Tin tức báo chí

Tin tức cập nhật từ các báo chí trong và ngoài nước

Hiển thị bài đăng 1 - 15trong tổng số 79. Xem nội dung khác »



Bài đã đăng


Chuyện đời chị Nở (LUẬT NHÂN QUẢ VỚI SỰ SỐNG)

đăng 00:23, 21 thg 4, 2017 bởi Hoàng Lê Vũ   [ cập nhật 21:39, 24 thg 4, 2017 bởi Điều Nguyễn Xuân ]

Thật khó tưởng tượng, thật không có nỗi đau đớn nào hơn, không có sự sợ hãi nào khủng khiếp hơn, khi một người mẹ, dứt ruột đẻ tới 10 đứa con, con trai đẹp như tượng, con gái đẹp như hoa, đều bỗng nhiên điên khùng.

Nhiều thầy địa lý, thầy cúng, thầy phong thủy, thậm chí cả thượng tọa nổi tiếng tìm đến ngôi nhà, rồi phải bỏ chạy tá hỏa vì trong nhà có tới… 300 “con ma”. Câu chuyện kinh hãi này khiến người dân cả xóm không dám vào ngôi nhà này. Đi qua ngôi nhà đó họ cũng rảo bước thật nhanh. Những câu chuyện đồn thổi rả rích đầu ngõ, cuối phố khiến ai đi qua ngôi nhà ấy cũng phải dựng tóc gáy.

Người đàn bà ăn mày và 10 đứa con điên

Chuyện về người đàn bà mưu sinh bằng công việc ăn mày, đẻ tới 10 đứa con điên khùng, thì người dân cả con đường Đà Nẵng (Quận Ngô Quyền, Hải Phòng) đều biết. Tôi đến đầu ngõ 239, hỏi nhà bà Nguyễn Thị Nở, chị bán hàng xáo đầu ngõ chạy ra hỏi: “Chú là nhà hảo tâm đến cho tiền bà Nở hả? Gia cảnh nhà đó đến là khổ.Trong nhà ấy có mấy trăm con ma. Chú không phòng thân, ma nó nhập, nó theo chú về thì khổ. Đấy chú xem, một ngôi nhà mà có 10 người điên. Toàn đứa đẹp đẽ, sáng sủa, mà tự dưng phát điên. Không phải ma nó làm cho điên thì ai làm?”. Sau khi đưa ra lời khuyên, thì chị mới chỉ đường cho tôi tìm vào ngôi nhà ấy. Tôi đi mãi, ngoắt ngoéo, tìm chẳng ra đường. Thấy có người lạ, cứ loay hoay, thì một bà mở cổng chạy ra chỉ giúp. Bà cũng dặn: “Nhà đó có lắm ma lắm. Hàng xóm chúng tôi cũng thương gia đình ấy, nhưng chẳng ai dám vào đâu. Sợ lắm. Đất ấy toàn ma với quỷ. Ông thầy địa lý còn bảo người Tàu yểm xương cốt người chết vào đấy, nên ai vào cũng phát khùng, phát điên”.

Căn nhà ở cuối ngách, cũ nát, tường lở loang lổ, cổng rả xộc xệch, thật khác thường so với những ngôi nhà khang trang, cao tầng xung quanh. Bà Nở mở rộng cửa, đón khách. Căn nhà tối om, lúp xúp. Màn buông. Cô con gái út tên Bích nằm còng queo trong chăn. Lạnh quá, không có quần áo ấm, nên hai mẹ con ru rú trong nhà. Bà Nở bảo, bình thường bà lang thang xin ăn, nhưng mấy hôm nay rét quá, lại được một cha xứ cho 10kg gạo mỗi tháng, nên bà ở nhà. Thôi thì ăn dè ăn sẻn cũng đủ sống qua ngày.

 

Bà Nở

Nhìn ngó mãi, tôi chẳng thấy trong căn nhà rộng chừng 30 mét vuông có thứ gì đáng giá. Có lẽ, để hoang ngôi nhà này, may ra có mấy bà đồng nát xấu bụng nhặt được mấy cái xoong méo mó. Sống giữa thành phố hoa lệ, song bà Nở vẫn đun bếp bằng củi, khói bay mù mịt, làm nức mũi hàng xóm. Bà Nở giải thích: “Gạo ăn còn chẳng có, cháu bảo lấy tiền đâu mà mua gas, mua than. Cô phải đi dọc hai bờ sông Cấm, xem có miếng củi nào dạt vào bờ thì vớt lên phơi, phơi khô thì chẻ ra, bó lại, vác về chất trong bếp đun dần. Hàng xóm xung quanh cũng tốt bụng, ai có giường tủ, bàn ghế mục nát, cũng để dành cho cô. Giường của người chết họ cũng không đốt, không thả trôi sông, mà cho cô chẻ ra đun. Mấy cái chiếu mới trải tạm xuống nền nhà để mấy mẹ con ngủ cũng là của người chết bố thí cho đấy”.

Tôi ngồi xuống manh chiếu của gia đình có người mới chết cho để trò chuyện với bà. Bà Nở ngồi thu lu ở góc nhà, đôi mắt đục buồn nhìn vào bốn bức vách. Tôi hỏi chuyện bà Nở, cô con gái Phạm Thị Bích thi thoảng lại thò đầu khỏi chăn tranh trả lời thay mẹ. Nhưng cũng chẳng rõ cô nói gì.


Tôi hỏi mấy câu về cuộc đời bà, theo thói quen, rằng đời bà lúc nào thấy khổ nhất, bà Nở chẳng biết bắt đầu từ đâu. Bà bảo: “Suốt đời cô, cô chả thấy lúc nào sướng, lúc nào cũng khổ, cũng không biết lúc nào là khổ nhất cả. Gần 70 tuổi rồi, cô vẫn phải đi ăn mày để nuôi thân, nuôi con, thì cháu bảo đến bao giờ cô mới hết khổ. Không biết, chết đi rồi, ở kiếp khác, cô có khổ nữa không nhỉ?”.

Bà Nguyễn Thị Nở sinh năm 1945, đúng vào năm cả nước chết đói, chết như ngả rạ. Quê bà ở xã Cộng Hiền (Vĩnh Bảo, Hải Phòng). Bố mẹ là bần nông. Nghèo đói, rách nát. Người mẹ sinh tới 6 người con, nhưng cả 6 người con cứ chập chững biết đi thì lăn ra chết. Bà Nở là người con thứ 7. Lúc bé Nở vừa ra đời, thì ông bố bỗng dưng lăn ra chết. Người thì đồn rằng, vợ đẻ, ông sung sướng quá nên lăn ra chết, người thì bảo ông lo nghĩ nhiều quá, sợ đứa con thứ 7 này cũng sẽ có số phận giống anh chị, nên ông lăn ra chết. Cũng có thể đói quá mà chết. Thời điểm bé Nở ra đời, nhà không có gì ăn, cả làng chết đói, thế mà cô bé Nở vẫn sống. Dân làng bảo Nở là người giời, không có gì ăn suốt một tuần mà không chết, cứ khóc oe oe. Bà Nở bảo, đời bà là vậy, sinh ra đã đói, đã khổ rồi.

Hồi bé Nở tròn 1 tuổi, đói quá, mẹ ra đồng mò cua kiếm ăn. Đang bắt cua, trời mưa, nên bà chạy về nhà xúc thóc cất đi. Bà dùng cào kéo thóc, máy bay địch càn qua làng, tưởng có người cầm súng, nên bắn xối xả. Mẹ bé Nở trúng đạn. Viên đạn xuyên từ nách xuống rốn. Bà ngoại bế bé Nở chạy sang. Mẹ bé Nở nằm chết trên vũng máu. Dân làng phải dùng dao nạy mãi mới moi được viên đạn ra khỏi nách mẹ. Bà ngoại và cậu nuôi bé Nở. Tuy nhiên, năm bé Nở 3 tuổi, bà ngoại chết. Cậu bán bé Nở cho nhà địa chủ. Bé Nở làm con ở từ đó. Năm 11 tuổi, cải cách ruộng đất, gia đình địa chủ bỏ đi nơi khác, bé Nở về ở với cậu.

Năm Nở 12 tuổi, người cậu nghèo quá, không nuôi được, nên đem Nở cho một người ở Hải Phòng làm con nuôi. Người mẹ nuôi là công nhân của nhà máy xi măng dưới Hải Phòng. Hàng ngày, Nở giúp mẹ làm công việc quét dọn trong nhà máy, rồi đun nước sôi bán kiếm thêm. Tại đây, bà Nở đã quen và lấy ông Phạm Văn Phong, là công nhân bốc vác ở nhà máy. Ông Phong quê gốc ở Hà Nội, nhưng bố theo Tây, có tội với dân tộc, nên phải bỏ nhà, dạt xuống Hải Phòng làm thuê kiếm sống.

Tôi hỏi: “Gia đình nhà hai bác, có ai bị tâm thần không?”. Bà Nở ngẫm nghĩ mãi, nhưng không thấy có ai trong gia đình mình bị tâm thần. Gia đình ông Phong xưa kia theo Tây, là địa chủ, giàu có, quyền lực và cũng chẳng có ai bị tâm thần cả. Hai con người gặp nhau, thành vợ thành chồng lúc nghèo đói, rách rưới, nhưng đều là người bình thường. Thế mà hai con người bình thường ấy lại đẻ ra tới 10 đứa con tâm thần. Thật là khó tưởng tượng!

Ngồi trong ngôi nhà lạnh lẽo, bà Nở bảo rằng, nguyên nhân 10 người con của bà bị tâm thần không phải do di truyền, mà vì trong nhà bà có… ma, thậm chí có tới 300 con ma. Bà tin rằng, ma trú ngụ nhung nhúc trong ngôi nhà tin hin của bà. Thậm chí, mảnh đất bà ở, ngay dưới cái giường vợ chồng, con cái bà ngủ bị người Tàu yểm bùa. Mà bùa ấy khủng khiếp lắm, không thể gỡ nổi.

Bà Nở bảo rằng, bà tin là trong nhà bà có ma thật, bị yểm bùa thật. Chuyện này cả cụm dân cư, cả vùng đều biết rõ rồi. Thế nên, chả có ai dám bước chân vào nhà này, chứ đừng nói đến chuyện dám đến ở. Lời bà Nở nói quả không sai. Khi tôi ngồi trò chuyện với bà, một số người hàng xóm biết, tò mò kéo sang. Tuy nhiên, họ chỉ đứng ngoài cổng dòm ngó, thi thoảng nói vọng vào vài câu, rồi lại đi mất. Chiếc cổng xộc xệch nhà bà mở toang, nhưng không thấy ai dám thò một chân vào. Người dân trong vùng sợ ngôi nhà này đến nỗi, giá trị mảnh đất vuông vắn, rộng 60 mét vuông của bà, lẽ ra có giá ngót bạc tỉ, mà chỉ được trả có… 5 triệu đồng.

Chuyện là, hồi đầu năm, một là sợ ma quỷ quá, hai là túng thiếu quá, nên bà Nở quyết định rao bán nhà để kiếm mảnh đất ở quê, cách xa chỗ này, mong những đứa con hết bị ma ám, biết đâu lại khỏi điên. Hoặc bán nhà, có tiền thì chữa bệnh cho con, còn bà ra gầm cầu Bính, Cầu Niệm, Cầu Rào trú ngụ, hay rúc vào góc chợ ở với bọn nghiện cũng được. Bà rao bán một hồi, thì có người tìm đến hỏi mua. Anh này sau khi xem xét thì trả giá 200 ngàn một mét vuông. Tính ra, miếng đất của bà, tổng cộng 60 mét vuông, vậy vị chi là 12 triệu đồng! Rẻ quá, bà không bán. Thời gian sau, lại có ông khách nữa tìm đến ngó nghiêng. Bà cứ nói thẳng là ngôi nhà này có ma, không sợ ma thì hãy mua. Anh này bảo, trời không sợ, đất không sợ, sợ quái gì ma. Tuy nhiên, vì trong nhà lắm ma, nên anh ta chỉ trả giá 5 triệu đồng. Bà Nở cứ lăn tăn, rằng sao trên đời lại có người đang tâm thế nhỉ? Thôi thì, mẹ con bà đành chấp nhận sống chung với… ma. Chứ bán ngôi nhà được mấy triệu bạc như thế, thì chỉ ăn mấy mữa là hết.

Mảnh đất chết chóc

Theo lời bà Nguyễn Thị Nở (ngõ 239, đường Đà Nẵng, Quận Ngô Quyền, Hải Phòng), gia đình nhà bà và chồng bà, là ông Phạm Văn Phong đều bình thường, ông bà cũng đều bình thường, thì không có lẽ gì cả 10 người con ông bà sinh ra đều bị tâm thần nặng. Không thể có nguyên do di truyền ở đây. Các thầy bói, thầy cúng, thầy địa lý đều khẳng định trong nhà bà con ma trú ngụ, bị yểm bùa, nên 10 người con đẹp đẽ của bà mới bỗng dưng phát điên như thế và bà tin hoàn toàn vào những lời phán đó. Chỉ đến khi những ông thầy này phán như vậy, bà mới cất công tìm hiểu ngôi nhà, mảnh đất mà bà đang ở.

Như đã nói ở kỳ trước, ông Phong, chồng bà Nở là người gốc Hà Nội, do bố theo Tây, khi cách mạng thành công, trốn biệt xứ, ông Phong dạt về Hải Phòng làm bốc vác ở nhà máy xi măng. Bà Nở quê gốc huyện Vĩnh Bảo, đi làm con nuôi, rồi quét dọn ở nhà máy xi măng, rồi nên duyên với ông Phong. Lấy nhau, hai người ở nhờ căn hộ tập thể ở Đồng Bớp. Ở đây vài năm, sinh hai người con, buồn quá, ông bà chuyển về Hà Nội ở. Ông Phong bán nhà để đi nước ngoài, nhưng thất bại, mất trắng, nên hai vợ chồng lại dắt díu nhau về Vạn Mỹ (Hải Phòng) sinh sống. Ở Vạn Mỹ thời gian, lại chuyển về Đồng Bớp. Ở đây cũng chẳng được lâu thì chuyển về tập thể ở chợ Đổ. Khi có 6 người con, thì tiếp tục chuyển nhà về Hạ Lý. Tuy nhiên, thời điểm đó, khu vực này là địa điểm xây rất nhiều chuồng xí của các khu tập thể. Không chịu nổi cảnh hôi thối, ông bà lại bán nhà chuyển về ngôi nhà hiện tại đang ở. Ngôi nhà ở Hạ Lý bán được 5 cây vàng, mua ngôi nhà này mất 3,8 cây, vẫn còn dư hơn cây để tiêu xài.

Xưa kia, ngôi nhà này ở ven đô, là một phần nhỏ trong mảnh đất rất rộng của ông Lý Hoạt. Ông này vừa là thầy thuốc vừa là thầy cúng. Giàu có, lắm tiền, nhiều bà theo, nên ông Lý Hoạt lấy rất nhiều vợ. Ông Lý Hoạt lấy tổng cộng 9 bà vợ. Phía Tây mảnh đất của ông Lý Hoạt, hiện cách nhà bà Nở độ 100 mét vốn có một cây đa và một cái miếu. Khu nhà bà Nở là vườn trồng rau, ông Lý Hoạt thường trồng su hào, cải bắp và xúp lơ. Ngày đó, không hiểu do cần tiền, hay lý do nào đó, mà ông Lý Hoạt cho đốn hạ cây đa, phá bỏ cái miếu, chia lô mảnh đất để bán một phần đất đi. Sau khi phá miếu, bán đất, thì những tai họa kinh hoàng liên tiếp diễn ra với gia đình ông Lý Hoạt. Lần lượt 8 người vợ cùng hàng loạt con cái của ông lăn ra chết. Người chết bệnh tật, người chết tai nạn. Có bà đẻ được 2 con chết cả 2, bà đẻ 3 con chết cả 3. Thậm chí, bà thứ 8 đẻ được 7 người con thì chết cả 7. Cuối cùng là cái chết của ông Lý Hoạt. Bà vợ thứ 9, không rõ tên gì, mọi người gọi theo tên chồng là bà Lý Hoạt, đẻ được một người con, đặt tên là Thanh. Sợ hãi mảnh đất nên bà cắt làm đôi bán đi rồi chuyển đi nơi khác ở. Bà Nở phải mất nhiều công sức lần tìm, mới gặp được bà vợ thứ 9 của ông Lý Hoạt và được bà này kể lại như vậy. Mấy năm trước, đúng 30 Tết, bà vợ thứ 9 của ông Lý Hoạt, đang khỏe mạnh, lên giường ngủ và không bao giờ dậy nữa. Bà ra đi rất thanh thản. Anh con trai duy nhất của bà tiếp tục bán nhà, chuyển đi đâu không rõ.

Một phần mảnh đất của ông Lý Hoạt được bán cho bà K. Bà này cắt 60 mét vuông, xây một ngôi nhà nhỏ, rộng khoảng 30 mét vuông cho con gái và con rể ở. Vợ chồng cô này sống với nhau bao năm mà chỉ đẻ được một người con gái. Tuy nhiên, đứa con này lại bị chột một mắt. Lời đồn mảnh đất có ma kinh dị quá, nên hai vợ chồng bán nhà bỏ đi miền Nam, không về nữa.

Người mua căn nhà từ cặp vợ chồng nọ là một thủy thủ tàu biển tên là Cao. Vợ anh này là giáo viên. Họ có với nhau một trai một gái. Anh Cao đi biển biền biệt, có khi mấy tháng mới về thăm vợ con một lần. Hàng xóm ai cũng ganh tị với sự giàu có của cặp vợ chồng này. Người dân đồn rằng, mỗi lần đi biển về, anh lại mang về một nắm vàng đưa vợ, đựng đầy ống bơ. Hai vợ chồng đeo vàng lủng liểng khắp người. Thế nhưng, ở được vài năm thì tai họa xảy đến. Anh chồng đường đường là một thủy thủy viễn dương, cực kỳ khỏe mạnh, sức vóc hơn người, tự dưng phát điên. Không đi tàu được nữa, anh ở nhà làm hương với vợ. Điều trị thuốc men đầy đủ, nhưng bệnh tình của anh ngày càng nặng hơn. Sợ hãi quá, vợ chồng anh này bán ngôi nhà với giá rẻ mạt cho vợ chồng bà Nở. Khi bán đất, vợ chồng anh này không nói gì đến chuyện đất ngịch, đất có “ma”, mà chỉ nói con cái lớn, cần chỗ ở rộng hơn nên bán nhà đi. Vợ chồng anh này hiện sống cách nhà bà Nở hơn cây số. Bệnh tâm thần của anh ta còn nặng hơn xưa.

