổ Tú: ngày 19; sao Thủy Diệu: ngày 21; sao Mộc Đức: ngày 25; sao Thái Âm: ngày 26; sao Thái Dương: ngày 27, và sao Vân Hán cúng ngày 29 hàng tháng. Để giản tiện hơn, ngày nay người ta thường lễ vào dịp đầu xuân hay ngày Tết Nguyên tiêu (Rằm Tháng giêng) hàng năm. 

Trong số “cửu diệu”, với mỗi sao và trong từng năm nhắt định, quan niệm người xưa cho rằng tác động và ảnh hưởng đến thân chủ khác nhau. Người chẳng may gặp sao Thái Bạch dễ thất bại trong chuyện làm ăn, thất thoát hao hụt tiền bạc, đất đai, luôn phải đề phòng tiểu nhân; gặp sao La Hầu cũng dễ bị rủi ro, hao tán bạc tiền; gặp sao Kế Đô thì không may, hay gặp tai họa, tai nạn bất thường, dễ bị “họa tòng khẩu xuất” (họa từ nói năng mà ra); gặp sao Thổ Tú thì đỡ hơn, nhưng hay gặp chuyện thị phi, đề phòng kẻ tiểu nhân và lục đục chuyện gia đình. Người đàn ông gặp sao Thủy Diệu làm ăn tấn tới, nhưng tránh chuyện thị phi; phụ nữ thì tránh sông nước, cẩn thận chuyện chửa đẻ và bệnh phụ nữ. Nếu gặp sao Vân Hán thì nên kiềm chế tâm tính, tránh nóng nảy, khẩu thiệt; nếu gặp các tranh chấp, kiện tụng dễ hao tài và bất lợi so với đối thủ. Sao Mộc Đức là sao lành, thuận cho việc gây dựng cơ nghiệp, liên quan đến gỗ, cây cối, thuận cho các nghề nông nghiệp. Nếu may mà gặp sao Thái Âm thì dễ làm ăn, nhiều tài lộc, thuận nhất là chuyện mua bán hoặc gây dựng điền sản, nhà cửa; riêng phụ nữ cần đề phòng bệnh khí huyết và lúc sinh nở. Sao Thái Dương lợi nhiều hơn cho đàn ông: dễ có quý nhân phù trợ, người trên nâng đỡ, đi xa càng nhiều tài lộc, công danh thăng tiến; phụ nữ gặp sao này cũng tốt, nhưng không được bằng đàn ông.

Quan niệm thì là thế, nhưng cho đến nay giới nghiên cứu cũng chưa ai lý giải được tường tận, mà chỉ coi đó như một tập tục dân gian được lưu truyền với mong muốn “cầu lành, tránh dữ”. Nói cho công bằng, khái niệm “hạn” ở trong lễ “dâng sao giải hạn” cũng mơ hồ và không chính xác. Chữ “hạn” nguyên nghĩa Hán- Việt, là chỉ: một khoảng thời gian, hạn mức, giới hạn... nào đó, vốn được dùng trong việc định hạn khoảng thời gian trong các sách Dịch lý phương Đông như: Tử vi, Bát tự, Hà Lạc. Ví như: Đại hạn (10 năm), Niên hạn (1 năm), Nguyệt hạn ( 1 tháng), Nhật hạn ( 1 ngày), Thời hạn ( 1 canh giờ). Rồi nó dần bị biến nghĩa, trở thành: sự xui xẻo, rủi ro, bất hạnh, không may....cho gia chủ như người ta thường nói “gặp hạn” hay “vận hạn”. Thế nên, lễ này nói đầy đủ phải là “lễ giải vận hạn xấu” mới thật đúng ý nghĩa chính xác của nó.

Vậy nếu chăm cúng dâng sao có giải được vận hạn xấu không ? Điều này thật ra là do quan niệm và nhận thức của mỗi người. Vả lại, tâm lý bất an như đang hiện diện thường trực trong cuộc sống hôm nay cũng làm dậy lên cơn sóng “dâng sao giải hạn” với suy nghĩ “có thờ có thiêng, có kiêng có lành”. Nhưng không lẽ trên bầu trời xa tít tắp kia có những vì sao có thể ảnh hưởng đến “ họa, phúc, thọ, yểu” của mỗi con người trên quả địa cầu này? Thật ra, trong Dịch lý phương Đông, thiên văn cổ Trung Hoa, với các môn Tử Vi, Hà Lạc, Tử Bình... cũng có khái niệm “sao” (còn gọi bằng nhiều danh tự Hán – Việt là “tinh”, “diệu”, “thần” , “đẩu”), và vô số vì sao ấy được bố trí theo những quy luật phức tạp trong các Tinh đồ hay Tử vi viên chứ đâu chỉ có 9 ngôi sao kia ? Nhưng nếu bàn về việc này cần nhiều bài viết kỹ càng mà dung lượng tờ báo không cho phép, nên xin hẹn quý vị vào một dịp khác.

Luật nhân quả và cách ứng xử ở đời

 Xưa có câu “họa phúc có nguồn, phải đâu một buổi?”. Hiểu cho đúng thì các khóa lễ nói trên nên coi là lễ cầu an, cầu phúc; cũng chỉ nên làm vào đầu xuân năm mới. Muốn cầu an thì chính tâm mình phải an, làm việc phúc mới được hưởng phúc, không nên lo lắng thái quá hay ỷ vào việc năm nay gặp sao tốt hay xấu. Nếu may gặp sao tốt mà chủ quan, thiếu phấn đấu, bất cẩn trong mọi sự thì kết quả làm sao tốt được? Còn với người chẳng may gặp sao xấu mà cẩn trọng, khôn ngoan, cư xử mực thước, hướng thiện thì mọi chuyện trong năm hà cớ gì lại không có kết quả tốt đẹp ? Bởi vậy, rất nên tránh việc “lợi bất cập hại” trong việc quá quan tâm đến việc cúng dâng sao giải hạn mà coi nhẹ hay bỏ qua việc hành xử đúng đắn của chính mình trong cả một năm. 

