Phong tục và Tập quán

Lịch sử truyền thống văn hóa, cội nguồn dân tộc
  • Tại sao phải “Cải táng?” Nguyễn Xuân Điều Có những việc mà cho đến bây giờ tôi vẫn còn rất ngỡ ngàng. Đó là việc mà người chết chôn xuống sau ba năm lại  đào ...
    Được đăng 00:47, 4 thg 8, 2017 bởi Điều Nguyễn Xuân
  • Tết Nguyên Đán Phương LinhViệt Nam  và nước  Tàu đều có chung phong tục Tết Nguyên Đán. Nguồn gốc tết Nguyên Đán có từ thời cổ.  Xưa kia người Tàu chưa biết ...
    Được đăng 00:47, 21 thg 7, 2017 bởi Điều Nguyễn Xuân
  • Nguồn gốc một vài phong tục cổ Nguyễn Xuân ĐiềuỞ nước ta, có một số phong tục mà đồng bào thường cho là cổ truyền của dân tộc nhưng it ai biết được nguồn gốc xuất ...
    Được đăng 00:49, 21 thg 7, 2017 bởi Điều Nguyễn Xuân
  • Đốt vàng mã: Giáo lý nhà Phật không dạy thế! Mai Hạnh - Võ Thu Trong giáo lý Phật giáo không có quy định đốt vàng mã.   Cổ tục đốt vàng mã của người dân ...
    Được đăng 06:05, 23 thg 12, 2011 bởi Điều Nguyễn Xuân
  • Chuyện về ba ông Phúc Lộc Thọ (Tam Đa) Nguyễn Xuân ĐiềuCó một bộ tượng ba ông già gọi là “Tam đa”, hình tướng khác nhau, áo quần mỗi ông một vẻ. Thường ba ông này được bày ...
    Được đăng 03:37, 21 thg 7, 2017 bởi Điều Nguyễn Xuân
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 7. Xem nội dung khác »

Tại sao phải “Cải táng?”

đăng 18:45, 15 thg 1, 2012 bởi Điều Nguyễn Xuân   [ đã cập nhật 00:47, 4 thg 8, 2017 ]


Nguyễn Xuân Điều

Có những việc mà cho đến bây giờ tôi vẫn còn rất ngỡ ngàng. Đó là việc mà người chết chôn xuống sau ba năm lại  đào lên, chuyển xương vào tiếu sành và chôn xuống lần hai. Việc này duy nhất chỉ có ở một vài nơi trên miền Bắc nước ta.

Cách đây đã khá lâu, tình cờ tôi gặp được ông thầy địa lý tên là Nguyễn Trực, người đất  Hiệp Hòa, Bắc Giang. Thầy sinh năm 1910 (Canh Tuất ), đi ăn cơm thiên hạ từ lúc 13 tuổi. Lúc tôi gặp thì thầy đã ngoài 70 tuổi, có bộ râu bạc khá dài, lưng hơi còng nhưng bước đi còn rất vững chãi.Thầy có đôi mắt tinh nhanh như loài chim, nhất là lúc đi “Tầm long điểm huyệt”. Thầy không uống rượu, không nghiện thứ gì. Vợ thầy nhiều hơn vài tuổi, mắt kém, lưng còng hơn thầy. Thầy không có con nên đã nhận một người con nuôi.  Lần đầu khi chúng tôi  gặp vợ chồng người con nuôi thì anh đã có 2 con nhỏ rồi.

Tôi còn nhớ con đường vào nhà thầy đi qua một cánh đồng mênh mông, ngạt ngào hương lúa nồng.  Xa xa có vài ngọn núi chạy ngang mờ trong mây in trên nền trời xanh.

Nhà thầy rất đơn sơ, tường xây cay đất, mái lợp ngói tây. Trong nhà đồ đạc sơ sài, một chiếc giường cũ, một cái chõng tre dùng để tiếp khách với bộ chén vại và chiếc xuyến bằng sứ  Bát Tràng cũ kỹ. Không bàn thờ. Tất cả trông rất đạm bạc. Ngoài sân có rất nhiều cây, một hàng cau, dàn trầu, một cây mít giống hiếm, những cây chanh lá dày thơm đặc biệt…Ngay ngoài cổng vào là một  cây dã hương to, thân thẳng tắp, có lẽ nó cao nhất làng.

Nhóm theo học thầy có tôi, anh La Hậu, Phạm Thành, Đỗ San, Chu Thảo. Mỗi người được thầy dạy theo một cách khác nhau, tùy thuộc vào khả năng nhận thức. Anh La Hậu đươc thầy gọi là  người có cái “tràng” như ruột con trâu. Anh Đỗ San có “Can” như  đá cuội. Còn tôi thì thầy bảo  “Khẩu” giống như “gà trống” gáy sáng…

Thời gian để tiếp xúc trực tiếp với thầy rất ít bởi công việc của thầy rất bận. Sách vở về lĩnh vực này  trong giai đoạn đó rất khan hiếm, nên việc truyền đạt kiến thức cơ bản của thầy cho chúng tôi theo phương châm “mưa dầm thấm lâu”. Tôi được thầy ưu ái một chút bởi vì biết vâng lời, nhanh hiểu và cũng biết bập bẹ chữ Tàu. Tôi còn nhớ như in những bài cơ bản đầu tiên, ví dụ cách tính hàng Can của tháng, của giờ:

                 Giáp Kỷ chi niên Bính tác sơ

                 Ất Canh … Mậu vi đầu

                 Bính Tân …tòng Canh khởi

                 Đinh Nhâm …Nhâm thuận hành

                 Mậu Quý hà phương …Giáp

Và để biết tổng quát về một người, thầy dạy cho cách tính theo   “Can, đởm, tràng, mao, khẩu, trủy, trảo, nha, giác, túc”.  Thầy hướng dẫn cả cách đọc  “Thông thư ngọc hạp” và  lịch “Vạn sự” ,  hiểu về “Tróc Long” và cách đặt địa bàn…


