Báo cáo đề dẫn tọa đàm về sân khấu Cải lương
(giai đoạn 1955 - 1975)

Nhìn lại quá khứ để hướng tới tương lai sân khấu Cải lương thế kỷ XXI

Một nhà nghiên cu sân khấu ci lương đã đt ra một câu hỏi k thú là: Tại sao ngày a trong hoàn cảnh đất nước vô cùng k khăn, thiếu thốn nhiều mặt, nhất điều kiện vật chất, phương tiện k thuật, các yếu t khoa học… tiền nhân ta để lại nhng thành tu v kịch bản, về ng tạo nhiều v diễn vô cùng rc rỡ, nhiều v vẫn còn sc sống với thời gian trong ng công chúng trong khi thời đại bây gi, xã hội tiến b, đất nước phát triển toàn diện, đời sống vật chất lẫn tinh thần ngày càng nâng cao, khoa học phát triển mạnh suốt t nhng năm 90 thế k trước đến nay ca thấy một v diễn, kch bản có sc sống lâu dài như trước, hàng trăm Giải thưởng, Huy chương đã được trao tặng. mà công chúng vẫn không nh đến…. phải chăng nhng thành tựu còn chờ ở tương lai?

(NCS Đỗ Quốc Dũng)

Tr lời cho câu hỏi đặt ra này, một người yêu sân khấu cải lương đã đưa ra một giải pháp là… cùng nhau lý giải v sự thành công của cải lương trong hai thập niên 50 và 60 của thế k trước như thế nào” bi theo tác gi ý kiến này sân khấu cải lương miền Nam vào thập niên 50 và thập niên 60 đã thc hiện Nhng bước đi bảy dặm”.

(Nguyễn Chương)

Tọa đàm trong khuôn kh Ôn c tri tân” hạn hẹp trong không gian và thi gian sân khấu cải lương miền Nam nhng năm 1955 - 1975 đang chờ đợi nhng lý giải v nhng gì được và chưa được ca sân khấu cải lương trong dòng chảy của lịch s, của nhng bước đường thăng trầm của sự tồn tại và phát triển sân khấu này trong hai thập niên 50, 60 của thế k trước.

I. TỪ C NHÌN QUÁ KH

Giai đoạn 1955 - 1975 được giới sân khấu coi thời kỳ hoàng kim ca sân khấu cải lương. S dĩ sự đáng g cao này do cải lương đạt đưc tất cả mọi tiêu chí của nghệ thuật trình diễn như kịch bản nội dung tốt được viết bởi nhng tác gi rất giỏi. Diễn viên hát rất hay do được dàn nhạc tài hoa h tr và khán gi rất say mê, m điệu ủng hộ ngh sĩ hết mình. Đội ngũ ng tạo đàn anh như NSND Năm Châu, Mộng Vân, Lê Hoài Nở, Ci, Tư Trang vẫn tiếp tục sáng chói trong giai đon này cùng với đông đảo các soạn gi tr, nhiệt tình, năng động, bút lc dồi dào như Viễn Châu, Kiên Giang, Hà Triu - Hoa Phượng, Thu An, Quy Sắc, Thiếu Linh, Ngọc Linh, Phi Hùng, Tần Nguyên, Huy Trường, Thanh Cao, Việt Thường, Trần Hà… đã to nên nhng kịch bản hay về nội dung, đậm chất nhân văn và triết lý sâu sắc. ng trăm vở tiêu biểu đã làm nên tên tuổi các nghệ như Thanh Nga, Hu Phước, Thành Được, Út Bạch Lan, Út Trà Ôn, Kim Cúc, Ngọc Giàu, Dip Lang, Hùng Cường, Bạch Tuyết, Dũng Thanh Lâm, Minh Cảnh, Phượng Liên, Minh Phụng, M Châu, Minh ơng, LThủy, Tấn Tài, Kim Ngọc, Thanh Sang, Hà M Xuân, Phương Quang, Mộng Tuyền, Kiều Mai Lý, Bu Truyện, Đức Lợi, Bạch Lê, Thanh Tòng, Thanh Kim Huệ, Bo Bo Hoàng v..v..

