Bài giảng

Các bài giảng trong chương trình học
  • Thiền Cấp III Nguyễn Xuân Điều1. Khởi động thiềnỞ chương trình Trung cấp, khởi động Thiền là: mở mắt, hít vào bằng mũi, phình bụng ...
    Được đăng 19:34 10-10-2011 bởi Điều Nguyễn Xuân
  • Thiền Cấp II Nguyễn Xuân ĐiềuTrước khi Thiền cần tiến hành phá bế tay chân, bấm các huyệt kích thích lưu thông khí huyết.1. Khởi động thiềnNgửa tay, mở mắt ...
    Được đăng 05:50 30-09-2011 bởi Điều Nguyễn Xuân
  • Thiền Cấp I Nguyễn Xuân ĐiềuI. THIỀN TỊNH Chú ý: Trước khi vào tập, nên uống một cốc nước đầy ( từ 200 – 400ml). Rất hiệu quả.1. Phá bếTrước khi ...
    Được đăng 08:18 18-01-2014 bởi Điều Nguyễn Xuân
  • Thiền (Dhyanna)   Nguyễn Xuân Điều Muốn đánh thức khả năng tiềm ẩn trong cơ thể, con người phải có phương pháp tập luyện để biến đổi cơ thể vật chất và cơ ...
    Được đăng 19:48 29-09-2011 bởi Điều Nguyễn Xuân
  • Vị trí, chức năng các trung tâm năng lượng trong cơ thể con người   Nguyễn Xuân ĐiềuI. LUÂN XA Hệ thống Luân xa là những trung tâm đặc biệt trên cơ thể con người. Khi được mởcơ thể thu nhận được nguồn ...
    Được đăng 00:09 29-09-2011 bởi Điều Nguyễn Xuân
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 5. Xem nội dung khác »

Thiền Cấp III

đăng 05:50 30-09-2011 bởi Điều Nguyễn Xuân   [ đã cập nhật 19:34 10-10-2011 ]

Nguyễn Xuân Điều

1. Khi đng thin

Ở chương trình Trung cấp, khởi động Thiền là: mở mắt, hít vào bằng mũi, phình bụng, sau đó thở ra từ từ, ép bụng lại, nhịp 1 – 1 từ ba lần trở lên (Thở 2 thì).

Đến chương trình Trung cấp tăng cường (Luân xa 8-9 Mạch Nhâm), khởi động Thiền theo nhịp 1 – 4 – 2. Hít vào 1 nhịp, sau đó nín hít 4 nhịp rồi thở ra 2 nhịp, cũng làm từ ba lần trở lên (Thở 3 thì).

Ở Chương trình Luân xa Cao cấp, khởi động Thiền theo nhịp 1 – 4 – 2 – 4, thực hiện từ từ và êm ái (Thở 4 thì).

Cụ thể:

1                                  4                            2                  →      4

Hít vào                        Nín hít                     Thở ra                     Nín thở

                                (phình bụng)                (thót bụng)

Giả sử thời gian của 1 nhịp là 5 giây, ta sẽ thở theo nhịp 1 – 4 – 2 – 4 như sau:

-        Nhịp 1: Hít vào 5 giây

-        Nhịp 2: Nín hít 5 x 4 = 20 giây

-        Nhịp 3: Thở ra 5 x 2 = 10 giây

-        Nhịp 4: Nín thở 5 x 4 = 20 giây

Tuỳ theo hơi thở ngắn hay dài mà ta quy định thời gian cho 1 nhịp thở của mình (tính bằng giây).

2. Thin

Chương trình Cấp III khi thiền có thể chọn tư thế ngồi hoặc đứng.

Khi bước vào Thiền, sử dụng Luân xa 6 như con mắt thứ ba, từ trên cao điều khiển thu năng lượng vào các Luân xa:

LX7 (1’) → LX5 (1’) → LX4 (1’) → LX3 (1’) → LX2 (1-2’)

Thu năng lượng theo chiều dương giáng là chủ yếu (gần trời xa đất)

Luân xa 6 như con mắt thứ ba từ trên cao nhìn thấy rõ những dòng xoáy năng lượng kèm theo ánh sáng rực rỡ đang được thu vào từng Luân xa mạch Đốc. Ta cảm thấy các Luân xa nóng ran và độ quay của nó khi quán tưởng thu năng lượng. Mỗi Luân xa thời gian thu từ 1 – 1.5 phút.

Tiếp theo, phát lệnh (kèm theo hít mạnh bằng mũi) thu năng lượng toàn thân, quán tưởng một dải ánh sáng từ cằm qua Luân xa 7 chạy dọc cột sống xuống đến chân. Hai chân như được đi bằng đôi ủng to ánh sáng, hai tay được đi bằng đôi găng tay to phồng ánh sáng. Toàn thân như được úp trong một chiếc lồng năng lượng bằng ánh sáng. Chiếc lồng năng lượng này mỗi lúc một lớn lên, rộng ra, căng phồng ánh sáng chói loà.