Sâu sắc hơn nhiều quan niệm triết học khác, giáo lý nhà Phật dựa trên căn bản là luật Nhân- Quả, mà nói cho thật đầy đủ là Nhân - Duyên - Quả. “Nhân” ví như hạt giống, nhờ “Duyên” mà phát khởi và sinh sôi; “Quả” là cái kết do gieo “Nhân” mà có được . Cuộc sống của một cá nhân, hay nói rộng ra là một cộng đồng, một đất nước hay dở tốt xấu đều do nhân quả mà ra. Mỗi người, khi gieo cái “Nhân” tốt hay xấu thì nhất định người ấy phải nhận lấy kết quả tương ứng mà mình đã gieo; còn muốn hóa giải cái “Quả” xấu thì không gì bằng chính cái tâm và cách hành xử tạo phúc, hướng thiện của mình trong đời. 

Không ít người còn cho rằng, nếu đem nhiều tiền, nhiều lễ lạt vào đền chùa hay năng cúng sao giải hạn thì tật bệnh bất xâm, tai qua nạn khỏi, công danh phú quý luôn được thăng tiến ? Suy nghĩ vậy có phần quá giản đơn, dung tục mà không hiểu rằng “thiện căn ở tại lòng ta”, chính là gắn với đạo nhân quả của nhà Phật. Vả chăng đức Phật cũng đã từng phổ độ với chúng sinh rằng: “ Ta không có khả năng ban bố phước lành và cũng không giáng họa cho bất kỳ ai; tất cả việc xấu tốt ở đời là do nghiệp báo và nhân quả của các con mà thôi!” . Rõ ràng là: nhân, duyên và quả là một triết lý hướng thượng, vô cùng sâu sắc và mang tính khoa học, phản ánh quy luật thường hằng của tự nhiên và vũ trụ muôn loài; chứ không có tính ban bố hay thưởng phạt từ một đấng thần tiên hay quyền năng vô hình nào đó. Trong cuộc sống này, chúng ta hãy tĩnh tâm và lạc quan đón nhận những thành quả, niềm vui sướng hoặc sự thất bại với nỗi khổ đau, bởi chúng chính là kết quả do mình tạo cái nhân từ dĩ vãng trước đó. Nếu không biết phục thiện, bất chấp luật nhân quả thì xã hội và cuộc sống thật bất ổn và đáng sợ. Nó chỉ dung dưỡng và khuyến khích sự tham- sân – si lan tràn không giới hạn. Nhiều người dễ trở nên liều lĩnh, hành động càn quấy, dám bất chấp mọi hậu quả để đạt được tham vọng ích kỷ của mình. Kẻ ấy có thể bằng quyền lực, tiền tài và thủ đoạn tránh né được tòa án thế gian, nhưng làm sao trốn chạy được chính lương tâm mình?

Một cách giản dị hơn, trong dân gian xưa các cụ cũng thường răn dạy cháu con những điều mang đậm triết lý nhân - quả và mang tính cảnh báo như: “gieo gió thì gặt bão” hay “đời cha ăn mặn, đời con khát nước”, “sóng trước đổ đâu, sóng sau đổ đấy”.... Đức Phật thì dạy : “cứu một mạng người phúc đẳng hà sa” (cứu một người, một thân phận sẽ tạo phúc nhiều như cát sông) chính là việc khuyến thiện trong đời. Ngày nay, biết hướng Phật tại Tâm, biết “tri” cho sáng láng và “hành” cho khôn ngoan mới là đích đến đúng đắn nhất của mỗi người Việt trong giai đoạn nhiều biến động này của đất nước.


---------------------

Châu bản triều Nguyễn đã được đón nhận “Bằng di sản tư liệu” thuộc chương trình Ký ức Thế giới Khu vực Châu Á - Thái Bình Dương của UNESCO

đăng 18:55, 23 thg 12, 2014 bởi Hoàng Lê Vũ   [ đã cập nhật 18:58, 23 thg 12, 2014 ]


Châu bản triều Nguyễn


Sáng 30/7/2014, Cục Văn thư và lưu trữ Nhà nước – Bộ Nội vụ đã tổ chức Lễ đón nhận Bằng di sản tư liệu Châu Bản triều Nguyễn thuộc Chương trình ký ức thế giới khu vực châu Á– Thái Bình Dương tại Trung tâm Hội nghị quốc tế, Hà Nội. 





Bộ trưởng Bộ VHTT&DL Hoàng Tuấn Anh đến dự Lễ đón nhận Bằng di sản tư liệu Châu Bản triều Nguyễn thuộc Chương trình ký ức thế giới khu vực châu Á– Thái Bình Dương


Trước đó, ngày 14/5/2014, tại Hội nghị toàn thể lần thứ 6 Chương trình Ký ức thế giới khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, hồ sơ “Châu bản triều Nguyễn” chính thức được ghi danh vào danh mục Di sản tư liệu Chương trình Ký ức thế giới khu vực Châu Á – Thái Bình Dương của UNESCO.


Châu bản triều Nguyễn là các tài liệu hành chính hình thành trong hoạt động quản lý nhà nước của triều Nguyễn (1802-1945), bao gồm các văn bản do các Hoàng đế ban hành, văn bản do các cơ quan trong hệ thống chính quyền đệ trình lên Hoàng đế phê duyệt bằng mực son và một số văn kiện ngoại giao. Châu bản là các tài liệu gốc, duy nhất có bút tích phê duyệt của các Hoàng đế triều Nguyễn với các hình thức ngự phê phong phú và độc đáo như: Châu điểm, Châu phê, Châu khuyên, Châu mạt, Châu sổ...