Tróc Long cổ

Thầy tinh thông về địa lý Dương cơ (Nhà ở) và Âm phần” (mồ mả). Sách của thầy viết toàn chữ Nho, có nhiều chữ cổ, xếp thành cột, đọc từ phải sang trái (chữ Việt Nam ta đọc từ trái sang phải). Ngoài sách ra, thầy còn một dụng cụ không thể thiếu trong khi làm việc đó là chiếc “Tróc Long”. Tróc Long là một vật hình tròn đường kính cỡ 20 phân, có rất nhiều vòng chữ in từ trong ra đến ngoài, ở giữa là một chiếc địa bàn cỡ bằng  đồng xu, kim óng ánh lung linh, nhỏ bằng sợi tóc, có 2 màu xanh đỏ luôn chỉ hướng Nam – Bắc. Sau này tôi cũng chế ra một chiếc “Tróc Long”, nhưng nó khác với “Tróc Long”cổ của thầy, vì nó rất Việt Nam (Trời tròn Đất vuông) và các vòng của nó xoay tròn được  (Biến hóa khôn lường).  Một lần tôi đưa chiếc “Tróc Long”  đó để thầy xem, thầy cầm nó ngắm một lúc rồi đưa lại cho tôi và nói: “Tao chẳng hiểu gì cả !” (Thầy thường xưng “tao” một cách thân mật với chúng tôi).


Tróc Long VN

Có những lần chúng tôi theo thầy đi cải táng. Thầy hướng dẫn cặn kẽ cách xếp cốt vào tiểu sành. Cách đặt “Tróc Long”, phân kim tìm hướng huyệt, đâu là tay long, tay hổ, đâu là Án và Minh đường… Một công việc rất tỉ mỉ và cẩn thận. Thầy dạy chúng tôi:  “Phân kim như chia ngọc”.

Để xác định hướng nhà (Dương cơ), thầy bảo chủ nhà đưa ra một cái mâm, đổ vài đấu gạo vào mâm, thầy nhẹ nhàng đặt “Tróc Long” trên mâm gạo đã được san phẳng. Sau đó căng chỉ hai đầu, chạy qua mặt địa bàn, xác định “Sơn và hướng”. Động tác rất trang nghiêm đầy bí ẩn …

Có lần tôi hỏi thầy: Tại sao chỉ có ở miền Bắc ta mới có phong tục “Cải táng” (hay còn gọi là sang cát), thầy im lặng rất lâu, rồi nhìn thẳng vào mắt tôi, thầy kể:

 “Thời xưa, đàn ông đa thê (nhiều vợ), nhất là những nhà giàu có. Đã nhiều vợ lại ích kỷ, gia trưởng, hẹp hòi, thậm chí còn hay “ghen bóng ghen gió”. Nhiều ông chồng lòng dạ không yên bởi nghĩ rằng trong những bà vợ của mình,  bà nào chung thủy, liệu rằng có bà nào trót quan hệ “mây mưa trăng gió” với người đàn ông nào khác ?...

Cũng từ cổ xưa người ta đã biết nếu người đàn bà nào có quan hệ tình ái (tình dục) với một người đàn ông thì sau khi chết chôn một vài năm, khi bới lên xem, ở đốt xương cụt sẽ có một chấm đen. Nếu quan h với 2 hoặc 3 người đàn ông khác thì sẽ có hai hoặc ba chấm đen… Và tục cải táng cũng bắt nguồn từ đó” (để giải đáp cho một bí mật).

Thầy cũng tiết lộ thật với tôi rằng “Việc làm này (tức cải táng) chẳng có tác dụng gì đâu con ạ”.  Câu này thầy nói rất nhanh làm tôi ngạc nhiên!

Tôi thầm nghĩ trong lòng “chẳng có tác dụng gì” nhưng sao thầy vẫn làm việc này trong bao nhiêu năm rồi, từ lúc thầy 13 tuổi đã bước vào nghề (?).

Cũng từ ngày ấy, tôi mới hiểu tại sao vua chúa không bao giờ cải táng. Có nhiều nước, nhiều dân tộc người chết được an táng  bằng cách đào sâu chôn chặt, thế mà nước họ, dân tộc và xã hội của họ vẫn văn minh,  phát  triển. Hoặc trên thế giới cũng có những phong tục dành cho người chết như: Điểu táng (xác người được xẻ ra để chim kền kền ăn), Hỏa táng (xác người được thiêu, sau đó tro được  đem rắc xuống sông xuống biển), Thực táng (xác người chết được đặt giữa nhà, người sống nhảy múa xung quanh,từng  người trong gia đình cắt xẻo thịt người chết để ăn …cho đến hết !), thủy táng, địa táng, thiên táng...

Thời cổ Ai Cập, khi các Pharaon dùng thuật ướp xác trong các kim tự tháp thì cũng từ đó nền văn minh Ai Cập bị sụp đổ.

Đã có rất nhiều người nhờ thầy sang cát đặt mồ mả. Nhưng tôi chứng kiến nhiều người cũng chẳng vì thế mà phát lên được. Thậm chí có người thì càng nghèo đi, có người rơi vào cảnh tù tội, có người phá sản… Có những nhà  khi cải táng cho người thân, sau đó trong gia đình họ hàng có người lâm nhiều bệnh, thần kinh bất an, tính tình thay đổi, có người bung thư rồi chết…

Cải táng cũng giống như làm đám ma lần thứ hai. Gia đình rất vất vả, tốn kém, nhất là những nhà nghèo....Đêm hôm âm u, giá rét, con cái cháu chắt kéo nhau ra bãi nghĩa trang hiu hắt, đứng quanh mả người chết đã được lật ván thiên, khóc lóc ri rả, đau thương… Chỉ khổ cho các con trẻ và các ông bà cao tuổi.