Từ cấp ba trở đi, động tác tập luyện mỗi ngày một gian khổ và khó hơn, đòi hỏi những ai bước tới nên chuẩn bị cho mình một tư tưởng sẵn sàng, một niềm tin vững vàng và với sự kiên trì, tập luyện nghiêm túc thì mới có hy vọng thành quả.

Luân xa 6 (huyệt Thiên Mục ở giữa trán) ở cấp học này sẽ được sử dụng một cách tích cực trong khi Thiền cũng như để điều chỉnh bệnh từ xa. Nó khác với môn Khí công, người ta sử dụng huyệt Khí Hải (dưới rốn) để phát công là chủ yếu. Đây là sự khác nhau cơ bản của bộ môn Trường Sinh học Dưỡng sinh với môn Khí công các loại.

Trong quá trình Thiền, mắt có thể mở nhưng không nhìn vào đâu cả (vô vọng), cũng có thể vừa ngồi Thiền vừa nghe giảng bài, nhận năng lượng tẩy từ Luân xa 6 của Thầy.

3. X thin

Mục đích xả là đẩy trược chảy ra chân, giúp cho kinh mạch thông thoáng, khí huyết lưu thông, bệnh tật lui giảm. Gồm các động tác:

-        Hai tay ôm gáy, bịt tai. Nghĩ ra chân.

-        Vuốt mặt, tai, cổ. Nghĩ ra chân.

-        Vuốt tóc, chải tóc, vuốt đầu, tay. Nghĩ ra chân.

-        Vuốt 2 vùng thận (sau lưng) qua hông. Nghĩ ra chân.

Nếu thiền đứng, bóp cho hết tê và ngồi xuống. Uống một cốc nước đầy.

4. Xả trược

Xả trược là một kỹ thuật đã được học từ chương trình Cấp II Mạch Nhâm. Trong chương trình Cấp III chỉ giới thiệu thêm một số cách đơn giản để xả trược:

-        Tư thế tay và chân gác lên nhau (như lớp Cấp II Mạch Nhâm) nhìn bằng Luân xa 6 các Luân xa, ý nghĩ dòng chảy ra chân. Thời gian xả như thiền, càng lâu càng tốt, bất kể lúc nào có điều kiện. Cũng có thể nằm, tay nọ ôm khuỷu tay kia, bàn chân vắt vào nhau để xả.

-        Tắm cũng là biện pháp xả trược tốt, nhất là dưới vòi hoa sen, nước có thể ấm hoặc mát, dòng chảy từ gáy xuống lưng, đến chân.

-        Thiền đứng xả trược rất nhanh và mạnh. Trường hợp bị TKG xâm nhập, đứng từ 1 đến 2 tiếng là hết.

-        Ngoài ra, có thể dùng sữa tươi (Vinamilk) cũng rất tốt, ngày dùng 1 hộp, liên tục 3 ngày. Sữa tươi có tác dụng đẩy xả các độc tố trong ruột ra ngoài. Khi đó có thể bị đi lỏng, mùi phân rất khó chịu, nhưng sau đó sẽ cảm thấy thoải mái, nhẹ nhõm, thông kinh mạch.

Thiền Cấp II

đăng 05:38 30-09-2011 bởi Điều Nguyễn Xuân   [ đã cập nhật 05:50 30-09-2011 ]

Nguyễn Xuân Điều

Trước khi Thiền cần tiến hành phá bế tay chân, bấm các huyệt kích thích lưu thông khí huyết.

1. Khởi động thiền

Ngửa tay, mở mắt, hít thở mạnh theo nhịp 1 – 4 – 2 (thở 3 thì). Có thể hiểu như sau:

-        Thì 1: Hít mạnh bằng mũi, nhẩm đếm 1,2,3,4,5     (1 đơn vị)

-        Thì 2: Nín thở, nhẩm đếm 1,2,3 ….20         (4 đơn vị)

-        Thì 3: Thở ra bằng miệng, nhẩm đếm 1,2,3…10    (2 đơn vị)

Hít thở theo nhịp 1 – 4 – 2 từ 3 – 5 lần, mục đích thanh phế, phát động Luân xa, tăng tốc độ hoạt động của Luân xa.

2. Thiền

a.     Thiền thu năng lượng:

-        Nhắm mắt, đặt lưỡi lên chân răng cửa hàm trên, hít mũi, thở mũi.