H tr và tạo điều kiện cho diễn xuất của nghệ sĩ, một số soạn giả, nhạc sĩ, v.v.. cổ nhạc đã tạo ra nhiều ca khúc bài bản đáp ng mọi tình huống kịch tính của vở, và tâm của nhân vật. Tiến một bưc xa hơn còn đưa c nhạc ng tác vào cải lương, chọn nhạc cụ làm chủ âm p hợp với chất giọng của diễn viên, góp phần cho s thành công chung của vở diễn.

S trình diễn không chỉ đòi hỏi nội dung hay, hấp dẫn, ý nghĩa hình thc của trình diễn cũng phải cuốn hút người xem. Do điều kiện ng dng s tiến b của khoa học k thuật và các kỹ thut mới của điện ảnh, sân khấu cải lương đã được làm đẹp lên nhkhông gian, bối cảnh, trang trí m thuật. Nhờ ánh ng và kỹ xảo quang học, sân khấu đã làm được nhiều trò diễn lạ mắt, hấp dẫn thị giác. Hơn na lúc này quan điểm Thật và Đp của NSND Năm Châu được người làm sân khấu tôn trọng đã tác động đến các ban hát t đại ban, trung ban đến tiểu ban đều luôn luôn thay đổi, làm mới cnh trí, ánh ng, phục trang, đo cụ... làm sao cho buổi diễn thật đp.

Là nhng diễn viên lăn lộn, học tập theo các bậc thầy, các đàn anh t v trí thấp đến cao nên các nghệ rất hiểu khán gi của mình đã c gắng mỗi người tạo cho mình một phong cách ca diễn rất khác nhau, hầu như không ai giống ai nên các ban hát rất coi trọng các tài năng ng tạo trẻ, báo chí theo dõi và nhiệt tình tôn vinh nhng tài năng độc đáo ấy như: Đệ nhất danh ca Út Trà Ôn, Sầu n Út Bạch Lan, N hoàng Sân khấu Thanh Nga, Cải lương chi bảo Bạch Tuyết, Khôi nguyên vọng cổ Minh ơng, Hoàng đế đĩa nha Tấn Tài, Đệ nhất danh cầm Văn V .v.v

Tuy thời đó ca có đo diễn chuyên nghiệp nhưng các ban đều các tác giả, soạn giả, ông bầu vừa chỉ đạo ngh vừa quản dẫn dắt đoàn theo một phong cách, một khuynh hướng ngh thuật. H cũng đẳng cấp được trong giới mến phục tôn vinh như Nhất Cởng (Kim Chưởng) Nhì Thơ, Tam Long, Tứ Út.

Cũng giai đoạn hai thập niên 50 - 60 này của thế k XX, s cạnh tranh khán gi gia các ban cải lương đã buộc s khác biệt gia các phong cách ngh thuật của tng đơn vị đkhán gi sự la chọn cách xem của mình. Có th suy ng đến 4 phong cách của sân khấu cải lương như:

1- Tâm xã hội, phản ánh nhng vấn đ k ni cộm, mưn câu chuyn của tuồng tích để giáo dục v.v đó là phong cách của Dạ Hương, Thanh Minh - Thanh Nga…

2- Các loại tuồng tích dã s, dân gian, đường rừng, kiếm hiệp chất hoành tráng của Trung Hoa, Hồng Kông. Tiêu biểu là đoàn Kim Chưởng, Hương Mùa Thu. v.v

3- Ca ngâm, nhạc với lối ca mới với nhiều diễn viên tài hoa như Minh Cảnh, Tấn Tài, Minh ơng, LThủy, Thanh Tuấn, Hoài Thanh, M Châu, Thanh Kim Hu v.v

4- Ca diễn H Qung với các nghệ Thanh Tòng, Thanh Bạch, Bu Truyện, Bạch Mai, Bạch Lê, Hu Lợi của các đoàn Minh Tơ - Hunh Long.