Đứng về góc độ khoa học  mà đánh giá thì công việc “cải táng” rất mất vệ sinh, cả một vùng bốc mùi hôi thối, gây ô nhiễm nặng môi trường. Bước vào nghĩa trang có “cải táng” chỉ thấy đất đai bị đào bới nham nhở lở loét làm mất đi vẻ đẹp trang nghiêm là nơi người chết an nghỉ. Có trường hợp mả này vừa bới lên “cải táng” mới được vài ngày thì ngay sau đó đã có đám khác chôn vào.Còn có cả trường hợp  xác đã chôn xuống 3 năm,  đến kỳ “cải táng” khi đào mả lên, thịt vẫn chưa tiêu hết, lúc ấy phải lấy dao róc thịt, trông thật khiếp sợ và đau lòng…”Cải táng” thật không khoa học và văn minh chút nào!

    Nhà nước ta không có luật “người chết phải cải táng”.

    Phật giáo “Từ bi – Trí Tuệ”  không có Pháp quy định người chết phải “Cải táng” ! ...

Sau này, tôi còn có dịp tiếp xúc với một vài thầy địa lý có tầm cỡ. Nhưng điều cơ bản mà tôi nhận biết được ở các thầy là khi làm về “Âm Phần”, các thầy thiểu hẳn một chân lý khoa học là: “Thân xác được sinh ra từ cát bụi lại trở về với cát bụi”.

     Và có một  năng lượng tồn tại vĩnh hằng thì các thầy địa lý lại không bao giờ có ân huệ được cảm nhận thấy!

Dù sao quy luật về vùng “Ánh Sáng” “Bóng Tối” vẫn luôn tồn tại cạnh nhau.  Chỉ có điều trí tuệ ta có nhận biết và phân biệt  được  ta đang “Sống” ở vùng nào?  Điều đó khẳng định rõ cội nguồn của một “Đẳng Cấp”,  một “Giống Nòi”!

                                                                                                                  Hà Nội, 13 tháng I năm 2012.

 

 

Tết Nguyên Đán

đăng 08:09, 4 thg 1, 2012 bởi Điều Nguyễn Xuân   [ đã cập nhật 00:47, 21 thg 7, 2017 ]

Phương Linh
Việt Nam  và nước  Tàu đều có chung phong tục Tết Nguyên Đán. Nguồn gốc tết Nguyên Đán có từ thời cổ.  Xưa kia người Tàu chưa biết tính ngày, tháng, năm. Họ chỉ dựa vào kinh nghiệm mà  ghi năm tháng. Chuyện kể rằng ông Chuyên Húc, một hoàng đế thời cổ gọi tháng Giêng âm lịch là Nguyên, gọi mồng Một là Đán, ghép lại là Nguyên Đán.

Nhưng về sau Nguyên Đán của các thời đại lại không giống nhau nữa. Nguyên Đán của nhà Hạ là ngày mồng Một tháng Giêng, Nguyên Đán của nhà Ân là vào ngày mồng Một tháng Chạp. Nguyên Đán của nhà Chu là vào ngày mồng Một tháng Mười Một. Sau khi Tần Thủy Hoàng thống nhất nước Tàu thì ngày mồng 1 tháng 10 là Nguyên Đán. Đến đời Hán Vũ Đế khôi phục lại, lấy ngày mồng 1 tháng Giêng của nhà Hạ làm tết Nguyên Đán.

Hiện nay tết Nguyên Đán của Trung Quốc là ngày mồng 1 tháng Giêng dương lịch, còn ngày mồng 1 tháng Giêng Âm lịch thì gọi là “Xuân Tiết” tức ngày Tết Âm lịch. Cũng như Việt Nam,  “Xuân Tiết” là ngày tết cổ truyền của Trung Quốc. Ngày đó mọi người được nghỉ ngơi, ăn mặc đẹp, vui chơi, đốt pháo….Có điều khác với ta là ngày tết người Tàu không gói bánh trưng, mà họ ăn một thứ bánh gọi là “chẻo”. Bánh này làm bằng bột trong có nhân thịt. Nhân dân Quảng Đông ngày tết thích ăn đậu phụ và cá. Sở dĩ vốn thích ăn cá vì chữ “cá” phát âm là “úy” đồng âm với chữ “dư thừa”, vì là ai chẳng muốn giàu có cả năm! Còn tục đốt pháo ở Trung Quốc thì có từ hàng ngàn năm nay. Bắt nguồn từ một truyền thuyết như sau: Ngày xưa có con quái vật chỉ có một chân nhưng đi rất nhanh. Đêm giao thừa nó thường vào nhà dân bắt lợn gà. Một lần gặp một đống lửa cháy, tre nứa nổ lốp bốp, nó sợ quá, bỏ chạy. Thế là người ta chế ra pháo đốt nổ đùng đùng để xua đuổi con quái vật đi. Lâu dần đốt pháo thành phong tục và ngày nay đốt pháo không những để xua đi tà khí hung ác  mà còn để đón chào, chúc mừng một ngày mới tốt lành, một tình duyên mới mẻ…


Đêm 30 tết bên nồi bánh chưng

Báo Thiếu niên Tiền phong, Ngày 7 tháng 2 năm 1992

 

Nguồn gốc một vài phong tục cổ

đăng 11:33, 18 thg 12, 2011 bởi Điều Nguyễn Xuân   [ đã cập nhật 00:49, 21 thg 7, 2017 ]


Nguyễn Xuân Điều
Ở nước ta, có một số phong tục mà đồng bào thường cho là cổ truyền của dân tộc nhưng it ai biết được nguồn gốc xuất xứ của những phong tục ấy. Cũng vì không biết cho nên một số người lại thần thánh hóa những phong tục này, biến nó thành một thứ gần như tín ngưỡng không thể thiếu được trong cuộc sống hàng ngày.

