Góc học viên

Tâm sự, trải lòng, chia sẻ kinh nghiệm luyện tập Thiền của các Học viên.

  • SỌ NÃO HỒI PHỤC NHANH CHÓNG NHỜ NĂNG LƯỢNG SINH HỌC                                                                                Dược sĩ Phương Hòa      Cách đây gần một năm cháu tôi bị tai nạn giao thông. Vụ tai nạn xảy ra vào khoảng 13 giờ ngày 14/8/2017 ở ...
    Được đăng 09:15, 7 thg 7, 2018 bởi Điều Nguyễn Xuân
  • Tháng năm tắt lụi, nợ nần không vương Nhớ Ba, tôi muốn được chia sẻ Bài viết của một Nhà Văn hóa: Ông Hoàng Quốc Hải dành tặng Ba tôi. “Vĩnh biệt một Nhà văn, một Dịch giả ...
    Được đăng 22:16, 17 thg 5, 2018 bởi Hoàng Lê Vũ
  • ĐIỀU KỲ DIỆU ĐẾN SAU 9 THÁNG TẬP LUYỆN "NĂNG LƯỢNG TRƯỜNG SINH HỌC"                                                                                         Nguyễn Mạnh Dũng      Trong suốt gần 40 năm làm việc trong ngành Ngân hàng với nhiều áp lực, tôi chưa phải nghỉ một ngày ...
    Được đăng 22:14, 16 thg 5, 2018 bởi Điều Nguyễn Xuân
  • Nhân kỷ niệm 70 năm thành lập trường Ngô Sỹ Liên BG (1946-2016) Nhớ tới nhà giáo Hoàng Hữu Đản – Nhà văn, dịch giả Việt Nam          Thầy giáo Hoàng Hữu Đản sinh ngày 3/4/1922 tại Quảng Trạch, Quảng Bình. Năm 1930 ...
    Được đăng 09:38, 9 thg 8, 2017 bởi Điều Nguyễn Xuân
  • NHÂN DỊP KỶ NIỆM 70 NĂM TRƯỜNG NGÔ SỸ LIÊN BẮC GIANG                           KHỞI ĐẦU TRƯỜNG NGÔ SỸ LIÊN BĂC GIANG Nhà giáo VƯƠNG ĐÌNH CỐC (hs khóa1946-1950)           Trường  Ngô Sĩ Liên Bắc Giang ra đời từ năm 1946 cùng với hai ...
    Được đăng 21:34, 27 thg 8, 2016 bởi Điều Nguyễn Xuân
  • THÔNG BÁO KỶ NIÊM 70 NĂM ngày thành lập TRƯỜNG NGÔ SỸ LIÊN BẮC GIANG (1946-2016) THÔNG BÁO CHƯƠNG TRÌNH LỄ KỶ NIỆM 70 NĂM NGÀY TRUYỀN THỐNG CỦA TRƯỜNG NGÔ SỸ LIÊN BẮC GIANG ( 1946 - 2016) Trân trọng kinh mời các Thầy, các bạn là ...
    Được đăng 21:33, 31 thg 10, 2016 bởi Điều Nguyễn Xuân
  • Những nhà giáo lão thành trường Ngô Sỹ Liên Bắc Giang (Nhân kỷ niệm 70 năm 1946-2016) Các nhà giáo lão thành: Nguyễn Văn Khắc (Con trai là Nguyễn Xuân Điều), Trần Lê Tấn (Con cụ Trần Lê Nhân- soạn Cổ học tinh hoa), Nguyễn Thị Kim ...
    Được đăng 09:14, 15 thg 7, 2017 bởi Điều Nguyễn Xuân
Hiển thị bài đăng 1 - 7trong tổng số 39. Xem nội dung khác »



Bài đã đăng

SỌ NÃO HỒI PHỤC NHANH CHÓNG NHỜ NĂNG LƯỢNG SINH HỌC

đăng 07:28, 7 thg 7, 2018 bởi Điều Nguyễn Xuân   [ đã cập nhật 09:15, 7 thg 7, 2018 ]

                                                                               Dược sĩ Phương Hòa

     Cách đây gần một năm cháu tôi bị tai nạn giao thông. Vụ tai nạn xảy ra vào khoảng 13 giờ ngày 14/8/2017 ở Sen Hồ Bắc giang. Cháu gái tôi đi xe máy va chạm với một nam thanh niên chạy xe máy ngược chiều . Vụ va chạm tại hiện trường khiến cả hai bị thương nặng. Nam thanh niên bị bê bết máu nên được đưa đi cấp cứu ngay xuống Hà Nội . Cháu tôi bất tỉnh và được đưa vào BV 110 Bắc Ninh , sau đó xác định não bị tổn thương, gia đình cùng BV đưa xuống BV Việt Đức.

     Tại phòng cấp cứu các bác sỹ sau khi làm các xét nghiệm và chiếu chụp đã thông báo cho gia đình biết hiện tại rất nguy nan có thể ngừng thở bất cứ lúc nào vì não đã bị ngập 1/3 trong máu, một bên mắt đã giãn đồng tử. Lúc này gia đình cháu và nhà chồng cùng họ hàng bạn thân… chỉ biết cúi gục khóc lóc ( cháu có một con trai 3 tuổi ). Tôi cố sức bình tĩnh và nhờ BS tập trung để cứu cháu, cũng may cháu được đặt ống thở máy và chờ một ca mổ não xong sẽ đến lượt cháu mổ não cấp cứu. Đến 1 giờ sáng ngày 15/8/2017 cháu bắt đầu vào phòng mổ sọ não, ca mổ kéo dài đến sáng. Ngày 16 cháu được ra nằm phòng cách ly theo dõi chăm sóc đăc biệt trong tình trạng các loại dây và máy móc xung quanh người, tôi lo lắng hỏi Bác sỹ khi nào cháu tỉnh, Bs trả lời nếu người khỏe mạnh khi đên mổ còn tỉnh táo thì khoảng 8-10 ngày còn người nhà cô nặng lắm phải rất lâu.

     Sau mấy ngày cháu vẫn hôn mê, mặt mũi sung vù, tôi lo quá và nghĩ đến mình đã học Thiền chương trình cấp 2 rồi, tôi liền gọi điện thoại cho thầy Nguyễn Xuân Điều là người dạy tôi thiền dưỡng sinh.Thầy đã động viên và hướng dẫn tôi thao tác đặt tay điều chỉnh theo một phác đồ . Trưa 17/8/2017 đến giờ được vào thăm tôi đã đặt tay điều chỉnh cho cháu 10 phút .

 

 

                               

                             Dược sĩ Phương Hòa điều chỉnh cho cô gái bị tai nạn sọ não

     Những ngày sau tôi cũng tiếp tục điều chỉnh, đến ngày 19/8/2017 (sau khi mổ được 4 ngày), trong lúc tôi đặt tay Luân xa 6,7 thì thấy cháu cựa mạnh và tuột cả dây dẫn, tôi hỏi nhân viên trực thì được biết đấy là dấu hiệu tốt, người bệnh sắp tỉnh, tôi mừng quá. Đến ngày hôm sau tôi vào viện, trong lúc đặt tay điều chỉnh, thấy cháu bắt đầu hé mắt và chảy nước mắt. Lúc này tôi mới tin là cháu đã qua cơn hiểm nghèo. Ngày 21/8/2017 (7 ngày sau khi mổ), cháu đã tỉnh táo và nhận biết được mọi vật xung quanh.


                                               Cô gái bị nạn hé mắt khi được đặt tay điều chỉnh

    Tôi thấy thật kỳ diệu. Sau đó khoảng 2 tuần cháu được xuất viện và Bác sĩ hẹn 3 tháng sau quay lại lắp ghép miếng xương sọ, do trước đã tháo rời để tránh bị tụ máu.


 

                             

                           Người bệnh vài tuần sau ca mổ não và điều chỉnh bằng Năng lượng sinh học

     Tất cả gia đình đều vui mừng vì cháu đã trở lại bình thường, không hề để lại di chứng gì sau khi ghép nốt mảnh xương sọ.

     Hiện nay cháu đã khỏe mạnh và đi làm bình thường

  

              Cô gái bị nạn trở lại bình thường sau vài tuần mổ não và điều chỉnh bằng NLSH


     Một số kinh nghiệm khi tôi đặt tay điều chỉnh cho cháu bị tai nạn

     Ngày đầu tiên đặt tay được gần 10 phút thì hai  chân tôi bị khuỵu xuống, tôi hít thở nhấc vội tay ra và nghĩ mình đã làm sai động tác gì, về nhà tôi xem lại tài liệu của thầy Nguyễn Xuân Điều.

     Ngày hôm sau tôi  tả lại với thầy và chuyển sang đặt tay vào buổi chiều tối. Sau giờ làm việc, ăn nhẹ và thiền 45 phút, tôi vào viện và chuẩn bị kỹ các thao tác ‘’Phát lệnh, thu năng lượng và đặt tay vào Luân xa”, mình là cầu nối thu năng lượng tình thương chuyển cho cháu, đặt tay trong trạng thái Thiền. Thế rồi mọi việc suôn sẻ, chân tôi không bị khuỵu như hôm trước nữa.

     Còn về cậu nam thanh niên trong vụ va chạm với cháu tôi,  sau 2 ngày xuất viện khỏe mạnh chỉ bị xây sước bên ngoài. Cháu tôi được bên gây tai nạn bồi thường 100 triệu, do  hoàn cảnh của nam thanh niên quá khó khăn phải đi vay mượn. Cháu tôi chi phí khoảng hơn 300 triệu trong thơi gian nằm viện để mổ não.

      Trên đây là những chia sẻ câu chuyện của tôi về Thiền dưỡng sinh. Đó là kết quả  thực hành những kiến thức mà mình đã được học ở lớp của thầy Nguyễn Xuân Điều. Những trải nghiệm này đã giúp tôi củng cố niềm tin vào  "Bộ môn Năng lượng sinh học" có khả năng bổ sung hiệu quả cho y học hiện đại, tràn đầy cơ sở khoa học và tính nhân văn.  

                                                                                                                                 Hà nội, ngày 6 tháng 7 năm 2018

Tháng năm tắt lụi, nợ nần không vương

đăng 22:16, 17 thg 5, 2018 bởi Hoàng Lê Vũ



Nhớ Ba, tôi muốn được chia sẻ Bài viết của một Nhà Văn hóa: Ông Hoàng Quốc Hải dành tặng Ba tôi.



“Vĩnh biệt một Nhà văn, một Dịch giả đầy tài năng, một Kịch tác gia tâm huyết”

Hoàng Quốc Hải
Thứ sáu ngày 30 tháng 3 năm 2012
3:04 PM



“Tháng năm tắt lụi, nợ nần không vương”


Thật lạ! sáng 26 tháng 3 (2012) tôi lục tủ để tìm bản Công ước của Liên hợp quốc về luật biển UNCLOS chưa thấy, thì từ đâu đó rơi ra bản photocopy bài thơ “Lời trên bãi cát” ( Paroles sur les dunes ) của Victor Hugo khóc người con gái đầu bạc mệnh của mình do dịch giả Hoàng Hữu Đản gửi tặng đề ngày 5.10.1990.



Mở đầu bài thơ đã khiến ta nghĩ đến cái chết:

Giờ đây như ngọn đuốc tàn

Tháng năm tắt lụi, nợ nần không vương

Tuổi dày tang tóc đau thương

Cheo leo đời sắp bước sang cạnh mồ…



Chợt nghĩ đến tối qua được tin ông đã rất mệt, người thân đã đưa từ bệnh viện về nhà. Với cái tuổi ngoài 90, lại đang như ngọn đèn dầu sắp tắt, phải chăng đây là dấu hiệu báo trước điềm chẳng lành…Và chỉ khoảng 10 phút sau, tôi nhận điện thoại từ con gái ông, cô Hoàng Bích Nga báo tin với giọng đẫm nước mắt: “Anh ơi, Ba em đi rồi, lúc 1 giờ 20 phút sáng ngày 26 tháng 3 năm 2012 - Nhà văn hóa, Nhà văn, Dịch giả Hoàng Hữu Đản vĩnh biệt người thân, vĩnh biệt thế gian- nơi ông tạm trú 91 năm với biết bao hạnh phúc , vui, buồn

. Thuở nhỏ, ông Hoàng Hữu Đản học trường Dòng, ông theo Kito giáo, dòng Francesco, tên thánh của ông là Jose Maria.

