Phan Thanh Giản với việc mất ba tỉnh miền Tây

Trong những ngày khá đen tối của lịch sử cận đại nước ta, thời kỳ mà vua quan nhà Nguyễn bất lực, nhìn từng mảnh đất Việt Nam rơi vào tay ngoại bang, có hai nhân vật thường được đặt song song với nhau, đó là Phan Thanh Giản và Hoàng Diệu. Hoàng Diệu là hình ảnh của một kẻ bất khuất: sau khi kháng cự cho đến viên đạn cuối cùng, phải mượn cái chết để khỏi đội trời chung với kẻ thù của đất nước. Còn Phan Thanh Giản thì được coi như một người hòa hoãn, nghĩ rằng kháng cự chỉ tốn xương máu vô ích cho nhân dân, đã đem thành trì nộp cho giặc, rồi kết liễu cuộc đời để thoát nợ non sông.

Nếu Hoàng Diệu đã luôn luôn được đề cao, thì Phan Thanh Giản đã có lần bị kết án, bị hiểu lầm, bị bỏ quên. Sau khi ba tỉnh miền Tây thất thủ, Phan Thanh Giản, tuy đã chết rồi vẫn bị bóc lột chức tước, đục tên khỏi bia tiến sĩ ở Văn Thánh. Mãi về sau Đồng Khánh[1] mới phục hồi cho ông phẩm chức, và chúng ta mới có cái hình ảnh của một vị quan hiền hậu, thức thời và bình thản trước cái chết. Nhưng gần đây, các nhà sử học miền Bắc[2], nhân phong trào đánh giá lại một số nhân vật lịch sử, đã nêu lên trường hợp Phan Thanh Giản. Trong ý thức tranh đấu của một nền văn nghệ chỉ huy, lẽ dĩ nhiên là chỉ có những người chống Pháp cho đến cùng như Trương Công Định, Nguyễn Trung Trực, Thủ khoa Huân mới là những người làm đầy đủ nhiệm vụ lịch sử đối với dân tộc. Còn những kẻ chủ hòa, những kẻ muốn thỏa hiệp với thực dân – dầu muốn thỏa hiệp vì chiến thuật – là những người hèn nhát. Phan Thanh Giản, dưới con mắt của các nhà sử học có nhận định hướng ấy, là một kẻ phong kiến, tuy có giác ngô hơn các kẻ phong kiến khác, nhưng bạc nhược, hèn nhát, coi trọng quyền lợi của giai cấp mình hơn quyền lợi của đất nước. Cái tội lớn nhất của Phan Thanh Giản vẫn là cái tội thỏa hiệp với giặc, nhưng bộ cho giặc, thua trận trước lúc giao trận.

Một trăm năm rồi, ba tỉnh miền Tây thất thủ và Phan Thanh Giản từ trần. Tất cả đã thuộc về dĩ vãng, kể cả chế độ thực dân của người Pháp. Chúng ta có thể có đủ bình tĩnh để nhìn sự việc một cách khách quan và đặt một vài nghi vấn gọi là để góp phần vào việc tìm hiểu một thời đại khá tiêu biểu cho lịch sử mất nước của dân ta.

I. SỰ KIỆN[3]

1. Chiếm đóng Vĩnh Long:

Ngày 20-6-1867 vào lúc 7:30 giờ sáng, hạm đội của Pháp gồm 16 chiến thuyền chở 1.800 thủy quân lục chiến, và trọng pháo thủ với 600 dân vệ và dân công cùng rất nhiều viên chức hành chánh mai phục trước cửa thành Vĩnh Long. Đô đốc La Grandière cho người mang tối hậu thư đến với Phan Thanh Giản. Tối hậu thư đề ngày 17-6-1867, viện lẽ các viên chức tỉnh Châu Đốc đã ủng hộ phong trào chống Pháp, nên họ quyết định chiếm ba tỉnh miền Tây và kêu gọi nhà cầm quyền Việt Nam đem thành nạp cho họ để tránh cuộc đổ máu.

Khi được tối hậu thư của La Grandière, giới hữu quyền ở Vĩnh Long hội lại để thảo luận. Vĩnh Long là trung tâm hành chánh của ba tỉnh miền Tây (nghĩa là Vĩnh Long, Châu Đốc, Hà Tiên). Ở đó có:

-                  Phan Thanh Giản là Kinh lược, với toàn quyền quân sự và dân sự trên ba tỉnh.

-                  Trương Văn Uyển, Tổng đốc Vĩnh Long với quyền chỉ huy quân sự của ba tỉnh.

-                  Nguyễn Văn Nhã, Bố chánh.

-                  Võ Doãn Thanh, Án sát.

-                  và Huỳnh Chiêu, Lãnh binh.

Chúng ta không biết nội dung của cuộc thảo luận. Chúng ta chỉ biết rằng, sau khi thảo luận xong, Phan Thanh Giản và Võ Doãn Thanh xuống thuyền chỉ huy của La Grandière để thương thuyết. Rồi sau đó, quân đội Pháp ào ạt vào thành với hai viên quan của triều đình Huế. Vào khoảng trưa thành Vĩnh Long nằm trong tay người Pháp. Ba giờ chiều, La Grandière vào thành để chính thức chiếm đóng.

2. Chiếm đóng Châu Đốc:

Để thi hành kế hoạch chiếm đóng 2 tỉnh còn lại, La Grandière đòi Phan Thanh Giản và Trương Văn Uyển phải viết thư cho các viên chức ở 2 tỉnh Châu Đốc và Hà Tiên, để truyền lệnh cho họ đem thành nộp cho Pháp. Nhưng trong thư chỉ báo tin thành Vĩnh Long bị Pháp chiếm và bảo các viên chức hai tỉnh phải tuân theo lệnh triều đình. Thư viết xong, niêm lại và La Grandière cũng không để ý tới nội dung của nó. Điều ông muốn có lẽ không phải là một huấn lệnh đầu hàng, mà một bức thư có ấn tín của quan Kinh lược.