1- Sự tích ngày mồng 3 tháng 3 hay chuyện về Giới Tử Thôi


Ông Giới Tử Thôi là công thần nhà Tấn về đời Xuân thu (TK VII trước Thiên Chúa)
Vua Tấn Văn Công nước Tấn (Tên là Cơ Trùng Nhĩ, vua thứ 24 của nước Tấn, là một trong Ngũ bá đời Xuân Thu), gặp loạn phải bỏ nước lưu vong, nay trú nước Tề, mai trú nước Sở. Bấy giờ có một người hiền sĩ tên là Giới Tử Thôi, theo vua giúp đỡ mưu kế. Một hôm, trên đường lánh nạn, lương thực cạn, Giới Tử Thôi phải lén cắt một miếng thịt đùi của mình nướng lên dâng vua. Vua ăn xong hỏi ra mới biết, đem lòng cám kích vô cùng. Giới Tử Thôi theo phò Tấn Văn Công trong mười chín năm trời, cùng nhau trải nếm bao nhiêu gian truân nguy hiểm.

Về sau, Tấn Văn Công giành lại được ngôi báu trở về làm vua nước Tấn, phong thưởng rất hậu cho những người có công, nhưng lại quên hẳn Giới Tử Thôi. Ông cũng không oán giận gì, ông về nhà đưa mẹ già cùng vào núi Điền Sơn ở ẩn.

Vua Tấn Văn Công về sau nhờ có người mách bảo mới nhớ ra, cho người đi tìm, nhưng Giới Tử Thôi không chịu rời Điền Sơn để ra lĩnh thưởng, Tấn Văn Công thấy vậy hạ lệnh cho quan quân đốt rừng cỏ tranh, ý muốn thúc ép Giới Tử Thôi phải ra, nhưng ông nhất định không chịu tuân mệnh. Rốt cục khi rừng cỏ tranh cháy trụi, quan quân tìm  thấy xác ông ôm mẹ chết cháy… Hôm ấy là ngày mồng 3 tháng 3 Âm lịch. Vua thương xót, lập miếu thờ và ra sắc lệnh trong dân gian hàng năm cứ đến này này phải kiêng đốt lửa ba ngày, chỉ dùng đồ ăn nguội đã nấu sẵn để tưởng niệm Giới Tử Thôi. Phong tục này được người Tàu duy trì cho đến ngày nay.

ta cũng có một số nơi theo tục ấy của người Tàu mà ăn tết Hàn thực ngày mồng 3 tháng 3. "Hàn Thực" nghĩa là "đồ ăn lạnh". Vào ngày này, dân ta chỉ làm bánh trôi bánh chay để ăn tết, chứ không ai tưởng nhớ gì đến Giới Tử Thôi và chẳng có kiêng khem gì.

 

2- Sự tich têt Đoan Ngọ mồng 5 tháng 5 hay Truyền thuyết Khuất Bình (Khuất Nguyên) Khuất Nguyên (chữ Hán: 屈原; ), tên Bình, biệt hiệu Linh Quân (340 - 278 trước Thiên Chúa) là một chính trị gia, một nhà thơ yêu nước nổi tiếng vào cuối thời Chiến Quốc của nước Tàu. Ông là người trong hoàng tộc nước Sở, làm chức Tả Đồ cho Sở Hoài Vương. Ông học rộng, nhớ dai, giỏi về chính trị, lại có tài văn chương. Lúc đầu ông được vua yêu quý, sau có quan lại ganh tài ông, tìm cách hãm hại. Vua Sở nghe lời gièm pha nên ghét ông. Đến cuối đời ông bị vua Tương Vương (người nối ngôi Sở Hoài Vương) đày ra Giang Nam (phía nam sông Dương Tử). Ông thất chí, tự cho mình là “người trong” sống ở “thời đục”, suốt ngày ca hát như người điên, làm bài phú "Hoài Sa" rồi ôm một phiến đá, gieo mình xuống sông Mịch La tự tử. Hôm ấy là ngày mồng 5 tháng 5 Âm lịch. Dân làng ở đó đã mang những thuyền đến giữa dòng sông để cố gắng cứu vớt ông nhưng không thành. Để cho cá và các linh hồn của ma quỷ không lại gần được thi thể của ông, họ đã đánh trống và vẩy nước bằng các mái chèo ở trên thuyền.

Ông cũng chính là nhân vật trong sự tích tết Đoan Ngọ (Đoan Dương). Theo truyền thuyết này, để tỏ rõ sự tiếc thương một người trung nghĩa và cái chết bi ai của ông, mỗi năm cứ đến ngày mồng 5 tháng 5 Âm lịch, dân nước Tàu lại làm bánh, quấn chỉ ngũ sắc bên ngoài (ý làm cho cá sợ, khỏi đớp mất) rồi bơi thuyền ra giữa sông, ném bánh xuống cúng Khuất Nguyên, đó là ngày tết Đoan Dương của nước Tàu.

Ở nước ta, một số vùng đồng bào cũng theo phong tục ăn tết mồng 5 tháng 5 của người Tàu. Vào sáng sớm, mọi người trong nhà ăn rượu nếp, ăn hoa quả để diệt sâu bọ và tắm nước của hoa cây rau mùi với hy vọng trừ hết rôm sảy, cơ thể thơm tho trong một ngày hè nóng bức oi ả.


3-Tục lệ đốt hương

Gốc tích sự đốt hương xuất phát từ Tây Vực. Mục đích đôt hương để cầu thần thánh giáng lâm.

Vào đời Hán Vũ đế, vua cho tướng sang đánh nước Hồn Gia xứ Tây Vực. Vua Hồn Gia đầu hàng, dâng một thần tượng bằng vàng. Người nước Hồn Gia cúng tế thần tượng này chỉ dùng hương đốt lên rồi lễ bái. Người Tàu bắt chước và sau đó có tục đốt hương cho đến ngày nay.