Jose Maria Hoàng Hữu Đản sinh ngày 3 tháng 4 năm 1922, suốt đời làm nghề dạy học tại các tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình, Bắc Giang, Bắc Ninh. Và tới những năm tám mươi của thế kỷ trước, ông bà chuyển vào Thành phố Sài Gòn định cư cùng các con.

Yêu văn chương và dịch thuật, ông về hưu từ tuổi 53 (1975) để chuyên tâm sáng tác và dịch thuật.
Phần dịch, chủ yếu Nhà văn Hoàng Hữu Đản dịch Văn học Pháp từ cổ, cận đến hiện đại. Ông chọn lọc khá kỹ các tác phẩm tiêu biểu của các tác giả nổi tiếng như Victor Hugo, Corneille, Gustave Flaubert, Emille Zola, Jacqueline Pagnol, Philippe Devillers…trong đó có thơ, kịch, tiểu thuyết.

Đặc biệt phải kể đến mảng dịch Văn học Hy Lạp như hai tuyển tập bi kịch và hài kịch của các kịch tác gia Eschyle, Sophocle, Euripide, Aristophane và hai Trường ca Iliade và Odysse’ của Homere.

Với hai trường ca bất hủ của Homere, ông dịch rất thành công, chuyển thể bằng thơ như nguyên tác với lối cấu trúc câu thơ sáu nhịp của Thơ ca Cổ đại Hy Lạp.


Quả thật với hai tác phẩm ngót hai ngàn trang, gồm hơn 30.000 câu thơ chứa đựng nhiều thể loại như sử thi, trữ tình, bi kịch, hùng biện, tự sự, miêu tả là cả một sự thách đố với người dịch.

Hai trường ca vĩ đại này trước ông chưa có ai dịch được và nó sẽ làm nản lòng những ai muốn làm một bản dịch khác. Các thế hệ học sinh, sinh viên sẽ mãi mãi biết ơn ông, bởi trước đây họ chỉ được đọc theo bản tóm tắt bằng văn xuôi, với khoảng trên dưới 100 trang của Nhà giáo Phan Thị Miến dùng làm giáo trình giảng dạy ở cấp đại học.

Sơ lược về sự nghiệp Dịch thuật của ông là như vậy, còn điểm sang sự nghiệp Sáng tác, dường như nhà văn Hoàng Hữu Đản thiên về thể loại Kịch. Năm 1980, ông viết vở kịch lịch sử đầu tay: “Bí mật vườn Lệ Chi”. Vở kịch được Hội Nghệ sĩ sân khấu Việt Nam trao Giải kịch bản. Nhưng không có đoàn nào dựng. Mãi sau đoàn kịch nói IDCAP Thành phố Hồ Chí Minh đưa lên sân khấu – với Đạo diễn: Nghệ sĩ Thành Lộc và Đoàn Nghệ sĩ Thành Lộc đã dựng diễn rất thành công, lập tức trở thành một hiện tượng với hàng trăm đêm diễn, đêm nào khán giả cũng kín rạp.


Tôi mê vở “Bí mật vườn Lệ Chi” vì kính trọng bản lĩnh sáng tác của Nhà văn Hoàng Hữu Đản. Tuy là tác phẩm kịch đầu tay, nhưng ông khám phá lịch sử và lật tung nó lên để tìm ra bộ mặt thật của nó chứ không cả tin mà trong lời đề từ nơi trang 8, ông đã bộc bạch…

Nhà văn đi vào cốt lõi của vấn đề, ông viết : “ Vụ án này không phải là vấn đề “oan hay không oan” của Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ, bởi đây thực chất không phải là một vụ án. Cái mà lịch sử gọi là “Vụ án vườn Lệ Chi” chính ra là một vấn đề khác”.

Rồi ông kết luận: “Vụ án vườn Lệ Chi thực chất là màn kết thúc sơ bộ của một âm mưu đảo chính, giành giật và củng cố ngôi báu, do một người đẹp trong nội cung chủ trương”.

Và nhà văn lần gỡ những điều khuất lấp trong lịch sử theo hướng này. Do xác định đúng hướng, nên vở “Bí mật vườn Lệ Chi” của Nhà văn Hoàng Hữu Đản đã giải mã những điều khuất lấp của lịch sử, vì vậy mà được khán giả hâm mộ

. Còn một vở kịch khác của Nhà văn Hoàng Hữu Đản tuy chưa được công diễn, nhưng tôi nghĩ sức hấp dẫn của nó chắc không thua vở “Bí mật vườn Lệ Chi”. Đó là vở “Bằng Quận công Nguyễn Hữu Chỉnh”….

Tôi ao ước sẽ có một ngày vở “Bằng Quận công Nguyễn Hữu Chỉnh” được công diễn. Đương nhiên Nhà văn Hoàng Hữu Đản còn sáng tác nhiều vở kịch cũng như thơ văn khác, nhưng tôi đặc biệt lưu ý tới hai tác phẩm “Bí mật vườn Lệ Chi” và “Bằng Quận công Nguyễn Hữu Chỉnh”.

Nhà Văn hóa, Nhà Văn, Nhà Dịch thuật tài năng Hoàng Hữu Đản quả là một người có bản lĩnh học thuật, bản lĩnh cả trong sáng tác và trong dịch thuật. Những cống hiến đầy ấn tượng của ông trong sự nghiệp văn chương sẽ còn sức sống trường tồn với thời gian

. Trước giờ lâm chung, ông nhìn các con âu yếm và khẽ mấp máy đôi môi với lời nói nhẹ như sương khói: Bây giờ ba phải về với Chúa!.

Nhà văn Hoàng Hữu Đản ra đi trong sự tiếc thương của người thân, bạn bè và độc giả. Kính chúc hương hồn ông an lạc trong xứ sở thanh bình nơi Vĩnh hằng.

Và xin mượn lời thơ của Thi hào Victor Hugo cũng trong bài “Lời trên bãi cát” để vĩnh biệt hương hồn Ông:

Tắt rồi hình dáng yêu thương 

Lòng ta trĩu nặng chiều buông bóng dài 

Đất ơi! Sương phả núi đồi… 



Hà Nội 27.3.2012--- HQH

ĐIỀU KỲ DIỆU ĐẾN SAU 9 THÁNG TẬP LUYỆN "NĂNG LƯỢNG TRƯỜNG SINH HỌC"

đăng 22:14, 16 thg 5, 2018 bởi Điều Nguyễn Xuân

                                                                                        Nguyn Mnh Dũng

     Trong suốt gần 40 năm làm việc trong ngành Ngân hàng với nhiều áp lực, tôi chưa phải nghỉ một ngày làm việc nào do ốm. Được như vậy là nhờ ngay từ khi còn trẻ đã chăm, chịu khó rèn luyện thể dục, thể  thao (Bóng đá, bóng bàn, bơi lội). Cho tới ngày nghỉ chế độ sau gần 4 thập kỷ làm việc, chia tay bạn bè đồng nghiệp, tôi tự  cảm thấy rất mạnh khỏe, minh mẫn.

    Tuy nhiên 5 năm trước khi nghỉ chế độ, tôi bỗng bất an bởi tình trạng lúc đầu là khó ngủ, sau đó là mất ngủ. Có thể là do áp lực công việc, một phần tuổi tác bắt đầu lên tiếng theo hướng tiêu cực. Cứ phải 23h, 23h30 thậm chí 24h mới ngủ được. Khi đặt mình xuống thường quay  phải, quay trái  20 phút mới đến được giấc ngủ. Điều này khiến tôi mệt mỏi và cảm thấy rất buồn phiền. Nhiều lúc trách Ông Trời  sao  hành hạ mình về cuối đời làm việc (mặc dù Ông Trời nhân từ, có làm hại ai bao giờ đâu). Để có thể chung sống với tình trạng xấu này, tôi đã phải dùng đến thuốc ngủ. Hôm nào quên không dùng thuốc là có hậu quả ngay. Nhiều lúc  tự an ủi: “Thôi cả cuộc đời làm việc khỏe mạnh rồi, trước khi rời xa công việc được nếm chút vị đắng của thuốc cũng vui”. Cứ như vậy từ năm 2011 đến 2016, tôi đã vui vẻ chung  sống  với thuốc ngủ.

   Sau khi nghỉ chế độ một năm, Tháng 8/2017 tình  cờ gặp một  đồng nghiệp ngành ngân hàng và được hướng dẫn sơ bộ về môn “Thiền”, tôi bắt đầu tập và sau 6 tháng (đến tháng 2/2018) thì thấy có điều khác lạ là đã ngủ được vào lúc 23h (thay vì 23h30 thậm chí 24h). Xuân Mậu Tuất 2018, lần thứ hai tôi lại tình  cờ gặp một  đồng nghiệp khác cũng trong ngành ngân hàng giới thiệu và ngày 19/3/2018 bắt đầu  theo học "Năng lượng Trường sinh học" Cấp I (5 ngày) do Thầy Nguyễn Xuân Điều, (Trưởng bộ môn Trường Sinh Học Dưỡng Sinh, Trung tâm UNESCO Văn hóa gia đình và Dòng họ Việt) hướng dẫn. Sau 2 tháng luyện tập, ngày 13/5/2018 tôi hoàn thành lớp Thiền cấp II (1 ngày) cũng do Thầy Nguyễn Xuân Điều hướng dẫn.

    Như  trên đã nói,  sau 7 tháng tập thấy có điều khác lạ là đã ngủ được vào lúc 23h thì đến nay sau 9 tháng (trong đó có 2 tháng học thầy Điều theo phương pháp khoa học và được  mở các Luân Xa) thì thấy rằng không chỉ là khác lạ mà điều kỳ diệu đã đến. Điều Kỳ diệu thứ nhất là có thể ngủ vào giờ mình muốn, giấc ngủ ngon, sâu. Điều Kỳ diệu thứ  thứ hai, không bị thức giấc lúc nửa đêm. Điều Kỳ diệu thứ  ba và cũng là  kỳ diệu nhất là bỏ được thuốc ngủ (vật bất ly thân từ 7 năm qua).

     Tôi có  thể khẳng định  đây là sự kỳ diệu của Bộ môn "Năng lượng Trường sinh học" vì  sau 9 tháng luyện tập tôi bỏ được thuốc ngủ và có được giấc ngủ sâu,  ngon  lành. Nếu có  tiền (kể cả tiền tỷ) cũng không  thể mua  được loại thuốc nào có công dụng nhanh như thuốc “Tiên”  vậy.

     Có được điều kỳ diệu  và sức khỏe tốt như hiện nay, tôi xin bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc với sự hướng  dẫn khoa học và nhiệt huyết của Thầy Nguyễn Xuân Điều. Cũng xin cảm ơn hai đồng nghiệp ngành ngân hàng đã giúp tôi tiếp cận với Thiền và  gặp  được Thầy Điều. Mong Thầy và các bạn luôn mạnh khỏe, an lành!

Hà nội,  Ngày 17 Tháng 5 Năm 2018

Nguyễn Mạnh Dũng, Học viên lớp Câp II

Bộ môn "Trường sinh học dưỡng sinh"

Trung tâm UNESCO Văn hóa gia đình & Dòng họ Việt Nam



Nhân kỷ niệm 70 năm thành lập trường Ngô Sỹ Liên BG (1946-2016)

đăng 03:42, 12 thg 11, 2016 bởi Hoàng Lê Vũ   [ cập nhật 09:38, 9 thg 8, 2017 bởi Điều Nguyễn Xuân ]

Nhớ tới nhà giáo Hoàng Hữu Đản – Nhà văn, dịch giả Việt Nam



          Thầy giáo Hoàng Hữu Đản sinh ngày 3/4/1922 tại Quảng Trạch, Quảng Bình. Năm 1930, ông theo học trường trung học Collège de Francisca, Thanh Hóa. Tại đây, ông đã theo học tiếng Pháp và tiếng Anh, sau đó ông còn học thêm hai ngôn ngữ cổ là tiếng Hi Lạp và Latin. Tốt nghiệp tú tài, ông làm thư ký Tòa sứ. Trong những năm chiến tranh, ông làm chủ bút tờ báo Công Lý của Mặt trận Liên Việt, làm cán bộ giảng dạy tiếng Pháp, tiếng Việt, văn học tại các trường ở Quảng Bình, Quảng Trị, Hà Tĩnh...