Châu Đốc là một nơi mà quân đội Pháp chưa từng đạp chân tới và có tiếng là kiên cố.

Ngày sau khi chiếm đóng Vĩnh Long, vào lúc 5 giờ sáng ngày 21-6-1867, La Grandière cho một hạm đội đi chiếm Châu Đốc vào khoảng 20 giờ. Viên Lãnh binh Châu Đốc thấy tàu Pháp tới thì cho người tới liên lạc. Viên chỉ huy Pháp bảo có thư của quan Kinh lược Phan Thanh Giản gửi cho quan Tuần vũ và quan Tuần vũ phải tới để nhận. Tuần vũ Nguyễn Hữu Cơ cho hai quan Bố chánh Nguyễn Xuân Y và Án sát Phạm Hữu Chánh xuống tàu nhận thư, nhưng viên chỉ huy Pháp không cho, phải đòi cho được Nguyễn Hữu Cơ tới. Vào khoảng 23 giờ, Nguyễn Hữu Cơ phải đích thân xuống tàu Pháp, có quan Án sát đi theo. Tới nơi thì viên chỉ huy Pháp báo cho biết Vĩnh Long đã thất thủ và đòi phải nộp thành Châu Đốc cho Pháp. Nguyễn Hữu Cơ thất kinh, thương thuyết để xin một thời hạn, nhưng viên chỉ huy Pháp lẽ dĩ nhiên là không nghe. Quân đội Pháp cũng tiến vào thành như ở Vĩnh Long với hai viên chức cao cấp của tỉnh.

3. Chiếm đóng Hà Tiên:

Số phận của thành Hà Tiên cũng được thanh toán một cách mau lẹ hơn nữa. Vì trên con đường đi Châu Đốc, hạm đội của thuyền trưởng Galley đã bắt gặp thuyền của quan Tuần vũ Trần Hoán và bắt giữ luôn đem về Châu Đốc.

Ngày 23-6, vào lúc trưa một hạm đội nhỏ theo kinh đàm Vĩnh Tế từ Châu Đốc đi Hà Tiên. Sáng hôm sau vào lúc 9 giờ sáng, đoàn quân viễn chinh đến Hà Tiên có thuyền của Tuần vũ Trần Hoán dẫn đầu. Bố chánh Nguyễn Văn Học, Án sát Nguyễn Duy Quang, Lãnh binh Nguyễn Hương thấy thuyền của quan Tuần vũ thì ra đón. Họ thấy viên chỉ huy Pháp nắm tay Tuần vũ Trần Hoán dẫn lên bờ. Quân đội Pháp vào thành, các quan chức của Hà Tiên đi theo sau và cái thành trì cuối cùng của đất Nam Kỳ rơi vào tay giặc như bởi một phù phép nhiệm mầu.

II. LÝ DO THÀNH CÔNG

Chỉ trong 4 ngày, quân đội Pháp đã làm chủ được 3 tỉnh rộng lớn ở miền Tây mà không tốn một viên đạn. Bởi đâu mà người Pháp thành công dễ dàng như thế?

1.                Phan Thanh Giản đem thành nộp cho Pháp?

Theo đô đốc La Grandière thì sở dĩ các cuộc hành quân không đổ máu là nhờ sự hiểu biết của Phan Thanh Giản đã đem thành Vĩnh Long nộp cho Pháp và truyền lệnh cho các viên chức ở Châu Đốc và Hà Tiên không được chống cự.

Nói về việc chiếm đóng thành Vĩnh Long, La Grandière viết trong bản báo cáo đề ngày 27-6-1867 như sau:

“Hai nhân vật cao cấp của Vĩnh Long là Phan Thanh Giản, cưu Thượng thư của triều đình Huế và Tổng đốc 3 tỉnh miền Tây (ở đây La Grandière nhầm vì không phải Tổng đốc Trương Văn Uyển mà là Án sát Võ Doãn Thanh cùng đi với Phan Thanh Giản), xuống thuyền l’Ondine (tên thuyền chỉ huy) để khuất phục và trao tận tay quyền hành họ nhận ở vua Tự Đức và đồng thời tình nguyện giúp tôi thâu nhận quyền hành một cách dễ dàng để có sự hưởng ứng của dân chúng...”[4].

Như thế là Phan Thanh Giản đem thành nộp cho Pháp?

Thành Vĩnh Long là một thành khá kiên cố, địa thế rất dễ phòng thủ. Ai cũng biết rằng năm 1862 Đô đốc Bonard đã khó khăn lắm mới chiếm được. Lần này quân đội viễn chinh Pháp cũng tưởng sẽ phải chiến đấu gay go. Đại úy Wytz là người đã tham dự cuộc hành quân này viết rằng: “Vĩnh Long không phải là một thành xa lạ đối với chúng tôi. Năm xưa, thành này đã cầm cự một cách mạnh mẽ. Vì thế, lần này chúng tôi cũng chờ đợi một cuộc chiến đấu đáng kể”[5].

