Sách hay

Kho tàng tri thức nhân loại
  • Đẩy lùi bệnh tật nhờ THIỀN DƯỠNG SINH Link download   Thay lời tựa của sách nhà văn Ma Văn Kháng có viết:...Hiện nay, việc chữa bệnh bằng phương pháp ngồi Thiền đâu chỉ ở Phương Đông, mà ...
    Được đăng bởi Điều Nguyễn Xuân
  • Thông điệp của nước Masaru EmotoDưới đây là một đoạn trích trong cuốn sách:"…Bản giao hưởng Đồng Quê của Beethoven, với sắc thái rõ ràng và tươi sáng, kết quả cho ra ...
    Được đăng 21:39, 30 thg 7, 2017 bởi Điều Nguyễn Xuân
  • Bước đầu học Phật DownloadTác giả: Hòa thượng Thích Thanh TừNhà XB Tôn giáo (In lần thứ VI), Hà Nội 2002"Chúng tôi viết cuốn sách này cho những người mới bắt ...
    Được đăng 20:43, 1 thg 8, 2017 bởi Điều Nguyễn Xuân
  • Dưới chân Thầy AlcyoneDownloadJiddu Krishnamurti hay J. Krishnamurti sinh ngày 12 tháng 5 năm 1895, mất ngày 17 tháng 2 năm 1986, là một tác gia và nhà diễn thuyết nổi ...
    Được đăng 20:48, 1 thg 8, 2017 bởi Điều Nguyễn Xuân
  • Mẹ Teresa – Nguồn sáng từ trái tim Với cuốn sách Mẹ Teresa – Nguồn sáng từ trái tim, chúng ta sẽ khám phá bí ẩn cuộc đời Mẹ Teresa từ lúc thiếu thời với tên gọi Agnes Gonxha ...
    Được đăng 21:32, 30 thg 7, 2017 bởi Điều Nguyễn Xuân
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 14. Xem nội dung khác »

Đẩy lùi bệnh tật nhờ THIỀN DƯỠNG SINH

đăng 20:02, 13 thg 10, 2016 bởi Hoàng Lê Vũ   [ cập nhật bởi Điều Nguyễn Xuân ]





   Thay lời tựa của sách nhà văn Ma Văn Kháng có viết:

...Hiện nay, việc chữa bệnh bằng phương pháp ngồi Thiền đâu chỉ ở Phương Đông, mà tại nước Mỹ, trong đó có vợ chồng cựu tổng thống Bill Clinton, nhiều thượng nghị sĩ, hoặc nhiều ngôi sao màn bạc v.v… cũng là những Thiền sinh.

Tại Pháp, Tây Ban Nha, Thụy Sỹ, Liên Bang Úc và nhiều nước khác người ta cũng đã coi Thiền là môn thực hành rất được ưa chuộng. Kể cả trong nhiều trường học, bệnh viện, và các cơ quan nhà nước…

 

     Thế còn ở Việt Nam chúng ta?

 

  Từ xưa đã có vua Lý Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, Lý Quốc sư, Tuệ Tĩnh, v.v… đã có những  thành công kỳ diệu trong việc tuThiền.

 

Đến thời nay, nhiều người đã thực hiện việc ngồi thiền như một môn tập thể thao cá nhân, việc này không còn là điều xa lạ mà vô cùng gần gũi, không thể thiếu trong đời sống hằng ngày…


     Những nhân vật, sự việc trong cuốn sách là hoàn toàn có thật, họ đã lên tiếng chỉ vì muốn rung lên một hồi chuông cảnh tỉnh cộng đồng về những hệ lụy khi chúng ta chìm đắm trong bể khổ của thiếu hiểu biết, mê tín hay dị đoan. Nhờ có Thiền, họ đã trở nên dũng cảm và vượt qua được bệnh tật.


    "Bóng tối chỉ xuất hiện khi nơi đó thiếu Ánh Sáng". Thay bằng nguyền rủa bóng tối "mỗi người hãy thắp lên một ngọn nến" cho chính mình. Đôi mắt nhìn rõ đường, trái tim tràn đầy yêu thương  sẽ giúp bạn nhanh chóng trưởng thành!

                                                                                                                              Sài Gòn, Rằm tháng 9/2016



Thông điệp của nước

đăng 01:56, 26 thg 9, 2014 bởi Hoàng Lê Vũ   [ cập nhật 21:39, 30 thg 7, 2017 bởi Điều Nguyễn Xuân ]

Masaru Emoto

Dưới đây là một đoạn trích trong cuốn sách:

"…Bản giao hưởng Đồng Quê của Beethoven, với sắc thái rõ ràng và tươi sáng, kết quả cho ra những tinh thể có cấu trúc và tuyệt đẹp. Bản giao hưởng số 40 của Mozart, một lời nguyện cầu thanh nhã cho cái đẹp, đã tạo thành những tinh thể tinh tế và thanh lịch. Và những tinh thể được tạo thành từ sự tiếp xúc với khúc luyện ngón Op.10-No.3 cung mi trưởng làm chúng tôi ngạc nhiên bởi những chi tiết đáng yêu của chúng.

Tất cả những tinh thể mà chúng tôi có được khi cho nước tiếp xúc với những bản nhạc cổ điển đều có cấu trúc và có những đặc tính riêng biệt. Ngược lại, những tinh thể thu được khi cho nước tiếp xúc với những âm thanh mãnh liệt chát chúa đều thiếu cấu trúc và phân mảnh.

Nhưng chúng tôi không dừng các thử nghiệm tại đó. Tiếp đó, chúng tôi đã nghĩ về việc điều gì sẽ xảy ra nếu chúng tôi viết những từ như “Cảm ơn” hay “Ngớ ngẩn” lên những mảnh giấy và bọc giấy xung quanh chai nước để những từ này tiếp xúc với nước. Có lẽ để cho nước đọc văn bản, hiểu nghĩa của chúng và thay đổi hình thức của mình cho phù hợp là một điều rất thiếu hợp lý. Nhưng từ những thí nghiệm với âm nhạc tôi biết rằng những điều kỳ lạ có thể xảy ra. Chúng tôi cảm thấy như thể chúng tôi đang trên một chuyến hành trình thám hiểm khu rừng rậm chưa từng có trên bản đồ.

Kết quả của những thí nghiệm đã không làm chúng tôi thất vọng.

Nước tiếp xúc với “Cảm ơn” hình thành các tinh thể lục giác tuyệt đẹp, nhưng nước tiếp xúc với từ “Ngớ ngẩn” cho ra tinh thể giống như khi nước tiếp xúc với âm nhạc chát chúa, không cấu trúc và phân mảnh.

Tiếp tục thử nghiệm cho thấy khi nước tiếp xúc với những biểu hiện tích cực như “Hãy làm đi!” sẽ tạo thành những tinh thể có cấu trúc và hấp dẫn, nhưng khi nước tiếp xúc với những biểu hiện tiêu cực như ‘Làm đi” hầu như không hình thành bất kỳ tinh thể nào cả.

Bài học mà chúng ta có thể học từ những thí nghiệm này chính là sức mạnh của ngôn từ. Những rung động của những ngôn từ tốt có tác động tích cực với thế giới quanh ta, trong khi những rung động của những ngôn từ tiêu cực có sức mạnh phá hủy.

Tìm hiểu về nước là một cách thăm dò để khám phá quy luật vận hành của vũ trụ, và những tinh thể của nước như một cánh cổng để tiến vào một chiều khác của không gian. Khi tiếp tục những thí nghiệm chụp ảnh tinh thể, chúng tôi nhận thấy mình bắt đầu leo lên nấc thang hướng tới những hiểu biết về các chân lý sâu xa của vũ trụ.

Tôi đặc biệt nhớ một bức ảnh. Đó là một tinh thể tinh tế và đẹp nhất mà tôi được nhìn thấy cho đến nay được tạo thành khi cho nước tiếp xúc với từ “Tình yêu và Lòng biết ơn”. Như là nước đã vui mừng và chúc tụng bằng một bông hoa nở rộ được tạo ra. Nó đẹp đến nỗi tôi có thể nói rằng nó thực sự thay đổi cuộc đời tôi tại chính thời điểm đó.

[…]

Vậy những dị tật của thế giới là gì? Đó là những dị tật của tâm hồn, và những dị tật này ảnh hưởng đến toàn vũ trụ. Chỉ như một giọt nước nhỏ vào trong ao sẽ tạo ra những gợn sóng lan ra vô tận, tình trạng không tốt dù chỉ của một tâm hồn sẽ lan tràn khắp thế giới, dẫn đến sự biến dạng toàn cầu.

Nhưng không phải hoàn toàn vô vọng. Chúng ta đã có được sự cứu rỗi tuyệt vời có tên gọi “Tình yêu và Lòng biết ơn”.