Cuộc sống của ông Phong, bà Nở tuy khó khăn, chật vật vì đẻ nhiều, nhưng đầm ấm, vui vẻ. Tuy nhiên, khi chuyển về ngôi nhà này, thì tai họa liên tiếp giáng xuống gia đình. Đầu tiên là 3 người con gái đẹp như tranh vẽ của ông bà, là Phạm Thị Thái (SN 1965), Phạm Thị Dung (SN 1971) và Phạm Thị Cúc (SN 1973), đến tuổi 20, chuẩn bị lấy chồng, thì đều tự dưng lơ đơ, man mát. Dù chưa tâm thần hẳn, nhưng thi thoảng có biểu hiện khác người. Rồi bỗng dưng 3 cô con gái này lần lượt mất tích. Người thì bảo bị lừa bán sang Trung Quốc, người thì bảo bị tâm thần bỏ đi lang thang, rồi chết đường chết chợ. Mấy cô con gái này giờ ở phương trời nào, còn sống hay đã chết, bà Nở cũng không biết. Bao nhiêu năm rồi, không thấy tin tức gì cả.

Trong số 7 cô con gái, thì có hai cô lấy được tấm chồng, đó là Phạm Thị Lan (SN 1968) và Phạm Thị Tâm (SN 1969). Tuy nhiên, cuộc đời hai cô con gái này thì vô cùng bi đát. 18 tuổi, Lan đã có biểu hiện đơ đơ của người mắc chứng tâm thần. Chồng Lan lại là tay cờ bạc khét tiếng, ra tù vào tội không biết bao nhiêu lần. Hồi đẻ đứa con đầu, ông chồng vẫn đang ngồi tù. Đau buồn, nên bệnh tâm thần của Lan càng nặng hơn. Khi cậu con còn đang bú mẹ, thi thoảng Lan lại cởi trần cởi truồng bế con trốn nhà đi lang thang giữa mùa đông giá rét. Khi sinh đứa con thứ hai được 4 tháng tuổi, thì chị… điên hẳn, không lúc nào tỉnh táo nữa, đập phá tanh bành nhà cửa. Để an toàn cho bản thân chị và hai đứa con, gia đình đã phải đưa chị vào trại tâm thần ở Vĩnh Bảo. Từ khi vào trại, Lan không tỉnh táo lại được nữa. Có lẽ Lan phải chung thân với trại tâm thần. Con cái không ai nuôi, nên hiện một đứa phải gửi vào một trung tâm nuôi dưỡng nhân đạo ở Hải Phòng.

 

Sổ khám bệnh

Cô con gái nữa của bà Nở lấy được chồng là chị Phạm Thị Tâm. Chị Tâm là con thứ 4. Hồi chưa lấy chồng, cũng hơi chập chập. Thi thoảng lại bỏ đi, nhưng đang đi giữa đường tự dưng sực tỉnh, tự hỏi đường về nhà. Lúc tỉnh táo thì như người bình thường. Trong số 10 người con của bà nở, thì Tâm được coi là tỉnh táo hơn cả. Tuy nhiên, cuộc đời chị thì bi đát hơn cả những người chị, người em bị thần kinh của mình. Người chồng đầu tiên của chị là trai Hà Nội hẳn hoi. Tuy nhiên, anh này lại là con nghiện nặng. Đời chị khốn khổ với ông chồng này. Cứ đói thuốc lại nhè vợ ra đánh. Sau anh ta chết không rõ vì sốc thuốc hay AIDS. Chồng chết, chị đi bước nữa với người đàn ông ở Bắc Giang. Tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa, chị lại lấy nhầm ông nghiện. Ở với anh này được vài năm, sống chả khác gì địa ngục. Anh ta sốc thuốc chết chị mới nhẹ nợ. Người chồng thứ 3 của chị không nghiện ngập, nhưng lại có tính trăng hoa. Mấy năm trước anh ta bỏ nhà theo gái, bỏ mặc mẹ con chị Tâm. Mới ngoài 40 tuổi, chị Tâm đã qua 3 đời chồng, đẻ 6 lần, nhưng chết 2 con, chỉ còn 4. Tuy nhiên, một cậu con của chị học bố, nghiện nặng, lại bị AIDS, đang nằm chờ chết. Một cô con gái mới 15 tuổi đã theo giai, rồi mang bầu, phải lấu chồng sinh con. Chị chính thức lên chức bà ngoại. Hiện chị Tâm đi làm phu hồ, xách vữa cùng đội thợ để nuôi 2 đứa con đang tuổi ăn tuổi học và một ông con nằm chờ chết.

Trong số 7 người con gái, thì có lẽ chị Phạm Thị Hoa (SN 1976) là điên nhất. Hồi trẻ, hoa cực kỳ xinh đẹp. 20 tuổi vẫn tháo vát đi buôn hoa quả. Hồi ông Phong, chồng bà Nở chết, chị đau buồn nằm bẹp ở góc nhà, ông ăn không uống gì, cũng không đi bán hàng nữa, người gầy xọp đi, đôi mắt dần trở nên vô hồn, lúc nào cũng nheo nheo vẻ sợ hãi. Hoa đã điên khùng thực sự. Sau 3 năm nằm bẹp ở nhà, chửi bới cả ngày lẫn đêm, thì bà Nở đưa con vào trại Vĩnh Bảo nhờ nhà nước nuôi dưỡng.

Sư thầy “trục vong” bất lực với “ngôi nhà ma ám”

Ngồi trong căn nhà cũ nát vữa lở loang lổ, bà Nguyễn Thị Nở thẫn thờ: “Ngày trước cả nước mình đói ăn, mải lo kiếm sống, nên không nghĩ nhiều đến chuyện tâm linh. Lúc vợ chồng tôi để ý đến chuyện đất cát, nhà cửa, thì lần lượt con cái điên khùng hết rồi, chẳng đứa nào được bình thường nữa chú ạ. Lúc ấy dù có trở tay cũng không kịp nữa”.

Cách đây 10 năm, nghe lời khuyên của những người hàng xóm, bà Nở và ông Phong rốt ráo đi tìm thầy để xem đất cát, xem mảnh đất gia đình bà ở có vấn đề gì về tâm linh không. Thời điểm đó, ở Hải Phòng, có một vị thượng tọa nổi tiếng về tài “trục vong, diệt quỷ”, đó là Thượng tọa Thích Quảng Tùng, trụ trì chùa Dư Hàng (Quận Lê Chân, TP. Hải Phòng). Vợ chồng bà Nở lọ mọ đạp xe tìm đến ngôi chùa đẹp nhất Hải Phòng để nhờ vả thượng tọa theo mách nước của một số người. Trước mặt ông bà là một cảnh tượng mà ông bà chưa từng chứng kiến, cả trăm người lờ đờ, lơ ngơ chả khác gì đàn con của bà đang ngồi xếp hàng chờ đến lượt để được Thượng tọa Thích Quảng Tùng “trục vong”. Khi đó, niềm hy vọng trong ông bà lớn hơn bao giờ hết. Nếu thượng tọa trục được vong ma, giúp đàn con của ông bà được hồi tỉnh thì chẳng có hạnh phúc nào bằng.

Sau khi “trục vong” xong cho mọi người, bà Nở mới tiến đến gần Thượng tọa Thích Quảng Tùng. Bà Nở nhớ lại: “Tôi đến trước mặt ông ấy, ông ấy không nói gì, mà cứ nhìn tôi rất kỹ. Ông ấy bảo nghiệp nhà vợ chồng tôi nặng lắm. Vong, ma ở nhà cũng nhiều lắm, làm hại cả nhà. Ông ấy bảo không thể trục vong ở chùa một cách đơn giản như mọi người được. Ông ấy bảo tôi để lại địa chỉ, rồi cứ về, rồi ông ấy sẽ đến tận nhà tôi để xem xét giúp. Kể cũng lạ chú ạ. Ông Tùng tài thánh thật. Tôi chẳng nói câu nào, ông ấy chỉ nhìn tôi mà như là biết hết mọi chuyện về gia đình tôi”.

Đúng như lời hứa, mấy hôm sau, vào một ngày đầu thu năm 1992, Thượng tọa Thích Quảng Tùng tìm đến tận nhà bà Nở. Thượng tọa Thích Quảng Tùng quá nổi tiếng ở Hải Phòng, nên ông đi đến đâu người dân cũng biết, hâm mộ, xúm xít đi theo. Thượng tọa mang theo một hộp bát giác, một con lắc. Bà Nở nhớ lại: “Thượng tọa Thích Quảng Tùng vào nhà tôi, chẳng nói gì, ông ấy đi xuống ngó nghiêng dưới bếp, rồi cứ đứng ở chỗ cái bể nước nhìn hồi lâu. Ông ấy nhìn góc nhà, góc cái tủ cũ. Ông ấy xem xét, nhìn kỹ lắm. Tôi cũng không rõ ông ấy xem kiểu gì. Ông chẳng thắp hương, cũng không cúng bái, đọc kinh gì cả, chỉ đi lại nhìn ngó. Xem xét nhà cửa một hồi, ông ấy gọi vợ chồng tôi đến, rồi cứ lắc đầu bảo nhà này lắm ma, lắm vong, khó giải quyết lắm. Ông ấy còn bảo, ngay cái bếp, chỗ tôi đun nấu bằng củi cũng có tới 30 con ma trú ngụ. Nhìn chỗ nào trong nhà cũng thấy có ma, có khoảng 300 con ma, nên có cúng bái, trục vong ma cũng không ăn thua gì. Hồi đó, đám con điên khùng và cả mấy đứa bình thường vẫn ở nhà. Thầy Tùng bắt từng đứa ngồi thẳng lưng. Tay trái của ông đặt lên đỉnh đầu, tay phải quay con lắc nhanh dần, rồi tít mù trên mặt chiếc hộp bát giác. Cứ vừa quay con lắc, ông vừa bảo “có vong, có ma”. Rồi ông cầm cái cục gì như cục thủy tinh (cục thạch anh – PV) đặt lên đỉnh đầu mấy đứa, rồi tiếp tục quay tít con lắc trên mặt hộp bát giác. Ông ấn cục đó vào vai phải, vai trái, sau lưng, phía trên ngực trái. Khi ông đặt cục ấy vào bụng, thì những đứa con tôi hét lên sợ hãi. Thượng tọa Tùng liên tục đọc niệm chú. Ông làm như vậy với lần lượt từng đứa một. Đám con của tôi hò hét sợ hãi co rúm cả người, hét lên đau đớn. Nhìn đôi mắt trắng dã của chúng nó, tôi thấy như người khác chứ không phải con mình. Xong việc, ông ấy bảo tìm tất cả ảnh của các con đưa cho ông ấy, để ông ấy mang về chùa, tụng kinh sám hối giúp gia đình tôi, cho các vong hồn trú ngụ trong nhà tôi”.

Sau này, tôi tìm hiểu ở chùa Dư Hàng thì được biết Thượng tọa Thích Quảng Tùng không chỉ “bắt ma” trực tiếp trên cơ thể người, mà ông còn xác định “ma” và “bắt ma” qua ảnh. Những ai ở xa, không đến được chùa Dư Hàng, thì chỉ cần mang ảnh đến cho ông. Ảnh to cũng được, ảnh bé bằng ngón tay cũng được. Ông đặt tấm ảnh trên mặt bàn, một tay áp vào ảnh, một tay quay con lắc. Ông kiểm tra cũng rất nhanh, chỉ vài giây là xong một tấm ảnh. Trường hợp nào phát hiện có “vong”, thì ông yêu cầu phóng ảnh to cỡ A4, rồi đặt vào chiếc hòm trong chùa. Thậm chí, xem qua ảnh, ông cũng biết người đó còn khỏe mạnh hay đã tận số. Những “vong hồn, ma quỷ” được ông trục ra sẽ được ông giữ lại chùa, để nhà chùa tụng kinh sám hối, giúp các vong hồn siêu thoát, không ở lại trần gian hại người nữa.

Theo lời bà Nở, sau khi đưa ảnh cho Thượng tọa Thích Quảng Tùng, thì ông bảo: “Bệnh của các con bà nặng lắm rồi, không cứu chữa gì được nữa đâu. Dù có trục vong ma ra khỏi người thì cũng không khỏi được nữa. Bệnh thì nặng, hạn gia đình thì còn to lắm, chưa biết bao giờ mới hết. Tốt nhất là ông bà đưa các cháu vào trại tâm thần để Nhà nước nuôi hộ, chứ không nuôi được nữa đâu”. Nói xong, Thượng tọa Thích Quảng Tùng quay sang phía ông Phạm Văn Phong, chồng bà Nở bảo: “Ông không nuôi được chúng nó đâu. Ông đưa chúng nó vào trại đi. Ông cũng không sống lâu được nữa đâu”. Bà Nở kể: “Nghe ông Tùng nói vậy ông Phong nhà tôi còn phản ứng, bảo là tôi khỏe thế này thì chết làm sao được. Lúc đó, ông Phong nhà tôi 60 tuổi, khỏe như vâm, có ốm đau gì đâu. Nhưng thời gian sau thì ông Phong lăn ra chết thật. Không hiểu ông sư Tùng ấy là người hay là thánh nữa chú ạ!”.

Nghe lời Thượng tọa Thích Quảng Tùng, ông Phong và bà Nở mới tính đến chuyện gửi con vào trại tâm thần. Đúng thời điểm đó, ông Thanh, nguyên Chủ tịch UBND phường Cầu Tre vào thăm gia đình bà Nở. Nghe ông Phong, bà Nở trình bày nguyện vọng muốn gửi con vào trại tâm thần, ông Thanh lại thấy vợ chồng bà Nở khổ quá, vật lộn giữa đàn con điên rồ, chỉ biết hát hò, chửi bới suốt ngày đêm, nên đã làm giúp thủ tục, hồ sơ để đưa 3 người con gồm Hoa, Hoàng, Lan vào trại tâm thần ở Vĩnh Bảo để Nhà nước nuôi dưỡng. Khi 3 người con điên nặng nhất được đưa vào trại, thì vợ chồng bà Nở đỡ vất vả hơn. Vợ chồng bà cùng hai cậu con trai là Phạm Văn Đức (sinh năm 1978), Phạm Văn Hậu (sinh năm 1979) và cô út Phạm Thị Bích (sinh năm 1983) cùng mưu sinh kiếm sống. Thời điểm cách đây hơn 10 năm, 3 người con út này của bà Nở vẫn còn bình thường như bao thanh niên khác, cũng biết làm thuê làm mướn kiếm sống.

Ngay sau khi làm xong thủ tục, đưa người con thứ 3 vào trại tâm thần Vĩnh Bảo, thì ông Phong lăn ra chết, đúng như tiên đoán của Thượng tọa Thích Quảng Tùng. Thời điểm đó, ông Phong vẫn đi bơm xe, vá xe đạp, xe máy kiếm sống ở lề đường. Một hôm, đang sửa xe, thì một người đàn ông nhìn ông Phong bảo: “Tôi là bác sĩ chuyên về tim mạch. Ông bị cao huyết áp nặng lắm rồi. Ông không điều trị đi là không cứu nổi đâu, chết lúc nào không biết”. Dù vị bác sĩ kết luận ông bị cao huyết áp, song ông Phong bảo với bà Nở rằng thấy người vẫn bình thường, không khó chịu lắm. Tuy nhiên, bà Nở vẫn gom chút tiền để ông Phong đi khám bệnh. Các bác sĩ ở Bệnh viện Việt Tiệp kết luận ông Phong bị cao huyết áp rất nặng. Không có tiền chữa bệnh, mà bác sĩ lại bảo dù tốn tiền cũng khó cứu được, nên ông Phong về nhà nằm, hai vợ chồng tìm cách tính toán tiếp. Thế nhưng, ngay hôm đó, ông Phong co giật, tai biến, rồi nằm bất động. Ông nằm bất động một thời gian thì chết.

Bà Nở nhớ lại: “Hôm đó, tôi đang nấu nướng dưới bếp thì cái Hoa hét toáng lên. Bố chết rồi, bố chết rồi!”. Tôi chạy lên, thì thấy ông ấy ngừng thờ, sùi bọt mép, mắt trợn ngược. Tôi vuốt mắt cho ông ấy bảo: Ông sống khôn chết thiêng, phù hộ cho mấy đứa còn lại không bị điên khùng nữa, để tôi đỡ vất vả. Trước đó, cái Hoa vẫn bình thường, đi bán hoa quả kiếm sống. Nhưng nó chứng kiến bố chết, nó khóc lóc, hét toáng lên, rồi mất trí luôn chú ạ. Sau khi ông ấy chết, nó nằm bẹp trong nhà, không ăn, không uống gì cả, người chỉ còn bộ xương. Lúc tỉnh dậy, ăn được, thì suốt ngày hò hét, chửi bới. Nó ở nhà 3 năm thì tôi gửi vào trại Vĩnh Bảo. Đến giờ chưa có ngày nào nó tỉnh táo”.

Lần lượt phát điên

Đang kể về đàn con tội nghiệp, bà Nguyễn Thị Nở (ngõ 239, đường Đà Nẵng, TP. Hải Phòng) ngước nhìn bàn thờ lạnh lẽo khói hương. Trên bàn thờ ấy, có tấm ảnh chàng trai đẹp ngời ngời. Trông tấm hình tưởng tài tử điện ảnh, chứ ai ngỡ là chàng trai tâm thần. Đó là Phạm Văn Đức, người con thứ 7 của ông bà, mới chết được 3 năm nay. Nhắc lại cái chết của Đức, bà Nở ôm mặt khóc tu tu.