Hơn nữa, sự hiện diện trong thành của một người có tiếng là cứng rắn như Trương Văn Uyển không thể để cho đầu hàng vì một lời hăm dọa. Trương Văn Uyển trước kia làm Tổng đốc Gia Định. Khi thành Gia Định và 3 tỉnh miền Đông rơi vào tay Pháp, thì ông được cử sang giữ Tổng đốc Vĩnh Long và 3 tỉnh miền Tây để cầm cự với Pháp. Người Pháp bấy giờ vẫn coi Trương Văn Uyển như linh hồn của chủ chiến ở miền Nam.

Vậy thành Vĩnh Long là một thành có thể cầm cự được, trong thành có những người sẵn sàng cầm cự. Tại sao Phan Thanh Giản lại ngang nhiên đem thành nộp cho Pháp? Cũng có thể là Phan Thanh Giản biết rằng cầm cự vô ích, nhận lấy tất cả tránh nhiệm và dùng quyền hành của mình để đem thành nộp cho Pháp, rồi sau đó quyên sinh để khỏi bị triều đình kết án? Nếu như thế thì tại sao Trương Văn Uyển và các viên chức khác không viện lẽ là Phan Thanh Giãn đã quyết định độc đoán để minh oan trong vụ án ở Huế năm 1868? Vì một năm sau khi ba tỉnh miền Tây bị mất, các viên quan văn võ có trách nhiệm ở ba tỉnh đều bị đem ra tòa. Khi cung khai, chỉ có các viên quan ở Hà Tiên là đổ tội cho Phan Thanh Giản đã không nghe lời họ xin để tăng cường những biện pháp phòng thủ ở tỉnh này[6]. Ngoài ra không một ai bảo rằng: Phan Thanh Giản tự tiện đem thành nộp cho Pháp.

Đằng khác, đem thành nộp cho địch mà không tìm một cách kháng cự phải chăng là một tội đại phản quốc. Vậy mà trong vụ án nói trên, lý do buộc tội các bị can không hề nói tới tội đó, mà chỉ nói tới tội bất lực, không cẩn trắc đề phòng.

Vả chăng cái chết tự ý của Phan Thanh Giản xảy ra hôm 4-8-1867, một tháng rưỡi sau khi Vĩnh Long thất thủ, đã được coi như là sự thú nhận thất bại của một chính trị hơn là sự sợ hãi trước một hình phạt. Phan Thanh Giản chết không phải vì để khỏi bị triều đình lên án, cho bằng ông chết vì ông thấy mình tính đã nhầm. Quả thế, chúng ta biết rằng Phan Thanh Giản là hiện thân của phái chủ hòa ở triều đình Huế. Đối với phái này chỉ còn một cách chặn đứng sự xâm lấn của thực dân là điều đình với chúng, hòa hoãn với chúng. Phe chủ chiến, sau khi thấy không còn đủ phương tiện để chiến đấu, cũng buộc lòng nhận giải pháp điều đình và giao cho Phan Thanh Giản cái trọng trách theo đuổi chính trị hòa hoãn với Pháp. Phan Thanh Giản đã được cử cầm đầu phái đoàn thương thuyết hòa ước 5-6-1862. Sau đó, ông lại được cử giữ chức Kinh lược ở miền Tây để ve vãn Pháp. Năm 1863 ông được cử dẫn đầu phái bộ sang Pháp thương thuyết để chuộc lại 3 tỉnh miền Đông đã nhượng cho Pháp theo hòa ước 1862. Việc thương thuyết ở Paris cuối cùng không đi tới đâu, năm 1864 Phan Thanh Giản lại được sai vào Vĩnh Long để tiếp tục chính sách ve vãn. Việc mất 3 tỉnh miền Tây là một thất bại nặng nề của phe chủ hòa. Thực dân có lòng tham vô đáy: có 3 tỉnh miền Đông, chúng còn muốn nuốt luôn 3 tỉnh miền Tây. Hòa với chúng là để cho chúng có thời gian cũng cố vị trí xâm lăng. Vì thế khi mất 3 tỉnh miền Tây rồi, Phan Thanh Giản còn biết ăn nói thế nào trước những luận điệu của phe chủ chiến có dịp tấn công, Phan Thanh Giản tưởng chỉ còn một con đường là chết. Trong cái sớ tuyệt mạng gửi lên vua Tự Đức, viên đại thần này không hề có một mặc cảm tội lỗi, mà chỉ để lộ một thái độ nhẫn nhục chua cay trước sức mạnh của định mệnh:

“Nay gặp thời gian bỉ, việc dữ khởi ở trong cõi, khí xấu xuất hiện ở biên thùy; việc cõi Nam Kỳ một chốc đến thế này, không thể ngăn cản nổi, nghĩ tội đáng chết, không dám sống cẩu thả để cái nhục lại cho quân phụ. Đức hoàng thượng rộng xét xưa, biết rõ tri loạn: người thân kẻ hiền trong nước cùng khổ lo trước tính sau, đổi dây thay bánh, thế lực còn có thể làm được. Tôi tới lúc tất nghĩ, nghẹn ngào không biết nói sao, chỉ gạt nước mắt tỏ lòng quyến luyến, trông mong khôn xiết”[7]. Sau khi uống nuốt một liều á phiện khá nhiều, Phan Thanh Giản tắt thở ngày 4-8-1867, không hề có cảm tưởng mình đã phản vua, hại nước.

2.                Tài liệu tuyên truyền của Pháp:

Thực dân Pháp, để làm giảm bớt tinh thần chiến đấu của phe kháng chiến, đã cố gắng trình bày Phan Thanh Giản như một người đã qui thuận chúng, qui thuận vì thành tín và vô vị lợi. Họ có cả một luận điệu tuyên truyền như để nói với phe kháng chiến rằng: “Các anh xem, một vị quan minh mẫn và cao cấp như Phan Thanh Giản thấy rõ sức mạnh của khí giới và văn minh Pháp buộc lòng đã phải đem ba tỉnh đầu hàng, còn các anh, các anh là ai mà còn dám tiếp tục chiến đấu!”. Trong cái mục tiêu tuyên truyền ấy, chúng ta hiện còn có hai tài liệu của thời bấy giờ, một do Brandat và một do Octave Férè ghi lại.

