NHÂN DỊP KỶ NIỆM 70 NĂM TRƯỜNG NGÔ SỸ LIÊN BẮC GIANG

đăng 21:31, 27 thg 8, 2016 bởi Điều Nguyễn Xuân   [ đã cập nhật 21:34, 27 thg 8, 2016 ]

                          KHỞI ĐẦU TRƯỜNG NGÔ SỸ LIÊN BĂC GIANG

Nhà giáo VƯƠNG ĐÌNH CỐC

(hs khóa1946-1950)

    

     Trường  Ngô Sĩ Liên Bắc Giang ra đời từ năm 1946 cùng với hai trường khác như Hàn Thuyên, Hùng Vương và cả trường Lương Ngọc Quyến sau này nữa. Ở tỉnh Bắc Giang trước cách mạng Tháng tám chưa có trường trung học nên các thế hệ cha anh đều phải học ở Bắc Ninh hoặc ở Hà Nội theo các trường tư hoặc các trường công của Pháp. Trong khi giữa thị xã Phủ Lạng Thương (Băc giang) còn bộn bề công việc của cách mạng, chính quyền vừa giành được còn non trẻ, thế mà đã có một trường trung học (Cấp III) hình thành.

     Thầy Phạm Đức Cường, nguyên là hiệu trưởng trường Hoàng Hoa Thám ở thị xã phủ Lạng Thương đã kể lại cái thuở ban đầu đáng ghi nhớ của trường chúng ta.

     Hồi ấy Cách mạng vừa về, thầy Cường là một trí thức vừa tốt nghiệp trường Cao đẳng Công chính của Pháp, đến gặp vị đứng đầu tỉnh Bắc Giang, ông Nguyễn Thanh Bình, (nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Trung ương ĐCSVN hiện nay), hối đó là phó Bí thư Ban cán sự Đảng kiêm Chủ tịch Ủy ban Hành chính tỉnh đã tiếp chuyện thầy Cường.

     Thầy Cường kể lại: Tôi ngỏ ý với ông Bình xin được xin một việc gì về chuyên môn để được phục vụ vì rôi vừa tốt nghiệp trường Agenttechnique. Nhưng ông Bình đã trả lời tôi là: "Cách mạng mới lên chưa có việc gì về kỹ thuật cả. Chúng tôi cần mở một trường học cho thanh niên nó học, để mở mang dân trí, ông nên đứng ra lập một trường trung học". Thầy Cường đã nhận lời và ít lâu sau thầy đệ trình lên tỉnh một văn bản để đưa lên Bộ Giáo dục xin mở một trường trung học.

     Thế là độ nửa tháng sau vào khoảng tháng 2, tháng 3 năm 1946, Bộ Giáo dục đã cho phép Bắc Giang mở một trường tư thục, mang tên vị anh hùng Hoàng Hoa Thám. Nhận được quyết định này, ông Nguyễn Thanh Bình mời thầy Phạm Đức Cường đến trao đổi: “Hiện nay đã có quyết định mở trường và Bộ Giáo dục cử ông làm hiệu trưởng. Nhưng ta thỏa thuận với nhau là bỏ đi hai chữ “tư thục” mà chỉ để lại tên trường là trường trung học Hoàng Hoa Thám”.

     Thế là có sự thỏa thuận của nhà lãnh đạo và người trí thức ham hoạt động. Từ tháng 2 năm 1946, biển trường được dựng lên ở khu nhà của trại lính thiếu nhi của Pháp, ở phía Đông Nam thị xã. Thanh niên, học sinh đến ghi tên nhập học đông. Cử ai ghi tên là được nhận vào học ngay, không phải chi phí một khoản tiền nào.