Thường thì người ta đốt hương vào các ngày giỗ chạp, ma chay, cưới xin, ngày têt…đặc biệt là vào ngày mồng một và ngày rằm của tháng âm lịch.Vì vào hai ngày đó người xưa thấy thường hay xảy ra tai nạn, người chết đột ngột, bệnh tình kịch phát…Họ rất sợ hai ngày ấy nhưng không hiểu được nguyên nhân, cho rằng đấy là thế lực của thần linh, ma quỷ… nên đã đốt hương để thờ cúng trừ tà.
 Ngày nay, các nhà Thiên văn học đã phát hiện ra ngày mồng Một và ngày Rằm là lúc vị trí tương đối giữa Mặt trời, Trái đất và Mặt trăng thường nằm trên một đường thẳng, tạo ra những xung năng lượng bất lợi gây hại cho sức khỏe con người trên trái đất, chứ không phải do ma quỷ nào gây ra cả !..(Như chúng ta đã biết hiện tượng thủy triều sinh ra trong  ngày là do sức hút của Mặt trăng tác động lên Trái đất ).

Tục đốt hương sang nước ta có lẽ từ thời Tam Quốc khi người Ngô là Trương Tân sang làm Thứ sử Giao Châu. Trương Tân thường đốt hương để đọc sách, hương đốt theo số lẻ 1, 3, 5 nén.

Ở ta ngày nay, nguồn nguyên liệu sản xuất hương có nhiều chủng loại. Vì vậy khi dùng nên lưu ý xem xét cẩn thận vì có những loại hương đốt lên trong phòng kín gây đau đầu, chóng mặt, khói bay ra ngột ngạt rất có hại cho hô hấp, nhất là đối với trẻ em.

Hà Nội, 18.XII.2011

Đốt vàng mã: Giáo lý nhà Phật không dạy thế!

đăng 23:50, 1 thg 11, 2011 bởi Điều Nguyễn Xuân   [ đã cập nhật 06:05, 23 thg 12, 2011 ]

Mai Hạnh - Võ Thu

Trong giáo lý Pht giáo không có quy đnh đt vàng mã.

 

Cổ tục đốt vàng mã của người dân rất khó bỏ một sớm một chiều. Ảnh: Mai Hạnh

Đốt nhiều vàng mã trong Lễ vu lan và Xá tội vong nhân đã trở thành tập tục truyền đời. Tuy nhiên, theo các chuyên gia nghiên cứu Phật học, các cao tăng của Giáo hội Phật giáo Việt Nam thì trong giáo lý Phật giáo không có quy định đốt vàng mã. Họ cho rằng, “Âm - dương là hai thế giới hoàn toàn khác nhau không thể cảm ứng được... Người phàm trần chỉ cần ăn chay, niệm Phật để tưởng nhớ”...

“Hán Văn Đế mất vàng” hay “nàng Tuệ Nương bán giấy”?

Chuyện xưa kể rằng, đốt vàng mã là một tục lệ dân gian, xuất phát từ thời nhà Hán (Trung Quốc). Do nhà vua muốn thực hành lời dạy của Đức Khổng Tử: “Sự tử như sự sinh, sự vong như sự tồn”, nghĩa là thờ người chết như thờ người sống, thờ người mất như thờ người còn. Vậy nên khi nhà vua băng hà, chúng thần và hậu cung đã phải bỏ tiền bạc thật vào trong áo quan để vua tiêu dùng.

Sau đó quan bắt chước vua, dân bắt chước quan. Ai cũng chôn tiền thật theo người chết thành một tục lệ. Bọn trộm cướp biết vậy nên đào trộm mồ những người giầu có, như mộ vua Hán Văn Đế bị trộm khai quật lấy hết vàng bạc châu báu. Về sau từ quan đến dân thấy việc chôn tiền bạc thật quá tốn kém nên mới nảy sinh ra dùng giấy cắt ra làm tiền giả, vàng giả để thay thế. Chuyện đốt tiền giấy (vàng mã) ra đời từ đó và trở thành tập tục. Tập tục này được du nhập vào Việt Nam theo những người Trung Hoa.

TS Nguyễn Mạnh Cường, Viện Nghiên cứu Tôn giáo, cho rằng: “Việc đốt vàng mã là do ảnh hưởng của người Trung Hoa. Tích kể rằng: Vào đời Hán có đôi vợ chồng là Thái Mạc và Tuệ Nương học nghề làm giấy chưa thạo đã về quê mở xưởng. Giấy làm ra xấu và khó viết chữ nên bị ế không bán được. Tuệ Nương bèn giả chết để thực hiện phương kế bán giấy. Ngày thứ 3, trước khi đi chôn, Thái Mạc đem một ôm giấy ra đốt bên cạnh quan tài vợ. Sau khi Thái Mạc đốt giấy xong thì Tuệ Nương ở trong quan tài kêu to gọi chồng, đẩy nắp quan tài bước ra hát rằng: “Dương gian tiền năng hành tứ hải. Âm gian chỉ tại tố mãi mại. Bất thị trượng phu bả chỉ thiêu. Thùy khẳng phóng ngã hồi gia lai”.

Nghĩa là: “Trên dương gian đồng tiền có thể làm được mọi việc ở mọi nơi, dưới âm phủ giấy cũng có thể dùng để mua bán. Nếu không phải chồng đốt cho giấy thì ai lại cho tôi quay về dương gian”. Nói rồi lại mang thêm 2 bó giấy nữa để đốt. Những người chứng kiến đều tin là đốt giấy thành tiền cho người âm phủ rất có lợi nên ai nấy đều về nhà lấy tiền đến nhà Thái Mạc mua giấy về đốt. “Tin lành” đồn xa, người các nơi tranh nhau đến nhà Thái Mạc mua giấy. Không đến 2 ngày, bao nhiêu giấy ế của hai vợ chồng Tuệ Nương đã hết sạch”.

Với tích truyện này, TS Nguyễn Mạnh Cường hy vọng bạn đọc sẽ có suy nghĩ đúng đắn về việc đốt vàng mã. Trước khi đốt vàng mã, mỗi người cần suy nghĩ thật kỹ xem tác dụng thực của việc “hoá vàng” đến đâu. Đã là tập tục thì khó bỏ, chỉ trừ có sự đồng thuận của mọi người trong xã hội.