Châu bản triều Nguyễn là tư liệu lịch sử quý giá với Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung. Trong phát biểu của mình, bà Katherine Muller – Marine bày tỏ lòng biết ơn và chúc mừng những người tham gia quảng bá, tuyên truyền và giữ gìn tư liệu quý giá, đồng thời bà cũng cho rằng Châu bản triều Nguyễn có ý nghĩa quan trọng với bất kì ai, vì nó đưa chúng ta ngược dòng lịch sử hơn 100 năm trước, qua đó tiếp cận với nên văn hóa, chính trị, những cam kết lâu dài về văn hóa, khoa học, và những cam kết ngày nay vẫn rất mạnh mẽ.

Có thể khẳng định rằng, Châu bản triều Nguyễn là khối tài liệu hành chính duy nhất còn lưu giữ được của một vương triều phong kiến ở Việt Nam, có giá trị nổi bật về nội dung bởi những thông tin phong phú, phản ánh toàn bộ lịch sử, đời sống kinh tế xã hội, con người Việt Nam thời kỳ bấy giờ.


Hơn thế nữa, Châu bản triều Nguyễn còn mang tính xác thực mạnh mẽ vì được ban hành và tiếp nhận, xử lý bởi chính các Hoàng đế triều Nguyễn. Hiện tại, Châu bản triều Nguyễn đang được lưu giữ tại kho lưu trữ chuyên biệt với điều kiện bảo quản tiêu chuẩn, được số hóa, phiên dịch, tóm tắt sang Tiếng Việt nhằm tạo điều kiện cho độc giả, các nhà nghiên cứu dễ dàng tiếp cận.




Bà Katherine Muller – Marine trao bằng Di sản tư liệu Châu bản triều Nguyễn cho lãnh đạo Bộ Nội vụ



Châu bản triều Nguyễn không chỉ có giá trị về mặt văn hóa, mà còn là bằng chứng lịch sử và pháp lý khẳng định chủ quyền Biển Đảo Việt Nam. Phát biểu tại buổi lễ, Bộ trưởng Bộ VHTT&DL Hoàng Tuấn Anh nhấn mạnh: “Châu bản triều Nguyễn mang giá trị lịch sử vô giá về chủ quyền lãnh thổ, biên giới, biển đảo của đất nước ta, việc Châu bản triều Nguyễn được UNECO công nhận là di sản tư liệu thế giới càng làm tăng thêm giá trị của Châu bản triều Nguyễn trong việc khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa, Trường Sa”.

“Triều Nguyễn đã nâng tầm quản lý Trường Sa, Hoàng Sa lên vị thế cao nhất, tất cả các văn bản liên quan đến Hoàng Sa, Trường Sa đều được báo cáo lên nhà vua và được phê chuẩn. Đồng thời, những Châu bản đã cho thấy phương thức quản lý, thể hiện chủ quyền mạnh mẽ của triều Nguyễn đối với Hoàng Sa, Trường Sa, từ việc cử các đoàn thuyền, đến việc thám hiểm, đo đạc. Đây là những nét thú vị, mang tính phát hiện cao,” Giáo sư, Nhà giáo Phan Huy Lê chia sẻ.

Nguồn honguyenvietnam.org
Hà Phương - Mai Anh vov.vn

Tham khảo thêm về những nhận xét của các nhà KH về TS Vũ Bằng (Tiếp theo ý kiến của ông Sỹ)

đăng 09:16, 19 thg 10, 2014 bởi Hoàng Lê Vũ   [ cập nhật 08:13, 27 thg 11, 2014 bởi Điều Nguyễn Xuân ]

Cảm nghĩ sau khi đọc báo “Người giữ lửa” số 56 - 61

Ngọc Tuân (CHQ -TPHN)



Là người học Thiền Trường sinh học dưỡng sinh và là  bạn đọc thường xuyên của Báo
Người Giữ Lửa từ những ngày đầu, tôi chưa một lần bỏ sót một số báo nào. Một trong những chuyên mục mà tôi quan tâm nhất là chuyên mục “Từ thân thể đến tâm hồn”. Trong số các bài báo đã đăng từ trước tới nay, tôi đặc biệt ấn tượng với loạt bài viết có tiêu đề Thiền dưỡng sinh - “bảo bối” đẩy lùi bệnh tật và sự thấu rõ về “cõi âm” được đăng liên tục trong 11 kỳ báo, trong đó Thầy Nguyễn Xuân Điều - Trưởng Bộ môn Trường sinh học dưỡng sinh thuộc Trung tâm UNESCO văn hóa dòng họ và gia đình Việt Nam đã trả lời phỏng vấn của báo Người Giữ Lửa.


Qua 11 kỳ báo, Thầy Nguyễn Xuân Điều đã trả lời rất nhiều câu hỏi và cung cấp rất nhiều thông tin quý giá có liên quan vấn đề Thiền dưỡng sinh cũng như Thế giới vô hình. Tôi cho rằng 11 kỳ báo đó đã chứa đựng lời giải thích cho rất nhiều những câu hỏi, thắc mắc về những câu chuyện và hiện tượng lạ trong cuộc sống mà hiện nay rất nhiều người đang vướng phải. Chả thế mà 11 kỳ báo này, mỗi kỳ tôi đều mua 10 tờ với mục đích để dành tặng dần cho anh em, bạn bè mới tiếp cận môn Thiền.