Trái đất đang kiếm tìm. Nó muốn trở lên xinh đẹp. Nó muốn trở lên đẹp nhất có thể. Trước đây tôi đã nói rằng có thể quan niệm con người là nước. Tôi khá chắc rằng nước trong cơ thể con người khi được nhìn qua các bức ảnh tinh thể sẽ trải qua một vài thay đổi về hình dạng


Và tôi đã tìm thấy tinh thể đẹp hơn tất thẩy – tinh thể được tạo thành bởi "Tình yêu và Lòng biết ơn.” Điều này được cho là nền tảng của tất cả các tôn giáo trên thế giới, và nếu như điều đó là thật, thì luật pháp là không cần thiết. Bạn thực sự đã biết được đáp án. "Tình yêu và lòng biết ơn " là các từ sẽ cung cấp những chỉ dẫn cho toàn thế giới…

Tác giả Masaru Emoto

Clip giới thiệu cuốn sách


---------------------------------------------------------------------

Bước đầu học Phật

đăng 19:37, 7 thg 8, 2012 bởi Điều Nguyễn Xuân   [ đã cập nhật 20:43, 1 thg 8, 2017 ]

Download


Tác giả: Hòa thượng Thích Thanh Từ
Nhà XB Tôn giáo (In lần thứ VI), Hà Nội 2002

"Chúng tôi viết cuốn sách này cho những người mới bắt đầu học Phật. Bước đầu tuy tầm thường song không kém phần quan trọng, nếu bước đầu đi sai, những bước sau khó mà đúng được. Người học Phật khi mới vào đạo không hiểu đúng tinh thần Phật giáo, về sau sẽ hỏng cả một đời tu. Người có trách nhiệm hướng dẫn không thể xem thường kẻ mới học, cần phải xây dựng có một căn bản vững chắc, đi đúng hướng của Phật day. Hiểu Phật giáo một cách đúng đắn, mới mong thành Phật tử chân chính..."  SAKYA THANH TỪ

Đọc sách giúp bạn


Dưới chân Thầy

đăng 02:46, 2 thg 3, 2012 bởi Điều Nguyễn Xuân   [ đã cập nhật 20:48, 1 thg 8, 2017 ]

Alcyone


Jiddu Krishnamurti hay J. Krishnamurti sinh ngày 12 tháng 5 năm 1895, mất ngày 17 tháng 2 năm 1986, là một tác gia và nhà diễn thuyết nổi tiếng về các vấn đề triết học và tinh thần.

Ngay từ khi còn trẻ, Jiddu Krisnamurti đã được những người lãnh đạo Hội Thông Thiên Học[1] thời bấy giờ “khám phá” và dự báo sẽ trở thành vị  Thầy Thế Giới tiếp theo. Dưới sự hướng dẫn của Hội Thông Thiên Học, Krishnamurti (dưới bút danh Alcyone) đã viết cuốn “Dưới Chân Thầy” năm 15 tuổi. Đó là một cuốn sách nhỏ xinh xắn chứa đựng những nguyên tắc sống mà mọi người đều có thể áp dụng.

Krishnamurti khẳng định rằng mình không thuộc bất cứ quốc tịch, tầng lớp, tôn giáo hay trường phái triết học nào. Từ đầu những năm 1920 đến năm 1986, ông dành toàn bộ thời gian của mình đi khắp thế giới như một nhà diễn thuyết độc lập, nói chuyện với các nhóm lớn và các nhóm nhỏ, cũng như với những cá nhân quan tâm.

Krishnamurti là tác giả của rất nhiều cuốn sách, ngoài ra, một khối lượng đồ sộ các bài nói và thảo luận của ông cũng được xuất bản. Ở tuổi 90, Krishnamurti đã diễn thuyết tại Liên Hợp Quốc về chủ đề hòa bình và nhận thức, và ông đã được trao tặng Huân chương Hòa Bình của Liên Hợp Quốc năm 1984. Buổi nói chuyện trước công chúng cuối cùng của ông diễn ra tại Madras, Ấn Độ, tháng 1 năm 1986, một tháng trước khi ông qua đời tại nhà riêng tại Ojai, California.

Dưới đây là một đoạn trích trong cuốn sách "Dưới chân Thầy":


"...Nhưng muốn có lòng khoan dung toàn vẹn, thì trước hết chính bạn phải vứt bỏ hết thói dị đoan và mê tín. Bạn phải hiểu rằng không có lễ bái nào là cần thiết cả; bằng không bạn sẽ tưởng rằng bạn giỏi hơn những người nào không hành lễ. Nhưng bạn cũng đừng chê trách những người nào còn bấu víu vào lễ bái. Hãy để họ làm theo ý mình miễn là đừng xen vào việc của bạn - người đã biết chân lý, họ không được cố buộc bạn phải làm những gì mà bạn đã trải qua rồi. Hãy khoan dung và tử tế trong mọi trường hợp.

Bây giờ bạn đã sáng mắt, nên một vài tín ngưỡng và lễ nghi cũ trước đây dường như trở nên phi lý đối với bạn; mà quả thật có lẽ nó phi lý thật. Song dù rằng bạn không còn tham dự lễ bái nữa, bạn vẫn phải kính trọng những việc này vì lòng thương những tâm hồn trong trắng nên họ còn cho những việc đó là quan trọng. Những lễ bái này có vị trí của nó và có chỗ dùng của nó; chúng giống như những hàng gạch đôi giúp bạn viết ngay ngắn và đều đặn khi bạn còn nhỏ cho đến khi nào bạn biết tự mình viết thật giỏi mà không cần dùng chúng nữa. Đã có lúc bạn cần chúng, nhưng bây giờ đã qua rồi. Một vị Thầy Cả có lần viết: “Khi tôi còn nhỏ tôi nói như một đứa trẻ, tôi hiểu như một đứa trẻ, tôi nghĩ như một đứa trẻ; nhưng khi tôi đã lớn tôi bỏ hết các thói trẻ con”. Những người nào đã quên tuổi ấu thơ của mình và mất đi thiện cảm với trẻ thơ thì không phải là người có thể dạy dỗ hoặc giúp đỡ chúng. Vậy hãy tỏ ra tử tế, dịu dàng, khoan dung với tất cả mọi người, dù họ là người Phật Giáo, Thiên Chúa Giáo hay Hồi Giáo..."

Đọc sách giúp bạn




[1] Hội Thông Thiên Học do bà Helena Petrovna Blavatsky và Ông Henry Steel Olcott sáng lập năm 1875 với tôn chỉ “Không tôn giáo nào cao hơn Chân lý” [TSHDS]

Mẹ Teresa – Nguồn sáng từ trái tim

đăng 05:11, 3 thg 12, 2011 bởi Điều Nguyễn Xuân   [ đã cập nhật 21:32, 30 thg 7, 2017 ]

Với cuốn sách Mẹ Teresa – Nguồn sáng từ trái tim, chúng ta sẽ khám phá bí ẩn cuộc đời Mẹ Teresa từ lúc thiếu thời với tên gọi Agnes Gonxha Bojaxhiu cho tới khi trở thành Mẹ Teresa nổi tiếng khắp thế giới. Chúng ta cảm động trước lòng quyết tâm phi thường của vị nữ tu nhỏ bé, khiêm nhường nhưng với một tình thương bao la, đã dành trọn cuộc đời mình yêu thương những con người khốn khổ, bần hàn. Chúng ta nghiêng mình cảm phục trước một tấm lòng cao cả, một trái tim ngời sáng tình yêu dành cho những con người bất hạnh ở mọi nơi. Người đã dành trái tim nhỏ bé của mình sưởi ấm trái tim hàng triệu con người trên khắp trái đất. 

Cuốn sách là một bảng tóm tắt sống động về cuộc đời của mẹ Teresa, chân thật và bình dị. Qua cuốn sách ta hiểu phần nào về tâm hồn và trái tim bao dung của Mẹ. Ta hiểu được nhân cách của một người phụ nữ bình thường nhưng có thể làm say mê và mang đến sự bình an trong tâm hồn cho hàng triệu con người đủ các màu da, sắc tộc, tôn giáo và trở thành một trong những tượng đài lớn nhất của thời đại. Hơn thế nữa, Dòng Thừa Sai Bác Ái do chính Mẹ thành lập đã phát triển không ngừng tại hàng chục quốc gia trên thế giới (trong đó có Việt Nam) với sứ mệnh chia sẻ nỗi đau khổ, bệnh tật của con người.