-        Thu năng lượng theo chiều: L9 → L8 → L6 → L7 → L8 + L5 (thu đồng thời 2 Luân xa 8 và 5) → L9 + L4 ( thu đồng thời 2 Luân xa 9 và 4) → L3 → L2. Quán tưởng dòng năng lượng hình nón kèm ánh sáng đi vào Luân xa.

-        Tiếp theo quán tưởng toàn thân là một khối sáng. Tiến hành tự điều chỉnh.

b.     Tạo kênh dẫn Nhâm – Đốc:

-        Tạo kênh dẫn năng lượng Nhâm – Đốc: Tay để theo hệ kín (tay phải để trên tay trái, ngón cái chạm nhau) tại vị trí Luân xa 11.

-        Dẫn năng lượng theo nhịp 1 – 4 – 2 như sau:

Bước 1:

§  Hít vào, thu năng lượng tại Luân xa 6 (1 đơn vị)

§  Nín thở giữ năng lượng tại Luân xa 6 (4 đơn vị)

§  Thở ra và dẫn năng lượng chạy nhanh qua L7, L5, L4, L3, L2, L11, L10, L9, L8, L6  (2 đơn vị)

Bước 2:

§  Hít vào, thu năng lượng từ L6 chạy lên L7  (1 đơn vị)

§  Nín thở giữ năng lượng tại Luân xa 7 (4 đơn vị)

§  Thở ra và dẫn năng lượng chạy nhanh qua L7, L5, L4, L3, L2, L11, L10, L9, L8, L6  (2 đơn vị)

Bước 3:    Tiếp tục thực hiện như vậy cho đủ một vòng với các Luân xa 5, 4, 3, 2, 11, 10, 9, 8.

c.     Tập bắn xung năng lượng ở tay (động tác này có thể làm lúc xả thiền):

Sau khi dẫn năng lượng theo kênh Nhâm – Đốc ít nhất 1 vòng, tiến hành bắn xung ở tay (có thể chập tay hít thở 3 lần như xả thiền)

-        Động tác 1: Hai tay song song để gần nhau, giữ và nghe tay mình khoảng 1 phút. Sau đó đưa hai tay ra vào.

-        Động tác 2: Tiếp theo xoay hai tay ngược chiều nhau nhiều lần

-        Động tác 3: Một tay xoè, một tay chụm các ngón lại, nướng vào tay xoè kéo ra đẩy vào vài lần, vẩy và búng vào lòng bàn tay kia 5 – 7 lần. Sau đó dùng một ngón tay vẽ vòng tròn vào bàn tay kia. Tiếp theo đổi tay làm lại động tác 3.

 Photobucket

                                           Tập bắn xung năng lượng ở tay

3. X thin

-        Chập hai bàn tay, hít mũi thở miệng 3 lần

-        Tiếp theo vuốt mặt, gáy, tai.

-        Tay nọ vuốt tay kia: vuốt ra theo mặt ngoài, vuốt vào theo mặt trong tay. Hai tay vuốt chân: vuốt ra theo mặt ngoài, vuốt vào theo mặt trong chân.

-        Phá bế, xoa bóp chân cho hết tê. Uống một cốc nước đầy.

Sơ đồ quy trình tập:

 Photobucket

Ghi chú:

-        Nên thực hiện đầy đủ quy trình tập trong mỗi lần tập luyện

-        Nếu thiếu thời gian, có thể bỏ qua bước 2.c (tạo kênh dẫn, bắn xung). Lúc đó quy trình tập gồm các bước 1→2.a→2.b→3

Thiền Cấp I

đăng 19:50 29-09-2011 bởi Điều Nguyễn Xuân   [ đã cập nhật 08:18 18-01-2014 ]

Nguyễn Xuân Điều

I. THIỀN TỊNH

 Chú ý: Trước khi vào tập, nên uống một cốc nước đầy ( từ 200 – 400ml). Rất hiệu quả.

1. Phá bế

Trước khi tập và sau lúc tập xong, học viên có thể thực hiện động tác phá bế các huyệt sau để khai thông kinh mạch:

-    Các huyệt ở tay: Hợp Cốc, Trung Chữ, Hậu Khê, Dưỡng Lão, Khúc Trì (Phụ nữ có thai không bấm Hợp Cốc)

Photobucket

Vị trí các huyệt phá bế và điều chỉnh ở tay

-    Các huyệt ở chân: Hãm Cốc, Túc Lâm Khấp, Thúc Cốt, Côn Lôn, Tam Âm Giao, Túc Tam Lý.