Gần đây, trên báo Người Giữ Lửa từ số 56 đến số 61 đăng loạt bài viết với tiêu đề: “Bi kịch của một kỹ sư trưởng dầu khí trắng tay, mất vợ và tầm quan trọng của đất ở”. Sau khi đọc xong 6 kỳ báo, bản thân tôi có một số suy nghĩ như sau:


Từ kỳ 1 tới kỳ 4, nội dung câu chuyện mà ông Sỹ chia sẻ là câu chuyện rất chân thực và cách lý giải của Thầy Nguyễn Xuân Điều là rất chính xác. Tuy nhiên, ở kỳ 5 và 6, với sự xuất hiện của ông tiến sỹ V.B cùng với quan điểm và cách giải thích của ông, theo tôi là có rất nhiều điểm không hợp lý. Tôi xin chỉ ra một số điểm như sau:





Trước hết, ông V.B cho rằng mọi vấn đề rắc rối, ốm đau, bệnh tật...đều có thể lý giải được là do từ trường, tia đất xấu gây ra và có thể dùng máy móc đo được tia đất này chứ không có linh hồn nào cả! Nếu vậy thì các tôn giáo lớn trên thế giới vẫn luôn đề cao tới vấn đề như: Siêu thoát, lên thiên đàng, ...chỉ là hữu danh vô thực?! Việc linh hồn có tồn tại hay không tôi nghĩ mỗi người chúng ta đã tự hiểu.


Thứ hai, thuật ngữ “tia đất” phải được hiểu như thế nào, đây là tia vật lý (hồng ngoại, laser, cực tím, phóng xạ...) hay tia gì mà chiếc máy cầm tay của ông lại đo được. Chắc hẳn đây phải là một chiếc máy rất hiện đại và thuộc loại “hiếm có, khó tìm” thì mới có khả năng đặc biệt như vậy. Nếu đã là đo đạc bằng thiết bị, máy móc thì phải có thông số, kết quả. Vậy căn cứ vào đâu để khẳng định tính chính xác của kết quả đo đạc?


Thứ ba, cách giải thích của ông tiến sỹ V.B về trường hợp của ông Sỹ cũng có nhiều mẫu thuẫn và không rõ được vấn đề. Ông V.B nói rằng: “cơ chế gây bệnh của tia đất xấu rất “hiểm”...chính vì thế ông ta bị tia đất xấu tấn công hệ thần kinh dẫn đến không làm chủ được bản thân, lao vào lô đề, cờ bạc”. Câu hỏi ở đây là vì sao ông Sỹ từ một người cán bộ mẫu mực, có uy tín, con đường công danh rộng mở, tiền bạc không thiếu, vợ con đề huề như thế mà lại chơi lô đề trong khi các môn cờ bạc tệ nạn khác ông chẳng hề tham gia! Hơn nữa, người bạn chung mảnh đất với ông cũng là một người được đánh giá là liêm khiết, không cờ bạc, nhậu nhẹt bao giờ, tiền bồi dưỡng công trông nom giúp việc xây dựng mà ông Sỹ đưa còn chẳng lấy. Vậy mà ông bạn lại vay tiền để bí mật đi chơi đề. Như vậy là ông Sỹ và bạn của ông đều có điểm trùng nhau. Cả hai người đều là cán bộ nhà nước có uy tín, không ham mê cờ bạc, không gặp khó khăn về kinh tế hay nợ nần để phải hy vọng kiếm tiền từ lô đề. Rõ ràng việc chơi đề không phải là ý thích của hai ông mà là một thứ gì đó sai khiến và thôi thúc con người ta phải làm những việc không phù hợp với hoàn cảnh cũng như tính cách vốn có của mình. Theo lẽ thông thường người ta chỉ lao vào lô đề khi trong người đã có sẵn “máu đỏ đen”, không chịu lao động chân chính hoặc là người đang túng quẫn, đường cùng về kinh tế. Và cũng thật khéo trùng hợp khi trước đó chủ đầu tiên của mảnh đất là cũng là người đã treo cổ tự tử vì phá sản do chơi lô đề.


Giải thích cho sự trùng hợp niềm đam mê này, ông V.B cho rằng “khi cấu trúc hệ thần kinh giống nhau, bị cùng biên độ từ trường tác động, dẫn đến suy nghĩ trùng nhau là điều rất dễ hiểu”. Nói là rất dễ hiểu nhưng thú thật tôi không hiểu cái cấu trúc hệ thần kinh mà ông V.B nói ở đây là cái gì mà khi bị cùng biên độ từ trường tác động dẫn đến có suy nghĩ giống nhau. Nếu vậy sau khi bạn ông Sỹ treo cổ tự tử bất thành tại sao sau đó một thời gian dài vẫn chưa thấy ông Sỹ treo cổ tự tử (hoặc là có ý định như vậy)! Một điểm dáng chú ý nhất ở đây là ông Sỹ và bạn ông sau khi xây xong nhà trên mảnh đất ấy, bạn ông Sỹ chưa ở nhà này ngày nào, đang ở nơi khác mà đã thắt cổ “tự tử”. Còn ông Sỹ làm xong nhà, cho thuê và ông cũng chưa đến ở.


Cách giải thích của ông V.B cũng sẽ bế tắc với nhiều trường hợp có những căn nhà mà các thành viên trong căn nhà ấy gặp hết tai họa này đến tai họa khác. Nhiều tai họa hoàn toàn do tác nhân bên ngoài đưa tới, không hề bắt nguồn do việc tia đất ở căn nhà đó tác động lên “cấu trúc hệ thần kinh”. Chẳng hạn như tai nạn khi đi các phương tiện công cộng, bị phương tiện giao thông khác đâm vào hoặc bị móc túi, cướp giật khi đi trên đường...những tai nạn do khách quan mang tới.