Dù không tìm kiếm hay mong đợi một sự công nhận hay tưởng thưởng công trạng nào, nhưng Mẹ Teresa có một tầm ảnh hưởng vô cùng lớn khắp toàn cầu. Đọc cuốn sách bạn mới thấy hết nghị lực phi thường, ý chí và lòng yêu thương con người đến bất tận của Mẹ Teresa. Hình ảnh Mẹ gắp những con giòi ra khỏi da thịt của bệnh nhân đang hấp hối tại Nhà Mẹ để họ đón nhận cái chết thanh thản và được yêu thương làm rung động trái tim của tất cả chúng ta.

Những việc làm và sự cống hiến của Mẹ Teresa là tấm gương mẫu mực cho những thông điệp sống yêu thương đẹp nhất mà bạn biết: “Không phải chúng ta làm bao nhiêu điều tốt, mà là chúng ta đặt bao nhiêu tình yêu vào những điều tốt chúng ta làm. Không phải chúng ta cho đi nhiều bao nhiêu, mà là bao nhiêu tình yêu chúng ta đã đặt vào những gì được cho đi.”


Đọc sách giúp bạn

YouTube Video



Từ Thuốc tới Thiền

đăng 01:08, 19 thg 10, 2011 bởi Điều Nguyễn Xuân   [ đã cập nhật 20:55, 1 thg 8, 2017 ]

OSHO



Không con vật nào ngoại trừ con người có khả năng trở nên điên. Chừng nào con người còn chưa làm cho con vật nào đó bị mất trí, nó không tự làm cho nó điên - nó không trở nên thần kinh. Con vật không điên trong rừng rậm, chúng trở nên điên trong rạp xiếc. Trong rừng rậm, cuộc sống của con vật không bị làm méo mó; nó chỉ trở nên bị suy đồi trong vườn bách thú. Không con vật nào tự tử; chỉ con người mới có thể tự tử.

Hai phương pháp đã được thử để hiểu và chữa cái bệnh có tên là con người. Một phương pháp là thuốc, phương pháp kia là thiền. Cả hai phương pháp này đều là cách trị cùng một bệnh. Cũng là hay để hiểu ở đây rằng thuốc xét từng bệnh trong con người một cách tách biệt - cách tiếp cận phân tích bộ phận. Thiền coi bản thân con người là bệnh tật; thiền coi chính cá tính của con người là bệnh tật. Thuốc coi rằng bệnh tật đến với con người rồi chúng đi - rằng chúng là cái gì đó xa lạ với con người. Nhưng dần dần khác biệt này đã giảm đi và y học nữa cũng đã bắt đầu nói: “Không trị bệnh, chữa người bệnh.”

Đây là phát biểu rất quan trọng, bởi vì điều này có nghĩa là bệnh tật không là gì ngoài cách sống mà bệnh nhân đang sống. Mọi người không bị ốm theo cùng cách. Bệnh tật cũng có tính cá thể của riêng chúng, cá tính của chúng. Không phải là nếu tôi bị bệnh lao và nếu bạn cũng bị bệnh lao, thì cả hai chúng ta sẽ là bệnh nhân thuộc cùng một loại. Ngay cả bệnh lao của chúng ta sẽ tự hiện diện dưới hai dạng, bởi vì chúng ta là hai cá thể khác nhau. Cũng có thể xảy ra việc cách trị liệu chữa khỏi bệnh lao cho tôi không đem lại giảm bớt cho bệnh lao của bạn. Cho nên sâu bên dưới bệnh nhân mới là gốc rễ, không phải bệnh tật. Thuốc chặn bệnh tật trong con người một cách rất bề ngoài. Thiền hiểu thấu con người từ sâu bên trong. Nói cách khác có thể nói rằng thuốc cố gắng đem lại mạnh khoẻ cho con người từ bên ngoài; thiền cố gắng giữ bản thể bên trong con người được mạnh khoẻ. Khoa học về thiền không thể trở nên đầy đủ nếu thiếu thuốc, mà khoa học về thuốc cũng không thể trở nên đầy đủ nếu thiếu thiền, vì con người là cả thân thể và linh hồn.

OSHO

Đời sống và Giáo lý của các Chân sư Viễn đông (Life and Teaching of the Masters of the Far East) - Bản lược dịch

đăng 20:58, 15 thg 10, 2011 bởi Điều Nguyễn Xuân   [ đã cập nhật 21:44, 30 thg 7, 2017 ]

Baird T. Spalding


Baird T. Spalding, cái tên đã trở nên một huyền thoại trong thế giới siêu hình và sự thật về kiếp luân hồi trong suốt nửa đầu của thế kỷ 20, ông giữ một vai trò quan trọng trong việc giới thiệu với thế giới Phương Tây về tri thức của các đấng Chân Sư, cũng như anh em nhà Elder, những người đang giúp đỡ và dẫn đường cho số phận của con người. Rất nhiều các lá thư gửi tới từ khắp nơi trên thế giới, qua nhiều năm chia sẻ về sự chứng ngộ của người đọc có được nhờ nhận được chỉ dẫn quý báu từ những thông điệp trong bộ sách Đời sống và Giáo lý của các Chân sư Viễn đông (Life and Teaching of the Masters of the Far East).

Bộ sách gồm 6 tập:

Tập 1: Giới thiệu về Chân Sư Emil (bản dịch trong cuốn Á Châu huyền bí của Nguyễn Hữu Kiệt là Chân sư Tuệ Minh) – Thăm ngôi Đền Im Lặng – Chiêm tinh học hay những dự đoán nhờ các tinh tú – Đi trên mặt nước – Thăm ngôi Đền Chữa Bệnh – Chân Sư Emil nói về nước Mỹ - Người Tuyết ở Himalaya – Ánh Sáng Mới từ lời dạy của Đức Jesus.

Tập 2: Thăm ngôi Đền của người  Kito (the Great Tau Cross) – Đồng hành cùng đức Jesus – Đức Jesus giảng về sự tồn tại của Thượng Đế và Địa ngục – Bí ẩn của những rung động tâm thức – Đức Jesus tạo ra thức ăn cho dân chúng – Trải nghiệm về một ca chữa bệnh – Đức Jesus và Đức Phật thăm đoàn thám hiểm.

Tập 3: Bài giảng của một Chân Sư về ý thức với Chúa Trời – Sự tồn tại của năng lượng vũ trụ - Sự tạo thành của các hành tinh và các thế giới – Chuyến đi tới Lhasa – Thăm ngôi Đền Pora tat sanga – Giải thích về sự bí ẩn của khả năng bay lên (khinh công) – Hoài nghi về sự tồn tại của Đức Jesus được thuyết phục.

Tập 4: Lần đầu xuất bản với tên gọi “Những bài học từ chuyến đi Ấn Độ”. Mỗi chương đều có những bài học cũng như  hướng dẫn cho các thầy để hướng đạo và giải thích. Các nội dung bao gồm: Nguồn gốc người da trắng – Một con đường chung – Nền tảng của việc tái tổ chức Xã Hội – Luồng hỏa hầu (Prana).

Tập 5: Tập hợp những bài giảng của Giáo sư Spalding trong hai năm cuối đời của ông. Tóm tắt tiểu sử của tác giả. Một số nội dung về: Sự lưu hình ảnh về các sự kiện trong quá khứ

Tập 6: Tập hợp các bài báo, hình ảnh, bút tích về chuyến thám hiểm của Giáo sư Spalding.

Tập sách này chỉ giới thiệu một số phần lược dịch từ cuốn Đời sống và Giáo lý của các Chân sư Viễn Đông tới bạn đọc để tham khảo.

Mê tín Chánh tín

đăng 01:28, 1 thg 10, 2011 bởi Điều Nguyễn Xuân   [ đã cập nhật 17:49, 6 thg 7, 2017 ]

Hòa thượng Thích Thanh Từ


Download

 photo HoaThuongThichThanhTu.gif

                                                                   LỜI ĐẦU SÁCH

Chúng tôi viết quyển sách này cho những người mới bắt đầu học Phật. Bước đầu tuy tầm thường song không kém phần quan trọng, nếu bước đầu đi sai, những bước sau khó mà đúng được. Người học Phật khi mới vào đạo không hiểu đúng tinh thần Phật giáo, về sau sẽ hỏng cả một đời tu. Người có trách nhiệm hướng dẫn không thể xem thường kẻ mới học, cần phải xây dựng có một căn bản vững chắc, đi đúng đường hướng của Phật dạy. Hiểu Phật giáo một cách đúng đắn, mới mong thành một Phật tử chân chánh.