Theo bà Nở, Đức là đứa con khôn lanh, bình thường nhất của bà, là niềm hy vọng của bà cũng như cả gia đình lúc bà về già. Thế mà… Hồi đang học phổ thông trung học, Đức đi bơm xe kiếm tiền phụ giúp gia đình. Chẳng rõ mâu thuẫn thế nào, mấy thanh niên đầu gấu cầm cái bơm ném xuống sông Hạ Lý. Tiếc của, Đức nhảy xuống sông mò bơm. Một thằng đứng ở trên bờ cầm hòn đá to bằng quả bưởi ném trúng đầu Đức. Cú ném làm rách toác đầu Đức. Đức bất tỉnh trong bệnh viện, mấy ngày sau mới tỉnh. Vết rách phải khâu tới 8 mũi. Bà Nở tìm đến gia đình kia hòng bắt đền, nhưng gia cảnh nhà nó nghèo chẳng kém gì nhà bà. Bố nó chết sớm, mẹ nó thì bảo nó là thằng nghiện ngập, hư hỏng, bà muốn giết nó thì giết. Sau khi ra viện, Đức suốt ngày kêu đau đầu, chóng mặt, không đi học được nữa. Thi thoảng Đức lại lăn quay giãy đành đạch, sùi bọt mép. Càng ngày Đức càng gầy còm, xanh xao. Đức mất trí, rồi điên khùng nặng. Bà Nở phải đưa con vào trại tâm thần.

Vào trại tâm thần, bệnh Đức càng nặng hơn. Đức uống cạn cả chai nước lau nhà vệ sinh khiến viêm ruột nặng, chữa mãi không khỏi. Những lúc lên cơn, đau đớn, Đức mài mẩu sắt rạch nát cả mặt mũi, cơ thể. Và, trong một lần tỉnh táo nhất, Đức cởi áo, xoắn thành sợi thừng, vắt lên cửa sổ thắt cổ chết. Hôm Đức chết, bệnh viện gọi bà Nở đến nhận xác con về chôn, nhưng bà nuốt nước mắt bảo: “Nhà không có gì bán được để mua quan tài, cũng chẳng có đất mà chôn. Các bác thương tình thì mai táng cho cháu nó, đời này, kiếp này, tôi mãi đội ơn các bác”. Trại nuôi dưỡng bệnh nhân tâm thần mua tấm ván, rồi cho xe bò chở xác Đức ra nghĩa địa chôn. Hôm đó, bà Nở cũng đến xem họ chôn con mình, chẳng có kèn trống, chẳng có làm ma gì cả.

Từ ngày cậu con trai chết, thương xót con lắm, nhưng bà Nở cũng mới chỉ có đôi lần đi viếng được mộ con. Đó là hôm con mới được chôn và lần giỗ đầu. Giờ khu nghĩa địa hoang cỏ mọc um tùm, bà cũng không nhớ nổi con mình nằm ở chỗ nào nữa.

Bà Nở đau xót kể: “Đúng như tiên đoán của Thượng tọa T., cái hạn lớn của gia đình tôi không hết được. Ông T. bảo chồng tôi sẽ chết, rồi đám con của tôi cũng sẽ không đứa nào được bình thường. Mọi chuyện xảy ra đúng như vậy, không sai tý nào. Ông Phong thì tai biến chết, mấy đứa con đang bình thường cứ lần lượt phát điên. Hai đứa con cuối cùng của tôi, là thằng Hậu và cái Bích, đang bình thường, cũng trở nên điên khùng nốt. Thế là tôi đã mất tất cả 10 đứa con”.

Sau khi người con thứ 8 Phạm Văn Đức treo cổ tự tử trong trại tâm thần, thì đến lượt cậu con trai thứ 9 Phạm Văn Hậu nổi điên. Lý do Hậu bị điên khùng cũng giống người anh trai. Đức bị đám côn đồ ném đá vào đầu, còn Hậu bị bọn cướp đánh vỡ đầu. Hồi đó, Hậu vào Sài Gòn làm thuê. Cuối năm, kiếm được mấy chỉ vàng, thì về quê ăn Tết. Đang trên đường ra bến xe, gặp ngay bọn cướp. Chúng cướp sạch, lại đánh trúng đầu. Người dân đưa vào viện, nhưng không có tiền, không có người thân thích, điều trị không tốt, nên bị nhiễm trùng, vết thương lở loét, bốc mùi. Về nhà, Hậu kêu đau đầu, rồi nổi cơn điên. Một lần, cơn điên lên đỉnh điểm, Hậu đập phá nhà cửa tanh bành, không ai ngăn nổi. Đập phá chán thì Hậu phóng hỏa đốt nhà. Đúng lúc đó, thì cô con gái út Phạm Thị Bích, vốn đang tỉnh táo, cũng đột nhiên nổi điên, reo hò cổ vũ hành động đốt nhà của ông anh trai. Cũng may mà hàng xóm chạy sang, người xô người chậu té nước dập kịp. Bữa đó công an đến bắt Hậu nhốt ở đồn, rồi đưa vào trại tâm thần. Ở trại tâm thần một thời gian, được điều trị tích cực, nên Hậu dần tỉnh táo. Thời gian sau, Hậu được về. Hậu tìm vào Sài Gòn làm thuê làm mướn, lúc làm công nhân, lúc làm ở nhà máy gỗ, lúc làm hàn xì. Hậu đi biền biệt mấy năm nay, cũng không thấy tin tức gì.

Chúng tôi đang trò chuyện về Hậu, thì cô con gái út tên Bích của bà Nở thò đầu khỏi chăn xen vào kể chuyện. Bích kể: “Hôm nọ em đi xem bói, thầy bói bảo em có duyên với một anh già từ kiếp trước. Anh già người âm này cứ ở trong người em. Thầy bói bảo em phải cắt tiền duyên, bỏ cái duyên ấy đi thì mới lấy được chồng, nhưng mà bỏ cái duyên ấy thì lại mất hết lộc. Giờ phải làm sao anh nhỉ?”. Tôi hỏi Bích: “Thế em có người yêu chưa?”. Bích bảo: “Em yêu hai thằng rồi, nhưng em toàn bỏ thôi. Yêu một tháng thì bỏ. Chúng nó không nuôi được em. Không kiếm được mấy triệu cho em mua thuốc uống…”. Bích đang nói, thì bà Nở chen vào: “Cứ nói luyên thuyên. Thằng nào thèm lấy đứa thần kinh, để mà lại đẻ ra con cái dở hơi”. Theo bà Nở, Bích được bệnh viện Tâm thần xác nhận bị tâm thần phân liệt, nhưng uống thuốc đều đặn thì tỉnh táo lại, đỡ điên hơn. Hàng tháng, Bích vẫn tự ra phường lấy thuốc. Mỗi tháng uống 100 viên. Không uống thuốc thì không ngủ được. Bà Nở kể: “Lâu nay Bích vẫn đi bán nước ở vỉa hè, kiếm được vài đồng bạc lẻ, nhưng mấy hôm nay trời lạnh, đầu óc nó chập chập, nên cứ rúc vào chăn nằm, không đi bán hàng nữa. Nó mà điên hẳn thì tôi chẳng còn thiết sống trên đời này nữa”.

Chết mới hết kiếp nạn!

Quay lại chuyện Thượng tọa T. bắt vong. Sau khi Thượng tọa T. đến nhà bà Nở, thì thời gian sau, có 8 vị sư đỗ xe ở ngoài đường Đà Nẵng, tìm đến nhà bà khiến cả xóm náo loạn, tò mò quây lại xem. 8 vị hòa thượng này nói là đệ tử, đồng môn của Thượng tọa T. Các vị sư này đều là những người có chức sắc, có đức độ cao thâm, ở chùa Quán Sứ (Hà Nội) tìm xuống giúp đỡ gia đình bà. Lúc đó bà Nở mới biết Thượng tọa T., trụ trì một ngôi chùa Hải Phòng, nhưng lại có vị trí rất lớn của nền Phật giáo nước nhà.

Vừa vào nhà, nhìn bà Nở, một vị cao tăng luống tuổi, mắng sáng, khuôn mặt đức độ đã nói ngay với bà: “Bà này khổ lắm. Bố mẹ chết sớm, thân cô thế cô, không nhờ được ai, không còn ai thân thích. Lấy chồng thì chồng lại hết phúc. Con cái thì điên hết. Rồi sẽ tan nát hết cả gia đình. Chỉ có chết thì mới hết kiếp nạn”. Nghe vị cao tăng nói thế, bà Nở òa khóc. Những điều vị cao tăng kia nói không sai một chút nào cả. Chỉ có vài lời, nhưng đúng từ tông ti nhà bà, nhà chồng, cho đến gia cảnh hiện tại của bà. Bà Nở quỳ xuống vái vị cao tăng, nhờ ngài giúp đỡ trải qua kiếp nạn, vì khi đó mấy người con út của bà vẫn bình thường, chưa có triệu chứng tâm thần. Vị cao tăng nói tiếp: “Bà không phải đi cúng bái gì đâu, vì không giải quyết được gì cả. Đây là cái nợ phải trả từ kiếp trước, đời trước. Giờ cứ trả hết nợ cho kiếp sau đi”.

Rồi 8 vị cao tăng ngồi khoanh tròn giữa nhà, trải sách ra. Tiếng mõ, tiếng chuông vang lên coong coong. Tiếng đọc kinh râm ran cả buổi chiều. Đọc kinh xong, vị cao tăng khuyên bà Nở nên năng đi chùa, cầu kinh, kêu trời kêu Phật, để tinh thần thanh thản, sẵn sàng đối mặt với hiện tại, chứ không có cách nào vượt qua được kiếp nạn khủng khiếp này. Các vị cao tăng cũng không cứu được, chỉ có thể cúng cho nhẹ tôi hơn thôi. Lời Thượng tọa T., rồi đến 8 vị sư trên chùa Quán Sứ đến bây giờ bà Nở vẫn nhớ như in. Đó là những lời của các vị thánh. Những điều họ nói, sau này đều diễn ra cả. Bà Nở cũng xác định rõ tư tưởng và đón nhận những điều khủng khiếp nhất xảy đến với mình. Lần lượt, chồng bà, ông Phong đột quỵ, nằm liệt rồi qua đời, tiếp đó là cô con gái thứ 6 tên Hoa đang bình thường bỗng dưng tâm thần nặng, rồi tiếp đó là cậu con thứ 7 tên Đức, cũng nổi điên rất nặng, treo cổ trong trại tâm thần. Rồi tiếp tục đến cậu con thứ 9 tên Hậu nổi cơ điên phóng hỏa đốt nhà, và cô út tên Bích thấy anh đốt nhà thì cũng nổi điên vỗ tay cổ vũ. Vậy là bà Nở đã mất sạch sẽ cả đàn con 10 đứa.

Đời trước “khát máu” 

Không còn chồng, 10 người con điên hết, bà Nguyễn Thị Nở (Ngõ 239, Đường Đà Nẵng, TP. Hải Phòng) không biết dựa vào ai. Mặc dù từng là công nhân, nhưng do đẻ một đàn con điên khùng, không ai chăm sóc, nên bà Nở bỏ dở, về một cục, thành ra chẳng có lương hưu. Để có miếng ăn, bà dậy từ sáng sớm, ra vùng ngoại thành mua rau, gánh vào thành phố bán. Đi từ sáng đến đêm, kiếm được một hai chục ngàn. Đồ ăn của bà và các con là cơm thừa, canh cặn ở các nhà hàng, quán xá trong khu vực. Họ thương cảnh bà, nên dồn thức ăn thừa để bà mang về cho mấy mẹ con ăn.

Mấy năm nay, già cả, vất vả nhiều quá, nên sinh lắm bệnh tật, chân tay thường xuyên co rút, không thức khuya dậy sớm được, nên bà không đi bán rau được nữa. Có lần, quẫn quá, lúc đi qua cầu Bính, bà toan nhảy xuống sông. Nhưng dường như có sức mạnh vô hình ngăn bà lại. Bà chết rồi, không biết ai nuôi đàn con điên dở. Cũng mấy năm trước, khi đứa con cuối cùng phát điên, quẫn quá, bà uống thuốc chuột. Tuy nhiên, hàng xóm phát hiện, đã kịp thời đưa bà đi bệnh viện rửa ruột. Bà bảo: “Sinh ra vào năm 1945, đói rạc cả tuần không chết, rồi về già, tự tử cũng vẫn không chết. Có lẽ các vị sư nói đúng, kiếp trước tôi nặng nợ nhân gian nhiều quá nên kiếp này phải trả nợ cho hết. Thôi đành sống cho nốt kiếp khổ này để trả nợ!”.

Cũng may cho bà, mấy năm trước, các lãnh đạo phường Cầu Tre thương xót, giúp đỡ làm thủ tục trợ cấp cho gia đình. Hiện mỗi tháng bà và hai người con tâm thần sống cùng là Hậu và Bích được hỗ trợ mấy trăm ngàn. Mấy người con ở trại thì được Nhà nước nuôi dưỡng miễn phí. Hiện tại, bà Nở chỉ biết trông chờ vào số tiền trợ cấp này. Một vị cha xứ cũng trợ cấp mỗi tháng cho gia đình bà 10kg gạo. Mấy mẹ con bà dè sẻn ăn số gạo đó. Chẳng bao giờ bà dám tiêu pha đồng nào, mà bà tích cóp lại, để phòng khi con lên cơn điên còn có tiền mua thuốc.

Như đã nói ở các phần trước, Thượng tọa T., về ngôi nhà vợ chồng bà Nguyễn Thị Nở xem xét và khẳng định rằng, ngôi nhà có rất nhiều “ma”, có tới vài trăm con “ma”, nên 10 người con của ông bà lần lượt phát điên, rồi chồng bà tai biến đột ngột mà chết. Tuy nhiên, 8 vị sư ở chùa Quán Sứ tìm về đây, lại khẳng định rằng, do đời trước nhà ông Phạm Văn Phong, chồng bà Nở làm nhiều điều ác, nên kiếp này phải trả nợ. Vị cao tăng bảo rằng, bà Nở vốn đã khổ, bố mẹ chết sớm, thân cô thế cô, lấy chồng thì chồng lại hết phúc. Chỉ có cái chết mới hết kiếp nạn. Vị cao tăng chỉ nói vài lời, nhưng khiến bà Nở choáng váng, vì nó quá đúng. Vị cao tăng bảo rằng, đây là cái nợ phải trả từ kiếp trước, đời trước. Kiếp này cứ trả hết thì kiếp sau mới thoát nợ. Vị cao tăng sau khi nhìn mặt ông Phong thì nói rằng, đời trước nhà ông Phong có nhiều người làm quan tướng trong triều đình, chém người không ghê tay, thậm chí có cả đao phủ chặt đầu người vô tội rất nhiều, nên những đời sau phải gánh nghiệp ác do đời trước gây ra. Đến đời bố ông Phong thì lại theo Tây, phản bội Tổ quốc, làm nhiều việc ác với đồng bào, nên thế hệ sau tiếp tục phải gánh nợ. Nhớ lại lời vị cao tăng nọ, bà Nở ngồi tổng kết lại những cuộc đời bi thảm, có thể nói là tột cùng của sự chết chóc bên nhà chồng mình.

Ông Phạm Văn Phong sinh ra trong một gia đình có đông anh em. Quê gốc ở Vĩnh Phú. Bố ông Phong là chánh tổng, từng cướp đất của nhân dân rất nhiều. Sau gia đình chuyển về Hà Nội sinh sống. Cách mạng thành công, bố ông Phong, tức bố chồng bà Nở chạy trốn vào Sài Gòn, làm lái xe cho tỉnh trưởng của chế độ cũ. Vào đó thời gian, ông bị bại liệt. Người con gái út phải chăm bẵm, phục dịch người cha sống thực vật suốt 20 năm trời.

Bố mẹ ông Phong có tổng cộng 7 người con, gồm 5 trai, 2 gái. Tuy nhiên, chỉ có 1 người còn sống sót, còn lại đều chết vì bệnh tật.

Người anh cả là ông Phạm Văn Vân chết khi còn rất trẻ do bị xơ gan cổ trướng. Hiện vợ ông vẫn sống trên Hà Nội cùng duy nhất một người con gái. Tuy nhiên, cuộc sống của họ thế nào, bà Nở cũng không biết, vì chẳng bao giờ gặp họ.

Người anh thứ hai của ông Phong là ông Phạm Văn Lâm. Ông Lâm lấy vợ ở Vĩnh Phú, sinh được 3 người con. Ông Lâm cũng ốm đau dặt dẹo và chết khi còn trẻ. Ông Lâm chết vì lý do gì, bà Nở cũng chẳng biết.

Người anh thứ ba của ông Phong là ông Phạm Văn Vũ. Ông Vũ làm ở xi măng Hải Phòng. Chính ông Vũ là người đưa ông Phong về đây làm công nhân bốc vác. Ông Vũ lấy vợ ở Hải Phòng và có được 3 người con. Tuy nhiên, hồi giặc Mỹ đánh phá miền Bắc, gia đình ông trú ẩn dưới hầm, bị trúng bom. Vợ chồng ông Vũ và một người con chết tan xác tại chỗ. Hai người con may mắn sống sót được em rể ông Vũ đem vào Nam nuôi dưỡng. Giờ bà Nở cũng không biết hai người cháu này ở phương trời nào, còn sống hay đã chết.

Bà chị ngay trên ông Phong là Phạm Thị Hải, lấy chồng và sinh sống ở Sài Gòn, cũng chết sớm. Bà này bị tiểu đường rất nặng. Bà chết được thời gian, thì người chồng mắc bệnh nặng, bụng sưng to tướng, rồi lăn ra chết.

Ông Phạm Văn Phong chính là người thứ năm trong gia đình. Số phận ông Phong bi thảm còn hơn những người anh em khác. Ông chết thì đành một nhẽ, nhưng tất tật cả 10 người con điên khùng là một nỗi đau không gì sánh nổi.