          Năm 1954, thầy giáo Hoàng Hữu Đản chuyển về hẳn trường cấp 3 Ngô Sĩ Liên (Bắc Giang) dạy Văn, Sử Địa ở đây cho đến khi trường sơ tán. Từ đó cho đến cuối đời ông tập trung cho sự nghiệp nghiên cứu, sáng tác và dịch tác phẩm văn học từ tiếng Pháp sang tiếng Việt và ngược lại.

Nói đến nhà giáo, nhà văn, dịch giả Hoàng Hữu Đản, nhiều người trong giới chuyên môn đã dành cho ông sự kính trọng và ngưỡng mộ bởi tài năng, sự am hiểu và vốn kiến thức sâu rộng của ông. Tác giả Kiều Văn trong cuốn “Hoàng Hữu Đản – Nhà văn hóa tầm vóc quốc tế” đã ca ngợi: "Ông là một dịch giả hàng đầu ở Việt Nam đã dịch rất thành công nhiều tác phẩm văn học theo cả hai chiều ngôn ngữ Pháp - Việt và Việt - Pháp… Tôi đặc biệt kính trọng và ngưỡng mộ ông ở tấm lòng cao vọng muốn mang hết khả năng và tâm huyết của mình đóng góp vào công cuộc xây dựng một nền văn hóa toàn bích của dân tộc. Ông đã kế tục tinh thần và sự nghiệp cao đẹp của các nhà văn hóa am tường Tây học thuộc thế kỉ trước ông như Nguyễn Trường Tộ, Trương Vĩnh Ký, Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh... Ông có mặt trong hàng ngũ những nhà văn hóa xuất sắc thời hiện đại như Đào Duy Anh, Hoàng Xuân Hãn, Nguyễn Khắc Viện, Đỗ Đức Hiểu, nhóm Lê Quý Đôn, Xuân Diệu, Nguyên Ngọc, Thái Bá Tân, Hoàng Thúy Toàn, Vũ Anh Tuấn, Nguyễn Huỳnh Điệp... Bằng sự nỗ lực phi thường, trong mấy chục năm trời, bên cạnh công việc của một nhà giáo, ông đã biên dịch tới 50 cuốn sách với mục đích chuyển tải về cho đồng bào của ông, cho các nhà trường, các nhà giáo, các sinh viên và học sinh... những thành tựu tư tưởng và văn chương tiêu biểu của nền văn hóa Phương Tây vĩ đại. Đồng thời ông có cả một kế hoạch dịch tiểu thuyết và thơ Việt Nam ra tiếng Pháp để giới thiệu với thế giới".

Với sự nghiệp dịch thuật đồ sộ và tuyệt vời, ông Hoàng Hữu Đản đã trở thành công dân của thế giới. Ông đã được một tổ chức văn học quốc tế mời đích danh tham gia những cuộc hội thảo tại Pháp và Bỉ. Giới trí thức, các nhà văn nhà thơ ở châu Âu đều biết tiếng ông và ngưỡng mộ sự nghiệp văn học to lớn của ông. Công trình vĩ đại dịch trọn vẹn thành thơ Việt Nam hai tác phẩm cổ đại Hi Lạp Iliade và Odyssée với vài chục nghìn câu thơ đã khiến họ kinh ngạc. Bởi chưa có một dịch giả nào trên thế giới thực hiện nổi một công việc khó khăn như vậy. Những tác phẩm của ông có mặt tại nhiều thư viện ở Pháp và Bỉ. Riêng cuốn "Clair de lune" đã bay tới 49 quốc gia biết sử dụng tiếng Pháp... Nước Pháp đã đánh giá cao những cống hiến của ông trong việc phát triển tiếng Pháp và đẩy mạnh sự giao lưu văn hóa giữa hai nước Pháp - Việt Nam, đã hai lần trao tặng huân chương Cành cọ Hàn lâm (Palmes Académiques) hạng ba và hạng nhì cho ông vào năm 2000 và 2008.

Ngoài lĩnh vực dịch thuật, ông còn là một “cây đại thụ” trong làng văn học Việt Nam. "Bí mật vườn Lệ Chi" của ông được viết từ năm 1962 là một vở kịch bi tráng và đỉnh cao - thậm chí có thể so sánh với kịch của Shakespeare, Racine, Corneille - đã nhắm thẳng vào những vấn đề trọng yếu nhất của môn lịch sử... Vở kịch đã ngay lập tức đi vào lòng quảng đại nhân dân từ lần công diễn thứ nhất tại sân khấu Idécaf (Sài Gòn) trong khoảng thời gian từ năm 2000 đến 2002.

Có thể nói, tài năng văn chương, kịch nghệ và dịch thuật của ông được ươm mầm và nuôi dưỡng ngay từ khi ông còn bé, từ thuở ông theo học tại Chủng viện Ái Thần ở Thanh Hóa. Với tên thánh Giuse Maria Đản, hồi nhỏ, ông Hoàng Hữu Đản học trường Dòng, ông theo Kitô giáo, dòng Francesco.Suốt những năm tháng về sau, ông Hoàng Hữu Đản luôn tự hào và biết ơn khi nhắc đến ngôi trường mình đã được học, đã được rèn luyện nhân cách và đạo đức của người Kitô giáo. Chính vì thế, hầu hết các bài viết trên mạng Internet về ông đều trân trọng nhắc đến ngôi trường của Dòng Phanxicô ở Thanh Hóa, như là lời cám ơn trường xưa thay cho ông. 


     Với lòng ngưỡng mộ và tôn kính, ông Olivier Page, một trí thức người Pháp đã bày tỏ: "Trong con người ông Hoàng Hữu Đản có một khía cạnh tu sĩ Franciscain, một người yêu nước sẵn sàng chịu đựng mọi hi sinh để đạt tới điểm cao của văn chương và dịch thuật, sẵn sàng chấp nhận cuộc ẩn mình trong bóng tối và trong quên lãng... Ông Hoàng Hữu Đản là một người trí thức yêu nước. Ông đã trải qua nhiều biến cố lịch sử, qua hai cuộc chiến tranh, giống như một nhà tu hành khổ hạnh biết yêu đất nước non sông mình, quan tâm tới ngòi bút hơn đạn bom... Ông còn là một tu sĩ Franciscain yêu nước, xuất thân từ đồng ruộng và truyền thống ngàn đời của Việt Nam, một người khiêm tốn đã làm nên những sự nghiệp lớn trong đời mình bằng cách chiến đấu cho Tổ quốc và văn chương”.

Nhà giáo, nhà văn, dịch giả Hoàng Hữu Đản đã qua đời vào lúc 1h20 ngày 26/3/2012 tại Sài Gòn, chỉ vài ngày trước khi kỷ niệm sinh nhật lần thứ 90 của ông!

Tuyết Sơn 04.VII.2016
                                                                                                                                                                        (khóa 1964-1967 NSL)


NHÂN DỊP KỶ NIỆM 70 NĂM TRƯỜNG NGÔ SỸ LIÊN BẮC GIANG

đăng 21:31, 27 thg 8, 2016 bởi Điều Nguyễn Xuân   [ đã cập nhật 21:34, 27 thg 8, 2016 ]

                          KHỞI ĐẦU TRƯỜNG NGÔ SỸ LIÊN BĂC GIANG

Nhà giáo VƯƠNG ĐÌNH CỐC

(hs khóa1946-1950)

    

     Trường  Ngô Sĩ Liên Bắc Giang ra đời từ năm 1946 cùng với hai trường khác như Hàn Thuyên, Hùng Vương và cả trường Lương Ngọc Quyến sau này nữa. Ở tỉnh Bắc Giang trước cách mạng Tháng tám chưa có trường trung học nên các thế hệ cha anh đều phải học ở Bắc Ninh hoặc ở Hà Nội theo các trường tư hoặc các trường công của Pháp. Trong khi giữa thị xã Phủ Lạng Thương (Băc giang) còn bộn bề công việc của cách mạng, chính quyền vừa giành được còn non trẻ, thế mà đã có một trường trung học (Cấp III) hình thành.

     Thầy Phạm Đức Cường, nguyên là hiệu trưởng trường Hoàng Hoa Thám ở thị xã phủ Lạng Thương đã kể lại cái thuở ban đầu đáng ghi nhớ của trường chúng ta.

     Hồi ấy Cách mạng vừa về, thầy Cường là một trí thức vừa tốt nghiệp trường Cao đẳng Công chính của Pháp, đến gặp vị đứng đầu tỉnh Bắc Giang, ông Nguyễn Thanh Bình, (nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Trung ương ĐCSVN hiện nay), hối đó là phó Bí thư Ban cán sự Đảng kiêm Chủ tịch Ủy ban Hành chính tỉnh đã tiếp chuyện thầy Cường.

     Thầy Cường kể lại: Tôi ngỏ ý với ông Bình xin được xin một việc gì về chuyên môn để được phục vụ vì rôi vừa tốt nghiệp trường Agenttechnique. Nhưng ông Bình đã trả lời tôi là: "Cách mạng mới lên chưa có việc gì về kỹ thuật cả. Chúng tôi cần mở một trường học cho thanh niên nó học, để mở mang dân trí, ông nên đứng ra lập một trường trung học". Thầy Cường đã nhận lời và ít lâu sau thầy đệ trình lên tỉnh một văn bản để đưa lên Bộ Giáo dục xin mở một trường trung học.

     Thế là độ nửa tháng sau vào khoảng tháng 2, tháng 3 năm 1946, Bộ Giáo dục đã cho phép Bắc Giang mở một trường tư thục, mang tên vị anh hùng Hoàng Hoa Thám. Nhận được quyết định này, ông Nguyễn Thanh Bình mời thầy Phạm Đức Cường đến trao đổi: “Hiện nay đã có quyết định mở trường và Bộ Giáo dục cử ông làm hiệu trưởng. Nhưng ta thỏa thuận với nhau là bỏ đi hai chữ “tư thục” mà chỉ để lại tên trường là trường trung học Hoàng Hoa Thám”.

     Thế là có sự thỏa thuận của nhà lãnh đạo và người trí thức ham hoạt động. Từ tháng 2 năm 1946, biển trường được dựng lên ở khu nhà của trại lính thiếu nhi của Pháp, ở phía Đông Nam thị xã. Thanh niên, học sinh đến ghi tên nhập học đông. Cử ai ghi tên là được nhận vào học ngay, không phải chi phí một khoản tiền nào.

     Ngay năm đầu số học sinh đã rất đông, có đến gần 200 học sinh. Nhà trường chia làm 4 lớp: 3 lớp đệ nhất, một lớp đệ nhị. Lớp học đặt ở trong khu nhà ngói của “Trại lính thiếu nhi”, rất ngăn nắp khang trang. Tham gia giảng dạy tại trường trung học Hoàng Hoa Thám là những nhà tri thức hăng hái nhiệt tình với sự nghiệp học tập của thanh niên. Có Giáo sư dạy vật lý Phạm Quang Hiểu, các thầy dạy khoa học như thầy Lương Chương, thầy dạy thực hành như thầy Phạm Văn Chung, thầy dạy nhạc như nhạc sĩ Lã Hữu Quỳnh, cà giáo sư dạy chữ Hán như cụ Cử nhân Đỗ Thúc Phách, cùng một số thân sĩ tiến bộ… Các thầy đều tự nguyện dạy học không ăn lương. Thật là những nghĩa cử của những tri thức trên địa bàn thị xã Phủ Lạng Thương (Bắc Giang) hồi ấy. Nhờ có chủ chương đúng đắn của lãnh đạo tỉnh và tinh thần trách nhiệm của Thầy Phạm Đức Cường và tất cả các giáo sư tham gia giảng dạy mà trường trung học Hoàng Hoa Thám  đã đứng vững được gần một năm học. Tiếng súng toàn quốc kháng chiến nổ ra đêm 19-12-1946 ở thị xã Phủ Lạng Thương, tạm thời chấm dứt những hoạt động sôi nổi của thầy và trò trường trung học Hoàng Hoa Thám.

     Chúng tôi là lớp thanh niên thị xã Phủ Lạng Thương đã may mắn được học tại trường trung học Hoàng Hoa Thám. Khi trường ngừng hoạt động vì sự kiện "Kháng chiến toàn quốc", nhiều người trong học sinh chúng tôi đã theo gia đình đi tản cư ra khỏi thị xã về các làng quê của tỉnh. Nhiều người vào du kích, vào bộ đội và các cơ quan tỉnh.