Photobucket

Vị trí các huyệt phá bế và điều chỉnh ở chân

2. Khđng Thin

Ổn định tư thế Thiền, lưng thẳng, cổ thẳng, thả lỏng toàn bộ các cơ bắp. Hai bàn tay để ngửa trên hai đầu gối, mở mắt, hít nhẹ bằng mũi cho đầy lồng ngực và phình bụng ra, sau đó thổi ra từ từ bằng miệng (như thổi lửa) và thót bụng lại. Lặp lại it nhất 3 lần trở lên. Đây là động tác để thư giãn, làm sạch phổi. Mùa hè nên bắt đầu và kết thúc bằng nhịp thở ra để giảm nhiệt. Mùa đông nên bắt đầu và kết thúc bằng nhịp hít vào để tăng thân nhiệt.

3. Thin (Dhyanna)

-     Nhắm mắt để tập trung tư tưởng, đặt lưỡi lên vòm miệng trên tại chân răng cửa để nối mạch Nhâm - Đốc. Miệng ngậm tự nhiên, nét mặt vui vẻ, hơi mỉm cười…Hít thở sâu, chậm, nhẹ nhàng bằng mũi. Quá trình Thiền sẽ làm cho vùng vỏ não được nghỉ ngơi và các Luân xa thu được năng lượng.

-     Thu năng lượng theo chiều từ LX6 – LX7 – LX5 – LX4 - LX3 - LX2. Tại mỗi LX thời gian thu từ 1 đến 1,5 phút. Quán tưởng phễu năng lượng hình chóp có đỉnh nhọn đang đi vào LX của mình, đáy hình chóp ở ngoài.

-     Bước tiếp theo tự điều chỉnh bệnh cho mình, thời gian 7 – 10 phút.

-     Quán tưởng toàn thân là một khối sáng, có thể cảm nhận thấy các hiện tượng: ánh sáng dọi vào Luân xa 6, hình ảnh, âm thanh, hương vị…Còn có hiện tượng giống như có những con bọ mản bò quanh mặt, quanh miệng, gây ngứa ngáy khó chịu. Các ngón tay có thể cảm thấy tê buốt, đầu có thể xoay lắc, hai tay xoay lắc hoặc nâng lên … Đó là những hiện tượng bình thường, có thể xảy ra. Hãy gạt bỏ mọi suy nghĩ, ưu tư phiền muộn một cách tự nhiên và có thể nhẩm “Muôn pháp là một, một đi về đâu” để đơn giản hóa mọi ý nghĩ trong đầu. Để có hiệu quả khi tập chúng ta có thể bật nhạc Thiền theo chương trình đã soạn cho từng cấp học. Thời gian tập không hạn chế, ngày có thể tập nhiều lần, mỗi lần càng lâu càng tốt, sẽ có tác dụng nhiều cho việc điều chỉnh bệnh và phòng bệnh.

4. X Thin

-    Mở mắt, chập hai bàn tay lại, hít mũi thở miệng như động tác khởi động Thiền: hít vào phình bụng, thở ra thót bụng. Khi thổi ra quan tưởng một dòng năng lượng thoát nhanh ra mười đầu ngón chân. Hit thở khoảng 3 – 4 lấn.

-    Sau đó lấy tay vuốt mặt từ phia trước ra phía sau sau gáy, xoa vuốt hai mắt, vuốt tóc chải tóc, xoa vuốt hai vành tai, vuốt từ gáy xuông cổ.

-    Tay nọ vuốt tay kia ở mặt ngoài cánh tay ra đến hết đầu các ngón tay 3- 5 lần. Vuốt từ hai thăn lưng xuống hông qua mặt ngoài hai chân ra đến hết đầu ngón chân 3-5 lần. Xoa bóp chân cho hết tê rồi mới nên đi lại.

-    Có thể uống thêm một cốc nước đầy.

Sơ đồ quy trình tập:

Photobucket

II. KHẮC PHỤC MỘT SỐ PHẢN ỨNG PHỤ

Thông thường sau khi Thiền, cơ thể trở nên dễ chịu, sảng khoái, thân nhiệt hơi tăng. Nhưng cũng có trường hợp do cơ thể có nhiều bệnh dễ gây ách tăc kinh mạch, học viên chưa quen hóa giải, hoặc động tác xả Thiền làm chưa tôt nên có hiện tượng đau đầu, tức ngực.

-     Nếu bị đau đầu sau khi Thiền, có thể dùng một trong các cách sau:

1.    Tập lại, thu năng lượng ở LX3, LX2 dẫn ra chân, sau đó xả Thiền cẩn thận

2.    Chụm tay đặt hai bên thái dương

3.    Nhờ hướng dẫn viên giải giúp.

-     Nếu bị tức ngực, có thể sử dụng một trong các cách sau:

1.    Tập lại, thu năng lương vào LX7, LX6 dẫn ra tay, hoăc LX3, LX2 dẫn ra chân, xả Thiền cẩn thận

2.    Một tay vuốt nhẹ sau lưng

3.    Nhờ hướng dẫn viên giải giúp.


Thiền (Dhyanna)