Người em trai ngay tiếp sau ông Phong là Phạm Văn Vĩ. Ông này cũng bị bệnh rất nặng về gan. Ông Vĩ lấy vợ và sống ở Cát Bi, Hải Phòng. Năm 60 tuổi, gan sưng to tướng và ông đã qua đời. Vợ con ông Vĩ đưa nhau vào Sài Gòn sinh sống và biệt tăm từ đó.

Trong đại gia đình này, hiện chỉ còn duy nhất cô em út, là bà Phạm Thị Bắc là còn sống. Bà Bắc ở Hà Nội, là giáo viên. Bà này có 3 người con. Một người đi bộ đội và đã chết, một người chết vì nghiện. Bà chỉ còn cô con gái. Hồi ông Phong chết, bà Bắc về viếng. Thiêu xác ông Phong xong, bà đi luôn Hà Nội. Từ đó, không gặp lại nhau lần nào nữa. Cũng có đôi lần, bà Nở gọi điện lên, nhưng số máy không liên lạc được. Bà Nở tìm lên, nhưng bà Bắc không còn sinh sống ở đó nữa. Bà đã bán nhà, chuyển đi nơi khác. Người dân quanh vùng cũng không rõ bà đi đâu.

Bà Nở tin rằng, phúc phận của bà không có, lấy chồng thì nhà chồng mất phúc, ở mảnh đất lại nặng phần âm, nên đại gia đình bà chịu số phận nghiệt ngã. Không chỉ các vị sư nổi danh thiên hạ khẳng định ngôi nhà, mảnh đất gia đình bà ở bị ma ám, mà tất cả các ông thầy, bà đồng, đều khẳng định ngôi nhà có ma. Thậm chí, có ông thầy đến nhà bà làm lễ xong, thì sợ hãi không dám quay lại nữa.

Ông thầy này tên K., là người chuyên trấn trạch đất cát cho những gia đình chuẩn bị động thổ, xây nhà. Ở đất Hải Phòng, nhắc đến ông, nhiều người biết rõ. Ông K. vốn là bộ đội chống Mỹ. Ông bị trúng bom, thương nặng, nằm bất tỉnh nhiều ngày. Lúc tỉnh dậy, ông như trở thành người khác, có khả năng đặc biệt. Hòa bình lập lại, rời quân ngũ, ông trở thành thầy cúng, chuyên soi đất, trấn yểm. Để mời được ông, phải là những người có vị thế, hoặc quen biết, vì ông K. quá nhiều việc, đi khắp đất nước.

Cách đây 6 năm, khi bà Nở đạp xe đến nhà ông K., đang loay hoay chưa biết gọi cổng ngôi nhà vườn ven thành phố rộng mênh mông như thế nào, thì có tiếng lạch cạch trong cổng, rồi cánh cổng lớn nặng trịch mở ra. Một người đàn bà, có lẽ là giúp việc nhìn bà Nở hồi lâu rồi bảo: “Kỳ lạ thật. Lẽ ra ông chủ nhà tôi đã bay vào Sài Gòn từ sáng nay, nhưng ông ấy đã thông báo đổi vé đến tối. Ông chủ nhà tôi bảo sáng nay, đúng 9 giờ sẽ có một người đàn bà rất khổ, 60 tuổi, đạp xe đến tìm. Nhà bà này có nhiều người điên khùng nhất Hải Phòng. Tôi tò mò hỏi thật là gia cảnh nhà bà có đúng thế không?”. Nghe người đàn bà mở cổng nói vậy, bà Nở run lên bần bật. Bà vừa sợ vừa khấp khởi mừng vui. Bà nghĩ rằng đã gặp được một vị thánh lớn, có thể giúp bà và gia đình vượt qua hoạn nạn.

Cái chết của thầy pháp

Chuyện gặp ông thầy pháp tên K. 6 năm trước đến giờ bà Nguyễn Thị Nở vẫn nhớ như in và mỗi khi nhớ lại, bà rùng mình sợ hãi, không hiểu vì sao ông K. lại có khả năng thần thông quảng đại, biết trước mọi chuyện như vậy.

Theo chân bà giúp việc, bà Nở lò dò đi qua khu vườn đầy hoa trái, hòn giả sơn, những chậu cây cảnh đắt tiền. Bà bước vào ngôi nhà gỗ kiểu cổ diện kiến thầy K. Một chân thầy K. bị thương, đi lại tập tễnh. Ông thắp hương trên bàn thờ có rất nhiều tượng, những lá bùa xanh đỏ treo, dán khắp nơi. Ông không nói gì, tự tay pha nước mời bà Nở. Ông K. bảo: “Lẽ ra sớm nay tôi vào Sài Gòn để làm lễ động thổ cho một dự án xây nhà cao tầng, nhưng đêm qua, bề trên đã nói với tôi rằng, sáng nay có người đàn bà bất hạnh khổ đau bậc nhất Hải Phòng sẽ tìm đến nhà. Cứu mạng người bằng xây mười tòa tháp, nên tôi đề nghị người ta đổi vé may bay đến chiều, để tôi ở nhà tiếp bà. Bà không cần nói gì cả. Tôi đã biết rõ hết về bà rồi. Nghiệp nhà bà nặng lắm. Kiếp này phải trả nợ hết thì kiếp sau mới thoát. Việc trả nợ cho kiếp trước thì không ai làm gì được đâu. Nhưng không chỉ có vậy, đất nhà bà dữ lắm, toàn quỷ ma ẩn náu từ nhiều đời nay rồi. Tôi sẽ tìm cách giúp bà trục ma quỷ ra khỏi mảnh đất ấy, để gia đình bà được yên ổn phần nào. Giờ bà để lại địa chỉ rồi cứ về. Xong việc ở Sài Gòn, tôi sẽ tìm đến nhà bà. Tôi đã nói là làm. Tôi cũng nói trước là bà không phải mất tiền nong gì cả. Bà nghèo lắm, ăn còn chả đủ, thì lấy gì trả cho tôi”. Ông thầy K. nói vậy, rồi xua bà Nở về. Bà Nở chẳng nói được câu gì ngoài ánh mắt biết ơn ông thầy pháp ngồi trước mặt mà bà ngỡ là vị thánh sống do thiên giới cử xuống giúp bà.

Những ngày chờ đợi thầy pháp K., bà Nở bồn chồn lo lâu, mất ăn mất ngủ. Nhìn những người con ngớ ngẩn, gào thét, lòng bà quặt buốt, nhưng bà vẫn không thôi hy vọng. Bà tin thầy K. sẽ giúp gia đình bà vượt qua hoạn nạn.

Thầy K. đến thật. Thầy K. trong bộ quần áo nâu sồng. Một đệ tử đi sau, tay xách nách mang rất nhiều thứ. Thầy K. đã mua sắm đầy đủ lễ vật, hương hoa, cau trầu, tiền vàng và rất nhiều đồ vàng mã. Ông trải những lá bùa màu vàng ra chiếu, lấy bút và vẽ bằng thứ chữ mà ông gọi là chữ Thiên. Nét chữ của ông như rồng bay phượng múa. Ông sai đệ tử dán những lá bùa do ông vẽ quanh nhà, kín 4 bức tường. Những lá bùa bay phấp phới ở cửa bếp, bể nước nơi chái nhà.

Bà Nở kể: “Bày biện lễ vật, dán bùa xong, thì ông ấy đi vòng quanh nhà tôi, ngó nghiêng kỹ lưỡng dưới bếp, chỗ bể nước, nơi đống củi. Chỗ đống củi sau bể nước vốn là cái giếng cổ. Tôi sợ đám con điên ngã xuống, nên tôi lấp lại, chất củi lên kín mít, thế mà ông ấy bảo “Dưới đống củi kia có cái giếng sâu lắm, có mấy con quỷ ẩn dưới giếng đó. Bà mà không lấp giếng lại thì nó kéo hết con bà xuống đó”. Ông ấy thần thánh thật, nhìn xuyên được cả lòng đất. Ông ấy nhìn khắp nhà, sân một lượt thì bắt đầu làm lễ cúng. Cả nhà tôi ngồi sau lưng ông ấy. Mấy đứa con điên bình thường la hét dữ lắm, nhưng không hiểu sao hôm đó cứ ngồi im, mặt mũi lấm lét sợ sệt, lại còn chắp tay vái liên hồi. Ông ấy ngồi khoanh chân, đọc tiếng Tây tiếng Tàu gì tôi cũng không hiểu được. Cúng đến gần trưa mới xong. Ông ấy sai tôi đi đốt vàng mã. Tôi đốt xong vàng mã thì ông ấy về. Trước khi về, ông ấy còn bảo là “Trong nhà có nhiều ma, quỷ, nhưng đáng sợ nhất là có hai thằng Tàu chết ở đây từ mấy trăm năm trước. Hai thằng này thành tinh rồi. Bất kỳ ai ở đây nó sẽ đều bắt đi. Nó sẽ lần lượt bắt hết cả nhà bà. Nhưng giờ tôi yểm bùa nhốt nó lại rồi”. Ông ấy dặn gia đình tôi cứ yên ổn mà sống, không phải lo lắng gì nữa. Ông ấy cũng hẹn vài hôm nữa sẽ quay lại kiểm tra”.

Vài ngày trôi qua, mà không thấy thầy K. quay lại, trong khi những đứa con của bà Nở lại điên khùng nặng hơn. Sốt ruột quá, bà lại đạp xe đến nhà thầy K. Lần này gọi mãi bà giúp việc mới ra mở cổng. Bà Nở ngỡ ngàng, tưởng như không nhận ra thầy K. nữa. Hôm trước ông K. còn hồng hào, béo tốt, khuôn mặt sáng bừng, thế mà nay sọp đi, đôi mắt thâm quầng, tóc nhiều sợi bạc. Bà giúp việc bảo suốt mấy ngày nay ông chủ không ngủ, cứ ngồi chong chong nhìn lên bàn thờ niệm Phật. Ông K. nói với bà Nở: “Tôi không giúp được bà nên không đến nữa. Đêm nào hồn ma hai thằng người Tàu cùng tìm đến bóp cổ dọa giết tôi. Nó bảo tôi không được đến nhà bà nữa, nếu đến thì nó sẽ bắt tôi đi theo. Nó còn hỏi tôi rằng, nếu ai đến nhà ông đuổi ông đi, thì ông có đi không? Nó nói nhà đó là nhà của nó, nó sống mấy trăm năm ở đó rồi, nên không ai đuổi nó đi được”.

Đất dưới chân bà Nở như sụt xuống. Đang tràn trề hy vọng, bà Nở không còn biết bấu víu vào đâu nữa. Bà cũng không thể làm khó ông K. được, vì chuyện này liên quan đến mạng sống của ông.

Chừng tháng sau, bà Nở lại đạp xe đến nhà ông K., biết đâu ông lại đổi ý và giúp đỡ. Tuy nhiên, bà sốc nặng khi biết ông K. vừa chết được mấy ngày. Ông K. là thương binh, viên đạn vẫn găm trong đùi, đi lại cà nhắc, nhưng ông rất khỏe mạnh, không bệnh tật gì. Bà giúp việc bảo rằng, sau nhiều đêm mất ngủ, ông K. đột nhiên lăn ra chết, không rõ bệnh gì.

Bất lực với “ngôi nhà má ám”

Sau vụ thầy K. trấn yểm thất bại, thì có một cô ở chợ Con, là cô đồng, chuyên cúng bái, đặt bát hương tìm đến giúp đỡ. Cô này bốc 3 bát hương, 2 bát để trong nhà, 1 bát ngoài sân. Cô này bắt bà Nở chuyển bếp ra chỗ khác, không được đun ở chỗ góc nhà, vì theo cô, phía dưới có người chết. Việc đun bếp trên đầu người chết là rất kỵ. Cô này cũng không cho để xoong nồi trong nhà, vì theo cô trong nhà cũng có rất nhiều ma. Đặt bát hương xong, thấy nhà cửa tềnh toàng, cô mua cho chiếc tủ nằm để đặt bát hương, đựng quần áo, làm cho cái cửa chuồng xí, làm thêm cho cái chạn đựng bát đĩa. Cô này làm 2 mâm lễ, một để ngoài trời, một để trong nhà rồi cúng bái khá lâu. Cúng xong, cô bảo: “Nhà bà có nhiều ma quỷ ẩn náu. Tôi trình độ có hạn, không giúp được, nhưng tôi sẽ gọi chú em tôi, là thầy cao tay giúp bà”.

Đúng như lời hứa, vài hôm sau thì có thầy cúng từ mãi Thái Bình sang. Thầy cúng này là em trai của cô, trụ trì một ngôi chùa ở Thái Bình. Ông thầy này cũng xem xét quanh nhà và bảo trong nhà có nhiều ma lắm, đều đã thành tinh cả. Thầy cúng yêu cầu bà Nở phải phá bếp đi, dựng cây hương ở chỗ bếp để thờ cúng, vì dưới bếp có nhiều xương cốt. Tuy nhiên, phá bếp rồi chả biết đun nấu ở đâu, nên bà không đồng ý. Ông thầy cúng này bảo: “Bà không làm theo tôi thì khó xử lý lắm. Tôi cứ cúng giải hạn cho bà thôi, chứ không trấn yểm được đâu. Toàn ma quỷ thành tinh thế này thì làm sao mà xử lý được”. Cúng bái xong, ông thầy này đi luôn, không trở lại nữa.

Hồi năm ngoái, một vị sư cùng 2 đệ tử đi ô tô xuống nhà bà Nở. Vị sư này 60 tuổi, nó rằng đang tu ở chùa Hương. Ông đi vòng quanh nhà xem xét và bảo đất vuông vắn, đẹp đẽ, không có gì cả. Bà Nở hỏi: “Có ma quỷ gì không? Có ai trấn yểm không?”. Ông sư này bảo không có ai trấn yểm gì, cũng không có ma quỷ. Tuy nhiên, ông sư này bảo nguyên nhân đàn con điên khùng, thậm chí cả họ gặp họa, là vì con cháu để mồ mả tổ tiên thất lạc hết cả. Lời ông sư này nói không sai tý nào. Sau khi bố ông Phong, tức bố chồng bà vào Nam, con cháu mỗi người một nơi, thì mộ tổ tiên ở Vĩnh Phú bỏ hoang, rồi thất lạc hết. Giờ anh chị em chết hết, thì cũng không còn ai biết đến mồ mả tổ tiên nữa. Thậm chí, hồi Nhà nước làm đường lớn, đè lên 2 ngôi mộ tổ, cũng không ai biết mà di chuyển. Giờ đây, các thầy lại phán thêm nguyên nhân này nữa, thì bà Nở không biết phải làm gì.

                       (Nguồn: langnhincuocsong.com - Tên bài viết đã được thay đổi)

                                                                                              

 

CẢM NGHĨ KHI ĐỌC BÀI: “PHỤ NỮ À! ĐỌC ĐI ĐỂ BIÊT BẢN CHẤT THẬT CỦA ĐÀN ÔNG RỒI TỰ YÊU LẤY MÌNH” (Hương Cherry Báo điện tử lanhmanh.com, 21/11/2016,16:20)

đăng 00:33, 17 thg 1, 2017 bởi Hoàng Lê Vũ   [ cập nhật 21:47, 31 thg 3, 2017 bởi Điều Nguyễn Xuân ]



Tuyết Sơn


Ở đời, mỗi người đều có một chỗ của riêng mình, mỗi chỗ đều thích hợp với một người. Ra khỏi chỗ của mình, chẳng có gì là tốt. Đứng đúng chỗ của mình chẳng có gì là xấu.
Trên thế gian này chỉ có hai hạng người: hạng hiểu biết và hạng không hiểu biết.
Bất cứ người giàu nào cũng nuôi được xác thân, nhưng chỉ có người hiểu biết mới nuôi dưỡng được tinh thần.

Trong cuộc đời này không phải người đàn ông nào cũng xấu như những người đàn ông mà bạn đã gặp. Tốt hay xấu có chăng là do luật Nhân Quả được ứng nghiệm mà thôi!

Đứng trước những éo le mà bạn đã gặp phải, do chính người đàn ông (chưa chắc đã là xấu) của bạn gây ra, bạn cần có lòng Can Đảm, nhờ đó bạn có thể đương đầu không nao núng với những thử thách và gian nan trên con đường của mình, đó cũng có nghĩa là sự Bền chí Vững lòng. Đừng bao giờ cho phép bạn buồn bực hay nhụt chí. Nhụt chí là điều sai lầm, vì nó truyền nhiễm cho người đàn ông của bạn và làm cho đời sống của họ khó khăn và vấp ngã thêm, đó là điều bạn nên tránh và không nên làm.


Là phụ nữ, với trái tim yêu thương và đức tính dịu hiền của người Mẹ sẽ là sức mạnh chinh phục người đàn ông! Phụ nữ chớ nên có trái tim sắt đá vì “Một trái tim sắt đá còn nguy hiểm hơn cả một bàn tay đẫm máu”!


Bạn cần tránh xa tính kiêu căng, vì tính kiêu căng xuất phát từ sự dốt nát mà ra. Phải dẹp mọi ý tưởng về quyền sở hữu. Luật Nhân Quả có thể làm cho bạn mất những vật mà bạn quí chuộng thậm chí ngay trong những người mà bạn thương yêu nhất. Chúng là kết quả của những hành động trong quá khứ, và khi nó đến bạn hãy vui vẻ đón nhận, phải sẵn sàng chia lìa với tất cả mọi vật gì mà bạn đã từng yêu quý.

Chúng ta có thể làm cho cái tốt hoặc cái xấu mạnh hơn bằng cách nghĩ đến nó. Nếu nghĩ xấu về người đàn ông của bạn, thì bạn đang làm sai ba việc một lúc:

1- Bạn đang gieo rắc quanh mình những tư tưởng xấu xa thay vì những tư tưởng tốt lành, và do đó bạn đang làm cho đời bạn khổ não nhiều thêm.