     Sau này khi có quyết định mới của Bộ Giáo dục về việc thành lập một trường trung học quốc lập(Cấp III), lấy tên trường là  Ngô Sĩ Liên, cụ Lê Xuân Phùng, nguyên là giáo sư toán học, hiêu trưởng trường BONNAL Hải Phòng được cử về làm hiệu trưởng. Trường đóng ở Hồng Kiều xã Bình Lập, huyện Yên Thế (cũ) (nay là huyện Tân Yên), thì nhiều anh chị em của trường Hoàng Hoa Thám lại tập trung về đây để tiếp tục học tập.

     Nhận xét về tên trường  Ngô Sĩ Liên, cụ Phùng Hân Hoan nói: “ Một trường học phải mang tên một danh nhân mới hợp lệ”.

     Ban đầu trường có 3 lớp: đệ nhất, đệ nhị, đệ tam. Cuối năm 1947, trường phát triển mạnh, quy mô đình Hồng Kiều không đủ sức cho của động của trường nữa. Vì thế trường đã chuyển về Tiên Lục (xã Đào Quán, Lạng Giang). Tiên Lục có đến 7 làng xóm lớn, có khoảng 5,6 ngàn dân.

     Đến các năm học sau 1948 - 1949 -1950 trường  Ngô Sĩ Liên đã trở thành một trường lớn của Liên khu Việt Bắc. Quy mô có đến 9 lớp ( đặt tại chùa Tiên Lục 6 lớp, đình cây bàng 3 lớp), có khoảng 410 học sinh, thuộc 2 hệ: Hệ phổ thông học chương trình 4 năm. Hệ đặc biệt dành cho thanh niên lớn tuổi học trong 2 năm đều được thi tốt nghiệp bậc trung học.

     Năm 1947 ở Hồng Kiều mới chỉ có một số ít giáo viên, đến Tiên Lục đã phát triển trên 20 giáo viên, dạy các môn khoa học  và 2 môn Anh, Pháp. Cả thầy và trò đều trọ ở nhà dân các xóm Ngoẹn, xóm Cây Giã, xóm Giếng, xóm Tây, xóm Bống, xóm Vàng. Một số trọ ở làng phụ cận như Bến Tuần, Mỹ Lộc, Trường Hà, Phù Lão…Nhà trường chỉ có một vị hiệu trưởng, một thư ký văn phòng, đầu tiên là bác Ngọc sau thêm bác Phác.    

     Trong các kỳ thi học sinh giỏi liên trường (tổ chức thi học sinh giỏi thời ấy) của toàn Liên Khu Việt Bắc, Học sinh  Ngô Sĩ Liên thường đoạt giải thưởng cao. Khu Việt Bắc có 18 tỉnh, mà chỉ có mấy trường trung học: Hà Thuyên ở Bắc Ninh, Hùng Vương ở Phú Thọ, Việt Bắc ở Lạng Sơn, Lương Ngọc Quyến ở Thái Nguyên,  Ngô Sĩ Liên ở Bắc Giang ta. Năm 1949, anh Đặng Xuân Kỳ đoạt giải nhất môn thi Quốc văn, anh Phan Thu đoạt giải nhất môn Toán, anh Vũ Tự Lân đạt giải ba môn Pháp văn… Có một vấn đề đặt ra là, tại sao học sinh của trường  Ngô Sĩ Liên đồi đó lại học tập tốt như vậy? Tất cả chúng tôi đều phải đi trọ học trong điều kiện kinh tế rất khó khăn của nhân dân ta trong những năm 1947,1948, 1949 đầy gian khổ của cuộc Khàng chiến chống Pháp.

     Hồi đó mức ăn cơm trọ thấp của một học sinh là 60 đồng một tháng, mức vừa là 120 đồng, mức cao là 180 đồng và 200 đồng. Chúng tôi ở xóm Ngoẹn và ăn cơm ở nhà ông xếp Hoằng, các bạn ở xóm Tây, xóm Giếng thì ăn cơm nhà ông giáo Tiến. Còn bao nhiêu học sinh không đủ tiền ăn cơm tháng thì họ lập thành pô-pôt, tự thổi nấu lấy để ăn học . Hằng tuần các bạn thay nhau về gia đình để lấy gạo và thực phẩm lên nhà trọ, củi thì tự kiếm lấy hoặc xin của nhà chủ hoặc về đồi Bừng cắt cây cỏ về đun. Điều kiện vật chất thì khổ sở, thiếu thốn như vậy. Nhưng do lòng yêu nước , căm thù giặc và quyết tâm học tập của học sinh nên ở trường vẫn dấy lên phong trào thi đua học tập cao và các phong trào khác như thể thao, văn nghệ, báo chí.

      Giáo sư vả học sinh hòa với nhau làm một khối , thúc đẩy mọi mặt hoạt động nội, ngoại khóa của nhà trường. Trong thời kỳ ấy, trường  Ngô Sĩ Liên không chỉ là nơi đào tạo các thanh niên trí thức của tỉnh Bắc Giang, mà còn là nơi gặp gỡ của nhiều bạn học sinh của các tỉnh ngoài đến theo học. học sinh của các tỉnh: Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Hồng Gai và cả Hà Nội là các tỉnh bị thực dân Pháp chiếm mất đất đều tìm ra vùng tự do, đến Yên Thế, Lạng Giang để cùng học tập dưới mái trường hồi đó, đã làm nên sự nghiệp của mình.

     Tháng 8 năm 1950, tôi chia tay với mái trường thân yêu từ đất Tiên Lục để bước vào sự nghiệp giáo dục của đất nước. Đến tháng 11 năm 1973, tôi lại có dịp trở lại nhà trường ở thị xã Bắc Giang và bước lên bục giảng cho đến lúc nghỉ hưu năm 1987.

     Năm nay nhân dịp kỷ niệm 50 năm ngày thành lập trường , tôi muốn ghi lại đôi dòng về mái trường  Ngô Sĩ Liên thân yêu. Lòng tôi trân trọng hướng về các giáo sư đã có công lao dạy dỗ chúng tôi, từ những ngày đầu thành lập nhà trường mà nay nhiều vị đã ra người thiên cổ. Cũng là để bầy tỏ mấy dòng cảm nghĩ với bạn đã cùng nhau học tập ở Hồng Kiều và Tiên Lục năm xưa, trong niềm lưu luyến và tự hào về một thời tuổi trẻ đã qua của đời học sinh chúng ta.

Ngày 29-3-1995

 

THÔNG BÁO KỶ NIÊM 70 NĂM ngày thành lập TRƯỜNG NGÔ SỸ LIÊN BẮC GIANG (1946-2016)

đăng 02:05, 25 thg 7, 2016 bởi Hoàng Lê Vũ   [ cập nhật 21:33, 31 thg 10, 2016 bởi Điều Nguyễn Xuân ]

THÔNG BÁO CHƯƠNG TRÌNH LỄ KỶ NIỆM 70 NĂM NGÀY TRUYỀN THỐNG CỦA TRƯỜNG NGÔ SỸ LIÊN BẮC GIANG ( 1946 - 2016)

Trân trọng kinh mời các Thầy, các bạn là học sinh Ngô Sỹ Liên Bắc giang, về dự lễ kỷ niệm 70 năm ngày truyền thống của trường (1946-2016)

I- Thi gian: Ngày 12 và13/11/2016 (02 ngày: thứ Bảy và Chủ nhật).

II- Địa điểm: Trường THPT Ngô Sĩ Liên, số 143 đường Ngô Gia Tự, phường Ngô Quyền, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.

III- Nội dung Chương trình: Có 2 phần

1. Phần Hội: Diễn ra vào Chiều ngày thứ Bảy (12/11/2016)

Từ 14 giờ: Đón tiếp các cựu giáo viên, cựu học sinh, cán bộ nhân viên về dự Hội trường; Giao lưu tại phòng họp và thăm trường.

Từ 19 giờ đến 21 giờ: Hội diễn văn nghệ. Mời Cựu học sinh cùng tham gia.

2. Phần Lễ: Diễn ra vào Sáng ngày Chủ nhật (13/11/2016)

                                                                          Trân trọng

                                                                    T/M  Ban liên lạc

                                                   HS Nguyễn Xuân Điều (Khóa 1964-1967)

 

Những nhà giáo lão thành trường Ngô Sỹ Liên Bắc Giang (Nhân kỷ niệm 70 năm 1946-2016)

đăng 23:42, 3 thg 7, 2016 bởi Hoàng Lê Vũ   [ cập nhật 09:14, 15 thg 7, 2017 bởi Điều Nguyễn Xuân ]


Các nhà giáo lão thành: Nguyễn Văn Khắc (Con trai là Nguyễn Xuân Điều), Trần Lê Tấn (Con cụ Trần Lê Nhân- soạn Cổ học tinh hoa), Nguyễn Thị Kim...


Nhà giáo Nguyễn Văn Khắc


Nhà giáo Hoàng Hữu Đản


Tại xứ Mỹ Lộc, Mỹ hà, Lạng giang, Bắc giang.

Kim Sơn. Mùng 1/6 Bính Thân.

Chuyện buồn Hoa phượng

đăng 06:58, 13 thg 3, 2016 bởi Hoàng Lê Vũ   [ cập nhật 21:57, 26 thg 5, 2018 bởi Điều Nguyễn Xuân ]

                                                                                      TS Kim Lan

  (Nhờ tập Thiền của Bộ môn “Trường sinh học dưỡng sinh” mà tôi đã nhận biết được “Tâm hồn không mạnh mẽ thì không thể vượt qua được thử thách” và “Cái gì không phải là lửa thì không thể cháy được”, tình yêu thương của con người cũng như vậy!)


Ngày ấy, khi mình còn đang là học sinh Cấp 2 phổ thông ở một trường của thị xã, dáng mình gày nhỏ mảnh mai, các cụ ngày xưa thường ví như “Bồ liễu thảo” (Cỏ bồ liễu). Mẹ mình là giáo viên, cũng dạy ngay tại trường. Ba mình thì đi công tác xa, có thời kỳ hơn mười năm mới được  về thăm nhà. Mẹ mình sinh được hai con gái, mình là chị cả, hơn em gái 3 tuổi, vì thế hàng ngày ngoài việc học hành ra, mọi việc vặt trong nhà, mình đều phải gánh vác.

Nhớ lại những ngày tuổi học trò, có nhiều kỷ niệm vui buồn lẫn lộn. Những kỷ niệm vui, thường mỗi khi mình ngẫm lại, nó chỉ thoáng qua, nhưng những kỷ niệm buồn làm mình nhớ lâu hơn, nó như một vết thương bị cứa sâu, rất khó lành. Mỗi lần nhớ lại những kỷ niệm buồn, mình thấy lòng xốn xang, thổn thức…nhưng mắt mình khô cong! Nước mắt mình thường “chảy vào trong”, it ai bắt gặp mình khóc bao giờ. Có lẽ đấy là cá tính riêng của mình, mặc dù mình cũng rất “nhạy cảm”, mình nhớ đã từng có lần thích một bạn trai từ lúc mình mới 8 tuổi, khi thấy cậu trai ấy mặc một chiếc quần xooc màu hoa cà, (chỉ thích thôi, nhất là những cậu trai nào hay bẽn lẽn).

    Mẹ mình là người ham mê công việc, Mẹ nấu nướng rất khéo và ngon. Mặc dù ở thời gian đó, hoàn cành kinh tế của nhà mình cũng như của mọi nhà khác còn rất khó khăn, nhưng Mẹ luôn tìm mọi cách lao động thêm để cải thiện sinh hoạt cho gia đinh. Nhà mình ở khu tập thể của trường, Mẹ mình ngoài giờ dạy học, còn chăn thêm 5 con lợn lai Tây, hàng ngày mình phải đạp xe đi đến một nơi trong phố để lấy nước gạo về cho lợn. Có một lần đi lấy nước gạo, lúc quay về, đang trên đường, trời xẩm tối lại lất phất mưa rét, bị vấp đổ xe, cả thùng nước gạo to đổ toẹt lai láng ra đường phố, mình cũng bị ngã đau, nhưng rồi ngay lập tức lồm cồm bò dậy, dùng đôi bàn tay run rẩy nhỏ bé nhanh nhanh vun vét nước gạo lẫn gốc rau, thức ăn…vào thùng. Đôi bàn tay tê dại.  Về đến nhà nhớ lại chuyện ngã xe, nước gạo đổ tràn trề, mình mới hiểu thấu tại sao lúc ấy chỉ có một mình, không ai chia xẻ với mình? Một cảm giác buồn và cô đơn khó tả lại tràn về! Mới hơn mười tuổi đầu, đã phải chịu đựng, trải qua những vất vả, vì thế mà mình không thể lớn mập như các bạn khác cùng lớp. Nét mặt của mình lúc nào cũng thấy buồn buồn như người chỉ có “một mình” và rât it nói.  