Vì muốn chỉ lẽ chánh tà để người mới vào đạo khỏi lầm lẫn, nên chúng tôi mạnh dạn chỉ thẳng những điều sai lầm hiện có trong Phật giáo. Làm như thế, không có nghĩa chúng tôi muốn vạch lưng chỉ thẹo cho kẻ khác thấy, mà cốt yếu muốn gây dựng lại một nếp sống Phật giáo phù hợp với hiện tại và mai sau. Chúng ta sống trong thời khoa học, cần phải truyền bá Phật giáo thích ứng với chân lý gần với sự thật. Bản chất của Phật giáo đã là chân lý, là sự thật, chúng ta đừng làm méo mó khiến kẻ bàng quan hiểu lầm Phật giáo. Với nhiệt tình, chúng tôi một bể đả kích những mê tín đang ẩn náu trong Phật giáo, để cho bộ mặt Phật giáo trắng sạch hơn, không còn những thứ lọ nhơ làm lem luốc. Tinh thần tồi tà phụ chánh, chúng tôi chịu trách nhiệm những gì chúng tôi đã nói và hoàn toàn chịu trách nhiệm với những ai không hài lòng phiền trách chúng tôi.

                                                                                                                                             Kính ghi

                                                                                                                                               Thích Thanh Từ

 

MÊ TÍN CHÁNH TÍN

MỞ ĐỀ

Đạo Phật chủ trương giác ngộ mang ánh sáng trí tuệ soi rọi cho thế gian. Mọi lẽ thật đều hiện bày dưới ánh sáng giác ngộ, nhận thấy lẽ thật rồi mới khởi lòng tin đó là “chánh tín”. Ngược lại, bày những điều mê hoặc làm mù quáng người đời, lừa bịp thế gian, ấy là “mê tín”. Hoặc không hiểu rõ, không có lý lẽ, mà tin càn tin bướng là “mê tín”. Tin bướng là họa hại đưa con người đến đường mù tối. Thấy rõ biết đúng mới tin là sức mạnh vô biên khiến người thành công trên mọi lãnh vực. Thế nên trong kinh Hoa Nghiêm có câu: “Tin là nguồn của đạo, là mẹ của mọi công đức. Tin hay nuôi lớn các gốc lành”. Vì thế người học đạo cần có lòng tin, song lòng tin đã qua sàng lý trí gạn lọc kỹ càng. Tuyệt đối không được tin càn, tin bướng làm băng hoại tinh thần giác ngộ của đạo Phật. Chính trong kinh Di Giáo Phật dạy: “Xem tướng lành dữ, trông xem sao hạn, xem xét thạnh suy, coi ngày đoán số đều không được làm …”,

MÊ TÍN

Mê tín là lối tin mù quáng khiến con người mất hết trí thông minh. Những kẻ chủ trương mê tín là người làm hoặc loạn thế gian, đưa dân tộc lùi lại bán khai. Một tôn giáo chân chánh, một dân tộc văn minh, không cho phép mê tín len lỏi trong tín đồ mình, trong dân tộc mình. Thế mà đồng bào chúng ta, trong Phật giáo chúng ta, tệ đoan mê tín vẫn còn nhiều.

a)   Đồng cốt

Đồng cốt là hiện tượng mê hoặc khủng khiếp. Những kẻ làm ông đồng, bà cốt đều là người sống trong trạng thái bất thường. Bản thân họ đã mất hết khả năng tự chủ, họ bị sai sử bởi một ma lực huyền bí nào đó. Khi ma lực ấy dựa vào họ, liền lạm dụng các danh hiệu thánh, những bậc vĩ nhân của thuở xưa dùng mạo xưng để lừa bịp người đời. Những kẻ yếu vía dễ tin nghe xưng danh hiệu Phật, Bồ tát hay những vị tiên thánh liền khiếp đảm kính tin. Họ không dám phê phán đó là tà hay chánh. Thế rồi, họ một mực quì mọp để được phong chức hoặc nhận phép lành. Họ bị gạt bằng những danh hão trong cõi vô hình, hoặc bằng những bùa tà phép lạ, những huyền hoặc về quá khứ vị lai. Từ đây họ sống bằng ảo vọng mơ huyền, mất hết lý trí thực tại.

Chúng ta phải khám phá dẹp tan những lối mê hoặc ấy. Riêng về nhà Phật trong kinh đã dạy rõ, khi chững đến quả Phật, Bồ-tát, A-la-hán muốn hóa độ kẻ hữu duyên liền dùng thần thông hiện giáo hóa, như Bồ-tát Quán Thế Âm, trong phẩm Phổ Môn của kinh Pháp Hoa chẳng hạn.Không khi nào các bậc Thánh phải gá vào thân kẻ phàm tục khác làm việc giáo hóa. Vì các ngài đầy đủ thần thông biến hóa vô ngại. Như thế, những ma lực tựa vào đồng cốt đều là sức của quỷ thần. Vì sợ người đời không tin, nên chúng mạo xưng những danh hiệu cho to để gây uy tín. Biết rõ tính cách ma mị của chúng, người Phật tử phải tránh xa, tuyệt đối không được phụ họa với chúng, huống hồ là quy kính. Có thế mới tỏ ra là người Phật tử chân chánh.

b)   Lịch số, sao hạn

Thời gian không thật do khái niệm con người đặt ra, huống là trên thời gian lại đặt ra ngày tốt ngày xấu, năm lành năm dữ … Thử đặt ra một thí dụ, chúng ta đốt một ngọn đèn đặt ở bên phải, lấy một cái gương tròn nhỏ để ở bên trái, cách nhau năm tấc tây, khoảng giữa đặt một quả bóng (trái banh). Chúng ta dùng tay xoay tròn quả bóng, phía nằm bên ngọn đèn là sáng, phía khuất ngọn đèn là tối, cứ xoay mãi, quả bóng đối chiếu tối sáng liên tục. Trục quay ấy có lúc tiến đến trước ngang ngọn đèn làm khuất ánh sáng soi vào mặt gương, ánh sáng mặt gương không phản chiếu vào quả bóng, có lúc lùi lại sau, ánh sáng ngọn đèn soi vào mặt gương, ánh sáng từ mặt gương phản chiếu lại quả bóng, phía khuất ngọn đèn. Có những con kiến ở trên quả bóng, thấy quả bóng mặt sáng gọi là ngày, mặt tối gọi là đêm, những lúc mặt gương không phản chiếu ánh sáng vào quả bóng gọi là ba mươi, những lúc mặt gương phản chiếu ánh sáng vào quả bóng đầy đủ gọi là rằm … Lại đặt mặt sáng của quả bóng vòng một ngày là ngày tốt, vòng hai là ngày xấu … Cảm thông được điều đó, chúng ta có tức cười cho loài kiến hay không? Quả thật, chúng bày biện một cách vô lý. Ngọn đèn, quả bóng, mặt gương đều là vô tri, động lực quay nó thì cứ quay vậy thôi, có gì là linh thiêng huyền diệu, mà chúng lại đặt là ngày tốt ngày xấu.

Cũng thế, nhật cầu, nguyệt cầu và địa cầu đều là vô tri, chúng quay gần nhau theo cái trục cố định, mặt địa cầu hướng về nhật cầu thì sáng, mặt khuất thì tối. Cái trục quay ấy có khi địa cầu xê tới che khuất ánh sáng nhật cầu không soi đến nguyệt cầu, có khi sụt lại, ánh sáng nhật cầu soi đầy đủ vào nguyệt cầu, ánh sáng nguyệt cầu phản chiếu lại mặt tối của địa cầu. Thế rồi, con người sống trên địa cầu trông vào sự sáng tối tùy khái niệm đặt thành ngày đêm và giờ phút, theo sự phản chiếu của nguyệt cầu đặt ra rằm, ba mươi, thành tháng, năm. Thời gian là do tưởng tượng của con người đặt ra không thậtPhương chi trên thế gian ấy lại còn đặt thêm lành dữ tốt xấu… Quả thật con người quá bày biện, quá rối ren. Đã bày biện ra rồi, tự cột trói mình. Khi đã có ngày tốt ngày xấu, đi đâu phải chọn ngày tốt mới dám đi, làm gì phải đợi ngày tốt mới làm. Thậm chí cất nhà xây bếp cũng phải lựa ngày chọn tháng, định đôi gả lứa cũng phải coi tuổi hạp, không hạp. Con người bị bao phủ trong ổ tơ rối nùi ấy, rồi than khóc rồi khổ đau. Chính vì ngày tháng tuổi tác tạo ra cho con người không biết bao nhiêu đau khổ.