2- Nếu đúng người đàn ông đó có điều xấu xa làm cho bạn luôn nghĩ tới, thì bạn đang làm cho nó mạnh lên và tính xấu đó ngày càng được nuôi dưỡng; và như vậy thì bạn đang làm cho người đàn ông của bạn trở nên xấu xa hơn thay vì làm cho tốt lành hơn. Nhưng thường thì người đàn ông không có điều xấu xa đó, mà chỉ tại bạn luôn tưởng như vậy thôi, thế rồi tư tưởng độc ác của bạn đã có tác động xúi giục làm cho người đàn ông ấy làm việc xấu. Cho nên nếu người đàn ông của bạn chưa tốt lành, bạn có thể làm cho họ tốt lành bằng chính tư tưởng trong sáng của bạn.

3- Bạn làm cho tâm trí của mình tràn đầy những tư tưởng xấu về tất cả đàn ông thay vì những tư tưởng tốt, và như thế bạn tự cản trở sự trưởng thành của chính mình, tự làm cho mình có hình ảnh xấu xí, đau thương thay vì những hình ảnh tốt đẹp và yêu thương. Để có được tư tưởng tốt lành, bạn cần kịp thời sửa chữa chính mình, bạn không thể thay thế ai làm được điều này cho bạn!

Minh triết khiến bạn giúp đỡ được người khác, ý chí dẫn đường cho Minh triết và lòng Yêu thương gợi lên ý chí. Ý chí, Minh triết và lòng Yêu thương là ba món quà của Tạo hóa ban tặng cho loài người. Nếu bạn muốn chứng minh bạn thực sự là con người, là Phụ Nữ, bạn phải biểu lộ ba phẩm chất đó trong đời!

Đừng trách Đàn Ông. Đàn ông không phải ai cũng “xấu xa” như bạn đã nghĩ và đã gặp trong sự lựa chọn “tối ưu” của bạn ở cuộc đời này! Có thể là sự lựa chọn “nhầm lẫn thơ ngây” đầu tiên!

Chúng ta đều biết: Mọi phát minh sáng tạo vĩ đại trong nhiều lĩnh vực trên thế giới qua nhiều thời đại chủ yếu là do “Đàn Ông”! Tình yêu là cả cuộc đời của người Phụ nữ, nhưng chỉ là một phần của người Đàn ông, vì Đàn ông chúng ta còn rất nhiều việc phải gánh vác, còn cả một sự nghiệp đang phải cố gắng phấn đấu hoàn thành trong một đời người!

Nhà bác học nguyên tử PIE QUYRI đã từng viết: “Người Mẹ cố giữ lấy tình yêu của Con, chính vì thế làm cho Con trở nên ngu dại. Người Phụ nữ khi yêu thì luôn muốn độc chiếm người mình yêu và sẵn sàng hy sinh một nhân vật giỏi nhất trần gian để đổi lấy một giờ ái ân… Trong cuộc sống chúng ta luôn luôn phải đấu tranh với họ, nhưng họ có ưu thế hơn bời vì họ viện cớ luật tự nhiên để lôi kéo chúng ta trở về với họ”.

Qua những điều chia sẻ của bạn, với những kinh nghiệm thực tế và những bài học xác đáng đã cho mọi người thấy để làm tròn bổn phận của người Đàn ông thì quả là một thử thách lớn! Nếu Đàn ông có “Hư” một tí thì Phụ nữ nhẹ nhàng chỉ bảo, chớ có dại mà “trì triết, nghiệt ngã” thì Đàn ông sẽ hiểu và chịu lắng nghe . Bạn nên tin rằng, với khả năng chinh phục và hiểu biết sâu sắc của mình thì người Đàn ông của bạn sẽ tiến bộ, dù có “Hư” một tí nhưng không đến nỗi “Hỏng” như bạn nghĩ. Nên tháo bỏ những xiềng xích mà bấy lâu nay bạn đã đang áp dụng với người Đàn ông của mình, đó là điều kiện tuyệt vời giúp choTình yêu của bạn được chắp cánh!



“Trái tim nhìn được những điều mà con mắt không thể nhìn thấy”.


Hà nội, 9.I.2017



https://lanhmanh.com/tam-su/phu-nu-doc-di-de-biet-ban-chat-cua-dan-ong-roi-tu-yeu-lay-minh-70667.html

"THỜ LONG HOA DI LẶC" - TÀ ĐẠO BỊ XÓA SỔ Ở VIỆT NAM

đăng 19:57, 28 thg 12, 2016 bởi Hoàng Lê Vũ   [ cập nhật 19:27, 4 thg 4, 2017 bởi Điều Nguyễn Xuân ]


Cách đây gần 20 năm, ở miền Bắc Việt Nam xuất hiện một tín ngưỡng thờ cúng gọi là "Thờ Long hoa Di lặc". Giáo chủ của tín ngưỡng này là một phụ nữ, sinh năm 1937, người tỉnh Tuyên Quang.

Về hình thức, giáo phái "Thờ Long hoa di lặc" có những điểm rất xảo quyệt: trên bàn thờ bày ảnh lãnh tụ Hồ Chí Minh, bên cạnh là cờ Tổ quốc (Cờ đỏ sao vàng). Giữa là các bát hương và đồ cúng lễ.

Giáo phái "Thờ long hoa di lặc" không có giáo lý tôn chỉ cụ thể, không có kinh kệ. Mục đich dựng bàn thờ là để lễ bái, nhất là lúc trong gia đình có người bị ốm bệnh, họ không cho đi bệnh viện hoặc mời thấy thuốc, mà chỉ cần lấy một chai nước để lên bàn thờ, thắp hương cúng bái, sau đó cho người bệnh uống nước cúng là xong. Có nhiều gia đình vì đi theo con đường tà đạo này mà đã bị chết người.

Qua một thời gian, những hoạt động này đã bị tố cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng. Đứng trước tình hình đó chính quyền đã vào cuộc. Nhưng khi chính quyền đến những gia đình theo giáo phái này để xử lý, nhìn lên bàn thờ thấy ảnh "lãnh tụ Hồ Chí Minh" và "Cờ đỏ sao vàng"", đã ái ngại và lúng túng trong cách giải quyết vụ việc!

Nhưng rất may, nhờ sự sáng suốt của Chính quyền Nhân dân đồng thời với sự kiên quyết và nỗ lực hành động của lực lượng An ninh, cùng với sự lên án mạnh mẽ của đồng bào, nên chỉ trong một thời gian ngắn, tà đạo "Thờ long hoa di lặc" đã bị đập tan, không có thời cơ ngóc đầu dậy!

Qua sự kiện trên đây, đồng bào chúng ta cần nhìn rõ bản chất của "Thờ long hoa di lặc" là một trò mê tín dị đoan, "mượn đạo để tạo đời". Cái nham hiểm nhất của giáo phái này là đã lấy ảnh của lãnh tụ và cờ Tổ quốc làm bình phong, che đậy cho những việc làm đen tối, nhằm mê hoặc và huỷ hoại cuộc sống bình yên của cộng đồng, làm ảnh hưởng tới an ninh chính trị của đất nước!

Hòa thượng Thích Thanh Từ
(Ngài họ Trần), là hậu duệ của Phật hoàng Trần Nhân Tông đã viết:

"Mê tín là lối tin mù quáng khiến con người mất hết trí thông minh. Những kẻ chủ trương mê tín là người làm hoặc loạn thế gian, đưa Dân tộc lùi lại bán khai. Môt tôn giáo chân chính, một dân tộc văn minh, không cho phép mê tín len lỏi trong tín đồ mình, trong Dân tộc mình. Thế mà, đồng bào chúng ta, trong Phật gáo chúng ta, tệ đoan mê tín vấn còn nhiều".

Ngài còn nói về đồng cốt: " Đồng cốt là hiện tượng mê hoạc khủng khiếp. Những kẻ làm ông đồng, bà cốt đều là người sống trong trạng thái bất thường. Bản thân họ đã mất hết khả năng tự chủ, họ bị sai sử bởi một ma lực nào đó. Khi ma lực ấy dựa vào họ, liền lạm dụng các danh hiệu thánh, nhưng bậc vĩ nhân của thuở xưa dùng mạo xưng để lừa bịp người đời. Những kẻ yếu vía dễ tin nghe xưng danh hiệu Phật, Bồ tát hay những vị tiên thánh liền khiếp đảm kính tin. Họ không dám phê phán đó là Tà hay Chánh. Thế rồi, họ một mực quỳ mọp để được phong chức hay nhận phép lành. Họ bị gạt bằng những danh hão trong cõi vô hình, hoặc bằng những bùa tà phép lạ, những huyễn hoặc về quá khứ vị lai. Từ đây họ sống bằng ảo vọng mơ huyền, mất hêt lý trí thực tại. Chúng ta phải khám phá dẹp tan những lối mê hoặc ấy". (THÍCH THANH TỪ . Mê tín chánh tín. NXB Tôn giáo 2004).

Ngày nay, trong cộng đồng chúng ta cũng đang có hiện tượng nhen nhóm một số những hình thức lễ bái mang màu sắc "Mượn đạo để tạo đời, buôn thần bán thánh". Ở trong những "ngóc ngách" đầy sự rối rắm này, chúng ta luôn phải tỉnh táo để tránh không bị lạc vào những ngõ cụt tối tăm của sự mê muội!

"Cái xảo quyệt nhất của Con Quỷ là làm cho mọi người tin rằng không có nó"!

Kẻ nào vì lợi ích cá nhân mà cố tình làm những việc tổn hại tới lợi ích của Tố quốc, của Dân tộc thì đều phải gánh luật "Nhân Quả"!

Hà nội, 19.12.2016 Tuyết Sơn

Nhà nghiên cứu khoa học tiên phong và dũng cảm

đăng 21:50, 31 thg 8, 2016 bởi Hoàng Lê Vũ   [ đã cập nhật 05:24, 9 thg 12, 2016 ]



NGUYỄN PHÚC GIÁC HẢI
Nhà nghiên cứu khoa học tiên phong và dũng cảm



MẤT VIỆC VÌ HAM THÍCH NGHIÊN CỨU NGOẠI CẢM.


Nguyễn Phúc Giác Hải hiện nay là một trong những người tiên phong trong lĩnh vực tìm hiểu điều kỳ lạ của con người. Vì đam mê nghiên cứu nên ông sẵn sàng chấp nhận tất cả để theo đuổi đề tài tâm huyết của mình. Ông Hải sinh năm Giáp Tuất, 1934 vào giờ Chính Ngọ, chính tay nhà tử vi nổi tiếng thời đó là Phạm Ứng Long (Nhì Lùng) lập lá số cho cậu bé, theo đó cậu bé này lắm tài, nhưng phạm tuần triệt cả hai cung Quan Lộc và Điền Trạch, một chút may mắn là “tuần triệt đắc địa”.

Hồi nhỏ đi học say mê môn vật lý và có ý định theo học ngành này. Đang là học sinh đã biết sáng tác truyện thám hiểm Tây Nguyên, tưởng tượng ra cuộc chiến tranh sinh tử giữa Voi và Sư tử. Truyện sau đó được in, được một người lớn đọc xong khen, nhưng cũng chê… vì Tây Nguyên làm gì có sư tử. Ông Hải nhớ lại, lúc ấy rất xấu hổ, nên quyết tâm lao vào học thêm môn sinh vật.

Ông Hải kể rằng: “Từ ngày tốt nghiệp Đại học Sư phạm về dạy ở trường Bổ túc Công Nông tôi đã ham mê nghiên cứu về những khả năng kỳ diệu của con người, như khả năng ngoại cảm, khả năng chữa bệnh từ xa… Khi được về làm việc ở Uỷ ban Khoa học Nhà nước tôi như cá gặp nước, ngoài công việc ở viện tôi còn lao vào nghiên cứu các hiện tượng lạ như chữa bệnh không dùng thuốc của cụ Nguyễn Đức Cần… Nào ngờ, có người không tin những gì tôi nghiên cứu là có thật, họ còn cho tôi là lợi dụng khoa học để tuyên truyền mê tín dị đoan và quyết định cho tôi ra khỏi biên chế nhà nước”.

Khoảng năm 1974, ông Hải chú ý đặc biệt về khả năng chữa bệnh kỳ lạ của cụ Trưởng Cần, vì hồi ấy chưa thể công khai nên ông âm thầm tiến hành nghiên cứu tìm hiểu. Một lần ông giới thiệu cho một quan chức đến cụ Trưởng Cần chữa bệnh và có hiệu quả. Đùng một cái ngày 19-5 tại họa đến, báo chí Hà Nội cho rằng cụ Trưởng Cần hành nghề “mê tín dị đoan”, phê phán việc làm của “một lão phù thuỷ và nhà khoa học”. Sau đó cơ quan xét kỷ luật ông Hải, nếu như ông nhận khuyết điểm thì chỉ bị xử lý nhẹ, tuy nhiên ông không đồng ý ký biên bản vi phạm pháp luật, nên giữa năm 1976 người ta buộc ông thôi việc.


MẤT VỢ VÌ MẤT VIỆC

Đúng là họa vô đơn chí!
Cú sốc không chỉ mình ông gánh chịu, vợ ông và hai con ông cũng vô cùng hoang mang… Thời bao cấp, bản lý lịch và biên chế nhà nước như hai lá bùa hộ mệnh. Ông nói: Có người gợi ý với tôi rằng muốn giữ được lý lịch trong sạch cho vợ con thì chỉ có con đường tốt nhất là … ra toà ly dị! Và vợ chồng tôi đã nghe theo như vậy!?”.

Nào ngờ cuộc ly hôn giả hoá thật! Năm 1977, bà vợ ông không chịu đựng nổi cuộc sống vất vả, nên đã mang theo một đứa con rời Hà Nội đi tìm đường sống.

Khi còn là một nhà nghiên cứu, nguồn thu nhập chính của ông là viết báo về lĩnh vực ông say mê am hiểu là những tiềm năng con người, được độc giả đón nhận, nhưng từ khi nhận “án”, không tờ báo nào dám đăng bài của ông. Không kiếm tiền bằng ngòi bút được ông phải tự xoay xở ngày luyện thi đại học, đêm tay kìm tay búa làm đồ chơi trẻ con bán lấy tiền mua gạo và đóng góp nuôi con. Ông làm thơ về cái thời đen tối của mình:

Cũng kìm cũng búa cũng như ai
Khoa học đem ra chế đồ chơi
Con trẻ phen này đà thích thú
Giáo dục mầm non hẳn kịp thời.

Nhà nước phong người chức Giáo sư
Còn ta há chịu kém người ư?
Luyện thi mấy trẻ ta là giáo
Không vợ mười năm hẳn là Sư…


SỐNG LÀ PHẢI CÓ NIỀM TIN

Ông Hải nói trong hoạ có phúc, vì bây giờ ông được tự do nghiên cứu những gì trực giác mách bảo. Ngày ngày ông miệt mài đến thư viện đọc sách. Sau ngày giải phóng ông có dịp vào TP Hồ Chí Minh lục tìm trong các thư viện. Một số sách của ông viết trước đây được cho tái bản, có tiền, ông dành dụm tất cả để mua sách, đặc biệt mua được hai bộ Kinh Dịch của Ngô Tất Tố và của Phan Bội Châu. Từ đó ông bước vào nghiên cứu Kinh Dịch và ngộ ra rất nhiều điều.

Năm 1990 đơn khiếu nại của ông Hải đã đến được tay Phó Thủ tướng và ông được phục hồi công việc nghiên cứu khoa học. Nguyễn Phúc Giác Hải vui vẻ kể lại: Tôi vô cùng cảm động vì cuối cùng công việc nghiên cứu về tiềm năng con người của tôi đã không vô ích và có nhiều người hiểu. Điều ấy là quan trọng nhất! Tôi vô cùng sung sướng được tham gia cùng các đồng nghiệp và không đặt ra bất kỳ điều kiện gì về án kỷ luật 15 năm của tôi!

Ông tự kết luận chân lý cuộc đời: "Người ta sống trên đời là phải có niềm tin, cho dù ngày hôm nay có đen tối như thế nào đi chăng nữa, làm khoa học thì càng phải có bản lĩnh"!


CHUYỆN LẠ VIỆT NAM

Hiện nay ông giữ cương vị chủ nhiệm bộ môn Dự báo tại Trung tâm Nghiên cứu Tiềm năng Con người ( nay là Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu và Ứng dụng tiềm năng con người-BT) thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học Kỹ thuật Việt Nam. Ông dành thời gian nghiên cứu về Nguyễn Bỉnh Khiêm, nhà lý học nổi tiếng thế kỷ XV-XVI của nước ta, giải mã một số điều thú vị về Sấm Trạng Trình.

Giải thích vì sao ông quan tâm đặc biệt đến vấn đề dự báo và tiên tri, ông cho biết: “Đây là một vấn đề bí ẩn lớn nhất của khoa học. Vì sao một nhà ngoại cảm, không dựa vào những quan trắc nào lại có thể biết trước mọi điều sẽ xảy ra trong tương lai. Phải chăng trong vũ trụ đã có chứa một trường thông tin về vấn đề đó? Hiểu biết về vấn đề đó cũng chính là hiểu biết về mối quan hệ giữa con người và vũ trụ”.

Ông Nguyễn Phúc Giác Hải đang là cố vấn cho chương trình “Những chuyện lạ VN” trên VTV3, từ đó người ta thường gắn luôn thành tên của ông, đúng cả nghĩa đen và nghĩa bóng


ĐI TÌM TÊN NƯỚC VIỆT NAM

Ông Nguyễn Phúc Giác Hải nói:
“Đã từ lâu trong sách giáo khoa của ta không hề nhắc gì đến sự ra đời của quốc hiệu Việt Nam. Tên Việt Nam có từ bao giờ. Trong khi đó “Đại bách khoa toàn thư Anh” (Encyclopaedia Britannica, 1992 đã viết như sau: “Năm 1802, một triều đại mới đã hình thành ở Việt Nam (Đại Việt), do Nguyễn Phúc Ánh, một thành viên của hoàng tộc nhà Nguyễn ở Huế. Ông đã xoá bỏ được nhà Tây Sơn và thống nhất được đất nước. Nhà Thanh lúc bấy giờ là thời của Gia Khánh Hoàng đế, đã nhìn nhận vấn đề này như một việc đã rồi, nhưng một cuộc tranh cãi đã nảy ra về tên gọi của đất nước mới này. Nguyễn Phúc Ánh đề nghị gọi tên là Nam Việt, nhưng nhà Thanh đã đảo ngược hai chữ và đề nghị là Việt Nam. Cuối cùng hai bên đã nhất trí và Nguyễn Phúc Ánh trở thành vua của Việt Nam”. Một số sử liệu khác cũng nói vậy.