    Mẹ mình là người rất chu đáo trong việc chăm nuôi con cái. Bà làm những việc đó như thuộc bản năng tự nhiên. Tính Bà nguyên tắc, cứng nhắc, tình cảm hơi khô khan. Mọi ý định Bà đã quyết thì khó có ai thay đổi được, vì Bà nghĩ là mình  “luôn luôn đúng” trong mọi việc. Với con cái, Bà dạy theo cách riêng,  không khác gì “kỷ luật quân sự”. Cũng từ những phương pháp dạy dỗ như vậy cũng có phần hiêu quả, bọn mình mới biết được những việc bếp núc, chợ búa,  muối dưa, muối cà, may vá, đan móc len sợi khăn áo…là những việc khéo léo của đôi bàn tay phụ nữ. Cũng vì thế mà mình thuộc lòng hai câu thơ từ thời niên thiếu:

Gió đưa cây cải về Trời,

Rau răm ở lại chịu lời đắng cay!

    Nhưng có một vấn đề mà Bà không bao giờ bàn luận đó là “Tình yêu lứa đôi”, Bà cũng không kể gì với con cái về mối tình của Bà với Ba của mình. Bà cũng không  trao đổi về chủ đề “Hạnh Phúc” với bọn mình, hình như Bà coi những thứ đó là xa xỉ, không phải là thứ Bà cần quan tâm ở cuộc đời này ngoài việc lo toan về  cuộc sống đơn thuần. Quả thật “Cái khó bó cái khôn”. Cái nghèo khó làm cho con người ta lãng quên, nhiều ước mơ bị chôn vùi.

    Mẹ mình có một người bạn thân, bà bạn ấy chỉ có một cậu con trai, học hơn mình một lớp. Chồng bà ấy là liệt sĩ đã hy sinh trong kháng chiến. Cậu con trai của bà trông mặt mũi cũng sáng sủa, giỏi gấp đồ chơi bằng giấy, làm những cây dừa xinh xinh rất hấp dẫn từ những phim ảnh cũ. Riêng chữ viết của cậu ấy thì như chữ viết ngoáy của bác sĩ thời thượng. Bà bạn rất nuông chiều cậu trai cưng của mình, it khi bà quở mắng vì cậu ta là nguồn tình cảm thiêng liêng duy nhất mà chồng bà đã để lại cho bà trên cõi đời này. Tuổi của bà vẫn chưa cao, bà vẫn còn những nét hấp dẫn của người phụ nữ, vì thế có những đám mày râu ngỏ lời tỏ tình, muốn được trở thành chỗ dựa về tinh thần và vật chất cho mẹ con bà, nhưng bà lạnh lùng không chấp thuận. Hình như bà luôn ngóng đợi một người nào đó ở rất xa, chắc đó là người đã khắc ghi trong tim bà những gì khó quên. Bà là người nén chịu được sự cô đơn…

    Vào một buổi chiều muộn, cậu con trai của bà bạn Mẹ tôi vừa tan học, cậu ta đi cùng một thằng bạn nữa vào nhà mình xin nước uống. Mẹ mình chỉ cho hai cậu ấy xuống bếp, có nước lá vối ủ ở cái ấm bằng đất nung để gần chạn bát, uống xong hai cậu ấy ra về. Cùng ngay lúc ấy Mẹ tôi hơt hải hỏi:

- Tờ tiền10 đồng của tao để trong chạn bát, tiền ấy để sáng mai đi đong gạo ăn, tự nhiên biến đâu rồi,  mày có lấy không đấy hả con?

- Dạ, con không biết ạ.

- Thế sao tờ 10 đồng lại biến đi đâu rồi? Mày không lấy sao lại mất? Nhà chỉ có hai mẹ con, lạ quá nhỉ?

    Tôi chợt nhận ra hai thằng học sinh lúc nãy vừa vào bếp xin nước uống, tôi vội chạy vọt ra sân đuổi theo, đi qua sân trường, chạy qua các hàng cây phượng vĩ còn sót những bông hoa cuối mùa vẫn còn đỏ rực dưới ánh nắng chiều muộn, trong lòng tôi như lửa đốt. Chạy được một lúc thì tôi đuổi kịp được hai thằng ấy, tôi quát lên: “Hai cậu kia đứng lại”, và tôi dằng chiếc cặp của cậu con trai bà bạn Mẹ tôi. Nhanh như cắt tôi thấy thằng ấy nó dúi vào tay của thằng bạn đi cạnh một vật gì đó. Tôi lục lọi khắp trong chiếc cặp sách của thằng ấy, không thấy tiền đâu! Tôi quẳng trả lại nó chiếc cặp sách, thất vọng quay về. Được một đoạn thì gặp Mẹ cũng chạy theo tôi lúc trước, hai mẹ con cùng đi về, đến nhà, Bà hỏi: “Có thấy tiền không”?

    Tôi trả lời Mẹ là con không thấy. Lúc ấy mắt bà long lên, bà lôi xềnh xệch tôi vào bếp, một tay túm chặt áo tôi, một tay Bà rút cái que cời than đập vào lưng tôi túi bụi. Vừa quật Bà vừa thét: “Tiền của tao mày lấy giấu ở đâu? Giấu ở đâu hả con gan lỳ cóc tía? Mày bỏ ra đây ngay không thì tao xé xác mày ra bây giờ”….Tôi vẫn khăng khăng trả lời là “Con không lấy cắp tiền”. Roi vọt vẫn tiếp tục quật xuống cái thân “Bồ liễu” của tôi. Một bên tay áo tôi rách toạc ra, thật xót xa, mắt tôi mờ đi, bị đánh hàng bao nhiêu roi đau đớn như vậy nhưng răng tôi cắn lại, tôi không hề bật khóc. Có lẽ vì nỗi oan ức tắc nghẹn trong lòng đã làm cho tôi trở nên một con người kiên cường của một thế giới khác lạ mà không phải ở thế giới khổ hạnh này. Trong đầu tôi bỗng vang lên một ca khúc mà tôi hằng ghi nhận trong lòng:

Đường xưa quen lối, tình dối người mang

Tình xưa trăm mối, một kiếp đa đoan…

    Ô hay! Sao cuộc đời này lại có những nỗi oan cừu mà không ai đứng ra để giải oan cho con người? Nỗi oan này đã trở thành nỗi đau khó quên trong tôi…Hôm ấy tôi nhớ là ngày 19.12.1975, ngày mang trong lòng tôi mãi sau này một triết lý “Hãy giầu lòng tha thứ”!

    Sáng hôm sau, trời vừa hửng. Tôi mở mắt nhìn qua cửa sổ bên giường của mình, ngoài kia là một ao Sen, vào mùa hạ hương ngát cả khu nhà. Gần sát cửa sổ là một vài cây hoa dại, cành lá lưa thưa vì thiếu nước, một cô chuồn chuồn kim bay lượn quanh mấy bông hoa như đang tỏ tình giống trong chuyện cổ tích xưa. Cô ta bay, cô ta múa hồn nhiên, màu thân của cô hòa cùng màu của hoa lá thành một khoảng trời riêng, cô thật vui và tự do! Ước gì mình cũng là cô “chuồn chuồn kim” của một thuở ấu thơ xa vời…

    Sau này, khi đang là sinh viên trường Đại học tổng hợp Hà Nội, tôi không phải ở ký túc xá như các bạn khác mà được ở nhà Bà trẻ họ hàng bên Mẹ, cách trường vài cây số. Có một lần tôi vừa đi học về thì Bà trẻ từ trong nhà chạy ra nắm tay tôi, lôi tôi đến bên chiếc xe đạp Diaman dựa bên tường nhà và tra hỏi: “Có phải cháu tự do lấy xe đi rồi làm xước khung xe phải không”? Tôi trả lời Bà trẻ là “Cháu không đi xe của Bà”. (Thật là ức nghẹn lên quá đầu)! Nhưng Bà trẻ vẫn khăng khăng; “Không cháu thì ai, xe không khóa, chỉ có cháu đụng vào thì nó mới bị xước như thế này” ! Tôi cố thanh minh như thế nào đi nữa Bà trẻ cũng không tin, Bà trẻ vẫn khẳng định xe bị xước khung là do tôi gây ra. Nỗi oan này cho đến nay cũng chưa ai giải được cho tôi, Bà trẻ thì đã qua đời mất rồi!

    Bây giờ tôi đã xây dựng gia đình,chồng tôi là một người chăm chỉ trong công việc, tôi được 2 con. Cuộc sống trăm bề phải lo toan, nhưng tôi cũng hết sức cố gắng để tạo nên một không khí gia đình hòa thuận, vui vẻ. Các con tôi là niềm an ủi và là chỗ dựa tinh thần vững chắc trong tôi, nhất là khi tôi gặp phải những trắc trở, rủi ro, thử thách và nỗi buồn oan ức trong cuộc sống thường ngày. Những lúc như vậy, tôi lại chợt thấy ánh mắt ngày xưa của Bà…

    Loài người chỉ khác các loài vật ở chỗ là biết yêu thương, có trí tuệ và trọng danh dự !

            “Giờ tốt nhất là giờ trước bình minh”

                                                                                                                    Hà nội, 19.XII.2015



Thiền đã giúp tôi tìm lại chính mình

đăng 20:33, 19 thg 1, 2016 bởi Hoàng Lê Vũ   [ cập nhật 09:44, 3 thg 7, 2018 bởi Điều Nguyễn Xuân ]

                                                                                                                                             Hải Bình



     “ Bạn đang ở trong một căn phòng ánh sáng êm dịu và không khí trong lành”…tiếng Thầy cất lên khi một ngày cũ kết thúc cũng là thời điểm bước sang ngày mới, lòng bỗng cảm thấy reo lên mừng rỡ như được về nhà sau chuyến đi mỏi mệt.


     Đến lớp Thiền trong một tâm trạng không thể chán chường hơn, trước đó giấu mọi người đi khám tâm thần và uống thuốc trầm cảm đã 2 tháng, 2 lần thay thuốc, trong rất nhiều năm, lâu lâu lại phải nhờ đến thuốc an thần như một biện pháp dự phòng tránh mình làm điều gàn dở nhưng thâm tâm vẫn biết nó đã và đang không giải quyết được gốc rễ. Nếu dùng hết sức bình sinh để sống bình thường thì tối đa cũng chỉ được 6 tháng lại trở về với trạng thái mỏi mệt triền miên, không tập trung, giảm hứng thú và các loại bệnh từ thực thể đến tinh thần cứ lần lượt ghé thăm.


     Khi 13 tuổi tự hỏi: tôi đến thế giới này để làm gì? Mọi thứ thật khó hiểu và khó nắm bắt, điều gì là đúng, điều gì là sai? Bản chất của sự việc có chỉ đơn thuần là những thứ mình nhìn thấy, nghe thấy, sờ thấy?


     Lúc 23 tuổi tự hỏi: mình ở đâu trong thế giới này? Có bị sinh nhầm thời không nhỉ? Có bất thường không khi tất cả mọi người đang giành nhau những cơ hội nhỏ nhất để kiếm tiền và nhao ra bon chen thì cứ mở to mắt mơ đến những điều lý tưởng tốt đẹp.


     Đến tuổi 33 lại tự hỏi: tháng này kiếm được bao nhiêu tiền? Đời dậy tôi rằng, và cũng đến lúc tôi hiểu rằng, mọi điều màu hồng chỉ có khi ở trong vòng tay cha mẹ, đời vốn bạc và lạnh lẽo đến lạ? Con người sống được nhờ máu đỏ hồng trong tim, vậy mà lại cư xử với nhau bằng thứ máu tím hoang hoải, man rợ, chết chóc.



     Thời gian cuốn phăng những băn khoăn tuổi trẻ để rồi lao vào cuộc mưu sinh vật vã, nhưng nào có biết chúng vẫn ở đâu đó rất sâu, từng ngày từng tháng ăn mòn chút niềm tin nhỏ bé còn lại và chỉ biết than khóc “Đừng tuyệt vọng, tôi ơi đừng tuyệt vọng”…


Tôi là ai mà còn ghi dấu lệ

Tôi là ai mà còn trần gian thế

Tôi là ai, là ai, là ai?

Mà GHÉT quá đời này.