đăng 19:45 29-09-2011 bởi Điều Nguyễn Xuân

  Nguyễn Xuân Điều

 Muốn đánh thức khả năng tiềm ẩn trong cơ thể, con người phải có phương pháp tập luyện để biến đổi cơ thể vật chất và cơ thể năng lượng (Hào quang) tương thích với nhau ở mức cao. Việc mở Luân xa và Thiền đạt trạng thái vô thức là hai điều kiện cần và đủ để thu năng lượng vũ trụ tạo ra năng lượng sinh học mạnh. Chính vì vậy, sau khi được mở Luân xa, muốn thu được năng lượng vũ trụ một cách thường xuyên, học viên phải luyện tập bằng phương pháp Thiền (Dhyanna).

Thiền (Dhyanna) là một kỹ thuật tu luyện nhằm đưa cơ thể sống của con người hòa nhập với trạng thái tự nhiên huyền diệu của trật tự vũ trụ. Thiền là một hiện tượng năng lượng, là sự quan sát bên trong để con người khai thông trí tuệ và khám phá những khả năng tiềm ẩn của chính mình.

I. TƯ THẾ THIỀN

  Có rất nhiều tư thế Thiền. Ở chương trình này, chúng ta chỉ thực hành 7 tư thế sau, trong đó tư thế ngồi Hoa Sen là tốt nhất:

1.     Ngồi hoa sen 2.    Ngồi một nửa hoa sen

3.    Ngồi xếp bằng 4.    Ngồi trên ghế

5.    Đứng 6.    Quỳ

7.    Nằm

Photobucket

Ngồi hoa sen

II. CÁCH CHỌN HƯỚNG THIỀN

Con người là một tiểu vũ trụ, chịu sự tác động của môi trường năng lượng bên ngoài. Việc định hướng thiền nhằm giúp cơ thể thu năng lượng tốt hơn căn cứ theo Ngũ hành Sinh Khắc: Ngũ Hành Bát Quái, Can Chi Ngũ Hành và Thiên Bàn.

Bước 1: Xác định hàng Can:

Số đơn vị của năm sinh ứng với hàng Can như sau:

Giáp:           4; Ất:               5; Bính:           6

Đinh:           7 ; Mậu:            8 ; Kỷ:              9

Canh:          0; Tân:             1; Nhâm:         2; Quý:            3

Bước 2: Xác định hàng Chi:

-      Lấy tổng 2 số đầu của năm sinh chia 3, được số dư chính là điểm khởi đầu đã đánh số trên Thiên Bàn.

-      Lấy 2 số cuối của năm sinh chia 12, được số dư chính là số phải đếm từ điểm khởi đầu đã tính ở trên, theo chiều kim đồng hồ trên Thiên Bàn để xác định hàng Chi.


THIÊN BÀN

 Photobucket

Bước 3: Xác định Mệnh:

Tra cứu Can – Chi đã tính được ở Bước 1 và Bước 2 trên bảng Can Chi Ngũ Hành để xác định Mệnh:

NGŨ HÀNH CAN CHI

Photobucket 

Bước 4: Xác định hướng Thiền:

Từ Ngũ Hành Tương Sinh, xác định hướng tương sinh cho người Mệnh đã tìm được ở Bước 3:

Photobucket

 Ngũ Hành Sinh Khắc

  Photobucket

Bát quái

Ví dụ: Tính hướng ngồi Thiền cho một người sinh năm 1967

-        Can: Người sinh năm 1967 có hàng đơn vị là 7, ứng với chữ Đinh

-        Chi:

o   Lấy cụm 19: (1+9):3 dư 1 → Điểm khởi đầu từ cung Tí trên Thiên Bàn

o   Lấy cụm 67: 67:12 dư 7 → Có số phải đếm là 7

o   Từ Thiên Bàn, bắt đầu đếm từ cung Tí theo chiều kim đồng hồ: 1 → 7, dừng ở Mùi. Như vậy người sinh năm 1967 có Chi là Mùi.

-        Mệnh: Trên bảng Can Chi Ngũ Hành, xác định được người tuổi Đinh Mùi là mệnh Thuỷ.

-        Hướng thiền:

o   Từ Ngũ Hành Tương Sinh ta thấy người mệnh Thuỷ cần ngồi quay về hướng Kim (Kim sinh Thuỷ)

o   Đưa vào Bát Quái, hướng Kim là hướng Tây hoặc Tây Bắc

→ Như vậy, người sinh năm 1967 khi Thiền ngồi quay về hướng Tây hoặc Tây Bắc là tốt nhất.