Thứ tư, ông TS V.B nói dấu hiệu để phát hiện nơi mình đang ở có tia đất xấu có thể qua giấc ngủ, qua một số biểu hiện sức khỏe của cơ thể hoặc qua động vật hoặc côn trùng. Vậy có những gia đình ở chung cư cao tầng mà vẫn bị những biểu hiện như vậy (giấc ngủ không tốt; cơ thể mệt mỏi, khó chịu, bệnh tật, đi bác sĩ khám không rõ nguyên nhân; kiến, mối phá hỏng khuôn cửa, đồ đạc bằng gỗ trong nhà...) nếu là do tia đất thì ở tầng càng cao phạm vi ảnh hưởng của tia đất phải yếu hơn so với những tầng dưới thấp, có thể hiểu là những gia đình ở tầng thấp sẽ mắc phải bệnh tật, tai họa nhiều hơn những gia đình ở tầng cao. Điều này không đúng với thực tế. Ông TS V.B cũng cho rằng: “Mèo rất thích nằm nơi có tia đất, nhưng chó lại tìm nằm nơi tĩnh. Bởi mèo ưa nơi có nguồn bức xạ điện từ mạnh vì chúng có bộ lông dày dễ tích điện dương, theo bản năng chúng tìm đến đó để trung hòa điện...”. Câu hỏi ở đây là chó cũng có bộ lông dày chẳng kém gì mèo không lẽ lại tích điện âm, chẳng có cơ sở nào để nói rằng mèo “thích” tia đất còn chó thì không.


Thứ năm, giải pháp mà ông TS V.B đưa ra khi phát hiện trong nhà có từ trường, tia đất mạnh cũng chẳng thuyết phục. Với mảnh đất có thể chưa xây nhà hoặc đã xây, nếu phát hiện ra từ trường, tia đất xấu thì phải làm sạch lại. Có thể bằng cách di chuyển mồ mả, hài cốt (nếu phát hiện được) sang vị trí khác hoặc xúc bỏ phần đất xung quanh hài cốt đó. Theo ông V.B có nghĩa là bất kể mảnh đất đó ở đâu, nghĩa trang hay đình chùa...chỉ cần xử lý như trên đến khi nào máy đo của ông xác định từ trường đã trở lại bình thường là ở được. Thực tế cho thấy, nhiều gia đình dù mới chỉ sinh sống trên đất cạnh nghĩa trang hoặc đình chùa là đã có vấn đề bất ổn về sức khỏe, về con cái cũng như công việc rồi.


Với những mảnh đất có từ trường, tia đất xấu mà đã xây nhà trên đó. Giải pháp của ông V.B là sử dụng than hoạt tính hoặc nhiệt để tán từ trường dị biệt, khử các nguồn bức xạ từ đường điện cao thế, trạm phát sóng...cũng thật mông lung. Than hoạt tính (theo trang web của Bộ Y tế) được ứng dụng trong các lĩnh vực điều trị y tế, mỹ phẩm làm đẹp và trong sinh hoạt, không đề cập đến tác dụng ngăn hay khử tia đất như một vài trang web thương mại rao bán than hoạt tính hiện đang quảng cáo. Công nghệ khử các nguồn bức xạ từ đường điện cao thế, trạm phát sóng...hiện nay có chăng đều dựa trên nguyên lý lồng Faraday. Việc chế tạo lồng Faraday cho cả mảnh đất và ngôi nhà cũng chẳng hề khả thi trên thực tế .


Tôi cho rằng những gia đình nào làm theo “phác đồ” của ông V.B là đã lãng phí thời gian và tiền của, mạo hiểm đặt cược sức khỏe, tính mạng của bản thân và gia đình vào chiếc máy đo tia đất cùng người điều khiển nó.


Vậy phải xử lý thế nào khi “trót” ở trên mảnh đất có trường năng lượng không tốt?


Lời khuyên của thầy Nguyễn Xuân Điều ở kỳ 4 của bài viết chính là câu trả lời chính xác nhất.


Trường hợp tạm thời chưa thể thay đổi được chỗ ở, các thành viên trong gia đình nên đi học thiền để tập trung năng lượng “tẩy sạch” cho ngôi nhà đó. Đây cũng chính là cơ hội để tự nâng cao sức khỏe để bảo vệ mình khi phải sống trong căn nhà có trường năng lượng không tốt và tự mình trải nghiệm, tự mình cảm nhận về trường năng lượng chứ không phải trao gửi niềm tin vào chiếc máy đo tia đất bí hiểm của ôngTS V.B.


Trên đây là một số suy nghĩ của tôi khi đọc loạt bài viết với tiêu đề: “Bi kịch của một kỹ sư trưởng dầu khí trắng tay, mất vợ và tầm quan trọng của đất ở”. Câu chuyện mà ông Sỹ đã kể là câu chuyện chân thực về cuộc đời ông.Với những người đã học Trường sinh học dưỡng sinh và có duyên được trải nghiệm thực tế, câu chuyện của nhà ông Sỹ không có gì là lạ, nó chỉ khó tin đối với những người chưa bao giờ tìm hiểu hoặc tập luyện về bộ môn Trường sinh học dưỡng sinh một cách nghiêm túc và những người chưa bao giờ bước chân tới lớp học Thiền của bộ môn mà đã luôn cho rằng mình có đủ trình độ, trí tuệ để phán xét về mọi sự vật hiện tượng mà chỉ dựa trên những kiến thức có được rất mỏng manh từ khoa học thực nghiệm để nhằm đạt được chút danh tiếng cho bản thân. Giờ đây, điều quan trọng là ông Sỹ đã tìm lại được chính
mình, sức khỏe và tinh thần được cải thiện rất nhiều và hơn ai hết ông là người hiểu rõ nhất về câu chuyện của cuộc đời mình và sẽ đi trên con đường ánh sáng mà ông đã chọn.