Paul Brandat, chính tên thật là Paul Reveillère, có ghi lại một bài hịch của Phan Thanh Giản đọc trước dân chúng Vĩnh Long. Bài hịch ấy, chúng tôi chỉ thấy bản chữ Pháp, đại khái có thể phiên dịch như sau:

“..... Người Pháp có những chiến thuyền khổng lồ, chở đầy những binh sĩ và tranh bị bằng những súng thần công rất lớn. Không ai chống lại họ được. Họ muốn vào đâu là họ vào, những thành lũy kiên cố nhất sụp đổ trước sự tiến quân của họ.

Ta ngửng đầu lên trời và lắng tai nghe tiếng nói của lý trí. Và ta nói: ‘Muốn lấy vũ khí lật đổ quân thù cũng dại dột như thể con hoẵng non mà đòi tấn công con cọp. Người chỉ gây thảm họa vô ích cho dân mà trời đã trao phó cho’. Vì thế ta đã biên thư cho tất cả các quan và tất cả vị chỉ huy quân sự là phải bẻ gẫy giáo mác và trao lại thành lũy mà không giao chiến.

Nhưng nếu ta theo ý trời mà tránh những thảm họa lớn lao cho muôn dân, nộp thành trì của người mà không kháng cự là ta đã phản nghịch lại nhà vua... Tội ta đáng chết. Các quan và muôn dân, các người có thể sống dưới quyền chỉ huy của người Pháp, họ chỉ đáng sợ trong lúc giao tranh mà thôi, tuy nhiên cờ của họ không được bay trên thành trì mà Phan Thanh Giản còn sống bên trong .....”[8].

Paul Reveillère trước có ở Nam Kỳ vào khoảng 1862-1864, nhưng trong những biến cố 1867 ông không có mặt. Thế mà ông cho ta thấy Phan Thanh Giản đọc bài hịch trong một khung cảnh khá kịch thuật. Một viên quan già, ngồi trên một cái ghế, như trên một cái ngai, sau một bức màn, chờ quan và dân đến như trong một buổi tiếp tân. Khi mọi người đến trong căn phòng, màn mở, Phan Thanh Giản xuất hiện, đọc bài hịch, đoạn ngoảnh lại cầm lấy chén thuốc độc mà tên đầy tớ trao cho mắt tràn đầy lệ.

Cái cảnh huống này là một chuyện hoàn toàn tưởng tượng. Vì thành Vĩnh Long thất thủ ngày 20-6 thì ngày 7-7 tất cả các viên quan bị giải trả về cho triều đình Huế, chỉ còn một mình Phan Thanh Giản ở lại Vĩnh Long và ông về ở trong một căn nhà tranh nghèo nàn. Rồi ngày 1-8-1867 ông uống thuốc độc, chỉ có gia nhân chung quanh.

Tuy nhiên nếu cách dàn cảnh trên đây là do Paul Reveilère tưởng tượng thì cái bài hịch có thể là không do ông sáng tác. Rất có thể là thực dân thuê một văn nhân nào đó viết rồi gán cho Phan Thanh Giản. Lời kêu gọi chiêu hồi là theo đúng đường hướng của thực dân. Phan Thanh Giản là người chủ hòa, ông thường không đồng ý với các văn thân kháng chiến. Rất có thể là ông cũng khuyên con cháu đừng tham gia phong trào chống Pháp như người Pháp vẫn nói sau này.

Thiếu tá Ansart và linh mục Marck là những người ở bên cạnh Phan Thanh Giản khi ông từ trần có nói rằng: Ông bảo con cháu đừng bao giờ nhận chức tước gì của Pháp[9].

Tài liệu thứ hai là tài liệu do Octave Féré ghi lại. Đó là thư của Phan Thanh Giản gửi cho La Grandière trước lúc từ trần. Mục đích của lá thư này là để làm cho người ta tin rằng chính Phan Thanh Giản thấy kháng cự vô ích thì đã đem thành nộp cho Pháp. Thư ấy nói rằng:

“Khi nhường cho các ông miền đất đai nhà vua đã ủy thác cho tôi mà không chống lại, tôi đã nghe theo tình cảm là muốn tránh một tai họa vô ích. Tôi biết rõ nước Pháp và các tài nguyên của nước Pháp. Bởi vậy tôi biết là nếu các ông nhất định muốn lấy thì sớm muộn gì ba tỉnh kia cũng về tay các ông. Chống đối lại, chiến tranh với các ông, có lẽ tôi có thể làm cho các ông bị tai hại và gây trở ngại cho các ông, nhưng tôi sẽ chỉ trì hoãn một cái hại không thể tránh được cho xứ sở tôi, tôi đưa lại cảnh đổ nát và điêu tàn cho đám dân chúng yên hàn mà tôi có bổn phận bảo vệ hạnh phúc. Và có lẽ tôi lôi cuốn nước tôi tới những tai họa lớn lao hơn, bởi một khi chiến tranh đã nhen nhúm, ai biết được nó sẽ ngừng ở đâu. Hành động như tôi đã làm, trái với những mệnh lệnh tôi đã nhận được từ Huế (tôi đã được lệnh kháng cự lại). Tôi đã quá bất tuân lệnh triều đình, nhưng tôi đã để cánh cửa mở cho triều đình có thể thương thuyết một cách danh dự với nước Pháp và yên trí nắm chắc được miền Trung Kỳ và xứ Bắc Kỳ một cách yên hàn. Triều đình có thể làm như vậy mà không bị tổn thương gì trước mắt dân chúng, không phải hạ mình xuống như một chiến binh, bởi vì triều đình đâu có chiến đấu và chỉ có tôi là gánh mọi điều tai tiếng”[10].