     Và đến một ngày sau trăm vạn ngày giữa đời, bỗng muốn ngồi lại, bỗng muốn tìm thấy mình…chỉ mong được một lần thôi trả lời được câu hỏi : ta là ai? Trong tất những hỗn độn toan tính này, trong những sự lựa chọn cư xử chân thành tốt đẹp hay lạnh lùng này, ta là ai? Khao khát có thể đẩy ta đến nơi có nắng, có hoa, nơi có yêu thương mà không cần phải dẫm lên ai đó để đạt được.


     Có bao giờ bạn tò mò muốn biết phải chăng những chuyện đồng cốt, yểm bùa là có tác dụng thật, những chuyện dùng âm binh và các thể lực âm để hại nhau là thật? Và chính bạn là nạn nhân của những thứ đó.


     Là thật, nếu một lần nhìn và cảm nhận thấy chúng, bạn sẽ thấy chúng ở khắp nơi, hoành hành như ở chốn không người bởi chúng ẩn nấp trong bóng tối, không ai có thể sờ nắm hay nắm bắt được chúng, chúng đang điều khiển cả xã hội này theo âm mưu của vài kẻ độc ác muốn huỷ hoại cả đồng bào mình, cả dân tộc mình vì quyền lợi trước mắt của một nhóm người độc ác!


     Đã có bao nhiêu người và mất rất nhiều thời gian để người ta hiểu được điều đó là thật, là có một thế giới khác đầy oan ức, kìm kẹp, lởn vởn và muốn báo thù tồn tại chung với những con người bằng xương bằng thịt do cha mẹ sinh ra.


     Nếu bạn không tin vào điều đó, tại sao bạn lại tin vào gọi hồn, bạn lại tin vào cầu khấn vị này vị kia để được lộc, khi được lộc bạn vui vẻ hoan hỉ đi khắp nơi khoe và lần sau lại xin nhiều hơn nữa? Ai cho bạn? Lộc đó ở đâu ra? Nếu tin vào những điều đó, tại sao bạn lại không tin là có một thế giới khác mà chính bạn không thể lý giải?


     Trong hành trình tìm lại chính mình, bên tai tôi là giọng nói ấm áp đầy yêu thương của Thầy:


“Điều quan trọng nhất là bạn dành đủ thời gian để lắng nghe chính bản thân mình, bạn sẽ trưởng thành và là con người toàn vẹn, khi bạn hoàn thành tốt đẹp cuộc hành trình bên trong.”



     Thầy chỉ cho tôi những điều tôi từng ước ao là có thật: về một thế giới trong trẻo, ngoài gia đình, tình yêu thương cho đi là vô điều kiện, là con người được hoàn toàn có thể nuôi sống bản thân và gia đình bằng năng lực của mình mà không cần nhờ đến bất cứ một sự “Xin cho” không rõ ràng nào. Ai đó có thể nói tôi ngờ nghệch, nói tôi đơn giản và một màu…nhưng được là chính mình chẳng phải là khát khao của bao người sao?


     Hãy thành thật với bản thân một lần thôi, tất cả có phải là tiền tài hay danh vọng đem lại cho bạn sự bình an? Hay là tình thương yêu chân thành với đồng loại của chính mình?


     “Con đường lên dốc và xuống dốc vẫn là một, chỉ khác nhau ở sự lựa chọn đúng hay sai theo quy luật nhân quả của vũ trụ”.


     Chúc các bạn có lựa chọn đúng như tôi.


Hà Nội, 19.1.2016


Tôi và Thiền

đăng 18:04, 9 thg 10, 2015 bởi Hoàng Lê Vũ   [ cập nhật 09:34, 18 thg 7, 2017 bởi Điều Nguyễn Xuân ]

 Tâm sự của  Ng. Hải Anh


 

 Người chết không thể giúp gì người sống mà người sống mới phải giúp người chết”. Nói như thế bạn cho rằng đó là điều hiển nhiên quá, chẳng có gì phải bàn, chết rồi thì làm được gì. Nhưng có bao người hay chính bạn đã có lúc quỳ gối dập đầu trước bàn thờ người chết hay gốc cây, khe suối – nơi mà người ta đã đặt sẵn một bát hương, khói hương nghi ngút, tay vái, miệng lẩm bẩm cầu xin: sức khỏe, bình an, tiền tài, danh vọng…hay thậm chí cầu cho những kẻ ghét mình, mình ghét những điều không may sẽ đến với họ. Vậy rõ ràng người sống đang “nhờ” người chết giúp đó thôi.


     Tôi vốn sinh ra ở một vùng quê nghèo nhưng may mắn được bố mẹ cho ăn học nên cũng tốt nghiệp đại học và có một công việc ổn định ở Hà Nội.

     Năm 2009 tôi 29 tuổi – Mẹ nhắc tôi thế. Nhớ cái tết năm ấy mẹ kéo tay tôi nói như một sắc lệnh: “Năm nay con gái phải lấy chồng đấy! Bố mẹ già thì bố mẹ chết chứ không thể lo cho con mãi được” Và mẹ tôi khóc… Tôi thấu hiểu hơn nỗi buồn trong mắt mẹ, càng xót xa cho số phận của mình sao chẳng giống ai; đã có lúc tôi chạnh lòng rằng ông Trời thật bất công với mình! Tại sao chứ? Tôi kém cỏi quá ư? Không! Tôi xấu xí quá ư? Không! Tôi đáng gét quá ư? Không!... Vậy tại sao bao kẻ “trồng cây si” đã bỏ đi hết khi tôi có ý định kết đôi, đến cậu bạn học cùng khóa chơi với tôi từ thuở thiếu thời khi ngỏ lời, tôi cũng đùng đùng nổi giận; tôi khó chịu mỗi khi hắn đến nhà “trồng si”, mặc dầu từ thời cấp 3 đến khi ra trường tôi và hắn chơi với nhau vui vẻ lắm cơ mà. Tôi đã có lúc tự nghĩ lại thì thấy mình sai, tức giận vô cớ, vô duyên nhưng biết làm sao, tôi không thể thay đổi được.


     Cuộc sống cứ lặng lẽ trôi đi, tôi 30 rồi 31, 32…và đôi lúc có ai đó hỏi tôi bao nhiêu tuổi, tôi dường như không muốn nhớ đến tuổi mình nữa nhưng cái ngày mà tôi luôn nhớ và tự hào, sẵn sàng trả lời với mọi người rằng: tôi sinh ngày 09-09-1981, đó là ngày tôi cất tiếng khóc chào đời. Mẹ kể rằng: hôm ấy, cả nhà đang chuẩn bị bữa cơm trưa thì mẹ hơi đau bụng, Ngoại giục mọi người ăn cơm nhanh để đưa mẹ đi trạm xá vì Bố tôi đi làm xa. Nhưng có lẽ cái tâm thức trong tôi đã mong đợi nhiều lắm, tôi đòi ra luôn khiến cả nhà không kịp trở tay. Dì tôi bất đắc dĩ trở thành bà đỡ.

     Than ôi! Đúng vào dịp mùa lúa mới, cả làng đi gặt từ tờ mờ sáng, buổi trưa họ về cơm nước tranh thủ nghỉ ngơi, Ngoại tôi chạy cuống cuồng đến nhà bà đỡ thì bà ấy từ chối vì bận việc. Ngoại khóc. Ngoại sợ không kịp tìm người bởi cái làng tôi ngày ấy nhà nọ cách nhà kia cả kilomet, họ hẹn nhau giờ giấc tính bằng mặt trời đổ bóng nắng. Thật may mắn, ông ngoại tôi có cái đồng hồ nhưng mỗi lần chạy lại phải lên dây cót, chuông đổ 12h thì cũng là lúc Bà hàng xóm gỡ cho tôi cái tràng hoa quấn cổ ba vòng. Và mẹ cũng được lấy rau xong. Tôi tròn vo đôi mắt liếc nhìn mọi người và ánh sáng. Cả làng kéo đến nhà ngoại chơi vì mẹ bảo bé đáng yêu lắm! da trắng, môi đỏ, tóc đen, má lúm đồng tiền một bên. Có cụ bảo với mẹ tôi: “con gái cô xinh thế này sau đắt chồng lắm đây!”

     Tôi lớn lên vòng tay yêu thương của cha mẹ,
nhớ ngày ấy thỉnh thoảng có “tivi về làng”, mẹ tôi tranh thủ nấu cơm chiều thật sớm rồi hai chị em theo bố đi xem. Cái tivi như cái cục sắt di động to đùng phát ra được hình ảnh thật kỳ lạ, cả làng háo hức chen nhau đi xem, Bố thường cung kinh tôi lên đầu xem cho rõ rồi lại cung kinh tôi về, bởi tôi là “con gái rượu” của ông mà. Tôi thích lắm. Tôi nhớ nhất bộ phim “Phạm Công Cúc Hoa” bởi nó đã khiến  tôi khóc ngặt ngẽo trên vai bố.     Mỗi lần cái roi của Dì ghẻ liên hoàn dáng vào hai Chị Em, con của Phạm Công Cúc Hoa khi cha đi trấn thủ miền xa như chính vào xương thịt chị em tôi. Tôi khóc. Chị tôi khóc. Sáng hôm sau thì xưng húp mắt khiến mẹ tôi xót xa, đã có lần mẹ cấm không cho xem phim này nữa. Hình ảnh màn đêm buông xuống, hai đứa trẻ đói rét khóc bên mộ mẹ, trong mơ chúng gặp Cúc Hoa hát ru yêu thương, tiếng gà gáy làm chúng giật mình thức giấc, cậu em khóc nức nở vì không thấy mẹ bên cạnh, chỉ còn đó 2 chiếc áo Mẹ gửi nhưng cũng không làm đủ ấm cho hai trái tim trẻ thơ tội nghiệp cứ in mãi trong tôi.

     Cuộc sống làng tôi dần khấm khá hơn, những nhà nhiều lúa gạo cũng mua được cái tivi đen trắng; cuộc sống như rộn ràng hơn, tối thứ 7 hàng tuần chị em tôi lại lục đục kéo nhau sang nhà hàng xóm “xí chỗ” xem ti vi. Tôi háo hức lắm. Khổ nhất những hôm mưa gió, rét mướt chị em tôi quần sắn ngang đầu gối bì bõm lội qua những vũng nước “ổ gà”, sang đến nơi thì chỉ còn lại phía cuối nhà, tôi lại loi choi lên đầu, mấy anh chị lớn cũng ngồi lùi lại nhường chỗ cho tôi. Có hôm mất điện nữa chứ, nhà bỗng tối thui, người ở lại, người ra về mà lòng đầy tiếc nuối. Chị em tôi lê la ngồi chờ điện, đợi cả tuần rồi cơ mà. “Có điện rồi!” tất cả ồ lên vui sướng, ai nấy chạy vội vào chiếu ngồi trật tự. Tập phim “Bao Thanh Thiên” tuy đã chiếu dang dở nhưng cũng đủ an ủi niềm vui tôi. Đoạn, cái màn hình co rúm, xì xẹt, loằng nhoằng trắng đen lẫn lộn, chủ nhà tắt “bụp!vì sợ tivi hỏng. Chị em tôi tiu ngỉu lại phải ngồi chờ “điện tăng”.

     Tôi ước! Ước nhà có cái ti vi để chị em tôi mỗi lúc điện “phập phù” như thế chúng tôi ngồi chơi với em bé chứ ngồi chờ điện chán lắm. Nhưng ước chỉ là mơ ước. Để cái bụng no và được đến trường mà giờ bụi phấn đã vương mờ phổi mẹ. Bố đi làm mộc xa nhà, thỉnh thoảng mới về, chị em tôi mới được bữa cải thiện: thịt ba chỉ rang lẫn lạc, chúng tôi lại thi nhau đổ cơm nóng vào trộn chảo dấu; thứ nước mỡ còn sót trong chảo quện đều lên hạt cơm tròn bóng. Ngon tuyệt! vui thật đấy, những hôm bố về cả nhà tôi lại xum vầy... Rồi bố đi làm xa, mẹ hàng ngày vẫn chiếc xe đạp “cà tàng” trên con đường sự nghiệp trồng người nuôi chị em tôi khôn lớn.