Vị trí, chức năng các trung tâm năng lượng trong cơ thể con người

đăng 07:06 25-09-2011 bởi Điều Nguyễn Xuân   [ đã cập nhật 00:09 29-09-2011 ]

  Nguyễn Xuân Điều

I. LUÂN XA

 Hệ thống Luân xa là những trung tâm đặc biệt trên cơ thể con người. Khi được mởcơ thể thu nhận được nguồn năng lượng vô tận từ vũ trụ. Trong kinh Vedas (cách đây khoảng 6000 năm) đề cập đến 7 Luân xa. Khí công Trung Hoa nói đến các đại huyệt. Ai Cập cổ đại có hình Luân xa trên tường của Kim Tự Tháp.

  Photobucket

Bảy luân xa theo kinh Vedas (Ấn Độ)

Trong hình minh hoạ trên, mỗi Luân xa được tượng trưng bằng một đoá hoa sen, có số cánh khác nhau:

L1 – Bốn cánh; L2 – Sáu cánh; L3 – Mười cánh; L4 – Mười hai cánh

L5 – Mười sáu cánh; L6 – Hai cánh; L7 – Một nghìn cánh.

Photobucket

-        Luân xa 7: Điều khiển toàn bộ cơ thể. Chủ trị: các bệnh thần kinh, phối hợp với các Luân xa khác chữa trị hầu hết các bệnh.

-        Luân xa 6: Liên quan đến vỏ não, tuyến Yên, tuyến Tùng. Chủ trị: thần kinh, mất trí, huyết áp và hoạt động tứ chi.

-        Luân xa 5: Chữa trị hô hấp, mũi, họng, phổi, suyễn, bệnh về da, dị ứng (allergy)

-        Luân xa 4: Chữa trị về tim và Cholesteron

-        Luân xa 3: Điều hoà năng lượng cơ thể. Chữa trị tiêu hoá, gan, dạ dày, ruột, lá lách, thận.

-        Luân xa 2: Chữa trị hệ thống sinh dục, bài tiết

-        Luân xa 1: Tiềm lực nguồn vũ trụ

 Nhìn chung, các nền văn minh cổ đại đều nhìn nhận hệ thống Luân xa là các điểm đặc biệt, có thể được mở bằng nhiều con đường, trong đó có luyện tập. Với mục đích sử dụng khác nhau thì số lượng Luân xa là khác nhau.

 Theo quan điểm hiện nay, khuôn mẫu năng lượng sinh học bao quanh cơ thể sống con người (còn gọi là Hào Quang) không ngừng vận động và tạo ra các điểm hút. Quan sát thực tiễn, các nhà khoa học còn nhận thấy khuôn mẫu năng lượng sinh học tồn tại dưới dạng sóng vật chất. Giao thoa của 21 sóng năng lượng tạo ra đại huyệt là các Luân xa chính. Giao thoa của 14 sóng năng lượng tạo ra trung huyệt là các Luân xa phụ. Giao thoa của 7 sóng năng lượng tạo ra các huyệt châm cứu. Vị trí các Luân xa chính (Đại huyệt) là các đám rối thần kinh, các vùng phản chiếu nội tạng.

Như vậy, Luân xa là cửa ngõ để giao tiếp, trao đổi năng lượng giữa cơ thể với môi trường.

II.  VỊ TRÍ 6 LUÂN XA MẠCH ĐỐC

1. Gii thiu Mch Nhâm và Mch Đc

Trên cơ thể con người có hàng nghìn huyệt, phân bố trên các đường kinh, mạch, lạc…trong đó quan trọng nhất làc Mạch Nhâm và Mạch Đốc. Hai mạch này chứa các đại huyệt, là kênh năng lượng chính liên quan tới các cơ phận cơ bản của cơ thể.

 Mạch Đốc (Đốc: chỉ huy) là nơi hợp lưu của các đường kinh Dương, chủ trì tất cả những kinh Dương, bắt đầu từ huyệt Trường Cường (mỏm xương cụt), chạy dọc cột sống, lên đỉnh đầu, qua giữa trán, tới mũi, xuống tới môi trên, kết thúc tại huyệt Ngân Giao (dưới Nhân Trung) tại chân răng cửa hàm trên. Mạch Đốc thu năng lượng Dương (Sinh khí hay khí Tiên thiên- Năng lượng vũ trụ). Chiều vận hành đi xuống.

 Mạch Nhâm (Nhâm: đảm nhiệm, trách nhiệm). Là nơi hợp lưu toàn bộ các kinh Âm. Mạch Nhâm đảm nhiêm đối với tất cả các đường kinh Âm, bắt đầu từ huyệt Hội Âm (giữa bộ phận sinh dục ngoài và hậu môn) chạy dọc đường giữa bụng, qua rốn, qua ngực, lên cổ họng và hàm dưới, lượn vòng quanh môi, kết thúc tại huyệt Thừa Tương ở giữa cằm. Mạch Nhâm trao đổi năng lượng Âm (Địa khí, năng lượng của trái đất). Chiều vận hành đi từ dưới lên.