Không thành tâm, làm gì cũng vô ích

Chúng tôi đem chuyện nhà nhà mua vàng mã, người người đốt vàng mã cho người chết, hỏi các bậc cao tăng Phật giáo để biết rõ hơn việc này. Thượng tọa Thích Thanh Duệ, Phó Trưởng ban Nghi lễ Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam khẳng định: “Trong giáo lý nhà Phật không có việc đốt vàng mã cúng tế người chết. Quan điểm của đạo Phật hoàn toàn bác bỏ tục lệ mê tín này. Phật giáo chỉ khuyên trong ngày Lễ vu lan (báo hiếu cha mẹ) thì nên ăn chay niệm Phật để tưởng nhớ. Và làm Lễ xá tội vong nhân (cúng chúng sinh) – cúng những vong hồn lưu lạc một mâm cỗ chay để bố thí siêu sinh. Đồng thời, giúp đỡ những người nghèo khổ chốn trần gian, ăn chay niệm Phật và phóng sinh tích đức để siêu độ vong linh”.

Còn Thượng toạ Thích Thanh Nhã, trụ trì chùa Trấn Quốc (Hà Nội) cũng khẳng định với PV Báo GĐ&XH rằng, kinh Phật không dạy đốt vàng mã cho người quá cố. Bản thân trụ trì cũng thường xuyên nhắc nhở Phật tử nên hạn chế đốt vàng mã. Theo ông thì nên dùng tiền mua vàng mã đốt để làm việc thiện cho đời sẽ tốt hơn rất nhiều.

Đại đức Thích Thiện Hạnh, trụ trì chùa Vinh Phúc (thôn Quang Độ, xã Văn Môn, huyện Yên Phong, Bắc Ninh) cũng cho rằng, việc đốt vàng mã là mê tín dị đoan và sai hoàn toàn. Đại đức Thích Thiện Hạnh giải thích: “Chúng ta vẫn có câu: Dương sao âm vậy. Nhưng vàng mã của chúng ta về dưới đó có tiêu được không? Quần áo chúng ta đốt về có vừa với kích cỡ của ông bà chúng ta nữa không? Xe cộ, đồ dùng... có được gửi đúng địa chỉ không? Thành thực trả lời những câu hỏi đó cũng đủ thấy đốt vàng mã là mê tín dị đoan, không hề phù hợp hay có cơ sở. Nếu cha mẹ cõi âm chỉ mong chờ ngày này để được miếng cơm, manh áo, căn nhà... thì những tháng ngày còn lại, tổ tiên ông bà, cha mẹ ăn, mặc, ngủ, nghỉ ở đâu?

Chúng ta vẫn thường nói “Dương thịnh âm siêu”. Người dương biết làm phúc, để người âm siêu thoát. Tôi nghĩ, chúng ta nên lên chùa, thành tâm cầu nguyện hồi hướng tâm đức. Nếu có tiền để mua sắm vàng mã đốt cho cha mẹ, thì nên dùng tiền đó để chia sẻ cho những người nghèo khó. Bởi “Cứu một người dương gian bằng ngàn người âm phủ”. Còn cầu nguyện, chỉ cần tấm lòng thành, nếu không thành tâm thì làm gì cũng vô ích”.

Cổ tục đốt vàng mã đã có từ lâu đời, ăn sâu vào tâm thức của người dân Việt Nam nên rất khó từ bỏ trong một sớm một chiều. Thậm chí, nhiều người coi đó là một trong những nét văn hoá của phong tục thờ cúng gia tiên. Nhưng sau khi biết rõ tích của việc đốt vàng mã, người dân liệu có nên gây những lãng phí như các cao tăng nói? 

 

Theo thống kê chưa đầy đủ, mỗi năm cả nước đốt hơn 40.000 tấn vàng mã, riêng tại Hà Nội tiêu thụ trên 400 tỷ đồng cho phong tục này. Đây là hành động mê tín quá hoang phí.

Thượng tọa Thích Thanh Duệ tỏ ra gay gắt khi cho rằng: "Đốt vàng mã một cách hoang phí là việc làm mà cả người sống lẫn người chết đều có tội. Bởi lẽ, việc người sống vung phí tiền bạc, mua vàng mã, làm lễ to lễ nhỏ, sát sinh gà lợn là có tội. Vì người chết mà người sống hoang phí, sát sinh, nên người chết cũng có tội. Tại chùa Quán Sứ chúng tôi, những người rước vong vào chùa chỉ được đốt một bộ quần áo sứ giả, không có bộ thứ hai".

 

Chuyện về ba ông Phúc Lộc Thọ (Tam Đa)

đăng 06:05, 6 thg 10, 2011 bởi Điều Nguyễn Xuân   [ đã cập nhật 03:37, 21 thg 7, 2017 ]

Nguyễn Xuân Điều

Có một bộ tượng ba ông già gọi là “Tam đa”, hình tướng khác nhau, áo quần mỗi ông một vẻ. Thường ba ông này được bày trong nhà để trang trí, làm cảnh cho vui. Sự tích về ba ông cũng rất lý thú:

Ông Phúc:
Tên là Quách Tử Nghi, Làm quan Đại phu nhà Đường (nước Tàu), là một chính khách và cũng là một vị tướng lừng danh.Vợ chồng bằng tuổi nhau. Cuộc đời ông chuyên làm việc thiện, tu Đức, thanh liêm. Năm 83 tuổi đã có cháu “Ngũ đại” (đa Phúc). Đến một ngày, ông bà ôm cháu 5 đời cười rồi viên tịch… Người đời tặng ông bốn chữ “Tiên cảnh nhàn du”.