Octave Fére là ký giả của nhật báo La Patrie hồi bấy giờ. Ông không bao giờ tới Nam Kỳ, nhưng ông có liên lạc nhiều với các sĩ quan ở Nam Kỳ về. Năm 1863-1864 ông đã tham gia vào chiến dịch báo chí đả đảo hòa ước Aubaret, kết quả của phái bộ Phan Thanh Giảnở Paris 1863. Cái thư của Phan Thanh Giản gởi cho La Grandière trên đây đăng trong quyển sách của ông nhan đề “Những miền xa lạ” xuất bản năm 1870 (nghĩa là 3 năm sau xảy ra biến cố). Bức thư ấy có thể là thuộc về loại văn chương tuyên truyền của thực dân Pháp. Có một bức thư tuyệt mạng của Phan Thanh Giản gửi cho La Grandière, thư viết sau khi thành Vĩnh Long thất thủ, nhưng bức thư đó có thể là bức thư mà Paulin Vial ghi lại trong quyển sách của ông nhan đề là “Những buổi đầu của Nam Kỳ thuộc Pháp” (Les priemières années de la Cochichine Française). Paulin Vial là một cộng sự viên của La Grandière, ông ta có mặt trong tất cả những biến cố năm 1867. Trong bức thư này, Phan Thanh Giản chỉ ca tụng Đô đốc Bonard là viên Toàn quyền trước La Grandière, Phan Thanh Giản ca tụng sự thẳng thắn, trung trực và hiểu biết thông cảm của Bonard. Từ đầu đến cuối thư Phan Thanh Giản chỉ nói tới Bonard, mà không hề đả động gì tới La Grandière là người nhận thư. Phải chăng nói tới những đức tính của Bonard là Phan Thanh Giản muốn gián tiếp trách La Grandière đã gian hùng, xảo trá[11].

Nói tóm lại, chúng ta không thấy có một tài liệu nào chính xác, ngoài bản báo cáo của La Grandière, nói rằng Phan Thanh Giản đã tự ý đem thành Vĩnh Long nộp cho Pháp.

Theo Paulin Vial, viên sĩ quan cộng sự đắc lực và gần gũi của La Grandière thì “Phan Thanh Giản và các thuộc viên đã được lệnh của triều đình là không được kháng cự để tránh đổ máu”[12]. Phải chăng Paulin Vial căn cứ trên một tài liệu của Thiếu tá Ansart, đề ngày 18-2-1867. Viên sĩ quan này thuật lại một cuộc đàm đạo giữa ông ta và Phan Thanh Giản tại Mỹ Tho ngày 16-2-1867. Trong cuộc đàm đạo này, theo Ansart thì Phan Thanh Giản có nói đến ý định của Pháp muốn chiếm ba tỉnh miền Tây và ông có thuật lại lời sau đây của Phan Thanh Giản:

“Chính phủ Pháp sẽ viện cớ gì để che đậy sự lạm dụng sức mạnh ấy? Bởi vì chúng tôi sẽ không chống cự, biết chống cự lại vô ích”[13].

Phan Thanh Giản khi đi sứ ở Pháp, đã có tiếng là người kín đáo, khôn ngoan, không bao giờ nói hết ý nghĩ của mình, các báo chí hồi đó ca ngợi tư cách ngoại giao của sứ thần Phan Thanh Giản. Vậy một người như Phan Thanh Giản không thể nói một lời hớ hênh như vậy trước mặt một đối phương đương nuôi mộng xâm lăng và ở dĩ chưa thực hành là còn sợ phải phiêu lưu với một cuộc chiến tranh dài và tốn kém. Phải chăng linh mục Marck là người làm thông ngôn cho Thiếu tá Ansart đã không hiểu hết ý nghĩa của một lời nói mỉa mai nào đó của viên quan Việt. Dẫu sao thì những chỉ thị nhượng bộ và đầu hàng của triều đình Huế mà Paulin Vial nói tới trong sách của ông không ăn khớp với tinh thần hiếu chiến sôi động ở Huế vào lúc đó, tinh thần hiếu chiến mà thuyền trưởng La Marck nhận thấy lúc ông đi công cán ở Huế hồi tháng 2-1867.

3.                Mưu lược của người Pháp:

Theo chúng tôi thì Phan Thanh Giản xuống tàu l’Ondine của La Grandière không phải để tự ý hay theo lệnh của triều đình Huế để đầu hàng, mà chính là để thương thuyết rồi mắc mưu kế của La Grandière như tài liệu phía Việt Nam hình như có nói tới, mà bản báo cáo của La Grandière không có lợi gì mà nhắc đến.

Quả thế, theo một bản báo cáo của Phan Thanh Giản và Trương Văn Uyển, báo cáo mà các thẩm vấn viên của vụ án năm 1868 có nhắc tới, thì cuộc đàm đạo giữa La Grandière và Phan Thanh Giản trên tàu Ondine là một cuộc đàm đạo giữa hai người điếc. La Grandière thì bảo chính phủ Việt Nam đã thao túng quân kháng chiến sang phá phách trong ba tỉnh đã nhượng cho Pháp, Phan Thanh Giản thì bảo: Pháp chỉ viện cớ để vi phạm hòa ước 1862. Thế rồi bản báo cáo ấy nói tiếp:

“Thương thuyết xong thì tàu chiến của Pháp tiến nhanh về phía bờ thành và họ nhanh nhẹn cho đổ bộ quân lên bờ”[14].