Qua câu chuyện trên, tôi cũng rất bất ngờ với quan điểm và cách sắp xếp các nội dung của tác giả bài viết.Thông thường với những bài báo có nhiều kỳ với nhiều quan điểm và trường phái khác nhau, quan điểm được trình bày sau cùng bao giờ cũng là lời kết và cũng thể hiện tư tưởng và nhận thức của người viết cho câu chuyện. Những gì tôi đã nêu ở phần trên đã cho thấy rõ ràng quan điểm của ông TS V.B còn rất nhiều vấn đề không thuyết phục. Là một tờ báo có đông đảo bạn đọc gần xa, với vai trò định hướng dư luận, việc tác giả bài báo có quan điểm như vậy có thể khiến cho dư luận hiểu sai bản chất sự kiện, làm tổn hại đến tâm tư, tình cảm và niềm tin của nhân vật chính trong bài báo.


Trong quá trình tìm hiểu thông tin về chiếc máy đo từ trường, tia đất xấu của ông TS V.B, tôi tình cờ tìm được một số bài viết có liên quan, quý vị có thể tham khảo theo đường dẫn dưới đây để có thêm thông tin về chiếc máy đo tia đất cũng như người điều khiển nó để có nhận định cho riêng mình.


http://baodatviet.vn/khoa-hoc/quan-diem/ts-khai-ozon-boc-me-sang-che-cua-gs-bang-tia-dat-3001452/?p=71


http://xahoi.com.vn/an-ninh-hinh-su/trong-an/tim-xac-chi-huyen-bang-may-buc-xa-tu-tro-lua-bip-cua-tien-si-bang-161770.html


Hà Nội, 10.10.2014


----------------------------------------------------------------





Tâm sự của ông Sỹ sau khi đọc báo “Người giữ lửa” số 60, 61

đăng 21:34, 12 thg 10, 2014 bởi Hoàng Lê Vũ   [ cập nhật 03:57, 14 thg 10, 2014 bởi Điều Nguyễn Xuân ]

Bức thư của ông Sỹ


Kính gửi thầy Nguyễn Xuân Điều

Thầy ơi! Em đọc 2 tuần báo “Người giữ lửa” ngày 1.10.2014 và ngày 8.10.2014, ở trang 23, có bài viết của “TS Vũ Bằng”, em muốn tâm sự với thầy.

- Có thể cùng một vật thể, nhìn nhận ở những góc độ khác nhau, sẽ khác nhau.

Nhưng sự việc của em thì khác, là chính bản thân em – em ghi nhận rõ ràng sự thay đổi trong con người em từng thời điểm cụ thể.

Ngày 20.5.2013 em đến thầy học thiền Cấp I, rồi tự luyện tập.

Ngày 7.4.2014 thầy ĐT. Cho em được học thiền Cấp II.

Đến ngày 12.8.2014 là ngày thầy hỗ trợ năng lượng cho em – Giải thoát cho em căn bệnh nghiện ngập – mà em đã ấp ủ nó 21 năm trời (1993 – 2014).

- Ngày 19.8.2014, lần thứ 2 thầy hỗ trợ năng lượng cho em.

Và cũng từ ngày 20.8.2014, em mới là chính mình – thay đổi hoàn toàn – từ bỏ sự đam mê đề đóm.

Những ngày đó, cơ thể rã rời, đầu óc trống rỗng, nhưng sau đó một tuần người đã trở lại yên ổn.

Bây giờ em khỏe mạnh và bình an, thực lòng em không biết nói gì – chỉ biết ơn thầy trong quãng đời còn lại.

- Thầy ơi: Chuyện 2 trang báo “Người giữ lửa” tác giả (TS Vũ Bằng): Giải thích hiện tượng của em ! Giải thích thế nào cũng được – em không quan tâm, vì em chưa hề gặp TS Vũ Bằng…và mảnh đất đó em mua xây nhà rồi cho thuê bán hàng – sau đó ký thác cho ngân hàng, em không quan tâm bây giờ nó thế nào nữa.

- Việc bàn bạc trên mặt báo em không hề muốn.

Bây giờ hàng ngày em cố gắng thiền cho tôt, mong sao sống khỏe, sống bình an.

Theo bản thân em nghĩ: Việc thiền định để có cuộc sống an lạc – “Ai có duyên với thiền, người đó gặp”.

Thầy ơi, khi gặp, thầy trò mình tâm sự nhiều. Em kính chúc thầy vui khỏe, gia đình hạnh phúc.

Học trò của thầy: Sỹ (Tên báo “người giữ lửa” đặt cho em)


Ngày 10.10.2014



Bức thư của ông Sỹ.



Hai bài báo 60 , 61 trên báo NGL 





TỪ CHUYỆN LOẠN SƯ TỬ ĐÁ ĐẾN NGUY CƠ LAI CĂNG CỦA NỀN VĂN HÓA VIỆT

đăng 08:54, 6 thg 10, 2014 bởi Hoàng Lê Vũ   [ đã cập nhật 09:12, 6 thg 10, 2014 ]



THIÊN LƯƠNG






Văn hóa của một dân tộc là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong lịch sử. Mỗi dân tộc có một bản sắc văn hóa riêng biệt, làm nên nét tinh túy và hồn cốt mang tính đặc trưng, đồng thời hòa nhập và giao thoa với các nền văn hóa khác. Nếu được gạn đục, khơi trong, việc này góp phần làm giàu và đa dạng thêm nền văn hóa bản địa. Trái lại, nếu không được quan tâm đúng mức, sự du nhập những yếu tố lai căng sẽ gây ra những hiểm họa dài lâu và khôn lường cho nền văn hóa Việt.