 Mạch Nhâm và Mạch Đốc được nối với nhau khi nâng lưỡi lên vòm miệng trên tại chân răng cửa.

 Trong chương trình cấp I, chỉ tiến hành mở các Luân xa mạch Đốc với mục đích tăng cường sinh khí cho cơ thể (Năng lượng Dương), bởi theo y học Phương Đông cơ thể con người thường là thừa Âm, thiếu Dương (Chính vì vậy con người thường hay bị mắc bệnh).

2. V trí, chc năng 6 trung tâm năng lượng (Luân xa) mch Đc

Như đã trình bày, các trung tâm năng lượng trên hai mạch Nhâm-Đốc đóng vai trò quan trọng trong cơ thể con người. Cơ thể con người được cấu tạo một cách hoàn thiện, hoạt động theo một chu kỳ sinh học chặt chẽ và tuân theo các quy luật đặc biệt của tự nhiên. Các nhà khoa học đã khẳng định: “Bộ não của con người được cấu tạo tinh vi nhất trong vũ trụ” và đó cũng là thành quả vĩ đại nhất của Tạo Hóa.

 Mạch Đốc là nơi thu nhận các sinh khí (Năng lượng Dương) từ trong không gian, từ trong vũ trụ tưới vào cơ thể. Có 6 trung tâm liên quan tới các cơ phận cơ bản trong cơ thể (Còn gọi là Luân Xa) sẽ được mở trong cấp học này.

Luân Xa 6: Nằm ở giữa trán, tại huyệt Thiên Mục ( Không thuộc Mạch Đốc nên gọi là huyệt kỳ), liên quan tới hoạt động của vỏ não, tuyến Tùng, tuyến Yên và hoạt động của chân tay. Đây là trung tâm trí tuệ của con người, là con mắt thứ ba hay giác quan thứ sáu, thể hiện khả năng về thần giao cách cảm, linh cảm…và cũng là nơi để phân biệt con người với các loài động vật khác. Đưa năng lượng vào Luân xa 6 có thể điều chỉnh các bệnh tâm thần, thần kinh, mất trí nhớ …

Luân Xa 7: Nằm trên đỉnh đầu tại huyệt Bách Hội, phụ trách thần kinh trung ương, kiểm soát hoạt động của bán cầu đại não, cuống não, tiểu não và tủy sống. Đây là trung tâm điều khiển toàn bộ hoạt động của cơ thể, chủ trị các bệnh cấp cứu, thần kinh, phối hợp với các LX khác chữa trị hầu hết các bệnh của cơ thể… Khai thông LX 7 tăng sinh lực cho con người.

Luân xa 5: Nằm trên cột sống ngang vai, tại huyệt Đại Chùy, dưới đốt sống cổ 7. Luân xa 5 chủ trị về hô hấp, có tác dụng chữa trị các bệnh liên quan tới mũi, họng, cuống phổi, phổi, hen suyễn, các bệnh về da và có tác dụng để cắt cơn sốt.

Luân xa 4Nằm trên cột sống ngang tim, tại huyệt Thần Đạo. Phụ trách hệ thống tuần hoàn, chủ trị các bệnh về tim, mạch máu, huyết áp… Đây là trung tâm thể hiện lòng nhân từ, yêu thương của con người với đồng loại và cũng là nơi để phân biệt con người với các loài động vật khác. Vì vậy Luân xa 4 còn gọi là Luân xa Trái Tim, Luân xa Buddha hay Luân xa Thánh Linh.

Luân xa 3Nằm trên cột sống ngang thắt lưng tại huyệt Mệnh Môn, chủ trị về tiêu hóa, liên quan tới hoạt động của gan, mật, dạ dày, lá lách, ruột non, ruột già, thận…. Đây là trung tâm điều hòa năng lượng trong cơ thể (Trung tâm Thái Dương).

Luân xa 2: Nằm tại huyệt Trường Cường, cuối đốt xương cụt. Chủ trị về sinh lý, sinh dục và bài tiết.

3. Những điều cần chú ý với Luân xa cao cấp

Các Luân xa cao cấp mạch Đốc khi được mở 100% giống như một ngôi nhà, các cửa chính, cửa phụ đều đã được tháo bỏ hết các cánh che chắn. Gió, bụi, ánh sáng, … tự do lùa vào trong các căn phòng. Ngôi nhà đã hoàn toàn đổi khác! Từ nay trở đi không ai đặt tay mở Luân xa cho mình nữa.

Khi được mở Luân xa cao cấp, học viên có khả năng phát và thu thông tin ở ngoài tầm cảm nhận bình thường bằng Luân xa 6. Để đạt được điều đó đòi hỏi chúng ta phải tập luyện đều đặn để có năng lượng sinh học đủ mạnh và tạo được sóng năng lượng.