...

c)   Coi tay, xem tướng

Coi tay, xem tướng cũng có khi trúng, song ông thầy ấy luôn luôn nói câu thòng: “Tay hay tướng của ông có hiện điều xấy, có thể đến tháng đó sẽ mắc nạn, nếu ông biết làm lành làm phước có thể qua”. Thế thì đến tháng đó, nếu người ấy mắc nạn thì khen ông thầy xem trúng, bằng không mắc nạn thì ông thầy đổ tại làm lành làm phước! Như thế, mặt nào ông thầy cũng hay hết. Nhưng chúng ta thử kiểm điểm xem, cả hai mặt mắc nạn và không, có lợi gì cho người đi coi không? Nếu coi tay tốn một số tiền, đến khi mắc nạn cũng phải tự chịu, ông thầy có cứu giúp cho mình được gì đâu. Nếu đến tháng thọ nạn, người coi tay không thọ nạn, cho là làm lành làm phước được qua thì mình tự cứu mình, ông thầy cũng không làm gì cho mình. Như vậy đi coi chi cho uổng tiền.

Hơn nữa ở đầu quyển sách tướng có bài kệ:

Hán:

Hữu tâm vô tướng

Tướng tự tâm sanh

Hữu tướng vô tâm

Tướng tùng tâm diệt

Dịch:

Có tâm tốt không tướng tốt

Tướng tốt theo tâm tốt sanh

Có tướng tốt không làm tâm tốt

Tướng tốt theo tâm xấu mất.

Thế thì, chúng ta cần phát tâm tốt làm việc tốt thì điều tốt sẽ đến. Chúng ta chứa chấp những tâm niệm xấu xa thì mọi điều dữ sẽ đến. Điều căn bản là chúng ta làm tốt hay làm xấu, quả tốt xấu sẽ đến với chúng ta. Không phải quan trọng ở bàn tay hay tướng mạo. Thế mà, chúng ta không ứng dụng ngay cội gốc, lại chạy theo ngọn ngành, hao phí tiền bạc một cách vô ích, đó gọi là mê tín.

d)   Xin xăm, bói quẻ

Xin xăm bói quẻ là một việc làm cầu may. Rủi may là điều xảy ra không có duyên cớ. Phó thác hành động của mình, cho đến phó thác cả đời mình vào chỗ không có duyên cớ, thật là tệ hại.Thánh, Thần có rảnh đâu mà ngồi sẵn trên bàn để ứng hiện trong xăm quẻ cho quý vị. Nếu người xin xăm bói quẻ có trúng, chẳng qua phước nghiệp, lành dữ của mình mà hiện ra. Như sách nói: “Phước chí tâm linh, họa lai thần ám”. Nghĩa là người gặp lúc phước đến thì giở quẻ ra đều tốt, khi họa lại thì rút lá xăm nào cũng xấu. Thế là tốt xấu tại mình, không phải tại xăm quẻ. Chúng ta cứ sửa mình cho tốt thì mọi việc đều tốt, đi xin xăm bói quẻ làm gì? Xin xăm bói quẻ chỉ khiến chúng ta lo sợ thêm. Ca dao Việt Nam có câu:

Tay cầm tiền quý bo bo

Đem cho thầy bói mang lo vào mình.

Làm việc không lợi ích, lại tốn hao tiền bạc, mang lo sợ vào lòng, không phải mê tín là gì?

e)   Cúng sao xem hướng

Lệ cúng sao hạn, thật là lạc hậu lỗi thời, sao là những hành tinh cách xa chúng ta bao nhiêu ngàn cây số. Nó là cái gì mà chúng ta phải cúng! Tục lệ các chùa quê, vào ngày mùng chín tháng giêng là cúng sao hội. Người Phật tử nào không gửi tên cúng sao, xem như năm ấy không được bảo đảm an ninh. Song người chủ cúng sao cho quý vị, có bảo đảm an ninh chưa? Có lẽ quý vị ấy quên ghi tên mình trong bài sớ cũng sao chớ gì? Thật là vô lý, đạo lý nhân quả đức Phật dạy rành rành trong Kinh, mà người ta bất chấp. Thân tổng báo của chúng ta có lẫn lành với dữ, khi nhân lành đến thì hưởng quả lành, khi nhân dữ đến thì chịu quả dữ, không thể chạy trốn được. Chỉ có tạo nhân lành nhiều, khi quá dữ đến sẽ nhẹ đi hay giảm bớt. Ví như trước kia chúng ta đã làm khổ một người, vì lúc đó họ thiếu khả năng trả thù nên dường như thông qua. Đến lúc nào đó, họ đủ điều kiện trả thù, nếu chúng ta không được nhiều người thương che chở thì quả đó sẽ đúng với nhân kia. Ngược lại, nếu chúng ta được quá nhiều người ủng hộ che chở, quả phải trả sẽ nhẹ hoặc giảm mất cũng có. Bởi thế nênsợ quả khổ không gì hơn, chúng ta phải tạo nhân vui. Không nên cúng sao cúng hạn để cầu được an vui là điều phi lý.

Xem hướng cất nhà, xây bếp cũng là một lối mê tín. Có lắm người trong nhà chồng vợ bất hòa, con cái ngỗ nghịch, liền rước thầy đến xem hướng sửa cửa, đổi bếp. Nếu cửa và bếp biết nói, sẽ cãi lại với bà chủ nhà rằng: “Cãi lẫy nhau tại ông bà không biết nhường nhịn nhau, chúng tôi có tội lỗi gì mà phải dời chỗ này đổi chỗ kia?”. Những việc làm này đủ nói lên người ta trốn tránh trách nhiệm, không bao giờ dám nhìn thẳng những sái quấy lỗi lầm của mình, tìm cách đổ lỗi cho cái gì mà không thể cãi lý được với họ. Như thế dù họ có sửa đổi trăm ngàn lần, lộn xộn vẫn lộn xộn, bất an vẫn bất an. Vì cái chủ động trong việc bất an ấy, có chịu sửa đổi đâu. Thế nên, người học đạo phải thấy rõ chỗ vô lý này, không nên lầm lẫn một cách tối dốt như vậy.

f)     Đốt giấy tiền vàng mã

Tục đốt giấy tiền vàng mã lại là việc vô lý trên vô lý. Không thể người có đôi chút nhận xét, lý luận mà chấp nhận việc ấy được. Chính trên thế gian này, đồng tiền của nước này mang sang nước khác còn khó được chấp nhận, huống là nhân gian in, xuống âm phủ xài, có lý lẽ gì tin được. Những chiếc lầu bằng giấy, quần áo bằng giấy, làm xong đốt rồi gởi xuống âm phủ cho thân nhân dùng, quả là việc làm phí của vô ích. Thử hỏi thân nhân họ là cái gì mà chờ đốt quần áo gởi xuống. Họ đều là đồ vô chủ cô hồn hết sao? Hay họ đã theo nghiệp lành dữ mà sanh nơi khác? Nếu là Phật tử còn không ai rõ Phật dạy: “Chúng sanh tùy nghiệp thiện ác, theo đó thác sanh nơi cõi lành cõi dữ”. Thân nhân chúng ta chết cũng theo nghiệp thọ sanh, chớ đâu ngồi chờ chúng ta gởi nhà cửa áo quần xuống xài. Như thế,việc làm ấy vừa trái đạo lý, vừa phí tốn tiền bạc vô ích. Người Phật tử không bao giờ chấp nhận việc làm mù quáng ấy.

TAI HẠI MÊ TÍN

a)   Quàng xiên khờ khạo

Người mê tín theo quỷ thần là tin một cách quàng xiên không có căn cứ, không có lý luận, tin bướng tin càn, mất hết lý trí, trở thành con người khờ khạo. Đó là hình ảnh những người tin vào ông đồng bà bóng, xác cô xác cậu tạo nên. Tại sao họ như thế? Bởi vì họ gởi gấm tâm hồn vào sự huyền bí, vào thế giới vô hình, họ mất hết trí thông minh thực tế. Có khi họ gần như người điên nói lảm nhảm một mình, hoặc nói những điều đâu đâu vô căn cứ …

b)   Bị cột trói, ích kỷ, tàn nhẫn

Người mê tín vào lịch số, ngày giờ, là kẻ bị cột trói một cách thảm hại. Họ không bao giờ dám quyết định một việc làm thích hợp với thời biểu hiện tại. Họ đợi giờ lịch xem giờ tốt hay xấu, ngày lành hay dữ. Thế rồi họ bị chết khô trong cái rọ ngày giờ. Bởi quen lựa ngày giờ tốt xấu, nên họ trở thành con người ích kỷ dễ sợ. Có những việc đáng làm ngay lúc đó để giúp người, họ lại sợ giờ xấu rồi không chịu làm. Cho đến việc ma chay cha mẹ, họ vẫn lựa ngày tốt, giờ tốt để lợi cho con cháu họ, không nghĩ gì đến người chết. Có khi còn dùng thuật trù ếm, nếu cha mẹ họ chết nhằm ngày trùng. Thật là tàn nhẫn, họ không còn chút tình thương đối với người chết. Mọi việc ma chay, chọn lựa ngày giờ, họ đề một bề vì họ. Những người ấy lúc nào họ cũng nơm nớp lo sợ, trên đầu trên cổ họ đã cột sẵn trăm ngàn mối dây năm tháng ngày giờ, không cho họ thong thả một phút giây nào.

c)   Khiếp nhược mất tự tín

 Người tin vào bói xăm, sao hạn … là con người khiếp nhược mất tự tín. Bởi không tự tín nên làm việc gì họ cũng phải đi hỏi thần, hỏi thánh. Họ lo âu, sợ hãi năm nào gặp sao La Hầu, Kế Đô. Nhân lành họ không chịu tạo, nhân dữ không chịu tránh, mà một bề sợ sao sợ hạn, quả là những con người mù mịt, tối tăm. Họ sợ những cái không đáng sợ, họ cầu những điều không thể cầu, thật là oái ăm vô lý. Người Phật tử thấy rõ lẽ tà chánh ấy, can đảm quăng đi những tục sai lầm, mới có thể sống với tinh thần đạo giác ngộ.