Từ sự xâm lăng của sư tử đá Trung Hoa…

Mới đây, Bộ Văn hóa và Ủy ban Nhân dân một số tỉnh đã bắt đầu chỉ đạo thực hiện việc bài trừ những sản phẩm ngoại lai, nhất là sư tử đá khỏi các di tích, khuôn viên các cơ quan công quyền. Việc làm này là đúng đắn và cần thiết, nhưng cần được tiến hành kiên quyết, triệt để và có tầm nhìn sâu xa hơn. Bởi nếu không dứt khoát trong nhận thức và hành động, nó chỉ có tác dụng ở bề nổi và hình thức của vấn đề. Phần ẩn chìm sâu xa của câu chuyện lai căng văn hóa còn rất nhiều điều cần suy ngẫm và cảnh báo.



Chúng ta đã không khỏi cảm thấy bất an khi chứng kiến rất nhiều cặp sư tử đá Trung Hoa được đặt nghễu nghện, trấn giữ trước nhiều di tích lịch sử văn hóa nổi tiếng: Đền Thái miếu, nơi thờ bài vị 27 Vua nhà Hậu Lê (Thanh Hóa), Khu di tích Cố đô Hoa Lư (Ninh Bình) có đền thờ và lăng mộ của Đinh Tiên Hoàng Đế và Đại Hành Hoàng Đế, chùa Nhất Trụ nổi tiếng trong khu di tích, khu du lịch Lạc cảnh Đại Nam văn hiến (Bình Dương)…và nhiều đình chùa, miếu mạo, di tích lịch sử linh thiêng ở khắp nơi trên cả nước. Đáng buồn là những năm gần đây, hiện tượng này còn lan rộng đến nhiều công trình, công sở Nhà nước, nhiều tòa cao ốc, cơ sở thương mại hay doanh nghiệp ở khăp mọi nơi.



Từ ngàn xưa, văn hóa thuần Việt đã dùng bộ “Lân, Ly, Quy, Phượng” ở các di tích đình, chùa, cùng hình tượng đôi Nghê đá, chó đá gác cổng mà không bao giờ có hình tượng sư tử. Con sư tử không liên quan và hoàn toàn xa lạ trong các biểu tượng truyền thống của người Việt. Tiếc rằng hiện nay, không chỉ sư tử đá mà hàng trăm loại biểu tượng lai căng khác như : đèn lồng đỏ, tì hưu, thiềm thừ, hồ lô, chuông, khánh…, nhất là đồ phong thủy Trung Hoa đã tràn ngập khăp nơi, từ nhà riêng đến công sở, từ công trình mới xây đến các di tích lịch sử và văn hóa tâm linh. Điều này được lý giải một cách dễ dãi rằng: các doanh nghiệp của ta khi làm ăn với Trung Quốc đã du nhập những sản phẩm này vào nước Việt, với mong muốn cầu sự may mắn, phát tài trong kinh doanh và đời sống của người dân. Liệu rằng, khi đã trở nên phổ biến và quá quen thuộc qua thời gian nhiều năm nữa, việc xâm thực này sẽ được người dân mặc nhiên coi đó như một phần của “văn hóa” Việt ? Hay về thực chất, văn hóa Việt sẽ bị nguy cơ ngoại lai, lai căng chèn ép và xâm lấn đến mức vong bản, bị mai một bản sắc và tinh hoa vốn có của nó ? Thiển nghĩ, nếu chúng ta không nhanh chóng khắc phục, thay đổi tận gốc lối tư duy lệ thuộc ấy, nguy cơ bị đồng hóa một cách tự nguyện, âm thầm, kiểu “mưa dầm thấm đất” với văn hóa phương Bắc không phải là một cảnh báo quá xa vời. Ngày nay, trong một thế giới phẳng với vai trò của “quyền lực mềm”, trong các hình thức tranh giành ảnh hưởng, “xâm lăng văn hóa” đã trở nên một vũ khí hữu hiệu và tàn độc nhất, vốn là sở trường của người Trung Hoa từ xưa đến nay.


 

…Đến việc nhìn nhận và ứng xử với chữ Hán

Gần đây, nhiều người ấn tượng với việc trong các ngôi chùa tại nhiều đảo của quần đảo Trường Sa đều viết chữ Việt trên các hoành phi, câu đối, được sơn son, thếp vàng rất trang trọng để ghi dấu chủ quyền thiêng liêng của Tổ Quốc. Cũng có ý kiến cần thực hiện việc này trên tất cả các công trình tín ngưỡng – tâm linh xây mới tại Việt Nam mà không được dùng chữ Hán như trước. Đây là một ý kiến mới mẻ, nhưng không phải không có đôi điều cần bàn lại một cách thấu đáo.



Có một thực tế rằng: Hiện nay, trên đất Việt Nam, tại nhiều nơi tại các địa phương như: Bình Dương, Hà Tĩnh, Hải Phòng…nơi tập trung các công trình có đông người Trung Quốc , việc sử dụng tiếng Trung tràn lan trên các bảng hiệu, quảng cáo, bao bì hàng hóa quả là rất đáng báo động và cần phải chấn chỉnh kịp thời. Rõ ràng việc chấp hành Luật Quảng cáo, các quy định hiện hành của pháp luật trong lĩnh vực này đang bị buông lỏng và còn rất nhiều việc phải làm.



Tuy vậy, trong việc ứng xử với các yếu tố văn hóa rất cần sự tỉnh táo, “gạn đục, khơi trong”, cũng cần có cái nhìn khách quan, đa chiều và xuất phát từ lịch sử để tránh rơi vào cách nhìn nhận và ứng xử cực đoan với văn hóa nói chung, chữ Hán nói riêng. Từ xưa, trong các nước “đồng văn” có dùng chữ Hán cổ, ngoài Việt Nam còn có Nhật Bản, Triều Tiên…. Đến nay, họ vẫn bảo tồn và phát triển rực rỡ nền văn hóa bản địa, vẫn biết tiếp thu có chọn lọc văn hóa Hán từ chữ Hán; đó chính là những tấm gương đáng học hỏi của chúng ta.