Có Luân xa cao cấp, không thiền Luân xa cũng không bị đóng lại. Tuy nhiên cần Thiền để đẩy xả các ô trược từ ngoài lọt vào cơ thể, tránh đau đớn. Hiện tượng đó xảy ra là do đường vào to trong khi lối ra nhỏ. Do đó cần tích cực xả trược.

Người mở Luân xa cao cấp khi có bệnh phải cẩn trọng khi dùng thuốc vì càng nhiều trược. Liều dùng thường là tăng lên so với khi chưa mở Luân xa cao cấp mà tác dụng không nhiều bởi như đã biết “thuốc không chữa bệnh, thuốc giúp cá thể tự chữa bệnh”. Đây là một kinh nghiệm được rút ra qua nhiều thời gian huấn luyện. Phải kiên trì, tích cực tập luyện Thiền thì bệnh dứt khoát khỏi (trừ gãy xương, thủng dạ dày, huyết áp hoặc tim mạch cấp tính, …).

Luân xa cao cấp giúp ta vươn tới giá trị tâm linh nhiều hơn thể xác, đánh thức khả năng tiềm ẩn trong mỗi con người, chuẩn bị cho những bước tiếp theo đầy thử thách. Nhưng nếu ai vượt qua sẽ trở nên thông thái, khoẻ mạnh, giàu lòng bác ái, giàu lòng yêu thương đồng loại, giúp đời được nhiều hơn.

4. Luân xa 1

Luân xa 1 là nơi giao nhau của hai mạch Nhâm – Đốc, vị trí tại huyệt Hội âm, giữa bộ phận sinh dục ngoài và hậu môn. Luân xa 1 còn gọi là Hoả xà (Kundalini), Con rắn lửa hay Tiềm lực nguồn vũ trụ.

Việc Luân xa 1 hoạt động không có sự điều tiết, khống chế dễ gây ra hậu quả xấu. Đó là hiện tượng tẩu hoả nhập ma của một số người do bị căng thẳng quá độ, tập Khí công, Zen Nhật không đúng bài bản, tự tụng kinh gõ mõ hoặc chủ động khai mở sớm Luân xa 1 dẫn tới bán cầu não bị tổn thương. Hình ảnh bị lưu lại trên vùng nhìn thấy làm người bệnh hoang tưởng, nói nhiều, tâm thần, …

Dấu hiệu Luân xa 1 hoạt động là: luồng lạch như con trạch chấu bò ngoằn ngoèo lên cột sống hoặc hơi nóng phà ra, có dấu hiệu như kim châm từ trong ra ở vùng Hội Âm.

Để tránh tình trạng siêu nhân thành phế nhân cần phải khống chế Luân xa 1. Tức là, khi thấy Luân xa 1 nóng, có dấu hiệu hoạt động hoặc khi trám Luân xa 1 giúp người khác cần tiến hành như sau:

1.     Phát lệnh đưa năng lượng màu tím vào Luân xa 7

2.     Hoá năng lượng tím thành vàng óng, phủ toàn bộ TIM

3.     Đưa nguồn năng lượng từ TIM đến Luân xa 2 và ra 10 đầu ngón chân

Thao tác này tự làm cho mình hoặc cho người bệnh. Thời gian có thể kéo dài từ 2 – 3 tháng, thậm chí với người tẩu hoả nhập ma có thể lâu hơn.

III. NHỮNG CON ĐƯỜNG DẪN ĐẾN MỞ LUÂN XA

 Có 4 con đường dẫn đến mở Luân xa:

1.    Bẩm sinh tự mở

2.    Bị tai nạn hoặc bị bệnh nặng lâu ngày, khi khỏi Luân xa tự mở

3.    Tập luyện công phu bí truyền lâu năm như : Yoga, Khí công, Nội công, Zen (Nhật Bản)…

4.    Mở chủ động bằng phương pháp của Tiến sĩ Đaisira Narađa

IV. NĂM ĐIỀU DẪN ĐẾN MẤT LUÂN XA

1.    Không duy trì Thiền mỗi ngày từ 30 phút trở lên.

2.    Sau khi uống bia rượu chưa được 4 giờ đồng hồ đã tập

3.    Khi có năng lượng mạnh, tỏ ra kiêu ngạo, tự xưng mình là đấng nọ đấng kia: “Ta là Phật, là Bồ Tát, là Thánh …”

4.    Để cho người có trình độ Luân xa thấp hơn đặt tay phát xung vào Luân xa của mình.

5.    Có lòng tham về vật chất hay kinh tế khi điều chỉnh cho người bệnh.

 


1-5 of 5

Comments