Lãnh binh Huỳnh Chiêu là viên chỉ huy đồn Vĩnh Long cung khai rằng:

“Khi quan Kinh lược và quan Án sát lên tàu, thần trèo lên chỗ cao để quan sát thì thấy đột nhiên quan và quân Pháp tiến vào thành, bao vây lấy phía trước và phía sau hai quan tỉnh của ta”[15].

Theo hai nhân chứng này thì rất có thể Phan Thanh Giản và viên cộng sự tới tàu để thương thuyết. Nhưng thương thuyết gì được khi thực dân đã nhất quyết chiếm thành! Phan Thanh Giản tưởng rằng lẽ phải ở về phía mình, vì thế đến để phản đối cử chỉ ăn cướp của Pháp và ít nhất để xin một thời hạn để tư về triều đình. Trong lúc đó các viên quan trong thành chỉ đợi phái bộ trở về đã mời tìm biện pháp đối phó.

Cuộc thương thuyết lẽ dĩ nhiên là không thành. Đáng lẽ phải để cho phái bộ Việt Nam về thành, La Grandière hình như đã bắt họ làm tù binh và dẫn họ vào thành cùng một lúc với quân đội. Trong trường hợp ấy ông quan văn già 74 tuổi như Phan Thanh Giản biết phản ứng thế nào? Trương Văn Uyển và các quan chức khác biết xử trí ra sao khi họ thấy phái bộ cùng đi vào với quân đội Pháp? Phan Thanh Giản là viên quan cao cấp nhất, có tất cả mọi quyền hành và họ cũng không biết kết quả của cuộc thương thuyết ra sao... Một khi quân đội Pháp đã vào thành, kháng cự thế nào được! Do một hiệu lệnh thỏa thuận trước, Trương Văn Uyển cho thiêu hủy tất cả mọi tài liệu mật theo đúng chỉ thị của triều đình.

Mưu lược chiếm đóng Châu Đốc và Hà Tiên cũng tương tự. La Grandière đòi cho được một văn thư của Phan Thanh Giản gửi cho các quan Tầun vũ Châu Đốc và Hà Tiên mà không cần biết nội dung bức thư nói gì.

Tới Châu Đốc, viên chỉ huy đội quân viễn chinh Pháp chỉ cho quan Bố chánh Nguyễn Xuân Y và Án sát Phạm Hữu Chánh thấy phong thư mà không giao thư, đòi cho được quan Tuần vũ tới nhận. Khi quan Tuần vũ Nguyễn Hữu Cơ tới thì sau mấy câu đối đáp, họ dẫn ông vào thành với họ.

Sau đây là lời cung khai của Tuần vũ Nguyễn Hữu Cơ:

“Sĩ quan Pháp nắm lấy tay chư thần và lên bờ với chư thần. Tất cả bọn chúng, quan và quân, có võ trang đầy đủ tiến vào thành như một lũ ong và chia từng toán chiếm đóng thành ồ ạt”[16].

Trong một bản cung khai khác Tuần vũ Nguyễn Hữu Cơ lại nói:

“Khi thần lên tàu để nhận thư thì bị chúng ngang nhiên bắt và chúng chiếm thành”[17].

Như thế quân đội Pháp dùng mưu cơ để vào thành Châu Đốc tựa hồ như đi hộ tống hai quan Tuần vũ và Án sát. Thành Châu Đốc vào tay giặc mà không phải bắn một viên đạn.

Số phận Hà Tiên thì đã được quyết định dễ dàng hơn nữa. Vị thuyền trưởng Galey đã bắt được Tuần vũ Trần Hoán trên đường đi Châu Đốc. Tới Hà Tiên, họ vào thành với quan Tuần vũ, các viên chức trong thành và dân chúng ra đón tiếp.

Tất cả những mưu lược trên đây, La Grandière không có lợi gì để nói trong bản phúc trình gửi chính phủ Pháp đề ngày 27-6-1867. Trái lại, ông cần cho chính phủ Pháp thấy rằng tất cả thành ông là do tài bố trí quân sự của ông và đây chỉ là một cuộc sát nhập với sự thỏa thuận của quan dân trong ba tỉnh.

III. TRÁCH NHIỆM CỦA PHAN THANH GIẢN

Trách nhiệm của Phan Thanh Giản, nếu phải nói đến trách nhiệm, trước tiên là không cẩn mật đề phòng, để bất ngờ bị tấn công mà không dự tính trước. Bất ngờ vì trước đó hai năm, người ta vẫn đồn rằng Pháp sẽ chiếm ba tỉnh miền Tây, nhưng đó chỉ là tiếng đồn. Vì thế khi các quan chức ở Hà Tiên phúc trình cho quan Kinh lược để xin tăng cường đề phòng, thì quan Kinh lược chỉ trả lời:

“Người ta không thể xây dựng trên những chuyện phỏng đoán. Hãy chờ một ít lâu nữa xem quân Pháp động tĩnh ra sao, lúc đó sẽ cho các người những chỉ thị phải theo”[18].

Như thế khi chiến thuyền của Pháp tới Vĩnh Long, dân chúng ra trên bờ xem. Các nhà hữu quyền Vĩnh Long tưởng quân đội Pháp đi sang Cao Miên hành quân, Đại úy Wytz thuật rằng:

“Vĩnh Long vừa mới tỉnh thức, dân chúng chen chúc đứng trên bờ thành, bình tĩnh, yên lặng mà không mảy may có vẻ nghi ngờ rằng chúng tôi tới để chiếm cứ. Vì thực sự người ta tưởng chúng tôi sang Nam Vang hành quân giúp vua Norodom...”[19].