     Lên lớp 7, tôi bắt đầu tập xe đạp. Tôi thích lắm, cứ tranh thủ buổi trưa mẹ mẹ rảnh xe là tôi lại tranh nhau với chị gái để được đi vòng đầu tiên. Chả là chị em tôi quy ước lần lượt mỗi đứa một vòng, chúng tôi cứ đứa đi xe đứa chạy theo sau “giữ” cho xe khỏi đổ từ đầu xóm đến cuối xóm. Hai chị em tướt mướt mồ hôi những trưa hè. Hôm đó, tôi lò dò một mình đi xe ra tận đường cái (con đường phía sau nhà tôi cách một sải cánh đồng chừng 300m), nó là đường cái vì rộng hơn đường ngõ xóm tôi, con đường gồ ghề với những “ổ gà” và đá con lởm chởm. Tôi bắt đầu thử co cả hai chân đặt lên bàn đạp và rớn lên chạm ngồi mớm trên yên xe, tôi đạp được nửa vòng thì “hết chân”, tôi dậm chân trái lùi ngược bàn đạp rồi lấy đà đạp chân phải cho xe chạy. Tôi vui lắm!... Bỗng “rầm!” tôi lao vào chiếc xe tải đi ngược chiều, chiếc xe đạp bắn sang bờ mương. Tôi ngã lăn, lọt thỏm trong gầm xe, cũng là lúc chiếc xe dừng lại, chú lái xe lôi tôi ra. Sợ! sợ thật! tôi sợ hỏng xe của mẹ tôi thì “no đòn” là cái chắc.

     Chú lái xe dắt tôi về nhà mà trên đường tôi cứ một mực xin chú đừng nói gì với mẹ tôi, ấy vậy mà vừa vào tới cổng chú ấy đã bô bô: “Chị Thu ơi, chị cho con gái đi xe ra đường cái nguy hiểm lắm! em suýt đâm vào nó đấy, cũng may mà em đi chậm chứ không hôm nay nó làm ma rồi!” . Mẹ tôi hết hồn, quắc mắt: “Giời ơi là giời! Ai bảo đi xe ra đường cái chứ? Để bố mày về tao bảo cho mày một trận!”. Mẹ nói thế tôi sợ run, ai chứ bố tôi mà cho “ăn đòn” thì lằn mông cả tháng. Nhớ có lần chị gái tôi trông em trai, làm ngã dập trán nó mà bố tôi đánh tóe máu chân, mẹ tôi không can nổi, chỉ đến khi hàng xóm kéo đến thì bố tôi mới thôi.

     Và những trận đòn roi khi những buổi trưa hè bố tôi bắt được chị em tôi không ngủ mà ra cánh đồng sau nhà bắt chuồn chuồn, châu chấu về chăn con gà chíp – gà chị em tôi nuôi tắc để bán lấy tiền mua sách vở dịp đầu năm học, cũng ngấm dần vào da thịt chị em tôi theo năm tháng lớn khôn. Nhưng trận đòn tơi bời mà tôi nhớ nhất là hè sinh viên năm thứ nhất về thăm nhà, ngày 16 tháng 7 năm 2001, đó cũng là trận đòn cuối cùng trong cuộc đời tôi - không còn bị bố đánh nữa. Buổi trưa hôm ấy, bố đi chở hàng cho khách về thấy tôi đang chơi, bố bảo: dọn dẹp nhà cửa để chuẩn bị ăn cơm, chả là bố tôi làm thợ, vỏ bào, mùn cưa, đầu mẩu gỗ bày ra la liệt, ngày nào cũng thế, tôi chán ngấy cái cảnh quét dọn rồi, tôi lùng bùng...không làm. Sẵn có thế trong cơn thịnh nộ, bố vớ cái thước gỗ lôi tôi xềnh xệch ra sân, Vậy là bao nhiêu sự căm gét, tức giận “cái thằng Nghệ An” được dịp dồn lên tay bố liên hoàn dáng vào xương thịt tôi. Cái thước gẫy làm đôi, bố nhặt phần còn lại mà chút tiếp cơn giận. Tôi bằm môi chẳng thèm khóc mặc cho bố lôi tôi ra tận ngõ mà đánh, chỉ đến khi mẹ lao ra ôm lấy tôi bố mới dừng. Mẹ dìu tôi vào buồng. Tôi liu riu như vừa trải qua một giấc mơ. Thật khủng khiếp! Lưng tôi, mông tôi, chân tôi đã hằn lên cả “lũ lươn” dài. Mẹ hỏi tôi: “có đau lắm không con?”. Tôi bật lên khóc nức nở, có lẽ lúc này tôi mới thấy đau thì phải. Những cái roi như đang đâm xuyên vào da thịt tôi, trái tim tôi và nước mắt mẹ rơi xuống xót xa càng làm cho lòng tôi thêm đớn đau.

     Tôi nhớ anh nhiều hơn, yêu anh nhiều hơn, càng mong những ngày hè mau đi qua để tôi được  thoát ra khỏi nhà, được gặp anh cho vơi đi nỗi nhớ đong đầy con tim. Và anh cũng vậy, bao yêu thương nhung nhớ anh dành gửi qua những dòng thư. Tôi chiều nào cũng ra cổng ngóng tin anh nhưng cũng có lần cánh thư lạc vào tay bố tôi, bố dấu nhẹm, chỉ đến khi tôi nhận thư sau mới phát hiện ra thư trước bị lạc. Vậy là “tình yêu” tôi bị bố dày vò và lòng căm tức “thằng Nghệ An” càng hằn sâu trong con người ông. Tôi ... xa bố dần, tôi cũng mất luôn chức vị “con gái rượu” trong lòng bố. Và bắt đầu tôi không còn nói chuyện thân thiện với bố nữa.

     Ra trường, tôi đi làm, vậy là chẳng có lý do nghỉ hè để về nhà nữa, tôi ít về nhà hơn. Năm ấy – 2005, chiều 30 tết tôi mới về đến nhà, tôi ăn vội bữa cơm tất niên của mẹ rồi lăn ra ngủ. Có lẽ những ngày tết là những ngày “nhàn hạ” nhất trong năm của tôi bởi tôi được ngủ thỏa thích mà không sợ ai làm phiền. Tôi lầm lì, chịu đựng sự dày vò của con tim khổ đau đến tột cùng khi những năm về trước mặc dù không đón Tết cùng anh nhưng trái tim anh luôn bên tôi, sưởi ấm tôi – hạnh phúc yêu thương biết bao. Như hiểu được nỗi buồn trong tôi, bố chỉ trách nhẹ nhàng: “con đi từ tết đến tết mới về đấy!”. Ừ nhỉ? Tôi nghĩ lại mới thấy thời gian nhanh quá đỗi, về nhà ư? Đã có lúc tôi muốn về nhà lắm chứ, Hà Nội cách nhà có bao xa, những khi nghỉ lễ 2-3 ngày tôi co ro trên giường chứ có làm gì đâu. Nhưng về nhà thì tôi chẳng được vui, tôi chẳng nói chuyện được với bố câu nào mặc dù bố đã biết tôi và anh chia tay, cái giận của bố cũng nguôi ngoai nhưng tôi không đủ can đảm để vui vẻ trò chuyện với bố như thời bé thơ nữa.

     Những năm 2005, thỉnh thoảng tôi mới về thăm nhà. Con đường qua thành phố Thái Nguyên, qua cổng trường Đại học Y khoa, nơi mà tôi và anh đã từng dong duổi mỗi dịp khi tôi về thăm anh – hình ảnh anh lại dội về trong ký ức. Tôi đã rằn lòng mình rằng ”kẻ đó đã chết rồi” nhưng con tim như quỵ lại khi bước chân tôi chạm tới tên đường, tôi phải thật cố đi xe để về đến nhà nhưng mắt đã xưng húp, tôi lại làm đau mẹ tôi rồi! Và đó là lý do từ đó đến năm 2010 tôi về nhà nhưng không qua con đường thành phố bao giờ. Tôi đi tắt qua lối Sông Công – Núi Cốc, con đường tuy lởm chởm đá nhấp nhô, không đèn điện sáng nhưng để an ủi trái tim tôi. Chỉ có điều tôi hơi rợn người mỗi khi qua nghĩa trang Dốc Lim, nơi mà được coi là “thành phố ma” cách trung tâm thành  phố Thái Nguyên khoảng chục kilomet; đã có lúc tôi phải cố lao thật nhanh nhưng tôi cũng phải quen con đường dần vì tôi còn biết đi lối nào về nhà nữa đâu.

     Con đường thành phố Thái Nguyên dường như tôi đã lãng quên, tôi nghe người ta nói chợ Đồng Quang đã quy hoạch lại và xây dựng đẹp lắm, lại có cả hệ thống siêu thị điện máy nữa chứ! Ôi quê hương tôi! Quê hương của xứ Trà vương đậm mùi đất đã thắp lên từng búp chè mà ai đã từng đi qua được thưởng thức vị ngọt ấm của hương trà thì có lẽ chẳng bao giờ quên nhưng tôi đã phải cố quên, quên để thôi làm tổn thương con tim tôi. Và những năm tháng ấy tôi về nhà chỉ tính trên đầu ngón tay.

     Thời gian cho công việc đã ôm trọn trái tim tôi. Tôi có thể “lẩn tránh” con đường ấy – nơi đã ghi dấu chân sóng đôi mối tình đầu của tôi và anh. Nhưng thời gian và sự lặp lại của quy luật bốn mùa thì làm sao tôi có thể đổi thay? Con đường Hoàng Quốc Việt, Nguyễn Khánh Toàn, nơi tôi ngày nào cũng đi làm qua cứ dội vào trái tim tôi một màu tím của Bằng lăng, nó như thiêu đốt cả con tim tôi, đã có lúc tôi sịu lòng khi cánh bằng lăng vô tình rớt xuống chân tôi. Nỗi đau lại dội về con tim, chỉ còn nước mắt tôi an ủi dỗ dành nhưng nó đã cạn kiệt khiến tôi không còn được tinh tường như trước nữa. Tôi cận. Đó là những tháng ngày tôi lao vào công việc mong xua đi những đớn đau trong lòng nặng trĩu và đôi lúc nó ậc ra khiến cho tôi như chỉ thấy một màu – màu tím mà thôi;  màu của mùa hè năm ấy - 2000 ngày 19 tháng 5, “ngày tình yêu” của tôi và anh. Đó hè đầu tiên anh học xa nhà, anh bảo ở quê anh ngày này nhà nhà tổ chức sinh nhật Bác, để tỏ lòng kính nhớ Người tôi được dịp ra mắt bạn bè anh trong bữa cơm chiều do chính tay anh nấu, bữa cơm thật đầm ấm và xum vầy. Buổi tối, anh chở tôi chiếc xe đạp vòng quanh đường tròn trung tâm thành phố, hai đứa chụp chung tấm hình đầu tiên, thật là vui biết mấy! Anh hái tặng tôi một nhành Bằng lăng, ánh mắt anh, nụ cười anh, vòng tay anh, bờ môi anh...như tím cả một góc trời... tôi. Tôi thật hạnh phúc vì được yêu anh.