Một lần, khi nghiên cứu các tư liệu về nhà tiên tri Nguyễn Bỉnh Khiêm, tôi thấy hai chữ Việt Nam đã có trong tư liệu này. Điều đó làm tôi băn khoăn: Liệu Đại bách khoa toàn thư Anh và các sử liệu khác ghi như vậy có đúng không? Đó chính là lý do để tôi từ năm 1991 là một người “ngoại đạo” “nhảy sang” nghiên cứu lịch sử”.

Với đức tính trung thực và chính xác của người nghiên cứu khoa học, Nguyễn Phúc Giác Hải đã lặn lội khắp trong Nam Ngoài Bắc để tìm những cứ liệu lịch sử. Điều ông rất tâm đắc là tới nay ông đã tìm thấy trên những bia đá có khắc hai chữ Việt Nam trước năm 1802. Đó là những tấm bia ở Chùa Bảo Lâm (1559); Chùa Phúc Thánh (1604); Thuỷ Môn Đình (1670)… Những cứ liệu này vô cùng quan trọng để tìm ra nguồn gốc tên gọi Việt Nam có từ bao giờ và ai đặt tên? Đây là cả một vấn đề lớn của lịch sử.

Ông cho biết dự định có đủ tiền sẽ bay sang thư viện Hoàng gia Anh, theo ông, ở đó còn lưu giữ được tấm bản đồ của một người Hoa trong đó có rất nhiều tư liệu quý để tiếp tục hành trình tìm danh xưng, quốc hiệu của dân tộc Việt.

Nhìn vào đôi mắt ông, dù đã hơn 70 tuổi, trải bao thăng trầm mất mát trong cuộc đời mà vẫn thấy niềm tin và khoa học!

(Nguồn: Viện Nghiên cứu và Ứng dụng tiềm năng con người)


TIN BUỒN

Viện Nghiên cứu và Ứng dụng tiềm năng con người
và gia đình vô cùng thương tiếc báo tin

Nhà nghiên cứu Nguyễn Phúc Giác Hải, Sinh ngày 28-11-1934, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu và Ứng dụng tiềm năng con người, mắc bệnh hiểm nghèo, mặc dù được gia đình và các bác sĩ chăm sóc tận tình, song do tuổi cao sức yếu đã tạ thế vào hồi 14 giờ 27 phút ngày 27-8-2016 (tức ngày 25 tháng 7 năm Bính Thân) tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Xô, hưởng thọ 83 tuổi.

NHÀ SỬ HỌC NGÔ SĨ LIÊN

đăng 21:43, 31 thg 8, 2016 bởi Hoàng Lê Vũ   [ đã cập nhật 19:51, 5 thg 12, 2016 ]




Ngô Sĩ Liên người làng Chúc Lý, huyện Chương Đức (nay thuộc huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây). Là sử thần đời Lê, ông đã góp phần công sức chủ yếu trong việc soạn thảo
Đại Việt sử ký toàn thư - bộ quốc sử đầu tiên của Việt Nam được khắc in vào cuối thế kỷ 17 và còn lại nguyên vẹn cho tới ngày nay.

Theo các tài liệu mới được công bố gần đây, Ngô Sĩ Liên tham gia khởi nghĩa Lam Sơn khá sớm, cùng với Nguyễn Nhữ Soạn (em cùng cha khác mẹ với Nguyễn Trãi) giữ chức vụ thư ký trong nghĩa quân, nhiều lần được Lê Lợi cử đi giao thiệp với quân Minh trong những thời kỳ đôi bên tạm hòa hoãn để củng cố lực lượng.

Rất đáng tiếc, về năm sinh và năm mất của ông, hiện nay vẫn chưa được biết thật đích xác, nhưng theo Đại Việt lịch triều đăng khoa lục thì ông thọ tới 98 tuổi, đỗ tiến sĩ khoa Nhâm Tuất, niên hiệu Đại Bảo thứ 3 đời Lê Thái Tông (1434 - 1442). Đây là khoa thi đầu tiên được triều đình tổ chức lễ xướng danh, yết bảng; các vị tiến sĩ tân khoa được vua ban mũ áo, vào cung dự yến, được ban ngựa quý để đi dạo chơi thăm phố xá kinh kỳ, được "ân tứ vinh quy" với lễ đón rước rất trọng thể. Và sau này, theo lệnh vua Lê Thánh Tông, họ tên lại được khắc vào bia đá, đặt ở Văn Miếu, để "làm gương sáng cho muôn đời".

Sau khi thi đỗ, Ngô Sĩ Liên đã từng giữ các chức Đô ngự sử dưới triều Lê Nhân Tông, Lễ bộ Hữu thị lang, Triều liệt đại phu kiêm Quốc Tử Giám Tư nghiệp, kiêm Sử quan tu soạn dưới triều Lê Thánh Tông. Đóng góp to lớn mà Ngô Sĩ Liên còn để lại cho đời sau chính là bộ Đại Việt sử ký toàn thư mà ông đã biên soạn theo lệnh nhà vua và đã hoàn thành vào năm Kỷ Hợi, niên hiệu Hồng Đức thứ 10 đời Lê Thánh Tông, gồm 15 quyển, chia thành hai phần:

Phần một (ngoại kỷ), gồm 5 quyển, chép từ thời Hồng Bàng đến hết thời Bắc thuộc (năm 938). Phần hai (bản kỷ) gồm 10 quyển, chép từ thời Ngô Quyền dựng nước (năm 938) đến khi vua Lê Thái Tổ lên ngôi (năm 1428).
Bài tựa "Đại Việt sử ký ngoại kỷ toàn thư" cũng do Ngô Sĩ Liên viết, có đoạn nêu rõ: "Trộm nghĩ: may gặp buổi thịnh trị, tự thẹn không chút báo đền, nên không tự nghĩ sức học kém cỏi, lấy hai bộ sách của các bậc tiên hiền làm trước đây, sửa sang lại, thêm vào một quyển Ngoại kỷ, gồm một số quyển, gọi là Đại Việt sử ký toàn thư. Trong bộ sách này, về sự việc, có việc nào trước kia quên sót thì bổ sung vào; về thể lệ có lệ nào chưa thật đúng thì chỉnh lý lại; về văn có chỗ nào chưa ổn thì đổi thay đi; thảng hoặc có việc nào hay việc nào dở có thể làm gương khuyên răn được thì góp thêm ý kiến quê kệch ở dưới... Tuy những lời khen chê ấy chưa có thể làm công luận cho muôn đời về sau nhưng may ra cũng có thể giúp ích phần nào cho việc tra cứu tìm hiểu...". Qua những đoạn trích trên đây cũng có thể thấy được đôi nét tổng quát về quan niệm, bút pháp sử học... của Ngô Sĩ Liên.

Bộ "Đại Việt sử ký toàn thư" hiện đang lưu hành, tuy do Ngô Sĩ Liên khởi thảo (hoàn thành vào năm 1479), nhưng đã được các sử thần các đời khác như: Vũ Quỳnh, Lê Tung, Phạm Công Trứ, Lê Hy... hiệu chỉnh bổ sung thêm. Phần đóng góp chủ yếu của tiến sĩ họ Ngô vào bộ quốc sử lớn này là: đặt tên cho bộ sách là Đại Việt sử ký toàn thư, được triều đình và các đời sau chính thức công nhận. Cuốn Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên đã dựa vào Đại Việt sử ký của Lê Văn Hưu và Đại Việt sử ký tục biên của Phan Phu Tiên. Ông viết thêm 1 quyển thuộc Ngoại kỷ, trình bày lại tiến trình lịch sử của Việt Nam từ họ Hồng Bàng cho tới khi quân xâm lược Minh bị đánh đuổi về nước; viết Tam triều bản kỷ, sau này được đưa vào phần Bản kỷ toàn thư và Bản kỷ thực lục; viết bài tựa Đại Việt sử ký ngoại kỷ toàn thư, biểu dâng sách Đại Việt sử ký toàn thư, phần Phàm lệ Đại Việt sử ký toàn thư; viết những lời bình luận (hiện còn thấy 166 đoạn) có ghi rõ "sử thần Ngô Sĩ Liên viết"... Khác với phần lớn các lời bình của Lê Văn Hưu hoặc Phan Phu Tiên, những đoạn bình luận lịch sử của Ngô Sĩ Liên thường dài hơn, do đó cũng thường cặn kẽ hơn, sinh động hơn; nhiều đoạn có thể coi như lời tổng kết cả một giai đoạn lịch sử. Những dòng ca tụng các bậc trung thần nghĩa sĩ vì nước quên thân; những lời chỉ trích các hành động tham bạo của kẻ gian tà, những lời tố cáo vạch trần những âm mưu quỷ kế của kẻ thù được viết với ngọn bút tài hoa của Ngô Sĩ Liên vốn là người học sâu biết rộng, có ý thức vươn tới sự hoàn thiện như Sử Mã (Sử ký của Tư Mã Thiên), Lâm kinh (Kinh Xuân Thu do Khổng Tử san định), thực sự đã làm cho biết bao thế hệ người đọc đời sau cảm phục sâu sắc.

Bộ Đại Việt sử ký toàn thư là một cống hiến to lớn của Ngô Sĩ Liên vào kho tàng văn hóa dân tộc.



(Nguồn http://thptngosilienbg.edu.vn)




Thiên nhiên làm dịu não và chữa trị cho cơ thể của bạn

đăng 01:58, 25 thg 7, 2016 bởi Hoàng Lê Vũ   [ đã cập nhật 02:16, 28 thg 7, 2016 ]

Thiền giữa thiên nhiên tươi đẹp như thế này, đem lại cho cơ thể những cảm giác trải nghiệm đặc biệt!


Tác giả: David Suzuki | Dịch giả: TCM

23 Tháng Năm , 2016


Nói chung não của chúng ta không tiến hóa ở các thành phố. Nhưng chỉ trong một vài thập kỷ sắp tới, gần 70 phần trăm dân số thế giới sẽ sống trong môi trường đô thị. Mặc dù chúng ta thường liên hệ thành phố với sự thịnh vượng, nhưng đô thị hóa là một thách thức lớn đối với sức khỏe. Các thành phố, cùng với đời sống nhộn nhịp hối hả, có thể gây căng thẳng. Và các hệ quả đang được nhận thấy trong bộ não và hành vi của những người lớn lên hoặc đang sống ở thành phố.

Xét về mặt tích cực, cư dân thành phố nói chung đang giàu có hơn và nhận được chăm sóc sức khỏe, dinh dưỡng và vệ sinh tốt hơn so với người dân nông thôn. Nhưng ở khía cạnh tiêu cực, họ đang tăng nguy cơ mắc các bệnh mãn tính, trong một môi trường xã hội nhiều đòi hỏi hơn và áp lực hơn, và sự bất bình đẳng cũng sâu sắc hơn. Trong thực tế, người dân thành phố có nguy cơ cao hơn 21% đối với các rối loạn lo âu và gia tăng 39% khả năng gặp các rối loạn cảm xúc.


Một nghiên cứu được công bố trên tạp chí Nature đã cho thấy mối liên hệ giữa cuộc sống thành phố với việc dễ bị stress trong các mối quan hệ xã hội. Hình chụp MRI cho thấy việc tiếp xúc nhiều hơn với môi trường đô thị có thể làm tăng mức hoạt động ở hạch hạnh nhân, một cấu trúc não liên quan đến cảm xúc như sợ hãi và tiết ra các hormone liên quan đến stress. Theo nghiên cứu, hạch hạnh nhân “có liên quan mạnh mẽ đến các chứng bệnh rối loạn lo âu, trầm cảm, và các hành vi khác như bạo lực đang gia tăng ở các thành phố”.


Các nhà nghiên cứu cũng phát hiện rằng những người sống ở các thành phố trong 15 năm đầu đời của họ có sự gia tăng hoạt động ở một khu vực của não giúp kiểm soát hạch hạnh nhân. Vì vậy, nếu bạn lớn lên ở thành phố, bạn có nhiều khả năng trường kỳ tạo ra sự nhạy cảm với stress hơn những người chuyển đến ở đó khi đã trưởng thành.


Tác giả, giáo sư David Gessner nói chúng ta đang biến thành loài động vật có chủ yếu là cơ vân co rút nhanh. Nó giống như chúng ta có một đồng hồ báo thức cứ rung chuông trong não của mình mỗi 30 giây, bào mòn khả năng tập trung dài hơn của chúng ta. Cuộc sống đô thị yêu cầu chúng ta phải thường xuyên lọc thông tin, tránh xao lãnh, và đưa ra quyết định. Chúng ta dành quá ít thời gian để não hồi phục.

Làm thế nào để chúng ta làm cho mọi thứ chậm lại? Thiên nhiên dường như là câu trả lời. Giả thuyết của nhà nhận thức tâm lý học David Strayer là “hòa mình vào thiên nhiên cho phép phần vỏ não trước trán, trung tâm chỉ huy của não, giống như một cơ (bắp) bị sử dụng quá mức, được giảm tải và nghỉ ngơi”.


 Thành phố Crescent, California, Mỹ (Ảnh: Steve Carter/Unsplash.com)

Nghiên cứu cho thấy thậm chí chỉ những tương tác nhỏ với thiên nhiên cũng có thể làm dịu não của chúng ta. Gregory Bratman của Đại học Stanford đã làm một thí nghiệm trong đó người tham gia được chia làm 2 nhóm đi bộ trong 50 phút, một nhóm đi bộ trong môi trường thiên nhiên và một nhóm đi bộ trong môi trường đô thị. Những người đi bộ trong thiên nhiên đã thực sự giảm lo lắng, suy tư, và cảm xúc tiêu cực và tăng trí nhớ.

Đội nghiên cứu của Bratman nhận thấy rằng đi bộ trong môi trường tự nhiên có thể làm giảm sự ngẫm nghĩ, một thói quen không lành mạnh nhưng rất thông dụng, cứ suy nghĩ tới nghĩ lui về nguyên nhân và kết quả của những trải nghiệm tiêu cực. Nghiên cứu của họ cũng cho thấy hoạt động thần kinh trong một khu vực của bộ não liên quan đến nguy cơ mắc bệnh tâm thần đã được giảm xuống đối với những người tham gia đi bộ trong thiên nhiên, không như những người đi bộ trong môi trường đô thị.

Ảnh: Samuel Zeller/Unsplash.com

Các nhà nghiên cứu Hàn Quốc nghiên cứu sự khác biệt trong hoạt động của não khi tình nguyện viên chỉ nhìn vào khung cảnh thành thị so với khung cảnh thiên nhiên. Đối với những người xem khung cảnh đô thị, hình ảnh MRI cho thấy lưu lượng máu đến vùng hạch hạnh nhân đã tăng lên. Ngược lại, đối với những người xem những cảnh thiên nhiên thì khu vực của não liên quan với sự đồng cảm và vị tha lại đột nhiên sinh động lên.

Tại Nhật Bản, các nhà khoa học nhận thấy những người dành nhiều thời gian trong tự nhiên – gọi là “shinrin-yokuor” nghĩa là “tắm rừng” – họ hít vào cơ thể “những vi khuẩn có lợi, các loại tinh dầu có nguồn gốc thực vật, và các ion âm-tính” tương tác với vi khuẩn đường ruột giúp tăng cường hệ thống miễn dịch của cơ thể và cải thiện cả sức khỏe tâm thần và thể chất.

Seven Mile Beach, Sydney, Úc. (Ảnh: Rafael Leão/Unplash.com)

Thường xuyên dành nhiều thời gian trong thiên nhiên không phải là phương thuốc trị bách bệnh cho sức khỏe tâm thần nhưng đó là một phương cách phụ trợ thiết yếu cho sức khỏe và tâm lý. Thiên nhiên giúp chúng ta trụ vững và hồi phục trước những thử thách trong cuộc sống. Ngay cả các cư dân đô thị cũng có thể tìm thấy thiên nhiên ở gần mình – một khu vườn, một công viên gần nhà, hay một con đường – để cho bộ não đã quá tải của họ có chút giải lao.

Hãy dành tình yêu cho bộ não – cho cơ thể của chúng ta. Hãy đi ra ngoài!


Rönningesjön, Täby, Thụy Điển. (Quỹ: Julia Caesar/Unplash.com)

Mỗi mùa xuân, Quỹ David Suzuki kêu gọi công dân Canada tham gia vào cuộc thi dành nhiều thời gian ngoài trời hơn để tốt cho sức khỏe và tâm thần. Thử thách 30 x 30 với thiên nhiên yêu cầu người tham gia dành ít nhất 30 phút mỗi ngày ngoài thiên nhiên trong 30 ngày trong tháng 5. Khi tham gia 30 x 30 tại 30×30.DavidSuzuki.org bạn sẽ nhận được nghiên cứu mới nhất về lợi ích sức khỏe từ việc dành thời gian ở với thiên nhiên cùng các bí quyết thực tế để có thêm thời gian “xanh” vào thời gian biểu hàng ngày của bạn.