Ở Châu Đốc cũng không ai ngờ rằng tàu Pháp đến để chiếm đánh. Người ta vẫn tưởng rằng Pháp đi thám thính.

Ở Hà Tiên cũng không ai nghi kỵ. Con kinh Vĩnh Tế khi vào cửa Hà Tiên có rất nhiều cồn cát, thuyền phải lên từng chiếc một, mà người ta vẫn để cho thuyền Pháp qua mà không cản trở. Đại úy Wytz nhận xét rằng:

“Nếu bọn Annam có ý cản trở chúng tôi thì họ cản trở được, ít nữa họ có thể làm thiệt hại chúng tôi nhiều”[20].

Vì bất ngờ các viên chức ba tỉnh Vĩnh Long, Châu Đốc, Hà Tiên bị kéo vào trong một cạm bẫy của giặc. Hệ thống phòng thủ thiếu kế hoạch và bố trí. Khi các viên chức cao cấp đi thương thuyết với giặc, tất cả trong thành đều chờ mong ở kết quả. Đến khi giặc vào thành, tất cả đều ngơ ngác.

Khi ba thành Vĩnh Long, Châu Đốc, Hà Tiên thất thủ, các viên chức đều bỏ cuộc. Đành rằng trong ba thành đồn này có chứa đựng khí giới và lương thực, nhưng thứ súng hỏa mai và những cỗ thần công cồng kềnh bắn không tính toán được, đã hẳn là không đương đầu nổi với khí giới tối tân của quân đội Pháp lúc bấy giờ. Hơn nữa từ 1862, hết đường mua súng đạn Âu Châu ở Hương Cảng hay Tân Gia Ba. Chính phủ Pháp tìm cách cản trở việc mua bán này và tàu của Pháp tuần tiễu ngoài khơi không cho thuyền bè cập bến.

Như thế nếu có chống cự thì cũng không chống cự được lâu dài trong ba thành đồn nói trên. Người Pháp sợ hơn cả không phải là hạ một vài thành trì, mà là kéo dài chiến tranh trong một miền mênh mông sình lầy và rừng rậm. Chính phủ Pháp đang gặp khó khăn lớn ở Âu Châu. Chiến tranh Pháp Đức có thể xảy đến bất cứ lúc nào. Do đó Paris đã gửi cho La Grandière những lời khuyến cáo rõ rệt khi biết La Grandière có ý định chiếm đóng thêm ba tỉnh mới. Nhất là từ tháng 4-1867, những lời khuyến cáo đó lại càng trở nên cấp bách.

Ngày 15-4-1867, bộ trưởng Hàng hải và Thuộc địa viết cho La Grandière:

“Âu Châu đang trải qua một cơn khủng hoảng chính trị trầm trọng, rất đáng ngại cho quyền lợi vật chất và tinh thần của chúng ta. Vì vậy chúng ta không thể để cho có thêm những khó khăn phiền phức mới, dẫu là khó khăn từ một miền rất xa xôi”[21].

Ngày 22-4-1867, ông lại viết:

“Âu Châu đang trải qua một cơn khủng hoảng chính trị, hậu quả có thể rất trầm trọng. Tôi tin ở sự khôn ngoan của ông để tránh về phía ông những gì có thể gây khó khăn trên chính trường quốc tế”[22].

Ngày 16-5-1867, ông còn viết:

“Mặc dầu tình trạng chính trị Âu Châu đã khả quan hơn. Nhưng đừng để cho những khó khăn mới làm nặng nề thêm những khó khăn ta đang gặp ở Cao Miên. Vậy ông phải tránh tất cả những gì có thể làm cho triều đình Huế lo ngại. Muốn mở lại cuộc thương thuyết với triều đình Huế, hoặc muốn dùng những biện pháp mạnh, nhất thiết ông phải chờ lệnh tôi”[23].

Ngày 10-6-1867 ông viết:

“Mặc dầu tình trạng bớt căng thẳng hơn, nhưng cho tới khi có lệnh mới ông đừng nghĩ tới chuyện biểu dương lực lượng đối với ba tỉnh”[24].

Như thế là hết sức rõ: chính trị quốc tế bắt nước Pháp phải tập trung lực lượng ở Âu Châu để đối phó với những biến cố luôn luôn có thể xảy ra. La Grandière phải từ bỏ ý định xâm lấn. Chính phủ Pháp sợ một cuộc chiến tranh kéo dài. Đã mất gần 4 năm trời mới có được hòa ước 1862. Dư luận Pháp không chấp nhận một cuộc chiến tranh thuộc địa trong hoàn cảnh hiện tại. Nước Pháp chưa có đủ khả năng để chiếm đóng nhiều thuộc địa và còn lâu lắm nữa nước Pháp mới có được một chính sách thuộc địa. Đó là một điều mà Phan Thanh Giản và triều đình Huế không biết rõ để bỏ cuộc ngay lúc ba tỉnh miền Tây thất thủ.

Nhưng đó là lỗi chung của một chế độ, của một nền giáo dục. Phan Thanh Giản là người của một thời và ông không có khả năng vươn mình ra khỏi khuôn khổ hạn hẹp của ông già Nho, để nhìn thấy cục diện thế giới[25]. Đó là một nhận định đáng buồn cho vận mệnh nước nhà, chứ không hẳn là một lời trách cứ nhân vật Phan Thanh Giản.