II. HOẠT ĐNG CA BÁO C

Thời k 55 - 75 của thế k trước do tình hình thời cuộc, do chiến tranh rất gay go nên phong trào báo chí n rộ. Với ngh thut cải lương báo chí dành cho ngh thuật này một tình cảm đặc biệt. Chính gii báo chí Nhà báo Trần Tấn Quốc với bút danh Thanh Tâm ch tờ Tiếng Dội đã ý tưng thành lập Giải thưởng dành cho cải lương, Ban tuyển chọn gồm các đạo diễn, soạn gi nổi tiếng như các nghệ sĩ Phùng Há, Bảy Nhiêu, Hà Triều cùng với các ký giả uy tín trên diễn đàn báo giới như Trần Tấn Quốc, Ngọc Linh, Lê Hiền, Phong Vân v.vCác thành viên tuyển chọn đến tng đoàn hát, theo dõi diễn xuất của các diễn viên để chọn ra nhng người cách ngh sĩ, ng tạo trong ca diễn xng đáng để trao giải (Thanh Tâm).

Nữ ngh Thanh Nga người đầu tiên được trao Giải Thanh Tâm năm 1959 và tđó liên tục cho đến năm 1967, năm nào cũng nhiều ngh được trao giải q g này. Trong số nhng tên tuổi đó một số tên tuổi vẫn nổi tiếng đến ngày nay như các ngh Hùng Minh, Ngọc Giàu, Bạch Tuyết, Tấn Tài, Diệp Lang, L Thủy, Thanh Sang, Thanh Nguyệt, Bo Bo Hoàng, Phượng Liên, Phương Quang, M Châu, Bảo Quốc v.v

Cùng với việc trao huy cơng cho các diễn viên, Gii Thanh Tâm còn m rộng trao bằng danh d cho mục Diễn viên xut sắc trong năm” và V tung hay nhất trong năm” như Tần nương thất”, Nước biển mưa nguồn, Tiếng Hạc trong trăng, Con gái chị Hằng, Tấm lòng của biển, Tuyệt tình ca, Khách sạn hào hoa.

Giá trị của Giải Thanh Tâm và ý nghĩa tích cc của đối với phẩm chất ngh thuật đnh cao của cải lương đã được tiếp nối bằng việc thành lập Giải thưởng Trần Hu Trang ngày nay. Điều ngẫu nhiên là c hai Gii thưng danh g này không tồn tại được lâu. Giải Thanh Tâm tồn tại t 1959 đến 1967 còn Trần Hu Trang thì đưc 11 lần trao giải cho các tài năng trẻ hôm nay.

III. CẢI LƯƠNG NAM TRÊN ĐẤT BẮC

Sẽ là một thiếu sót nếu không nói tới nhng đóng góp của ci lương phía Nam cho sân khấu cải lương phía Bắc thông qua các cuộc lưu diễn t Trung ra Bắc, nổi tiếng hơn c là đoàn cải lương Phước ơng. Sau nhng đợt lưu diễn, một số nghệ sĩ đã trụ lại dài ngày Hà Nội đ truyền nghề. Từ đó sân khấu cải lương Nam b được nhiều ngh miền Bắc tiếp nhận xây dựng nên các đoàn cải lương Bắc như Chuông Vàng, Kim Phụng… Một số ngh đã thành danh như S Tiến, Kim Chung, Ái Liên, Ngọc , Tuấn Nghĩa, Tun Su, L Thanh v.v… Giai đoạn 55 - 75 sau Hiệp định Geneve đất nước b chia cắt thì sân khấu cải lương cũng phải tồn tại và hot động trong hai hoàn cảnh khác nhau.

- miền Nam, dưới sự chỉ đạo khéo léo của cách mạng và lòng ái m của công chúng, sân khấu cải lương phi bằng sc sống t thân, tìm mọi cách đứng vng trong lòng một xã hội ngập tràn nhng loi nh văn hóa lai căng ngoại nhập.

- miền Bắc sân khấu cải lương đưc Nhà nước quan tâm đặc biệt s kiện Nhà nước tập hợp các Văn ngh cải lương miền Nam tp kết ra Bc đ thành lp Đoàn Cải lương Nam bộ.