Những năm sau, chúng tôi đều gặp nhau vào ngày này, ngày 19 tháng 5 để ôn lại “nơi tình yêu bắt đầu”... Và rồi chính nó đã làm cho con tim tôi rỉ máu bao lần. Thời gian, chỉ có thời gian mới giúp tôi hàn gắn vết đau nhưng đến giờ đã 15 năm trôi qua kể từ ngày mối tình đầu của tôi và anh. Thời gian như cơn gió thoảng qua mà cuộc đời thì bao thăng trầm, khổ đau từng trải. Và cuộc đời tôi vẫn vậy nếu không có một ngày…

     Ngày 01-06-2015, Bạn rủ tôi đến nhà Thầy. Tôi nhập môn Thiền như một cơ duyên, tôi vui và cảm thấy yêu thích…

     Ngày 04-06-2015 bỗng trong tôi xuất hiện một ông già tự xưng là người dân tộc 90 tuổi đã vào người tôi ngay từ khi lọt lòng Mẹ. Ông nói: vì ông đi tuần buổi trưa thấy mẹ tôi sinh con vất vả quá nên vào giúp gỡ cái tràng hoa quấn cổ cho tôi và lấy rau cho mẹ nhưng thấy cô bé xinh và đáng yêu nên ở lại luôn. 
Tôi bàng hoàng nghe trong tai mình, mồm nói mà không thể điều khiển được chính mình. Ông già 90 tuổi cứ tha hồ mà nói sau 35 năm im lặng trong tôi. Ông nói: chính kiếp trước của bạn  tôi là vợ ông ấy. Và điều đó lý giải tại sao khi tôi mới chuyển vào công ty mà Trang - bạn ấy rất hay nói chuyện cởi mở và rủ tôi đến nhà Thầy. Nhớ buổi học đầu tiên hôm đó là thứ 2 tôi đi chuyến xe Thái Nguyên – Hà Nội từ 5h30 xuống thẳng công ty, hết giờ nhưng tôi vẫn ngồi tiếp tục làm bù cho mấy ngày nghỉ về quê vừa rồi. Bạn qua phòng, kéo tay tôi tắt bụp cái máy tính trên bàn, nằng nặc lôi tôi đi, tôi miễn cưỡng lý do: không có xe, không có mũ bảo hiểm nhưng Bạn giật tay tôi chắc nịch: Đi! Em chở chị đi, không sợ công an đâu. Tôi cố chống chế: chị đã đăng ký đi học đâu? Mà chị đang bận làm báo cáo tháng trình Sếp? Thôi, để hôm nào đăng ký thì học. Tôi giả bộ hứa hẹn thế chứ tôi chắc mẩm rằng  sẽ không đi đâu, tôi đã học xong Thạc sỹ rồi. Vì việc học này mà phiền lòng bố mẹ tôi, họ đã kịch liệt phản đối vì sợ tôi càng ế. Năm 2013 tôi nhận xong tấm bằng và tự nhủ “rửa tay gác bút việc học hành” mà giờ nghe nói đi học tôi cũng ngại, “có tuổi” rồi nên lười và tiếp thu kém lắm. Nhưng sự quả quyết và nhiệt tình của  bạn tôi – em Trang khiến tôi miễn cưỡng theo sau. Tôi ngồi trên xe em mà tim đập thình thịch mỗi lần qua ngã ba ngã tư thoáng thấy bóng chú “áo vàng” tôi  không khỏi băn khoăn: Thiền là gì nhỉ? Sao Thầy lại dậy vào cái buổi 7h-9h30 tối ở nhà nhỉ?...
     Nhà Thầy không rộng, tôi từ từ bước vào mà nghe lòng mình nhẹ nhàng hơn như chính mình đang đến một nơi linh thiêng nào đó, lớp khá đông người nhưng chỉ có tiếng đàn piano và lời của Thầy – ngọt ngào mà du dương khiến cho lòng người thanh thản, đã lâu lắm rồi tôi không còn tìm được cảm giác đó. Những ngày tiếp theo tôi chủ động tắt máy tính sang phòng em Trang giục đi sớm kẻo tắc đường nhưng thực ra tôi thích đến nhà Thầy.

     Buổi tối hôm ấy “ông già” trong tôi cứ đòi ở lại nhà Thầy, Thầy phải “nhờ” “vợ của ông già” cùng anh trợ giảng của Thầy đón taxi đưa tôi về nhà. Tôi xưng “anh” với Trang và gọi tên mẹ, anh, chị em và xưng “tôi” với tất cả mọi người. Trang đưa tôi về mà bạn ấy quá khiếp, sau này khi tôi trở về chính mình thì bạn ấy nói với tôi rằng “em chỉ sợ chị bị dở hơi thì em ân hận lắm vì đã đưa chị đi, em lo thật”. Tôi bước vào nhà  thì bị khự lại như có luồng điện giật và hét  rú lên tay che mặt vì tôi va phải cái gương xoi sáng quắc. Tôi co rúm người, choáng váng! Tôi lên giường nằm, miệng lẩm nhẩm nói gì mà tôi không thể nhớ.  Cả nhà tôi hôm đó mất ngủ, hoảng sợ, Mẹ tôi nhận được điện thì vội vã sáng sớm hôm sau bắt xe xuống Hà Nội, họ nghĩ tôi bị “ma làm”, mẹ định đưa tôi về quê để đến nhà Thầy Cúng. Nghe đến đây tôi lăn đùng ra khóc tơi tả cầu xin Mẹ đừng mang tôi đi, tôi chỉ một mực đòi đến nhà Thầy.

     Sáng ngày 05-06-2015 Mẹ đưa tôi đến nhà Thầy thì bỗng nhiên trong tôi lại có một em bé là bào thai 3 tháng tuổi, xưng là con gái của mẹ tôi, khóc lóc đòi mẹ yêu thương. Mẹ tôi cũng nhận ra đó là đứa con đầu lòng bị tuột mất lúc 3 tháng tuổi. Với “ông già” kia tôi có lẽ chẳng tin vào chính mình nhưng “cô bé” con gái của mẹ tôi thì chính mẹ tôi không phủ nhận. Câu chuyện như lật lại quá khứ 35 năm về trước mà tôi “sống” với họ nhưng tôi không hề hay biết.

     Rồi lúc sau trong tôi chuyển giọng đọc thơ:

“Nam quốc sơn hà Nam đế cư

Tiệt nhiên định phận tại thiên thư

Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm

Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư”


Lại là một người lạ khác trong tôi, đọc bài thơ thần mà danh tướng Lý Thường Kiệt (1019 – 1105) đã từng đọc trên sông Như Nguyệt (nay là sông Cầu, thuộc Bắc Ninh - Bắc Giang), người đó tự xưng là ông Hoàng Thái Tử nước Nam Hán. Ông nói đã ở đất nhà Ngoại tôi từ bao đời rồi và cũng nhập vào tôi ngay từ khi tôi sinh ra, hoang đường, lạ lùng quá chăng? 

     Mảnh đất mà gia đình tôi đang ở là của Ngoại để lại, Ngoại có 4 người con gái trong đó có Mẹ và Dì tôi nhận thừa kế. Ngoại tôi đã có lần mời Thầy về cúng tạ đất, người ta nói đất này dữ lắm, của người Tàu ở từ rất lâu đời rồi. Ngoại tôi sau khi mua mảnh đất này thì đau ốm liên miên, Ngoại lập miếu thờ đến khi Ngoại mất thì Dì tôi chuyển miếu sang thờ bên nhà mẹ chồng. Dì cũng hay đau đầu và làm ăn thất bát nên chú dì đã quyết định vào Đắc Lắc sống từ năm 1997 nên hiện tại chỉ còn bố mẹ tôi ở đó.

     Kỷ vật “sống” duy nhất còn lại là cây “Táo già” trước cửa nhà tôi, theo như lời các cụ kể lại thì đến nay nó khoảng 105 tuổi. Thân nó bằng một vòng tay ôm của tôi, vỏ nó sần sùi rất dầy. Nó vẫn đơm bông kết trái vào mỗi độ xuân về, và gắn liền với tuổi thơ bao thế hệ làng tôi, chị em tôi thường hay vắt vẻo chèo hái mỗi buổi trưa hè. Còn nhớ lũ trẻ con – học trò của mẹ tôi vào mỗi dịp 20/11 lại ùa đến nhà tôi chèo cây hái táo. Quả chín vàng rộm thì hơi chua, quả xanh hơi chát nhưng chấm muối thì vị chua chát kiêm chút mặn lại bồn bột, ngon ngon. Cái vị này cho đến bây giờ cứ mỗi dịp tết về nhà, tôi lại nhâm nhi tận hưởng – vị của đất quê hương tôi ...


     Chiều ngày 05-06-2015, tôi một mình trong căn phòng nhỏ. Tôi thiền. Cánh tay tôi nặng trĩu, hai bờ môi mím chặt vào nhau như có ai đó dùng keo dính vào miệng, tôi cố hết sức mà không thể nói được. Tôi thấy Chị. Chị quê Nam Định. Người ta đã gắn xi vào miệng và chôn sống chị khi tuổi 18 trinh nguyên làm thần giữ của trên đất nhà tôi. Tối, tôi viết ra giấy đòi mẹ đưa đến nhà Thầy. Lớp học thật đông, im phăng phắc. Tôi lặng lẽ ngồi theo tiếng nhạc thiền xen lẫn tiếng suối chảy róc rách, tiếng chim hót líu lo, tiếng sáo du dương và hương thơm của lá rừng. Thầy vẫn miệt mài bài giảng về Đức thầy tổ Dasira Narada (1846 – 1924), người đầu tiên tìm ra phương pháp thu năng lượng vũ trụ trường sinh học bằng cách tu tập và mở các luân xa. Bài giảng về mạch Nhâm, mạch Đốc, vị trí, chức năng hoạt động các Luân xa, tất cả như một phép màu đối với tôi. Bài học thực hành thiền mà từ xưa kiến thức sách vở trong cuộc đời tôi chưa bao giờ được nghe – giống như những điều bí ẩn nhưng thật sự gần gũi và dễ hiểu. Bởi chính chúng ta đang sống trong vũ trụ bao la ngập tràn năng lượng mà ta không hề biết cách thu nhận để nâng cao sức khỏe, đẩy lùi bệnh tật. Tôi thật là may mắn.

    Xong lớp, tôi chào Thầy ra về mà lòng nhẹ nhàng lắm nhưng băn khoăn cánh tay trái vẫn còn chưa hết nặng. Thầy căn dặn: “Cứ về đi, mọi việc sẽ được thay đổi”.

     Đêm hôm ấy tôi mơ màng, văng vẳng đâu đó tiếng đàn piano và thoang thoảng hương thơm của lá rừng. Tôi lại dính chặt miệng như buổi chiều hôm trước và cái cảm giác thèm ngủ cứ ôm lấy tôi, tôi tỉnh rồi lại mơ, trong lúc nửa tỉnh nửa mơ tôi thấy ai đó đang căn dặn tôi vài điều. Và Chị nói với tôi rằng Chị quê ở Thái Bình, chị cũng cùng chung số phận với Chị ở Nam Định đang bị giam cầm làm thần giữ của trên đất nhà tôi từ lúc còn là thiếu nữ. Một luồng khí mạnh từ miệng tôi phì phì chui bật ra, tôi thở gấp, tôi dờ tay vào môi mình thấy dinh dính và lau những gì còn sót lại. Tôi bật tỉnh dậy: Thầy ơi! Tôi ngỡ mình đang ngồi ở nhà Thầy...

 

     Những ngày này ở nhà mẹ trông tôi, có người nghĩ đó là trò ma thuật của thầy phù thủy nào đó đã làm cho tôi biến hình biến dạng, lúc giọng “ông già” lúc giọng “bé thơ” lúc giọng “hoàng tử” và có lúc dính chặt miệng không nói. Tôi sợ nước, chẳng dám tắm mà cứ ai lại gần là tôi như có luồng điện giật tung, tôi phải tránh xa, có lần thằng cháu chạy vào ôm tôi, tôi điếng người ré xa, tôi hét lên làm nó khóc um. Tôi sợ nhất là gương, khổ nỗi nhà tôi lắm gương quá, bước vào nhà là cái gương to đùng, phòng tôi là 2 cánh gương tủ, nhà tắm lại một cái gương, tôi mỗi lần đi lại là phải dùng báo để che mặt. Mỗi bữa cơm mẹ bưng riêng và để một góc bàn, mẹ đi xa tôi mới dám ngồi lại ăn. Mỗi lời mẹ nói, mỗi cử chỉ hành động của gia đình chị em, tôi đều biết, đều hiểu họ đang nghĩ gì, nhưng để nói với họ hiểu thì tôi không thể bởi lúc đó tôi “không phải là tôi”. Những ngày tháng thật đáng sợ và cả những giấc mơ nữa chứ, tôi không còn đủ nhớ hết những điều bên tai tôi họ đã nói những gì, tôi nhớ một vài điều nhưng đó là lời dặn của “tương lai” có lẽ thời gian sẽ trả lời tôi những điều tôi chưa biết chưa thấy. Nhưng điều chắc chắn mà tôi biết, tôi thấy và tôi làm đó là “Thiền”...Tôi thiền và thiền. “Họ” đã đi theo Thầy Tổ tu hành siêu thoát và tôi đã là chính tôi.

     Ngày 09-06-2015 tôi đến Công ty đi làm buổi đầu tiên sau một tuần nghỉ dài, tôi như vừa trải qua một giấc mơ, một câu chuyện tưởng như hoang đường mà nếu không gặp Thầy thì suốt cả cuộc đời tôi không thể khám phá. Tôi đã trở lại với chính mình, cái cảm giác thanh thản đến nhẹ nhàng, trong lòng tôi ngân nga một sự tĩnh lặng, tôi thấy cuộc sống tươi đẹp hơn, đáng yêu và đầy ý nghĩa hơn. Tôi thực sự bắt đầu một cuộc sống mới và đã trở về chính mình!

     Thầy là Điều kỳ Diệu đối với cuộc đời tôi!

                                                                                  Hà Nội, ngày 09-10-2015


1-10 of 39

Comments