Không phủ nhận rằng chữ Hán vốn có nguồn gốc ngoại lai, nhưng hàng ngàn năm qua đã được tổ tiên ta tiếp thu, chắt lọc một cách sáng tạo, “Nôm hóa” thứ chữ này để nó trở thành một nét bản sắc trong văn hóa và đời sống của người Việt. Cũng không phủ nhận rằng người phương Bắc vốn định dùng nó là một trong những công cụ nhằm nô dịch tư tưởng, nhằm đồng hóa để lấn át và tiến tới hòng tiêu diệt văn hóa Việt. Nhưng tổ tiên ta đã rất bản lĩnh và sáng tạo khi tiếp nhận chữ Hán, dùng chính nó để kết hợp, truyền tải, ngày càng mở mang nền văn hóa và tư tưởng của người Việt. Chữ Hán chính là công cụ để ông cha ta đấu tranh giành độc lập tự chủ, củng cố vị thế hiên ngang “sông núi nước Nam vua Nam ở” đối với các triều đại phong kiến phương Bắc. Trong các sách sử, các văn khố triều đình, hay những áng văn thơ tuyệt tác bằng chữ Hán trong kho tàng văn hóa dân tộc ta đã là minh chứng hùng hồn cho điều đó. Với bản lĩnh người Việt, tổ tiên ta đã dùng chính chữ Hán để chuyển tải linh khí và hồn thiêng sông núi, bồi đắp tư duy, tình tự dân tộc đến các thế hệ con cháu mãi sau này. Vô hình chung, nó đã hòa quyện và trở thành một bộ phận không thể tách rời của văn hóa và đời sống người Việt. Nếu trong vấn đề giao thoa văn hóa, người ta thường nói: “Hòa nhập mà không hòa tan”, thì câu chuyện về chữ Hán trong dặm dài lịch sử của nước Việt là một minh chứng rõ ràng nhất.



“Gạn đục, khơi trong” về văn hóa, còn lắm gian nan



Trong câu chuyện tiếp thu một cách tỉnh táo, có chọn lọc, biết “gạn đục, khơi trong” để giao thoa nền văn hóa dân tộc và các nền văn minh khác trên thế giới, người viết chợt liên tưởng đến quẻ “Thủy Phong Tỉnh” – quẻ thứ 48 trong Kinh Dịch. Nghĩa chữ Hán: “Tỉnh” là cái giếng nước; trong một cộng đồng người, cái giếng không chỉ mang lại lợi ích trực tiếp cho con người, mà còn là nơi chất chứa long mạch, nơi tích trữ nguồn sống trong lành. Ứng xử với nguồn sống này, cần biết giữ gìn, tu bổ, lọc lựa và khơi nguồn thường xuyên, lại luôn chú tâm vớt bỏ rong rác; có vậy, nguồn sống ấy mới lấy không hết, dùng mãi không cạn. Nói về yếu tố văn hóa – như một mạch nguồn dân tộc - cũng mang cùng ý nghĩa như thế.



Ví như câu chuyện chữ Hán ở trên, việc tồn tại khá phổ biến các chữ Hán cổ ở các đình chùa, miếu mạo và nơi thờ tự hiện nay là một thực tế khách quan và mang tính lịch sử. Khác hẳn với nguy cơ đã cảnh báo về việc tràn lan thứ chữ Hán hiện đại trên các biển quảng cáo, dịch vụ…nơi đang có đông người Trung Quốc sống tập trung trên đất nước ta, cần phải kiên quyết chấn chỉnh kịp thời. Tuy vậy, trong nghiên cứu lịch sử, văn hóa, lý học Đông phương và một phần đời sống hiện đại, không thể nghĩ tới việc loại trừ chữ Hán, càng không thể đánh đồng nó – với tư cách là một sản phẩm văn hóa – với chính sách bành trướng, bá quyền của số ít những người cầm quyền của đất nước đã sáng tạo ra nó. Trong việc này, bản lĩnh tự thân là điều tối quan trọng. Có nó, người Việt mới có thể vững vàng trên ý chí và lập trường dân tộc để tiếp thu có chọn lọc từ các nền văn hóa của nhân loại nói chung, nước Trung Hoa nói riêng.



Trải hàng ngàn năm lịch sử, từ phía nam sông Dương Tử là giang sơn của các tộc Bách Việt, vốn tương đồng về nhiều nét văn hóa và tập tục sinh hoạt, tín ngưỡng: “Thờ cúng tổ tiên, tục xăm mình, ăn trầu cay, lấy vợ hiền hòa, làm nhà hướng Nam…”. Qua bao cơn thăng trầm dâu bể, để người Việt, nước Việt tự tồn vững chãi đến ngày hôm nay, rõ ràng yếu tố văn hóa truyền thống vẫn hàng ngày hàng giờ được bảo tồn và tuôn chảy trong dòng máu người Việt. Tuy vậy, càng cần từng giờ, từng phút cảnh giác với mưu đồ “xâm lăng” về văn hóa từ phương Bắc, nhất là trong thời đại internet ngày nay. Ngoài sự vào cuộc kiên quyết của ngành văn hóa và các cơ quan chức năng, việc nâng cao dân trí để tự nuôi dưỡng những kháng thể - chống lại sự lai căng về văn hóa - của mỗi người dân Việt mới là điều căn cơ, lâu bền nhất ./.





1-10 of 78

Comments