Trolltunga, Na Uy. (Ảnh: Julia Caesar/Unplash.com)

Được viết với sự đóng góp của Aryne Sheppard, Chuyên gia cao cấp về giao tiếp công chúng (senior public engagement specialist) của quỹ David Suzuki. Bài viết này được đăng tại Nature calms the brain and heals the body


ĐẦU XUÂN, NÓI CHUYỆN “DÂNG SAO GIẢI HẠN” VÀ NHÂN QUẢ Ở ĐỜI

đăng 19:17, 1 thg 3, 2015 bởi Hoàng Lê Vũ   [ đã cập nhật 19:36, 1 thg 3, 2015 ]

THIÊN LƯƠNG



Cứ vào dịp đầu xuân, những người nước ngoài tại Việt Nam sẽ rất ngạc nhiên với lòng hướng Phật, sùng đạo của người Việt khi chứng kiến cảnh “ngựa xe như nước, áo quần như nêm” (truyện Kiều), với cơ man là hương khói, vàng tiền, lễ lạt...tại các đền chùa, nhất là những nơi có tiếng là linh thiêng bấy nay. Họ sẽ càng kinh ngạc hơn khi tận thấy cảnh cả ngàn người kiên nhẫn và kính cẩn ngồi chật kín trong và ngoài khuôn viên nhiều ngôi chùa, tràn ra hết cả lòng đường suốt đêm để làm các khóa lễ “dâng sao giải hạn”. Cầu kỳ hơn, nhiều gia đình khá giả và doanh nghiệp, người buôn bán còn tìm đến các thầy, các vị trụ trì có tiếng để đặt lễ và lên lịch mời đến tận nhà làm với chi phí hàng chục, hàng trăm triệu đồng. Thiết nghĩ, việc cầu cúng, xin giải hạn xấu, mong cầu bình an là nhu cầu tự thân chính đáng. Tâm lý cầu may, tránh rủi, chuộng sự phú quý, thành đạt cũng là sự thường của người đời. Nhưng hiểu cho thật đúng về điều này và làm thế nào để có được bình an, may mắn thật sự cho mình và người thân thì không phải ai cũng tường tận.

Quan niệm xưa về sao hạn chiếu mệnh

Thật ra, trong giáo lý gốc của nhà Phật vốn không có khái niệm “sao xấu, sao tốt” và cũng chưa từng tồn tại hình thức lễ gọi là “dâng sao giải hạn”. Việc này xuất phát từ quan niệm và tín ngưỡng dân gian, lan truyền từ Trung Quốc thông qua người gốc Hoa, người Minh Hương sang làm ăn và sinh sống tại Việt Nam từ vài trăm năm nay. Theo quan niệm này, mỗi tuổi vào một năm nhất định có một ngôi sao chiếu mệnh. Tất cả có
9 sao, gọi là “cửu diệu”, trong đó có 3 sao tốt: Thái Dương, Thái Âm, Mộc Đức; 3 sao xấu: La Hầu, Kế Đô, Thái Bạch; 3 sao nửa tốt nửa xấu: Vân Hán, Thổ Tú, Thủy Diệu. Các sao này được lập thành bảng để tra cứu cho những người có độ tuổi khác nhau. Cùng một năm, phụ nữ và đàn ông lại có sao chiếu mệnh khác nhau. Nếu năm nào có sao xấu chiếu mệnh, sẽ gặp sự rủi ro, hay bị ốm đau, bệnh tật..., từ đó sinh ra nhu cầu cúng vì sao đó, gọi là lễ “dâng sao giải hạn”! 

Tùy từng gia chủ mà mức độ, chi phí cho lễ cúng khác nhau, nhưng có cùng một cách chung về bài trí, đăng nến, màu sắc và nội dung bài vị cho việc cúng mỗi sao. Có người cầu kỳ còn cũng lễ hàng tháng trong cả năm 12 tháng, với quan niệm cho rằng mỗi sao chỉ xuất hiện và “tiếp nhận lòng thành” của người dâng cúng vào mỗi ngày (âm lịch) nhất định trong tháng đó. Cụ thể là: sao La Hầu: ngày mùng 8 ; sao Thái Bạch: ngày 15; sao Kế Đô: ngày 18; sao Thổ Tú: ngày 19; sao Thủy Diệu: ngày 21; sao Mộc Đức: ngày 25; sao Thái Âm: ngày 26; sao Thái Dương: ngày 27, và sao Vân Hán cúng ngày 29 hàng tháng. Để giản tiện hơn, ngày nay người ta thường lễ vào dịp đầu xuân hay ngày Tết Nguyên tiêu (Rằm Tháng giêng) hàng năm. 

Trong số “cửu diệu”, với mỗi sao và trong từng năm nhắt định, quan niệm người xưa cho rằng tác động và ảnh hưởng đến thân chủ khác nhau. Người chẳng may gặp sao Thái Bạch dễ thất bại trong chuyện làm ăn, thất thoát hao hụt tiền bạc, đất đai, luôn phải đề phòng tiểu nhân; gặp sao La Hầu cũng dễ bị rủi ro, hao tán bạc tiền; gặp sao Kế Đô thì không may, hay gặp tai họa, tai nạn bất thường, dễ bị “họa tòng khẩu xuất” (họa từ nói năng mà ra); gặp sao Thổ Tú thì đỡ hơn, nhưng hay gặp chuyện thị phi, đề phòng kẻ tiểu nhân và lục đục chuyện gia đình. Người đàn ông gặp sao Thủy Diệu làm ăn tấn tới, nhưng tránh chuyện thị phi; phụ nữ thì tránh sông nước, cẩn thận chuyện chửa đẻ và bệnh phụ nữ. Nếu gặp sao Vân Hán thì nên kiềm chế tâm tính, tránh nóng nảy, khẩu thiệt; nếu gặp các tranh chấp, kiện tụng dễ hao tài và bất lợi so với đối thủ. Sao Mộc Đức là sao lành, thuận cho việc gây dựng cơ nghiệp, liên quan đến gỗ, cây cối, thuận cho các nghề nông nghiệp. Nếu may mà gặp sao Thái Âm thì dễ làm ăn, nhiều tài lộc, thuận nhất là chuyện mua bán hoặc gây dựng điền sản, nhà cửa; riêng phụ nữ cần đề phòng bệnh khí huyết và lúc sinh nở. Sao Thái Dương lợi nhiều hơn cho đàn ông: dễ có quý nhân phù trợ, người trên nâng đỡ, đi xa càng nhiều tài lộc, công danh thăng tiến; phụ nữ gặp sao này cũng tốt, nhưng không được bằng đàn ông.

Quan niệm thì là thế, nhưng cho đến nay giới nghiên cứu cũng chưa ai lý giải được tường tận, mà chỉ coi đó như một tập tục dân gian được lưu truyền với mong muốn “cầu lành, tránh dữ”. Nói cho công bằng, khái niệm “hạn” ở trong lễ “dâng sao giải hạn” cũng mơ hồ và không chính xác. Chữ “hạn” nguyên nghĩa Hán- Việt, là chỉ: một khoảng thời gian, hạn mức, giới hạn... nào đó, vốn được dùng trong việc định hạn khoảng thời gian trong các sách Dịch lý phương Đông như: Tử vi, Bát tự, Hà Lạc. Ví như: Đại hạn (10 năm), Niên hạn (1 năm), Nguyệt hạn ( 1 tháng), Nhật hạn ( 1 ngày), Thời hạn ( 1 canh giờ). Rồi nó dần bị biến nghĩa, trở thành: sự xui xẻo, rủi ro, bất hạnh, không may....cho gia chủ như người ta thường nói “gặp hạn” hay “vận hạn”. Thế nên, lễ này nói đầy đủ phải là “lễ giải vận hạn xấu” mới thật đúng ý nghĩa chính xác của nó.

Vậy nếu chăm cúng dâng sao có giải được vận hạn xấu không ? Điều này thật ra là do quan niệm và nhận thức của mỗi người. Vả lại, tâm lý bất an như đang hiện diện thường trực trong cuộc sống hôm nay cũng làm dậy lên cơn sóng “dâng sao giải hạn” với suy nghĩ “có thờ có thiêng, có kiêng có lành”. Nhưng không lẽ trên bầu trời xa tít tắp kia có những vì sao có thể ảnh hưởng đến “ họa, phúc, thọ, yểu” của mỗi con người trên quả địa cầu này? Thật ra, trong Dịch lý phương Đông, thiên văn cổ Trung Hoa, với các môn Tử Vi, Hà Lạc, Tử Bình... cũng có khái niệm “sao” (còn gọi bằng nhiều danh tự Hán – Việt là “tinh”, “diệu”, “thần” , “đẩu”), và vô số vì sao ấy được bố trí theo những quy luật phức tạp trong các Tinh đồ hay Tử vi viên chứ đâu chỉ có 9 ngôi sao kia ? Nhưng nếu bàn về việc này cần nhiều bài viết kỹ càng mà dung lượng tờ báo không cho phép, nên xin hẹn quý vị vào một dịp khác.

Luật nhân quả và cách ứng xử ở đời

 Xưa có câu “họa phúc có nguồn, phải đâu một buổi?”. Hiểu cho đúng thì các khóa lễ nói trên nên coi là lễ cầu an, cầu phúc; cũng chỉ nên làm vào đầu xuân năm mới. Muốn cầu an thì chính tâm mình phải an, làm việc phúc mới được hưởng phúc, không nên lo lắng thái quá hay ỷ vào việc năm nay gặp sao tốt hay xấu. Nếu may gặp sao tốt mà chủ quan, thiếu phấn đấu, bất cẩn trong mọi sự thì kết quả làm sao tốt được? Còn với người chẳng may gặp sao xấu mà cẩn trọng, khôn ngoan, cư xử mực thước, hướng thiện thì mọi chuyện trong năm hà cớ gì lại không có kết quả tốt đẹp ? Bởi vậy, rất nên tránh việc “lợi bất cập hại” trong việc quá quan tâm đến việc cúng dâng sao giải hạn mà coi nhẹ hay bỏ qua việc hành xử đúng đắn của chính mình trong cả một năm. 

Sâu sắc hơn nhiều quan niệm triết học khác, giáo lý nhà Phật dựa trên căn bản là luật Nhân- Quả, mà nói cho thật đầy đủ là Nhân - Duyên - Quả. “Nhân” ví như hạt giống, nhờ “Duyên” mà phát khởi và sinh sôi; “Quả” là cái kết do gieo “Nhân” mà có được . Cuộc sống của một cá nhân, hay nói rộng ra là một cộng đồng, một đất nước hay dở tốt xấu đều do nhân quả mà ra. Mỗi người, khi gieo cái “Nhân” tốt hay xấu thì nhất định người ấy phải nhận lấy kết quả tương ứng mà mình đã gieo; còn muốn hóa giải cái “Quả” xấu thì không gì bằng chính cái tâm và cách hành xử tạo phúc, hướng thiện của mình trong đời. 

Không ít người còn cho rằng, nếu đem nhiều tiền, nhiều lễ lạt vào đền chùa hay năng cúng sao giải hạn thì tật bệnh bất xâm, tai qua nạn khỏi, công danh phú quý luôn được thăng tiến ? Suy nghĩ vậy có phần quá giản đơn, dung tục mà không hiểu rằng “thiện căn ở tại lòng ta”, chính là gắn với đạo nhân quả của nhà Phật. Vả chăng đức Phật cũng đã từng phổ độ với chúng sinh rằng: “ Ta không có khả năng ban bố phước lành và cũng không giáng họa cho bất kỳ ai; tất cả việc xấu tốt ở đời là do nghiệp báo và nhân quả của các con mà thôi!” . Rõ ràng là: nhân, duyên và quả là một triết lý hướng thượng, vô cùng sâu sắc và mang tính khoa học, phản ánh quy luật thường hằng của tự nhiên và vũ trụ muôn loài; chứ không có tính ban bố hay thưởng phạt từ một đấng thần tiên hay quyền năng vô hình nào đó. Trong cuộc sống này, chúng ta hãy tĩnh tâm và lạc quan đón nhận những thành quả, niềm vui sướng hoặc sự thất bại với nỗi khổ đau, bởi chúng chính là kết quả do mình tạo cái nhân từ dĩ vãng trước đó. Nếu không biết phục thiện, bất chấp luật nhân quả thì xã hội và cuộc sống thật bất ổn và đáng sợ. Nó chỉ dung dưỡng và khuyến khích sự tham- sân – si lan tràn không giới hạn. Nhiều người dễ trở nên liều lĩnh, hành động càn quấy, dám bất chấp mọi hậu quả để đạt được tham vọng ích kỷ của mình. Kẻ ấy có thể bằng quyền lực, tiền tài và thủ đoạn tránh né được tòa án thế gian, nhưng làm sao trốn chạy được chính lương tâm mình?

Một cách giản dị hơn, trong dân gian xưa các cụ cũng thường răn dạy cháu con những điều mang đậm triết lý nhân - quả và mang tính cảnh báo như: “gieo gió thì gặt bão” hay “đời cha ăn mặn, đời con khát nước”, “sóng trước đổ đâu, sóng sau đổ đấy”.... Đức Phật thì dạy : “cứu một mạng người phúc đẳng hà sa” (cứu một người, một thân phận sẽ tạo phúc nhiều như cát sông) chính là việc khuyến thiện trong đời. Ngày nay, biết hướng Phật tại Tâm, biết “tri” cho sáng láng và “hành” cho khôn ngoan mới là đích đến đúng đắn nhất của mỗi người Việt trong giai đoạn nhiều biến động này của đất nước.


---------------------

Châu bản triều Nguyễn đã được đón nhận “Bằng di sản tư liệu” thuộc chương trình Ký ức Thế giới Khu vực Châu Á - Thái Bình Dương của UNESCO

đăng 18:55, 23 thg 12, 2014 bởi Hoàng Lê Vũ   [ đã cập nhật 18:58, 23 thg 12, 2014 ]


Châu bản triều Nguyễn


Sáng 30/7/2014, Cục Văn thư và lưu trữ Nhà nước – Bộ Nội vụ đã tổ chức Lễ đón nhận Bằng di sản tư liệu Châu Bản triều Nguyễn thuộc Chương trình ký ức thế giới khu vực châu Á– Thái Bình Dương tại Trung tâm Hội nghị quốc tế, Hà Nội. 





Bộ trưởng Bộ VHTT&DL Hoàng Tuấn Anh đến dự Lễ đón nhận Bằng di sản tư liệu Châu Bản triều Nguyễn thuộc Chương trình ký ức thế giới khu vực châu Á– Thái Bình Dương


Trước đó, ngày 14/5/2014, tại Hội nghị toàn thể lần thứ 6 Chương trình Ký ức thế giới khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, hồ sơ “Châu bản triều Nguyễn” chính thức được ghi danh vào danh mục Di sản tư liệu Chương trình Ký ức thế giới khu vực Châu Á – Thái Bình Dương của UNESCO.


Châu bản triều Nguyễn là các tài liệu hành chính hình thành trong hoạt động quản lý nhà nước của triều Nguyễn (1802-1945), bao gồm các văn bản do các Hoàng đế ban hành, văn bản do các cơ quan trong hệ thống chính quyền đệ trình lên Hoàng đế phê duyệt bằng mực son và một số văn kiện ngoại giao. Châu bản là các tài liệu gốc, duy nhất có bút tích phê duyệt của các Hoàng đế triều Nguyễn với các hình thức ngự phê phong phú và độc đáo như: Châu điểm, Châu phê, Châu khuyên, Châu mạt, Châu sổ...


Châu bản triều Nguyễn là tư liệu lịch sử quý giá với Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung. Trong phát biểu của mình, bà Katherine Muller – Marine bày tỏ lòng biết ơn và chúc mừng những người tham gia quảng bá, tuyên truyền và giữ gìn tư liệu quý giá, đồng thời bà cũng cho rằng Châu bản triều Nguyễn có ý nghĩa quan trọng với bất kì ai, vì nó đưa chúng ta ngược dòng lịch sử hơn 100 năm trước, qua đó tiếp cận với nên văn hóa, chính trị, những cam kết lâu dài về văn hóa, khoa học, và những cam kết ngày nay vẫn rất mạnh mẽ.

Có thể khẳng định rằng, Châu bản triều Nguyễn là khối tài liệu hành chính duy nhất còn lưu giữ được của một vương triều phong kiến ở Việt Nam, có giá trị nổi bật về nội dung bởi những thông tin phong phú, phản ánh toàn bộ lịch sử, đời sống kinh tế xã hội, con người Việt Nam thời kỳ bấy giờ.


Hơn thế nữa, Châu bản triều Nguyễn còn mang tính xác thực mạnh mẽ vì được ban hành và tiếp nhận, xử lý bởi chính các Hoàng đế triều Nguyễn. Hiện tại, Châu bản triều Nguyễn đang được lưu giữ tại kho lưu trữ chuyên biệt với điều kiện bảo quản tiêu chuẩn, được số hóa, phiên dịch, tóm tắt sang Tiếng Việt nhằm tạo điều kiện cho độc giả, các nhà nghiên cứu dễ dàng tiếp cận.




Bà Katherine Muller – Marine trao bằng Di sản tư liệu Châu bản triều Nguyễn cho lãnh đạo Bộ Nội vụ



Châu bản triều Nguyễn không chỉ có giá trị về mặt văn hóa, mà còn là bằng chứng lịch sử và pháp lý khẳng định chủ quyền Biển Đảo Việt Nam. Phát biểu tại buổi lễ, Bộ trưởng Bộ VHTT&DL Hoàng Tuấn Anh nhấn mạnh: “Châu bản triều Nguyễn mang giá trị lịch sử vô giá về chủ quyền lãnh thổ, biên giới, biển đảo của đất nước ta, việc Châu bản triều Nguyễn được UNECO công nhận là di sản tư liệu thế giới càng làm tăng thêm giá trị của Châu bản triều Nguyễn trong việc khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa, Trường Sa”.

“Triều Nguyễn đã nâng tầm quản lý Trường Sa, Hoàng Sa lên vị thế cao nhất, tất cả các văn bản liên quan đến Hoàng Sa, Trường Sa đều được báo cáo lên nhà vua và được phê chuẩn. Đồng thời, những Châu bản đã cho thấy phương thức quản lý, thể hiện chủ quyền mạnh mẽ của triều Nguyễn đối với Hoàng Sa, Trường Sa, từ việc cử các đoàn thuyền, đến việc thám hiểm, đo đạc. Đây là những nét thú vị, mang tính phát hiện cao,” Giáo sư, Nhà giáo Phan Huy Lê chia sẻ.