...

KẾT LUẬN

Phật là người đã giác ngộ và giải thoát sanh tử, đó là vị trí căn bản của Ngài. Chúng ta đừng xê dịch, đừng tô điểm, đừng ép buộc Ngài phải rời chỗ căn bản ấy.

Phật pháp là những lời giảng dạy chỉ ra lẽ thật: Lẽ thật trên hình tướng sự vật là nhân quả, lẽ thật trong sự cấu tạo kết hợp là duyên sanh, lẽ thật thầm lặng trong bản thể là Chân không hay Phật tánh.

Học Phật là tiến bước trên con đường giác ngộ,  là nhận hiểu phán xét những lẽ thật của Phật dạy, đem chỗ nhận hiểu ứng dụng vào cuộc sống con người. Thực hiện được những điều này, cần nhờ cặp mắt trí tuệ sáng suốt mới thành công.

Tu Phật là ứng dụng những lẽ thật đã nhận xét được vào cuộc sống hàng ngày của mình. Gỡ sạch mọi phiền não kiến chấp đang trói buộc gắn chặt trong tâm tư chúng ta, đem lại sự an lạc ngay trong hiện tại và miên viễn ở vị lai. Chẳng những thế, tu Phật còn có nghĩa vượt ra ngoài vòng đối đãi sanh diệt, thoát khỏi mọi khuôn khổ hạn cuộc, làm người tự do tự tại.

Với những điểm chủ yếu trên, chúng ta nhận thức chắc chắn sâu xa, là trong tay đã có sẵn ngọn đuốc sáng, trên con đường về quê ắt không đến nỗi lạc lầm. Giá trị của Phật pháp là biết để hành, không phải biết để nói. Thực hành sâu chừng nào, càng thấy giá trị Phật pháp cao chừng ấy. Biết để nói, là người trình bày đủ mọi thức ăn, mà bụng vẫn đói; là nhân viên phát ngân trong ngân hàng cả ngày đếm tiền, khi ra về chỉ hai tay không. Chúng tôi ước mong độc giả của quyển sách này không đến nỗi như thế.


Giúp bạn đọc sách


CHÚNG TA THOÁT THAI TỪ ĐÂU - BỨC THÔNG ĐIỆP BI THẢM CỦA CỔ NHÂN - TRONG VÒNG TAY SAMBALA

đăng 01:18, 1 thg 10, 2011 bởi Điều Nguyễn Xuân   [ đã cập nhật 21:18, 30 thg 7, 2017 ]

Erơnơ Munđasep


Erơnơ Munđasep, tiến sĩ y học, giáo sư, giám đốc Trung tâm phẫu thuật mắt và tạo hình Liên bang Nga của Bộ Y tế Nga, thầy thuốc công huân đã được thưởng huy chương “Vì những cống hiến cho ngành Y tế nước nhà”, nhà phẫu thuật hàng đầu, nhà tư vấn danh dự của đại học Tổng hợp Luinsvin (Hoa Kỳ), viện sĩ Viện Hàn lâm nhãn khoa Mỹ, bác sĩ nhãn khoa có bằng của Mêhicô, kiện tướng môn du lịch thể thao, ba lần đạt kiện tướng của Liên bang Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xô Viết.

Erơnơ Munđasep là nhà bác học lớn có tên tuổi trên trường quốc tế. Ông là người khai sáng phương hướng mới trong Y học- phẫu thuật tái sinh, tức phẫu thuật “cấy ghép” mô người. Ông là người đầu tiên trên thế giới tiến hành phẫu thuật cấy ghép mắt thành công. Hiện nay ông đang nghiên cứu những cơ sở của phẫu thuật tái sinh hàng hoạt các cơ quan của cơ thể con người.
Nhà bác học đã nghiên cứu chín mươi loại phẫu thuật mới, sáng chế và đưa vào ứng dụng sáu mươi loại nguyên liệu sinh học alloplant, công bố trên ba trăm công trình khoa học, nhận năm mươi sáu bằng sáng chế của Nga và nhiều nước trên thế giới. Ông đã thỉnh giảng và phẫu thuật ở trên bốn mươi nước. Hàng năm phẫu thuật từ sáu trăm đến tám trăm ca phức tạp nhất.
Erơnơ Munđasep thú nhận rằng, cho đến giờ ông vẫn chưa hiểu hết thực chất của sáng chế chủ yếu của mình là nguyên liệu sinh học “alloplant”, được chế tạo từ mô người chết, mang trong mình nó những cấu tạo tự nhiên cao siêu trong việc sáng tạo cơ thể con người, vì thế trong quá trình nghiên cứu, ông không chỉ tiếp xúc với các nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực (vật lý, sinh học phân tử...) mà còn tìm hiểu cơ sở của các tín ngưỡng tôn giáo và huyền học, nghiên cứu năng lượng tâm thần và những vấn đề có liên quan đến nguồn gốc loài người và vũ trụ.
Chính vì thế ông đã tổ chức bốn chuyến khảo sát khoa học Himalaya và Tây Tạng rất hữu ích đối với việc tìm hiểu phẫu thuật tái sinh. Ngoài ra trong những chuyến đi thám hiểm đó còn có những khám phá mang tính lịch sử và triết lý. Sau chuyến đi khảo sát thành công Himalaya lần thứ nhất Erơnơ Munđasep  đã cho ra đời cuốn Chúng ta thoát thai từ đâu được tái bản nhiều lần và dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới.
Trong cuốn sách này tác giả Erơnơ Munđasep đã sử dụng phương pháp Hình học nhãn khoa - phương pháp mới trong nghiên cứu vấn đề nguồn gốc loài người để lý giải những điều phát lộ tại Ấn Độ về nguồn gốc loài người. Lý giải một số sự kiện phức tạp về nguồn gốc, lịch sử...của con người.
Bức thông điệp bi thảm của cổ nhân là một câu chuyện kể dí dỏm, hấp dẫn, nhưng thực chất mang tính khoa học sâu sắc, đề cập tới những vấn đề triết học toàn cầu: Có những nền văn minh cổ, vốn đã đạt được trình độ khoa học kỹ thuật vượt xa văn minh hiện đại của loài người, nhưng họ đã bị  huỷ diệt bởi năng lượng tiêu cực của bản ngã quá lớn phạm vào những qui luật của tự nhiên?
Bức thông điệp bi thảm của cổ nhân thể hiện ở độ cao của núi thiêng Cailat (6666 mét) mang ý nghĩa toàn cầu, nó nhắc nhở ta về những quy luật của hành tinh chúng ta. Nhưng tại sao các quy luật đó lại liên can tới những con số 6666 dữ tợn? Bởi Trái đất vốn hiền hòa và hành tinh chúng ta vốn xanh tươi cơ mà!
Trong vòng tay Sambala kể về chuyến thám hiểm Tây Tạng năm 1999 của đoàn khảo sát người Nga, gồm: E. Mun-đa-sép - trưởng đoàn đã cùng các cộng sự đi tìm chính bản truyền thuyết về Thành Thiên Đế. Liệu có một thành phố của các Thiên Đế - một thành phố hư ảo tít trên trời cao? - Như các Đức Lạt Ma kể lại! Những khám phá bất ngờ. Sự kỳ vĩ, bao la của tự nhiên, những bí hiểm và hấp dẫn nhất của vũ trụ được mô tả một cách tỉ mỉ và chi tiết. Những câu chuyện dí dỏm, những mẩu thoại, những bức ảnh, bản vẽ chi tiết của bốn nhà thám hiểm đã mang đến cho tôi những cảm nhận về triết lý sống, về sự tồn tại của thế giới chúng ta đang sống.