Lúc này Đoàn được một đội ngũ ngh gii ngh như Tám Danh, Ba Du là nhng người cùng thời với các nghệ danh tiếng phía Nam như Năm Phỉ, Phùng Há, Bảy Nhiêu, By Nam, Năm Châu. Kế cận Ngọc Thạch, Triệu An, Hoàng Sa, Thanh Hương, Công Thành, Tn Đạt ... và một s các nghệ sĩ cải lương Bắc bổ sung như Ái Liên, Kim Xuân, Tiêu Lang…

Song hành với đội ngũ nghệ biểu diễn các nhạc công tài danh như Ba Bằng - đờn Cò, Năm Bá - đờn Bầu, Út Du - đờn Tranh, Tri Trọng - Guitar v.v

Đoàn đã nhng công trình v diễn đ lại dấu ấn k phai trong khán gi như Kiu Nguyệt Nga (Ngọc Cung), Máu thm đồng Nc Nạn, Võ Thị Sáu (Phạm Ngọc Truyền), Dệt gm, Mu đơn tiên (Chi ng), Khut Nguyên (Trung Quốc), Tình riêng nghĩa c (Thanh Nha), Đưng phố Sài gòn dy la (Ngô Y Linh).

Qua 20 năm (1955 - 1975) Đoàn Cải lương Nam b đã ảnh hưởng tích cc đến các đoàn cải lương ngoài Bc, đã làm tròn s mệnh được Nhà nước giao.

IV. ĐI TÌM NHNG GIẢI PHÁP

Hiện trng cải lương: Có thể một sự thng nht d dàng với tất cả chúng ta, nhng nời đương thời là hiện trạng cải lương đang suy giảm v trình diễn sân khấu còn về cái gốc căn của cải lương Đờn ca tài t, nhạc và các hình thc hát vẫn giữ nguyên các g tr vốn t khi hình thành. Theo thiển ý chủ quan cá nhân chúng tôi cho rằng cần nhng gii pháp chấn hưng, tái tạo phục hồi sân khấu biểu diễn ca kịch cải lương. Nếu t góc đ này nhìn lại thì th nói như nhà báo Trần Nhật Vy là sân khấu cải lương đã chết và chết ti chính nơi nó được sinh ra.

Có lẽ nên xác định cải lương mi đang trong cơn tai biến, th yếu cả v các khâu làm nên trình diễn như:

- Tác gi: Nhng ngưi am hiểu cải lương còn lại rất hiếm hoặc đã cao tuổi gác bút nghỉ. Người trẻ nhit huyết lại ít hiểu biết v cải lương. Do vậy ci lương đang rất thiếu kịch bản. Kịch bản hay lại ng thiếu và rt hiếm hoi.

Phần lớn có khả năng viết t chạy theo thị trường phim Điện ảnh và Truyền nh.

- V Đo din: Do không được đào tạo chuyên ngành nên hầu như không đạo diễn cải lương đúng nghĩa, các đạo diễn gạo cội, am hiểu cũng hầu như tuyệt tích.

- Din viên: Các tên tuổi lng lẫy một thời đều vào độ tuổi lc bất tòng tâm.

Làm liveshow là chính để diễn các trích đoạn được khán gi ưa thích.

Hầu hết chuyển sang chạy mưu sinh (ca lẻ, đổi nghề) v.v..

- Khán gi: Lớp khán gi ruột của cải lương hu như không còn bao nhiêu. Khán giả trdo ca hiểu biết về nghệ thuật này nên không thích xem cải lương.

Không khán giả, sân khấu cải lương không th tồn ti và phát trin. Muốn giải quyết tình trạng xuống dốc này cần có nhng giải pháp đồng bộ, căn buổi tọa đàm này cần đưa ra để bàn bạc ngõ hầu tìm ra nhng giải pháp hu hiệu phục hưng lại việc trình diễn sân khấu.

Th đi tìm một vài gii pp:

1- Giải quyết tốt vấn đbo tồn và phát triển sân khấu cải lương.

2- Thay đổi cách nghĩ, cách làm lỗi thời, không còn p hợp với tình hình mới của xã hội hôm nay.

V quản ngh thut: Cần sự quản s hiểu biết và kinh nghiệm thị trường theo kiểu các Bầu ban, Đoàn hát như cách quan lý ca Bầu Kim Chưởng, Bầu Thơ v.v

Đối với nhng người sáng to:

+ Cần chính sách, th chế nuôi dưỡng, nâng cao chất lượng ng tác và biểu diễn. Họ cần một không gian riêng cho nhng hoạt động Văn hóa - Nghệ thuật như Rạp diễn và các tiện nghi trong sinh hoạt sáng tạo.

+ Cần một chính sách lâu dài, bền b và hiệu quả trong việc giáo dc công chúng ci lương.