Nguồn honguyenvietnam.org
Hà Phương - Mai Anh vov.vn

Tham khảo thêm về những nhận xét của các nhà KH về TS Vũ Bằng (Tiếp theo ý kiến của ông Sỹ)

đăng 09:16, 19 thg 10, 2014 bởi Hoàng Lê Vũ   [ cập nhật 08:13, 27 thg 11, 2014 bởi Điều Nguyễn Xuân ]

Cảm nghĩ sau khi đọc báo “Người giữ lửa” số 56 - 61

Ngọc Tuân (CHQ -TPHN)



Là người học Thiền Trường sinh học dưỡng sinh và là  bạn đọc thường xuyên của Báo
Người Giữ Lửa từ những ngày đầu, tôi chưa một lần bỏ sót một số báo nào. Một trong những chuyên mục mà tôi quan tâm nhất là chuyên mục “Từ thân thể đến tâm hồn”. Trong số các bài báo đã đăng từ trước tới nay, tôi đặc biệt ấn tượng với loạt bài viết có tiêu đề Thiền dưỡng sinh - “bảo bối” đẩy lùi bệnh tật và sự thấu rõ về “cõi âm” được đăng liên tục trong 11 kỳ báo, trong đó Thầy Nguyễn Xuân Điều - Trưởng Bộ môn Trường sinh học dưỡng sinh thuộc Trung tâm UNESCO văn hóa dòng họ và gia đình Việt Nam đã trả lời phỏng vấn của báo Người Giữ Lửa.


Qua 11 kỳ báo, Thầy Nguyễn Xuân Điều đã trả lời rất nhiều câu hỏi và cung cấp rất nhiều thông tin quý giá có liên quan vấn đề Thiền dưỡng sinh cũng như Thế giới vô hình. Tôi cho rằng 11 kỳ báo đó đã chứa đựng lời giải thích cho rất nhiều những câu hỏi, thắc mắc về những câu chuyện và hiện tượng lạ trong cuộc sống mà hiện nay rất nhiều người đang vướng phải. Chả thế mà 11 kỳ báo này, mỗi kỳ tôi đều mua 10 tờ với mục đích để dành tặng dần cho anh em, bạn bè mới tiếp cận môn Thiền.


Gần đây, trên báo Người Giữ Lửa từ số 56 đến số 61 đăng loạt bài viết với tiêu đề: “Bi kịch của một kỹ sư trưởng dầu khí trắng tay, mất vợ và tầm quan trọng của đất ở”. Sau khi đọc xong 6 kỳ báo, bản thân tôi có một số suy nghĩ như sau:


Từ kỳ 1 tới kỳ 4, nội dung câu chuyện mà ông Sỹ chia sẻ là câu chuyện rất chân thực và cách lý giải của Thầy Nguyễn Xuân Điều là rất chính xác. Tuy nhiên, ở kỳ 5 và 6, với sự xuất hiện của ông tiến sỹ V.B cùng với quan điểm và cách giải thích của ông, theo tôi là có rất nhiều điểm không hợp lý. Tôi xin chỉ ra một số điểm như sau:





Trước hết, ông V.B cho rằng mọi vấn đề rắc rối, ốm đau, bệnh tật...đều có thể lý giải được là do từ trường, tia đất xấu gây ra và có thể dùng máy móc đo được tia đất này chứ không có linh hồn nào cả! Nếu vậy thì các tôn giáo lớn trên thế giới vẫn luôn đề cao tới vấn đề như: Siêu thoát, lên thiên đàng, ...chỉ là hữu danh vô thực?! Việc linh hồn có tồn tại hay không tôi nghĩ mỗi người chúng ta đã tự hiểu.


Thứ hai, thuật ngữ “tia đất” phải được hiểu như thế nào, đây là tia vật lý (hồng ngoại, laser, cực tím, phóng xạ...) hay tia gì mà chiếc máy cầm tay của ông lại đo được. Chắc hẳn đây phải là một chiếc máy rất hiện đại và thuộc loại “hiếm có, khó tìm” thì mới có khả năng đặc biệt như vậy. Nếu đã là đo đạc bằng thiết bị, máy móc thì phải có thông số, kết quả. Vậy căn cứ vào đâu để khẳng định tính chính xác của kết quả đo đạc?


Thứ ba, cách giải thích của ông tiến sỹ V.B về trường hợp của ông Sỹ cũng có nhiều mẫu thuẫn và không rõ được vấn đề. Ông V.B nói rằng: “cơ chế gây bệnh của tia đất xấu rất “hiểm”...chính vì thế ông ta bị tia đất xấu tấn công hệ thần kinh dẫn đến không làm chủ được bản thân, lao vào lô đề, cờ bạc”. Câu hỏi ở đây là vì sao ông Sỹ từ một người cán bộ mẫu mực, có uy tín, con đường công danh rộng mở, tiền bạc không thiếu, vợ con đề huề như thế mà lại chơi lô đề trong khi các môn cờ bạc tệ nạn khác ông chẳng hề tham gia! Hơn nữa, người bạn chung mảnh đất với ông cũng là một người được đánh giá là liêm khiết, không cờ bạc, nhậu nhẹt bao giờ, tiền bồi dưỡng công trông nom giúp việc xây dựng mà ông Sỹ đưa còn chẳng lấy. Vậy mà ông bạn lại vay tiền để bí mật đi chơi đề. Như vậy là ông Sỹ và bạn của ông đều có điểm trùng nhau. Cả hai người đều là cán bộ nhà nước có uy tín, không ham mê cờ bạc, không gặp khó khăn về kinh tế hay nợ nần để phải hy vọng kiếm tiền từ lô đề. Rõ ràng việc chơi đề không phải là ý thích của hai ông mà là một thứ gì đó sai khiến và thôi thúc con người ta phải làm những việc không phù hợp với hoàn cảnh cũng như tính cách vốn có của mình. Theo lẽ thông thường người ta chỉ lao vào lô đề khi trong người đã có sẵn “máu đỏ đen”, không chịu lao động chân chính hoặc là người đang túng quẫn, đường cùng về kinh tế. Và cũng thật khéo trùng hợp khi trước đó chủ đầu tiên của mảnh đất là cũng là người đã treo cổ tự tử vì phá sản do chơi lô đề.


Giải thích cho sự trùng hợp niềm đam mê này, ông V.B cho rằng “khi cấu trúc hệ thần kinh giống nhau, bị cùng biên độ từ trường tác động, dẫn đến suy nghĩ trùng nhau là điều rất dễ hiểu”. Nói là rất dễ hiểu nhưng thú thật tôi không hiểu cái cấu trúc hệ thần kinh mà ông V.B nói ở đây là cái gì mà khi bị cùng biên độ từ trường tác động dẫn đến có suy nghĩ giống nhau. Nếu vậy sau khi bạn ông Sỹ treo cổ tự tử bất thành tại sao sau đó một thời gian dài vẫn chưa thấy ông Sỹ treo cổ tự tử (hoặc là có ý định như vậy)! Một điểm dáng chú ý nhất ở đây là ông Sỹ và bạn ông sau khi xây xong nhà trên mảnh đất ấy, bạn ông Sỹ chưa ở nhà này ngày nào, đang ở nơi khác mà đã thắt cổ “tự tử”. Còn ông Sỹ làm xong nhà, cho thuê và ông cũng chưa đến ở.


Cách giải thích của ông V.B cũng sẽ bế tắc với nhiều trường hợp có những căn nhà mà các thành viên trong căn nhà ấy gặp hết tai họa này đến tai họa khác. Nhiều tai họa hoàn toàn do tác nhân bên ngoài đưa tới, không hề bắt nguồn do việc tia đất ở căn nhà đó tác động lên “cấu trúc hệ thần kinh”. Chẳng hạn như tai nạn khi đi các phương tiện công cộng, bị phương tiện giao thông khác đâm vào hoặc bị móc túi, cướp giật khi đi trên đường...những tai nạn do khách quan mang tới.


Thứ tư, ông TS V.B nói dấu hiệu để phát hiện nơi mình đang ở có tia đất xấu có thể qua giấc ngủ, qua một số biểu hiện sức khỏe của cơ thể hoặc qua động vật hoặc côn trùng. Vậy có những gia đình ở chung cư cao tầng mà vẫn bị những biểu hiện như vậy (giấc ngủ không tốt; cơ thể mệt mỏi, khó chịu, bệnh tật, đi bác sĩ khám không rõ nguyên nhân; kiến, mối phá hỏng khuôn cửa, đồ đạc bằng gỗ trong nhà...) nếu là do tia đất thì ở tầng càng cao phạm vi ảnh hưởng của tia đất phải yếu hơn so với những tầng dưới thấp, có thể hiểu là những gia đình ở tầng thấp sẽ mắc phải bệnh tật, tai họa nhiều hơn những gia đình ở tầng cao. Điều này không đúng với thực tế. Ông TS V.B cũng cho rằng: “Mèo rất thích nằm nơi có tia đất, nhưng chó lại tìm nằm nơi tĩnh. Bởi mèo ưa nơi có nguồn bức xạ điện từ mạnh vì chúng có bộ lông dày dễ tích điện dương, theo bản năng chúng tìm đến đó để trung hòa điện...”. Câu hỏi ở đây là chó cũng có bộ lông dày chẳng kém gì mèo không lẽ lại tích điện âm, chẳng có cơ sở nào để nói rằng mèo “thích” tia đất còn chó thì không.


Thứ năm, giải pháp mà ông TS V.B đưa ra khi phát hiện trong nhà có từ trường, tia đất mạnh cũng chẳng thuyết phục. Với mảnh đất có thể chưa xây nhà hoặc đã xây, nếu phát hiện ra từ trường, tia đất xấu thì phải làm sạch lại. Có thể bằng cách di chuyển mồ mả, hài cốt (nếu phát hiện được) sang vị trí khác hoặc xúc bỏ phần đất xung quanh hài cốt đó. Theo ông V.B có nghĩa là bất kể mảnh đất đó ở đâu, nghĩa trang hay đình chùa...chỉ cần xử lý như trên đến khi nào máy đo của ông xác định từ trường đã trở lại bình thường là ở được. Thực tế cho thấy, nhiều gia đình dù mới chỉ sinh sống trên đất cạnh nghĩa trang hoặc đình chùa là đã có vấn đề bất ổn về sức khỏe, về con cái cũng như công việc rồi.


Với những mảnh đất có từ trường, tia đất xấu mà đã xây nhà trên đó. Giải pháp của ông V.B là sử dụng than hoạt tính hoặc nhiệt để tán từ trường dị biệt, khử các nguồn bức xạ từ đường điện cao thế, trạm phát sóng...cũng thật mông lung. Than hoạt tính (theo trang web của Bộ Y tế) được ứng dụng trong các lĩnh vực điều trị y tế, mỹ phẩm làm đẹp và trong sinh hoạt, không đề cập đến tác dụng ngăn hay khử tia đất như một vài trang web thương mại rao bán than hoạt tính hiện đang quảng cáo. Công nghệ khử các nguồn bức xạ từ đường điện cao thế, trạm phát sóng...hiện nay có chăng đều dựa trên nguyên lý lồng Faraday. Việc chế tạo lồng Faraday cho cả mảnh đất và ngôi nhà cũng chẳng hề khả thi trên thực tế .


Tôi cho rằng những gia đình nào làm theo “phác đồ” của ông V.B là đã lãng phí thời gian và tiền của, mạo hiểm đặt cược sức khỏe, tính mạng của bản thân và gia đình vào chiếc máy đo tia đất cùng người điều khiển nó.


Vậy phải xử lý thế nào khi “trót” ở trên mảnh đất có trường năng lượng không tốt?


Lời khuyên của thầy Nguyễn Xuân Điều ở kỳ 4 của bài viết chính là câu trả lời chính xác nhất.


Trường hợp tạm thời chưa thể thay đổi được chỗ ở, các thành viên trong gia đình nên đi học thiền để tập trung năng lượng “tẩy sạch” cho ngôi nhà đó. Đây cũng chính là cơ hội để tự nâng cao sức khỏe để bảo vệ mình khi phải sống trong căn nhà có trường năng lượng không tốt và tự mình trải nghiệm, tự mình cảm nhận về trường năng lượng chứ không phải trao gửi niềm tin vào chiếc máy đo tia đất bí hiểm của ôngTS V.B.


Trên đây là một số suy nghĩ của tôi khi đọc loạt bài viết với tiêu đề: “Bi kịch của một kỹ sư trưởng dầu khí trắng tay, mất vợ và tầm quan trọng của đất ở”. Câu chuyện mà ông Sỹ đã kể là câu chuyện chân thực về cuộc đời ông.Với những người đã học Trường sinh học dưỡng sinh và có duyên được trải nghiệm thực tế, câu chuyện của nhà ông Sỹ không có gì là lạ, nó chỉ khó tin đối với những người chưa bao giờ tìm hiểu hoặc tập luyện về bộ môn Trường sinh học dưỡng sinh một cách nghiêm túc và những người chưa bao giờ bước chân tới lớp học Thiền của bộ môn mà đã luôn cho rằng mình có đủ trình độ, trí tuệ để phán xét về mọi sự vật hiện tượng mà chỉ dựa trên những kiến thức có được rất mỏng manh từ khoa học thực nghiệm để nhằm đạt được chút danh tiếng cho bản thân. Giờ đây, điều quan trọng là ông Sỹ đã tìm lại được chính
mình, sức khỏe và tinh thần được cải thiện rất nhiều và hơn ai hết ông là người hiểu rõ nhất về câu chuyện của cuộc đời mình và sẽ đi trên con đường ánh sáng mà ông đã chọn.


Qua câu chuyện trên, tôi cũng rất bất ngờ với quan điểm và cách sắp xếp các nội dung của tác giả bài viết.Thông thường với những bài báo có nhiều kỳ với nhiều quan điểm và trường phái khác nhau, quan điểm được trình bày sau cùng bao giờ cũng là lời kết và cũng thể hiện tư tưởng và nhận thức của người viết cho câu chuyện. Những gì tôi đã nêu ở phần trên đã cho thấy rõ ràng quan điểm của ông TS V.B còn rất nhiều vấn đề không thuyết phục. Là một tờ báo có đông đảo bạn đọc gần xa, với vai trò định hướng dư luận, việc tác giả bài báo có quan điểm như vậy có thể khiến cho dư luận hiểu sai bản chất sự kiện, làm tổn hại đến tâm tư, tình cảm và niềm tin của nhân vật chính trong bài báo.


Trong quá trình tìm hiểu thông tin về chiếc máy đo từ trường, tia đất xấu của ông TS V.B, tôi tình cờ tìm được một số bài viết có liên quan, quý vị có thể tham khảo theo đường dẫn dưới đây để có thêm thông tin về chiếc máy đo tia đất cũng như người điều khiển nó để có nhận định cho riêng mình.


http://baodatviet.vn/khoa-hoc/quan-diem/ts-khai-ozon-boc-me-sang-che-cua-gs-bang-tia-dat-3001452/?p=71


http://xahoi.com.vn/an-ninh-hinh-su/trong-an/tim-xac-chi-huyen-bang-may-buc-xa-tu-tro-lua-bip-cua-tien-si-bang-161770.html


Hà Nội, 10.10.2014


----------------------------------------------------------------





Tâm sự của ông Sỹ sau khi đọc báo “Người giữ lửa” số 60, 61

đăng 21:34, 12 thg 10, 2014 bởi Hoàng Lê Vũ   [ cập nhật 03:57, 14 thg 10, 2014 bởi Điều Nguyễn Xuân ]

Bức thư của ông Sỹ


Kính gửi thầy Nguyễn Xuân Điều

Thầy ơi! Em đọc 2 tuần báo “Người giữ lửa” ngày 1.10.2014 và ngày 8.10.2014, ở trang 23, có bài viết của “TS Vũ Bằng”, em muốn tâm sự với thầy.

- Có thể cùng một vật thể, nhìn nhận ở những góc độ khác nhau, sẽ khác nhau.

Nhưng sự việc của em thì khác, là chính bản thân em – em ghi nhận rõ ràng sự thay đổi trong con người em từng thời điểm cụ thể.

Ngày 20.5.2013 em đến thầy học thiền Cấp I, rồi tự luyện tập.

Ngày 7.4.2014 thầy ĐT. Cho em được học thiền Cấp II.

Đến ngày 12.8.2014 là ngày thầy hỗ trợ năng lượng cho em – Giải thoát cho em căn bệnh nghiện ngập – mà em đã ấp ủ nó 21 năm trời (1993 – 2014).

- Ngày 19.8.2014, lần thứ 2 thầy hỗ trợ năng lượng cho em.

Và cũng từ ngày 20.8.2014, em mới là chính mình – thay đổi hoàn toàn – từ bỏ sự đam mê đề đóm.

Những ngày đó, cơ thể rã rời, đầu óc trống rỗng, nhưng sau đó một tuần người đã trở lại yên ổn.

Bây giờ em khỏe mạnh và bình an, thực lòng em không biết nói gì – chỉ biết ơn thầy trong quãng đời còn lại.

- Thầy ơi: Chuyện 2 trang báo “Người giữ lửa” tác giả (TS Vũ Bằng): Giải thích hiện tượng của em ! Giải thích thế nào cũng được – em không quan tâm, vì em chưa hề gặp TS Vũ Bằng…và mảnh đất đó em mua xây nhà rồi cho thuê bán hàng – sau đó ký thác cho ngân hàng, em không quan tâm bây giờ nó thế nào nữa.

- Việc bàn bạc trên mặt báo em không hề muốn.

Bây giờ hàng ngày em cố gắng thiền cho tôt, mong sao sống khỏe, sống bình an.

Theo bản thân em nghĩ: Việc thiền định để có cuộc sống an lạc – “Ai có duyên với thiền, người đó gặp”.

Thầy ơi, khi gặp, thầy trò mình tâm sự nhiều. Em kính chúc thầy vui khỏe, gia đình hạnh phúc.

Học trò của thầy: Sỹ (Tên báo “người giữ lửa” đặt cho em)


Ngày 10.10.2014



Bức thư của ông Sỹ.



Hai bài báo 60 , 61 trên báo NGL 





1-10 of 79

Comments