Ngôn Ngữ Của Chúa - Những Bằng Chứng Khoa Học Về Đức Tin

đăng 21:14, 30 thg 9, 2011 bởi Điều Nguyễn Xuân   [ đã cập nhật 21:34, 30 thg 7, 2017 ]

FRANCIS S.COLLINS

"Buổi sáng mùa hè năm đó, lần đầu tiên, bản phác thảo đáng kinh ngạc chứa trong đó tất cả những chỉ dẫn về sự hình thành loài người, đã được cả nhân loại biết đến."

Vào một ngày mùa hè ấm áp cách thiên niên kỷ mới chừng sáu tháng (tức là tháng 6/2000 - ND), nhân loại đã bước qua chiếc cầu tiến vào một kỷ nguyên mới vô cùng quan trọng. Một thông báo được truyền đi khắp thế giới với hàng tít đậm hầu như trên tất cả các tờ báo lớn về việc các nhà khoa học đã có trong tay bản phác thảo đầu tiên về hệ gen, cuốn sách chỉ dẫn về chính loài người. Bộ gen người chứa toàn bộ các ADN, mã số di truyền của sự sống. Phiên bản mới được phát hiện này dài ba tỷ ký tự hóa học và được viết dưới dạng mật mã gồm bốn ký tự rất kỳ lạ. Kỳ lạ là ở chỗ thông tin mang trong mỗi tế bào của cơ thể người phức tạp đến mức ngay cả khi đọc liên tục suốt ngày đêm với tốc độ một chữ/giây thì vẫn phải mất tới 31 năm mới có thể đọc hết mã số đó. Nếu in những ký tự này trên giấy với kích cỡ thông thường và đóng chúng lại thành sách, ta sẽ có một toà tháp cao ngang với tượng đài Washington. Buổi sáng mùa hè năm đó, lần đầu tiên, bản phác thảo đáng kinh ngạc chứa trong đó tất cả những chỉ dẫn về sự hình thành loài người, đã được cả nhân loại biết đến.

Là giám đốc Dự án Giải mã Gen người và đã dày công nghiên cứu hơn chục năm trời nhằm tìm ra trình tự ADN, tôi đứng cạnh Tổng thống Bill Clinton trong gian phòng phía Đông của Nhà Trắng cùng với Craig Venter, lãnh đạo dự án nghiên cứu của tư nhân đang cạnh tranh cùng dự án của chúng tôi . Thủ tướng Anh Tony Blair đã kết nối trực tiếp qua vệ tinh để theo dõi sự kiện này và hoạt động kỷ niệm cũng diễn ra đồng thời ở rất nhiều địa điểm khác trên thế giới.

Ngày hôm nay, chúng ta được hiểu về loại ngôn ngữ mà Chúa đã sử dụng để sáng tạo nên Sự sống. Hơn bao giờ hết, chúng ta nghiêng mình trước sự phức tạp, trước vẻ đẹp và sự diệu kỳ của món quà thần thánh nhất, thiêng liêng nhất của Người” - Bill Clinton

Tổng thống Clinton bắt đầu bài phát biểu với việc so sánh bản đồ gen người mới được phát hiện này với bản đồ mà Meriwether Lewis đã công bố trước Tổng thống Thomas Jeffeson tại chính gian phòng này cách đây gần hai trăm năm. Tổng thống Clinton nói, “Không còn nghi ngờ gì nữa, đây chính là tấm bản đồ quan trọng và kỳ diệu nhất mà nhân loại từng khám phá”. Nhưng đoạn văn thu hút sự chú ý nhiều nhất của công chúng chính là khi ông chuyển từ khía cạnh khoa học sang tâm linh: “Ngày hôm nay, chúng ta được hiểu về loại ngôn ngữ mà Chúa đã sử dụng để sáng tạo nên Sự sống. Hơn bao giờ hết, chúng ta nghiêng mình trước sự phức tạp, trước vẻ đẹp và sự diệu kỳ của món quà thần thánh nhất, thiêng liêng nhất của Người”.

Liệu tôi, một nhà khoa học được đào tạo bài bản, có sửng sốt khi nghe vị lãnh đạo thế giới đề cập rõ ràng nhất tới tôn giáo vào một thời điểm như thế hay không? Tôi có tức giận hay bối rối nhìn xuống sàn nhà không? Không, không một chút giận dữ hay bối rối nào cả. Thực ra, tôi đã cộng tác chặt chẽ với người viết bài phát biểu cho Tổng thống trong những ngày bề bộn công việc trước khi có lễ công bố này và tôi hoàn toàn ủng hộ kết luận của bài diễn văn đó. Khi tới lượt mình phát biểu, tôi đã lặp lại ý kiến của Tổng thống với những lời như thế này: “Hôm nay là một ngày hạnh phúc của toàn thế giới. Riêng với tôi, thật tuyệt vời và đáng kinh ngạc khi biết rằng lần đầu tiên chúng ta đọc được cuốn sách chỉ dẫn về chính bản thân mình, cuốn sách mà trước đó duy chỉ có Chúa biết đến”.

Chuyện gì đang diễn ra ở đây? Tại sao một vị Tổng thống và một nhà khoa học, những người chịu trách nhiệm tuyên bố một bước ngoặt trọng đại trong lịch sử y học và sinh học, lại cảm thấy cần thiết phải đề cập tới mối liên hệ với Chúa? Chẳng phải từ trước tới nay các quan điểm khoa học và tâm linh thường đối chọi với nhau hay sao, hay ít nhất cũng nên tránh cùng xuất hiện tại gian phòng phía Đông này chứ? Đâu là lý do của việc đề cập tới Chúa trong cả hai lời phát biểu này? Để thêm phần thi vị chăng? Đạo đức giả chăng? Có phải đây là toan tính để lấy lòng những người theo tôn giáo hay để làm tiêu tan nghi ngờ của những người chỉ trích việc nghiên cứu bộ gen người khiến con người biến thành các cỗ máy? Không. Đó không phải là mục đích của tôi. Trái lại, với tôi, trải nghiệm của việc sắp xếp trình tự gen người và khám phá ra bí mật đáng lưu tâm nhất trong tất cả này, vừa là một thành tựu đáng kinh ngạc của khoa học, vừa là dịp thể hiện tình yêu với Chúa.


Rất nhiều người có thể thấy hoang mang trước những lời phát biểu này, bởi họ thường cho rằng một nhà khoa học thực thụ khó có thể đồng thời là người có đức tin sâu sắc vào sự tồn tại của một Đức Chúa tối cao. Cuốn sách này nhằm bãi bỏ quan niệm đó bằng việc thuyết phục mọi người rằng, tin vào Chúa là một sự lựa chọn hoàn toàn lý trí và rằng, trong thực tế, các nguyên lý của đức tin lại bổ sung cho các nguyên lý của khoa học.

Trong thời hiện đại, rất nhiều người cho rằng khoa học và tôn giáo khó có thể hòa hợp. Với họ, điều đó chẳng khác gì việc ép hai cực của một thanh nam châm phải gặp nhau tại một điểm. Tuy nhiên, mặc dù định kiến này vẫn luôn tồn tại nhưng rất nhiều người Mỹ dường như thích kết hợp giá trị của cả hai quan điểm trên vào cuộc sống thường nhật của mình. Những cuộc thăm dò gần đây cho thấy 93% người Mỹ thừa nhận họ có niềm tin dành cho Chúa. Vậy mà hầu hết họ đều là những người biết lái xe, sử dụng điện và quan tâm tới các bản tin thời tiết. Họ cũng quan niệm rất rõ ràng rằng, khoa học nào nghiên cứu về những hiện tượng này, nhìn chung là đáng tin cậy.

"Thế còn niềm tin tâm linh của các nhà khoa học thì sao? Thực tế cho thấy, số lượng những nhà khoa học có niềm tin này lớn hơn so với nhiều người vẫn nghĩ."

Thế còn niềm tin tâm linh của các nhà khoa học thì sao? Thực tế cho thấy, số lượng những nhà khoa học có niềm tin này lớn hơn so với nhiều người vẫn nghĩ. Năm 1916, một cuộc nghiên cứu đưa ra câu hỏi cho các nhà sinh học, vật lý học và toán học: Liệu họ có tin vào một Đức Chúa, người chủ động giao tiếp với loài người hay không và họ sẽ cầu nguyện ai khi muốn có một câu trả lời. Khoảng 40% số người được hỏi đã trả lời có và sẽ cầu nguyện Chúa. Vào năm 1997, một cuộc khảo sát tương tự cũng đặt ra câu hỏi y hệt và các nhà nghiên cứu đã thực sự ngạc nhiên khi thấy tỷ lệ đó hầu như không thay đổi.