____________________________

[1] Năm 1886, Đồng Khánh ra sắc chỉ phục hồi chức cho Phan Thanh Giản. Xem P. Daudin et Lê Văn Phúc: Phan Thanh Giản et sa famille d’après quelques documents Annamites. BSEI, nouvelle série, t. XVI, No 2, Saigon 1941, trang 111-114. Đây là sáng kiến của Đồng Khánh vừa mới lên ngôi (1886-1888) hay là sự sắp xếp của thực dân Pháp? Năm 1886 là năm thực dân Pháp đã đặt xong nền đô hộ trên toàn cõi Việt Nam. Đồng Khánh, ngoài sắc chỉ phục hồi, còn có một bài chế khen ngợi và than khóc Phan Thanh Giản. Phải chăng Đồng Khánh đã có sẵn những cảm tình riêng với vị đại thần quá vãng này chăng?

[2] Xem NGHIÊN CỨU LỊCH SỬ, Tạp chí nghiên cứu, lý luận, phê bình dịch thuật, giới thiệu tài liệu, xuất bản tại Hà Nội.

Số 48, trang 12-23: Phan Thanh Giản trong lịch sử cận đại Việt Nam (do Đặng Huy Vận – Chương Thâu).

Số 49, trang 27-31: Phải nhận định và đánh giá Phan Thanh Giản như thế nào? (do Đặng Việt Thanh).

Số 50, trang 29-35: Về nhân vật lịch si73 Phan Thanh Giản (do Nguyễn Anh),

Những bài báo trên đây không đem ra được một tài liệu nào mới, chỉ suy luận trên những dư luận đã có sẵn từ trước tới đây. Một công việc khá vô ích, đứng về phương diện sử học.

[3] Để xây dựng nhựng sự kiện này, chúng tôi căn cứ trên những tài liệu sau đây:

a)                Báo cáo của La Grandière 27-6-1867. Văn khố Pháp hải ngoại. Indochine A 30 (9)carton 11.

b)               Một bài tường thuật biến cố đăng trong “Courrier de Saigon”, đã được đăng lại trong Revue maritime et Coloniale, tháng 11-1867, t. 21, trang 717-722.

c)                Ký ức của Paulin Vial ghi lại trong quyển sách của ông: “Les première années de la Cochinchine français”, quyển 2, trang 123-142.

d)               Ký ức của Đại úy Ed. Wytz, người đã tham gia cuộc hành quân xâm lăng này, đăng trong Revue maritime et Coloniale, 1872, t. 32, trang 912-922.

e)                Tài liệu của vụ án Phan Thanh Giản tại Huế năm 1868, đăng trong BSEI 1941, tam cá nguyệt 2.

[4] Tài liệu đã dẫn. Xem chú giải 3a.

[5] Xem chú giải 3d.

[6] Xem chú giải 3e.

[7] Xem P. Daudin và Lê Văn Phúc. Bản dịch của Ứng Hòe Nguyễn Văn Tố trong báo Tri Tân số 99.

[8] Paul Brandat: Récils et nouvelles. Paris 1869, trang 171.

[9] Thư của Thiếu tá Ansart 4-8-1867 và 5-8-1867 đăng lại trong G. Taboulet: “Geste français”,trang 519.

[10] Octave Féré: “Les regions inconnues: chasse, pêche, aventure et découverles dans l’Extrême-Orient”. Paris 1870, trang 283-285.

[11] Paulin Vial, sách đã dẫn, trang 144-147.

[12] Paulin Vial, sách đã dẫn, trang 143.

[13] Thư của Ansart gửi cho La Grandière 18-2-1867. Văn khố Trung ương Đông Dương, mục Đô đốc, 803, tờ 154. Có trích đăng trong G. Taboulet, sách đã dẫn, trang 509-512.

[14] Tài liệu đã dẫn, BSEI 1941 2, trang 100.

[15] Tài liệu đã dẫn, BSEI 1941 2, trang 104-105.

[16] Tài liệu đã dẫn, trang 100-101.

[17] Tài liệu đã dẫn, trang 102.

[18] Tài liệu đã dẫn, trang 102.

[19] Revue Maritime et Coloniale 1872, trang 914.

[20] Revue Maritime et Coloniale 1872, trang 914.

[21] Văn khố F.O.M. Indochine. A 30 (12) carton 11.

[22] Văn khố F.O.M. Indochine. A 30 (12) carton 11.

[23] Văn khố F.O.M. Indochine. A 30 (12) carton 11.

[24] Văn khố F.O.M. Indochine. A 30 (12) carton 11.

[25] Nguyễn Trường Tộ, trong mấy tháng ở Âu Châu đã nhận định được tình hình, biết chắc sẽ có chiến tranh giữa Pháp và Đức. Ông đề nghị triều đình nên lợi dụng cơ hội để ngăn chặn thủ đoạn xâm lăng của Pháp và thu phục đất đai đã bị chiếm. Chính ông tình nguyện vào Nam tổ chức kháng chiến.

Xem: Điều trần 27-10-1866 về việc Pháp định chiếm ba tỉnh miền Tây.

          Điều trần 3-11-1866 về việc ông tiếp xúc với Đại sứ I-Pha-Nho, tìm cách ngăn chặn ý định xâm lăng của Pháp.

          Khi chiến tranh Pháp-Đức khai diễn, ông đề nghị một kế hoạch chiếm lại sáu tỉnh Nam Kỳ (Điều trần số 39).

          Xem: “Những đề nghị cải cách của Nguyễn Trường Tộ”, Đặng Huy Vận và Chương Thâu, Hànội, 1961.