Ông Lộc: Tên là Đậu Tử Quân, làm quan Đại phu nhà Tấn. Nhiều bổng lộc (đa Lộc)! Bụng to, cân đai sệ! Năm 80 tuổi chưa có cháu đích tôn để nối dõi tông đường. Lộc nhiều như vậy để cho Ai?

Ông Thọ: Tên là Đông Phương Sóc, Làm quan Đại phu nhà Hán. Ông có lời nói hay, tính thuyết phục cao, vừa lòng Thiên Tử, vì vậy ông được thưởng rất nhiều vàng lụa. Là người trọng “bổng lộc”, rất “hào hoa” và tài năng, ông cưới mỹ nữ về làm tỳ thiếp nhiều vô kể… Thọ 125 tuổi (đa Thọ). Khi ông chết, con cháu đều đã chết trước cả rồi! Cháu 4 đời phải thay bố làm ma cho cụ cố. Thọ như vậy thì cũng dở!

Ba ông thuộc ba triều đại khác nhau. Người Tàu nặn tượng để bày trong nhà cho vui, mục đích lấy đó làm bài học răn đời.

Tuy nhiên ở ta, có người vì không hiểu sự tích ông “Tam đa” người Tàu, nên đã nhầm lẫn bày lên bàn thờ tổ tiên nhà mình !



Và trong ba ông ấy, ta nên học ông Phúc là hơn cả, vì Phúc Đức là cội rễ để làm người ở thế gian này !

Lỗ Ban và thước Thần

đăng 03:07, 3 thg 10, 2011 bởi Điều Nguyễn Xuân   [ đã cập nhật 00:56, 21 thg 7, 2017 ]

Nguyễn Xuân Điều

Lỗ Ban là vị thần hanh nghiệp nổi danh nhất và có ảnh hưởng lâu dài nhất ở nước Tàu, được những người làm nghề mộc, ngọa (nề) và nghề xây dựng tôn làm tổ sư.

Lỗ Ban vốn là thợ mộc ở nước Lỗ, cuối thời Xuân Thu, tên là Công Thân Ban, là người nước Lỗ nên được gọi là Lỗ Ban. Ông là người thợ xuất sắc nhất đương thời, có tuyệt kỹ vô cùng cao siêu, được tôn là người thợ “đệ nhất thiên hạ”. Lỗ Ban chế tạo những vũ khí lợi hại gắn trên chiến thuyền cho nước Sở, phát minh và chế tạo rất nhiều công cụ như xẻng, cuốc, mai, thước gấp…Lỗ Ban từng dùng tre, trúc, gỗ làm những con chim (diều) bay trên trời mấy ngày liền, chế tạo chiếc xe ngựa do người gỗ kéo đi được.

Truyền thuyết kể rằng ông từng bắc một chiếc cầu qua sông. Trương Quả Lão muốn thử độ vững chắc của nó, bèn ước  hẹn với một vị tiên là Sài Vinh để cùng qua cầu. Trương Quả Lão cưỡi lừa, đeo theo Thái Dương và Mặt Trăng, còn cỗ xe của Sài Vinh thì chở “Ngũ nhạc danh sơn” (5 quả núi nổi danh) cùng đi lên cầu. Chiếc cầu bị sức nặng ghê gớm đè xuống lung lay. Lỗ Ban thấy thế vội chạy xuống dưới cầu dùng hai tay chống đỡ. Hai vị tiên đi qua an toàn.

Trong một số ngành nghề như mộc, nề, xây dựng…trước những việc hệ trọng, người ta thường cúng tế xin phép tổ sư Lỗ Ban. Tại Hồng Kong (Hung Kung),  ngày 16.6 âm lịch gọi là tiết Lỗ Ban, tất cả công nhân ngành xây dựng được nghỉ 1 ngày. Buổi sáng họ đến đền thờ Lỗ Ban cúng tế, buổi tối mở tiệc tại nhà. Những người thợ cho rằng  ly rượu mời nếu được tổ sư Lỗ Ban  ứng nhập, họ uống vào sẽ bình an vô sự cả năm.

Tương truyền Lỗ Ban có ngầm để lại cho những người thợ bí quyết thiết kế nhà cửa và vật dụng. Trong đó  có một cái thước mà người ta gọi là “Lỗ Ban thần thước”, (thước thần Lỗ Ban), dùng để đo và thiết  kế nhà cửa. Thước này có độ dài tương đương 52cm, được chia thành 40 cung, mỗi cung có những đặc tính riêng, tùy thuộc vào Phúc Đức của người dùng. Gọi là thước “Thần” vì khi áp đo vào nhà cửa, nó cho ta một kết quả cụ thể đến kinh ngạc!...


Đặc biệt, thước này không phải ai cũng tùy tiện sử dụng được. Người dùng nó phải được trao một đặc ân và kết quả nghiệm  nhiều hay it còn phụ thuộc vào Phúc Đức của chủ nhà. Thước này không bán ở ngoài chợ hay bất cứ một cửa hàng nào, giống như Hoàng Đế không bao giờ đem vật báu trong cung (được cất giữ kín)  ra khoe trước thiên hạ. Như vậy, nếu ai đó mua được thước Lỗ Ban  ở “ngoài chợ” thì phải cẩn thận xem kỹ lại,  bởi chắc chắn đấy không phải là  “Lỗ Ban thần thước” mà ta hằng mong đợi…

Chiếc thước bán ngoài chợ này không phải thước Lỗ Ban

Ngày nay, chúng ta cùng nhau chiêm nghiệm sự thần diệu của “Lỗ Ban thần” dựa trên bản chất Toán học - Vật lý của chiếc thước cổ này!   