Vì vậy, có vẻ như “cuộc chiến” giữa khoa học và tôn giáo không nằm ở hai thái cực như nhiều người vẫn nghĩ. Thật không may, bằng chứng về sự hòa hợp có thể tồn tại giữa khoa học và tôn giáo lại thường bị che mờ bởi những tuyên bố có sức ảnh hưởng lớn từ những người đứng đầu hai thái cực. Chẳng hạn, để khiến 40% những người có đức tin ngừng tin tưởng, nhà nghiên cứu về tiến hóa học xuất chúng Richard Dawkins đã xuất hiện với vai trò người phát ngôn hàng đầu ủng hộ quan điểm rằng niềm tin vào thuyết tiến hóa đòi hỏi phải có sự vô thần. Một trong số những lời phát biểu đáng ngạc nhiên của ông là: “Đức tin chính là một lời bào chữa vĩ đại, một sự chối bỏ trách nhiệm để không phải suy nghĩ hay đánh giá một sự việc. Đức tin chính là niềm tin bất chấp hoặc thậm chí có thể vì… thiếu bằng chứng. Đức tin, khi là sự tin tưởng không dựa trên cơ sở thực tế, chính là tội lỗi lớn nhất của bất kỳ tôn giáo nào”.

Trong khi đó, những người theo các tôn giáo chính thống lại phản bác lại khoa học bằng việc nói rằng, chính khoa học mới nguy hiểm và không đáng tin cậy, đồng thời chỉ ra rằng chỉ có các kinh sách mới đáng tin cậy trong việc khám phá sự thật khoa học. Một trong số những người thuộc cộng đồng này là Henry Morris , nhà lãnh đạo đã quá cố thuộc phong trào của những người theo thuyết Sáng tạo luận. Ông đã từng phát biểu rằng “Thuyết tiến hóa giả dối đã lan tỏa và thống trị mọi lĩnh vực trong lối tư duy hiện đại. Khi điều đó trở thành hiện thực, chắc chắn nó sẽ dẫn tới một hệ quả không thể tránh khỏi, đó là tư tưởng tiến hóa, về cơ bản sẽ là căn nguyên cho những diễn biến chính trị đáng lo ngại và sự tan rã về mặt xã hội, đạo đức vốn đã và đang diễn ra mạnh mẽ khắp mọi nơi... Khi khoa học và tôn giáo bất đồng với nhau, rõ ràng khoa học đã giải thích sai những dữ kiện của nó”.

Những tuyên bố tương phản ngày càng tăng khiến cho nhiều người cảm thấy hoang mang và thất vọng. Những người nhạy cảm hiểu rằng, họ bị ép buộc phải lựa chọn giữa hai thái cực không lý thú chút nào, không có cái nào trong số hai thái cực đó đem lại nhiều hứng khởi hay thoải mái hơn. Thất vọng vì cả hai quan điểm đều rất cứng nhắc và cố hữu, rất nhiều người đã quyết định chối bỏ cả sự đáng tin cậy của những kết luận khoa học lẫn những giá trị của tôn giáo. Thay vào đó, họ bị rơi vào rất nhiều trạng thái khác nhau đó là hoặc tư duy chống lại khoa học hoặc hời hợt về mặt tâm linh hoặc đơn giản là thờ ơ với mọi thứ. Nhiều người khác lại quyết định chấp nhận giá trị của cả khoa học và tâm linh, nhưng chia chúng thành từng ngăn riêng biệt, phần dành cho tâm linh, phần dành cho vật chất để tránh không phải bận tâm về bất cứ xung đột nào có thể xảy ra. Cũng theo con đường này, nhà sinh học Stephen Jay Gould đã ủng hộ quan điểm cho rằng, khoa học và niềm tin nên tách rời - “thẩm quyền không chồng chéo”. Nhưng bản thân điều này đã có phần chưa thỏa đáng. Nó khơi sâu thêm xung đột nội tại và tước đi cơ hội giúp con người nhận ra rằng, có thể có con đường chung cho cả khoa học và tâm linh.

"Liệu có thể có cơ hội cho sự hòa hợp giữa những quan điểm của giới khoa học và giới tâm linh khiến cả hai đều cảm thấy hoàn toàn hài lòng trong kỷ nguyên mới của vũ trụ học, của sự tiến hóa và của hệ gen người hay không?"

Vì vậy, câu hỏi trọng tâm cho cả cuốn sách này chính là: liệu có thể có cơ hội cho sự hòa hợp giữa những quan điểm của giới khoa học và giới tâm linh khiến cả hai đều cảm thấy hoàn toàn hài lòng trong kỷ nguyên mới của vũ trụ học, của sự tiến hóa và của hệ gen người hay không? Tôi xin trả lời với một từ “Có” rõ ràng. Cá nhân tôi cho rằng, không hề có xung đột nào giữa một nhà khoa học thực thụ với một người đặt đức tin vào Chúa, Đấng chăm sóc tới từng cá nhân chúng ta. Lĩnh vực hoạt động chính của khoa học là để khám phá ra tự nhiên. Còn lĩnh vực hoạt động chính của Chúa là trong thế giới tâm linh, một thế giới hoàn toàn không thể khám phá bằng các công cụ hay ngôn ngữ của khoa học. Chúng ta cần phải kiểm nghiệm điều đó bằng trái tim, trí óc và linh hồn - và trí óc phải tìm ra cách để hài hòa cả hai lĩnh vực này.

Tôi muốn nói với các bạn rằng, những quan điểm này không những có thể cùng tồn tại trong một con người mà còn có thể tồn tại theo cách thức cùng làm sáng tỏ và phong phú thêm trải nghiệm của con người. Khoa học là cách duy nhất đáng tin cậy để hiểu về thế giới tự nhiên và, khi các công cụ của nó được sử dụng hợp lý, chúng ta sẽ có được hiểu biết sâu sắc về sự tồn tại của vật chất. Nhưng, khoa học không thể trả lời được những câu hỏi như: “Tại sao vũ trụ lại xuất hiện?”, “Sự tồn tại của con người có ý nghĩa gì?”, “Chuyện gì sẽ xảy ra sau khi chúng ta chết?”. Một trong những động lực mạnh mẽ nhất của con người chính là tìm kiếm câu trả lời cho những câu hỏi lớn này và chúng ta cần kết hợp sức mạnh của cả khoa học và tôn giáo mới có thể thấu hiểu được những điều nhìn thấy và không thể nhìn thấy. Mục đích của cuốn sách này là giúp chúng ta khám phá ra con đường hướng tới sự kết hợp đích thực những quan điểm này một cách nghiêm túc và trung thực về mặt trí tuệ.

Chúng ta có thể cảm thấy lo lắng khi nghĩ về những vấn đề hệ trọng. Dù có gọi tên nó ra hay không thì tất cả chúng ta đều đã đi đến một cách nhìn nhận nhất định. Nó giúp chúng ta hiểu về thế giới xung quanh mình, tạo cho chúng ta một khuôn mẫu đạo đức, định hướng cho những quyết định của chúng ta về tương lai. Bất kỳ ai có thể tạo nên một sự thay đổi nhỏ đối với cách nhìn nhận đó đều không nên làm một cách hời hợt. Một cuốn sách dám thách thức những gì thuộc về truyền thống sẽ đối mặt với nhiều khó khăn hơn là thuận lợi. Nhưng, trong sâu thẳm mỗi con người chúng ta đều tiềm ẩn lòng khao khát tìm ra sự thực, cho dù niềm mong muốn đó có thể dễ dàng bị chìm lấp trong bộn bề công việc thường ngày của cuộc sống. Những sao lãng đó kết hợp với mong muốn tránh nghĩ tới cái chết khiến cho nhiều ngày, nhiều tuần, nhiều tháng, thậm chí cả nhiều năm trôi qua dễ dàng; khiến chúng ta không còn thời gian suy nghĩ nghiêm túc về những câu hỏi ngàn đời về sự tồn tại của loài người. Cuốn sách này chỉ là một liệu pháp nhỏ cho bối cảnh đó, nhưng hy vọng có thể giúp mỗi người tự suy ngẫm và nuôi dưỡng niềm mong muốn khám phá những điều sâu xa hơn.

Trước hết, tôi xin giải thích, làm thế nào một nhà khoa học nghiên cứu về di truyền lại trở thành người đặt đức tin vào Chúa, Đấng vô hạn về không gian, về thời gian và Người quan tâm tới toàn thể nhân loại. Ai đó có thể sẽ cho rằng, điều này chắc hẳn là do tôi được dạy dỗ về tôn giáo ngay từ khi còn tấm bé và thấm nhuần tất cả những điều đó từ truyền thống văn hóa và gia đình. Vì vậy, sau này, dứt khoát không thể nào tôi lại không như vậy. Nhưng đó không thực sự là câu chuyện của tôi.

FRANCIS S.COLLINS
GIÁM ĐỐC DỰ ÁN GIẢI MÃ GEN NGƯỜI

1-10 of 15

Comments