     Ngay năm đầu số học sinh đã rất đông, có đến gần 200 học sinh. Nhà trường chia làm 4 lớp: 3 lớp đệ nhất, một lớp đệ nhị. Lớp học đặt ở trong khu nhà ngói của “Trại lính thiếu nhi”, rất ngăn nắp khang trang. Tham gia giảng dạy tại trường trung học Hoàng Hoa Thám là những nhà tri thức hăng hái nhiệt tình với sự nghiệp học tập của thanh niên. Có Giáo sư dạy vật lý Phạm Quang Hiểu, các thầy dạy khoa học như thầy Lương Chương, thầy dạy thực hành như thầy Phạm Văn Chung, thầy dạy nhạc như nhạc sĩ Lã Hữu Quỳnh, cà giáo sư dạy chữ Hán như cụ Cử nhân Đỗ Thúc Phách, cùng một số thân sĩ tiến bộ… Các thầy đều tự nguyện dạy học không ăn lương. Thật là những nghĩa cử của những tri thức trên địa bàn thị xã Phủ Lạng Thương (Bắc Giang) hồi ấy. Nhờ có chủ chương đúng đắn của lãnh đạo tỉnh và tinh thần trách nhiệm của Thầy Phạm Đức Cường và tất cả các giáo sư tham gia giảng dạy mà trường trung học Hoàng Hoa Thám  đã đứng vững được gần một năm học. Tiếng súng toàn quốc kháng chiến nổ ra đêm 19-12-1946 ở thị xã Phủ Lạng Thương, tạm thời chấm dứt những hoạt động sôi nổi của thầy và trò trường trung học Hoàng Hoa Thám.

     Chúng tôi là lớp thanh niên thị xã Phủ Lạng Thương đã may mắn được học tại trường trung học Hoàng Hoa Thám. Khi trường ngừng hoạt động vì sự kiện "Kháng chiến toàn quốc", nhiều người trong học sinh chúng tôi đã theo gia đình đi tản cư ra khỏi thị xã về các làng quê của tỉnh. Nhiều người vào du kích, vào bộ đội và các cơ quan tỉnh.

     Sau này khi có quyết định mới của Bộ Giáo dục về việc thành lập một trường trung học quốc lập(Cấp III), lấy tên trường là  Ngô Sĩ Liên, cụ Lê Xuân Phùng, nguyên là giáo sư toán học, hiêu trưởng trường BONNAL Hải Phòng được cử về làm hiệu trưởng. Trường đóng ở Hồng Kiều xã Bình Lập, huyện Yên Thế (cũ) (nay là huyện Tân Yên), thì nhiều anh chị em của trường Hoàng Hoa Thám lại tập trung về đây để tiếp tục học tập.

     Nhận xét về tên trường  Ngô Sĩ Liên, cụ Phùng Hân Hoan nói: “ Một trường học phải mang tên một danh nhân mới hợp lệ”.

     Ban đầu trường có 3 lớp: đệ nhất, đệ nhị, đệ tam. Cuối năm 1947, trường phát triển mạnh, quy mô đình Hồng Kiều không đủ sức cho của động của trường nữa. Vì thế trường đã chuyển về Tiên Lục (xã Đào Quán, Lạng Giang). Tiên Lục có đến 7 làng xóm lớn, có khoảng 5,6 ngàn dân.

     Đến các năm học sau 1948 - 1949 -1950 trường  Ngô Sĩ Liên đã trở thành một trường lớn của Liên khu Việt Bắc. Quy mô có đến 9 lớp ( đặt tại chùa Tiên Lục 6 lớp, đình cây bàng 3 lớp), có khoảng 410 học sinh, thuộc 2 hệ: Hệ phổ thông học chương trình 4 năm. Hệ đặc biệt dành cho thanh niên lớn tuổi học trong 2 năm đều được thi tốt nghiệp bậc trung học.

     Năm 1947 ở Hồng Kiều mới chỉ có một số ít giáo viên, đến Tiên Lục đã phát triển trên 20 giáo viên, dạy các môn khoa học  và 2 môn Anh, Pháp. Cả thầy và trò đều trọ ở nhà dân các xóm Ngoẹn, xóm Cây Giã, xóm Giếng, xóm Tây, xóm Bống, xóm Vàng. Một số trọ ở làng phụ cận như Bến Tuần, Mỹ Lộc, Trường Hà, Phù Lão…Nhà trường chỉ có một vị hiệu trưởng, một thư ký văn phòng, đầu tiên là bác Ngọc sau thêm bác Phác.    