                                                                                                              Hà Nội, 27.IX.2011.XĐ

Bàn thờ xó nhà

đăng 02:59, 3 thg 10, 2011 bởi Điều Nguyễn Xuân   [ đã cập nhật 01:00, 21 thg 7, 2017 ]

Nguyễn Xuân Điều

Người Việt Nam ta tự hào có một nền văn hóa phát triển từ lâu đời, được đúc kết phong phú qua nhiều mảng như: phong tục thờ cúng tổ tiên, các lễ hội, tục ngữ, ca dao, dân ca…Đó là những sản phẩm có giá trị quý báu  về mặt trí tuệ  của cả một dân tộc.
Dân ta từ xưa đến nay thường là hiếu  học, thấu hiểu đạo lý, lao động cần cù, sống nhân hậu, giầu lòng yêu thương và 
không mê tín dị đoan.

Trước ngày giải phóng Sài Gòn 30.4.1975, người dân miền Bắc không ai đặt bàn thờ ở góc xó nhà, ngay cửa ra vào. Mọi công việc thờ phượng luôn thể hiện cẩn thận ở nơi trang nghiêm, tôn kính và có hiểu biết. Nhưng từ sau giải phóng miền Nam, phong tục đặt bàn thờ xó nhà (gọi là ông Địa, thần Tài) từ Sài Gòn bắt đầu tràn ra Bắc. Nó len lỏi, phát triển như vũ bão, tràn lan khắp mọi nơi: trong các cửa hàng buôn bán tư nhân lớn nhỏ, từ quán “Phở gia truyền”, cửa  hàng làm tóc đến quán Karaoke, khách sạn...; trong các siêu thị, cửa hàng kinh doanh của các công ty, thậm chí ngay cả trong các công sở, nhà riêng của một số gia đình …


Một em bé bắt chước người lớn vái thần tài


Một góc rất cầu kỳ thờ "Thần Tài"


Một ngôi nhà hiện đại, sang trọng cũng "không quên" đặt bàn thờ xó nhà


Một quán giải khát khiêm tốn với một bàn thờ "Thần Tài" không hề khiêm tốn

Người ta trông chờ, hy vọng vào “Thần tài” để cầu mong Thần “ban ơn” cho việc làm ăn mau chóng phát đạt, sự nghiệp mau chóng hanh thông, nhanh thăng quan tiến chức, giàu có, vinh hoa.  Từ đó người ta không còn đặt hy vọng vào chính mình nữa, không tin dựa vào sức mình nữa mà chỉ tin cậy vào một thế lực vô hình. Khi ý chí và nhận thức của con người xuống cấp thì con đường dẫn tới nô lệ sẽ đến rất gần. Lúc này nếu có những lời khuyên quí báu thì không thể lọt qua tai những người này nữa vì họ đã trở nên u mê trước sự cám dỗ của cái bẫy mà họ đã sa vào! Khi bộ óc đã trở nên mù quáng thì đôi mắt chẳng còn giúp gì được nữa. Người ta đã đua nhau làm những việc vô ích để cầu phúc mà không biết làm những việc có ích để cứu người. Những người đó cũng góp phần vào việc làm cho mảnh đất mê tín dị đoan  có cơ hội phát triển thành một tệ nạn đáng sợ trong cộng đồng.

     Truyện kể rằng, có một người ba Tàu rất giàu. Một ngày nọ ông đi vắng  xa nhà một thời gian, đến khi trở về, ông phát hiện thấy mất của liền đánh đập tra hỏi người đày tớ, người này sợ hãi chạy trốn vào xó cửa và bị ông chủ  quá tay đập chết.  Sự đã rồi, ông chủ ân hận và lập bàn thờ ngay xó nhà để thờ người đày tớ bị đánh chết làm "thần giữ của" cho  mình.

Từ câu chuyện này, người Tàu ở Sài Gòn từ lâu cũng đã theo nhau thờ và trở thành một phong tục đặt bàn thờ “Thần tài” ở xó nhà. Một số dân ta cũng bắt chước làm theo mà không hiểu gốc tích của câu chuyện, cứ tưởng làm như vậy là tốt, là văn minh, sành điệu… Than ôi! “Thần tài” đâu có nằm ở xó nhà! “Thần tài” nằm trong đầu của mọi người, trong trí tuệ của mỗi người mà họ không hề biết. Chúng ta hồn nhiên bắt chước một phong tục của dân tộc khác mà không hiểu rõ phong tục ấy hay dở như thế nào? Lợi hại đến đâu? Thế chẳng buồn và xấu hổ lắm sao?

Người ta có hai bản tính dễ dẫn đến mê tín dị đoan, đó là “Lòng tham” và “Sự sợ hãi”. Vì “tham”, tham địa vị, tiền bạc, danh vọng… nên có người tìm mọi cách để “Tính tham” được thỏa mãn, và cách nhanh nhất là dựa vào pháp sư, phù thủy, bùa chú,  thế lực thần bí vô hình.  Cũng có người vì luôn “Sợ hãi”, sợ nghèo, sợ đói, sợ đất, sợ trời, sợ ma quỷ, bệnh tật… luôn lo lắng, it hiểu biết, cả tin nên  đã đi vào con đường dị đoan lầm lạc, dựa vào thế lực vô hình, buôn thần bán thánh, làm cho gia đình gặp nhiều tai ương, tan nát thất bại mọi bề. Cái hại của mê tín là rât lớn nhưng có mấy ai hiểu được điều này, trừ khi có người biết chỉ ra cho hay.

Bộ mặt người ta là hình ảnh của tâm hồn. Một  ngôi nhà đẹp là trong đó có một gia đình luôn tràn đầy Hạnh phúc và Bình an. Mỗi người chúng ta cố gắng học lấy những điều hay, cần cù làm việc và luôn sáng tạo, có  trách nhiệm với cộng đồng thì chắc rằng mọi người ai cũng đều khỏe mạnh và trưởng thành.

Cuối cùng, chúng ta hãy luôn nhớ rằng: “Cái xảo quyệt nhất của Con Quỷ là làm cho mọi người tin rằng không có nó”!

                                                  Hà Nội, Tết Vu Lan –Rằm tháng Bảy, năm Tân mão ( 2011)

                                                                                                                                                                                                                                              

1-7 of 7

Comments