     Trong các kỳ thi học sinh giỏi liên trường (tổ chức thi học sinh giỏi thời ấy) của toàn Liên Khu Việt Bắc, Học sinh  Ngô Sĩ Liên thường đoạt giải thưởng cao. Khu Việt Bắc có 18 tỉnh, mà chỉ có mấy trường trung học: Hà Thuyên ở Bắc Ninh, Hùng Vương ở Phú Thọ, Việt Bắc ở Lạng Sơn, Lương Ngọc Quyến ở Thái Nguyên,  Ngô Sĩ Liên ở Bắc Giang ta. Năm 1949, anh Đặng Xuân Kỳ đoạt giải nhất môn thi Quốc văn, anh Phan Thu đoạt giải nhất môn Toán, anh Vũ Tự Lân đạt giải ba môn Pháp văn… Có một vấn đề đặt ra là, tại sao học sinh của trường  Ngô Sĩ Liên đồi đó lại học tập tốt như vậy? Tất cả chúng tôi đều phải đi trọ học trong điều kiện kinh tế rất khó khăn của nhân dân ta trong những năm 1947,1948, 1949 đầy gian khổ của cuộc Khàng chiến chống Pháp.

     Hồi đó mức ăn cơm trọ thấp của một học sinh là 60 đồng một tháng, mức vừa là 120 đồng, mức cao là 180 đồng và 200 đồng. Chúng tôi ở xóm Ngoẹn và ăn cơm ở nhà ông xếp Hoằng, các bạn ở xóm Tây, xóm Giếng thì ăn cơm nhà ông giáo Tiến. Còn bao nhiêu học sinh không đủ tiền ăn cơm tháng thì họ lập thành pô-pôt, tự thổi nấu lấy để ăn học . Hằng tuần các bạn thay nhau về gia đình để lấy gạo và thực phẩm lên nhà trọ, củi thì tự kiếm lấy hoặc xin của nhà chủ hoặc về đồi Bừng cắt cây cỏ về đun. Điều kiện vật chất thì khổ sở, thiếu thốn như vậy. Nhưng do lòng yêu nước , căm thù giặc và quyết tâm học tập của học sinh nên ở trường vẫn dấy lên phong trào thi đua học tập cao và các phong trào khác như thể thao, văn nghệ, báo chí.

      Giáo sư vả học sinh hòa với nhau làm một khối , thúc đẩy mọi mặt hoạt động nội, ngoại khóa của nhà trường. Trong thời kỳ ấy, trường  Ngô Sĩ Liên không chỉ là nơi đào tạo các thanh niên trí thức của tỉnh Bắc Giang, mà còn là nơi gặp gỡ của nhiều bạn học sinh của các tỉnh ngoài đến theo học. học sinh của các tỉnh: Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Hồng Gai và cả Hà Nội là các tỉnh bị thực dân Pháp chiếm mất đất đều tìm ra vùng tự do, đến Yên Thế, Lạng Giang để cùng học tập dưới mái trường hồi đó, đã làm nên sự nghiệp của mình.

     Tháng 8 năm 1950, tôi chia tay với mái trường thân yêu từ đất Tiên Lục để bước vào sự nghiệp giáo dục của đất nước. Đến tháng 11 năm 1973, tôi lại có dịp trở lại nhà trường ở thị xã Bắc Giang và bước lên bục giảng cho đến lúc nghỉ hưu năm 1987.

     Năm nay nhân dịp kỷ niệm 50 năm ngày thành lập trường , tôi muốn ghi lại đôi dòng về mái trường  Ngô Sĩ Liên thân yêu. Lòng tôi trân trọng hướng về các giáo sư đã có công lao dạy dỗ chúng tôi, từ những ngày đầu thành lập nhà trường mà nay nhiều vị đã ra người thiên cổ. Cũng là để bầy tỏ mấy dòng cảm nghĩ với bạn đã cùng nhau học tập ở Hồng Kiều và Tiên Lục năm xưa, trong niềm lưu luyến và tự hào về một thời tuổi trẻ đã qua của đời học sinh chúng ta.

Ngày 29-3-1995

 

Comments